Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2020

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ BIẾN ĐỔI XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

 


Cũng giống như trong tự nhiên, mọi xã hội không ngừng biến đổi. Sự ổn định của xã hội chỉ là sự ổn định của bề ngoài, còn thực tế nó không ngừng thay đi bên trong bản thân nó. Bât cứ xã hội nào, cho dù nó có bảo thủ và cổ truyền đến đâu cũng luôn biến đổi. Sự biến đổi trong xã hội hiện đại ngày càng rõ hơn, nhanh hơn, đa dạng, phức tạp hơn.

Biến đổi xã hội là quá trình xã hội trong đó các yếu tố cấu thành xã hội và cả hệ thống xã hội thay đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác[1].

Như vậy, biến đổi xã hội là hiện tượng phổ biến. Bất kỳ một sự thay đổi nào ở thành phần và cấu trúc của xã hội đều được gọi là biến đổi xã hội. Biến đổi xã hội diễn ra ở quy mô, cấu trúc và thành phần của xã hội như nhóm xã hội, vị thế xã hội, văn hóa, mạng lưới xã hội và toàn bộ hệ thống xã hội mà các yếu tố này tạo nên. Cùng với chiều cạnh cấu trúc-hệ thống xã hội còn có chiều cạnh thời gian: bt kỳ sự biến đổi nào cũng diễn ra trong khung thời gian nhất định và có thể là tạm thời, ngắn gọn hoặc bn vững lâu dài.

Sự biến đổi xã hội có thể diễn ra một cách tuần tự, từ từ theo quy luật tiến hóa hoặc diễn ra một cách mạnh mẽ, đột ngột dưới tác động của các cuộc cách mạng xã hội. Sự biến đổi có thể theo chiều hướng tiến bộ, với đặc trưng là trạng thái tiếp theo đạt tới mức hoàn thiện cáo hơn trạng thái trước đó. Cũng có thể biến đổi xã hội theo chiều hướng suy thoái, với biểu hiện là trạng thái tiếp theo kém hơn trạng thái trước đó[2].

Biến đổi xã hội là hiện tượng phổ biến, nhưng nó diễn ra không giống nhau giữa các xã hội. Biến chuyển xã hội có một số đặc trưng như sau: (i) Diễn ra trong những môi trường, các không gian xã hội khác nhau; (ii) Tốc độ và tính chất khác nhau; (iii) Biến đổi xã hội cũng diễn ra trên nhiều phương diện khác nhau; (iv) Vừa có tính tự giác, nhưng cũng mang tính phi kế hoạch, có những biến đổi người ta lường trước, nhưng có những thay đối con người không thể lường được; (v) Biến đổi xã hội vừa mang kết quả tốt, nhưng cũng mang lại nhiều hậu quả xấu; (vi) Có những biến đổi diễn ra trong thời gian ngắn, nhưng cũng có những biến đổi xã hội diễn ra thời gian rất lâu

Ba cấp độ biến đổi xã hội là biến đổi vĩ mô; biến đổi xã hội trung mô; biến đổi vi mô. Biến đổi xã hội ở cấp độ vi mô thể hiện rõ nhất là biến đổi nhận thức, thái độ và hành vi của cá nhân và các nhóm nhỏ. Biến đổi xã hội ở cấp độ trung mô thể hiện rõ nhất là sự biến đổi mô hình tổ chức, cấu trúc tổ chức, chức năng vai trò của tổ chức. Sự biến đổi xã hội ở cấp độ vĩ mô thể hiện rõ nhất là biến đổi của hệ thống cấu trúc xã hội, ví dụ từ truyền thống sang hiện đại, từ nông nghiệp sang công nghiệp . Biến đổi xã hội không song hành, thuận chiều và đồng nhất tự nhiên với phát triển và tiến bộ. Biến đổi xã hội vừa bao hàm những biến đổi nội tại của lĩnh vực xã hội, của từng yếu tố cấu thành lĩnh vực này lại vừa bao hàm, phản ánh những biến đổi với tư cách là hệ quả xã hội từ những biến đổi ngoài lĩnh vực xã hội, của kinh tế, chính trị văn hóa và môi trường tác động vào con người, vào các quan hệ và cấu trúc xã hội. Và, những biến đổi trong các lĩnh vực này không phải là tương dung mà trong không ít trường họp lại mâu thuân với nhau. Rõ nhất là kinh tế tăng trưởng và có những biên đổi tích cực nhưng không tự động dẫn tới những biến đổi xã hội tích cực tương ứng.

Các khía cạnh trong biến đổi xã hội bao gồm: (i) Biến đổi về dân số, (ii) Biến đổi về môi trường, (iii) Biến đi vê chính trị, (iv) Biến đổi về kinh tế, (v) Biến đổi về tư tưởng, (vi) Biến đổi về văn hóa và tôn giáo, (vii) Biến đổi về công nghệ và kỹ thuật.

Qúa trình biến đổi xã hội là quá trình chịu sự tác động bởi nhiu yếu tố, trong đó hoạt động quản lý xã hội đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Điều này thể hiện ở chỗ, hệ thống lý thuyết về phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường tạo nên mô hình bền vững, hài hòa cho sự biển đổi xã hội; hệ thống chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường bảo đảm những điều kiện cụ thể cho sự biến đổi xã hội; đội ngũ những con người thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường bảo đảm những điều kiện thực hiện sự cam kết của xã hội cho biến đổi xã hội; hệ thống thể chế, thiết chế xã hội kiểm soát việc thực hiện các quá trình biến đổi xã hội... Đây là những điều kiện ràng buộc đối với việc thực hiện các điều kiện biến đổi xã hội vì con người, vì sự tiến bộ. Nhận diện những biến đổi xã hội, tức là xem xét nội dung, nguyên nhân, quy mô, xu hướng và tính phức tạp của những biến đổi đó một cách cụ thể.

Biến đổi xã hội ở Việt Nam là một quá trinh “biến đổi kép”, không chỉ là chuyển đổi từ nền văn minh nông nghiệp cổ truyền sang nền văn minh công nghiệp và hiện đại mà đồng thời còn là sự chuyển đổi từ cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường, có sự điều tiết của Nhà nước1. Nghiên cứu biến đổi xã hội ở Việt Nam qua hơn 30 năm vừa qua là nghiên cứu những biến đổi xã hội gắn liền với tiến trình đổi mới đất nước. Biến đổi xã hội ở Việt Nam vừa chịu sự tác động to lớn của lực hút và lực đẩy của bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội trong nước và trên thế giới; của truyền thống và hội nhập quốc tế; của quy luật phát triển không đều giữa các vùng miền, giai tầng xã hội, lĩnh vực; đặc biệt là định hướng xã hội chủ nghĩa chưa có tiền lệ... Trong đó có thể dễ dàng nhận diện biến đổi xã hội trên các chiều cạnh: Biến đổi cấu trúc xã hội; biến đổi phân tầng xã hội; biến đổi thiết chế xã hội/thể chế xã hội; biến đổi quan hệ xã hội; biến đổi hệ thống giá trị, chuẩn mực xã hội; biến đổi nhu cầu lợi ích; biến đổi tâm lý xã hội, mô hình hành vi và lối sống; biến đổi cấu trúc lao động; biến đổi hệ thống phúc lợi xã hội và mạng lưới an sinh xã hội là những biến đổi xã hội điển hình nhất ở Việt Nam trong đổi mới. Đặc biệt, trong cấu trúc xã hội đã và đang biến đổi mạnh mẽ, với sự xuất hiện của các giai tầng xã hội mới. Hiện nay, cấu trúc giai tầng xã hội ở Việt Nam được xác định, bao gồm: (i) công nhân; (ii) nông dân; (iii) tri thức; (iv) doanh nhân; (v) thanh niên; (vi) phụ nữ; (vii) quân đội; (viii) người cao tuổi; (ix) người về hưu; (x) tôn giáo; (xi) dân tộc (các tộc người thiểu số); (xii) công chức, viên chức; (xiii) người Việt Nam ở nước ngoài.

Có thể hiểu quản lý biến đổi xã hội là việc sử dụng hệ thống giá trị chuẩn mực xã hội, chính sách và các thể chế, thiết chế xã hội, thông qua đó các chủ thể tham gia vào hoạt động quản lý biến đổi xã hội.

Quá trình này diễn ra trong môi trường tương tác xã hội giữa chủ thể thuộc hệ thống chính trị và khu vực bên ngoài hệ thông chính trị. Chẳng hạn, nhà nước ban hành các quy tắc, quy định cho biến đổi xã hội; trong khi xã hội xác định rõ lợi ích và hành động tập thể để thúc đẩy biến đổi xã hội theo hướng tích cực. Như vậy, quản lý biến đổi xã hội là đem những tác động của thể chế chính sách, của các nhân tố điều kiện vào đối tượng sao cho đủ sức kích thích tích cực, phát triển đồng thời ngăn chặn hoặc ít ra cũng làm giảm thiểu mặt tiêu cực, thoái triển.

Ngày nay quá trình hiện đại hóa là xu hướng thống lĩnh xã hội đã và đang làm thay đổi thang bậc giá trị, chuẩn mực trong xã hội, nhiều giá trị và quy tắc được định hướng và xác lập trong quá khứ nhưng không còn được chấp nhận trong thòi kỳ hiện đại và ngược lại. Xã hội Việt Nam đang diễn ra quá trình biến đổi xã hội nhanh chóng và sự vận động phức tạp khó lường. Điều này đặt ra yêu cầu phải chuyển đổi mô hình, phương thức quản lý xã hội từ truyền thống sang hiện đại. Để đảm bảo sự biến đổi đúng định hướng cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự tham gia của mọi giai tầng xã hội một cách chủ động, sáng tạo, dựa trên nền tảng tri thức khoa học và nhìn thẳng vào sự thật xã hội. Có thể dễ nhận thấy ở cấp độ vi mô, có nhiều biến đổi tích cực hơn là ở cấp độ trung và vĩ mô; biến đổi xã hội ở tầm ngắn hạn có nhiều biểu hiện tích cực hơn là nhìn biến đổi xã hội trong chiều canh dài hạn; so sánh sự biến đổi xã hội trước năm 1986 so với giai đoạn hiện nay có nhiều thay đổi nhanh chóng, tích cực nhưng so với yêu cầu của thực tiễn và so với các quốc gia có cùng điều kiện tương tự thì chúng ta lại thấy sự biến đổi xã hội ờ Việt Nam hiện nay đang đặt ra rất nhiều vấn đề. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu phải tăng cường các hoạt động quản lý biến đổi xã hội.

Để tăng cường tính chủ động, hiệu quả và hiệu lực của quản lý biến đổi xã hội ở Việt Nam hiện nay, cần chú ý thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, hoạch định và thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước phải hết sức chú ý tới vấn đề biến đổi xã hội, hướng tới quản lý biến đổi xã hội.

Do biến đổi xã hội luôn có tầm quan trọng chiến lược, làm thay đổi nhận thức từ chủ thể lãnh đạo, quản lý, có thẩm quyền ra các quyết sách, đường lối và chính sách. Biến đổi xã hội có ý nghĩa sâu xa và to lớn hơn, ở chỗ, mọi chính sách phải hướng tới phục vụ lợi ích và phát triển các tiểm năng sáng tạo của con người, coi con người là mục tiêu và động lực của đổi mói và phát triển, do đó con người trở thành tiêu điểm của mọi chính sách. Vì vậy, trong hoạt động quản lý biến đổi xã hội cần chú trọng tới lợi ích vả nhu cầu của xã hội. Tức là chú trọng tới nhân tố quan trọng hàng đầu của lực lượng sản xuất và của phát triển xã hội nói chung. Muốn vậy, trước hết cần phải có sự thay đổi trong nhận thức việc hoạch định đường lối của Đảng, xây dựng và điều chỉnh chính sách, luật pháp, cơ chế quản lý của Nhà nước phải hướng tới phát triển, theo đuổi mục tiêu phát triển bền vững.

Hai là, quản lý biến đổi xã hội được thực hiện đồng bộ bởi hệ thống chính trị và bên ngoài hệ thống chính trị. Muốn hoạt động quản lý biến đổi xã hội tốt cần đảm bảo các yêu cầu: (i)Tầm nhìn; (il) Những giá trị côt lõi (mục tiêu); (iii) Hành động và chương trình hành động; (iv) Chủ thể tổ chức thực hiện; (v) Lực lượng xã hội tham gia (đó là cộng đồng xã hội); (vi) Những điều kiện thúc đẩy hỗ trợ phát triển; (vii) Hiệu ứng xã hội, hiệu quả, kết quả để thụ hưởng, để tiếp tục tái sinh sự phát triển theo hướng tiên bộ, tích cực[3].

Ba là, đẩy mạnh việc hoàn thiện các công cụ quản lý biến đổi xã hội phù hợp với đối tượng chịu sự tác động của biến đổi xã hội. Công cụ tác động tới quản lý biến đổi xã hội là thể chế, thiết chế, chính sách...Còn đối tượng tiếp nhận biến đổi, hoặc được thụ hưởng lợi ích từ những biến đổi xã hội tích cực hoặc phải chịu những thiệt hại từ những biến đổi xã hội tiêu cực là con người, nhóm xã hội, cộng đồng hoặc toàn bộ xã hội. Một yêu cầu đặt ra để xử lý tốt mối quan hệ này là cần xem xét những biến đổi xã hội từ phương diện con người - hoạt động và chính sách là xem xét sự vận động, tác động qua lại giữa chủ thể - đối tượng và đối tượng - chủ thể . Trên cơ sở đó, tập trung vào xây dựng khuôn khổ pháp lý để bảo vệ quyền của các nhóm xã hội; phát triển khuôn khổ pháp lý; thúc đẩy tiếng nói và trách nhiệm giải trình; tiếp cận công lý, bảo trợ xã hội, phát triển ngành; phân tâng xã hội, cơ động xã hội, di chuyển dân cư, dịch chuyển lao động.

Bổn là, biến đổi xã hội theo nghĩa lành mạnh, tích cực không thể không diễn ra tự phát mà phải được chủ động kiến tạo và phải thực sự là đối tượng của quản lý xã hội. Vì vậy, quản lý biến đổi xã hội cần được thực hiện thông qua hệ thống kiểm soát biến đổi xã hội trên tất cả các cấp độ, lĩnh vực; quản lý sự biến đổi xã hội ở từng thành phần của hệ thống xã hội và mổi quan hệ giữa các thành phân; trong điêu kiện bình thường và không bình thường. Cụ thể, hệ thông kiểm soát biến đổi xã hội bao gồm: hệ thống kiểm soát biên đổi dân số, biến đổi môi trường tự nhiên, biến đổi về chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn háa, công nghệ và kỹ thuật, tôn giáo...

Năm là, quản lý biến đổi xã hội là một đòi hỏi tất yếu khách quan, nhằm đưa sự biến đổi xã hội đi vào quỹ đạo tiến bộ xã hội, tích cực, công bằng. Trong đó con người được giải phóng được phát triển toàn diện. Trình độ quản lý biến đổi xã hội phản ánh trình độ phát triển xã hội của một quốc gia dân tộc. Do đó, phải quản lý biến đổi xã hội dựa trên nguyên tắc vì con người, vì sự phát triển xã hội hài hòa, bền vững.

Tóm lại, biến đổi xã hội ở Việt Nam sẽ vận động theo hướng tích cực nếu như được hiện thực hóa thành công những điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị và môi trường. Đông thời, tạo ra được một cơ chế dân chủ đ mọi chủ thể trong xã hội có thể tham gia kiểm soát được quá trình biến đổi xã hội, xây dựng hệ thống tiêu chí khách quan và toàn diện trong đánh giá biển đổi xã hội. Biến đổi xã hội chỉ diễn ra theo hướng tích cực nếu như thực hiện được tính toàn diện và tính đồng bộ, do lực lượng xã hội tiến bộ tác động, cùng với những điều kiện tích cực cho sự phát triển.



[1] Lê Ngọc Hùng (2010), Các cấp độ và xu hướng biến đồi xã hội ở Việt Nam hiện nay nhìn từ góc độ xcf hội học, Tạp chí Thông tin Khoa học xă hội số 4, tr 7.

[2] Lê Ngọc Hùng (2010), tài liệu đã dẫn, tr 7.

[3] Hoàng Chí Bảo (2008), tài liệu đã dẫn.

ĐEO KHẨU TRANG LÀ VIỆC LÀM BẮT BUỘC TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

 


Hiện nay tuy dịch COVID-19 đã cơ bản được khống chế, nhưng nguy cơ lây nhiễm trở lại là rất cao, bởi vì, hiện nay dịch bùng phát mạnh ở nhiều nước trên thế giới; hơn thế nữa, chúng ta đang mở cửa giao thương với một số nước ngoài, cùng với đó công tác quản lý người nhập cảnh, người cách ly của chúng ta cũng chưa được chặt chẽ.

Trong những ngày gần đây, ở trên đường, nơi công cộng số người không đeo khẩu trang chiếm nhiều hơn số người đeo khẩu trang, đây là điểm báo động rất nguy hiểm nếu như dịch bệnh bùng phát lại thì tỷ lệ lây nhiễm của chúng ta rất cao. Nếu như ai cũng có ý thức đeo khẩu trang khi tiếp súc với người khác, thì cho dù dịch bùng phát trở lại, chắc chắn số người mắc sẽ ít, chúng ta sẽ lại nhanh chóng khống chế được dịch bệnh.

 

Mục tiêu phát triển xã hội ở Việt Nam

 


Trong một thời gian dài, quản lý xã hội vốn được hiểu là một chức năng của Nhà nước đối với các lĩnh vực xã hội (không phải là kinh tế hay an ninh quốc phòng) như: văn hóa, thể thao, việc làm, dân số - kế hoạch hóa gia đình, bảo hiểm và an sinh xã hội. Quản lý xã hội theo nghĩa này gắn liền với việc lập kế hoạch và tổ chức thực hiện các hoạt động hướng tới mục tiêu cụ thể của từng lĩnh vực. Ví dụ: đảm bảo tỷ lệ có việc làm; mức độ bao phủ của bảo hiểm xã hội tự nguyện...          

Quá trình hiện đại hóa và toàn cầu hóa đưa đến nhận thức về sự không đồng bộ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển xã hội. Trong nhiều trường hợp, tăng trường kinh tế để lại hậu quả nặng nề về môi trường và xã hội, về xã hội, đó là bất bình đẳng trong hường thụ thành quả tăng trưởng kinh tế, phân hóa và phân cực xã hội, thiếu việc làm và thất nghiệp, xói mòn các giá trị đạo đức văn hóa, mất niềm tin vào xã hội và tương lai cũng như các vấn đề xã hội mang tính toàn cầu như di cư, tị nạn chiến tranh và nhân đạo, bệnh dịch xã hội, tội phạm xuyên biên giới...

Trong bối cảnh đó, sự phát triển của một quốc gia nói riêng và thế giới nói chung, đã và đang được nhìn nhận lại từ hệ quy chiếu mới về phát triển bền vững trên cả ba chiều cạnh: kinh tế - xã hội - môi trường (Báo cáo tương lai chung của chúng ta, ủy ban Liên hợp quốc về môi trường và phát triển thế giới - WCED năm 1987). Các thể chế quản trị quốc gia cũng có những thay đổi mạnh mẽ đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, đưa người dân thành chủ thể trung tâm của phát triển.

Liên hợp quốc nhìn nhận phát triển xã hội một cách rộng nhất là quá trình chuyển đổi dẫn đến sự cải thiện cuộc sổng con người, cải thiện các quan hệ xã hội và thể chế xã hội hướng đến tính bình đẳng, bền vững và phù hợp với các nguyên lý về quản trị dân chù và công bằng xã hội

Theo nghĩa rộng nhất này, phát triển xã hội một mặt bao gồm các thành tựu trong các lĩnh vực xã hội như: giáo dục, y tế, tiếp cận thông tin... mặt khác là những thành tựu về quan hệ xã hội và thể chế xã hội nhằm đảm bảo an ninh, phẩm giá và sư hòa nhập của con người với xã hội.

Trong thực tiễn lãnh đạo, quản lý, có thể sử dụng cách tiếp cận hẹp hơn về phát triển xã hội để giúp định hướng và lập kế hoạch cho các mục tiêu: Xác định các lĩnh vực quan trọng trong phát triển xã hội, nội dung và vai trò của chúng đối với phát triển xã hội; phân tích điểm yếu, điểm mạnh trong từng lĩnh vực hoạt động xã hội cụ thể, từ đó xây dựng chiến lược phát huy điểm mạnh, khắc phục hoặc hạn chế điểm yếu để tiếp tục phát triển. Đây là quan niệm về phát triển xã hội phổ biến nhất, có tính thực tiễn cao, vì nó chỉ ra Nhà nước và các chủ thể có liên quan khác cần làm gì, khi nào, ở đâu và sử dụng nguồn lực gì. Các quốc gia đều có các chiến lược phát triển xã hội được trình bày theo hình thức liệt kê các lĩnh vực ưu tiên.

Với cách nhìn nhận như trên, tám mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) được Liên hợp quốc công bố cho giai đoạn 2000- 2015 đã trở thành mục tiêu phát triển chung cho gần 200 quốc gia trên thế giới. Trong đó có sáu trên tám (từ 1 đến 6) mục tiêu trực tiếp liên quan đến phát triển xã hội, một mục tiêu về môi trường và một mục tiêu liên quan đến quản trị toàn cầu đối với phát triển.Tám mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, giai đoạn 2000-2015, đó là:

Mục tiêu 1. Xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói

Mục tiêu 2. Phổ cập giáo dục tiểu học

Mục tiêu 3. Tăng cường bình đẳng nam - nữ và nâng cao vị thế phụ nữ

Mục tiêu 4. Giảm tử vong trẻ em .

Mục tiêu 5. Tăng cường sức khỏe bà mẹ

Mục tiêu 6. Phòng, chống HIV/AIDS, sốt rét và các dịch bệnh nguy hiểm

Mục tiêu 7. Đảm bảo bền vững môi trường

Mục tiêu 8. Thiết lập mối quan hệ toàn cầu vì phát triền

Năm 2015, Liên hợp quốc tiếp tục công bố các mục tiêu phát triền bền vững (SDGs) cho Chương trình nghị sự 2030. Mười bảy mục tiêu này đã bao quát toàn diện hơn các vấn đề xã hội đang gây cản trở phát triển như nghèo đói (mục tiêu 1, 2), các tiến trình xã hội mang tính lâu dài mà các quốc gia phải đối mặt như: bất bình đẳng xã hội (mục tiêu 10), các hành vi xã hội như tiêu dùng (mục tiêu 12) và phương thức, cơ chế quản lý phát triển xã hội hiệu quả

Mục tiêu 1. Chấm dứt mọi hình thức nghèo ở mọi nơi

Mục tiêu 2. Xóa đói, bảo đảm an ninh lương thực, cải thiện dinh dường và thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững

Mục tiêu 3. Bảo đảm cuộc sống khỏe mạnh và tăng cường phúc lợi mọi người mọi lứa tuổi          

Mục tiêu 4. Đảm bảo nền giáo dục có chất lượng, công bằng toà Ị diện và thúc đẩy các cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người

Mục tiêu 5. Đạt được bình đẳng giói; tăng quyền và tạo cơ hội ch phụ nữ và trẻ em gái

Mục tiêu 6. Đảm bảo đầy đủ và quản lý bền vững tài nguyê nước và hệ thống vệ sinh cho tất cả mọi người

Mục tiêu 7. Đảm bảo khả năng tiếp cận nguòn năng lượng bền vững, đáng tin cậy và có khả năng chi trả cho tất cả mọi người

Mục tiêu 8. Đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững, toàn diện liên tục; tạo việc làm đày đủ, năng suất và việc làm tốt cho tất cả mọi người

Mục tiêu 9. Xây dựng cơ sở hạ tầng có khả năng chống chịu cao thúc đẩy công nghiệp hóa bao trùm và bền vững, tăng cường đổi mới

Mục tiêu 10. Giảm bất bình đẳng trong xã hội

Mục tiêu 11. Phát triển đô thị, nông thôn bền vững, có khả năng chống chịu; đảm bảo môi trường sống và làm việc an toàn- phân bố hợp lý dân cư và lao động theo vùng

Mục tiêu 12. Đảm bảo sản xuất và tiêu dùng bền vững

Mục tiêu 13. ứng phó kịp thòi, hiệu quả với biến đổi khí hậu và thiên tai

Mục tiêu 14. Bảo tồn và sử dụng bền vững đại dương, biển và nguồn lọi biển đế phát triển bền vững

Mục tiêu 15. Bảo vệ và phát triển rừng bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển dịch vụ hệ sinh thái, chống sa mạc hóa, ngăn chặn suy thoái và phục hòi tài nguyên đất

Mục tiêu 16. Thúc đẩy xã hội hòa bình, dân chủ, công bầng, bình đẳng, văn minh vi sự phát triển bền vững, tạo khá năng tiếp cận công lý cho tất cả mọi người; xây dựng các thể chế hiệu quả, có trách nhiệm giải trình và có sự tham gia các cấp

Mục tiêu 17. Tăng cường phương thức thực hiện và thúc đẩy đối tác toàn cầu vì sự phát triển bền vững.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những nhận thức sớm về tiến bộ xã hội và công bằng xã hội trong lãnh đạo sự nghiệp xây dựng đất nước Quan điểm “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong tng bước và từng chính sách phát triển” ngày càng được hoàn thiện thông qua các kỳ Đại hội Đảng từ khóa VIII năm 1996 đến nay.

Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986-2016) nhận định: Đảng đã nhận thức ngày càng cụ thể và đầy đủ hơn tầm quan trọng, mục tiêu và nội dung của việc giải quyết các vấn đề xã hội, đặc biệt là an sinh xã hội, phúc lợi xã hội.. Nhận thức rõ hơn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; vai trò của chính sách xã hội, sự thống nhất và kết họp hài hòa giữa chính sách kinh tế với chính sách xã hội .

Qua hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được các thành tựu nồi bật về phát triển xã hội, đặc biệt trong xóa đói giảm nghèo, phổ cập giáo dục phổ thông, dân số và sức khỏe... Việt Nam là một trong những quốc gia đi đầu trong thực hiện các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDGs), hoàn thành nhiều chỉ tiêu quan trọng của các mục tiêu phát triển xã hội. Đặc biệt là đã thực hiện tốt chỉ tiêu giảm nghèo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thực hiện nhiều chính sách để ổn định, từng bước nâng cao đời sống nhân dân2. Đến năm 2016, Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng đã xác định các mục tiêu phát triền bền vững trong Chương trình nghị sự 2030 là một thành tố quan trọng của nhiệm vụ đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đa hóa đất nước.

Bên cạnh đó, các yếu kém trong quản lý xã hội và phát triển xã hội cũng đã được chỉ rõ cả ở phương diện tư duy nhận thức: “Chưa nhận thức đầy đủ vai trò, tầm quan trọng của việc giải quyết các vấn đề xã hội, của mô hình, phương thức phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội trong các chiến lược phát triển” và phương diện: hành động cụ thể: “Sự phát triển các lĩnh vực, các vùng, miền thiếu đồng bộ. Việc giải quyết một số vấn đề xã hội chưa hiệu quả; mục tiêu xây dựng quan hệ hài hòa giữa các lĩnh vực, ngành nghề, vùng, miền chưa đạt yêu cầu; giảm nghèo chưa bền vững, chênh lệch giàu - nghèo và bất bình đẳng có xu hướng gia tăng. Nhiều lĩnh vực của phát triển bền vững chưa được nghiên cứu đầy đủ. Quản lý phát trin xã hội chưa xác định rõ định hướng và những nhiệm vụ mang tính tồng thể, đồng bộ, liên vùng, liên ngành, liên lĩnh vực, còn bị chia cắt theo địa giói hành chính, lĩnh vực quản lý. Hệ thống chính sách, pháp luật chưa đồng bộ. Chưa thể chế hóa và chưa có sự quản lý thống nhất ở cấp vĩ mô về phát triển xã hội bền vững. Hệ thống văn bản pháp lý về phát triển của từng ngành, địa phương chưa đồng bộ, thiếu nhất quán; nhiều kế hoạch phát triển cùa từng lĩnh vực, địa phương chưa chú ý đúng mức đến phát triển xã hội bền vững của vùng, liên vùng và quốc gia”.

Khái niệm “quản lý phát triển xã hội” lần đầu tiên được đưa văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, th hiện cách tiếp cận mới trong quản trị đất nước. Điều này xuất phát từ nhu cầu quản lý phát triển xã hội chưa đồng bộ với quản lý phát triển các phân hệ - lĩnh vực khác của đời sống; xuất phát từ tính đăc thù của lĩnh vực xã hội không hoàn toàn áp dụng các phương pháp quản lý hành chính, hay tuân theo quy luật của thị trường đầy đủ, mà bị chi phối rất lớn của các thể chế phi chính thức. Quản lý phát triển xã hội là một cấu trúc đa dạng, ở chiều cạnh này có khi bị điều chỉnh bởi thề chế chính thức, còn ở chiều cạnh khác lại chịu điều chỉnh các thể chế phi chính thức; có chiều cạnh mang nội dung kinh tế chiu điều chỉnh bởi quan hệ thị trường không đầy đủ, nhưng nội dung khác lại mang tính phi kinh tế chịu điều chỉnh bởi giá trị văn hóa, đạo đức .

Chủ thể quản lý phát triển xã hội rất đa dạng, gồm: Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các tổ chức xã hội, tổ chức cộng đồng và nhân dân. Trong đó, Nhà nước là chủ thể quan trọng, có trách nhiệm hoạch định thể chế, chiến lược, kế hoạch cho phát triển xã hội; bảo đảm cho mọi thành viên xã hội bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực và phát huy cao nhất năng lực của minh; điều tiết các mất cân đối do thị trường tạo ra; trực tiếp chăm lo và dẫn dắt ở những khâu mà thị trường không làm; hỗ trợ phát triển các đối tượng, cộng đồng, vùng, miền thua thiệt về cơ hội phát triển; khuyến khích tư nhân và cộng đồng tham gia phát triển xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau. Các tổ chức chính trị-xã hội, nghề nghiệp và tổ chức xã hội, tổ chức cộng đồng đa dạng khác là chủ thể nòng cốt của quản lý phát triển xã hội. Nhân dân là chủ thể quyết định của quản lý phát triển xã hội. Đối tác của các chủ thể quản lý phát triển xã hội là doanh nghiệp, các tổ chức cung ứng vụ xã hội và gia đình1.

Về phương thức, quản lý phát triển xã hội rất đa dạng, linh hoạt, phù hợp với nhu cầu, mục tiêu và thực tiễn của quản lý xã hôi Do tính đa dạng của chủ thể và đối tác tham gia đã dẫn tới sự đa dạng hóa nguồn lực tài chính cho quản lý phát triển xã hội. Từ sự đa dạng hóa chủ thể, đối tác tham dự và nguồn lực tài chính tất yếu phải đa dạng hóa phương thức tổ chức quản lý phát triển xã hội.

Về nội dung, bản chất của quản lý phát triển xã hội phải thật sự bảo đảm phát triển chất lượng cuộc sống của nhân dân; coi nhân dân là chủ thể phát triển xã hội và quyền làm chủ đó được tôn trọng và bảo vệ; gia đình là tế bào xã hội phải hòa thuận, cộng đồng hài hòa; môi trường xã hội an toàn, lành mạnh; con người phát triển toàn diện, có cơ hội cống hiến và hưởng thụ thành quả của sự phát triển

Về mục tiêu, quản lý phát triển xã hội phải thể hiện được tinh thần tự đổi mới, tự hoàn thiện, củng cố, phát triển; theo dõi biến đổi cấu trúc giai tầng xã hội để điều chỉnh; tạo sự đồng thuận xã hội thông qua giải pháp đối thoại, thương lượng; dân chủ hóa; tăng cường kỷ cương pháp luật; đề cao trách nhiệm của nhân dân là chù thể phát triển xã hội, là nền tảng để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Về chức năng, quản lý phát triển xã hội bao gồm năm chức năng quản lý, đó là: hoạch định, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và điều chỉnh.

Như vậy, quản lý phát triển ở Việt Nam đã được nhận thức và thực hiện rất tốt, đúng theo nhận thức và hành động chung của thế giới. Hiện nay quản lý xã hội ở Việt Nam đã thực sự mang lại cơm no áo ấm và hạnh phúc cho toàn dân, làm cho thế và lực, uy tín trên trường quốc tế của đất nước ngày càng nâng cao.

Không được chủ quan trong chống dịch COVID- 19

 


Hiện nay đã qua hơn 40 ngày chúng ta không có ca mắc mới COVID-19 trong cộng đồng. Đây là thành công lớn trong phòng, chống dịch của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành, toàn thể xã hội. Tuy nhiên, trong khi chúng ta kiềm chế được dịch thì trên thế giới nhiều nước vẫn đang bị dịch bùng phát rất mạnh mẽ, đang hoành hành mọi hoạt động của thế giới nhất là hoạt động kinh tế- xã hội.

Hiện nay chúng ta cũng đang dần mở cửa để các hoạt động với nước ngoài được trở lại bình thường. Như vậy chúng ta tuy đã kiểm soát được dịch, nhưng chúng ta đang sống ở một khu vực mà xung quanh đầy nước, nước có thể tràn vào bất cứ lúc nào. Như vậy, thì chúng ta phải xác định rằng, chúng ta phải có các hoạt động sống chung với dịch bệnh, có như vậy, khi dịch bùng phát trở lại, chúng ta mới không bất ngờ, mới kịp thời phòng chống dịch được.

 Hiện nay tôi cho rằng, vấn đề đeo khẩu trang, thực hiện giãn cách; các biện pháp phòng dịch: rửa tay đúng quy định, bảo đảm nhà ở, nơi công sở, tập trung thông thoáng…cần phải được thực hiện theo những chế định rất cụ thể, để đảm bảo toàn dân coi việc đeo khẩu tra và các biện pháp đã kể trên là việc bắt buộc, những việc làm tuy nhỏ nhưng có ý nghĩa lớn đối với xã hội. Vì vậy, cho dù dịch đã được kiểm soát, nhưng chúng ta phải duy trì rất nghiêm túc những vấn đề trên thì nguy cơ bùng phát dịch mới bị đẩy lùi. Còn nếu chúng ta mà chủ quan như hiện nay, thì nguy cơ bùng phát dịch trở lại là rất cao. 

 

TÍNH ƯU VIỆT TRONG QUẢN LÝ XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

 


Quản lý xã hội là sự tác động có định hướng, có tổ chức của các chủ thể   nhà nước và xã hội đến các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm mục tiêu phát  triển xã hội hài hòa và bền vững.

 Quản lý xã hội về bản chất là hoạt động quản lý, có chức năng định hướng, điều chỉnh các hành vi, hoạt động của các thành phần xã hội và toàn xã hội nhằm đảm bảo phát triển bao trùm, bền vững. Ngoại diên của khái niệm  quản lý xã hội nhỏ hơn so với phạm vi của quản lý nói chung. Nếu cả xã hội được chia ra thành 3 bộ phận: Bộ phận chính trị, bộ phận kinh tế và bộ phận xã hội, thì quản lý xã hội chủ yếu đề cập đến việc quản lý lĩnh vực xã hội của hoạt động xã hội.

 Chủ thể quản lý: Quản lý xã hội được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Một mặt, Nhà nước trực tiếp thực hiện các hoạt động quản lý theo thẩm quyền, chức năng của mình; mặt khác, kiến tạo môi trường, thể chế để các chủ thể khác (mà chủ yếu là các đoàn thể, các tổ chức xã hội khác nhau, các cá nhân và doanh nghiệp) chủ động tham gia quản lý xã hội. Các mối quan hệ quản lý giữa các cơ quan quản lý đa cấp, đa dạng có thể khác nhau trong các khu vực khác nhau.; Ví dụ, một tổ chức trong trường hợp này là chủ thể quản lý, nhưng trong trường hợp khác là đối tượng bị quản lý.

 Khách thể quản lý: là con người, cộng đồng, các quan hệ xã hội, hoạt động xã hội, cấu trúc xã hội, chức năng xã hội

 Phương tiện quản lý: Phương tiện cơ bản của hệ thống quản lý xã hội bao gồm các chuẩn mực xã hội, không chỉ là các chuẩn mực cứng như luật, lệ, quy định, chính sách mà còn cả các chuẩn mực mềm như đạo đức, giá trị. Đối với Đảng và Nhà nước thì pháp luật, quy định, chính sách là những phương tiện chính yếu của quản lý xã hội; tuy nhiên cũng không nên bỏ qua các chuẩn mực mềm.

 Mục đích và nhiệm vụ: Quản lý xã hội có rất nhiều mục tiêu và nhiệm vụ khác nhau, đó là: duy trì trật tự xã hội, điều chỉnh hành vi xã hội, thúc đẩy sự hài hòa xã hội và giải quyết các xung đột xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội, đối phó với rủi ro xã hội và làm giảm các mâu thuẫn xã hội, kiểm soát xung đột xã hội, làm cầu nối giữa các khác biệt xã hội.. .Trong số đó, giải quyêt xung đột xã hội và duy trì trật tự xã hội là mục tiêu và nhiệm vụ bao trùm của quản lý xã hội.

 Thiết chế xã hội trong quản lý xã hội: Chính trị, kinh tế, pháp luật, gia đình, văn hóa, giáo dục, tôn giáo, truyền thông, dư luận xã hội.

 Quá trình quản lý xã hội bao gồm các hoạt động: Thiết lập các tiêu chuẩn, các chỉ báo của quản lý xã hội; Phân loại các vấn đề của quản lý xã hội; Áp dụng phương pháp quản lý khoa học giải quyết vấn đề; Lập kế hoạch về việc thực hiện nhiệm vụ quản lý xã hội; Dự báo xu hướng vận động phát triển của xã hội.

Theo như phân tích ở trên, quản lý xã hội XHCN ở Việt Nam cũng thực hiện theo đúng tính chất, nội dung chung của quản lý xã hội, tuy nhiên quản lý xã hội ở Việt Nam mang đậm bản chất quản lý xã hội của chế độ xã hội chủ nghĩa- chế độ của dân, do dân, vì dân, mục tiêu trong quản lý xã hội tất cả vì hạnh phúc của nhân dân. Đây là mục tiêu ngàn đời nay các thế hệ ông cha hằng mong ước. Chính vì vậy, trong quản lý xã hội ỏ Việt Nam luôn lấy mục tiêu chung là tất cả vì con người, coi con người là trung tâm của sự phát triển; lấy sự phát triển bền vững con người thành trục chủ đạo của mọi hoạt động của đời sống xã hội. Từ quan điểm trên cho nên hiện nay thế và lực của đất nước đang trên đà lớn mạnh. Dân tin Đảng; Đảng hợp lòng dân. Đảng, dân cùng chung tay xây đắp cơ đồ. Có thể nói trong thời gian qua nhất là trong thời kỳ đổi mới, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, nhất là trên lĩnh vực kinh tế. Hiện nay mức sống của người dân không ngừng được nâng lên; chính trị, an ninh của đất nước ổn định; văn hóa xã hội ngày càng có bước phát triển uy tín của đát nước, trên trường quốc tế ngỳ càng cao. Đặc biệt qua chống dịch COVID- 19 từ đầu năm đến nay, uy tín của Việt Nam đang làm nức lòng bè bạn năm châu về quản lý xã hội trong phòng, chống dịch. Với một đất nước không lớn, tiềm lực và trình độ y học còn ở mức độ rất khiêm tốn, nhưng với một niềm tin vào sự nghiệp cách mạng; với lòng yêu nước, ý chí quyết tâm cao; và cao hơn cả là Đảng yêu dân, thương dân, không để ai bị bỏ lại phía sau, Việt Nam đã chống dịch thành công. Có được những thành tựu trên do nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân rất quan trọng là do chúng ta quản lý xã hội tốt. Đó là quản lý xã hội của chế độ xã hội chủ nghĩa, của một Đảng chân chính, lấy chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động.

 

TÂM LÝ CHỦ QUAN CÒN ĐÈ NẶNG TRONG CHỐNG DỊCH COVID- 19

 

Những ngày gần đây những ca mắc COVID- 19 đã giảm dần, nhưng nguy cơ lây nhiễm COVID vẫn là rất cao, bởi vì cơ chế lây lan của COVID- 19 còn tiềm ẩn nhiều bí mật mà  y học nhân loại chua tìm hieeur hết; đồng thời dịch còn đang bùng phát ở nhiều nước trên thế giới. Hiện nay ở nhiều nơi nhất là thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng…, có rất nhiều người với tâm lý chủ quan là dịch chỉ lây ở ổ dịch, mà quên đi nhiều biện pháp chống dịch như đeo khẩu trang; thực hiện giãn cách; đi ra ngoài đường khi không có việc cần thiết v.v… Với những biểu hiện trên, nguy bùng phát dịch trở lại là rất cao. Để thực hiện tốt hơn lúc nào hết, các cấp, các ngành, từng gia đình cá nhân phải thực hiện nghiêm mọi chỉ thị, quy định của chính phủ và các địa phương, đồng thời phải phát huy yếu tố tự giác, trách nhiệm, lòng yêu nước của mỗi con người Việt Nam. Có như vậy chúng ta mới chống được dịch.

Hãy tỉnh mộng đi hỡi các nhà "dân chủ".

 Muốn hoà bình mãi mãi thì phải chuẩn bị mọi điều kiện tốt nhất cho chiến tranh! Mới nghe qua tưởng như phi lý nhưng thức tế đó lại là triết lý của thời đại. Lịch sử dân tộc đã chứng minh rõ nét điều đó. Khi nào đất nước ta hùng mạnh, trên dưới đồng lòng thì không kẻ thù nào dám dòm ngó và ngược lại. Lê Hoàn đánh Tống trên cơ sở "thực túc binh cường". Lý Thường Kiệt bắc đánh Tống, nam bình Chiêm Thành; Hưng Đạo Vương lột vó ngựa của quân Nguyên Mông, Lê Lợi diệt Minh khấu, Quang Trung bắc phạt đuổi quân Thanh, nam chinh trừ Xiêm La. Thời đại Hồ Chí Minh, chúng ta đánh Pháp, đuổi Mỹ, Nhật, Tưởng, chinh phạt Pôn Pốt. Tất cả những anh hùng kể trên, gắn với từng thời kỳ lịch sử khác nhau nhưng có điểm chung là: TẬP HỢP ĐƯỢC NHÂN DÂN, TẠO RA SỨC MẠNH CỦA KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT ĐỂ DIỆT GIẶC. 


Muốn giữ vững độc lập, chủ quyền thì cái cốt yếu là dựa vào sức mình chứ không phải là cậy sức người. Cụ Hồ dạy "lấy sức ta mà giải phóng ta" là thế! Tàu, Mỹ hay nước nào cũng chỉ vì lợi ích của họ. Chẳng ai giúp ta bảo vệ ta mà họ không được cái gì cả. Chẳng ai khờ khạo đến mức tin đám dân chủ cuội về cái gọi là bài trừ Trung Quốc, làm đồng minh Mỹ để được bảo vệ. Gương Philippines, Hàn Quốc, Nhật Bản đã rõ. Nhật, Hàn hàng năm phải nuôi báo cô quân đội Mỹ, Phillipines theo Mỹ kiện tàu và mất bãi cạn Scarborough. Ngụy Sài Gòn theo Mỹ mất Hoàng Sa và nhiều đảo thuộc Trường Sa vào tay Trung Quốc, Đài Loan, Phillipines, Malaysia, Campuchia. Mỹ chưa bao giờ từ bỏ mưu đồ xoá bỏ chế độ ta. Ta cũng chẳng lệ thuộc tàu vì suy cho cùng họ chỉ muốn những nước láng giềng như Triều Tiên ở bắc, chúng ta ở phía nam làm phên dậu cho họ, tạo vùng đệm an toàn chứ không muốn ta mạnh lên. Trung Quốc không muốn ta và Triều Tiên thống nhất là thế. Họ dùng chính sách "viễn giao cận công" để xâm chiếm, bành trướng đối với các nước lân cận, trong đó có biển, đảo của ta. 

Một quốc gia hùng mạnh thật sự khi và chỉ khi quốc gia đó đứng trên đôi chân của mình. Việt Nam không bài trừ ai, cũng chẳng lệ thuộc ai. Thời đại này không thể "bế quan tỏa cảng" nên ta vẫn là bạn với tất cả các nước nhưng cũng chẳng bao giờ cho phép bất kỳ nước nào xem thường, xâm phạm chủ quyền, lợi ích của quốc gia. Chúng ta tự lực, tự cường, tranh thủ sức mạnh của thời đại để phát triển đất nước. Chuẩn bị mọi phương án để sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng bất kỳ kẻ thù xâm lược nào. Chỉ người Việt Nam mới có thể bảo vệ đất nước Việt Nam! Bài tàu theo Mỹ hay bài Mỹ theo tàu đều là lí luận của kẻ bất trí, vì như thế chẳng khác nào "đuổi hùm cửa trước, rước beo cửa sau".  Hãy tỉnh mộng đi hỡi các nhà "dân chủ"./

Hải Đăng st

Tu do tin nguong ton giao chinh dang cua nhan dan

   
        Những năm gần đây, bất cứ chủ trương, chính sách nào liên quan đến việc bảo đảm quyền tự do TNTG ở Việt Nam dù đang trong quá trình soạn thảo, lấy ý kiến nhân dân hay vừa được ban hành, cũng dễ bị nhìn bằng con mắt soi mói của những người thiếu thiện chí với Việt Nam, thậm chí trở thành “mảnh đất màu mỡ” cho các thế lực thù địch, phần tử bất mãn và những kẻ cơ hội “đội lốt” tôn giáo dễ bề “tung hoành” để chống phá cách mạng Việt Nam.
       Trung tuần tháng 9/2020 vừa qua, khi cơ quan Nhà nước lấy ý kiến của các tầng lớp nhân dân góp ý vào Dự thảo Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực TNTG, một vài cơ quan báo chí nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam và những “nhà đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền” nhân cơ hội này đưa ra những ý kiến bình luận lệch lạc, sai trái, thậm chí có cái nhìn hằn học về tình hình tôn giáo ở nước ta. Không chỉ lặp lại những lời “lu loa” trắng trợn như: “Cộng sản Việt Nam chưa bao giờ từ bỏ thái độ thù địch với tôn giáo”, “Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam đang kìm kẹp, trói tay các tôn giáo”, “Luật TNTG 2016 kiểm soát mọi yếu tố của các tôn giáo nhằm áp đặt cơ chế “xin-cho” bất công, phi lý và nghiệt ngã, ngõ hầu không chế toàn diện mọi giáo hội” (!), những kẻ chống phá còn “kêu gào” bác bỏ dự thảo nghị định xử phạt hành chính trong lĩnh vực TNTG với “lý sự” rằng: Nghị định này ra đời sẽ “dò xét, kiểm soát chặt chẽ mọi hoạt động của các tôn giáo” và “hạn chế các tôn giáo không chịu sự chi phối của Đảng, Nhà nước” (!).
       Cái “lý sự” trên xem ra không thuyết phục được dư luận chân chính vì tự thân nó đã thể hiện một thái độ hằn học, mà cũng không được đông đảo các tầng lớp giáo dân yêu nước chấp nhận bởi nó không phản ánh đúng tình hình tự do TNTG ở Việt Nam.        Luật Ban hành văn bản pháp luật của nước ta đã quy định, hệ thống văn bản pháp luật hiện nay bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật ở nhiều cấp độ giá trị pháp lý khác nhau, do nhiều chủ thể ban hành theo luật định. Bất cứ bộ luật nào sau khi được Quốc hội thông qua, Chính phủ đều phải ban hành nghị định liên quan để cụ thể hóa những điều trong luật nhằm triển khai, áp dụng trong thực tiễn cuộc sống. Theo thông lệ, sau khi Luật TNTG được Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XIV thông qua vào tháng 11-2016, Chính phủ đã xây dựng Dự thảo Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực TNTG.
        Để thực hiện và bảo đảm quyền tự do TNTG của nhân dân theo Hiến pháp và pháp luật, căn cứ tình hình thực tiễn các hoạt động TNTG ở Việt Nam và nghiên cứu, tham khảo luật pháp quốc tế về vấn đề TNTG, những năm qua, Nhà nước ta luôn tạo điều kiện cho các công dân được bày tỏ niềm tin TNTG mà mình ngưỡng vọng, tôn thờ, đồng thời được thực hành giáo lý, giáo luật, nghi lễ tôn giáo theo đúng tinh thần “tốt đời, đẹp đạo”. Bên cạnh đó, chính quyền các địa phương cũng tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo tu bổ, xây dựng các cơ sở tôn giáo, như chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường và cấp giấy quyền sử dụng đất hợp pháp cho các cơ sở tôn giáo.
       Tuy nhiên, thời gian qua, trong khi đa số đồng bào tôn giáo luôn sống phúc âm trong lòng dân tộc, gắn bó hài hòa giữa việc đạo và việc đời, thì cũng có một bộ phận người dân theo đạo biểu hiện thái độ, hành vi ứng xử không phù hợp với cả giáo lý và pháp luật, đi ngược lại với mục tiêu chung của đất nước. Đáng tiếc, một bộ phận giáo dân nhẹ dạ cả tin bị một số phần tử quá khích lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo và lợi dụng vấn đề ô nhiễm môi trường biển miền Trung do doanh nghiệp Formosa gây ra để kích động bà con tập tụ đông người trước công sở, gây mất an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Thậm chí có những kẻ công khai chống đối chính quyền, lôi kéo giáo dân đi “tuần hành, biểu tình” nhằm “đòi quyền lợi” nhưng thực chất là gây rối trật tự an toàn xã hội. Cá biệt có kẻ đã cố tình cản trở bà con thực hiện quyền, nghĩa vụ công dân và lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi. Những thái độ hành vi đó không chỉ làm phương hại đến an ninh trật tự, mà còn ảnh hưởng đến đạo đức cộng đồng, do vậy nhất thiết phải có chế tài xử lý theo luật định.
         Điểm 2, Điều 64, Luật TNTG 2016, quy định:  “Căn cứ quy định của Luật này và Luật xử lý vi phạm hành chính, Chính phủ quy định hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; thẩm quyền xử phạt, mức phạt cụ thể và thẩm quyền lập biên bản đối với hành vi vi phạm hành chính; chế độ áp dụng các biện pháp xử lý hành chính trong lĩnh vực TNTG”.
       Như vậy, Quốc hội giao Chính phủ ban hành Nghị định xử phạt hành chính trong lĩnh vực TNTG là đúng trình tự, đúng thẩm quyền, chứ không phải là tự ý ban hành Dự thảo Nghị định xử phạt vi phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực TNTG như một số ý kiến đã bịa đặt. Cũng cần nhắc lại rằng, với ý đồ “xuyên tạc hóa” vấn đề, những người thiếu thiện chí, những kẻ cơ hội, bất mãn bao giờ cũng chỉ nhăm nhăm nhìn về một phía, tức là họ cố tình “khoét sâu” vào việc chính quyền sẽ tiến hành xử phạt đối với những hành vi lợi dụng tự do TNTG xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường và đạo đức xã hội. Trong khi đó, Điều 65, Luật TNTG 2016 cũng quy định về việc xử lý cán bộ, công chức vi phạm pháp luật về TNTG cũng phải chịu các trách nhiệm pháp lý tương ứng với tính chất, mức độ vi phạm của mình. Nghĩa là, không chỉ công dân, giáo dân, mà bất cứ cán bộ, công chức nào vi phạm pháp luật về TNTG cũng bị xử lý nghiêm minh, bình đẳng trước pháp luật. Điều đó thêm một lần khẳng định ở Việt Nam, “luật pháp bất vị thân” là nguyên tắc tối thượng để thể hiện rõ sự công minh của nhà nước pháp quyền.

Canh giac danh trao khai niem Toi pham


        Cách đây hơn 10 năm, vào tháng 3-2007, Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Hà Nội khởi tố, bắt tạm giam về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”. Thời điểm đó, khi lực lượng chức năng khám xét nơi ở và văn phòng luật sư của Đài phát hiện hàng chục tài liệu, bài viết có nội dung xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam, hòng chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Lần ấy, Nguyễn Văn Đài đã bị Tòa án Nhân dân TP Hà Nội xét xử công khai và tuyên phạt 5 năm tù (phiên phúc thẩm hạ xuống còn 4 năm tù). Sau khi mãn hạn tù, Nguyễn Văn Đài được trở về địa phương. Những tưởng Đài sẽ ăn năn hối cải, nhưng rồi y vẫn “chứng nào tật nấy”, tiếp tục lún sâu vào con đường sai lầm chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, tuyên truyền gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phục vụ mưu đồ chính trị. Việc làm của Đài lại được một số cá nhân, tổ chức cả trong và ngoài nước hà hơi tiếp sức, tung hô, khiến cho sự ảo tưởng của y ngày càng lớn, hành động ngày càng ngông cuồng, bất chấp pháp luật. Cùng với một số đối tượng khác, Đài lập và tham gia vào các hội, nhóm, hòng gây dựng lực lượng, tổ chức các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc Hiến pháp và pháp luật, chủ trương, chính sách của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Mục đích của Đài và các đồng phạm là muốn tạo sự ảnh hưởng trong dư luận, gây ra làn sóng đấu tranh, nhằm tiến tới lật đổ chính quyền nhân dân. Hành vi của Đài và đồng phạm đã phạm vào các Điều 88 và 79 của Bộ luật Hình sự.
        Còn đối với đối tượng Hoàng Đức Bình, năm 2016, lợi dụng sự cố ô nhiễm môi trường tại các tỉnh ven biển Bắc miền Trung, Bình tự xưng là “Phó chủ tịch phong trào lao động Việt”, cấu kết với một số đối tượng, lập ra cái gọi là “Hiệp hội ngư dân miền Trung” với ý đồ tổ chức, tập hợp lực lượng, lôi kéo giáo dân, ngư dân một số địa phương miền Trung tham gia vào các tổ chức, tìm chọn “hạt nhân” kích động biểu tình, phá rối an ninh trật tự trên địa bàn. Theo thông tin từ cơ quan Cảnh sát điều tra tỉnh Nghệ An, ngày 2-4-2017, Hoàng Đức Bình và Bạch Hồng Quyền đã tổ chức kích động quần chúng giáo xứ Trung Nghĩa (xã Thạch Bằng, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh) bao vây, tấn công tổ tuần tra của Công an huyện Lộc Hà và Công an xã Thạch Bằng. Hành động của Bình và một số giáo dân nơi đây đã làm bị thương một cán bộ công an. Họ cũng đã bao vây, đập phá tài sản nhà Trưởng công an xã Thạch Bằng, rồi sau đó kéo lên trụ sở Công an huyện, UBND huyện Lộc Hà gây rối an ninh trật tự...
        Đối với Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, cơ quan điều tra xác định: Từ năm 2012 đến 2016, Quỳnh đã sử dụng mạng xã hội tạo blog, lập tài khoản facebook với các nick name: Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Mẹ Nấm, Mẹ Nấm Gấu, Nguyen Nhu Quynh để đăng nhiều bài viết, clip có nội dung xuyên tạc sự thật, xuyên tạc lịch sử, chống lại đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Quỳnh cũng đăng tải nhiều bài viết có tính chất hướng lái sự việc, hiện tượng, khiến người đọc hiểu sai bản chất sự việc, bôi nhọ hình ảnh Công an nhân dân, hòng gây mất đoàn kết giữa người dân với chính quyền, làm giảm uy tín của lực lượng vũ trang với nhân dân…
       Như vậy, hành vi phạm tội của các đối tượng trên là rất rõ ràng. Vì vậy, việc cơ quan chức năng khởi tố, bắt giữ Nguyễn Văn Đài cùng đồng phạm; bắt giữ Hoàng Đức Bình, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh để xử lý theo quy định của pháp luật chính là thể hiện sự tôn nghiêm và công bằng của pháp luật Việt Nam. Đây cũng là phương pháp tích cực nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân, bảo vệ thành quả của cách mạng mà bao thế hệ người Việt Nam đã hy sinh xương máu để gây dựng, gìn giữ.
       Cần phải khẳng định rằng, việc một số trang báo mạng, một số tổ chức nhân quyền ở nước ngoài, một số tổ chức gọi là “xã hội dân sự” cùng một số cá nhân lên tiếng bênh vực cho Đài và đồng phạm thực chất là hành vi cơ hội chính trị, cố tình xuyên tạc hệ thống pháp luật và cơ quan bảo vệ pháp luật của Việt Nam. Xem lại nội dung những bài viết đăng tải trên các trang báo mạng của các tổ chức nói trên thì thấy, hầu hết những bài viết đều mang tính chất xoi mói và phủ nhận những thành quả của Việt Nam trong lĩnh vực bảo đảm quyền tự do dân chủ, tự do tôn giáo của nhân dân. Họ dựa vào những sự việc đơn lẻ xảy ra trong các lĩnh vực như quản lý kinh tế, xã hội, duy trì trật tự, an ninh... để cố tình viết bài thổi phồng, rồi chụp mũ cho rằng những sự việc đó “xuất phát từ bản chất xã hội”, hoặc xuất phát từ “sai lầm trong đường lối lãnh đạo” của Đảng Cộng sản Việt Nam. Gần như bài viết nào họ cũng cố đưa thêm các bình luận của những người vốn không có thiện cảm với Đảng Cộng sản và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Vì vậy, các bài viết đều bộc lộ rõ tính chất thiên lệch, chỉ nêu lên cái hạn chế mà cố ý lờ đi sự tiến bộ, phát triển của đất nước Việt Nam, sự cải thiện rõ rệt về đời sống vật chất, tinh thần của người dân Việt Nam. Điều đó đủ thấy, mục đích của các trang mạng, các tổ chức, cá nhân nói trên chính là muốn làm giảm uy tín lãnh đạo của Đảng Cộng sản và vai trò quản lý xã hội của Nhà nước Việt Nam trước nhân dân, thúc đẩy cái gọi là “xã hội dân sự” phát triển, hòng tiến tới lật đổ chính quyền nhân dân.
       Trên thực tế, kể từ năm 1945 đến nay, quyền công dân, quyền tự do dân chủ của mỗi cá nhân luôn được Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam) tôn trọng và bảo vệ. Các quyền đó đã được hiến định rõ ràng trong Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013. Chẳng hạn các quyền như: Quyền bình đẳng trước pháp luật (Điều 16); Quyền sống (Điều 19); Quyền có nơi ở hợp pháp (Điều 22); Quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội (Điều 28); Không bị tra tấn, truy bức, nhục hình (Điều 20, khoản 1)...; Quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34); Các quyền về hưởng thụ văn hóa (Điều 41); Quyền sống trong môi trường trong lành (Điều 43); Quyền tố tụng xét xử công bằng (Điều 31)... Các quyền này đã bảo đảm mở rộng phạm vi bảo vệ của Hiến pháp đối với các quyền con người, quyền công dân trên cả hai lĩnh vực chính trị và dân sự. Bên cạnh các quyền, Hiến pháp cũng quy định các nghĩa vụ mà công dân phải thực hiện như: Nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác (Điều 15); Nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc (Điều 44); Nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật; tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, chấp hành các quy tắc sinh hoạt công cộng (Điều 46)... Như vậy, chiểu theo các quy định của Hiến pháp thì các đối tượng như Đài, Bình, Quỳnh... đã vi phạm các nghĩa vụ của công dân và có hành vi xâm phạm vào quyền của các tổ chức, cá nhân khác. Những hành vi như thế tất yếu phải được xử lý trước pháp luật.
Mỗi quốc gia đều có một hệ thống pháp luật của riêng mình, được soạn thảo, ban hành dựa vào thực tiễn của đất nước đó, đồng thời có sự thống nhất và tuân thủ các quy chuẩn của luật pháp quốc tế. Cho nên không thể lấy tiêu chí luật pháp, tiêu chí tự do dân chủ của nước này để quy chiếu và áp dụng đối với nước khác. Việc Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam duy trì hệ thống luật pháp của mình, xử lý công dân của mình khi họ phạm tội theo quy định của pháp luật là điều hoàn toàn đúng đắn. Do đó, mưu đồ đánh tráo khái niệm tội phạm theo quy định của pháp luật Việt Nam bằng khái niệm “tù nhân lương tâm” như một số tổ chức, cá nhân ở trong nước và nước ngoài đã sử dụng vừa qua là điều mà Nhà nước và nhân dân Việt Nam không thể chấp nhận.

Tu dien bien, tu chuyen hoa ve dao duc, loi song


         Những người có tư tưởng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về đạo đức, lối sống thường là những người thiếu tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức, lối sống, nên dần bị tha hóa, bị cái xấu lấn lướt những cái tích cực trong con người mình. Đại hội lần thứ XII của Đảng đã nhận định: “Tình trạng thiếu trách nhiệm, cơ hội, suy thoái đạo đức, lối sống vẫn diễn ra khá phổ biến trong một bộ phận cán bộ, đảng viên”. Đó chính là sự yếu kém, mất dần cái tốt, cái tiến bộ, làm tăng dần cái xấu, cái lạc hậu, làm chậm lại quá trình phát triển và dẫn đến sự thoái hóa, biến chất của chính bản thân con người và tổ chức.
       Suy thoái về đạo đức, lối sống còn biểu hiện ở việc du nhập lối sống tư sản thực dụng, sống buông thả, ngại học tập, phấn đấu, rèn luyện. Có một bộ phận sa vào tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè, sử dụng ma túy, buôn lậu… và tha hóa về quan hệ gia đình, quan hệ xã hội. Những người này thường không còn nhiệt huyết cách mạng, tính tích cực bị giảm sút, phẩm chất cách mạng bị xói mòn. Những cán bộ, đảng viên có quyền lực mà rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về đạo đức, lối sống ngoài việc ngại rèn luyện, lười suy nghĩ, lười học tập… họ còn hình thành những “cơ chế ngầm”, tạo “cánh hẩu” để bảo vệ, bao che cho nhau, trù dập những người thẳng thắn, có thái độ đấu tranh phê bình. Họ du nhập, bắt chước lối sống tư sản, coi đó là "lẽ sống của thời đại", trong khi đó họ lại coi thường lẽ phải, đạo lý.
     Suy thoái về đạo đức, lối sống tất dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị. Ở mức độ này có thể gọi là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trầm trọng. Họ rất có thể sẽ chuyển hóa thành đối tượng phản động, chống lại Tổ quốc, chống lại Đảng, chế độ và nhân dân. Thực tế hiện nay đã có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên bị thoái hóa về đạo đức, lối sống, đúng như Hội nghị Trung ương lần thứ tư (khóa XII) nhận định: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…”. Đây là sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” rất nguy hiểm về đạo đức, lối sống ở nước ta hiện nay, nên cần phải nhận diễn cho rõ và đấu tranh, chấn chỉnh, loại bỏ.

Xuyen tac thong tin, thu doanj nguy hiem


       Những ngày gần đây trên một số trang báo mạng và mạng xã hội rộ lên những thông tin như: “Chính phủ Đức dừng cấp thị thực (visa) cho công dân Việt Nam”; “người dân Hải Dương phản đối công ty gây ô nhiễm môi trường, xảy ra xô xát với cảnh sát”; “lãnh đạo Đà Nẵng bị kỷ luật”... Trước hết, cần phải xác định rằng những thông tin nêu trên có một phần sự thật và đã được các cơ quan chức năng giải đáp rõ ràng. Chẳng hạn, ngay sau khi trên mạng tán phát thông tin “Chính phủ Đức tạm dừng cấp thị thực cho công dân Việt Nam” một ngày, Đại sứ quán Đức đã ra thông báo chính thức cải chính thông tin và giải thích là do hệ thống làm thủ tục cấp thị thực bị quá tải nên thời gian chờ đợi có thể sẽ kéo dài hàng tuần. Vì thế, Đại sứ quán Đức khuyên những công dân Việt Nam có kế hoạch sang Đức cần chủ động liên hệ, đặt kế hoạch với Đại sứ quán, hoặc Tổng lãnh sự Đức tại TP Hồ Chí Minh để được đáp ứng yêu cầu về thị thực. Những người Việt Nam đang sống trên đất Đức cũng khẳng định đó là “tin vịt”, bởi họ không hề nhận được một thông báo nào về việc Chính phủ Đức dừng cấp thị thực cho công dân Việt Nam. Hoặc thông tin về việc kỷ luật hai cán bộ chủ chốt của TP Đà Nẵng cũng đã được Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam thông báo rất rõ ràng về tính chất, mức độ vi phạm của từng cán bộ. Ấy thế nhưng sự việc trên lại được một số người tự nhận là “đấu tranh cho dân chủ” thêu dệt trong các cuộc bàn luận kiểu “tọa đàm”, sau đó dựng thành clip tán phát trên một số trang báo mạng vốn thiếu thiện cảm với Việt Nam. Nghe các cuộc “tọa đàm” này mới thấy sự nham hiểm và trắng trợn của những người có nghề bịa đặt và xuyên tạc thông tin. Họ cứ kẻ tung người hứng, dẫn dắt người nghe từ những sự việc bình thường, có thật (như việc kỷ luật cán bộ tại Đà Nẵng) đến những suy luận mà họ cho là logic theo ý chí chủ quan của họ. Trong thông tin về kỷ luật cán bộ tại Đà Nẵng, sau một hồi suy luận, đưa đẩy thì họ cho rằng “đây là sự đấu đá nội bộ trước Hội nghị Trung ương 6”. Trên thực tế, việc kiểm tra (đối với các đảng viên, tổ chức đảng có dấu hiệu vi phạm) và thi hành kỷ luật Đảng (đối với các đảng viên vi phạm) là một việc làm thường xuyên của Đảng Cộng sản Việt Nam và đã được tiến hành liên tục, rộng rãi từ Ban Chấp hành Trung ương tới chi bộ suốt từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đến nay. Việc kỷ luật một đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng là việc làm tất yếu để làm trong sạch nội bộ Đảng. Thế cho nên chỉ những kẻ mang mưu đồ trục lợi (về kinh tế, hoặc chính trị) lại chuyên nghề “thọc gậy bánh xe” mới có thể suy luận thiếu căn cứ, rồi quy kết một cách bừa bãi hòng đánh lừa dư luận.
       Xem xét các thông tin mà một nhóm người chuyên tạo dựng và được hỗ trợ bởi một số trang báo mạng thì thấy: Thứ nhất, hầu hết các thông tin đều ở dạng “mập mờ”, thiếu căn cứ, nên người đọc có muốn kiểm chứng cũng khó. Chẳng hạn như trong thông tin “người dân xã Lai Vu (huyện Kim Thành) xô xát với công an Hải Dương” ngày 25-9, một trang báo mạng đưa ra một số nhân vật kiểu như “một người tên là S. cho biết”, hoặc “một người tên là Y. nói rằng...” tức là tất cả nhân vật đều ở dạng phiếm chỉ, không rõ ràng tên họ, địa chỉ, nói bao giờ.           Những người thường xuyên đọc báo, tiếp nhận thông tin thì đều nhận thấy không thể tin tưởng vào người đã viết ra bài báo như trên và cũng không thể tin tưởng vào những thông tin do các nhân vật có tên trong bài báo cung cấp. Trên thực tế, đúng sáng ngày 25-9, đích thân Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương Nguyễn Dương Thái có cuộc đối thoại thẳng thắn với người dân xã Lai Vu. Tại buổi đối thoại này, Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương đã đưa ra những giải pháp phối hợp với các cơ quan chức năng của Trung ương giải quyết triệt để các vấn đề tồn đọng, giám sát chặt chẽ 24/24 giờ đối với việc xả thải của các công ty (trong Khu công nghiệp Lai Vu) thông qua hệ thống quan trắc. Ông Thái cũng đề nghị nhân dân cùng tham gia với chính quyền và cơ quan chức năng giám sát việc xả thải của các công ty. Đó là cách giải quyết vấn đề một cách thỏa đáng của chính quyền địa phương. Còn việc giải tỏa các lều bạt mà người dân tự ý dựng lên trái phép gần cổng ra vào Khu công nghiệp Lai Vu, gây cản trở giao thông là việc làm cần thiết của chính quyền địa phương. Ở bất cứ đất nước nào có pháp luật cũng vậy, việc người dân tự ý giải quyết các vướng mắc, tranh chấp theo kiểu chủ quan, tiêu cực là điều không thể chấp nhận. Tất cả sai phạm, vi phạm của các bên đều phải được phân xử theo quy định của pháp luật. Đó chính là cách giải quyết thượng tôn pháp luật, hành xử tiến bộ.
     Thứ hai, thông tin trong các bài viết, video clip đều được thực hiện kiểu dẫn dắt vòng vo, thông tin nọ dính vào thông tin kia, sự việc nọ gắn vào sự việc kia, nhắm tới mục tiêu cuối cùng là nói xấu Đảng Cộng sản Việt Nam, xuyên tạc vai trò của Nhà nước, phủ nhận chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Có nhiều clip chỉ là một đoạn video hoặc là một vài hình ảnh tĩnh nhặt nhạnh trên mạng, sau đó được đối tượng cắt ghép, lặp qua, lặp lại tạo cớ minh họa cho lời bình. Đây là cách làm phổ biến của những người chuyên lắp ghép thông tin và lại được hỗ trợ đắc lực bởi các trang mạng xã hội, nhất là các trang như Youtube, Facebook... hoặc các trang báo mạng như BBC, VOA... và các trang blog cá nhân. Có nhiều đoạn clip chứa đựng những thông tin xuyên tạc sự thật một cách trắng trợn, kèm những hình ảnh cắt ghép lộ liễu, thế nhưng người đọc lời bình trong các clip ấy vẫn vô tư “lải nhải”, hệt như não bộ của họ đã được lập trình giống con robot. Cách đây chưa lâu, có hai vị tiến sĩ ngồi bình luận trên BBC về mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với một số nước. Sau mấy câu mào đầu, mọi người cứ nghĩ họ bình luận thẳng thắn, vô tư, ích nước, lợi dân, nhưng chỉ vài câu sau họ đã "lòi cái đuôi" cá nhân, với những suy luận hoàn toàn chủ quan, chụp mũ về quan hệ ngoại giao của Việt Nam với một số nước, trong đó có Liên bang Đức. Rồi từ những lập luận của mình, họ suy đoán là sắp tới Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ làm như thế này, như thế kia và đối tác sẽ hành động như thế này, như thế kia v.v.. tựa hồ trên thế giới chỉ có họ mới là người nắm được thông tin và hiểu biết tất cả. Sự ngộ nhận chủ quan, kết hợp với sự tha hóa đến mức thậm tệ về đạo đức của một số người đã tạo ra những thông tin méo mó, hoàn toàn sai sự thật, khiến người nghe/đọc mất thời gian để nghi ngờ, tìm hiểu. Điều tệ hại hơn, nó làm ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, doanh nghiệp, ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân (như trong trường hợp blog Người buôn giótán phát thông tin sai sự thật về việc Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam bị bắt hồi tháng 8-2017 làm ảnh hưởng tới hoạt động của nhiều ngân hàng), gây bất ổn trong xã hội.         Thứ ba, điều cốt yếu của thông tin là tính trung thực và đặc trưng của nó là giải quyết đầy đủ các câu hỏi thông thường, như: Ai? Cái gì? Bao giờ? Ở đâu và như thế nào? Những người cung cấp thông tin nghiêm túc đều lấy việc giải quyết các câu hỏi trên làm trọng, nên mới tạo được sự tin tưởng đối với người tiếp nhận thông tin. Thế nhưng đối với những người chuyên xuyên tạc, lắp ghép thông tin, họ lại không tôn trọng những yếu tố đặc trưng cơ bản đó mà thường lấp liếm, tránh né các câu hỏi nhằm vào hai mục đích là tạo ra sự có vẻ như “bí mật” của thông tin và khơi gợi trí tò mò của người đọc/nghe. Từ đó, họ hướng người đọc/nghe đến mục tiêu cuối cùng là xuyên tạc một lĩnh vực nào đó, hoặc là đường lối lãnh đạo của Đảng, hoặc là việc xây dựng, duy trì hệ thống pháp luật của Nhà nước... Thế nên thông tin của họ thường không có đầu, không có cuối, không có chỉ dẫn, xác định về không gian, thời gian.
       Chống lại và loại bỏ những dạng thông tin như đã nêu trên ra khỏi đời sống xã hội, tạo môi trường trong sạch về thông tin là việc làm rất cần thiết và cần làm mấy việc chủ yếu như sau: Trước hết, mỗi người đọc/nghe phải có sự “tĩnh tâm” để nhận biết thật-giả khi tiếp nhận thông tin. Qua xem xét, chúng tôi thấy tất cả thông tin (bài viết/nói, đoạn video clip...) mập mờ về địa chỉ, nhân vật, không gian, thời gian, cung cấp thông tin dạng một chiều v.v.. đều có dấu hiệu của sự giả tạo, lừa bịp. Thứ hai, trước những thông tin có dấu hiệu xuyên tạc, trái chiều, các cơ quan chức năng cần nhanh chóng công bố thông tin chính thống để phản bác lại thông tin bịa đặt, góp phần định hướng dư luận. Về vấn đề này phải tích cực phát huy vai trò của người phát ngôn, cơ quan phát ngôn đã được quy định trong Nghị định số 09/2017/NĐ-CP ngày 9-2-2017 của Chính phủ Quy định chi tiết về phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan hành chính nhà nước. Thứ ba, các cơ quan chức năng cần vào cuộc, điều tra, xử lý các đối tượng tung tin bịa đặt và cả các đối tượng tiếp tay cho sự bịa đặt ấy lan truyền trong xã hội theo quy định của pháp luật Việt Nam. Thứ tư, cần tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục để mọi tầng lớp nhân dân nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của những người chuyên xuyên tạc thông tin, từ đó mà cảnh giác, đề phòng.

Khong the xuyen tac, phu nhan muc tieu doc lap dan toc va CNXH


        “Lựa chọn lại” mục tiêu, con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn; đòi chúng ta phải từ bỏ con đường CNXH, muốn đất nước ta lùi về giai đoạn dân chủ nhân dân, đòi đổi tên Đảng, tên nước, công khai hô hào đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Họ lập luận rằng, đường lối phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là chắp vá, là không tưởng. Gần đây, họ cho rằng, con đường mà Việt Nam muốn đi là thứ chủ nghĩa tư bản theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng con đường này không thể thành công vì không thể nào giải quyết thỏa hiệp giữa hai chủ nghĩa đối lập nhau!
        Thực hiện mưu đồ này, chúng ra sức bôi đen CNXH hiện thực, bác bỏ con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, công khai ca ngợi chế độ tư bản chủ nghĩa và ra sức cổ súy, tô son, trát phấn cho chủ nghĩa tư bản, rằng chủ nghĩa tư bản đã thay đổi bản chất, chủ nghĩa tư bản có thể hội tụ với CNXH trong thời đại hậu công nghiệp, văn minh tin học!
       Họ lấy một số khuyết điểm, yếu kém của ta về quản lý kinh tế, quản lý xã hội để quy chụp cho bản chất của CNXH, xuyên tạc rằng, ở nước ta không có CNXH. Trong khi nước ta đang ở trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH, họ lại đòi hỏi những nhân tố của CNXH phải xuất hiện đầy đủ ngay ở nước ta. Tiến công vào đường lối của Đảng, các thế lực thù địch cho rằng, phải phát triển chủ nghĩa tư bản dưới sự lãnh đạo của Đảng, giải quyết những vấn đề xã hội ở chừng mực nào đó theo CNXH dân chủ!         Những luận điệu nói trên của các thế lực thù địch và những kẻ cơ hội không có mục đích nào khác là gây sự hoài nghi; phá vỡ sự đồng thuận xã hội, làm suy giảm niềm tin của nhân dân ta đối với mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước; tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, đưa nước ta đi vào con đường tư bản chủ nghĩa. Chính vì vậy, việc đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch; củng cố, giữ vững sự kiên định niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta vào mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH là nhiệm vụ vô cùng quan trọng của cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên mặt trận tư tưởng, lý luận ở nước ta hiện nay.
        Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định: “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH-ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và mai sau. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện CNXH và CNXH là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc”(1). Đây là một sự tổng kết lịch sử cách mạng Việt Nam, vạch rõ nguồn gốc sâu xa mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, chỉ rõ mục tiêu, lý tưởng mà toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải tiếp tục kiên định trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam.
     Hơn 85 năm qua, đó là khoảng thời gian đủ để mỗi người Việt Nam kiểm nghiệm và rút ra kết luận về sự đúng đắn, sáng tạo của mục tiêu, con đường độc lập dân tộc và CNXH mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn. Nhìn lại lịch sử cách mạng Việt Nam trong hơn 85 năm qua cho thấy, độc lập dân tộc và CNXH đã được Đảng ta xác định là mục tiêu, là cái đích phải đến của cách mạng Việt Nam ngay từ Cương lĩnh Chính trị đầu tiên của Đảng (1930). Từ đó cho đến nay, độc lập dân tộc và CNXH luôn luôn là ngọn cờ dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
      Giải quyết đúng đắn mối quan hệ gắn kết chặt chẽ giữa độc lập dân tộc và CNXH trong từng thời kỳ cách mạng là nét độc đáo, sáng tạo, thể hiện bản lĩnh và trí tuệ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ lịch sử, căn cứ vào tình hình của thế giới, khu vực và đất nước, căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng; trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ đường lối, nhiệm vụ để thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH phù hợp với yêu cầu của lịch sử.
      Đặc biệt, khi nước ta tiến hành công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tình hình thế giới, khu vực có những biến đổi to lớn và cực kỳ phức tạp. Độc lập dân tộc và CNXH đứng trước những khó khăn, thách thức mới. Trước những biến cố của lịch sử trong những thập niên 90 của thế kỷ 20, công cuộc cải cách, cải tổ, đổi mới CNXH đã trở thành một đòi hỏi tất yếu nhằm khắc phục những hạn chế, khiếm khuyết, sai lầm trong quá trình xây dựng CNXH ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu; tìm ra con đường phát triển thích hợp của CNXH hiện thực đối với mỗi nước.
      Trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, Đảng ta khẳng định, đổi mới không phải là từ bỏ mục tiêu CNXH mà chính là để đạt mục tiêu đó một cách có hiệu quả bằng những phương pháp, bước đi thích hợp, phù hợp với quy luật để nhanh chóng đưa đất nước thoát  khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; khắc phục sự tụt hậu, chệch hướng, gắn tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Từ thực tiễn tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã tổng kết, rút ra một trong những bài học quan trọng: “Trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh”(2).
       Trong thời kỳ mới, Đảng ta xác định độc lập dân tộc và CNXH tiếp tục là kim chỉ nam cho sự nghiệp đổi mới đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Tuy nhiên, mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH cần được bổ sung, phát triển cho phù hợp với những đặc điểm về chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học và công nghệ của thời đại và tình hình đất nước. Kết hợp độc lập dân tộc và CNXH phải đặt trong xu thế phát triển của thời đại và quá trình vận động của các nhân tố dân tộc, giai cấp trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, của xu thế toàn cầu hóa. Quan hệ giữa các quốc gia-dân tộc trên thế giới được hình thành và vận động trên cơ sở tác động tổng hợp của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc và đấu tranh giải quyết những vấn đề toàn cầu. Sự kết hợp, đan xen và thống nhất giữa lợi ích dân tộc, giai cấp, quốc tế tạo ra động lực mới cho sự phát triển các quan hệ quốc tế trong thời đại ngày nay.
       Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. Độc lập dân tộc và CNXH là hai mặt của một quá trình thống nhất biện chứng của sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Đương nhiên, hành trình đi tới mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, cùng với những thời cơ, thuận lợi mới, chúng ta vẫn còn gặp phải những khó khăn, thách thức mới.
V.I.Lê-nin đã từng căn dặn những người cộng sản, không bao giờ được chán nản hoặc rơi vào tuyệt vọng. Cần phải kiên định con đường đã chọn, biết củng cố, nuôi dưỡng niềm tin vào thắng lợi ngay cả trong những thời điểm, những hoàn cảnh khó khăn nhất. Trong mọi hoàn cảnh, mọi tình huống, phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; không bi quan, dao động, mất niềm tin trước những khó khăn, thử thách. Phải nhạy cảm nắm bắt cái mới, giữ vững nguyên tắc chiến lược, đồng thời, phải linh hoạt, mềm dẻo về sách lược, theo phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” để thực hiện mục tiêu, con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và CNXH, xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.