Thứ Ba, 22 tháng 10, 2024

Thực hiện chính sách đối với Quân đội và hậu phương Quân đội trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và sự vận dụng hiện nay

 

Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tuy điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, song Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chính quyền các địa phương và Nhân dân cả nước đã luôn dành sự quan tâm đặc biệt, có nhiều chủ trương, giải pháp lớn và phong trào hành động thiết thực nhằm thực hiện tốt các chính sách đối với Quân đội và hậu phương Quân đội (HPQĐ). Bởi vậy, đã kịp thời động viên sức người, sức của, xây dựng nhân tố chính trị - tinh thần và quyết tâm chiến đấu cho bộ đội; duy trì, phát huy nguồn lực con người của tiền tuyến lớn miền Nam và hậu phương lớn miền Bắc XHCN, phục vụ cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.

Có thể khái quát thành tựu của việc thực hiện chính sách đối với Quân đội và hậu phương Quân đội trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên một số nội dung cơ bản sau đây:

Một là, tường xuyên quán triệt các quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo của Đảng, thực tiễn chiến tranh, yêu cầu xây dựng, chiến đấu của Quân đội, chủ động đề xuất, ban hành và thực hiện các chính sách đãi ngộ phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của từng giai đoạn cách mạng, đặc thù hoạt động và chiến đấu của lực lượng vũ trang.

Ngay sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng và Chính phủ tập trung chỉ đạo thực hiện các chính sách lớn, góp phần chấn chỉnh tổ chức lực lượng, giảm quân số; đồng thời, ban hành mới các chính sách phục vụ nhiệm vụ xây dựng Quân đội chính quy, quy định định lượng ăn cơ bản của bộ binh và quân binh chủng kỹ thuật; chế độ tiền lương và phụ cấp thâm niên, khu vực, phụ cấp đông con, phụ cấp chức vụ (năm 1958, 1960). Đặc biệt, để đáp ứng yêu cầu chiến tranh, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đề xuất Đảng, Nhà nước từng bước mở rộng chính sách đối với các đối tượng làm nhiệm vụ trên các chiến trường; ban hành chính sách đi B (năm 1961, bổ sung năm 1965); chế độ đối với cán bộ, nhân viên đang công tác ở miền Tây (năm 1963). Đồng thời, ban hành và liên tục bổ sung các chính sách đối với quân nhân dự bị, dân quân tự vệ, lực lượng tái ngũ, phục viên, chuyển ngành (các năm: 1961, 1965, 1969, 1970, 1974). Cùng với làm tốt công tác giáo dục, động viên, khen thưởng chiến trường, việc ban hành và không ngừng bổ sung, sửa đổi các chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ chiến đấu, phục vụ chiến đấu trên các chiến trường đã góp phần tạo nên động lực chính trị - tinh thần to lớn cho bộ đội chiến đấu và chiến thắng.

Hai là, tập trung chỉ đạo và thực hiện tốt chính sách thương binh, liệt sĩ.

Phát huy truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc và kinh nghiệm trong kháng chiến chống Pháp, công tác chính sách thương binh, liệt sĩ trong kháng chiến chống Mỹ được tiến hành với quyết tâm cao nhất. Việc cứu chữa, vận chuyển, điều trị, điều dưỡng thương binh được thực hiện với nỗ lực vượt bậc của nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều tổ chức, lực lượng, với nhiều hình thức và thiết chế tổ chức linh hoạt, rộng khắp, đáp ứng yêu cầu của chiến tranh quy mô ngày càng lớn. Công tác liệt sĩ đã trở thành kỷ luật chiến trường, thể hiện trách nhiệm chính trị cao và tình cảm thủy chung của cán bộ, chiến sĩ Quân đội. Cùng với đó, hệ thống các chính sách ưu đãi đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ được bổ sung, hoàn thiện và xã hội hóa ngày càng sâu rộng ở các địa phương. Do làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ nên quân số và sức mạnh chiến đấu của các đơn vị được duy trì, ngay cả trong những tình huống ác liệt. Việc kết hợp chặt chẽ giữa công tác chính sách với công tác giáo dục chính trị đã tạo động lực tinh thần to lớn, biến đau thương thành hành động, nêu cao ý chí quyết tâm chiến đấu cho bộ đội; đồng thời, góp phần ổn định đời sống thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và tình hình ở các địa phương.

Ba là, động viên mọi nguồn lực, thực hiện tốt các chính sách đối với gia đình quân nhân tại ngũ, xây dựng HPQĐ vững mạnh.

Nhằm góp phần khắc phục khó khăn cả về vật chất lẫn tinh thần, Đảng và Chính phủ chỉ đạo: “Nhất thiết không để một gia đình quân nhân nào không được chăm sóc, không một gia đình nào có khó khăn mà không được giúp đỡ thích đáng”; “Nhất thiết không để một người vợ quân nhân nào có khả năng lao động mà không có việc làm”. Ngay từ năm 1961, Chính phủ ban hành quy định việc quản lý và thực hiện chính sách đối với gia đình quân nhân làm nhiệm vụ ở chiến trường B, C và tiếp tục bổ sung vào các năm: 1965, 1967 (lúc cao điểm có gần 540.000 gia đình với khoảng trên 1,6 triệu thân nhân được hưởng chế độ trợ cấp B, C). Từ hậu phương lớn XHCN ở miền Bắc đến các vùng giải phóng, vùng địch hậu đều tăng cường củng cố thế trận, xây dựng các tiềm lực: chính trị -  tinh thần, kinh tế, tất cả đều hướng về tiền tuyến lớn miền Nam, cung cấp sức người, sức của, tạo sự động viên to lớn và niềm tin chiến thắng mãnh liệt cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà.

Bốn là, phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp, các ngành, xây dựng cơ quan và đội ngũ cán bộ chính sách làm nòng cốt thực hiện tốt chính sách đối với Quân đội và HPQĐ. 

Trước yêu cầu và quy mô của chiến tranh, lực lượng được huy động và bổ sung cho chiến trường, số lượng gia đình quân nhân, thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ cần được chăm sóc ngày càng lớn. Các cấp, các ngành, cấp ủy, chính quyền và nhân dân các địa phương với nhiều phong trào, hình thức, biện pháp, phong phú đã hỗ trợ, chăm sóc kịp thời, chu đáo đối với Quân đội, động viên cán bộ, chiến sĩ ngoài mặt trận giữ vững tinh thần chiến đấu; ổn định đời sống gia đình quân nhân và củng cố HPQĐ. Các lực lượng làm công tác chính sách, ngành Chính sách Quân đội không ngừng được kiện toàn, bổ sung; bám sát yêu cầu nhiệm vụ trên các chiến trường, tình hình gia đình quân nhân ở các địa phương, tham mưu, đề xuất đúng, trúng và làm nòng cốt giải quyết các vấn đề chính sách bức xúc, đáp ứng yêu cầu chiến tranh.

Có thể khẳng định, những thành tựu to lớn của công tác chính sách trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã đóng góp quan trọng vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Cùng với công tác tư tưởng và công tác tổ chức góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội, xây dựng HPQĐ vững mạnh, tiếp tục khẳng định và thực hiện đúng di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm”. Đồng thời, để lại nhiều kinh nghiệm quý báu về công tác nghiên cứu, đề xuất và thực hiện chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ tại ngũ; thực hiện chính sách thương binh, liệt sĩ, HPQĐ; phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước, của hậu phương; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho Quân đội và HPQĐ…

Hiện nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tăng cường quốc phòng, xây dựng Quân đội đang đặt ra yêu cầu rất cao đối với công tác chính sách. Để thực hiện tốt chính sách đối với Quân đội và HPQĐ, cần phát huy những thành tựu, vận dụng những kinh nghiệm trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước phù hợp với điều kiện mới. Theo đó, cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung, giải pháp cơ bản sau đây:

Trước hết, các cơ quan, đơn vị cần quán triệt sâu sắc quan điểm, phương hướng, nguyên tắc về chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước.

Hai là, tiếp tục thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, người tham gia kháng chiến, giải quyết tốt tồn đọng chính sách sau chiến tranh. 

Ba là, không ngừng xây dựng HPQĐ vững mạnh, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. 

Bốn là, tiếp tục đổi mới công tác chính sách, nâng cao chất lượng nghiên cứu, đề xuất và thực hiện chính sách đối với Quân đội và HPQĐ. 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét