Chủ Nhật, 13 tháng 10, 2024

Sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và vận dụng trong công tác đối ngoại

 

Trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc là đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Công cuộc bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ này được thực hiện chủ yếu bằng biện pháp đấu tranh với các lực lượng vũ trang là nòng cốt, trong khi ngoại giao song hành trên bàn đàm phán. Có thể nói, hoạt động đối ngoại của Việt Nam đã có những quyết sách đúng đắn, bước đi chủ động, thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dĩ bất biến ứng vạn biến”. Đối ngoại Việt Nam đồng hành cùng các lực lượng, đóng góp quan trọng trong các cuộc đàm phán nhằm tạo ra những giai đoạn trì hoãn chiến lược (Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946, Tạm ước 14-9-1946), để kéo dài thời gian tranh thủ xây dựng lực lượng cho cuộc kháng chiến. Khi tiến công quân sự đạt được thắng lợi trên chiến trường, đối ngoại tận dụng lợi thế để đẩy mạnh đấu tranh, mang lại thắng lợi vẻ vang (Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, Hiệp định Pa-ri năm 1973), từng bước giành quyền tự do, độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, vị thế quốc gia được ghi nhận trên trường quốc tế.

Trong các giai đoạn sau, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kế thừa và phát triển nội hàm bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trên cơ sở kinh nghiệm của cha ông. Kinh nghiệm “giữ nước từ khi nước chưa nguy”, chiến tranh nhân dân đã trở thành nghệ thuật của chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Thượng tướng Trần Quang Khải (1241 - 1294), nhà chính trị, quân sự thời Trần, từng nói: “Thái bình tu trí lực. Vạn cổ thử giang san” (Thái bình nên tu dưỡng trí lực, vận lực. Đất nước vững nghìn thu). Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (1232 - 1300) nhấn mạnh: “Thượng hữu bình thời, tu dưỡng dân lực, kỳ kế sâu nhạ bổn chánh hĩ. Thử thượng sách dữ quốc gia giả dã” (Thời bình, phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc. Đó là thượng sách giữ nước). Vua Lê Thái Tổ (1385 - 1433) căn dặn con cháu, muôn dân trăm họ: “Biên phòng hảo vị trù phương lược. Xã tắc ung tu kế cửu an” (Biên phòng cần có phương án, chiến lược tốt. Đất nước phải có kế lâu dài). Cùng với đó, cha ông ta đã thực hiện nhiều chính sách làm cho “quốc phú, binh cường”, khi đất nước thanh bình thì khuyến khích nhân dân tích cực tham gia lao động, sản xuất, phát triển kinh tế, chuẩn bị tốt các điều kiện, có lực lượng đánh giặc, bảo vệ đất nước khi lâm nguy. Tinh hoa của cha ông để lại là di sản vô cùng quý báu được Đảng ta gìn giữ, tiếp thu và phát triển.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) xác định nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc là “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”(1).

Sự phát triển tư duy lý luận về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cũng song hành với sự phát triển nhận thức về vấn đề an ninh, bao gồm cả an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống. Vấn đề an ninh phi truyền thống không biệt lập với an ninh truyền thống bởi hai vấn đề này luôn đan xen nhau và có thể chuyển hóa lẫn nhau. Đại hội VIII (năm 1996) của Đảng đã sớm nhận thấy: “Cộng đồng thế giới đứng trước nhiều vấn đề có tính toàn cầu (bảo vệ môi trường, hạn chế sự bùng nổ về dân số, phòng ngừa và đẩy lùi những bệnh tật hiểm nghèo...), không một quốc gia riêng lẻ nào có thể tự giải quyết, mà cần phải có sự hợp tác đa phương”(2). Đại hội IX (năm 2001) của Đảng tiếp tục khẳng định và bổ sung vấn đề chống tội phạm xuyên quốc gia vào nội dung này. Đại hội X (năm 2006) của Đảng bổ sung và phát triển: “Nhiều vấn đề toàn cầu bức xúc đòi hỏi các quốc gia và các tổ chức phối hợp giải quyết: khoảng cách chênh lệch giữa các nhóm nước giàu và nước nghèo ngày càng lớn; sự gia tăng dân số cùng với các luồng dân di cư; tình trạng khan hiếm nguồn năng lượng, cạn kiệt tài nguyên, môi trường tự nhiên bị hủy hoại; khí hậu diễn biến ngày càng xấu, kèm theo những thiên tai khủng khiếp; các dịch bệnh lớn, các tội phạm xuyên quốc gia có chiều hướng tăng”(3). Tại Đại hội XI (năm 2011), Đảng ta chính thức sử dụng khái niệm an ninh phi truyền thống với những vấn đề được chỉ ra, như chống khủng bố, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu, hạn chế sự bùng nổ về dân số, phòng ngừa và đẩy lùi những dịch bệnh hiểm nghèo(4).

Đến Hội nghị Trung ương 8 khóa XI (ngày 25-10-2013), lần đầu tiên mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa được Đảng ta xác định rõ với các nội dung: bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; giữ vững ổn định chính trị - xã hội, môi trường hòa bình để phát triển đất nước theo mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(5). Nghị quyết Đại hội XII (năm 2016) của Đảng định hướng về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc với nội dung mới: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”(6). Văn kiện Đại hội XIII (năm 2021) của Đảng bổ sung và làm rõ hơn nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đó là: “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(7)

Có thể thấy, mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ của quốc phòng - an ninh được Đảng ta khẳng định nhất quán, xuyên suốt, nhưng có sự bổ sung rõ hơn, toàn diện hơn cả về nội hàm và phạm vi bảo vệ. Mục tiêu bảo vệ Tổ quốc không đơn thuần là để ứng phó với chiến tranh, mà quan trọng và thiết yếu hơn là tạo ra sức mạnh để giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình, nhằm xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “chủ động phòng ngừa” là chính. Ứng phó kịp thời, hiệu quả với các đe dọa an ninh phi truyền thống, nhất là nhiệm vụ cứu nạn, cứu hộ, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh. Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế”(8). Điều này cho thấy tầm nhìn tổng thể, toàn diện của Đảng ta trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Cùng với mục tiêu và nguyên tắc bảo đảm an ninh quốc gia, các biện pháp để thực hiện bảo đảm an ninh quốc gia cũng cần được xem xét một cách toàn diện.

Quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay thể hiện sự kế thừa và phát triển quan điểm trước đó, đồng thời có một số điểm mới quan trọng, bảo đảm sự tiếp cận tổng thể và toàn diện hơn, như việc đặt quốc phòng - an ninh trong mối liên hệ chặt chẽ và tương tác với các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội và đối ngoại.

Theo đó, công cuộc bảo vệ Tổ quốc cần huy động sự tham gia của tất cả lực lượng, phát huy vai trò và sức mạnh tổng hợp trên mọi lĩnh vực. Các phương thức, biện pháp bảo vệ Tổ quốc từ kinh tế, chính trị - ngoại giao, văn hóa - xã hội đến quốc phòng - an ninh cần được sử dụng một cách linh hoạt, mềm dẻo và có sự phối hợp chặt chẽ với nhau. Sự gắn kết và tương tác giữa các yếu tố sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp, toàn diện để bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và độc lập dân tộc. Chính tính chất đan xen và tương hỗ này đã khiến nhiệm vụ của đối ngoại luôn có sự gắn bó mật thiết với các lĩnh vực khác, như quốc phòng - an ninh, kinh tế - thương mại - đầu tư, văn hóa - xã hội. Đây là mối quan hệ tác động qua lại và bổ trợ cho nhau.

Tuy nhiên, trong từng giai đoạn lịch sử, công cuộc bảo vệ đất nước cũng đối mặt với nguy cơ và thách thức đặc thù. Trước bối cảnh đó, đường lối đối ngoại của Việt Nam luôn thể hiện sự linh hoạt, sáng tạo trong hoạch định và triển khai phương thức, giải pháp phù hợp. Nhờ sự ứng biến nhạy bén và hiệu quả, đối ngoại Việt Nam đã có bước chuyển mình và phát triển không ngừng qua các thời kỳ, đóng góp thiết thực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét