Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2020

Tha hóa quyền lực dẫn đến sụp đổ chế độ

 

Việc kiểm soát quyền lực trước tiên là để bảo đảm cho quyền lực luôn thuộc về đúng chủ nhân của nó, tức là thuộc về nhân dân, được sử dụng đúng mục đích, không bị lợi dụng, lạm quyền. Khi quyền lực bị lạm dụng thì tất yếu sẽ tha hóa bộ máy cầm quyền, và cũng là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến tha hóa đạo đức xã hội.

Sự tha hóa quyền lực tất yếu sẽ dẫn đến sụp đổ chế độ chính trị. Nếu sự tha hóa ấy không dừng lại và lành mạnh hóa thì sụp đổ là không thể khác, chỉ còn là vấn đề thời gian. Sự sụp đổ ấy chính là tự đổ, không phải do ai phá và cũng không ai cản nổi.

Có những suy nghĩ rất ấu trĩ sai lầm khi cho rằng nắm cho chắc lực lượng vũ trang là có thể đẩy lùi sự sụp đổ. Không đâu! Liên Xô ngày trước cả quân đội và lực lượng an ninh KGB còn rất mạnh, bậc nhất thế giới, vậy mà đến một lúc, khi sự tha hóa đã đến ngưỡng, thì cả một chế độ được cho là thành trì ấy bỗng chốc đổ ào, đến mức không tưởng tượng được, không hiểu nổi.

Nhiều người đã giải thích rằng do địch phá bằng “diễn biến hòa bình”… Không phải như thế đâu! Đấy là cách giải thích miễn cưỡng, không có cơ sở khoa học, tự trấn an mình. Địch thì lúc nào mà chả phá ta? Do phá ta nên nó mới là địch. Địch mà không phá ta mới là chuyện lạ.

Phá là việc của địch, còn ngã đổ là chuyện của ta. Nếu cử đổ lỗi cho địch thì rồi chẳng biết cách nào mà sửa. Địch phá Liên Xô ư? Phá sao bằng thời kỳ trước đó, khi 14 nước đế quốc tập trung bao vây nhà nước nhân dân còn non trẻ, rồi nội chiến, rồi chủ nghĩa phát-xít đã tập trung cao độ lực lượng với nửa nghìn sư đoàn thiện chiến trong đại chiến thế giới lần thứ 2 để tiêu diệt Liên Xô, nhưng không tiêu diệt được.

Ngược lại, Liên Xô đã lớn mạnh thành một cường quốc hàng đầu thế giới. Sao bây giờ địch giỏi vậy, tài tình vậy, chẳng tốn một viên đạn mà Liên Xô vẫn đổ ào không cứu vãn được, cứ như một cơn đột quỵ dữ dội và bất ngờ. Địch mà giỏi như vậy thì thật đáng kính phục?

Những nhà tuyên truyền “ngây thơ” đã vô tình tâng bốc địch, vậy mà cứ tưởng thế mới là có lập trường địch – ta. Bản chất của vấn đề Liên Xô đổ là tự đổ, do tha hóa quyền lực mà đổ, do không thể tự đứng được nữa mà đổ, do thối nát mà đổ, chứ chẳng phải ai xô ngã được./.

Nhận diện những mặt tiêu cực của quyền lực

 

Quyền lực như “con ngựa” bất kham, người không đủ nhân cách mà giao cho họ cầm cương thì nó sẽ tung phá, gây đổ ngã và làm chết cả người ngồi trên yên ngựa. Quyền lực là “con dao” hai lưỡi, có thể phục vụ cho đời và cũng có thể làm hại đất nước nếu rơi vào tay những kẻ bất tài, tham lam.

Quyền lực vốn là của cộng đồng nhân dân, khởi đầu là thế, và mãi mãi cũng là thế, không phải của thần linh, không phải của bất kỳ cá nhân ai, của một gia đình trị hoặc một tộc họ nào; cũng không phải của bất kỳ một tổ chức nào khác.

Từ lâu Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức được và đã nhiều lần khẳng định trong các Nghị quyết rằng quyền lực thuộc về nhân dân. Nhân dân không trực tiếp nắm giữ tất cả, mà chỉ nắm giữ một số vấn đề then chốt (sẽ nói sau), còn lại là ủy quyền cho nhà nước quản lý và sử dụng quyền lực để bảo vệ và phục vụ nhân dân, kiến tạo một quốc gia phát triển.

Tuy nhiên, trong lịch sử, đã từng có không ít trường hợp những người (hoặc nhóm người) bằng các thủ đoạn chính trị đã cướp đoạt quyền lực của nhân dân, biến nhân dân thành đối tượng bị cai trị. Nhân dân sau khi ủy quyền thì mất quyền, còn người được ủy quyền thì dần dần bị quyền lực làm tha hóa. Họ sử dụng quyền lực không phải để bảo vệ và phục vụ nhân dân như mục đích ban đầu, mà để phục vụ lợi ích của cá nhân, gia đình, dòng họ, cho một nhóm người, họ quay lại ức hiếp nhân dân, biến nhân dân từ chủ nhân của quyền lực thành đối tượng bị chèn ép, bị ức hiếp, bị tước đoạt.

Ở bất kỳ đâu và bất kỳ lúc nào, quyền lực cũng luôn có hai mặt. Mặt tích cực, nó là công cụ hữu hiệu bậc nhất để tập hợp lực lượng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng một xã hội tốt đẹp, nếu như quyền lực ấy được trao cho những con người có nhân cách tốt.

Mặt tiêu cực, nó luôn làm tha hóa những con người và bộ máy sử dụng quyền lực nhưng lại yếu kém về nhân cách và không có cơ chế tốt để kiểm soát quyền lực. Sự tha hóa như vậy có từ trong bản chất tự nhiên của con người và quyền lực. Có những người lúc đầu (khi chưa có quyền lực) thì tốt, nhưng sau đó, khi đã có quyền lực trong tay thì dần dần trở nên hư hỏng, thành người xấu; thậm chí đến mức có thể phản bội nhân dân, bán rẻ Tổ quốc vì ngai vàng của cá nhân.

Cá biệt có những người thay đổi bản chất rất nhanh, chỉ sau một lần bỏ phiếu, họ gần như trở thành một người khác hẳn, từ dáng đi, cách nói, cách bắt tay. Họ khệnh khạng hơn, có vẻ “oai vệ” hơn, “bề trên” hơn. Khi người ta đến được đỉnh cao của “chiến thắng” trong quyền lực thì đấy là lúc người ta bắt đầu thua, mà trước tiên là thua chính mình.

Trên đỉnh cao của quyền lực ít ai nhìn thấy tai họa ẩn chứa vốn có từ bên trong quyền lực ấy, nếu không phải là người lãnh đạo có nhân cách lớn, minh triết uyên thâm, có khả năng vượt qua chính mình và ma lực cám dỗ của quyền lực, để tịnh tâm nhìn xa trông rộng. Khi đã có trong tay tất cả thì đấy cũng là lúc tự mình bắt đầu đánh mất dần./.

Phản bác lại bài đăng của Tổng lãnh sự quán Mỹ tại TP Hồ Chí Minh

 

Ngay giữa Quốc tang nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu, trang facebook chính thức của Tổng lãnh sự quán Mỹ không những không gửi lời chia buồn mà còn công khai đăng một bản 'quan ngại sâu sắc' về việc Nhà nước Việt Nam phạt tù những kẻ chống đối, âm mưu lật đổ chính quyền và gọi đó là hành vi xâm phạm quyền tự do?!

Theo phong tục của người Việt, nhà có việc tang mọi chuyện khác tạm gác, huống chi đây là Quốc tang. Phiền ngài Tổng lãnh sự nhìn lại về nước Mỹ, quyền được thở là quyền vốn dĩ của con người, thế nhưng George Floyd lại bị 4 viên cảnh sát tước đoạt và hình phạt dành cho những kẻ giết người lại quá nhẹ! Quyền được sống cũng là quyền cơ bản của con người, ấy thế mà chính quyền Mỹ lại "mặc nhiên" để cho hơn 2 triệu người Mỹ nhiễm covid-19, hơn 100 nghìn người tử vong, hàng năm ở Mỹ có hàng trăm vụ xả súng giết người... vậy thì Mỹ - Tổng lãnh sự quán Mỹ lấy tư cách gì dạy người Việt Nam về "nhân quyền"./.

KHÔNG CHỦ QUAN, HÃY ĐOÀN KẾT

Bệnh nhân 912 xác định có kết quả dương tính với Covid 19 ngày hôm nay là 1 trong 7 người nhập cảnh trái phép vào Việt Nam từ biên giới phía Bắc ngày 27/7. Nếu không bắt được có lẽ lại là nguồn lây cho nhiều người dân Việt Nam. Hành động của những người giúp hành vi nhập cảnh trái phép cũng không khác gì hành vi làm lây lan dịch bệnh. Dịch bệnh tràn lan sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nhiều vấn đề, nhất là kinh tế xã hội.
Những người vi phạm đã bị xử lý, mong tất cả mọi người dân Việt Nam hãy nêu cao tinh thần dân tộc, cảnh giác phát hiện các trường hợp nhập cảnh trái phép. Không đưa người nhập cảnh trái phép. Cùng nhau đẩy lui Covid.

  • Hải Đăng

QUỐC CÓ QUỐC PHÁP

Hay tin 65 nghị viên đương nhiệm và 28 cựu nghị viên 28 quốc gia châu Á ký thư ngỏ gửi bác Phúc thủ tướng yêu cầu trả tự do ngay lập tức cho Nguyễn Bắc Truyển mà cười ẻ!
Các anh nghĩ Truyển là ai và Việt Nam là quốc gia thế nào?
Truyển là thành viên dạng chủ mưu, cầm đầu nhóm chống phá Hội anh em dân chủ, thuộc loại đặc biệt nguy hiểm cho xã hội nhé.
Việt Nam là quốc gia pháp trị, quốc có quốc pháp, gia có gia quy, chống phá, vi phạm pháp luật thì phải bị xử lý theo pháp luật, không có chuyện lẫn lộn giữa tội phạm và công dân chấp hành pháp luật đâu.
Việt Nam cũng k phải quốc gia mà các ông nghị ép là ép được đâu nhé.
Hãy để cho những đứa con hoang tàn, ngỗ ngược của nước Việt chuyên tâm cải tạo và làm lại cuộc đời đi, các ông nghị đang làm hư nó đấy.
Thương cho roi cho vọt chứ!

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh – một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

 

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo chính trị, quân sự tiêu biểu của Đảng, dân tộc và Quân đội. Trải qua nhiều cương vị, trong những bước ngoặt của cách mạng, Đồng chí không chỉ tỏ rõ tài năng của một nhà hoạt động chính trị kiệt xuất, mà còn là nhà chỉ huy quân sự mưu lược, tài trí, có tư duy quân sự sắc sảo, sáng tạo, góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Năm 1950, trước yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được điều vào Quân đội làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Phó Bí thư Tổng Quân ủy. Kể từ đây tài năng quân sự của Đồng chí được phát huy, đơm hoa, kết trái. Đồng chí đã cùng với Tổng Quân ủy, Bộ Tổng chỉ huy tập trung xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị; phát triển nghệ thuật quân sự, tạo nền tảng nâng cao sức mạnh chiến đấu của bộ đội,… góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc.

Đặc biệt, năm 1964, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn quyết liệt, với cương vị Bí thư Trung ương Cục miền Nam, Chính ủy các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam, Đồng chí đã luôn nghiên cứu nắm vững lý luận, bám sát thực tiễn, đem hết sức lực, trí tuệ cống hiến cho Đảng, cho Tổ quốc và nhân dân, nhất là những tư duy khoa học về đánh giá kẻ thù; xác định cách đánh Mỹ và thắng Mỹ,… đã tạo dấu ấn sâu sắc cho cách mạng miền Nam, góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Nổi bật ở một số nội dung chủ yếu sau:

Một là, xây dựng “quả đấm chủ lực mạnh” làm nòng cốt đánh đòn quyết định, giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trước yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được Bộ Chính trị cử vào chiến trường làm Chính ủy Miền.

Với kinh nghiệm tích lũy được từ trong cuộc kháng chiến chống Pháp và xây dựng phong trào cách mạng, từ phân tích tình hình cách mạng miền Nam, nhất là giai đoạn cuối của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” (1961-1965), Đồng chí cho rằng, nếu ta phát triển chiến tranh du kích dù đến đỉnh cao, nhưng chỉ đánh nhỏ thì không thể giành thắng lợi hoàn toàn được, trong khi đó “đối phương rất sợ khi thấy chủ lực ta xuất hiện”. Vì thế, Đại tướng xác định phải có “quả đấm chủ lực mạnh” mới có thể đánh những đòn quyết định giành thắng lợi.

Đại tướng viết: “Bây giờ du kích cũng quan trọng, bộ đội địa phương cũng quan trọng. Nhưng quan trọng hơn là phải có chủ lực mạnh đủ sức tiêu diệt từng tiểu đoàn, trung đoàn chủ lực của địch”.

Vì vậy, trong khi tiếp tục đẩy mạnh phương châm đấu tranh “hai chân”, “ba mũi”, “ba vùng”, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh quan tâm xây dựng những “quả đấm chủ lực mạnh” của Quân giải phóng miền Nam, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc.

Với chủ trương và quyết tâm đó, sau thắng lợi của các chiến dịch: Bình Giã (02-12-1964 – 07-3-1965), Ba Gia (28-5 – 20-7-1965), Đồng Xoài (10-5 – 22-7-1965), Sư đoàn 9 quân chủ lực Miền (B2) và Sư đoàn 3 (Quân khu 5) cùng nhiều đơn vị khác được thành lập, tạo cơ sở để xây dựng, phát triển thành các quân đoàn chủ lực ở giai đoạn quyết định của cuộc chiến tranh, góp phần “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước và làm nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc sau này.

Như vậy, quan điểm xây dựng “quả đấm chủ lực mạnh” trên chiến trường miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh thể hiện tầm nhìn chiến lược, sự sáng tạo trong tư duy quân sự, góp phần phát triển nghệ thuật tác chiến, kết hợp chặt chẽ phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực. Đây là đóng góp lớn của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh vào nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Hai là, đánh giá đúng mạnh, yếu của địch, làm cơ sở phát huy tư tưởng chiến lược cách mạng tiến công trong cuộc đụng đầu với quân Mỹ. Sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” (1961-1965), Đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh vào miền Nam Việt Nam, kết hợp tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ra miền Bắc hòng bóp nghẹt cách mạng miền Nam và giành thắng lợi trong vòng 18 tháng.

Vấn đề đặt ra lúc này là, ta có dám đánh Mỹ không và làm thế nào để đánh thắng Mỹ trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ”.

Trong khi đó, không chỉ trong nước, mà một số nước xã hội chủ nghĩa cũng xuất hiện tâm lý sợ Mỹ, bày tỏ lo ngại Việt Nam không thể thắng Mỹ, chiến tranh Việt Nam sẽ phát triển thành chiến tranh thế giới, v.v. Phân tích tình hình, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cho rằng: “Việc Mỹ ồ ạt đưa vào miền Nam gần 20 vạn quân viễn chinh trong năm 1965 có nghĩa là Mỹ đã phải thú nhận là 50 vạn quân ngụy không còn có thể đương đầu nổi với cuộc chiến tranh nhân dân, như thế cũng có nghĩa là chiến tranh nhân dân ở miền Nam nước ta đã thắng “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ trong một giai đoạn mà chúng lấy quân ngụy làm chỗ dựa chủ yếu”.

Về quân đội Mỹ, trên cơ sở phân tích những điểm mạnh, điểm yếu và cả những mâu thuẫn chiến lược của chúng, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã rút ra những kết luận rất quan trọng. Đó là, Quân đội Mỹ vào miền Nam là ở trong thế hoàn toàn bị động về chiến lược; Mỹ đông nhưng không mạnh (vì trước đó, báo chí phương Tây tuyên truyền bộ binh Mỹ được xếp là mạnh nhất thế giới) và điểm yếu chí mạng của chúng là tinh thần kém, tuy được trang bị vũ khí mạnh, có nhiều phương tiện,… nhưng sẽ khó phát huy ở địa hình chiến trường miền Nam, như “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia”. Hơn thế nữa, sự chỉ huy của Mỹ đang vướng một loạt vấn đề không dễ giải quyết.

Đại tướng viết: “Vừa qua quân Mỹ đã mở một số trận phản công với kế hoạch khá công phu, nhưng thật ra không có một trận nào thắng lợi, chỉ có khó khăn và thất bại, thực tế chứng tỏ không những về chính trị và chiến lược, mà cả về chiến thuật, Mỹ cũng đang khủng hoảng”.

Từ những phân tích, đánh giá trên, Đồng chí đã rút ra kết luận: Mỹ giàu nhưng không mạnh và dân tộc ta có đủ sức lực, trí tuệ để đánh bại đế quốc Mỹ xâm lược. Đây là kết quả của tư duy khoa học, biện chứng của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh; tư duy đó đã trả lời cho câu hỏi lớn, có dám đánh mỹ không và đánh Mỹ bằng cách nào? Đặc biệt, nó đã khắc phục tư tưởng ngại Mỹ, sợ Mỹ, kịp thời động viên, khích lệ tinh thần chiến đấu của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong cuộc đụng đầu lịch sử với kẻ thù.

Đồng thời, đó còn là cơ sở quan trọng để Đảng ta xây dựng Nghị quyết Trung ương 11, 12, 13 (khóa III), xác định quyết tâm, đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Thực tế chứng minh, tư duy quân sự sáng tạo của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã thổi một luồng gió mới vào phong trào cách mạng miền Nam; thúc đẩy quân và dân ta anh dũng tiến lên, đánh thắng từng trận, từng chiến lược của Mỹ, buộc chúng phải ký Hiệp định Pa-ri, rút quân về nước.

Ba là, luôn chủ động đề xuất, chỉ đạo phương châm, cách đánh độc đáo, sáng tạo. Là người cán bộ có phong cách lãnh đạo, chỉ huy sâu sát, cụ thể, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh luôn lấy thực tiễn chiến đấu của bộ đội và nhân dân làm cơ sở nghiên cứu, đề ra phương châm, cách đánh phù hợp để chỉ đạo hoạt động tác chiến của quân và dân trên chiến trường.

Trong kháng chiến chống Pháp, mặc dù là cán bộ chủ trì công tác đảng, công tác chính trị toàn quân, nhưng Đồng chí luôn tìm tòi, nghiên cứu và có nhiều chỉ dẫn cho cán bộ, chiến sĩ về chiến thuật, cách đánh, lựa chọn mục tiêu hết sức độc đáo, sáng tạo, như: “khi có tàu bay, quân nhảy dù tiến công vào trận địa của mình, phải chú trọng quân địch dưới đất. Vì chỉ tàu bay trên trời, không giải quyết được sự thắng lợi”; “Với tàu bay đề ra cho bộ đội biết là đã có bảo đảm.

Đội dự bị ở đằng sau trận địa phải b.ắ.n lại phi cơ. Ở phía trước bộ đội phải tiến sát địch để tránh b.o.m đ.ạ.n tàu bay địch…”, v.v. Đây là tư duy quân sự rất quan trọng, mở đường cho phương pháp tác chiến hợp đồng binh chủng sau này.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, từ thực tiễn những trận dám đánh Mỹ và thắng Mỹ ở Núi Thành (Quảng Nam tháng 5-1965), Vạn Tường (Quảng Ngãi tháng 8-1965), tiếp đến là các trận Bầu Bàng, Ia Đrăng,… Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã đề xuất những tư tưởng mới: “Bắt Mỹ phải đánh theo cách đánh của ta”, “nắm thắt lưng Mỹ mà đánh”, “tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”, v.v.

Những tư tưởng đó, được quân và dân ta vận dụng sáng tạo, giành thắng lợi, hình thành những “vành đai diệt Mỹ” trên khắp các chiến trường, thậm chí ở ngay cửa ngõ Sài Gòn và các thành phố lớn, tạo cơ sở để quân và dân miền Nam giành thắng lợi lớn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Có thể khẳng định, những nội dung sáng tạo trong tư duy quân sự của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh thể hiện rõ phương pháp đánh giá, nhận định tình hình khoa học và biện chứng, tư duy của nhà lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh xuất sắc, thấm nhuần và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng về chiến tranh và quân đội; luôn gắn lý luận với thực tiễn, bám sát thực tiễn để tổng kết, đúc rút thành lý luận.

Những tư tưởng đó, đến nay vẫn còn nguyên giá trị, cần được vận dụng vào thực tiễn xây dựng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của Quân đội nhân dân trong tình hình mới./.

 

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2020

Phản bác lại những luận điệu xuyên tạc của đài VOA

Vừa qua, trên trang mạng VOA đã đăng tải bài viết “Nguyễn Đức Chung bị ngưng chức vì đấu đá nội bộ”. Trong đó, bài viết cho rằng: “Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung bị tạm đình chỉ công tác nhiều khả năng là đấu đá phe phái trong bối cảnh Đảng Cộng sản Việt Nam đang cấp tập chuẩn bị cho đại hội ở các cấp, các địa phương, sở, ban, ngành và chuẩn bị nhân sự để tham gia vào Ban chấp hành Trung ương khóa 13 trong Đại hội toàn quốc dự kiến diễn ra vào năm 2021”. Đây là nhận định chủ quan, duy ý chí, cho thấy cái nhìn phiến diện, bản chất phản động của đài VOA về công cuộc đấu tranh chống tiêu cực của Đảng, Nhà nước.

Theo đó, ông Nguyễn Đức Chung - Chủ tịch UBND TP Hà Nội bị tạm đình chỉ công tác để xác minh, điều tra làm rõ trách nhiệm có liên quan đến 03 vụ án: Vụ án “Buôn lậu”, “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng”, “Rửa tiền”, “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ Kỹ thuật Nhật Cường, Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội và một số đơn vị liên quan; Vụ án “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” xảy ra tại thành phố Hà Nội và vụ án “Chiếm đoạt tài liệu bí mật nhà nước” mà Cơ quan An ninh điều tra, Bộ Công an đã khởi tố vụ án. Trước đó, ngày 14/5/2019, Cơ quan CSĐT - Bộ Công an đã khởi tố vụ án số 27/C03-P14 về tội “Buôn lậu” và “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Kỹ thuật Nhật Cường. Đồng thời khởi tố bị can đối với Bùi Quang Huy (SN 1974) - Tổng Giám đốc công ty Nhật Cường và đồng phạm để điều tra về hai tội danh nêu trên. Đến ngày 18/5/2019, Cơ quan CSĐT - Bộ Công an ra quyết định truy nã toàn quốc và quốc tế Bùi Quang Huy.

Ngày 11-8-2020, Bộ Chính trị đã quyết định đình chỉ sinh hoạt Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội và đình chỉ chức vụ phó bí thư Thành ủy Hà Nội đối với ông Nguyễn Đức Chung, ủy viên Trung ương Đảng, phó bí thư Thành ủy, chủ tịch UBND thành phố Hà Nội để xác minh, điều tra làm rõ trách nhiệm có liên quan của ông Chung trong một số vụ án theo quy định của pháp luật. Cùng ngày, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cũng đã ký Quyết định 1223/QĐ-TTg tạm đình chỉ công tác đối với ông Chung. Quyết định đã nêu rõ: tạm đình chỉ công tác đối với ông Nguyễn Đức Chung, chủ tịch UBND thành phố Hà Nội để xác minh, điều tra làm rõ trách nhiệm có liên quan của ông Nguyễn Đức Chung trong một số vụ án theo quy định của pháp luật. Thời hạn tạm đình chỉ công tác là 90 ngày, kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ công tác.

Có thể thấy rằng việc ông Nguyễn Đức Chung - Chủ tịch UBND TP Hà Nội bị tạm đình chỉ công tác để xác minh, điều tra làm rõ trách nhiệm có liên quan trong một số vụ án là hành động hết sức bình thường, đúng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Việc đài VOA cho rằng đây là hành vi đấu đá trong nội bộ là nhận định chủ quan, phiến diện, tuyên truyền xuyên tạc nhằm chống phá quá trình tổ chức Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII. Do đó, mỗi người dân cần tỉnh táo, cảnh giác, nhận thức rõ bản chất vấn đề, tránh để các đối tượng xấu lợi dụng kích động chống phá chính quyền nhân dân./.

 


Văn hóa tự do ngôn luận và báo chí của công cuộc đổi mới

 

Văn hóa tự do ngôn luận và báo chí của công cuộc đổi mới

Văn hóa tự do ngôn luận của công cuộc đổi mới là một trong những thước đo quan trọng đánh giá sự phát triển của xã hội, trình độ dân chủ và ý thức trách nhiệm của mỗi công dân Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước. Những nhà báo cách mạng của Việt Nam trong công cuộc đổi mới là biểu tượng sáng ngời về tự do ngôn luận và báo chí. Những tác phẩm báo chí của họ được Đảng, nhà nước và các tầng lớp nhân dân tôn vinh trong sự nghiệp đổi mới là minh chứng sống động về văn hóa tự do ngôn luận và báo chí của dân tộc Việt Nam. Văn hóa tự do ngôn luận và báo chí mang giá trị chung nhân loại, đồng thời phản ánh điều kiện cụ thể về chính trị, kinh tế, văn hóa, tập quán, phong tục…. của mỗi quốc gia. Tiêu chí cao nhất của tự do ngôn luận và báo chí trong công cuộc đổi mưới chính là nằm ở chỗ phản ánh được khát vọng sống, vươn lên và phát triển của con người, dân tộc và tự nó trở thành một động lực để thúc đẩy sự phát triển của đất nước trong công cuộc đổi mới hướng tới thịnh vượng, văn minh, tiến bộ và phát triển.

Tự nhiên

THÊM NHIỀU CA KHỎI BỆNH, VIỆT NAM LUÔN VỮNG VÀNG TRƯỚC ĐẠI DỊCH

💓 Trung tâm y tế Hòa Vang, Đà Nẵng công bố 10 ca khỏi bệnh gồm: BN466, 469, 495, 555, 581, 638, 682, 685, 665, 730.

Các bệnh nhân có độ tuổi trong khoảng từ 1 tuổi đến 66 tuổi. Trong đó, có 8 bệnh nhân người Đà Nẵng và 2 bệnh nhân người Quảng Nam.

Sau khi xuất viện, các bệnh nhân được xe của bệnh viện đưa về tận địa phương để tiếp tục cách ly, theo dõi y tế thêm 14 ngày tiếp theo.

---
Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Trường Sơn đã trao giấy xuất viện cho các bệnh nhân. Ông chia sẻ đây là dấu hiệu đáng mừng của ngành y tế và là kết quả xứng đáng cho những nỗ lực trong suốt thời gian qua.

Thứ trưởng Sơn cho biết ngành y tế Đà Nẵng và Trung ương đã dồn sức ở Bệnh viện Hòa Vang để tập trung cứu chữa các bệnh nhân. Hơn 170 bệnh nhân còn lại tại đây sẽ tiếp tục được cung cấp dịch vụ y tế tốt nhất, với phác đồ điều trị phù hợp để được an toàn trong điều trị tại bệnh viện cũng như sau khi xuất viện.

Lãnh đạo ngành y tế nhận định có được thành quả bước đầu này là nhờ sự hỗ trợ rất lớn từ các chuyên gia đầu ngành về hồi sức, các bệnh lý, tim mạch, thận nhân tạo để hỗ trợ các bệnh viện, đặc biệt là Bệnh viện Hòa Vang và Bệnh viện Phổi Đà Nẵng. Bên cạnh đó, bệnh viện được chi viện hơn 100 thầy thuốc từ Phú Thọ, Bình Định, Huế để phối hợp tổ chức, điều trị, hồi sức.

Hy vọng với sự nỗ lực tiếp sức của ngành y tế cả nước, chúng ta sẽ đạt được nhiều thành tựu mới trong thời gian tới.
Hải Đăng st

Tầm vóc lịch sử các kỳ đại hội của Đảng cộng sản Việt Nam

 

Tầm vóc lịch sử các kỳ đại hội của Đảng cộng sản Việt Nam

Sự ra đời, phát triển, trưởng thành và khẳng định vai trò lãnh đạo duy nhất cách mạng Việt Nam của Đảng ta được phản ánh và ghi nhận trên rất nhiều dấu mốc khác nhau. Trong đó có 2 dấu mốc rất quan trọng: 1 là, thực tiễn cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, công cuộc đổi mới và phát triển đất nước; 2 là, các kỳ đại hội của Đảng cộng sản Việt Nam.

Đảng cộng sản Việt Nam đã qua 12 kỳ đại hội và đang tiến tới Đại hội lần thứ XIII. Mỗi kỳ đại hội là đánh dấu một bước phát triển cả về tư duy lý luận và thực tiễn lãnh đạo đất nước trong công cuộc cách mạng giải phóng, xây dựng và BVTQ Việt Nam XHCN. Đại hội nào của Đảng cộng sản Việt Nam cũng góp phần quan trọng trong việc mở ra, thức đẩy một giai đoạn phát triển mới của đất nước. Nhiều kỳ đại hội đã trở thành một mốc son mãi sáng ngời trong lịch sử mấy nghìn năm phát triển của dân tộc.

Tự Nhiên

VIỆT NAM HOÀN THÀNH QUY TRÌNH SẢN SẢN XUẤT VẮC XIN COVID-19

 

    Đây là chia sẻ của TS Đỗ Tuấn Đạt, Chủ tịch Công ty TNHH một thành viên Vắc xin và Sinh phẩm số 1 (VABIOTECH - Bộ Y tế) - ông cho biết đơn vị đã nghiên cứu vắc xin C.ovid-19 ngay từ đầu dịch, cho biết vừa qua VABIOTECH đã thử nghiệm vắc xin C.ov.i.d-19 trên động vật. Kết quả cho thấy kháng nguyên của vắc xin đáp ứng miễn dịch, đảm bảo tính an toàn và hiệu quả, phòng được C.o.v.i.d-19 do vi rút S.A.R.S-C.o.V-2. Dù virus's có bướng đến đâu gặp vắc xin này cũng xin hàng.
    Hiện tại các nhà khoa học đang trong giai đoạn tối ưu hóa quy trình sản xuất. Đối với vắc xin cần phải xây dựng được tiêu chuẩn chất lượng mà mình mong muốn, tối ưu hóa ở quy mô sản xuất lớn để có thể sản xuất với số lượng nhiều nhất, trong thời gian ngắn, vì đây là vắc xin đại dịch.
    Ít hôm nữa vắc xin sẽ được thử nghiệm trực tiếp trên người, nếu kết quả khả quan thì ngay lập tức sẽ sản xuất số lượng lớn với hàng trăm triệu liều mỗi năm để đảm bảo cho người dân Việt Nam và không bị phụ thuộc vắc xin của nước khác...
    Theo: Thanh Niên

 

Không thể chấp nhận cái gọi là “dân chủ” của các thế lực thù địch

Đẩy mạnh chống phá cách mạng Việt Nam thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình”, trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch tung ra nhiều luận điệu đòi thực thi cái gọi là “dân chủ”, “tự do”. Trước hết, họ tung hô, cổ súy nhiều nhất, quyết liệt nhất là việc đòi Việt Nam phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để “có dân chủ và phát triển”. Họ cho rằng, “đa đảng là dân chủ, độc đảng là độc tài”; “Việt Nam phải đa đảng đối lập để có dân chủ thực sự”; “muốn thực sự có dân chủ cho người dân và phát triển xã hội phải thực hiện đa nguyên, đa đảng... Các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc rằng Đảng Cộng sản Việt Nam “không chịu đổi mới về chính trị” và đưa ra quan niệm sai lầm khi đồng nhất giữa “đa nguyên, đa đảng” với “đổi mới chính trị”  Họ quy kết hàm hồ rằng: “Độc tài, đảng trị là cái gốc sai chính của nhà cầm quyền Việt Nam hiện tại” và đưa ra “lời khuyên” rằng, “Đảng chỉ nên giữ vai trò lãnh đạo chính trị, không nên và không thể lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối”. Các thế lực thù địch đòi Việt Nam phải xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp quy định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, bởi họ cho rằng, “sự độc đảng này được xác định trong Điều 4 Hiến pháp hiện hành khiến nhà cầm quyền không hề có cạnh tranh và không sợ bị thay thế”, do đó mà không có “dân chủ”.

Cùng với tập trung đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đòi Đảng Cộng sản Việt Nam phải từ bỏ quyền lãnh đạo cách mạng, các thế lực thù địch sử dụng chiêu bài “dân chủ” với mưu toan xóa bỏ chế độ chính trị hiện hành, đưa đất nước theo mô hình dân chủ tư sản. Họ vu khống rằng, “thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay là toàn trị”, “độc đoán”; “duy trì quyền lực chính trị bằng các công cụ, như cảnh sát, thực hiện bắt bớ, đàn áp những người không ủng hộ Nhà nước, ngăn cấm tự do thông tin, tự do hội họp, tự do báo chí, ngôn luận...”, vì thế mà không có “dân chủ”. Theo đó, các thế lực thù địch đòi “Việt Nam hiện nay phải chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ”, mà “dân chủ” phải bảo đảm được ba yếu tố: Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; bầu cử tự do; tư pháp độc lập, trong đó yếu tố đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập là quyết định nhất.

Không chỉ dừng lại ở những luận điệu xảo trá nêu trên, các thế lực thù địch còn thổi phồng những sai lầm, thiếu sót về đường lối và chỉ đạo thực tiễn của Đảng trong quá khứ, đặc biệt là trên lĩnh vực quản lý kinh tế, quản lý - xã hội; đồng thời, ra sức lợi dụng khuyết điểm của một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái, tham nhũng, tiêu cực bị xử lý kỷ luật để nâng hiện tượng cá biệt thành bản chất, bôi đen chế độ, phủ nhận thành tựu công cuộc đổi mới và minh chứng cho sự cần thiết “chấm dứt vai trò lịch sử của Đảng”, rằng như thế mới có “dân chủ” và “phát triển”. Trắng trợn hơn, các thế lực thù địch ra sức hậu thuẫn cho xây dựng các lực lượng phản động, như cái gọi là “Đảng Việt tân”, “Đảng Dân chủ tự do Thiên Chúa giáo”, “Đảng Dân chủ tự do Phật giáo”..., mưu toan hình thành lực lượng đối lập để từng bước thực thi thứ “dân chủ” của họ trong xã hội Việt Nam.

Sử dụng chiêu bài “dân chủ”, các thế lực thù địch ra sức cổ xúy những phần tử cơ hội về chính trị ở trong nước, các tổ chức nước ngoài thù địch với Việt Nam ra sức công kích Đảng và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, qua đó để “cấy” vào trong đời sống xã hội Việt Nam tư tưởng tự do, dân chủ tư sản, hòng tạo dựng mầm mống thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sang quỹ đạo dân chủ tư sản. Họ luôn gắn vấn đề “dân chủ” với vấn đề “tôn giáo”, “dân tộc”, “nhân quyền”, vu khống Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền trong thực hiện chính sách đối với các tôn giáo và các dân tộc thiểu số; trắng trợn xuyên tạc Việt Nam đàn áp tôn giáo và dân tộc thiểu số. Cũng bằng chiêu bài “dân chủ”, các thế lực thù địch ra sức chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mâu thuẫn, kích động hận thù giữa các dân tộc, các tôn giáo, tạo ra những bức xúc trong xã hội, hoài nghi trong dư luận, chia rẽ quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch lợi dụng tình hình khiếu kiện, các “điểm nóng”, nhất là vụ việc ở xã Đồng Tâm (huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội) để phát tán các tài liệu tuyên truyền tư tưởng tự do, dân chủ tư sản, vu khống, công kích Đảng, Nhà nước Việt Nam vi phạm dân chủ; từ đó, hướng vào đòi xóa bỏ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã và đang xây dựng; gieo rắc tư tưởng dân chủ tư sản trong đời sống xã hội.

Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn cho phép chúng ta khẳng định dứt khoát rằng, ở nước ta không cần và không thể chấp nhận thứ “dân chủ” mà các thế lực thù địch đang muốn áp đặt vào Việt Nam.

Về Lý luận,chúng ta đều biết, dân chủ là phạm trù lịch sử, xuất hiện khi có nhà nước và mỗi nền dân chủ phải gắn với một nhà nước nhất định, được pháp luật quy định. Lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng minh rằng, dân chủ xuất hiện và phát triển với tính chất là sản phẩm trực tiếp của đấu tranh giai cấp, đấu tranh xã hội, giải phóng loài người. Trong xã hội có giai cấp, tuyệt đối không thể có thứ dân chủ chung chung, phi giai cấp. Dân chủ tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và trình độ dân trí trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Về điều này, C. Mác đã chỉ rõ: “Quyền không bao giờ có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định”. Theo V.I. Lê-nin, điều cốt tử nhất khi bàn đến vấn đề dân chủ là phải trả lời được câu hỏi, dân chủ của ai, cho ai và vì ai? Tự do cho ai và vì ai? Bởi vì, trong xã hội có giai cấp, dân chủ, tự do đối với bọn bóc lột có nghĩa là để áp bức những người bị bóc lột.

Xét từ bản chất của dân chủ tư sản - thứ “dân chủ” mà các thế lực thù địch đang muốn áp đặt vào Việt Nam và tính ưu việt của dân chủ xã hội chủ nghĩa, thì việc lựa chọn tất yếu ở Việt Nam là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa…

Từ thực tiễn, dân chủ là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển đất nước. Chúng ta đã và đang hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Quan điểm cho rằng, phải có đa đảng mới “có dân chủ và phát triển” là hoàn toàn sai lầm. Trên thực tế, thể chế nhất nguyên một đảng lãnh đạo hoàn toàn không đồng nghĩa với mất dân chủ, kém phát triển và kém dân chủ; dân chủ không đồng nghĩa với đa nguyên, đa đảng. Trên thế giới hiện nay, có không ít nước đa đảng nhưng vẫn mất dân chủ, vẫn là những nước nghèo, kém phát triển nhất; ngược lại, có những nước chỉ có một đảng lãnh đạo, nhưng dân chủ được bảo đảm, kinh tế - xã hội phát triển, đời sống nhân dân sung túc. Điều đó minh chứng rằng, đa nguyên, đa đảng không phải là cứu cánh cho dân chủ và sự phát triển. Đúng như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn”…

Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng của giai cấp công nhân, đồng thời của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc ra sức hy sinh, phấn đấu cho nền dân chủ cao đẹp nhất mà loài người từ xưa đến nay khát khao vươn tới  - nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Chín mươi năm qua, với tư cách một đảng mác-xít chân chính, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, đưa nhân dân từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, thực chất luận điệu cốt yếu nhất “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” để chuyển từ chế độ “toàn trị” sang “dân chủ”, để có “dân chủ và phát triển” là mang tính chất mị dân, phản động, hết sức nguy hiểm, bởi rất dễ gây nên sự ngộ nhận, nhất là đối với những người có nhận thức hạn chế; từ đó, có thể gây nên sự mơ hồ, lẫn lộn, dẫn tới sự dao động về tư tưởng, hoài nghi, phân tâm trong xã hội; làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những luận điệu này hướng vào xóa bỏ, gây nên những khó khăn nhất định trong quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đe dọa mất ổn định chính trị - xã hội gây mầm cho mâu thuẫn và xung đột xã hội chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc...

Mục tiêu của các thế lực thù địch khi cổ xúy cho cái gọi là “dân chủ” là nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ thành quả cách mạng, hướng lái đất nước theo nền dân chủ tư sản, tước đi quyền làm chủ của nhân dân đã giành được bằng xương máu của nhiều thế hệ. Để không xảy ra những hậu quả tai hại đó, thì ở Việt Nam hiện nay nhất thiết không cần và không thể chấp nhận cái gọi là “dân chủ” mà các thế lực thù địch thường xuyên rêu rao, kích động./.

TMT. 13.8.20

 

Cảnh giác với chiêu trò núp bóng “Góp ý tâm huyết”

Như một điệp khúc quen thuộc, cứ mỗi khi chúng ta tiến hành đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, thì các thế lực thù địch, phản động, những phần tử cơ hội chính trị lại gia tăng các hoạt động tuyên truyền, kích động, xuyên tạc, chống phá một cách quyết liệt. Đặc biệt, chúng triệt để lợi dụng chủ trương lấy ý kiến xây dựng dự thảo văn kiện đại hội đảng các cấp, nhất là Dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng để chống phá.

Dưới hình thức “gửi thư”, “trao đổi” để “góp ý tâm huyết” cho Đảng nhân mỗi kỳ đại hội Đảng đã trở thành hoạt động mang tính “truyền thống” của họ. Nhìn vào những bản “góp ý” được chuẩn bị công phu, lập luận không kém phần logic với những câu từ được trau chuốt bóng bẩy ấy, nếu ai đó non kém về nhận thức chính trị, sẽ rất dễ lầm tưởng và cho đấy là sự góp ý trách nhiệm, tâm huyết. Nhưng thực chất đó là những luận điệu hết sức sai trái và cực kỳ nguy hiểm. Cách thức thể hiện những nội dung ấy cũng chẳng có gì mới, có chăng chỉ là sự thay đổi cách diễn đạt bằng những “xảo ngữ”, ngôn từ hoa mỹ, bóng bẩy nhằm tăng thêm độ tinh vi, thâm hiểm trong mưu đồ chống phá để dễ bề đánh lừa dư luận, v.v. Và đó chỉ là vấn đề đã trở nên cũ rích từ nhiều kỳ đại hội trước được diễn đạt lại với giọng điệu mới tinh vi, được che đậy bởi nghệ thuật sử dụng ngôn từ trau chuốt mà “hoa ngôn xảo ngữ”, hòng đánh lừa hoặc lôi kéo những người nhẹ dạ, cả tin theo ý đồ chính trị của họ.

Thông qua các trang mạng xã hội, blog hải ngoại, họ đăng tải bản “Góp ý cho Đại hội XIII”. Trong đó, họ trình bày những nội dung như “Đánh giá về tình hình mới”, rồi tự cho mình là uyên bác, khoa học, họ phán bừa là việc “soạn thảo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng” không có gì mới, vẫn kiên định với hệ thống lý luận lỗi thời, lạc hậu. Họ cho rằng: những quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ giải pháp trong báo cáo chính trị chỉ là sự “sao chép” các văn kiện Đại hội khóa trước, mang tính chủ quan, thể hiện ý chí của thiểu số, chỉ là sự “khoa trương, hoa mỹ về thành tựu thời kỳ đổi mới”, v.v. Từ đó, họ quy kết Đảng “giác ngộ yếu kém yếu tố dân tộc, dân chủ”, dẫn đến “Sự thất bại nghiêm trọng 45 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam trong phát huy sức mạnh quốc gia”,… và giả bộ “khẩn thiết kiến nghị” rằng: chừng nào ở Việt Nam chỉ có độc tài, độc nhất một đảng lãnh đạo thì chừng đó không thể nói tới một nền dân chủ chân chính được; ở Việt Nam muốn phát triển, muốn có dân chủ thực sự thì phải hội nhập vào xu thế đa đảng, “xã hội dân sự” như nước ngoài. Nhiều phần tử cơ hội chính trị “theo đóm ăn tàn”, “té nước theo mưa” bôi nhọ Đảng, phủ nhận vị trí, vai trò cầm quyền qua cái gọi là “góp ý tâm huyết”; thậm chí kẻ “trở cờ” phản Đảng xuyên tạc “Chủ nghĩa Mác - Lênin như một cái mành che mắt, vì sự kiên trì Mác - Lênin như một cái chụp lên đầu, trong chế độ độc đảng toàn trị Việt Nam thì làm gì có dân chủ, do đó không cần đảng lãnh đạo”, v.v.

Như vậy, có thể thấy mục tiêu của những luận điệu dưới mác “góp ý tâm huyết” nêu trên thực chất là mưu toan xóa bỏ vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được quy định trong Điều 4 – Hiến pháp 2013; đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xây dựng nhà nước dựa trên nền tảng “xã hội dân sự”, nhằm lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang dày công xây dựng. Đó chính là sự thật của cái gọi là sự “góp ý tâm huyết”.

Quan tâm đến vận mệnh của Đảng, của đất nước là quyền, nhu cầu chính đáng của mỗi người dân; đồng thời, đó cũng là một trong những biểu hiện tình yêu với Đảng, với Tổ quốc. Nhưng sự quan tâm, tình yêu đó chỉ thật sự có ý nghĩa khi người dân tham gia phản biện, đóng góp ý kiến cho Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp phải xuất phát từ cái tâm trong sáng, thái độ chuẩn mực, động cơ lành mạnh và hướng đến những mục tiêu chung, lợi ích chung của quốc gia dân tộc. Còn những ý kiến “biện” ít, “phản” nhiều, thiếu tính xây dựng và mang tính kích động nhằm làm rối ren thêm tình hình thì chúng ta phải kiên quyết “vạch mặt, chỉ tên” để đấu tranh loại bỏ. Mỗi cán bộ, đảng viên và từng người dân khi tiếp cận với những thông tin, tài liệu tán phát trên mạng cần phải tỉnh táo nhận diện đâu là thông tin tốt, đâu là thông tin xấu, đâu là thông tin có cơ sở, đâu là thông tin xuyên tạc, bịa đặt, v.v. tránh bị cuốn theo những giọng điệu mỹ miều, xảo trá của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội mà dẫn tới tư tưởng hoài nghi, hoang mang, dao động, suy giảm niềm tin với Đảng và chế độ.

Từ nay đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, môi trường phản biện xã hội sẽ tiếp tục mở rộng, đi vào chiều sâu. Thông qua truyền thông và mạng xã hội, tinh thần dân chủ trong tham gia góp ý, phản biện xã hội sẽ diễn ra sôi nổi. Đảng ta luôn tiếp thu các quan điểm, ý kiến phản biện tâm huyết, có trách nhiệm. Mỗi cán bộ, đảng viên cần thấm nhuần, quán triệt sâu sắc quan điểm, phản biện là để đi đến thống nhất tư tưởng và hành động vì mục tiêu xây dựng và phát triển. Đồng thời, ứng xử và thể hiện đúng mức, xứng tầm trong đời sống xã hội và môi trường truyền thông; tỉnh táo nhận diện, tránh bị cuốn vào trận địa xảo trá của các thế lực thù địch phản động, cơ hội chính trị, dẫn tới tư tưởng hoài nghi, hoang mang, dao động, suy giảm niềm tin với Đảng. Những ý kiến, hành vi đi ngược lại đường lối của Đảng, đi ngược lại lợi ích dân tộc và toàn dân đều là những thứ ngụy phản biện, núp bóng, lợi dụng môi trường dân chủ để “ký sinh” tư tưởng chống đối. Chúng ta cần nêu cao cảnh giác, kiên quyết phủ nhận hành vi lợi dụng sự “góp ý với Đảng” để chống phá, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, tổ chức thành công đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng./.

TMT. 13.8.20

 

Giải pháp phòng, chống “diễn biến hoà bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ giảng viên.

Nhận thức đúng đắn về nội dung, thủ đoạn thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với nước ta hiện nay và tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu của chúng là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng của các cơ quan trong hệ thống chính trị hiện nay. Để làm tốt nhiệm vụ này; đẩy lùi nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, công chức, viên chức cần có giải pháp đồng bộ, toàn diện, trong đó đào tạo, bồi dưỡng là một giải pháp quan trọng. Tuy nhiên, không chỉ cần bồi dưỡng về năng lực mà còn cần nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức công vụ. Điều này đòi hỏi đội ngũ giảng viên phải thực sự là những người có bản lĩnh, đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp, không “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Chiến lược diễn biến hoà bình (DBHB) của các thế lực thù địch thực hiện ở nước ta có nhiều nội dung, bằng nhiều thủ đoạn thâm độc. Chúng đã xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tuyên truyền hệ tư tưởng tư sản, tư tưởng xã hội – dân chủ, truyền bá chủ nghĩa tự do mới, chủ nghĩa thực dụng; xuyên tạc, phủ nhận Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng; lôi kéo “những người bất đồng chính kiến” hòng tạo dựng “ngọn cờ đối lập”… Chúng tìm cách tác động vào công tác tổ chức cán bộ để phân hóa, chia rẽ nội bộ ta. Phủ nhận và loại bỏ sự lãnh đạo của Đảng, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trị. Xuyên tạc, phê phán nguyên tắc tổ chức và hoạt động, mối quan hệ giữa các thiết chế quyền lực của Nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN); thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về lập pháp, hành pháp và tư pháp theo cơ chế tam quyền phân lập, hình thành chế độ đa đảng đối lập. Chuẩn bị các yếu tố, điều kiện để khởi phát “cách mạng màu”, gây rối loạn chính trị trong nước, tạo cớ can thiệp từ bên ngoài.

Cùng với chống phá về chính trị, kinh tế. văn hóa – xã hội. Trên lĩnh vực quốc phòng – an ninh (QPAN) được các thế lực thù địch coi là khâu then chốt, lĩnh vực đối ngoại là khâu hỗ trợ quan trọng. Chúng tập trung xuyên tạc, phủ nhận đường lối, quan điểm QPAN của Đảng, chủ trương, chính sách QPAN của Nhà nước ta. Tìm mọi cách “phi chính trị hóa” quân đội và công an; tuyên truyền, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với quân đội và công an; gây mâu thuẫn trong nội bộ lực lượng vũ trang (LLVT). Lợi dụng các mối quan hệ, tiếp xúc về QPAN, chúng mua chuộc cán bộ, chiến sĩ LLVT, làm chuyển hóa nội bộ về nhân sự, tổ chức. Tổ chức các hoạt động tình báo, gián điệp, gây dựng cơ sở và phá hoại từ bên trong; kích động bạo loạn lật đổ, ly khai. Xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách đổi ngoại của Đảng và Nhà nước. Chia rẽ, gây mẫu thuẫn giữa Việt Nam với các nước láng giềng, khu vực và cộng đồng quốc tế. Chúng sử dụng các tổ chức ngoại giao của Chính phủ, tổ chức ngoại giao nhân dân, các tổ chức phi chính phủ (NGO) để đòi Việt Nam thực hiện các giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền theo kiểu phương Tây.  

Để phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, bên cạnh công tác kiểm tra, giám sát, dư luận, ý thức tự giác của mỗi cán bộ, công chức, thì vấn đề đào tạo, bồi dưỡng ngăn ngừa, đấu tranh, phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cần được đặt ra trong công tác bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức. Với trách nhiệm của mình, đội ngũ lãnh đạo, quản lý các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng và giảng viên phải thực sự là người chiến sĩ trên mặt trận phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, giữ nhân cách, đạo đức trong sáng, nêu gương, thể hiện được bản lĩnh, trí tuệ của trí thức trong thời đại Hồ Chí Minh. Để kịp thời ngăn chặn, đập tan mọi âm mưu của các thế lực thù địch, mỗi cán bộ giảng viên cần thực hiện tốt một số giải pháp sau

Cần tiếp tục hoàn thiện tiêu chuẩn giảng viên, bảo đảm giảng viên không chỉ là người có năng lực chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn, mà còn cần là người có đạo đức, trách nhiệm, niềm tự hào về nghề nghiệp, ý thức được vai trò của mình trong công tác bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức. Đồng thời, cần quy định rõ trách nhiệm của giảng viên nói đúng, nói trúng, nói đủ và chịu trách nhiệm trực tiếp về quá trình thực hiện nhiệm vụ giảng dạy. Cần có những quy định về trách nhiệm, chế tài đối với những giảng viên có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong quá trình bồi dưỡng cán bộ, công chức.

Cần phải có cơ chế giám sát trong hoạt động bồi dưỡng của giảng viên thông qua các kênh phản hồi từ phía học viên, từ cơ quan sử dụng cán bộ, công chức, viên chức sau đào tạo, bồi dưỡng.

Quá trình bồi dưỡng không chỉ góp phần nâng cao năng lực làm việc mà còn phải góp phần nâng cao đạo đức, trách nhiệm công vụ của cán bộ, công chức, viên chức để họ có năng lực, trách nhiệm, niềm tin cao hơn và làm việc ngày càng tốt hơn.

Tăng cường hiệu quả công tác kiểm tra giảng viên của cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể, vừa để phát hiện, tôn vinh những điển hình giảng viên, vừa là cơ chế để nâng cao trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp, phát hiện và xử lý kịp thời những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong chính đội ngũ giảng viên.

Mỗi cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức cần quan tâm bồi dưỡng đội ngũ giảng viên để họ vừa hồng vừa chuyên. Hoạt động bồi dưỡng, nâng cao nhận thức có thể thực hiện bằng nhiều hình thức sinh động khác nhau: nâng cao hiệu quả học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tôn vinh những điển hình tiên tiến của giảng viên. Cần phải bồi dưỡng cho giảng viên có năng lực, bản lĩnh, giữ vững niềm tin vào sự phát triển của đất nước, những điều tốt đẹp mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đang nỗ lực phấn đấu. Giảng viên phải là hiện thân cho trí tuệ, đạo đức của cơ sở đào tạo, bồi dưỡng. Điều này đòi hỏi cần phát huy vai trò của người đứng đầu cơ sở đào tạo, bồi dưỡng trong nêu gương, trong thực hành trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp.

Mỗi giảng viên không ngừng tự giác học tập, nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị, đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp, phải xác định được vai trò của mình trong quá trình bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức. Một lời nói, một bài giảng không chỉ đơn giản là lời nói, bài giảng mà chính là tiếng nói về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Vì vậy, bài giảng phải là sự chắt lọc của thực tiễn, nói những điều thực tiễn đã kiểm nghiệm, nói những điều đã được sàng lọc, không mơ hồ, không ước đoán, suy đoán với những thông tin không chính thống, những thông tin chưa được kiểm chứng. Nhận thức là một hành trình không đơn giản, cần có bản lĩnh, trí tuệ, biết lựa chọn giữa đúng, gần đúng và sai, biết tìm ra những điều phi lý trong lớp vỏ tưởng chừng hợp lý.

Cần đổi mới chế độ, chính sách với giảng viên, tạo điều kiện cho họ yên tâm với nghề, có thời gian học tập, nâng cao năng lực, trình độ, tiếp cận với các nguồn thông tin chính thống để mỗi bài giảng luôn sinh động, mang màu sắc thực tiễn, chính xác về thông tin, hấp dẫn về phương pháp và hiệu quả trong thực hiện mục tiêu bồi dưỡng./.

TMT. 13.8.20

Lười học tập lý luận chính trị và nghị quyết, “chẳng khác nào nhắm mắt đi đêm”

      Những năm qua, nhận thức đúng đắn vai trò của lý luận chính trị, phần lớn CB, ĐV đã chú trọng tìm hiểu, học tập, nghiên cứu lý luận chính trị, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng nhằm nâng cao tri thức lý luận, thế giới quan khoa học và phương pháp luận đúng đắn. Hầu hết các cấp ủy, tổ chức đảng đã duy trì nghiêm túc chế độ học tập các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, cập nhật những thông tin lý luận mới cho CB, ĐV. Việc quán triệt, phổ biến, học tập các nghị quyết của Đảng ở nhiều nơi được đổi mới cả về hình thức, phương pháp truyền đạt, giảng giải, tạo sự hứng thú hơn đối với người học, người nghe. Phải khẳng định rằng, nhờ được tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao những kiến thức cơ bản về lý luận chính trị, nên đại đa số CB, ĐV luôn giữ vững lý tưởng, niềm tin vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN).
       Tuy nhiên, nhìn nhận một cách thẳng thắn, nghiêm túc, việc học tập lý luận chính trị của một bộ phận CB, ĐV thời gian qua còn có nhiều bất cập, hạn chế. Đây là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị đã được Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng chỉ ra: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”.
        Biểu hiện lười học tập chính trị của CB, ĐV thông qua một số triệu chứng cụ thể như: Chỉ quan tâm học tập nghị quyết, lý luận chính trị khi chuẩn bị được kết nạp Đảng, chuẩn bị được giới thiệu quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm chức vụ mới, chứ không coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, là nhu cầu tự thân của bản thân; khi cơ quan, đơn vị tổ chức học tập chính trị, nghị quyết thì tìm cách né tránh, viện lý do “này nọ” để không tham gia, hoặc nếu đi học thì tâm lý không thoải mái, đến lớp học theo kiểu “đánh trống ghi tên” cho đủ quân số, không chú ý lắng nghe, không tiếp thu bài giảng, tự ý làm việc riêng. Do thái độ học tập thiếu nghiêm túc, nên không hiểu bài và khi viết thu hoạch thì chép gần như y nguyên nghị quyết, hay sao chép bài viết của người khác. Có một số đảng viên đi học nghị quyết, học lý luận chính trị chỉ cốt “lấy lệ”, lấy “chứng chỉ” nhằm “tô son” cho lý lịch cá nhân, thậm chí có trường hợp học xong thì “chữ thầy trả lại thầy”!
Có một thực tế rất đáng suy ngẫm là một số CB, ĐV (nhất là người trẻ) hằng ngày chỉ thích lướt “web”, chịu khó mày mò tìm kiếm các thông tin giật gân, câu khách trên các trang báo điện tử, say sưa sống “ảo” trên facebook, nhưng chẳng mấy khi cầm đọc một tờ báo, tạp chí của Đảng hay đọc những cuốn sách, tài liệu về khoa học lý luận chính trị và khoa học xã hội và nhân văn. Cá biệt, có những đảng viên nhiều năm đứng trong hàng ngũ của Đảng nhưng do lười học, lười suy nghĩ, lười cập nhật kiến thức nên nắm rất lơ mơ, thậm chí không hiểu biết cơ cấu tổ chức của Đảng, không phân biệt được vị trí, vai trò các cơ quan lãnh đạo của Đảng, không hiểu thế nào là xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức…
       Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng trên là do một bộ phận CB, ĐV nhận thức chưa đúng đắn, thậm chí có biểu hiện xem thường việc học tập lý luận chính trị; đánh giá chưa đúng ý nghĩa, tầm quan trọng của các môn lý luận chính trị nói chung, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng nói riêng. Bên cạnh đó cũng do một phần cách thức tổ chức học tập nghị quyết, lý luận chính trị ở một số nơi chậm đổi mới; phương pháp truyền đạt, giảng giải của cán bộ, giảng viên chưa hấp dẫn. Việc tổ chức lớp học nghị quyết thường đông quân số (nhất là ở cơ sở), lại diễn ra trong thời gian ngắn, trong khi người học thiếu tài liệu tham khảo, nghiên cứu, cũng ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả việc học tập nghị quyết của CB, ĐV.
        Theo quy định của Điều lệ Đảng, đảng viên không chỉ có nhiệm vụ tuyệt đối trung thành với mục đích lý tưởng cách mạng của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước; mà còn có trách nhiệm tuyên truyền vận động gia đình và nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đồng thời tích cực tham gia xây dựng, bảo vệ đường lối, chính sách và tổ chức của Đảng.
         Muốn hoàn thành những nhiệm vụ đó, nhất thiết đảng viên phải có những kiến thức, hiểu biết cơ bản về lịch sử, truyền thống của Đảng Cộng sản Việt Nam; đường lối cách mạng, đường lối về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh của Đảng; cũng như các văn bản, nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước…
        Các văn kiện đại hội và nghị quyết của Đảng đều là những công trình khoa học tập thể, hội tụ trí tuệ của nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhà khoa học và đã được chắt lọc, tập hợp từ rất nhiều ý kiến tâm huyết của các tầng lớp nhân dân. Đối với các luật, bộ luật cũng trải qua quy trình chuẩn bị, góp ý, thảo luận, thẩm tra chặt chẽ của các cơ quan chức năng và được thông qua bởi cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước là Quốc hội. Do vậy, việc nắm vững những vấn đề cơ bản về đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước là cơ sở bảo đảm để CB, ĐV nói và làm theo đúng quan điểm của Đảng, pháp luật Nhà nước. Học và làm đúng chính sách, nghị quyết của Đảng, như Bác Hồ khẳng định, cũng là một cách thực hành đạo đức cách mạng của CB, ĐV.
        Cần nhận thức rằng, lý luận chính trị ở nước ta không phải là những kiến thức kinh viện, khô khan, trừu tượng, xa rời cuộc sống, mà đó là hệ thống tri thức khoa học, cách mạng về chính trị-xã hội, là kết quả của hoạt động nghiên cứu khoa học và thực tiễn chính trị của nhiều chuyên gia, chính khách, nhà khoa học và đã được sàng lọc, bổ sung, phát triển qua nhiều thế hệ, nhiều thời kỳ lịch sử. Hệ thống tri thức lý luận chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ dựa trên nền tảng tư tưởng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn tiếp thu những tinh hoa tri thức của nhân loại và kế thừa những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam; đồng thời luôn có sự cập nhật kiến thức mới của thời đại, phù hợp với xu thế phát triển của nhân loại tiến bộ và đáp ứng nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân Việt Nam.
         Cách đây 62 năm, trong buổi nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khóa I, Trường Đại học Nhân dân Việt Nam ngày 21-7-1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn các học viên: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để theo kịp nhân dân”. Nói về vai trò của lý luận, Bác Hồ từng ví đó như “trí khôn của con người”. Sinh thời, Bác đã nhiều lần nhắc nhở, phê bình những CB, ĐV kém lý luận, khinh lý luận, lý luận suông; đồng thời cảnh báo những đảng viên lười học lý luận, lười học nghị quyết của Đảng, lười đọc sách báo của Đảng thì “chẳng khác nào nhắm mắt đi đêm, nhất định sẽ lúng túng, vấp váp, hỏng việc”.
        Phát biểu tại buổi khai mạc lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức đối với các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII tổ chức tại Hà Nội ngày 14-8 vừa qua, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhắc nhở CB, ĐV: “Có rất nhiều cái phải học và cũng có rất nhiều cách để học: Học ở trường, ở lớp; học trong cuộc sống, học trong công tác; học ở trong nước, ở ngoài nước; học thầy, học bạn; học lẫn nhau; tự nghiên cứu, tự học... Nếu không học thì sẽ lạc hậu, mà lạc hậu sẽ dẫn đến thoái bộ. Bởi vì thực tiễn luôn luôn vận động; lý luận không ngừng phát triển; đời người là hữu hạn, sự hiểu biết là khôn cùng”.
        Trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay, không ai phủ nhận ưu thế và sức mạnh của các phương tiện nghe nhìn hiện đại trong việc truyền bá tri thức nói chung, cung cấp thông tin nói riêng, nhưng việc học tập, nghiên cứu các môn học lý luận chính trị, Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và nghị quyết, chỉ thị của Đảng, cũng như các môn khoa học xã hội và nhân văn, vẫn có ý nghĩa, tác dụng rất lớn trong việc góp phần trau dồi bản lĩnh chính trị, lập trường cách mạng, nâng cao kiến thức, bồi dưỡng lý tưởng, tình cảm, niềm tin lành mạnh, tích cực cho đội ngũ CB, ĐV. Vì vậy, nếu CB, ĐV nào đó vẫn thờ ơ, chểnh mảng, hay có nhận thức không đầy đủ, sâu sắc về việc học tập lý luận chính trị, nghị quyết của Đảng là đang tự kìm hãm nhận thức, trí tuệ của bản thân, tự làm “tụt hậu” chính mình và do đó, không đủ tư cách là người dẫn dắt, định hướng, lãnh đạo quần chúng nhân dân.

Đào bới, phủ nhận quá khứ như rút gạch chân tường

       Khi bàn đến các biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng đã cảnh báo hiện tượng: “Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước”.
        Đáng tiếc là hiện tượng cán bộ, đảng viên vi phạm vẫn xảy ra. Dư luận gần đây từng bức xúc trước việc trên trang Facebook cá nhân của  PGS, TS Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế chính sách, Trường Đại học Kinh tế-Đại học Quốc gia Hà Nội xuất hiện một số bài viết với tinh thần ca ngợi một nhân vật đã “có công” gây ra sự sụp đổ của Liên Xô. Từng là thành viên Nhóm tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ 2011-2016 thế mà vào tháng 8-2018, ông ta đăng một status viết rằng: “Chủ nghĩa xã hội (CNXH) là quả bom nhiệt hạch lớn nhất mà các trí thức thế kỷ 19 từng nghĩ ra. Muốn hủy diệt một dân tộc, hãy dùng loại bom đó”.
         Đầu năm 2019, Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng đã thi hành kỷ luật ông Trần Đức Anh Sơn, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế-Xã hội Đà Nẵng. Đúng ngày 2-9-2018, ông Sơn viết trên Facebook cá nhân với nội dung xuyên tạc, xúc phạm Ngày Quốc khánh 2-9, gắn với kích động biểu tình. Cương lĩnh chính trị của Đảng, Điều lệ Đảng và Hiến pháp đều khẳng định thành quả của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9-1945, nhưng ông Trần Đức Anh Sơn lại cố tình bóp méo, xuyên tạc sự thật lịch sử, dùng từ “lùa dân” tụ tập đông người. Là đảng viên, là người nghiên cứu lịch sử nhưng ông Sơn đã không tôn trọng sự thật lịch sử và còn kích động tụ tập đông người, biểu tình vào dịp các thế lực thù địch đang kêu gọi “tổng biểu tình ngày 2-9-2018”.
Một trường hợp khác cũng bị cộng đồng mạng lên án gay gắt là bà PGS, TS Nguyễn Hoàng Ánh, giảng viên Trường Đại học Ngoại thương. Bà này từng có những bài viết trên trang cá nhân xúc phạm Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thậm chí "cảm ơn Gorbachev làm cộng sản sụp đổ" và kêu gọi ủng hộ đối tượng phản động...
Ngoài những trường hợp cá biệt như nêu trên, mấy năm gần đây, tư tưởng đòi xét lại lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng có xu hướng gia tăng với nhiều vụ việc đáng lo ngại, như: Đòi công nhận, tôn vinh một số sĩ quan quân đội Việt Nam cộng hòa, xét lại lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ; phỉ báng lịch sử, xúc phạm hình tượng Lê Văn Tám, Võ Thị Sáu, thậm chí xuyên tạc, hạ bệ cả Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước. Nguy hiểm hơn, họ còn xuyên tạc cho rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là nồi da xáo thịt, hy sinh hàng triệu nhân mạng vô ích, lẽ ra có thể tránh chiến tranh...(?!).
Trên diễn đàn Quốc hội gần đây, có đại biểu đã cảnh báo một số biểu hiện thờ ơ chính trị trong lớp trẻ rất đáng báo động. Có một số người trẻ tuổi không quan tâm đến chính trị, xem nhẹ lịch sử, sống thực dụng, không có hình tượng lý tưởng để phấn đấu, thờ ơ thế cuộc, vô cảm trong quan hệ xã hội, bạo hành học đường, sa vào tệ nạn xã hội, suy thoái đạo đức... đang gặm nhấm và tha hóa nhân cách…
        Những hiện tượng nêu trên dễ trở thành những dòng thác nguy hiểm cuốn phăng và nhấn chìm thành quả cách mạng. Sự thất bại từ Liên Xô và Đông Âu là những bài học đắt giá.
       đêm đông giá lạnh cuối tháng 12-1991, lá cờ đỏ búa liềm từ đỉnh tháp Kremli ở thủ đô Moscow (Nga) sau 74 năm tung bay đã phải hạ xuống, thay vào đó là lá cờ ba sắc. Liên Xô sụp đổ, CNXH với tư cách là một thể chế cũng tan rã trên quê hương V.I.Lênin và sau đó là 8 nước Đông Âu. Ít ai biết rằng, sự kiện đó có liên quan đến việc Gorbachev, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên xô khởi xướng một trào lưu tư tưởng mang tên “suy ngẫm lại lịch sử” cách đó chỉ 4 năm (1987) với tinh thần công kích Stalin, phủ nhận thắng lợi của chiến tranh Vệ quốc... Tháng 3-1988, báo Nước Nga Xô-viết đăng bức thư của Nina Andreyeva, nữ giảng viên ở Học viện Khoa học kỹ thuật Leningrad lên án trào lưu suy ngẫm lại lịch sử, chỉ rõ nó thực chất là dòng nước ngược, bôi đen Liên Xô xã hội chủ nghĩa (XHCN).
         Thế nhưng, thay vì ủng hộ ý kiến tâm huyết này, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô triệu tập hội nghị khẩn cấp để đánh trả “thế lực chống đối cải tổ”. Ngày 5-4-1988, Báo Sự Thật đăng bài phản kích Nina Andreyeva. Sau đó, các cơ quan báo chí đồng loạt phản kích. Toàn bộ lịch sử Liên Xô bị miêu tả như một mớ đen ngòm. Sang năm 1989, trào lưu chuyển sang phê phán, phủ định Cách mạng Tháng Mười, Chủ nghĩa Lênin và chính Lênin, bãi bỏ môn học Chủ nghĩa Mác-Lênin trong trường học. Cơn lốc xét lại lịch sử ngày càng mạnh mẽ, lôi cuốn toàn bộ xã hội. Một số tờ báo và tạp chí cấp tiến, như: Họa báo, Tia lửa và Tin tức Moscow công khai phủ định quá khứ, phủ định lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, phủ định CNXH.
      Sau này, năm 1994, nhà văn Boldarev đã nhìn lại: “Trong 6 năm, báo chí đã thực hiện được mục tiêu mà quân đội châu Âu có trang bị tinh nhuệ nhất cũng không thể thực hiện được khi xâm lược nước ta bằng lửa và kiếm vào những năm 40. Quân đội đó có thiết bị kỹ thuật hàng đầu nhưng thiếu một thứ. Đó là hàng triệu ấn phẩm mang vi trùng”. Những cuộc hội thảo rầm rộ nhằm xem xét lại vai trò của V.I.Lênin và Hồng quân trong chiến tranh vệ quốc, xuyên tạc, bóp méo lịch sử, bôi nhọ các gương anh hùng cách mạng. Khi hình tượng V.I.Lênin bị đánh sụp thì Đảng cũng tự đào hố chôn mình và đó cũng là lúc Gorbachev tuyên bố giải tán Đảng Cộng sản Liên Xô dẫn đến sự tan rã của Liên bang Cộng hòa XHCN Xô viết. Một sự kiện sau này được Tổng thống Nga vladimir  Putin thừa nhận đó là cơn địa chấn khủng khiếp, là thảm họa của thế kỷ 20. Đau xót trước sự công phá khủng khiếp của trào lưu xét lại lịch sử, năm 1991 nhà thơ Tố Hữu đã viết bài thơ có đoạn: “… Cả đàn sói chồm lên, cắn vào lịch sử/ Cào chiến công, xé cả xác anh hùng/ Ôi! Nỗi đau này là nỗi đau chung/ Lương tâm hỡi, lẽ nào ta tự sát? Lũ phản bội, điên cuồng, hèn nhát/ Và cả bay quân cướp nước, giết người/ Chớ vội cười! Chân lý vẫn xanh tươi …”.
       Đây cũng không phải là lần đầu chủ nghĩa xét lại xuất hiện ở Liên Xô. Vào đầu những năm 60, 70 của thế kỷ 20, ở Liên Xô xuất hiện “Chủ nghĩa xét lại hiện đại” do Khơrutsốp (nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô) khởi xướng đòi xét lại học thuyết Mác-Lênin. Trong thời kỳ đó, ở Việt Nam cũng xuất hiện những cán bộ, đảng viên, trí thức, văn nghệ sĩ, phóng viên báo chí, triết gia, sĩ quan quân đội… ngả theo “chủ nghĩa xét lại”. Tuy nhiên, sau đó hiện tượng này được chấn chỉnh, Đảng Cộng sản bảo vệ được trận địa tư tưởng. Vào cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90, trước địa chấn xét lại ở Liên Xô, ở nước ta trào lưu này lại sống lại. Có lần, trao đổi với phóng viên Báo Quân đội nhân dân, nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã đau xót nhắc đến làn sóng muốn bỏ Đảng, bỏ chế độ XHCN... Nhưng điều may mắn là Đảng ta đã nhìn thẳng vào sự thật, nhận rõ nguy cơ và nhanh chóng xốc lại tư tưởng và đội ngũ, xác định kiên định mục tiêu con đường XHCN mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.
         Bài học quý từ Cuba, đất nước XHCN anh em vững vàng suốt mấy chục năm qua trong vòng vây kìm kẹp của đế quốc có tinh thần đoàn kết keo sơn của toàn dân để bảo vệ thành quả cách mạng. Còn nhớ khi lãnh tụ Fidel Castro từ trần, người dân Cuba xếp hàng ký tuyên thệ sẽ bảo vệ thành quả cách mạng đã được Fidel định nghĩa lúc sinh thời. Lời thề mà những người dân Cuba đã ký tên cam kết viết: "Chúng tôi sẽ tiếp tục chiến đấu vì những lý tưởng này. Chúng tôi xin thề!".
       Sinh thời, V.I.Lênin từng nêu một luận điểm nổi tiếng: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ”. Tôn trọng sự thật lịch sử cũng là điều được V.I.Lênin đặc biệt quan tâm. Dù sách báo viết về Cách mạng Tháng Mười đã có rất nhiều nhưng V.I.Lênin đánh giá rất cao cuốn sách “Mười ngày rung chuyển thế giới” do nhà báo trẻ người Mỹ John Reed viết, ra mắt lần đầu năm 1919 tại Mỹ. Có lẽ, lý do khiến V.I.Lênin viết thư cho nhà xuất bản, kêu gọi phải in tác phẩm ra hàng triệu bản bằng đủ các thứ tiếng là vì tinh thần tôn trọng sự thật lịch sử. John Reed đã làm được điều đúng như tâm niệm: “Kể lại lịch sử những ngày vĩ đại ấy bằng con mắt của một người ghi chép có lương tâm, cố gắng ghi lại sự thật”.
         Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thấm thía cái giá của độc lập, tự do và để giữ gìn nó, phải biết trân trọng các trang sử truyền thống, biết bảo vệ thành quả cách mạng. Người từng viết: “Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Người cũng thường xuyên nhắc nhở: “Chúng ta phải ra sức bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình, cho nên chúng ta phải củng cố quốc phòng...”. Theo Người: “Tự vệ là bảo vệ lấy mình, lấy gia đình mình, rồi đến thành phố mình, nước mình”.
        Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên (1946) do Người làm Trưởng ban soạn thảo đã có lời nói đầu nêu rõ nhiệm vụ bảo vệ thành quả cách mạng: “Nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ. Được quốc dân giao cho trách nhiệm thảo bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Quốc hội nhận thấy rằng Hiến pháp Việt Nam phải ghi lấy những thành tích vẻ vang của cách mạng và phải xây dựng trên những nguyên tắc dưới đây…”.
Điều 64, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là sự nghiệp của toàn dân… Cơ quan, tổ chức, công dân phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh”.
       Những bài học lịch sử và thực tiễn càng cho chúng ta thấm thía vì sao phải bảo vệ thành quả cách mạng, phê phán và đẩy lùi mọi âm mưu, thủ đoạn hạ thấp thành quả cách mạng, xuyên tạc lịch sử. Hơn lúc nào hết, chúng ta phải luôn bảo vệ sự thật lịch sử, bảo vệ những chiến công, thành quả của cách mạng như những điều thiêng liêng nhất. Những hiện tượng xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ lịch sử phải được coi là hành vi phá hoại, như đào phá vào nền móng, chân tường của ngôi nhà hòa bình, độc lập của Tổ quốc. Với những người là cán bộ, đảng viên thì đó chính là những biểu hiện của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" đã được ghi rõ trong Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII, trong các điều cấm đảng viên không được làm. Đặc biệt, tại Quy định số 102-QĐ/TW năm 2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về việc xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm có nêu rõ phải khai trừ khỏi Đảng những đảng viên: “Cố ý nói, viết có nội dung xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc sự thật, phủ nhận vai trò lãnh đạo và thành quả cách mạng của Đảng và dân tộc”. Đảng viên phải gương mẫu, đồng chí, đồng đội và nhân dân phải tăng cường giám sát việc phát ngôn của cán bộ, đảng viên; không để những biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị nảy sinh kéo dài mà không được chấn chỉnh dẫn đến trượt dài trên vũng bùn sai phạm như một vài cán bộ nghỉ hưu có dấu hiệu "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" gần đây.
          Bảo vệ không chỉ bằng làm tốt việc giáo dục lịch sử, giáo dục truyền thống mà còn phải gắn với bảo vệ thể chế, bảo vệ cuộc sống hòa bình, ổn định, phát triển đất nước, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Thế hệ đi sau trên nền tảng thành quả của người đi trước phải trân trọng, vun đắp và biết phát huy để những thành quả ấy ngày càng đơm hoa, kết trái; để lịch sử như tấm gương soi, giúp thế hệ sau soi vào cả quá khứ và hiện tại, tương lai với sự trân trọng, biết ơn, rút ra những bài học kinh nghiệm quý giá.

Kỷ luật nghiêm minh để quân đội thêm mạnh

       Thời gian qua, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta được đẩy mạnh và đạt được kết quả rất tích cực. Một số cán bộ cấp cao ở các lĩnh vực đã bị kiểm điểm, kỷ luật, kể cả trong công an, quân đội.
Việc một số tướng lĩnh, trong đó có những vị trí cấp cao trong quân đội bị xử lý kỷ luật liên quan tới vấn đề quản lý kinh tế, quản lý đất quốc phòng là điều đáng tiếc, đáng buồn. Chúng ta phải khẳng định, đó chỉ là những hiện tượng cá biệt, không phải vì thế mà làm ảnh hưởng tới thiện chí, thiện cảm, sự tin tưởng, ủng hộ của nhân dân với quân đội. Các vụ việc sai phạm được quân đội xử lý nghiêm túc, kịp thời giúp quân đội càng củng cố được sức mạnh, tính kỷ luật, niềm tin của người dân, tất cả vì lợi ích quốc gia.
        Có thể nhìn nhận, hiện tượng vi phạm kỷ luật, nhất là trong lĩnh vực tài chính là hệ quả của sự thiếu tu dưỡng đạo đức của một số cá nhân. Bên cạnh đó, còn bị nhiều tác động của mặt trái kinh tế thị trường... Thời gian tới, để ngăn chặn những sai phạm cũng như tăng hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong quản lý kinh tế nói chung và trong kết hợp kinh tế với quốc phòng nói riêng, cần tiếp tục rà soát, bổ sung các loại luật định có liên quan tới hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế trong quốc phòng; bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng chặt chẽ, đồng bộ hơn. Đồng thời, cần cụ thể hóa trong từng lĩnh vực, đề cao tính rõ ràng, minh bạch để khi áp dụng không bị lúng túng, không bị lạm dụng, không để mỗi người hiểu, áp dụng theo một kiểu khác nhau để cuối cùng phạm luật. Cùng với đó, hoạt động thông tin tuyên truyền, kiểm tra, cảnh báo phải được làm thường xuyên, kịp thời, tránh trường hợp đuổi theo xử lý hậu quả khi sai phạm đã xảy ra...


          Vì nhiệm vụ cách mạng, với mục tiêu chiến đấu cao cả nên trước đây, những cám dỗ vật chất ấy thường không “đánh gục” được họ. Mặc dù vậy, lịch sử Quân đội ta vẫn chứng kiến vụ việc đau lòng, như vụ án Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục Quân nhu tháng 9-1950, với tội danh biển thủ công quỹ, nhận hối lộ, phá hoại công cuộc kháng chiến… Dẫu phải thức trắng đêm để cân nhắc, xem xét, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn quyết định phải xử nghiêm để làm gương. Sau đó, Trần Dụ Châu bị xử tử hình, tịch thu phần lớn tài sản. Quyết định đó của Bác Hồ giữa lúc cuộc kháng chiến chống Pháp đang trong giai đoạn hết sức khó khăn như một sự cảnh tỉnh tất cả cán bộ, đảng viên, đồng thời, cũng khẳng định một điều, cán bộ cách mạng dù cấp cao đến đâu, nếu vi phạm đều bị xử lý nghiêm minh. Chính quyết định sáng suốt, nghiêm minh ấy của Bác đã lấy lại niềm tin của đông đảo bộ đội và nhân dân, giúp mọi người càng thêm tin tưởng vào cách mạng.          Sau vụ án lịch sử đó, Quân đội ta cũng nhiều lần phải xử lý, kỷ luật cán bộ, trong đó có những người giữ vị trí, chức vụ quan trọng. Các đợt “phẫu thuật” ấy đã làm cho Quân đội ta ngày càng vững mạnh, kỷ luật nghiêm minh, giữ được hình ảnh cao đẹp trước nhân dân. Vì vậy, trong bất cứ giai đoạn nào, những người lính Cụ Hồ vẫn được nhân dân tin tưởng, yêu mến.
Thực tế, trước sự tác động của mặt trái kinh tế thị trường, việc vẫn còn một số cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao không giữ được mình, vi phạm kỷ luật là điều có thể dự báo. Điều mà những cán bộ, đảng viên cao tuổi chúng tôi và đông đảo nhân dân mong muốn là Đảng, Nhà nước, quân đội phải tiếp tục thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng người đúng tội các cá nhân, tập thể vi phạm, tránh vì một số trường hợp cá biệt mà làm hoen ố hình ảnh, danh xưng cao quý Bộ đội Cụ Hồ mà nhân dân đã trao tặng. Qua các vụ việc trên, tôi nghĩ đây cũng là bài học đối với những người cán bộ chủ chốt, chủ trì, người nắm trọng trách ở những vị trí nhạy cảm, liên quan đến tài sản, tiền bạc. Ngoài việc phải gương mẫu, nâng cao năng lực, bản lĩnh, trình độ công tác, phải đặc biệt quan tâm, làm sao chọn được đội ngũ cán bộ tham mưu vừa giỏi chuyên môn, vừa có tâm, có đức để giúp người chỉ huy đưa ra các quyết sách chính xác, phù hợp, tránh để những sự việc đáng tiếc xảy ra.

KHÔNG GIÚP ĐƯỢC VẬT CHẤT HAY TINH THẦN CHỐNG DỊCH THÌ XIN HÃY BỊT KHẨU TRANG VÀ BỚT BỚT CÁI MỒM LẠI

Đợt dịch trước không có người chết thì bảo che giấu thông tin, không minh bạch. Giờ có người chết ghi thông tin tiểu sử bệnh thì phản đối bảo đừng ghi chi tiết bệnh tật của họ làm gì. Rồi có người so sánh với nước ngoài: kiểu như ở Mỹ có người chết họ chỉ nói tử vong vì covid, thế thôi. Nói tóm lại không có người chết hay có người chết thì một cơ số người vẫn nói Chính Phủ VN đang biện minh và không trung thực, người dân không có tiền nên ko được cứu… vân vân mây mây.

Quan điểm của tác giả thấy thế này, chúng ta không chủ quan nhưng đừng có thả những câu vô trách nhiệm như vậy để phủi đi công lao của bao nhiêu y bác sĩ, các chiến sĩ đang chiến đấu, đang hi sinh,… Nếu không có họ thì cũng chẳng có mấy tháng êm đềm vừa rồi để mọi người thoải mái hít thở bầu không khí quen thuộc mà không phải dùng tới khẩu trang và … chém gió rất khỏe đâu.

Thử nhìn sang các nước khác như Mỹ chẳng hạn mặc dù đã tuyên bố là chết vì covid chả ghi liên quan gì đến bệnh nền nhưng họ vẫn chủ quan, vẫn “dẫn đầu” về nhiều con số trong đại dịch đấy! Chúng ta muốn mình giống họ sao?

Trên thế giới ví dụ ở thời điểm này họ cũng chỉ nhìn thấy VN chết 16 ca vì co.vid chứ họ đâu có quan tâm đến tiểu sử bệnh tật của các ca tử vong ấy làm gì.

Tuy nhiên với người dân trong nước thì Chính phủ một mặt vẫn đề cao tinh thần chống dịch như chống giặc mặt khác vẫn đưa thông tin đầy đủ, chính xác để người dân không quá hoang mang về tình hình dịch bệnh cũng như tin tưởng vào nền y học nước nhà lại là điều cần thiết.

Ổ dịch tại bệnh viện Đà Nẵng toàn người bệnh nặng, nhiều người cao tuổi, hệ miễn dịch kém kèm mắc thêm covid thì thực sự là khó cứu nên ghi rõ ra để người dân hiểu, vậy thôi. Và chốt lại có đưa chi tiết tiểu sử bệnh như thế nào thì vẫn tính là ca tử vong vì covid.

Thiết nghĩ mọi người nếu chưa có vật chất để ủng hộ thì có thể động viên về tinh thần. Chứ đừng dùng những lời cay nghiệt mỉa mai để làm cả bản thân và những người đọc được phải tiêu cực ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần của người khác.

Và tóm lại các ông các bà ra đường thì làm ơn đeo cái khẩu trang vào cho người khác nhờ, bớt bớt cái mồm lại cho Nhà nước làm việc./.