Thứ Ba, 15 tháng 9, 2026

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: KHÔNG THỂ ĐẶT “KHẢI HOÀN MÔN” CỦA PHÁP ĐỂ SO SÁNH VỚI BỨC TƯỢNG “QUYẾT TỬ ĐỂ TỔ QUỐC QUYẾT SINH” CỦA CHÚNG TA!

     Khải Hoàn Môn là thứ cả thế giới nhớ về nước Pháp. Còn tượng đài Quyết tử là thứ người Việt Nam nhớ về cuộc chiến chống chính nước Pháp ấy.

HAI BIỂU TƯỢNG, HAI KÝ ỨC KHÔNG THỂ HÒA GIẢI
Khi ai đó nhắc đến nước Pháp, người ta nghĩ ngay đến tháp Eiffel, bảo tàng Louvre và Khải Hoàn Môn.

Đó là biểu tượng của một đế chế từng thống trị phần lớn châu Âu và nhiều vùng đất trên thế giới.
Khải Hoàn Môn Paris được Napoleon cho xây dựng năm 1806 sau chiến thắng tại Austerlitz - một chiến thắng chinh phạt, một cuộc viễn chinh đánh bại liên quân Áo - Nga.
Trên các bức phù điêu của nó là hình ảnh quân đội Pháp ra đi chinh phục, trở về trong vinh quang, mang theo chiến lợi phẩm và tù binh.
Đó là vinh quang của kẻ đi xâm lược.
Và nước Pháp, dù muốn hay không, vẫn được thế giới nhớ đến qua biểu tượng ấy.

Còn tượng đài “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” bên Hồ Gươm là ký ức của người bị xâm lược.

Ba nhân vật trong tượng đài - người chiến sĩ Vệ quốc đoàn ôm bom ba càng, nữ chiến sĩ cầm gươm, người công nhân cầm súng - không ai trong số họ ra đi để chinh phục ai.

Họ ở lại, giữa lòng Hà Nội, trong 60 ngày đêm của năm 1946-1947, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để kéo dài thời gian cho Trung ương rút lui lên Việt Bắc.

Và đây là điều tôi thấy đau lòng nhưng không thể phủ nhận:
Cùng một nước Pháp, nhưng một bên là kẻ đi chinh phạt được tôn vinh bằng Khải Hoàn Môn, một bên là kẻ xâm lược bị ghi nhớ bằng tượng đài “Quyết tử”.

Khải Hoàn Môn ca ngợi việc Pháp đánh thắng người khác.

Tượng đài “Quyết tử” ghi nhớ việc người Việt đánh đuổi Pháp ra khỏi đất mình.

Hai biểu tượng ấy không thể cùng tồn tại trong một câu chuyện.
Chúng là hai ký ức đối nghịch, và cả hai đều có thật.

NHƯNG CÓ MỘT CÂU NÓI ĐÃ THAY ĐỔI TẤT CẢ

Giữa những ngày Hà Nội chìm trong khói lửa, Tết Đinh Hợi năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi một bức thư cho các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô.

Người gọi họ là “các em” - hai tiếng ấy thôi đã đủ thấy Bác không viết như một vị lãnh tụ ra lệnh, mà như một người cha nói với con mình.

Trong bức thư ấy, có một câu mà tôi không thể nào quên:
“Các em là đội cảm tử, các em quyết tử để Tổ quốc quyết sinh.”

Tôi đã đọc câu này rất nhiều lần.

Nhưng phải đến khi đặt nó cạnh Khải Hoàn Môn Paris, tôi mới thật sự hiểu tại sao nó là trái tim của mọi thứ.

Khải Hoàn Môn không có một câu nói nào.
Nó chỉ có những bức phù điêu khắc hình binh lính, chiến lợi phẩm, tù binh.
Nó không có lời thề nào.
Nó không có một người cha nào nói với con mình rằng: hãy chết để đất nước sống.

Còn bức thư của Bác Hồ thì có.
Và đó là điều làm cho tượng đài bên Hồ Gươm khác biệt hoàn toàn với bất kỳ công trình chiến thắng nào trên thế giới.
Nó không tôn vinh chiến thắng.
Nó tôn vinh sự lựa chọn hy sinh.
Nó không kể chuyện kẻ mạnh thắng kẻ yếu.
Nó kể chuyện những người biết mình có thể chết, và chọn chết, để đất nước được sống.

Tôi nghĩ, nếu Khải Hoàn Môn là biểu tượng của một nước Pháp đi xâm lược, thì bức thư ấy là câu trả lời của Việt Nam:
Chúng ta không có Khải Hoàn Môn. Chúng ta có những người mẹ, người cha, những người con, sẵn sàng chết để Tổ quốc được sống. Và chúng ta ghi nhớ họ không phải bằng đá, mà bằng máu thịt của chính mình.

SỰ TÍCH TRẢ GƯƠM: LINH HỒN CỦA MẢNH ĐẤT NƯỚC: 

Nhưng tại sao tượng đài ấy lại đứng bên Hồ Gươm?

Không phải bên một quảng trường mới, không phải trong một khuôn viên quân sự.

Mà là bên cạnh hồ nước gắn liền với truyền thuyết Lê Lợi trả gươm.

Truyền thuyết ấy kể rằng sau khi đánh đuổi giặc Minh, Lê Lợi cưỡi thuyền rồng dạo trên hồ Tả Vọng.

Rùa Vàng nổi lên, đòi lại thanh gươm thần mà Long Quân đã cho mượn để đánh giặc.
Lê Lợi trả gươm.
Rùa Vàng đón lấy và lặn xuống đáy sâu.
Từ đó, hồ đổi tên thành Hoàn Kiếm - hồ trả gươm.

Ý nghĩa của hành động ấy sâu xa hơn một câu chuyện cổ tích.
Trả gươm là tuyên bố rằng chiến tranh đã kết thúc.

Gươm được trao đi để giết giặc, và khi giặc tan, gươm phải được trả lại.
Không ai được giữ gươm lại để làm vũ khí chinh phục người khác.
Khát vọng của dân tộc Việt Nam, từ ngàn năm, không phải là bành trướng.
Khát vọng ấy là hòa bình.

VỊ TRÍ KHÔNG THỂ THAY THẾ 

Và đây là điều tôi nhận ra: Tượng đài “Quyết tử” đứng bên Hồ Gươm không phải là một sự trùng hợp.

Đó là một sự cộng hưởng lịch sử.

Hồ Gươm là nơi Lê Lợi trả gươm - nơi dân tộc tuyên bố từ bỏ chiến tranh sau khi giành được độc lập.

Tượng đài “Quyết tử” là nơi ghi nhớ những người đã cầm gươm một lần nữa, nhiều thế kỷ sau, để bảo vệ nền độc lập ấy trước một kẻ xâm lược mới - chính là nước Pháp, kẻ đã dựng Khải Hoàn Môn để ca ngợi việc mình đi xâm lược người khác.

Hai sự kiện, cách nhau hơn năm thế kỷ, nhưng cùng nằm trên một mảnh đất, cùng kể một câu chuyện:
Gươm được rút ra khi cần, và gươm được trao lại khi hòa bình trở về.

Và ở giữa dòng chảy ấy, bức thư của Bác Hồ là nhịp cầu nối liền hai thời đại.

Lê Lợi trả gươm sau khi đánh đuổi giặc Minh.

Bác Hồ viết thư động viên những người lính Thủ đô cầm gươm đánh đuổi giặc Pháp.

Cả hai đều nói lên một điều: dân tộc này chỉ cầm gươm khi bắt buộc, và sẽ trả gươm khi có thể.

Câu nói “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” không phải là lời cổ vũ chiến tranh.

Đó là lời thề rằng: chúng ta chấp nhận chết, để con cháu chúng ta không bao giờ phải cầm gươm nữa.

Đặt tượng đài ở bất kỳ nơi nào khác - một quảng trường mới, một khuôn viên quân sự, một ngã tư nào đó - sẽ là tách nó khỏi linh hồn của nó.

Nó sẽ trở thành một tượng đài chiến thắng đơn thuần.

Nhưng bên Hồ Gươm, nó là một phần của dòng chảy liên tục từ Lê Lợi đến Trung đoàn Thủ đô, từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX.

Nó không đứng một mình.

Nó đứng cùng hồ nước, cùng truyền thuyết, cùng lời thề rằng dân tộc này chỉ cầm gươm khi bắt buộc, và sẽ trả gươm khi có thể.

ĐIỀU TÔI TIN 

Có nhà sử học từng nói rằng "bản thân Hồ Gươm và những câu chuyện lịch sử gắn liền với nó đã là một Khải Hoàn Môn vô giá trong lòng người dân".

Tôi nghĩ ông đúng - nhưng theo một nghĩa khác với những gì Khải Hoàn Môn La Mã từng mang.

Khải Hoàn Môn Paris là khải hoàn môn của kẻ đi chinh phạt.
Hồ Gươm là khải hoàn môn của sự trở về.

Không phải trở về với chiến lợi phẩm, mà là trở về với hòa bình.
Tượng đài “Quyết tử” đứng đó, bên cạnh hồ, không phải để tôn vinh chiến tranh.

Nó tôn vinh những người đã chiến đấu để chiến tranh không còn cần thiết nữa.

Và trên hết, nó tôn vinh một câu nói.

Một câu nói không được khắc trên đá, nhưng được khắc trong tim mỗi người Việt Nam.

Câu nói ấy là trái tim của tượng đài, là linh hồn của Hồ Gươm, là câu trả lời của chúng ta trước mọi Khải Hoàn Môn trên thế giới:
“Các em là đội cảm tử, các em quyết tử để Tổ quốc quyết sinh.”

Khải Hoàn Môn Paris, dù có đứng sừng sững đến đâu, vẫn mãi mãi là biểu tượng của một nước Pháp từng đi xâm lược - trong đó có Việt Nam.

Và tượng đài “Quyết tử” bên Hồ Gươm, với câu nói ấy ở trái tim mình, là câu trả lời của chúng ta:

Chúng tôi nhớ. Chúng tôi đã đứng lên. Và chúng tôi đã trả gươm./.
#QV-ST!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét