Thứ Ba, 28 tháng 5, 2019

Xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh ĐTM/2019


Xây dựng  lực lượng vũ trang về chính trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh ĐTM/2019
Vận dụng sáng tạo những nguyên lý xây dựng lực lượng vũ trang kiểu mới của chủ nghĩa Mác – Lênin, kế thừa những kinh nghiệm quý báu về xây dựng lực lượng vũ trang trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt lên hàng đầu vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị, xây dựng và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc, làm cho lực lượng vũ trang ta luôn là lực lượng chính trị trung thành và tin cậy của Đảng, của Nhà nước và của nhân dân.
Bằng hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam về chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta di sản quý báu, thể hiện ở một số nội dung sau:
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt lên hàng đầu vấn đề xây dựng  lực lượng vũ trang về chính trị, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở cho mọi mặt khác, coi việc xây dựng nhân tố chính trị tinh thần là một trong những yêu tố quyết định đến tiến trình và kết cục của chiến tranh. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “ Nhiệm vụ quân sự phải phục tùng nhiệm vụ chính trị” và “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”
Tư tưởng coi trọng nhân tố chính tri – tinh thần, coi trọng nguyên tắc xây dựng về chính trị thể hiện tập trung ở vấn đề cốt lõi là củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân cho lực lượng vũ trang, bảo đảm cho lực lượng vũ trang ta luôn luôn là lực lượng chính trị trung thành tin cậy của Đảng, của Nhà nước, của nhân dân
Xây dựng bản chất giai cấp công nhân cho lực lượng vũ trang ở một nước mà thành phần tham gia lực lượng vũ trang là con em của các tầng lớp nhân dân lao động, chủ yếu là nông dân, là đóng góp lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về lý luận xây dựng lực lượng vũ trang kiểu mới của giai cấp công nhân. Đồng thời chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận về sự thống nhất gắn bó giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc của lực lượng vũ trang nhân dân.
Hồ Chí Minh đã giải quyết đúng đắn các mối quan hệ cơ bản như quan hệ giữa lực lượng vũ trang với Đảng, với Nhà nước, với nhân dân, quan hệ trong nội bộ lực lượng vũ trang, quan hệ giữa lực lượng vũ trang ta với lực lượng vũ trang các nước xã hội chủ nghĩa – những mối quan hệ cơ bản quyết định quá trình hình thành, phát triển bản chất cách mạng và truyền thống tốt đẹp của quân đội ta.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng  lực lượng vũ trang về chính trị gắn liền với những quan điểm xây dựng lực lượng vũ trang của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trải qua thực tiễn hơn sáu thập kỷ qua những tư tưởng đó ngày càng được bổ sung, hoàn thiện và trở thành những vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựng  lực lượng vũ trang. Đó là nguyên tắc coi trọng xây dựng  lực lượng vũ trang về chính trị, lấy xây dựng vững mạnh về chính trị là “gốc”, là cơ sở cho xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh toàn diện; không ngừng củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tinh nhân dân, tính dân tộc; giữ  vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; kiên định mục tiêu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xác lập và không ngừng nâng cao hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị; xây dựng tổ chức đảng trong lực lượng vũ trang trong sạch, vững mạnh và xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng.
Thực tiễn hơn 60 năm xây dựng  lực lượng vũ trang về chính trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta đã tạo dựng được sức mạnh chính trị – tinh thần to lớn của lực lượng vũ trang để chiến đấu và chiến thắng những lực lượng vũ trang xâm lược nhà nghề có số lượng đông, có vũ khí, trang bị, kỹ thuật hiện đại. Lực lượng vũ trang ta đã lập nên những chiến công vẻ vang, góp phần xuất sắc vào sự nghiệp đấu tranh giành quyền độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc, vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Những giá trị lý luận xây dựng  lực lượng vũ trang về chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh cần được bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo trong giai đoạn hiện nay – giai đoạn lực lượng vũ trang phải tập trung sức tạo ra bước chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở.


Xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị theo quan điểm Mác – Lênin. ĐTM/2019


Xây dựng  lực lượng vũ trang về chính trị theo quan điểm Mác – Lênin. ĐTM/2019
 Cũng như giai cấp và nhà nước, chiến tranh và quân đội là những hiện tượng chính trị xã hội. Sự xuất hiện của chiến tranh và lực lượng vũ trang gắn chặt với  sự xuất hiện của giai cấp và nhà nước. C. Mác, Ph. Ăng ghen và V.I Lênin đã nghiên cứu lý luận về chiến tranh và lực lượng vũ trang trong mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó với lý luận về giai cấp và nhà nước.
Lực lượng vũ trang là một hiện tượng lịch sử. Lực lượng vũ trang ra đời trong giai đoạn phát triển nhất định của xã hội loài người, khi xuất hiện chế độ tư hữu và loài người bị phân chia thành các giai cấp. Đi đôi với việc phân chia xã hội thành giai cấp, sự bất bình đẳng về sở hữu tài sản càng trở nên sâu sắc, lực lượng vũ trang được tăng cường và có cơ cấu tổ chức chặt chẽ hơn. Khi xuất hiện bộ máy cưỡng bức đặc biệt là nhà nước, thì cũng  đẻ ra thiết chế xã hội mới về chất là lực lượng vũ trang
Khi đã xuất hiện chế độ tư hữu, giai cấp và nhà nước, nảy sinh mâu thuẫn đối kháng thì chiến tranh cũng xuất hiện trong đời sống xã hội. đối với bọn bóc lột thì chiến tranh đã trở thành phương tiện và công cụ quan trọng để nô dịch các dân tộc khác, để củng cố địa vị thống trị của chúng ở trong nước. Ăng ghen đã viết: “ Quân đội là một tập đoàn người vũ trang có tổ chức, do nhà nước xây dựng nên và dùng vào cuộc chiến tranh tấn công hoặc chiến tranh phòng ngự”
Như vậy, sự xuất hiện của hiện tượng  lực lượng vũ trang trong lịch sử gắn chặt với sự xuất hiện của chế độ tư hữu, giai cấp, nhà nước và chiến tranh. Lực lượng vũ trang là công cụ để thực hiện mục đích chính trị của một giai cấp, một nhà nước nhất định.
C. Mác,  Ph. Ăng ghen và Lênin xem xét vấn đề chiến tranh và lực lượng vũ trang trong mối quan hệ chặt chẽ với chính trị. Phạm trù bạo lực, chiến tranh và lực lượng vũ trang bao giờ cũng gắn liền với phạm trù chính trị - giai cấp. Chiến tranh là sự kế tục của chính trị bằng thủ đoạn bạo lực; lực lượng vũ trang là công cụ để tiến hành chiến tranh, để thực hiện mục đích chính trị của một giai cấp, một nhà nước nhất định
Lực lượng vũ trang là lực lượng đặc biệt của một giai cấp, là công cụ vũ trang chủ yếu của nhà nước để tiến hành chiến tranh nhằm thực hiện mục đích chính trị của giai cấp. lực lượng vũ trang hiện và tồn tại gắn liền với chính trị, bị chi phối bởi chính trị, là công cụ thực hiện chính trị. Mọi mặt hoạt động của lực lượng vũ trang đều bị quy định bởi chính trị và phụ thuộc vào chính trị. Chính trị quy định bản chất, chức năng, nhiệm vụ, các mối quan hệ giữa lực lượng vũ trang với giai cấp, với chế độ xã hôi, với nhan dân, với dân tộc. Lực lượng vũ trang  bao giờ cũng gắn chặt với giai cấp, nhà nước đã sinh ra nó, mang bản chất giai cấp sâu sắc. Không có và không thể có  lực lượng vũ trang “phi giai cấp” hoặc “siêu giai cấp”, “quân đội phi chính trị” hoặc “đứng ngoài chính trị”.
Trong khi chăm lo xây dựng sức mạnh toàn diện của lực lượng vũ trang, để làm cho lực lượng vũ trang kiểu mới thực sự trung thành và phục vụ lợi ích của giai cấp vô sản, Mác, Ăng ghen và Lênin hết sức chăm lo xây dựng  lực lượng vũ trang về chính trị, nhất là chăm lo củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân cho lực lượng vũ trang, coi đó là vấn đề sống còn của lực lượng vũ trang cách mạng, là một trong những nguyên tắc hết sức cơ bản trong xây dựng lực lượng vũ trang kiểu mới.   
Trong quá trình xây dựng  lực lượng vũ trang về chính trị; xây dựng, củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân cho lực lượng vũ trang C. Mác, Ph. Ăng ghen và V.I Lênin đã thường  xuyên quan tâm xây dựng cả 3 phương diện chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đó là sự kiên định và thực hiện mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của giai cấp công nhân; giáo dục hệ tư tưởng Mác – Lênin, thực hiện đường lối, nguyên tắc tổ chức của giai cấp công nhân; xây dựng đội ngũ cán bộ, sĩ quan lực lượng vũ trang theo quan điểm, đường lối của giai cấp công nhân. Mặt khác, C. Mác, Ph. Ăng ghen và V.I Lênin rất quan tâm xây dựng, củng cố và phát triển mối quan hệ giữa lực lượng vũ trang với nhân dân, coi đây là một trong những nguyên tắc hết sức quan trọng trong xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, làm cho lực lượng vũ trang kiểu mới khác về chất với các kiểu lực lượng vũ trang của giai cấp, nhà nước bóc lột trước đây. Đồng thời, C. Mác, Ph. Ăng ghen và V.I Lênin rất quan tâm đến tăng cường xây dựng các mối quan hệ trong nội bộ lực lượng vũ trang, nhất là mối quan hệ giữa cán bộ và chiến sĩ trên tinh thần đoàn kết, dân chủ, kỷ luật, trên cơ sở thống nhất về nghĩa vụ và quyền lợi; tăng cường củng cố và phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa lực lượng vũ trang các nước xã hội chủ nghĩa trên tinh thần quốc tế vô sản.
V.I Lênin đặc biệt quan tâm đến việc giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, tiến hành công tác tưởng, công tác tổ chức trong lực lượng vũ trang, coi đó là một nguyên tắc xây dựng lực lượng vũ trang kiểu mới, trực tiếp nâng cao chất lượng chính trị, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang. V.I Lênin đã kiên quyết đấu tranh bác bỏ luận điểm sai lầm và phản động của giai cấp tư sản coi lực lượng vũ trang “ là trung lập đứng ngoài chính trị”, từ đó đi tới phủ nhận nội dung giai cấp trong xây dựng lực lượng vũ trang.
Những thảm kịch ở Liên Xô và Đông Âu đầu những năm 90 vừa qua là bài học đau xót và lời cảnh tỉnh cho những ai xa rời những nguyên lý, nguyên tắc của chủ nghĩa Mác – Lênin về xây dựng lực lượng vũ trang kiểu mới, nhất là vấn đề xây dựng  lực lượng vũ trang về chính trị, củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của lực lượng vũ trang kiểu mới.


TẦM CAO TƯ TƯỞNG, NIỀM TIN SON SẮT CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH



Bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một mẫu mực về tổng kết lý luận-thực tiễn mang tầm tư tưởng chiến lược của bậc vĩ nhân. Hồ Chí Minh đã thể hiện trong Di chúc - một đại tổng kết lý luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của Người, với những chặng đường trong cuộc hành trình lịch sử của dân tộc và của Đảng, vì lý tưởng và mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, vì độc lập - tự do - hạnh phúc của nhân dân.
Thực hiện Di chúc của Người, chúng ta đã vượt qua bao thử thách cam go, chiến đấu gian lao và anh dũng “đánh thắng hai đế quốc to”; toàn Đảng, toàn dân, toàn quân một ý chí, một niềm tin son sắt, hành động với sức mạnh đoàn kết muôn triệu người để giành thắng lợi, hướng tới tương lai.
Trong Di chúc, trên bình diện tư tưởng, Người đã đề cập toàn diện các vấn đề cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam, về cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, về Đảng và xây dựng Đảng cầm quyền thực sự trong sạch, vững mạnh, về Nhà nước và thực hành dân chủ, thực sự là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Di chúc trù tính việc trước mắt và việc lâu dài, về dân tộc và quốc tế; về công việc tương lai, tái thiết đất nước sau chiến tranh, xây dựng đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, làm tất cả mọi việc vì hạnh phúc của nhân dân.
Niềm tin tưởng mãnh liệt của Người vào thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong hoàn cảnh chiến tranh đang diễn ra hết sức ác liệt, đồng bào, chiến sĩ cả nước đang chịu đựng nhiều gian khổ, hy sinh, vượt qua muôn vàn thử thách khó khăn và tình hình quốc tế cũng đang diễn biến phức tạp… cho thấy tầm nhìn xa trông rộng của Người. Đó là niềm tin khoa học, nhìn thấu xu thế phát triển của tình hình, tính tất yếu thắng lợi của chính nghĩa cách mạng và sự thất bại không thể nào tránh khỏi của chiến tranh xâm lược phi nghĩa, trái đạo lý và phản nhân văn mà đế quốc, thực dân gây ra. Người tin tưởng, khẳng định và nhấn mạnh: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn”.
Với Hồ Chí Minh, niềm tin thúc đẩy hành động. Người hình dung “cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn". Và hành động lại góp phần củng cố niềm tin: “Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà".
Từng lời, từng chữ của Người trong Di chúc đều toát lên sự kiên định, nhất quán của tư tưởng, sự vĩ đại của niềm tin không gì lay chuyển được.
Động lực sâu xa thúc đẩy Người tin tưởng mãnh liệt như thế và thức tỉnh đồng bào, chiến sĩ hành động dũng cảm, quyết liệt như thế, không có gì khác đó là tình yêu và tình cảm của Người với Tổ quốc và nhân dân mà cả cuộc đời mình, Người đã tự nguyện dấn thân và dâng hiến cho dân, cho nước. Nó lắng đọng, bền bỉ, thường trực trong suy tư và cảm xúc, trong trái tim và trí óc của Người.
Cũng trong bối cảnh của Di chúc, Người đã từng kêu gọi đồng bào, chiến sĩ ta “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi”, phải “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta”, để cho “Bắc-Nam sum họp, xuân nào vui hơn!”… Người đã thực sự truyền cảm hứng tới toàn dân tộc. Trong giờ phút thử thách ác liệt, cam go của cuộc chiến đấu, cũng như trong suốt cuộc hành trình lịch sử không ngừng không nghỉ của dân tộc để bảo vệ quyền sống, quyền tự do, giữ gìn và nâng cao phẩm giá con người, Hồ Chí Minh luôn là ngọn cờ dẫn dắt toàn dân tộc, gắn bó máu thịt với nhân dân mình, cuộc đời Người ở trong sự sống và số phận của nhân dân, dân tộc mình.
Hãy nhớ lại những sự kiện tiêu biểu in dấu ấn của Người trong mỗi bước ngoặt của cách mạng. Bên thềm của Cách mạng Tháng Tám giải phóng dân tộc, Người từng căn dặn chúng ta với quyết tâm sắt đá “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Giữa khói lửa của cuộc chiến tranh xâm lược trở lại của thực dân Pháp, ngày 19-12-1946, Người ra lời kêu gọi đồng bào, chiến sĩ cả nước “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Đó là lời thề thiêng liêng đối với Tổ quốc mà nguyên thủ quốc gia Hồ Chí Minh đã thay mặt toàn thể quốc dân đồng bào nói lên ý chí của toàn dân tộc.
Hai mươi năm sau, vào lúc 76 tuổi, khi đã khởi thảo xong lần đầu bản Di chúc, ngày 17-7-1966, Người ra lời kêu gọi đồng bào, chiến sĩ cả nước. Trong lời kêu gọi ấy, nổi bật một tư tưởng lớn, một sự lựa chọn giá trị được khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Đó là chân lý của muôn đời, rọi sáng nhận thức, giúp chúng ta hiểu rõ vì sao niềm tin vào thắng lợi và ý chí chiến đấu vì thắng lợi hoàn toàn của Người mãnh liệt đến như vậy.
Trong Di chúc, Người căn dặn: “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Đây là nhân tố làm nên sức sống, sức chiến đấu của một Đảng cách mạng mà lẽ sống, sự tồn tại của Đảng chỉ vì nhân dân. Đoàn kết trong Đảng, muôn người như một còn là sức mạnh của trí tuệ khoa học và đạo đức cách mạng của toàn Đảng, của từng tổ chức Đảng đến mỗi một đảng viên.
Theo Hồ Chí Minh, đoàn kết trong Đảng còn là động lực và sự nêu gương, thúc đẩy đoàn kết toàn dân tộc, gắn liền với đoàn kết quốc tế. Với Hồ Chí Minh, lãnh tụ tối cao của Đảng và của dân tộc, đoàn kết là nỗ lực phấn đấu, là mẫu mực thực hành trong suốt cuộc đời của Người. Trước tình trạng xảy ra mất đoàn kết, sự bất hòa giữa các đảng anh em, Người dằn vặt, lo âu đến mức đau đớn.
Là người chiến sĩ cách mạng, luôn tin tưởng, lạc quan vào sự nghiệp cách mạng, luôn tự hào về sự lớn mạnh của phong trào cộng sản thế giới mà Người phải nói đến “sự đau lòng” về tình trạng bất hòa giữa các đảng anh em thì nỗi đau ấy của Người thấm thía biết chừng nào. Với nghị lực phi thường, với tấm lòng cao cả, Người thường nén chặt nỗi đau nhân thế ở trong lòng. Ngay trong ngôn từ, hiếm khi Người nói tới sự đau buồn, vậy mà trong Di chúc, Người phải nói đến “tự hào bao nhiêu” thì cũng “đau lòng bấy nhiêu” trước những sóng gió âm ỉ trong phong trào cộng sản quốc tế mà Người cảm nhận sâu sắc hơn ai hết, thì nỗi đau của Người là tất cả tinh thần trách nhiệm không chỉ đối với Đảng, với dân tộc mà còn đối với quốc tế và nhân loại. Thêm một lần nữa, ta nhận ra sự cao thượng vĩ đại của Người.
Người căn dặn Đảng ta “ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình”. Đây cũng chính là một trong những phương diện xây dựng Đảng của Đảng ta, là trách nhiệm cao cả của Đảng ta đối với phong trào cộng sản quốc tế và cách mạng thế giới theo Di chúc của Người.


TỪ “MÙA XUÂN Ả RẬP” ĐẾN ÂM MƯU GÂY BẤT ỔN Ở VIỆT NAM


Bài học từ các nước Trung Đông, Bắc Phi và Ukraina vẫn đang nóng hổi. Hiểm hoạ “Mùa xuân Ả Rập” có tái diễn ở Việt Nam hay không phụ không nhỏ vào ý thức trách nhiệm của mỗi người Việt Nam hôm nay.

Nói về đạo đức người làm quan xưa và nay.

Để nắn chỉnh lại đạo đức cán bộ phải làm từ gốc, từ giáo dục cơ bản đến nâng cao đạo đức xã hội, tuyển chọn người hiền tài nhân nghĩa. Để có thể “gạn đục khơi trong” đối với người lãnh đạo, cán bộ thì tất yếu phải sàng lọc chứ chẳng thể mong muốn tới những phương “thuốc tẩy” siêu mạnh được.
Quan niệm về đạo đức người làm quan thời phong kiến
Dân gian xưa có câu: “Thanh gỗ nóc nhà đặt không chính, thì xà ở dưới cũng bị hỏng”. Tức là người làm quan không tự mình ngay chính, thì không thể giáo hóa dân chúng, không thể yêu cầu nhân dân thực hành theo pháp lệnh, không đủ sức để ngăn ngừa cấp dưới, người dân biến chất mà “làm hư” ngược lại quan.
Thế nên, ngay từ bước chọn người để làm quan, để cống hiến cho đất nước thì phải xét ở đạo đức là yếu tố trước tiên. Đó là cái lý khi bổ nhiệm thì phải tôn trọng nguyên tắc “nhất hiền tài” chứ không phải là “nhất hậu duệ”.
Vua Lê Thánh Tông một trong những vị vua luôn chú trọng tới đạo đức của người làm quan để xây dựng quốc thái dân an

Những “thẩm phán online” xin đừng phán xét mơ hồ nữa!

Pháp luật là điều kiện không thể thiếu để bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bình thường của một Nhà nước. Pháp luật không chỉ là một công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ý thức đạo đức, làm lành mạnh hóa đời sống xã hội và góp phần bồi đắp nên những giá trị mới. Do vậy, muốn phá hoại sự phát triển của một quốc gia, có thể phá hoại từ nền pháp luật.

Bảo vệ pháp luật là nhiệm vụ của mọi người

Thứ Hai, 27 tháng 5, 2019

Phải coi đây là tội phạm hình sự



Trong khi đang diễn ra Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá XIV, dư luận hiện vẫn đang rất bức xúc về vụ gian lận điểm thi THPT QG 2018, khi viện dẫn luật thì khó xử lý, nhiều cán bộ, thí sinh sai phạm vẫn nhởn nhơ, danh sách thí sinh được nâng điểm đã có, con cái nhà ai cũng đã rõ những vẫn khó khó công bố?.
Mua bán điểm thi là tội phạm hình sự chứ không phải gian lận thi cử như một số người đã đánh tráo khái niệm để nói rằng không công bố là nhân văn. Đây là dạng tội phạm có tổ chức, cần điều chỉnh luật và nghiêm trị việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để nâng điểm, nâng hạnh kiểm.

Giả dối – thói xấu tệ hại cần loại bỏ



Một trong những thói quen ứng xử của người Việt là ưa thích sự mềm mỏng, khéo léo, nhã nhặn. Và ngược lại, không thích nghe những sự thẳng thắn, cương trực. Thói quen ứng xử đó có mặt tích cực là dễ tạo thiện cảm, song quá coi trọng giao tiếp theo cách ứng xử nhã nhăn, nhún nhường theo kiểu nói ngọt cũng lọt đến xương cũng là mảnh đất mầu mỡ cho tệ nói dối, nói hão nảy sinh. Đây chính là mầm mống cho bệnh giả dối, con “ma” đang gặm nhấm, là mối nguy hại làm mọt ruỗng phẩm giá cán bộ, đảng viên và ảnh hưởng tiêu cực trong mọi quan hệ xã hội.

Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2019

VẪN LÀ LUẬN ĐIỆU VU KHỐNG


Ngày 14 tháng 5 năm 2019, C03 đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, khám xét với Bùi Quang Huy cùng 8 người khác khác về tội Buôn lậu theo khoản 4 điều 188 Bộ luật Hình sự 2015 và tội vi phạm về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng theo điều 221 Bộ luật Hình sự 2015. Lệnh bắt tạm giam với những đối tượng này được ban hành song ông chủ của Nhật Cường Mobile đã bỏ trốn và đang bị truy nã.
Mặc dù chưa có kết luận của cơ quan điều tra nhưng lợi dụng thông tin này, một số trang mạng xã hội của các tổ chức phản động lại đăng tải, phát tán nhiều thông tin liên quan đến cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, một số bộ, ngành và địa phương. Những thông tin của chúng đều được trích dẫn từ những nguồn tin không chính thống, chưa được kiểm định. Điển hình là, trang Facebook của Việt Tân đã đăng thông tin cho rằng: Nhật Cường Mobile chính là “sân sau” của một lãnh đạo chủ chốt của thành phố Hà Nội. Cũng theo trang Facebook Việt Tân thì thông tin trên được trích dẫn, lấy nguồn từ Facebooker Lê Nguyễn Hương Trà - chủ nhân của blog “Cô gái Đồ Long” đã từng bị cơ quan cảnh sát điều tra của Bộ Công an bắt giữ, điều tra hồi tháng 10-2010 về hành vi: Vu khống người khác bằng các bài viết được đăng tải trên blog cá nhân. Như vậy,chúng ta không thể tin và càng không thể phát tán những thông tin không đáng tin cậy như thế khi chưa có kết luận điều tra từ các cơ quan chức năng để tránh gây hoang mang trong dư luận và ảnh hưởng đến uy tín của các đồng chí lãnh đạo.
Hơn thế nữa, những thông tin này lại được tung ra vào đúng thời điểm Đảng ta đang chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương 10 (khóa XII) với nhiều nội dung quan trọng phục vụ cho Đại hội lần thứ XIII của Đảng. Việc đăng tải những thông tin như vậy chính là nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các cán bộ ngành, địa phương.
 Vì thế, mỗi chúng ta cần tỉnh táo, không bị ngộ nhận. Còn với những việc làm, hành động có tính phá hoại, tung hỏa mù như vậy cần phải được loại bỏ./.
                                                                                     TT

XÂY DỰNG BẢN LĨNH VỮNG VÀNG, KHÔNG ĐỂ SA VÀO CẠM BẪY TỆ NẠN XÃ HỘI



Có thể nói, thời gian gần đây một trong những vấn đề dư luận xã hội bày tỏ sự quan ngại là một bộ phận cán bộ, đảng viên có những biểu hiện vi phạm chuẩn mực đạo đức, vướng vào tệ nạn xã hội. Nếu không có những giải pháp ngăn chặn kịp thời thực trạng này thì không chỉ làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ mà còn tác động tiêu cực đến việc xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam.
Tệ nạn xã hội là một hiện tượng lệch chuẩn xã hội, nó thường được biểu hiện dưới những hành vi vi phạm đạo đức, pháp luật, gây hậu quả xấu đối với đời sống xã hội. Tệ nạn xã hội không những ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, tinh thần, đạo đức của con người, mà còn làm rạn nứt hạnh phúc gia đình, làm mọt ruỗng văn hóa và gây mất trật tự an toàn xã hội. Không ai phủ nhận những giá trị tích cực mà nền kinh tế thị trường đã mang lại cho xã hội và con người. Tuy nhiên, những mặt trái của cơ chế thị trường “cộng sinh” với lối sống lai căng, văn hóa độc hại du nhập từ bên ngoài vào khiến tệ nạn xã hội có nguy cơ trỗi dậy và làm băng hoại đạo đức xã hội. Cán bộ, đảng viên cũng là con người nên khó tránh khỏi những ảnh hưởng, tác động của môi trường xã hội ở cả mặt tốt và mặt xấu, ở cả chiều hướng tích cực và tiêu cực. Thực tế cho thấy, trước sự “cám dỗ, mê hoặc” của những “chiếu bài, ván bạc” hay lời “mời gọi quyến rũ” từ vũ trường, nhà hàng, khách sạn, thậm chí chiêu bài “mỹ nhân kế” làm chao đảo cả một triều chính xưa kia cũng có thể tái diễn để trở thành “cái dây thòng lọng” đối với bất cứ cán bộ, đảng viên nào thiếu bản lĩnh, thiếu tỉnh táo, thiếu nghiêm khắc với chính mình.Nếu như những năm tháng chiến tranh, cán bộ, đảng viên có mục tiêu lớn nhất là cùng nhân dân, bộ đội kề vai sát cánh bên nhau để đánh đuổi kẻ thù ra khỏi giang sơn bờ cõi, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; hay trong thời bao cấp còn nhiều khó khăn, nhà nhà, người người phải lo toan cái ăn, cái mặc hằng ngày thì cán bộ, đảng viên ít nhiều vẫn giữ được sự trong trẻo của tâm hồn, sự trong sáng của lương tâm, sự lành lặn của đạo đức, do đó ít bị tha hóa, biến chất. Còn thời nay, điều kiện kinh tế, cuộc sống vật chất đã đầy đủ, sung túc hơn xưa; môi trường xã hội thông thoáng, cởi mở hơn; các phương tiện nghe nhìn, truyền thông, văn hóa giải trí, mạng xã hội đã làm cho con người được tận hưởng tiện ích, thoải mái gấp nhiều lần… nhưng cũng làm người ta dễ trở nên “lóa mắt” trước những “cạm bẫy” từ sự hào nhoáng, giả tạo và lệch chuẩn xã hội mà không phải ai cũng dễ nhận diện, phát hiện để tránh xa. Thế nên, có người ví von rằng, thời đại công nghệ có thể tạo bàn đạp, bệ đỡ cho con người vươn tới chiếm lĩnh đỉnh cao của khoa học, nhưng cũng có thể là chiếc xe “không phanh” lót đường cho sự sa ngã, xuống cấp đạo đức nếu con người buông lơi, thỏa thích với những ham hố tầm thường của mình.Không ngẫu nhiên mà từ Đại hội XII đến nay, Đảng ta không chỉ coi đạo đức là một trong 4 trụ cột trong công tác xây dựng Đảng, mà còn đề ra nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định nhằm siết chặt kỷ cương, củng cố văn hóa, chấn chỉnh đạo đức trong Đảng. Bởi sự thoái hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên khiến nhân dân suy giảm niềm tin vào Đảng và chế độ, đồng thời làm cho nền tảng văn hóa, đạo đức xã hội có nguy cơ lung lay từ gốc rễ.
Chính vì vậy, việc làm cần thiết và cấp bách hiện nay đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải nhân đôi trách nhiệm trong việc xây dựng nền tảng đạo đức xã hội lành mạnh.Với tư cách là lực lượng dẫn dắt xã hội phát triển văn minh, tiến bộ, đội ngũ cán bộ, đảng viên không chỉ có trách nhiệm xây dựng nền tảng tinh thần đạo đức xã hội lành mạnh mà còn phải là lực lượng tiên phong trong đấu tranh, phòng ngừa, đẩy lùi, ngăn chặn các tệ nạn xã hội, các hành vi vi phạm chuẩn mực đạo đức xã hội.Muốn làm tốt việc này, trước hết đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên cần chú trọng học tập lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh , thấm nhuần những giá trị văn hóa truyền thống, đạo đức tốt đẹp của dân tộc; tự giác tu dưỡng, rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, không bị lôi kéo vào các tệ nạn xã hội như mại dâm, dâm ô, cờ bạc, mê tín dị đoan; gương mẫu chấp hành nội quy, quy ước, hương ước về nếp sống văn hóa tại cộng đồng nơi cư trú; vận động gia đình, người thân và nhân dân tích cực hưởng ứng tham gia phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, phường, xã văn minh...Để tệ nạn xã hội xâm nhập vào một bộ phận cán bộ, đảng viên, cấp ủy và chính quyền các cấp không thể vô can. Vì vậy, đi đôi với việc đề cao vai trò tự giác, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, các cấp ủy đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể, cơ quan, đơn vị cần quan tâm chăm lo xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hóa bổ ích nhằm tạo ra không gian sống tích cực cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Cùng với đó, cần làm tốt công tác giáo dục, quản lý cán bộ, đảng viên ở mọi lúc, mọi nơi; phối hợp với chính quyền, đoàn thể, nhân dân địa phương tăng cường giám sát cán bộ, đảng viên nơi cư trú; tránh để buông lỏng quản lý khiến cán bộ, đảng viên vi phạm tệ nạn xã hội mà không biết. Thường xuyên chú trọng, quan tâm xây dựng nền tảng văn hóa, đạo đức lành mạnh cho xã hội, bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa, làm cho văn hóa thấm sâu vào đời sống chính trị, vào mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị, mỗi gia đình và cá nhân, việc giữ gìn và phát huy các chuẩn mực đạo đức, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc sẽ góp phần bảo đảm cho xã hội nói chung, mỗi người nói riêng được phát triển tiến bộ, cân bằng, bền vững. Đây là “bức tường thành” có thể phòng ngừa hiệu quả các tệ nạn xã hội, nhất là trong điều kiện cơ chế kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, phản động hiện nay.


Thứ Năm, 23 tháng 5, 2019

HỌC TẬP TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH - HỌC PHẢI ĐI ĐÔI VỚI HÀNH



“Học với hành phải đi đôi. Học mà không hành thì học vô ích. Hành mà không học thì hành không trôi chảy”. Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về mối quan hệ giữa học và hành tại Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn luyện và học tập vào tháng 5 năm 1950.
Theo Người, học phải luôn gắn bó hữu cơ, không tách rời với hành, học để ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống vốn đa dạng và phong phú. Học mà không hành, không áp dụng vào thực tế khác nào chiếc hòm đựng đầy sách, hành mà không học thì hành không trôi chảy. Muốn thực hành tốt đòi hỏi người học phải được trang bị những tri thức, kiến thức.
Quan điểm của Người đã trở thành bài học sâu sắc có tác dụng kêu gọi mọi người đem việc học gắn bó với thực tiễn nước nhà, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Học đi đôi với hành cũng là nguyên lý giáo dục cơ bản của Đảng và Nhà nước ta; phê phán lối học suông, học cốt lấy chữ nghĩa, lấy mảnh bằng, lối học kinh viện, không nhằm mục đích phục vụ thực tiễn.
Thấm nhuần nguyên lý: "Học đi đôi với hành" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta chủ trương nâng cao chất lượng dạy và học trong các hệ thống bậc học, cấp học, chung tay xây dựng một xã hội học tập, xem học tập như là một nhu cầu tất yếu của cuộc sống và có thể học ở mọi nơi, mọi lúc, học bằng nhiều cách. Học không chỉ là học văn hóa mà còn phải học các kiến thức khác để làm việc, để sáng tạo, để làm người, để sống tốt hơn, thích ứng với sự thay đổi của xã hội. Nếu không, người học chỉ cần đạt đến mục tiêu có bằng cấp, không còn động lực học tập để có tri thức, để làm việc, để ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống. Một nền giáo dục mà "cả nước là một xã hội học tập" sẽ là động lực thúc đẩy mọi người có trách nhiệm học tập, học tập để không bị lạc hậu và theo kịp bước tiến của khoa học, công nghệ, thời đại, để có điều kiện phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân và phát triển bản thân.


Thứ Tư, 22 tháng 5, 2019

50 năm thực hiện Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh: Học lại Di chúc của Bác Hồ



1. Bác Hồ vĩnh biệt chúng ta đã 50 năm. Trong suốt 50 năm qua và mãi mãi, lòng mỗi người không bao giờ nguôi niềm tưởng nhớ, nỗi tiếc thương và lòng biết ơn sâu sắc đối với vị lãnh tụ anh hùng của dân tộc, người thầy vĩ đại của nhân dân ta, người lãnh tụ thiên tài của Đảng, của dân tộc, người Bác kính yêu của chúng ta, nhà văn hóa lớn của nhân loại. Bởi vậy, 50 năm và mãi mãi về sau, tuy Bác xa chúng ta, nhưng Bác lại rất gần chúng ta để đưa đường cho chúng ta đi bằng ngọn đèn tỏa sáng là Di chúc của Người.

"BỐN XIN, BỐN LUÔN" ĐỂ DÂN QUÝ, DÂN TIN


Một trong 4 nội dung của Đề án “Văn hóa công vụ” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là yêu cầu về chuẩn mực giao tiếp, ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức, với nội dung cốt lõi là khi tiếp xúc, giải quyết công việc cho người dân, “người Nhà nước” cần thực hiện “4 xin” là "xin chào, xin lỗi, xin cảm ơn, xin phép" và “4 luôn” là "luôn mỉm cười, luôn nhẹ nhàng, luôn lắng nghe, luôn giúp đỡ".

Thứ Ba, 21 tháng 5, 2019

CHỦ NGHĨA DÂN TÚY VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA


         Chủ nghĩa dân túy được ngành khoa học xã hội liên kết đến một vài hiện tượng. Một mặt nó dùng để chỉ một phong cách chính trị cụ thể, một hình thức hùng biện chính trị hay chiến lược để đạt được quyền lực; mặt khác trong các nghiên cứu, nó được phân loại như là một phần của các hệ tư tưởng khác nhau. Trong cuộc tranh luận chính trị, thuật ngữ chủ nghĩa dân túy hay được đại diện của các hướng khác nhau dùng để chỉ trích lẫn nhau, khi họ nghĩ rằng các tuyên bố của các hướng đối ngược được ưa chuộng, nhưng không tưởng, cho đó là mị dân.
          Chủ nghĩa dân túy thường được đánh dấu bằng sự từ chối giới tinh hoa quyền lực và một số tổ chức, chống trí thức, một sự xuất hiện dường như phi chính trị, cho là chỉ dựa trên sự suy nghĩ lành mạnh và "tiếng nói của người dân", phân cực, cá nhân hóa, đạo đức hóa và lập luận cho là của đa số hoặc tấn công cá nhân.
          Chủ nghĩa dân túy hay nhấn mạnh sự tương phản giữa "nhân dân" với tầng lớp "tinh hoa" và trong các tuyên bố cho là mình đứng về phía "dân thường". Chủ nghĩa dân túy, tuy nhiên, không có hệ thống giá trị cụ thể, cấu thành cốt lõi tư tưởng của mình để phân biệt nó với các hệ tư tưởng khác. Do đó, nó có thể có quan điểm chính trị và mục tiêu rất khác nhau. Thường thì nó là một thiết bị phong cách của các đảng phái và chính trị gia đối lập, hoặc thậm chí của các phong trào xã hội. Nói chung, các thuật ngữ thường xuyên được thảo luận là "chủ nghĩa dân túy cánh tả" và "chủ nghĩa dân túy cánh hữu", cho biết nhiều vấn đề có thể chồng chéo và không thể phân loại đơn giản.
          Một trong những nguyên nhân của xu hướng dân túy là thiếu sự gần gũi và một khoảng cách lớn giữa lợi ích và ngôn ngữ của một cộng đồng và các nhà cai trị hoặc những người có quyền lực trong xã hội.
          Chủ nghĩa dân túy liệu có xuất hiện ở Việt Nam khi mà trên thế giới nguy cơ của nó đang hiện hữu và có xu hướng mở rộng?
          Chúng ta phải hết sức cảnh giác với chủ nghĩa dân túy, khi đất nước đang chủ động hội nhập sâu, rộng và toàn diện vào đời sống quốc tế trong quá trình toàn cầu hóa, đòi hỏi “dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội” trong điều kiện “nhận thức về dân chủ trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân còn hạn chế”… “có lúc, có nơi, việc thực hiện dân chủ còn hạn chế hoặc mang tính hình thức; có tình trạng lợi dụng dân chủ gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ”. Mặt khác, phải thẳng thắn nhìn nhận những yếu tố có tính nguyên nhân như phân tích ở trên đều tồn tại ở những mức độ phức tạp khác nhau trong đời sống kinh tế, xã hội Việt Nam. Bên cạnh đó, “việc giải quyết một số vấn đề xã hội chưa hiệu quả… giảm nghèo chưa bền vững, chênh lệch giàu nghèo và bất bình đẳng có xu hướng gia tăng” là những điều kiện để các phát ngôn, hành động dân túy bộc phát.
          Sự mong muốn thực hành dân chủ trong một bộ phận nhân dân, khi điều kiện thông tin chưa thật sự đầy đủ để có thể phân biệt rõ giữa dân chủ và dân túy, có thể dẫn đến sự nhầm lẫn giữa dân chủ và dân túy. Trong khi đó những phần tử cơ hội chính trị lợi dụng tình hình phức tạp để mưu đồ cá nhân, phe nhóm, dẫn đến nguy cơ một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân hào hứng đón nhận các phát ngôn, hành động dân túy.
          Để có thể phòng ngừa chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam, điều quan trọng nhất là nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về những tác hại của chủ nghĩa dân túy, phải hạn chế tối đa “đất sống” của chủ nghĩa dân túy và cần lưu ý một số vấn đề sau:
          Nhận diện và cảnh giác với những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy trong đời sống chính trị Việt Nam. Có thể đánh giá, ở Việt Nam đã có những biểu hiện bước đầu của phát ngôn, lời nói, hành động mang tính dân túy.. Thực tế ấy đã được Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Đã xuất hiện những việc làm và phát ngôn vô nguyên tắc, trái với Cương lĩnh, đường lối, Điều lệ Đảng ở một số cán bộ, đảng viên”. Ở một khía cạnh khác, những cá nhân, những con người hành xử theo hướng dân túy như đã nói ở trên cũng đã thu được những kết quả, trở thành “nhân vật của truyền thông”, thậm chí đã từng đạt đến vị trí cao trong nấc thang quyền lực. Họ biết chọn thời điểm để tỏa sáng, thường là những lúc người dân trong xã hội phải đối mặt với những khó khăn trở ngại trong cuộc sống do suy thoái kinh tế, bất ổn an ninh;
          Các cơ quan công quyền từ trung ương đến địa phương phải hết sức có trách nhiệm tìm hiểu và hành động để giải quyết hiệu quả những vấn đề bức xúc, những nguyện vọng, lợi ích chính đáng và hợp pháp của nhân dân. Hành động của bộ máy cơ quan công quyền các cấp và của mọi cán bộ, công chức thực thi công vụ phải thực sự vì lợi ích chung, vì lợi ích chính đáng của nhân dân và dân tộc, để hành động theo đúng chỉ dạy của Bác Hồ: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm”; không chỉ và không thể chỉ vì lợi ích trước mắt, chỉ vì danh lợi cá nhân, chỉ vì tương hợp với “lợi ích nhóm” của mình, đi ngược lại lợi ích của Nhân dân, của dân tộc;
          Kiên định thực hiện một cách chủ động, linh hoạt và sáng tạo chiến lược đối ngoại trong hội nhập quốc tế, với nguyên tắc bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc theo phương châm “hội nhập là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh, chủ động dự báo, xử lý linh hoạt mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đối đầu, bất lợi”;
          Tăng cường xây dựng chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức mà trung tâm là đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đây là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa sống còn với Đảng và chế độ ta, là một trong sáu nhiệm vụ trọng tâm của cả nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng;
          Tuyên truyền rộng rãi cho Nhân dân thấy rõ những biểu hiện, nguy cơ và tác hại của chủ nghĩa dân túy. Trong nhiều trường hợp, người dân không thể phân biệt được đâu là người theo hay không theo chủ nghĩa dân túy, dễ nhầm lẫn giữa người vô nguyên tắc, vô chính phủ với người mạnh mẽ đổi mới.
          Đấu tranh ngăn ngừa và chống chủ nghĩa dân túy xâm nhập là một quá trình bền bỉ, dài lâu, gắn bó mật thiết với công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, là một phần rất quan trọng của đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng. Phải kiên trì làm công tác tư tưởng, đề cao sự phòng ngừa. Điều này đòi hỏi sự tất yếu và cấp bách phải tăng cường lãnh đạo chỉ đạo của các cấp ủy, sự vào cuộc của báo chí, truyền thông và sự tham gia tích cực của mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân.
                                                                                             TL

XỬ LÝ THÔNG TIN, CHỌN LỌC THÔNG TIN LÀ YÊU CẦU QUAN TRỌNG TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

     Nhu cầu tiếp nhận thông tin là chính đáng, song thông tin trên mạng xã hội hiện nay là vô cùng phong phú và phức tạp,
đòi hỏi mỗi người chúng ta cần chọn lọc thông tin như thế nào, để đảm bảo tính khách quan, trung thực. Hiện nay lợi dụng các kênh thông tin, nhất là thông tin trên internet, zalo, fecerbook, youtube..  các thế lực thù địch đăng lên những thông tin sai sự thật, bóp méo sự thật, lồng ghép, xuyên tạc, bôi nhọ, vu cáo, nhằm mục đích, động cơ cá nhân thấp hèn hoặc phục vụ cho mưu đồ phá hoại nền độc lập, tự do của dân tộc, đơn cử như Đài BBC tiếng việt, Đài VOA Tiếng Việt, Trang phản động facebook Việt Tân, Người Buôn gió, Cấn Thị Thêu, Phạm Thành, Công Lê Đình vvv.
       Trước những thông tin xấu độc như vậy, chúng ta cần phải bình tĩnh, cảnh giác trong xử lý thông tin, nếu không, rất có thể mắc bẫy, tiếp tay cho những thủ đoạn chống phá, kích động "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"trong nội bộ. Từ những "liều phóng" thông tin bịa đặt, chúng chủ ý khiến cho cán bộ, đảng viên và nhân dân mắc bẫy thông tin, từ đó suy luận, đồn đoán, ghi ngờ, suy giảm niềm tin và sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước. Cao hơn thế, từ thông tin, đơn thư bịa đặt có thể gây ra mâu thuẫn nội bộ.
       Cần phải có quan điểm vững vàng, kỹ năng tiếp nhận, xử lý thông tin một cách khoa học; kiên định, tỉnh táo, không chia sẻ, bình luận những loại hông tin xấu độc, xây dựng cho được "hệ miễn dịch" trước những thông tin xấu, độc.
        Cần chủ động trong đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi loại thông này, xây dựng lý luận sắc bén, triển khai thực hiện tốt Nghị quyết số 35 của Bộ Chính trị, hoàn thiện quy chế về kỷ luật phát ngôn, xủ lý nghiêm những cá nhân, nhóm người cấu kết với nhau, lợi dụng vaán đề "dân chủ", "nhân quyền", tôn giáo, dân tộc để tuyên truyền, xuyê tạc và có hành vi nói, viết, lưu trữ, tán phát tài liệu sai trái

Thứ Hai, 20 tháng 5, 2019


THỰC HÀNH NÊU GƯƠNG ĐỂ CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HOÁ”
TRONG NỘI BỘ VÀ PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI THÙ ĐỊCH

Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ và Quy định số 08-QĐi/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương (gọi tắt là Quy định số 08) đang từng bước đi vào cuộc sống.
Chúng ta đều biết, phẩm chất nêu gương của cán bộ, đảng viên không phải là sự hô hào chung chung mà được thể hiện thông qua suy nghĩ, việc làm cụ thể, có tác động đến tập thể, tổ chức đảng, cộng đồng và xã hội. Đứng trước những cám dỗ, tham gia vào các mối quan hệ xã hội, nhất là quan hệ kinh tế với doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, mỗi cán bộ, đảng viên phải có hành vi ứng xử đúng mực, đúng quy định. Bài học từ những vụ án kinh tế lớn bị đưa ra xét xử và những sai phạm của một bộ phận cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng ở một số địa phương trên cả nước vừa qua cho thấy, những nguyên nhân dẫn đến sai phạm đều có dấu hiệu đồng lõa, bao che, thiếu trách nhiệm nêu gương của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Những trường hợp địa phương bị doanh nghiệp thao túng, lấn chiếm, sử dụng đất công sai quy định, sản xuất kinh doanh trái pháp luật nhưng không bị xử lý hoặc xử lý không đến nơi đến chốn… đều xuất phát từ sự buông lỏng quản lý, bao che của một bộ phận cán bộ ở địa phương. Nhiều vụ việc sai phạm, khiếu kiện kéo dài ở cơ sở, khi cơ quan chức năng của Trung ương vào kiểm tra, xử lý, kết luận đã cho thấy rõ hơn vấn đề này. Nguyên nhân của thực trạng này đã được chỉ rõ trong Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII: “… Do bản thân những cán bộ, đảng viên đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước dân”.
Đi từ căn nguyên của vấn đề, chúng ta thấy tất cả đều bắt nguồn từ các mối quan hệ “với động cơ không trong sáng” giữa cán bộ, đảng viên với doanh nghiệp hoặc cá nhân, tổ chức có ý đồ làm trái. Bắt đầu là những lời mời, những món quà tặng kiểu “tình cảm”, tiếp đến là đút lót, hối lộ, là “lợi ích nhóm”… và con đường tất yếu sẽ dẫn đến suy thoái về đạo đức, lối sống. Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đã chỉ rõ biểu hiện của sự suy thoái này là: “Tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực...”. Trả lời phỏng vấn báo chí đầu năm mới, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng dẫn lời Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, đã nhấn mạnh về tính hiệu quả và thực chất của các chương trình hành động trong năm 2019, nhằm thực hiện thắng lợi phương châm “Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, bứt phá, hiệu quả” của Chính phủ. Rõ ràng, để hiện thực hóa các chủ trương, chính sách, quy định… của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, đòi hỏi phải có sự chuyển động thực chất từ cơ sở. Trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt ở các cấp, các ngành, các địa phương phải được đặt lên hàng đầu, nhằm tạo sự chuyển biến thực chất. Muốn vậy, hành động nêu gương phải đi vào thực chất, cụ thể, không nói chung chung, không làm qua loa, đại khái.
Những hiện tượng, cảm ơn, tặng quà, biếu xén...đây là cách tiếp cận để tạo dựng, củng cố các mối quan hệ “vì động cơ không trong sáng” nhằm “chạy” dự án hoặc tìm kiếm sự ưu tiên, ưu đãi khác trong quan hệ kinh tế. Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII trong mục “Cơ chế, chính sách” để thực hiện các nhóm giải pháp chống suy thoái phẩm chất đạo đức, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã quy định rất cụ thể đối với cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng: “Khắc phục ngay tình trạng ăn uống, chè chén, "liên hoan", "gặp mặt" không lành mạnh, với động cơ không trong sáng…”. Điều 3 của Quy định số 08 cũng đã quy định rất cụ thể những biểu hiện cần phải kiên quyết chống, đó là: “Tham nhũng, hối lộ dưới mọi hình thức; tặng quà, nhận quà vì vụ lợi… Lợi dụng doanh nghiệp hoặc để doanh nghiệp lợi dụng nhằm vụ lợi. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín để sử dụng, vay, mượn tiền, tài sản, phương tiện của tổ chức, cá nhân trái quy định. Để vợ (chồng), bố, mẹ, con, anh chị em ruột lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín của mình để vụ lợi…”.
Từ Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đến Quy định số 08 cho thấy, Đảng ta đã “bắt đúng bệnh”, “kê đúng thuốc” đối với những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trong giải quyết các mối quan hệ về kinh tế và liên quan đến kinh tế theo chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Tính nêu gương của cán bộ, đảng viên không còn là giáo dục, vận động, mà là yêu cầu bắt buộc. Chỉ có như vậy mới ngăn chặn, phòng ngừa suy thoái có hiệu quả. Để có sự nêu gương thực chất, đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải luôn trau dồi văn hóa ứng xử. Trong các mối quan hệ xã hội, những mối quan hệ về kinh tế và liên quan đến lợi ích kinh tế là quan hệ nhạy cảm nhất, dễ bị lợi dụng và dễ sa ngã nhất. Ranh giới giữa mối quan hệ “tình cảm” với “động cơ không trong sáng” là rất mong manh. Trách nhiệm và bổn phận nêu gương của cán bộ, đảng viên là phải có tâm và dũng khí để xác định, phân biệt được lằn ranh mong manh ấy. Trong thực tiễn cuộc sống, nó đòi hỏi mỗi cá nhân chúng ta phải có hành vi ứng xử theo những chuẩn mực văn hóa của cán bộ, đảng viên trên cơ sở nhận thức và quán triệt sâu sắc những nội dung trong các nghị quyết, quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước.

Kỷ niệm 129 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2019): Hồ Chí Minh - Sáng mãi tên Người!

 Chủ tịch Hồ Chí Minh (tên lúc nhỏ là Nguyễn Sinh Cung, tên khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc) sinh ngày 19/5/1890 tại làng Hoàng Trù (còn gọi là Làng Chùa), xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Thân phụ của Người là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân mẫu là cụ Hoàng Thị Loan. Với tố chất đặc biệt, lại được sinh ra và lớn lên trong một gia đình hiếu học ở một vùng quê giàu truyền thống văn hóa, Nguyễn Tất Thành đã sớm tiếp thu những giá trị tinh hoa tiêu biểu của quê hương xứ Nghệ, đặc biệt là tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất.
Đau đáu trong tim khát vọng giành tự do cho đồng bào, độc lập cho Tổ quốc, ngày 5/6/1911, dưới cái tên Văn Ba, Người lên tàu Amiran Latouche-Tréville, rời bến cảng Nhà Rồng (thành phố Hồ Chí Minh ngày nay) để tới nước Pháp, khởi đầu hành trình vĩ đại tìm đường cứu nước. Bôn ba khắp năm châu, bốn biển, trải qua nhiều gian khổ, hiểm nguy, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Ánh sáng tư tưởng ấy đã giúp Người tỏ rõ nguồn gốc những khổ đau của nhân dân lao động là ở sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản đế quốc; thấu suốt những vấn đề cơ bản của đường lối giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Là con người của hành động, nói đi đôi với làm, lý luận đi liền với thực hành lý luận, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã bắt tay ngay vào thực hiện mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập vào năm 1930 là kết quả tất yếu. Với Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, đường lối cách mạng Việt Nam và con đường cứu nước của dân tộc ta đã được vạch ra cụ thể. Sự đúng đắn ngay từ đầu của tư tưởng, đường lối cách mạng Việt Nam do Bác xây dựng đã được thực tiễn chứng minh; tiếp tục được bổ sung, phát triển và hoàn thiện trở thành ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam.
Tiếp nhận những bài học sâu sắc từ V.I.Lênin, từ thành công của Cách mạng tháng Mười Nga, phong trào công nhân, phong trào cộng sản quốc tế, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng nước ta vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được những thắng lợi vĩ đại. Đó là thắng lợi cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, nhà nước do nhân dân làm chủ đầu tiên trong lịch sử dân tộc, nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam châu Á. Đó là cuộc kháng chiến chống Pháp với trận Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”; cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước với Đại thắng mùa Xuân lịch sử năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Những thắng lợi vĩ đại mang ý nghĩa bước ngoặt này là tiền đề quan trọng để đất nước tiến hành thành công công cuộc đổi mới, không ngừng phát triển và mở cửa, hội nhập quốc tế hiện nay.
79 mùa xuân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gắn bó và hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng ta và dân tộc ta. Cho đến hơi thở cuối cùng, Người đã đem hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Công lao trời biển của Người không chỉ in đậm trong những trang sử hào hùng của dân tộc, mà còn được ghi tạc trong lòng nhân dân và bạn bè tiến bộ quốc tế.
2. Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi về thế giới người hiền đến nay đã nửa thế kỷ (1969-2019). Nhưng Người vẫn sống mãi cùng non sông, đất nước và nhân dân Việt Nam, hiển hiện trong những di sản vô giá Bác để lại cho chúng ta: Tư tưởng Hồ Chí Minh, Thời đại Hồ Chí Minh và Những giá trị cao đẹp về đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh; trong đó, những giá trị cao đẹp về đạo đức cách mạng của Bác là minh chứng sống động nhất.
Đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh là kết tinh cao độ của truyền thống yêu nước nồng nàn, những giá trị tinh hoa của văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại; cộng hưởng cùng tấm lòng yêu nước thương dân vô bờ bến, sự thấu cảm sâu sắc với những số phận bất hạnh, cùng khát khao mãnh liệt vươn tới cuộc sống mới dân chủ, độc lập, tự do và hạnh phúc.
Theo Bác, đạo đức cách mạng là nhằm giải phóng và đem lại hạnh phúc, tự do cho con người; đó là đạo đức của những con người được giải phóng. Vì vậy, tu dưỡng đạo đức phải gắn liền với hoạt động thực tiễn, trên tinh thần tự giác, tự nguyện dựa vào lương tâm và trách nhiệm của mỗi người. Khi thấm sâu được ý nghĩa đó thì quá trình tu dưỡng bản thân sẽ trở nên hết sức nhẹ nhõm và là một hành trình đầy “vẻ vang, sung sướng” như Người đã viết: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong. Có gì sung sướng, vẻ vang hơn là trau dồi đạo đức cách mạng để góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và giải phóng loài người”.
Từ khi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin (năm 1920), Nguyễn Ái Quốc đã có sự chuẩn bị tích cực để hình thành nền tảng tư tưởng vững chắc cho việc thành lập một đảng cách mạng tiên tiến ở Việt Nam về sau. Người đã thành lập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên vào tháng 6-1925 ở Quảng Châu (Trung Quốc) và trực tiếp đứng lớp để truyền bá chủ nghĩa cộng sản tới các thanh niên Việt Nam có tư tưởng tiến bộ. Các bài giảng sau đó được tập hợp lại trong cuốn sách Đường kách mệnh (xuất bản năm 1927). Tại đây, lần đầu tiên vấn đề đạo đức cách mạng được Người đúc kết một cách toàn diện song cũng rất cụ thể qua những tiêu chí dành cho một người cách mạng đối với mình, đối với người và trước công việc. Trong đó, có những tiêu chí tư cách đạo đức cách mạng mang giá trị tư tưởng sâu sắc:
Kể từ đây, lịch sử xây dựng Đảng cũng như lịch sử cách mạng Việt Nam mãi mãi tự hào với những tấm gương của các chiến sĩ cộng sản trọn lòng với Đảng nêu cao khí phách trước kẻ thù, thể hiện sức sống mãnh liệt của đạo đức cách mạng qua các cao trào cách mạng Xô viết Nghệ Tĩnh (1930-1931), cách mạng dân chủ nhân dân (1936-1939) và đỉnh cao là Tổng khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng ta trở thành đảng cầm quyền. Lúc này, đạo đức cách mạng trở thành vấn đề cấp thiết hơn bao giờ hết. Bởi theo Hồ Chí Minh, trong điều kiện đảng cầm quyền, nhiều thói hư tật xấu dễ nảy sinh, rõ nhất là căn bệnh chủ nghĩa cá nhân và các biểu hiện của nó như: Quan liêu, mệnh lệnh, tham ô, lãng phí, thiếu tinh thần trách nhiệm, kèn cựa, địa vị... Những thói hư, tật xấu do sự suy thoái đạo đức sẽ đi cùng với sự suy thoái về tư tưởng chính trị và trầm trọng hơn sẽ dẫn đến phản bội lại mục tiêu, lý tưởng đã lựa chọn, phản bội lại đồng chí, đồng bào. Tư tưởng Hồ Chí Minh xây dựng Đảng lúc này hướng nhiều về hai phương diện là chú trọng nâng cao đạo đức của tổ chức đảng và đạo đức của mỗi người cán bộ, đảng viên.
Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (tháng 10/1947), Người nêu lên 12 tiêu chuẩn để xác định tư cách của một đảng chân chính, cách mạng, trong đó, tiêu chí đầu tiên là: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”... Sau nhiều thập kỷ lãnh đạo đất nước, gắn với công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng được triển khai mạnh mẽ hiện nay cho thấy, vấn đề chăm lo xây dựng Đảng về đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh có một tầm nhìn vượt thời gian.
Không chỉ để lại hệ giá trị lý luận mang tầm thời đại, Bác Hồ - Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là tấm gương sáng về thực hành lý luận đạo đức cách mạng. Ở Người, tư tưởng, tầm nhìn và hành động luôn có sự nhất quán, tạo nên sức thuyết phục, lan tỏa, cảm hóa vô cùng to lớn. Dù bận vô vàn công việc đối nội, đối ngoại, nhưng về với dân, đến với quần chúng, để học dân, hỏi dân, hiểu dân, nghe dân nói, thấy dân làm, để nắm vững dân tình, dân tâm, dân ý là nhu cầu thường trực của Bác. Bác ra thao trường cùng bộ đội, “chống gậy lên non xem trận địa”, đến nhà máy, công trường, hầm mỏ, nông trường, hợp tác xã, trường học, bệnh viện. Người đến nhà giữ trẻ, lớp mẫu giáo, ra đồng ruộng, thăm nhà ở công nhân, cán bộ bình thường... Chỉ tính 15 năm cuối đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi thực tế địa phương và cơ sở 923 lần. Mỗi lần về cơ sở với Người không đơn thuần chỉ là tác phong quần chúng, mà chứa đựng trong đó phong cách phát huy dân chủ, mong muốn hiểu được tiếng nói nhân dân, hiểu được nhịp đập của cuộc sống đời thường. Phong cách ấy làm cho lãnh tụ và quần chúng gần gũi, đồng cảm sâu sắc.
Chính tấm gương đạo đức, việc làm cụ thể của Người đã tạo ra sức mạnh sống động cho những lý luận về đạo đức cách mạng, lan tỏa, cảm hóa từ những người đồng chí sống và làm việc cùng Bác đến đồng chí, đồng bào cả nước từ thế hệ này sang thế hệ khác. Những năm gần đây, khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang ra sức học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, khắp cả nước đã có hàng vạn tấm gương điển hình tiên tiến, người tốt, việc tốt lan tỏa trong đời sống, được xã hội tôn vinh.
Kỷ niệm 129 năm Ngày sinh Bác Hồ là dịp để chúng ta thêm một lần tự hào về Bác. Với tất cả niềm tin yêu và lòng biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta nguyện đoàn kết một lòng, xây dựng Thủ đô Hà Nội, nước Việt Nam phồn vinh, hùng cường, đất nước của thời đại Hồ Chí Minh.

Đấu tranh với chủ trang Facebook “Đầm bầu thời trang Mami”


Nguyễn Thị Minh Nghĩa chủ trang Facebook trên đăng tải các bài viết cho rằng Dịch tả lợn Châu phi có thể lây sang người và kêu gọi mọi người ngừng ăn thịt lợn, làm người dân hoang mang, lo sợ.
Nguyễn Thị Minh Nghĩa đã nhận thức sai về Dịch tả lợn Châu phi. Thật ra vi rút Dịch tả lợn Châu phi (ASF) đã được Bộ NNPTNT Việt Nam nhận diện và đưa ra văn bản khẳng định Dịch tả lợn Châu phi không hề lây từ lợn sang người mà chỉ lây lan trong lợn.
Cũng theo Tổ chức Lương Nông Liên Hợp Quốc vi rút Dịch tả lợn Châu phi (ASF) không ảnh hưởng đến người. Cách duy nhất để ngăn chặn dịch bệnh này là tiêu hủy lợn bệnh, không để phát tán lây lan.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã phát biểu trên truyền hình: Chúng ta cần phải chiến đấu chống vi rút Dịch tả lợn Châu phi “như một kẻ thù”; điều đó đã thể hiện quyết tâm chống Dịch tả lợn Châu phi của Đảng và nhà nước ta. Hưởng ứng chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, chính quyền địa phương các tỉnh thành, từ thành thị đến nông thôn trong những ngày qua đã tích cực tuyên truyền nâng cao nhận thức cho bà con nhân dân về Dịch tả lợn Châu phi, từ đó có biện pháp tích cực ngăn chặn dịch, không để dịch bùng phát. Truyền thông đã khuyến cáo bà con chăn nuôi: Thường xuyên giữ vệ sinh chuồng trại, không sử dụng thức ăn dư thừa chưa qua nấu chính cho lợn ăn; khi phát hiện lợn ốm, chết bất thường thì khẩn trương báo ngay cho cơ quan thú y và chính quyền địa phương để có biện pháp xử lý kịp thời.
Trong cuộc chiến chống vi rút Dịch tả lợn Châu phi cần phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị, song cần chỉ rõ vai trò chủ công hàng đầu đó là cơ quan thú y, là người đứng đầu chính quyền các địa phương. Việt Nam đã có nhiều kinh nghiệm thành công trong phòng chống các dịch bệnh nguy hiểm trước đây. Chúng ta tin tưởng rằng với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự chỉ đạo quyết liệt từ Trung ương đến địa phương, chắc chắn một ngày không xa chúng ta sẽ hoàn toàn khống chế thành công Dịch tả lợn Châu phi./.

THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ HƠN NỮA NGHỊ QUYẾT TW4 KHÓA XII

Qua hơn hai năm thực hiện Nghị quyết TW4 khóa XII về Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, chúng ta đã đạt dược những kết quả quan trọng, đáng khích lệ.