Chủ Nhật, 5 tháng 12, 2021

 

Giữ vững niềm tin chính trị của nhân dân với Đảng

Niềm tin của nhân dân với Đảng là cội nguồn sức mạnh làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm tới việc giữ vững niềm tin chính trị của nhân dân, bởi như phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bế mạc Hội nghị Trung ương 6 khóa XII: “Ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”(1). Để tiếp tục củng cố và nhân lên sức mạnh của niềm tin chính trị của nhân dân, Đại hội XIII của Đảng đã đề ra những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể để mỗi cấp ủy và tổ chức đảng quán triệt và phấn đấu thực hiện.

Niềm tin chính trị của nhân dân - yếu tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, niềm tin là một hình thái của ý thức xã hội thuộc về kiến trúc thượng tầng, ra đời trên cơ sở hạ tầng tương ứng. Trong xã hội có giai cấp, niềm tin của con người không thể không có quan hệ với chính trị. Nói cách khác, dù nhận biết được hay không nhận biết được, dù ít hay nhiều, niềm tin trong xã hội có giai cấp đều liên quan đến chính trị, xuất phát từ chính trị, do chính trị chi phối.

Niềm tin chính trị của nhân dân là sự tin tưởng, kỳ vọng vào đảng phái chính trị nhất định, cụ thể là vào chủ trương, đường lối của đảng chính trị, truyền thống và những giá trị của đảng chính trị cũng như uy tín của lãnh tụ đảng đó. Niềm tin đó từ phía quần chúng nhân dân được hình thành qua đời sống chính trị của đất nước, qua hoạt động thực tiễn của chính đảng trong nỗ lực để bảo đảm rằng niềm tin đó sẽ được đền đáp. Vì thế, niềm tin chính trị được hình thành phải trải qua sự thử thách lâu dài, mà những kết quả thực tế trong hoạt động chính trị sẽ là sự bảo đảm cho uy tín chính trị của đảng, để khẳng định rằng niềm tin chính trị của quần chúng nhân dân dành cho đảng có vững chắc hay không.

Những yếu tố cơ bản của niềm tin chính trị của nhân dân gồm có:

Thứ nhất, sự hiểu biết về chính trị của quần chúng nhân dân ngày càng tăng lên. Đây là điều kiện cần. Điều này chính là sự giải thích cho quyết định của quần chúng nhân dân rằng, nên đi theo đảng chính trị nào và chủ trương, đường lối của đảng đó có lợi hay không có lợi cho mình. Chính trị là một vấn đề phức tạp, có thể tương đối xa lạ với đa số quần chúng nhân dân, bởi vậy họ chỉ nhận biết về chính trị từ những điều giản dị, gần gũi với cuộc sống hằng ngày của mình, qua những cá nhân mà mình biết.

Tuy nhiên, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin khẳng định rằng, cách mạng là ngày hội của những người bị áp bức, lực lượng chính của cuộc cách mạng vô sản chính là đông đảo quần chúng nhân dân bị áp bức, vì thế đảng cộng sản phải trang bị cho họ những hiểu biết nhất định về chính trị nói chung, về chủ trương, chính sách của mình nói riêng, để từ đó bước đầu hình thành niềm tin chính trị của nhân dân, tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn; từ sức mạnh tinh thần đó mà biến thành sức mạnh vật chất - các phong trào hành động chính trị dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Điều này được V.I. Lê-nin nhấn mạnh: “Nhiệm vụ thứ nhất của bất cứ một chính đảng nào có trọng trách đối với tương lai là thuyết phục cho đa số nhân dân thấy được sự đúng đắn của cương lĩnh và sách lược của mình”(2).

Thứ hai, những kinh nghiệm chính trị của nhân dân trong thực tiễn cách mạng ngày càng trở nên phong phú. Đây là điều kiện đủ. Khi sự hiểu biết về chính trị của quần chúng nhân dân là điều kiện cần của niềm tin chính trị, thì kinh nghiệm chính trị của họ chính là điều kiện đủ, quyết định họ sẽ kiên định đi theo sự lãnh đạo của đảng; đồng thời, thể hiện đảng đã thành công trong việc cuốn hút họ theo đường lối của mình. Những trải nghiệm chính trị, những bài học kinh nghiệm “xương máu” được quần chúng nhân dân đúc rút từ thực tiễn cách mạng dưới sự lãnh đạo của đảng khiến cho nhận thức chính trị của họ càng thêm sâu sắc, từ đó niềm tin chính trị vào chính đảng càng thêm sâu nặng. Lúc này, niềm tin chính trị không chỉ là kết quả từ nỗ lực của đảng chính trị, mà còn có sự đóng góp to lớn của quần chúng nhân dân, khi họ tham gia một cách tích cực, tự giác vào phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản với lý tưởng chính trị rõ ràng. Điều này được V.I. Lê-nin chỉ rõ, qua thực tiễn cách mạng vô sản Nga: “Khi đụng đến một phong trào bao gồm hàng triệu quần chúng nhân dân, thì chỉ những lời nói thôi không đủ; quần chúng nhân dân phải có kinh nghiệm của bản thân họ để họ tự kiểm nghiệm những chỉ thị và tin vào kinh nghiệm của bản thân”(3).

Qua thực tiễn cách mạng dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, sự hiểu biết chính trị của quần chúng nhân dân được nâng lên; đồng thời, kinh nghiệm chính trị của họ cũng dần được tích lũy, thông qua việc tham dự tích cực, kiên quyết vào các phong trào rộng lớn trên các lĩnh vực của sự nghiệp cách mạng. Qua đó, quần chúng nhân dân hiểu được vị trí, vai trò, sức mạnh của mình trong cuộc cách mạng theo lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin và thu được những kinh nghiệm thực tế để từng bước trưởng thành dần dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản.

Thứ ba, thực tiễn lãnh đạo chính trị thuyết phục của đảng cộng sản. Đây là điều kiện quyết định, thể hiện năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng, thông qua tính đúng đắn của các chủ trương, đường lối lãnh đạo cách mạng của đảng đem lại những thành công nhất định trên các lĩnh vực, qua đó thu hút càng nhiều quần chúng nhân dân đi theo đảng. Bên cạnh đó, những hy sinh, phấn đấu vì độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân của đội ngũ đảng viên và lãnh tụ của đảng; sự hòa quyện bởi nhân cách cá nhân người đảng viên với uy tín chính trị của đảng đã thực sự thuyết phục và củng cố niềm tin chính trị của nhân dân với đảng.

Điều này rất quan trọng từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, thể hiện qua sự đúc kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong câu nói: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Chính những hy sinh, phấn đấu của đội ngũ đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam đã góp phần quan trọng nâng cao uy tín chính trị của Đảng trong nhân dân. Điều đó làm nên những thành tựu to lớn của sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

Thứ tư, sự tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân vào sự nghiệp cách mạng. Đây là điều kiện bảo đảm cho tính bền vững của niềm tin chính trị của nhân dân. Niềm tin chính trị của nhân dân được hình thành bởi quá trình hoạt động có chủ đích của Đảng Cộng sản Việt Nam, đó là vì hạnh phúc của nhân dân; nhưng đồng thời, nhân dân cũng tích cực tham gia vào quá trình đó để theo đuổi lý tưởng của mình, hiện thực hóa lý tưởng đó, nên chính nhân dân đã góp phần xây dựng niềm tin chính trị của mình, bao hàm những mong muốn, yêu cầu thông qua thực tiễn chính trị đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Điều đó thể hiện rõ bản chất cuộc cách mạng vô sản, với Đảng là người tổ chức, lãnh đạo nhân dân; nhân dân là người trực tiếp xây dựng xã hội của mình, cho mình. Do đó, niềm tin chính trị là kết quả của sự cộng hưởng nỗ lực từ Đảng và quần chúng nhân dân cùng chung mục tiêu xây dựng và hiện thực hóa niềm tin chính trị về một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa phồn vinh, hạnh phúc và luôn giữ gìn và phát triển niềm tin đó qua mọi giai đoạn cách mạng.

Quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta cho thấy, cơ chế hình thành niềm tin của nhân dân với Đảng là việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin thông qua năng lực lãnh đạo của Đảng, với việc phát huy tính chủ động, tích cực chính trị của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Những yếu tố bảo đảm tính bền vững của niềm tin chính trị của nhân dân với Đảng

Một là, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bảo đảm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác ngoài việc phấn đấu cho cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định rõ xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ. Để hiện thực hóa điều đó, các kỳ Đại hội Đảng đồng thời đưa ra các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể ở từng lĩnh vực, để nỗ lực thực hiện. Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nhận thức rõ vị trí, vai trò của mình trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc và sự kỳ vọng của nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nỗ lực phấn đấu để xứng đáng với niềm tin đó trong mọi giai đoạn cách mạng. Đánh giá về vai trò lãnh đạo của Đảng với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, nhất là từ khi nước ta tiến hành đổi mới năm 1986, Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh chính trị của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, lý luận dẫn dắt dân tộc ta vững vàng tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; là nền tảng để Đảng ta hoàn thiện đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới”; và dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, “chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay(4).

Hai là, nhân dân tham gia tích cực, nhiệt tình vào các phong trào xây dựng và phát triển đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Nhân dân có vai trò vô cùng quan trọng trong thực hiện các phong trào thi đua yêu nước của tiến trình đổi mới hiện nay. Điều này đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Đằng sau những gương điển hình tiên tiến, đằng sau những việc làm tốt là những tấm lòng yêu nước, yêu chế độ, trọng nghĩa tình, tương thân tương ái với đồng bào, đồng chí và đồng đội; là quyết tâm làm giàu cho mình và cho quê hương, đất nước”(5).

Tính tích cực chính trị của nhân dân trong các phong trào xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thể hiện ở sự tham gia ngay từ những khâu đầu tiên, từ việc xác định mục tiêu, nhiệm vụ của phong trào cho đến huy động lực lượng cũng như trực tiếp thực hiện. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ điều này: “Bên cạnh việc xác định chủ trương, đường lối đúng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Nhân dân tiếp nhận, ủng hộ và nhiệt tình tham gia thực hiện đường lối của Đảng vì thấy đường lối đó đáp ứng đúng yêu cầu, nguyện vọng của mình. Sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của thắng lợi, của phát triển(6).

Trong đường lối lãnh đạo và phương pháp chỉ đạo thực tiễn của Đảng, vấn đề này đã được đúc kết lại bằng phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” tại Đại hội VIII, đến Đại hội XIII của Đảng, phương châm này được bổ sung hoàn chỉnh hơn, thành “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng. Tổ chức thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả phương châm này trong thực tế chính là sự bảo đảm về lâu dài tính tích cực chính trị của nhân dân trong việc tham gia các phong trào xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Ba là, nhân dân được thụ hưởng trên thực tế những thành quả của sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Nhân dân đi theo Đảng, hưởng ứng phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng trước hết vì những mục tiêu rất thực tế, để đáp ứng những nhu cầu thiết thân hằng ngày, mong ước cuộc sống ngày càng tốt hơn, cả về vật chất và tinh thần. Việc những mong muốn hợp lý, chính đáng và hợp pháp của các tầng lớp nhân dân được từng bước đáp ứng, sẽ là yếu tố quyết định tới việc củng cố và giữ vững niềm tin chính trị của nhân dân với Đảng.

Sau hơn 35 năm tiến hành đổi mới, sự nghiệp cách mạng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng đã giành được những kết quả nổi bật, qua đó nhân dân thụ hưởng ngày càng nhiều hơn các giá trị về mọi mặt của cuộc sống, từ đó góp phần giữ vững niềm tin chính trị của nhân dân với Đảng. “Việc thực hiện đường lối đổi mới đã đem lại những chuyển biến rõ rệt, hết sức sâu sắc và tích cực ở Việt Nam: kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố(7). Với những kết quả đó, Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Năm 2019, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,704, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển(8).

Ở mức độ cao hơn, sự trưởng thành về niềm tin chính trị sẽ dẫn đến những yêu cầu, mong đợi cao hơn nữa của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng. Người dân yêu cầu và kỳ vọng Đảng lãnh đạo nhân dân xây dựng thành công một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người dân được hưởng một cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc. Chủ nghĩa xã hội luôn là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam, là ước vọng cao nhất và là đỉnh cao về niềm tin chính trị của nhân dân với Đảng. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(9). Để đạt được mục tiêu này, thực tiễn đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao hơn, đòi hỏi sự quyết tâm, phấn đấu không ngừng của toàn Đảng và toàn dân tộc, để biến mục tiêu thành hiện thực, để dân tộc ta ngày càng cường thịnh, nhân dân ta ngày càng hạnh phúc, đất nước ta ngày càng phồn vinh, qua đó niềm tin chính trị của nhân dân đối với Đảng ngày càng được củng cố vững chắc.

Quyết tâm giữ vững và phát huy niềm tin chính trị của nhân dân theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

Thứ nhất, tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, đại biểu trung thành cho lợi ích của toàn thể dân tộc.

Đây là nhiệm vụ quan trọng để giữ vững và phát huy niềm tin chính trị của nhân dân với Đảng. Đảng là tổ chức đại diện và bảo vệ cho quyền lợi của toàn thể nhân dân, vì thế tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh là điều kiện để thực hiện nhiệm vụ quan trọng đó. Muốn vậy, Đảng phải đề ra được đường lối, chủ trương đúng đắn, đồng thời lãnh đạo hiệu quả việc thực hiện có kết quả đường lối, chủ trương đó trong thực tiễn cách mạng.

Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận được Đảng ta coi trọng và đẩy mạnh, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, giúp nâng cao chất lượng việc xây dựng các nghị quyết, quy định…, để cấp ủy các cấp sớm đưa chủ trương của Đảng vào cuộc sống, thực hiện thành công nhiệm vụ chính trị ở mỗi địa phương, ngành, lĩnh vực. “Các cấp ủy, tổ chức đảng đã kịp thời cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành các nghị quyết, chỉ thị, đề án, kế hoạch, chương trình hành động sát với tình hình thực tế của địa phương, cơ quan, đơn vị. Nhiều cấp ủy, tổ chức đảng đã ban hành các nghị quyết chuyên đề để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm, khâu đột phá; khắc phục điểm yếu, giải quyết kịp thời những vấn đề phức tạp của địa phương, cơ quan, đơn vị(10). Những nỗ lực đó của cấp ủy các cấp thể hiện ở kết quả của việc thực hiện nhiệm vụ chính trị qua mỗi nhiệm kỳ đại hội đảng bộ mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị; qua đó, góp phần vào thành công chung của sự nghiệp đổi mới, nâng cao toàn diện đời sống của các tầng lớp nhân dân.

Công tác xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ đều đạt được những kết quả quan trọng. Đặc biệt, thời gian qua, “công tác xây dựng Đảng về đạo đức được Trung ương và các cấp ủy, tổ chức đảng đề cao, nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý có chuyển biến tích cực”; “việc thực hiện trách nhiệm nêu gương và chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên có chuyển biến tích cực, nhất là vai trò tiền phonggương mẫu của các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, đảng viên đã đề cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống; gương mẫu đi đầu, tận tụy với công việc, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Việc xử lý kỷ luật nghiêm những đảng viên vi phạm, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, cả cán bộ đương chức và nghỉ hưu đã giúp mỗi cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa, tự điều chỉnh hành vi, tích cực rèn luyện đạo đức, lối sống, tác phong công tác(11); qua đó, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của cấp ủy các cấp, nâng cao đạo đức đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm trong sạch và vững mạnh tổ chức, góp phần nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Để tiếp tục phát huy những thành quả đạt được, thời gian tới, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, đại biểu trung thành cho lợi ích của toàn thể dân tộc đã được Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước… Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên;…Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Xây dựng, hoàn thiện chính sách phát hiện, thu hút, sử dụng nhân tài; có cơ chế bảo vệ những cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung, đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Đẩy mạnh đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí”(12).

Thứ hai, tiếp tục phát huy hơn nữa tinh thần tự giác, lòng nhiệt tình cách mạng của nhân dân.

Để phát huy hơn nữa vai trò chủ động, tích cực của các tầng lớp nhân dân trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, cần hiện thực hóa mục tiêu dân được thụ hưởng trong phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” của Đại hội XIII của Đảng.

“Thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội; tiếp tục đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội”(13). Bên cạnh đó, cần “giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc tốt đẹp của người Việt Nam; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa(14).

Thứ ba, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng.

Chỉ khi giữ vững được mối quan hệ mật thiết với nhân dân, Đảng ta mới có thể tiến hành thành công sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Mỗi tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên khi thực hiện nhiệm vụ cần khắc sâu điều đó trong mỗi quyết sách chính trị của mình. Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng, thước đo để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên.

Thời gian qua, với sự nỗ lực của các cấp ủy và tổ chức đảng các cấp, “công tác dân vận được chú trọng và tiếp tục đổi mới; quan điểm “dân là gốc”, là chủ thể của công cuộc đổi mới được nhận thức và thực hiện ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn; mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân được củng cố, tăng cường(15).

Để thắt chặt hơn nữa mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân, Đại hội XIII của Đảng chỉ ra nhiệm vụ thời gian tới của các tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên là: “Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”… Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan đảng, nhà nước và chính quyền các cấp… phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới”(16).

Muốn hoàn thành tốt mục tiêu, nhiệm vụ nói trên, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên cần nâng cao năng lực lãnh đạo, giữ vững tư cách, phẩm chất người đảng viên cộng sản; lãnh đạo các đoàn thể nhân dân hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị; thực hành dân chủ rộng rãi và thực chất, đi đôi với tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương, thượng tôn pháp luật; tổ chức tốt các phong trào hành động cách mạng có sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân; khơi dậy lòng nhiệt tình và chủ động của nhân dân tham gia, hưởng ứng tích cực các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc… Qua những hoạt động đó, Đảng phát huy vai trò lãnh đạo nhân dân thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị; dựa vào nhân dân để xây dựng và chỉnh đốn Đảng, hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh./.

ST.

ĐỪNG MƯỢN DANH KHOA HỌC ĐỂ ĐÁNH TRÁO LỊCH SỬ!

      Sự lươn lẹo, tráo trở của một kẻ phản đồ, lật sử:

Sáng 22-2-2017 tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức buổi thông tin khoa học “Một số thành tựu mới trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam” do Giáo sư - Nhà giáo Nhân dân Phan Huy Lê - Chủ tịch danh dự Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, trình bày. Xin nhớ đây chỉ là một buổi báo cáo “Thông tin khoa học”. Nó không phải là một cuộc tọa đàm, một cuộc hội thảo, càng không phải là một hội nghị khoa học để ở đó, người ta có thể nêu lên những kết luận.

Về ý kiến của Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Phan Huy Lê, báo chí đưa tin rất loạn xạ, hàng chục tờ báo điện tử đã đăng nhiều bài và hầu như chỉ có một cái tít giống nhau: “Giáo sư Phan Huy Lê đề nghị công nhận công lao của nhà Nguyễn”. Họ giật tít như vậy cũng có lý do, bởi trong buổi thông tin khoa học này, ông Phan Huy Lê đã nói: “Một trong những công lao rất lớn của chúa Nguyễn và nhà Nguyễn là mở mang bờ cõi, thống nhất đất nước, khai phá đồng bằng sông Cửu Long. Năm 1757, nhà Nguyễn đã định hình được lãnh thổ VN mà về cơ bản gần giống như lãnh thổ VN hiện nay từ phía Bắc vào Cà Mau, từ Tây Nguyên ra biển, bao gồm cả vùng biển, các đảo ven bờ và hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa. Nhà Nguyễn có công rất lớn trong việc hình thành và định hình một nhà nước thống nhất và xác lập lãnh thổ - không gian sinh tồn của nước Việt Nam. Công lao nhà Nguyễn về phương diện này không thể chối cãi. Đã đến lúc cần nhìn rõ công, tội của nhà Nguyễn”.

Vậy thực hư của vấn đề ra sao ?

1. Chúa Nguyễn, Vua Nguyễn và Nhà/Triều Nguyễn - Phải rạch ròi khái niệm:

Ai cũng biết rằng trong lịch sử Việt Nam, Nhà Nguyễn chỉ là một vương triều phong kiến hoàn chỉnh, có toàn vẹn lãnh thổ, có hệ thống chính trị của mình cai trị trên toàn bộ lãnh thổ ấy, có địa vị nhà nước thống nhất và duy nhất để bang giao với nước ngoài kể từ năm 1802, khi Nguyễn Ánh hoàn thành việc lật đổ Nhà Tây Sơn, triều đại đã trị vì trước đó để lên nắm quyền cai trị Đại Việt.

Còn trước thời điểm ấy, Nhà Tây Sơn, bằng cách dựa vào ý chí của nhân dân, huy động sức mạnh của toàn dân, trong 16 năm (1771-1787) đã lần lượt đánh dẹp các thế lực phong kiến cát cứ ở Đàng Ngoài (Vua Lê - Chúa Trịnh) và Đàng Trong (Chúa Nguyễn), thu giang sơn Việt Nam về một mối, đất nước thoát khỏi cảnh bị chia cắt Bắc - Nam trong suốt 148 năm (1627 - 1775). Trong thời gian 148 năm nội chiến Đàng Ngoài - Đàng Trong ấy, các thế lực phong kiến họ Trịnh (Đàng Ngoài) và họ Nguyễn (Đàng Trong) đã gây ra 8 cuộc nội chiến lớn và hàng trăm cuộc xung đột vũ trang nhỏ. Có những cuộc chiến kéo dài hàng chục năm. Cuộc chiến Trịnh - Nguyễn đã làm hao tổn không biết bao nhiêu sức người, sức của của nhân dân dân, triệt phá hàng loạt đồng ruộng, xóm làng.

Trong quá trình xây dựng đất nước từ đống hoang tàn, đổ nát, hậu quả cuộc chiến kéo dài gần một thế kỷ rưỡi, nhà Tây Sơn còn hai lần đánh bại hai thế lực phong kiến hùng mạnh xâm lược Đại Việt là triều đình Xiêm La (Thái Lan) ở phía Nam và Nhà Thanh ở phía Bắc. Điểm đặc sắc là trong cả hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm do Nhà Tây Sơn tiến hành, quân xâm lược đều có sự tiếp tay của những kẻ phản dân, hại nước. Đó là Lê Chiêu Thống cầu viện giặc Thanh và Nguyễn Ánh cầu viện giặc Xiêm La.

Trong lập luận của mình, ông Phan Huy Lê đã đánh đồng các Chúa Nguyễn, một thế lực phong kiến cát cứ ở phía Nam mà người Việt Nam cũng như lịch sử Việt Nam chưa từng công nhận là một nhà nước hoàn chỉnh ngang hàng với một vương triều phong kiến. Bởi vì về danh nghĩa, đứng trên cả hai thế lực phong kiến cát cứ này còn có Nhà Lê trung hưng, và cả hai thế lực này đều trương khẩu hiệu chính trị “Phò Lê”. Bằng việc này, ông Phan Huy Lê đã phủ nhận sự thống nhất lãnh thổ của Việt Nam, công nhận tính hợp pháp và hợp lý của việc chia cắt đất nước. Đó là sai lầm về đạo đức nghề nghiệp không thể tha thứ.

Điểm thứ hai là công lao mở cõi được quy cho cái gọi là “Nhà Nguyễn” mà theo ý của ông Phan Huy Lê, nó bao gồm cả các chúa Nguyễn và các vua Nguyễn.  

Cho đến nay, công lao mở cõi về phương Nam là công của 9 đời Chúa Nguyễn. Công lao thống nhất đất nước, xóa bỏ sự chia cắt Đàng trong - Đàng ngoài là của Nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh chỉ tọa hưởng kỳ thành.

Là một nhà sử học gạo cội, liệu ông Phan Huy Lê có thể phân biệt được đâu là các vua, đâu là các lãnh chúa phong kiến không?

Với việc gộp cả 9 đời chúa Nguyễn có công mở mang bờ cõi với 13 đời vua Nguyễn, trong đó có đến 5 ông vua cắt đất cho giặc và cam tâm làm tay sai bán nước cho giặc, rước voi về giày mồ (Gia Long, Tự Đức, Đồng Khánh, Khải Định, Bảo Đại, riêng Bảo Đại bán nước 2 lần cho Nhật và cho Pháp); ông Phan Huy Lê đã “trộn phấn với vôi” để rửa mặt cho các triều đình của Gia Long, Tự Đức, Đồng Khánh, Khải Định và Bảo Đại.

2- Ý thức về quyền dân tộc tự quyết.

Nếu chỉ xem qua những phát biểu của ông Phan Huy Lê tại buổi thông tin khoa học nói trên như báo chí đã đăng thì vẫn còn chung chung và chưa rõ ràng. Phải tìm đến những phát biểu của ông ấy trước đây 9 năm, khi trả lời phỏng vấn của phóng viên Khánh Linh của báo Vietnamnet, chúng ta mới thấy rõ những ẩn ý của ông ấy. Trong cuộc phỏng vấn, khi được phóng viên hỏi: “Còn những hạn chế của vương triều Nguyễn thì sao, thưa GS? Nguyễn Ánh có tội hay không, khi đưa quân Xiêm vào để chống lại nhà Tây Sơn? Hay vua Tự Đức có bán nước”; ông Phan Huy Lê đã trả lời:

- “Đúng là trong cuộc đấu tranh chống Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã đưa quân Xiêm vào. Trước đây có quan điểm cực đoan gọi đây là hành động "cõng rắn cắn gà nhà", là "bán nước". Đúng là không thể biện hộ cho hành động "không sáng" này, cũng có thể coi là một tì vết trong sự nghiệp của Nguyễn Ánh, nhưng phải nhìn nhận công bằng. Trong những cuộc đấu tranh bên trong quyết liệt, việc nhờ đến ngoại viện là chuyện thường xảy ra trong lịch sử. Nhưng điều quan trọng nhất là người cầu ngoại viện phải giữ được độc lập chủ quyền của dân tộc, đưa lại lợi ích cho đất nước, còn nếu cầu ngoại viện mà bất lực để mất nước thì có tội lớn”. (bài báo đó vẫn còn đây: http://vietnamnet.vn/vanhoa/2008/10/808823/). 

Đúng là tận cùng của sự lắt léo. Ông ấy biện hộ rằng: “Trong những cuộc đấu tranh bên trong quyết liệt, việc nhờ đến ngoại viện là chuyện thường xảy ra trong lịch sử”. Vậy, ông Phan Huy Lê có thể dùng lập luận này để biện hộ cho việc Trần Ích Tắc cầu viện giặc Nguyên vào xâm lược nước ta không ? Liệu ông có thể dùng lập luận này để biện hộ cho Trần Thiêm Bình cầu viện giặc Nhà Minh vào xâm lược nước ta và gây ra thảm cảnh: “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ” không? Liệu ông có thể dùng lập luận ấy để biện hộ cho hành động Lê Chiêu Thống cầu viện giặc Thanh vào xâm lược miền Bắc nước ta không? Và ông có thể dung lập luận ấy để biện hộ cho Bảo Đại cộng tác với giặc Pháp xâm lược đất nước ta một lần nữa không? Ông có thể dùng lập luận ấy để biện hộ cho việc Nguyễn Văn Thiệu kêu gọi Mỹ hãy đem B-52 ném bom cho tan nát Hà Nội vào cuối năm 1972 được không? 

Cuộc chiến của Nguyễn Ánh chống lại Nhà Tây Sơn và đưa ông ta lên cầm quyền vào năm 1802 thực chất là một cuộc chiến tranh phản cách mạng với sự trợ giúp về tiền bạc, vũ khí và cả cố vấn quân sự của thực dân Pháp. Về bản chất, sự trợ giúp của người Pháp cho Nguyễn Ánh là sự can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, vi phạm thô bạo chủ quyền của Việt Nam (và sau này là lãnh thổ Việt Nam). Vậy mà ông Phan Huy Lê bảo rằng “Trong những cuộc đấu tranh bên trong quyết liệt, việc nhờ đến ngoại viện là chuyện thường xảy ra trong lịch sử”.

Vậy thì ý thức về độc lập, chủ quyền của người Việt ở chỗ nào trong con người ông Phan Huy Lê?

Vậy thì nhận thức về quyền tự quyết dân tộc của ông Phan Huy Lê ở đâu ?

3- Ai đã không công nhận công lao của các chúa Nguyễn?

Điều nực cười là trong buổi thông tin khoa học do Ban Tuyên giáo TW tổ chức vừa qua, ông Phan Huy Lê lại nhắc lại một lần nữa ý kiến của ông ta trong Hội thảo về nhà Nguyễn tổ chức tại Thanh Hóa năm 2008 rằng: “Cần ghi nhận cả về mặt công tích lẫn những hạn chế về thời kỳ Chúa Nguyễn và Vua Nguyễn”.

Lưu ý là ở Hội thảo 2008, ông Lê còn phân biệt Chúa Nguyễn và Vua Nguyễn. Còn ở buổi thông tin khoa học vừa qua thì ông ta đã dấn thêm một bước, gọi cả hai là “Nhà Nguyễn”.

Ô hay ? Lịch sử Việt Nam cho đến nay, có tác phẩm nào là không ghi công tích mở mang bờ cõi cho đất nước ta, phát triển kinh tế Đàng Trong của các chúa Nguyễn đâu nhỉ?

Tôi xin dẫn ra đây mấy đoạn ở trang 333 trong cuốn “Lịch sử Việt Nam – Tập 1” do NXB Khoa học xã hội ấn hành năm 1971:

“Đàng Trong là đất mới khai phá, kinh tế công thương chưa trải qua quá trình lâu dài như ở Đàng Ngoài. Tuy vậy, vào thế kỷ thứ XVII – XVIII, nền kinh tế đó đã phát triển khá mạnh mẽ và đạt trình độ không kém gì Đàng Ngoài. Thuận Hóa, Quảng Nam là nơi tập trung nhiều làng và phương thủ công có tiếng như nghề dệt, gốm, nấu đường, rèn sắt, đúc đồng… Nghề khai mỏ sắt, mỏ vàng ở miền núi Quảng Nam cũng khá phát đạt.

Quan hệ hàng hóa-tiền tệ phát triển có tác dụng mở rộng thị trường địa phương. Rất nhiều hội chợ mọc lên khắm nơi. Một số thành thị, thương cảng phát triển. Hội An là thương cảng lớn nhất có quan hệ kinh tế với nhiều vùng… lúa gạo ở Gia Định được chở ra bán ở Thuận Hóa và Đồng Nai và hàng thủ công từ Thuận Hóa lại được buôn vào Gia Định.

Bản thân lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam khi nói về vai trò, vị trí, về công và tội của các chúa Nguyễn và các vua Nguyễn cũng rất công tâm, sòng phẳng. Quan điểm của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đối với lịch sử là rất sòng phẳng, phân minh. Người không hề công kích các chúa Nguyễn. Cùng với việc kịch liệt phê phán Gia Long và Tự Đức, Người đã từng viết bài trên báo chí nước ngoài để đề cao tinh thần yêu nước của 3 ông vua thứ 8, thứ 10 và thứ 11 của vương triều nhà Nguyễn là Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân.

Trong báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 12-7-1940, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc viết: ''Năm 1885 vua Hàm Nghi và năm 1916 vua Duy Tân đã đứng ra lãnh đạo chống Pháp''. Ngày 24-2-1920, Nguyễn Ái Quốc đã nhận được thư của Hoàng thân Vĩnh San (vua Duy Tân), gửi cho Chủ nhiệm báo L'Humanité về việc đòi độc lập cho Việt Nam. Trung tuần tháng 3/1920, Nguyễn Ái Quốc gặp hai đồng chí Maxele Cachin và Jan Longé và báo L'Humanité đã mời Nguyễn Ái Quốc đến trụ sở để bàn về vấn đề này.

Không chỉ Bác Hồ, trong thế kỷ XX, các đồng chí lãnh đạo lỗi lạc của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta (như Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp...) cũng đều đánh giá đúng về Vương triều nhà Nguyễn hoàn toàn nhất trí với quan điểm của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Không ai bài bác và bôi nhọ thanh danh các chúa Nguyễn. Cũng chẳng có ai phủ nhận sự đóng góp của triều nhà Nguyễn trong các lĩnh vực phát triển kinh tế, văn hoá và văn nghệ...

Vậy thì ông Phan Huy Lê và các đồ đệ của ông còn đòi hỏi cái gì nữa đây? 


4. MƯỢN DANH KHOA HỌC ĐỂ THỰC HIỆN "DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH" TRONG LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ. 

Việc mượn công lao của các chúa Nguyễn để “rửa mặt” cho Nguyễn Ánh và các vua Nguyễn như Tự Đức, Đồng Khánh, Khải Định và Bảo Đại thì dứt khoát là không thể được!

Sách “Lịch sử Việt Nam -Tập 1” do NXB Khoa học xã hội Việt Nam ấn hành năm 1971, trang 380 đã ghi rõ:

“Từ cuối thế kỷ XVIII, thực dân Pháp đã lợi dụng cuộc chiến tranh phản cách mạng của Nguyễn Ánh để can thiệp vào nước ta. Sau khi lên làm vua, Gia Long đã “trả ơn” bọn xâm lược bằng cách lưu dụng một số người Pháp làm quan lại trong triều và để cho giáo sĩ người Pháp tự do truyền đạo trong nước. Nhờ đó, bọn chúng đã vận động Gia Long lập Hoàng tử Cảnh, người chịu ảnh hưởng của Pháp làm thái tử. Số người Pháp làm quan trong triều giữ liên lạc với chính quyền Pháp. Chúng nhận nhiệm vụ vận động triều đình Huế ký những điều ước ngoại giao, thương mại có lợi cho chủ nghĩa tư bản Pháp. Đặc biệt, Hội truyền giáo nước ngoài và bọn gián điệp đội lốt tôn giáo nấp dưới chiêu bài truyền đạo càng đẩy mạnh hoạt động do thám và gây dựng cơ sở phản động trong nước ta… Bọn chúng điều tra tình hình mọi mặt của nước ta, âm mưu phá hoại khối đoàn kết dân tộc, chia rẽ lương - giáo”. 

Có lẽ cần phải nhắc lại rằng ông Phan Huy Lê chính là một trong hơn 100 nhà sử học Việt Nam khi đó đã tham gia biên soạn bộ “Lịch sử Việt Nam” nói trên.

Bản thân ông ta cũng có 2 tác phẩm viết riêng (các cuốn “Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam - Tập II” và “Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ) cùng 2 tác phẩm viết chung (các cuốn “Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam-Tập III” và “Khởi nghĩa Lam Sơn và phong trào giải phóng đất nước vào thế kỷ XV”) được dùng làm tài liệu tham khảo để biên soạn bộ sách trên. Thế mà nay, ông ta lại NÓI NGƯỢC LẠI. Thái độ không nhất quán trong khoa học ấy chỉ có thể gọi là CHỦ NGHĨA XÉT LẠI LỊCH SỬ, là một thứ “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” trong khoa học lịch sử, tất yếu sẽ dẫn đến "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" về chính trị. Đây là điều mà các thế lực thù địch và phản động mong muốn.

9 năm trước đây, khi theo dõi cuộc Hội thảo về chúa Nguyễn và nhà Nguyễn được tổ chức với quy mô lớn tại tỉnh Thanh Hoá, được báo chí tuyên truyền rầm rộ, nhiều người dân ở thành phố Hồ Chí Minh đã ngạc nhiên. Họ phát biểu: ''Những câu: ''Gia Long cõng rắn cắn gà nhà'', “Rước voi về dày mả tổ'', ''Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân”... đâu phải đến thời bây giờ mới có và đâu phải chỉ lưu hành riêng ở miền Bắc. Nhớ khi còn ngồi trên ghế nhà trường tại thành phố này qua các bậc trung học và đại học, chúng tôi đã từng nghe các giáo sư dưới chế độ cũ khi bước lên bục, đều giảng như vậy cả. Thế nhưng không hiểu vì sao, hàng chục năm qua, một số người làm công tác nghiên cứu sử học ở miền Bắc lại tìm mọi cách để phản bác những câu nói đó ?”.

Giáo sư Trần Văn Giàu, một chiến sĩ cách mạng kiên trung, một nhà sử học lão thành, là bậc thầy của ông Phan Huy Lê, được cán bộ và nhân dân mến mộ, cũng đã giữ quan điểm đúng đắn trong việc đánh giá vương triều nhà Nguyễn. Chính vì lẽ ấy, Giáo sư Trần Văn Giàu đã không đồng tình với tác giả cuốn tiểu thuyết lịch sử viết về Phan Thanh Giản bằng lối văn hư cấu tuỳ tiện, thoát ly hiện thực lịch sử... Giáo sư Trần Văn Giàu đã tạ thế, Phan Huy Lê và các môn đệ của ông ta như được “dọn vật cản”, đã lấn thêm những bước mới.

Vào tháng 7 năm 2016, khi Cục Xuất bản, Bộ Thông tin và truyền thông đề nghị ông Nguyễn Đình Đầu, tác giả cuốn “Trương Vĩnh Ký – Nỗi oan thế kỷ” sửa lại tên cuốn sách này và một số đoạn viết cho trung thực, khách quan thì ông này kiên quyết khước từ. Những đoạn viết không trung thực, không khách quan về Trương Vĩnh Ký chính là việc tác giả đã đánh lộn sòng công và tội của Trương Vĩnh Ký, biến những hành vi đi ngược lại quyền lợi dân tộc của Trương Vĩnh Ký thành công lao. Kết quả là cuốn sách không được phép phát hành. Thế nhưng ông Phan Huy Lê vẫn lớn tiếng bênh vực cho cuốn sách này qua lời giới thiệu của mình. 

Về cuốn sách nói trên, tạp chí mạng “Tôn giáo và dân tộc” đã thẳng thừng đặt câu hỏi: “Trương Vĩnh Ký phản bội tổ quốc, sao gọi là nỗi oan thế kỷ ?” Với nhiều tài liệu, chứng cứ xác đáng được dẫn ra, tác giả Bùi Kha đã vạch rõ: “Với những chứng cớ quá rõ ràng qua các văn thư do chính Trương Vĩnh Ký và các viên chức cao cấp thực dân Pháp viết, chúng ta có thể kết luận dứt khoát rằng Trương Vĩnh Ký là một người phản bội tổ quốc. Ông không có một mảy may công lao nào đối với dân tộc, ngược lại, ông hoàn toàn là kẻ có tội. Từ những ý đồ và hành động chính trị, cho đến các công trình mang tính văn hóa nói chung của họ Trương, tất cả chỉ xoáy vào một mục đích duy nhất là phục vụ cho chính sách thực dân Pháp để nô lệ và đồng hóa dân tộc ta.”

Vào tháng 10 năm 2009, trên tạp chí “Xưa và Nay”, ông Phan Huy Lê còn phủ nhận sự kiện Anh hùng liệt sĩ Lê Văn Tám tẩm xăng vào thân mình để đốt kho xăng Thị Nghè của thực dân Pháp. Chứng cứ duy nhất mà ông ta bảo rằng mình có là lời dặn của giáo sư Trần Huy Liệu nhưng ông ta lại không đưa ra được một bằng chứng xác thực nào. Thiết nghĩ, việc ông Phan Huy Lê dẫn ra lời dặn ấy chẳng khác gì Trương Huy San “nhét chữ vào miệng” một anh chàng Hàn Quốc nào đó bảo rằng: “Tao không nghĩ là chúng mày đã đánh đuổi hai đế quốc lớn mà chúng mày đã đánh đuổi hai nền văn minh lớn của thế giới” để rồi từ đó, biện hộ cho những lập luận sai lầm của mình.

Một trong những sai lầm trong đánh giá của ông Phan Huy Lê về quá trình nghiên cứu lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến nay là ông ta cho rằng có “Quan điểm chính thống”. Đây là một sự bịa đặt.

Bởi đối với khoa học thì không bao giờ có cái gọi là “quan điểm chính thống” và “quan điểm không chính thống”. Đảng Cộng sản Việt Nam không bao giờ đặt vấn đề “quan điểm chính thống” đối với khoa học trong tất cả các văn kiện của mình. Quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh về sử học thống nhất với nguyên tắc chép sử vốn có từ xưa là:

1) “Có gì thì viết nấy - không có thì không viết".

2) “Thiếu thì viết thêm cho đủ - không viết thừa".

3) “Sai thì viết lại cho đúng – không bịa đặt".

4) “Viết sử phải khách quan, có minh chứng – không viết lung tung".

5) “Bình luận, đánh giá lịch sử phải có căn cứ xác đáng – không phán xét bừa bãi”. 

Mặc dù ông Phan Huy Lê là một trong những người đấu tranh đến cùng để giữ lại môn Lịch sử là một môn học độc lập trong các chương trình dạy học phổ thông; nhưng càng ngày, càng lộ rõ rằng ông ấy muốn giữ lại lịch sử nào?! Với cái mạch tư duy kiểu như của ông Phan Huy Lê và một số người muốn xét lại lịch sử hay nói đúng hơn là lật đổ lịch sử, người ta sẽ công nhận việc thực dân Pháp xâm lược Việt Nam là chuyện đương nhiên đúng đắn, sẽ công nhân việc đến quốc Mỹ xâm lược Việt Nam là chuyện đương nhiên đúng đắn, sẽ công nhận việc chia cắt Miền Bắc, Miền Nam sau Hiệp định ngừng bắn Geneve là chuyện tất - lẽ - dĩ - ngẫu. Và sau đó, sẽ là việc thừa nhận chính quyền ngụy Sài Gòn là hợp pháp; sẽ là phủ nhận toàn bộ hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Từ đó, dẫn đến việc phủ nhận chế độ chính trị hiện nay ở Việt Nam, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những lập luận của ông Phan Huy Lê sẽ được bọn phản động sử dụng để biện hộ cho luận điệu của tay văn sĩ bồi bút Trương Huy San (tức Huy Đức, tức San Hô) trong cái gọi là tác phẩm "Bên thắng cuộc" của anh ta. Là một nhà khoa học, ông Phan Huy Lê có cảm thấy mình có trách nhiệm gì với dân tộc, với đất nước không khi ông tung ra một vấn đề rất hệ trọng mà lại có lối nói nước đôi, không nhất quán như thế?

Nếu những vấn đề trên đây không được giải quyết rốt ráo, sẽ dẫn đến sự rối loạn về nhận thức trong xã hội. Thật vậy, trong việc đánh giá vương triều nhà Nguyễn, hàng chục triệu nhân dân ta - nhất là một khối lượng rất lớn học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh đang ngồi học tập và viết luận án khoa học trên ghế nhà trường sẽ nghe và viết theo quan điểm của ai ? Nghe và viết theo sự chỉ dẫn của tư tưởng Hồ Chí Minh, theo quan điểm sử học của Đảng ta, hay nghe và viết theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu lịch sử đã và đang được công khai quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong buổi thông tin khoa học do Ban Tuyên giáo trung ương vừa tổ chức, trong cuộc hội thảo năm 2008 tại tỉnh Thanh Hoá và trong những cuộc hội thảo trước đó. 

Chúng ta đặc biệt quan tâm đến chủ trương của Hội Khoa học lịch sử về việc gấp rút tiến hành chỉnh sửa sách giáo khoa phổ thông về Sử học và chuẩn bị biên soạn bộ quốc sử mới, như báo chí đã nhất loạt đưa tin. Đây là nhiệm vụ cực kỳ hệ trọng. Chúng ta hoàn toàn không yên tâm nếu như nhiệm vụ này được giao trọn gói cho những người đã từng đi chệch tư tưởng Hồ Chí Minh về sử học và đã nặng lời công kích “Phương pháp luận sử học mác-xít ấu trĩ, giáo điều, công thức''. Vậy thì thử hỏi, nếu giao cho họ chỉnh sửa sách giáo khoa sử học và biên soạn bộ Quốc sử của nước nhà, họ sẽ đứng trên quan điểm lập trường nào và theo phương pháp luận sử học của ai ? Điều đó chắc chắn sẽ gây ra cho chúng ta những tổn thất không nhỏ trong lĩnh vực công tác giáo dục, cũng như trên địa hạt tư tưởng.

Sử học là một trong những lĩnh vực hoạt động hết sức nhạy cảm và có tầm quan trọng sống còn trên mặt trận tư tưởng. Nếu chúng ta không quan tâm chăm lo củng cố sự vững mạnh của ngành sử học kể cả trên ba mặt: về chính trị, về tư tưởng và về tổ chức, ắt sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường. Tôi xin nhắc lại một lần nữa rằng một trong những nguyên nhân làm cho Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ là những nhà lãnh đạo các Đảng Cộng sản và Công nhân cầm quyền ở những nước đó đã mất cảnh giác, đã bị tên gián điệp Aleksandre Yakovlev, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Trưởng ban Tuyên giáo trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô thao túng, đã để cho chủ nghĩa xét lại lịch sử hoành hành. Kết quả là chế độ xã hội chủ nghĩa ở những nước đó bị lật đổ trước hết là về lịch sử và sau đó là về chính trị./.

Ảnh: Phan Huy Quát, anh trai Phan Huy Lê tuyên thệ chống cộng đến cùng. Khá khen cho Phan Huy Lê đã luồn sâu leo cao để thực hiện tuyên thệ đó, nay còn gài lại cả đám tay chân nữa!

 Yêu nước ST.

TẠI SAO Ổ NHÓM VHK BẢO VỆ CÁC ĐỐI TƯỢNG CHỐNG PHÁ, THAM NHŨNG, TIÊU CỰC, NGỤY SỬ, BÁO BẨN, NGHỆ SỸ BẨN?

VHK là một tổ chức phản động do tên chống cộng Nguyễn Phương Hùng ở Mỹ trong những lần về nước đã móc nối và chính thức lập ra năm 2018, VHK mang ý nghĩa thâm độc là "Việt hoàng kỳ" tức "Việt cờ vàng" với âm mưu phục dựng lá cờ ba que đại diện cho chế độ ngụy Sài Gòn. Âm mưu của chúng là gây thanh thế, tìm cách được ra thăm Trường Sa để lấy uy thế trên mạng, từ đó tiếp tục gây ảnh hưởng mà mở rộng hoạt động, hình thành tổ chức "xã hội dân sự" hòng gây nhiễu loạn và phát động các hoạt động chống phá, như tên Nguyễn Phương Hùng sau đó đã công khai tuyên bố "không bao giờ từ bỏ con đường chống cộng, mà chỉ thay đổi phương thức hoạt động"!

Ban đầu, ổ phản động này tập hợp cả một số trí thức tầm tầm, thương nhân (chụp giựt), bộ đội xuất ngũ, việt kiều; nhưng về sau phát sinh mâu thuẫn do ăn chia tiền bạc không đều và bị lộ mặt nên đã rã đám, tuyên bố giải tán, nhưng một số đối tượng thuộc thành phần vô học cặn bã nhất vẫn tiếp tục phát tác thông qua liên kết với một số kẻ là giáo viên dạy sử biến chất. Cầm đầu giật dây ổ nhóm này là tên Đỗ Hữu Hằng, chỉ là một tên vô danh tiểu tốt làm nghề kế toán tự do nhưng lại được tên Nguyễn Phương Hùng cùng các ông Nguyễn Thanh Sơn, Trần Đức Cường tấn phong cho vai trò "người phát ngôn bộ quốc sử 15 tập", một hành động coi thường và sỉ nhục từ các cơ quan TW cho tới nhân dân Việt Nam. Đáng chú ý, sau chương trình "ra mắt" của chúng ở Hà Nội, một số giáo viên dạy sử nói trên đã lê la rỉ tai một số nơi rằng "VHK là tổ chức của lãnh đạo ở trên lập ra"!

Tuy nhiên, bản chất của những kẻ tham gia ổ nhóm này đều là những kẻ lưu manh, hèn hạ, trục lợi nên ngay trong "hoạt động" đầu tiên của chúng là núp dưới danh nghĩa "vì biển đảo" để quyên góp tiền gửi ra "ủng hộ Trường Sa" đã lập tức tố nhau ăn chặn, tên cầm đầu Đỗ Hữu Hằng công khai tuyên bố và còn tự hào vì ăn chằng được cả chục triệu đồng không nộp cho "thủ quỹ" Lữ Khoa, chúng mâu thuẫn đến mức khi một tên trong bọn lăn ra chết do đột quỵ, tên Đỗ Hữu Hằng hứa hẹn nhưng rồi chạy làng luôn không góp dù chỉ hai trăm tiền phúng viếng cá nhân mà đồng bọn đã ứng hộ, khiến anh chàng người hoa Lữ Khoa vì "thiệt thòi" nhất mà lên mạng chửi rủa, tố cáo suốt thời gian dài! Một Việt kiều khác ở Úc cũng đã bị ổ nhóm này lừa đảo để lấy trang thiết bị công nghệ, cũng như đã mất rất nhiều quà tặng đắt tiền cho yêu tinh hàng đầu trong ổ nhóm là Vũ Thu Hương (nực cười là những món quà đó lại khiến mấy nữ záo sử dốt nát đú bẩn xuýt xoa thèm thuồng nên bị thòng, ngày càng ngập sâu vào vũng lầy), sau khi không còn giá trị lợi dụng thì anh chàng Việt kiều này lập tức bị chúng đá đít, tung hê, dè bỉu trong tủi nhục! 

Về tên Đỗ Hữu Hằng, là con thứ hai trong gia đình có 3 anh em trai (anh cả là H*nh, em út là H*ng). Em trai hắn trước nhờ nâng đỡ của quan trên nên được vào làm ở một BQL dự án, là Trưởng phòng giữ nhiệm vụ triển khai các dự án ODA, đã tìm cách cho Đỗ Hữu Hằng tham gia một số gói thầu (liên doanh ma, vì không hề có cả tư cách pháp nhân lẫn bất kỳ năng lực nào), lập tức tên Hằng đã thụt két lấy tiền làm nhà, mua sắm ô tô và cả đem đi đánh bạc. Hậu quả là ngay sau khi quan trên thất sủng, người mới lên thay thì em trai hắn cũng thân bại danh liệt, phải bỏ hết cả công danh lẫn tiền bạc mới cứu được 2 anh em thoát vòng lao lý, nay đều chỉ đi làm nghề tự do kiếm sống (khổ cho cu em là thằng anh ăn đủ và gây tội nhưng chối bỏ mọi thứ, tiền nó ăn còn tội thì đổ lên đầu em trai, với cốt nhục còn vậy nên việc hắn lừa thầy phản bạn là đương nhiên). Nhà hắn từ chỗ là một gia đình khá đàng hoàng mà nay xuống dốc và lục đục là do như vậy. Nhưng cũng vì mất chỗ ăn bẩn mà tên Hằng đã sinh ra hận thù chế độ, lôi kéo những kẻ khác cùng chống phá.

Các "nữ nhân" trong tổ chức này thì sao? Đa phần là những kẻ lăng loàn lang chạ, không chồng con, sống bằng nghề buôn bán vặt vãnh, lừa đảo và đeo bám trai tứ chiếng, vài kẻ dù có nghề nghiệp nhưng tính cách đú bẩn cũng không kém cạnh gì.

Một "tổ chức" tập hợp toàn những thành phần "vô sản lưu manh" hận thù chế độ như vậy ("vô sản lưu manh" là thuật ngữ của Karl Marx dùng để chỉ những thành phần là sản phẩm tiêu cực thối rữa của tầng lớp dưới tận cùng đáy của xã hội) thì không có gì là lạ trước việc chúng luôn tìm cách tấn công bôi nhọ những người đàng hoàng, tích cực. Mục đích của chúng là kéo người xuống "vật nhau với lợn" để thành cùng bầy với chúng. Và chúng luôn ủng hộ các đối tượng phản động khác, những kẻ chống phá chế độ, tham nhũng, tiêu cực, ngụy sử, báo bẩn, nghệ sỹ bẩn,... để gây nhiễu loạn mà đục nước béo cò, trong khi vẫn có thể "tự hào" rằng "cả xã hội như thế, đâu phải mình ta"! 

Bởi vậy, tên Đỗ Hữu Hằng mặc dù luôn lươn lẹo trí trá để "núp bóng quan trên" nhưng cũng luôn cấu kết với những kẻ phản động trong và ngoài nước, tìm mọi cách đánh phá nền tảng tư tưởng của xã hội, thậm chí công khai bày tỏ "mơ ước" về một ngày Đảng cộng sản không còn lãnh đạo nữa, nghĩa là chúng mong mỏi và tìm cách làm sụp đổ chính chế độ đang nuôi sống chúng!

Lẽ ra, không nên vướng bận với bầy du thủ du thực và mấy trí thức quèn rởm thuộc ổ nhóm cặn bã ô hợp này, nhưng vấn đề là chúng lại đang được các thế lực đằng sau (mà chúng khoe là "anh tao") sử dụng làm "quân xung kích", như Bá Kiến sử dụng Chí Phèo (xem các nick đầu trò của chúng như Hương Vi, Phạm Quang Núi, Cúc Ngân Hoàng, Đặng Bích Hợp, Người ấy là ai,... thì rõ, tất cả các tút chỉ cào mặt ăn vạ và vu khống bôi nhọ người khác, ngoài ra không có gì khác) gây ra những nhiễu loạn cần phải dẹp bỏ nhằm làm trong sạch môi trường mạng và môi trường văn hóa nói chung của dân tộc ta./.


Yêu nước ST.

 

CHIÊU THỨC CHỐNG PHÁ MỚI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN, DÂN TỘC, TÔN GIÁO

Những năm qua, các thế lực thù địch đã dùng nhiều hình thức, biện pháp để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo tình hình dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo và vấn đề dân tộc ở Việt Nam.

Chúng đưa ra yêu sách đòi mở rộng dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do lập hội để tập hợp lực lượng, kích động nhân dân, dẫn đến mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Đặc biệt, chúng tìm mọi cách hướng lái truyền thông nhằm tác động vào quá trình xây dựng hệ thống pháp luật, nhất là thời điểm sửa đổi các văn bản pháp luật về dân chủ, nhân quyền, tôn giáo hoặc ban hành các chỉ thị, nghị quyết, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng,… để bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước; kích động, lôi kéo, chia rẽ nội bộ, nhằm gây áp lực với Đảng, Nhà nước ta.

Đồng thời, thành lập nhiều tổ chức và đưa người vào Việt Nam để theo dõi, thu thập thông tin về dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tiến hành móc nối, cài cắm, truyền bá tư tưởng sai trái, vu cáo, xuyên tạc tình hình thực tế ở Việt Nam.

Để đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, âm mưu các thế lực thù địch thực hiện “dân chủ” trong đời sống xã hội. Thúc đẩy “dân chủ hóa” trong nội bộ ĐCSVN, tiếp đó thực hiện “dân chủ hóa” trong truyền thông và xã hội.

Hai yếu tố này có quan hệ mật thiết với nhau, yếu tố thứ nhất mang tính quyết định đến tiến trình “dân chủ hóa” từ bên trên, bên trong nội bộ ta; yếu tố thứ hai sẽ đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của toàn xã hội.

Quá trình “dân chủ hóa” truyền thông là đưa dân chủ vào mạng truyền thông quốc gia và đội ngũ cán bộ, phóng viên báo chí, truyền thông. Con đường xâm nhập để hướng lái truyền thông của các thế lực thù địch là tác động thông qua các hoạt động hợp tác giáo dục, hội thảo, giao lưu, “mượn” các phương tiện truyền thông của Nhà nước, các địa phương, cơ quan, đơn vị để tuyên truyền cho chúng, tách khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

Mặt khác, chúng còn lợi dụng các trang mạng xã hội, Facebook, blogger và một số báo, đài phương Tây, hệ thống phương tiện truyền thông của lực lượng phản động người Việt lưu vong,… để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo, kêu gọi dân chủ, nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do báo chí và cạnh tranh trên lĩnh vực truyền thông, gây nhiễu loạn tư tưởng, mất phương hướng trong đời sống xã hội.

Ngoài ra, chúng còn tăng cường hoạt động xâm nhập, móc nối, xây dựng nhân tố bên trong để tác động tư tưởng, phá hoại văn hóa dân tộc, thực hiện xâm lăng văn hóa để thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta...

Đây là những chiêu thức mới của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần nâng cao cảnh giác không để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.

 

NHỮNG NHẬN THỨC LỆCH LẠC, SAI TRÁI CỦA MỘT SỐ ĐẢNG VIÊN

 

Theo Hướng dẫn số 02-HD/UBKTTW, đảng viên không được dao động, hoài nghi; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái.

Ủy ban Kiểm tra Trung ương vừa ban hành Hướng dẫn số 02-HD/UBKTTW, ngày 29/11/2021, hướng dẫn việc thực hiện Quy định về những điều đảng viên không được làm.

Trước đó, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25/10/2021 về những điều đảng viên không được làm, nhằm tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng và giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng. Quy định nêu rõ 19 điều đảng viên không được làm. Quy định 37 thay thế Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về những điều đảng viên không được làm.

Về cái gọi là “Giải thưởng Nhân quyền Việt Nam 2021”


Thêm một lần nữa, tổ chức “Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam” có trụ sở ở bang California, Mỹ lại công bố kết quả bầu chọn “Giải thưởng Nhân quyền Việt Nam 2021”. Đây thực chất là sự "vinh danh nhà hoạt động nhân quyền” như rêu rao hay chính là sự cổ xúy cho những kẻ vi phạm pháp luật Việt Nam?

Vừa qua, trang mạng của VOA tiếng Việt đưa tin, ngày 20/11 tổ chức “Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam” đã công bố danh sách những người được tổ chức này lựa chọn để “vinh danh” ở “Giải thưởng Nhân quyền Việt Nam 2021”. Đó là Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư (cùng một gia đình), Đinh Thị Thu Thủy và Nguyễn Văn Túc.

Buổi lễ “trao giải” sẽ được tổ chức tại Nhà sinh hoạt cộng đồng thành phố Westminster, California, Mỹ vào ngày 12/12, nhân ngày Quốc tế Nhân quyền lần thứ 73.

Vậy, Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư, Đinh Thị Thu Thủy, Nguyễn Văn Tú họ là ai?

Ngày 5/5/2021, TAND tỉnh Hòa Bình đã mở phiên tòa hình sự sơ thẩm xét xử các bị cáo Cấn Thị T

TRÒ ĐẢ KÍCH ĐỂU CỦA VIỆT TÂN

 

Ngày 23/11, chính quyền của Tổng thống Mỹ Joe Biden thông báo sẽ tổ chức trực tuyến “Hội nghị Thượng đỉnh vì dân chủ” vào tháng 12/2021. Theo đó, có 110 quốc gia và vùng lãnh thổ trong danh sách khách mời của Mỹ, trong đó có Đài Loan (Trung Quốc). Tuy nhiên, trong danh sách khách mời không có Trung Quốc, Nga và Việt Nam.

PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG GẮN VỚI PHÒNG CHỐNG TIÊU CỰC

 


Kể từ sau phiên họp 19 (1/2021) của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đến nay các cấp, các ngành đã nỗ lực thực hiện nghiêm công tác phòng, chống tham nhũng gắn với phòng, chống tiêu cực. Trọng tâm là suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được tiếp tục đẩy mạnh, có nhiều chuyển biến tích cực. Các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo TW chỉ đạo, theo dõi đã khởi tố 8 vụ án/38 bị can; khởi tố thêm 78 bị can trong 14 vụ án; kết thúc điều tra 13 vụ án/125 bị can; kết luận bổ sung 15 vụ án/52 bị can; ban hành truy tố 15 vụ án/151 bị can; xét xử sơ thẩm 15 vụ/86 bị cáo; xét xử phúc thẩm 9 vụ/40 bị cáo. Mở rộng điều tra, làm rõ bản chất hành vi chiếm đoạt, tham nhũng; khởi tố thêm nhiều bị can, trong đó có cả cán bộ cấp cao đương chức và nghỉ hưu, sỹ quan cấp tướng ( 10 cán bộ, 20 đảng viên thuộc diện TW quản lý ). Trong 20 đảng viên thuộc diện TW quản lý có 3 ủy viên Trung ương và nguyên ủy viên Trung ương, 2 thứ trưởng, 1 chủ tịch tỉnh, 1 nguyên phó bí thư tỉnh ủy và 13 sỹ quan cấp tướng. Khởi tố nhiều vụ án lớn, nghiêm trọng, phức tạp xảy trên lĩnh vực y tế; Cảnh sát biển Việt Nam; Biên phòng; quản lý, sử dụng đất đai, tài sản ở Bình Dương, Khánh Hòa, TP HCM...đã khởi tố, điều tra nhiều vụ án tiêu cực xảy ra trong lĩnh vực giáo dục, y tế, lợi dụng dịch Covid-19 để trục lợi và sai phạm trong lực lượng chống tham nhũng.

"DÂN TA PHẢI BIẾT SỬ TA/ CHO TƯỜNG GỐC TÍCH NƯỚC NHÀ VIỆT NAM" (HỒ CHÍ MINH) - GIÁO SƯ PHẠM HỒNG TUNG ĐÃ TRẢ LỜI ĐÚNG HƯỚNG VỀ VẤN ĐỀ DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ!

      Nếu dạy Lịch sử theo cách bắt học sinh nhớ dằng dặc những số liệu, ngày tháng, sự kiện, hỏi cụ thể trận đánh đó địch chết bao nhiêu, bắn rơi bao nhiêu máy bay mà buộc các em phải trả lời chính xác thì ai cũng sợ và bản thân tôi cũng sợ” đó là chia sẻ của Giáo sư Phạm Hồng Tung - Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển (Đại học Quốc gia Hà Nội) khi chia sẻ với Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam.

Vừa qua, tại diễn đàn Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn thừa nhận đến nay vẫn có thực tế là điểm thi môn Lịch sử luôn thấp so với các môn học khác và tình trạng học sinh cũng "không ham thích" và học có tính chất đối phó, điểm thi thấp.

Nhìn nhận từ thực tế điểm thi môn Lịch sử thấp, Giáo sư Phạm Hồng Tung cho rằng đây là mối nguy hại bởi trong kỉ nguyên hội nhập có 2 môn học góp phần chuẩn bị hành trang hội nhập tốt nhất cho thế hệ trẻ đó là Ngoại ngữ và Lịch sử.

Nếu môn Ngoại ngữ tạo ra chìa khóa, bệ đỡ để học trò gia nhập thế giới toàn cầu hóa thì các em chưa giỏi, còn môn Lịch sử giúp dù hội nhập đến đâu cũng không quên nguồn gốc, bản sắc dân tộc Việt Nam thì kết quả điểm thi như vậy là rất đáng buồn.

Do đó việc Đại biểu Quốc hội quan ngại, toàn dân quan ngại về kết quả này là hoàn toàn chính đáng.

Tuy nhiên, nghiên cứu phần trả lời của Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn trước Quốc hội, cá nhân Giáo sư Phạm Hồng Tung chưa thật hài lòng bởi vấn đề này được nêu ra tại nghị trường Quốc hội trong nhiệm kỳ của 4 đời Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo gần đây (từ thời Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân đến nay), điều đáng ngạc nhiên là tất cả đều cho rằng lỗi là do phương pháp dạy học và thi kiểm tra đánh giá môn Lịch sử chưa đúng, thiên về hỏi diễn biến, ghi nhớ máy móc sự kiện ngày tháng…

Do đó đến Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn cách trả lời như vậy chưa hẳn đã chỉ ra được gốc rễ của vấn đề. Bởi vì thực tế, trong quá trình nỗ lực đổi mới dạy và học môn Lịch sử thì cách dạy, cách thi đã có chuyển biến, giáo viên Lịch sử ở nhiều nơi đã và đang cố gắng đổi mới cách giảng dạy, cách đánh giá, không còn chỉ dạy diễn biến, chỉ hỏi ngày tháng sự kiện, không còn áp đặt kiến thức như trước.

Theo Giáo sư Phạm Hồng Tung, vấn nạn nằm ở chỗ, đổi mới cách dạy, cách thi ở mức độ tương đối cơ bản rồi mà kết quả thi vẫn chưa cải thiện.

“Xin hãy đọc các mã đề thi môn Lịch sử trong tổ hợp Khoa học xã hội ở kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2021 có những câu hỏi dễ đến mức không tưởng, thậm chí có tới trên dưới 30/40 câu người ra đề cố gắng “biếu” điểm cho thí sinh mà thí sinh vẫn không đạt được.

Chỉ cần đọc qua sách giáo khoa, nghe thầy cô giảng bài chắc chắn sẽ làm được nhưng có những học sinh nghĩ Ấn Độ ở châu Phi… sự thật là vậy, tôi cho rằng điểm thi còn chưa phản ánh hết, có thể còn đáng buồn hơn như vậy”, thầy Tung nhận định.

Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng điều quan trọng là do xã hội có đánh giá cao chất lượng giáo dục Lịch sử hay không, xã hội có tạo cơ hội cho nó hay không, nếu bây giờ tuyển sinh đại học coi Lịch sử là môn xét tuyển chính thì ắt hẳn kết quả sẽ khác đi.

Biết bao ngành nghề, đặc biệt là các ngành nghề liên quan đến công nghiệp văn hóa, du lịch, điện ảnh, mỹ thuật, âm nhạc, quảng cáo, kinh tế, quy hoạch đô thị, cho đến quốc phòng, an ninh, hành chính, quản lý xã hội... đều sử dụng rất nhiều tri thức lịch sử nhưng tuyển sinh đầu vào không có môn Lịch sử là môn bắt buộc, cho nên học sinh chỉ thi đối phó, làm sao không bị liệt để xét tốt nghiệp. Nếu thay đổi điều này thì có thể câu chuyện sẽ khác. Đây có thể coi như một giải pháp cấp thời.

Muốn cải thiện chất lượng thì phải bỏ hội chứng môn chính, môn phụ và gia tăng tổ hợp tuyển sinh, có như vậy Lịch sử mới có cơ hội quan tâm và chắc chắn sẽ có kết quả khả quan. Tức là dùng thi cử để kéo chất lượng lên.

Tuy nhiên về lâu về dài thì đó không phải biện pháp để cải thiện chất lượng giáo dục Lịch sử mà chúng ta phải tạo ra cơ hội việc làm thực sự mang lại niềm vui, có thu nhập cao từ nền tảng của giáo dục Lịch sử. Nhưng cho đến nay thì thực tế không riêng gì ở Việt Nam mà trên thế giới vẫn còn nhiều điều nan giải.

“Tôi quan sát trên thế giới, ở nhiều nước phát triển cũng vậy. Một sinh viên tốt nghiệp đại học ngành Lịch sử - Văn hóa của Đức ra trường, mức lương trước thuế là khoảng 1.700 euro/ tháng, trong khi một sinh viên tốt nghiệp ngành công nghệ thông tin, công nghệ y tế thì lương trước thuế tối thiểu lên tới 5.500-7.500 euro/tháng. Ở Mỹ hay Canada cũng như vậy. Cho nên ngay ở các nước phát triển, phần đông học sinh cũng chỉ học Lịch sử để đối phó, bởi cơ hội việc làm ít mà thu nhập lại rất thấp”, Giáo sư Tung thông tin.

Cuối cùng, Giáo sư Phạm Hồng Tung cho rằng, muốn cải thiện chất lượng dạy và học môn Lịch sử thì đó là bài toán của cả xã hội chứ không phải của riêng ngành giáo dục, chừng nào còn thi ra câu hỏi dễ để biếu điểm cho học sinh thì tác hại sẽ tiêu diệt học thật.

Nếu tạo ra cơ hội phát triển từ giáo dục Lịch sử, cơ hội việc làm tốt thì khó mấy các con cũng sẽ cố gắng, chắn chắn Sử không khó hơn các môn học khác.

Và có một cái nằm trong lỗi của giáo dục Lịch sử từ trước đến nay đó là áp đặt tri thức vào học sinh, coi môn học này là món ăn có sẵn, không có lựa chọn khác. Nhưng trong chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 thì đã có những cố gắng giúp học sinh thấy môn Lịch sử thực sự là môn khoa học, giàu tính khám phá, sáng tạo chứ không phải môn học thuộc lòng, áp đặt kiến thức.

Đặc biệt tri thức Lịch sử không chỉ đem lại bài học kinh nghiệm cho cuộc sống mà làm sao mang lại cơ hội việc làm rộng lớn cho các em./.

Ảnh: Giáo sư Phạm Hồng Tung.

Yêu nước ST.

TRÁI TIM CỦA NGƯỜI LUÔN TOẢ SÁNG TRONG MỌI HOÀN CẢNH!

 “Thân thể ở trong lao

 Tinh thần ở ngoài lao

 Muốn nên sự nghiệp lớn

 tinh thần càng phải cao."


“Một ngày tù, nghìn thu ở ngoài”

Lời nói người xưa đâu có sai

Sống khác loài người vừa bốn tháng

Tiều tụy còn hơn mười năm trời

Bởi vì:

Bốn tháng cơm không no

Bốn tháng đêm thiếu ngủ

Bốn tháng áo không thay

Bốn tháng không giặt giũ

Cho nên:

Răng rụng mất một chiếc

Tóc bạc thêm mấy phần

Gầy đen như quỷ đói

Ghẻ lở mọc đầy thân

May mà:

Kiên trì và nhẫn nại

Không chịu lui một phân

Vật chất tuy đau khổ

Không nao núng tinh thần".


“Ví không có cảnh đông tàn

Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân

Nghĩ mình trong bước gian truân

Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng".


“Gạo đem vào giã bao đau đớn

Gạo giã xong rồi trắng tựa bông

Sống ở trên đời người cũng vậy

Gian nan rèn luyện mới thành công”.

HỒ CHÍ MINH.


Đọc Nhật ký trong tù chúng ta được gặp tâm hồn vĩ đại của Bậc đại trí, đại nhân, đại dũng Hồ Chí Minh. Chúng ta thấy trái tim của Người toả ánh sáng ra chói ngời trong hoàn cảnh tối tăm. Hoàn cảnh trong tù là hoàn cảnh đặc biệt không bình thường. Người bị giam hãm, đoạ đầy, trói buộc, xiềng xích, bị nghi ngờ, bêu diễu, cấm đoán, mất hết cả tự do. Tiếng thơ từ tâm hồn Người theo thời gian vẫn cất lên, bất chấp sự cùng khổ về vật chất cũng như tinh thần, coi thường cả sự hiểm nguy, dũng mãnh vượt lên gian lao thử thách, ngạo nghễ để chiến thắng, thể hiện phong thái ung dung, niềm tin tưởng lạc quan son sắt, tình cảm giao hoà với thiên nhiên; đặc biệt là tình cảm thắm thiết đối với con người. Một thứ tình cảm yêu thương vô hạn với tất cả con người mà ta thường thấy ở Người trong lúc bị giam cầm và cả lúc thường, khi Người trở thành lãnh tụ, người đứng đầu quốc gia. Đọc tập thơ, chúng ta không hề gợn một chút bi quan, sầu não, u buồn nào; chỉ thấy sự sống tràn trề, niềm tin mãnh liệt, lòng tha thiết với tự do, hy vọng vào ngày mai chiến thắng, tốt tươi. Chính hồn thơ ấy, đã toả ra ánh sáng chói ngời xua đi bóng tối làm trong sáng con người, thiên nhiên, làm sống dậy cuộc đời chung và tương lai tươi đẹp. Bây giờ đọc thơ Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh, chúng ta càng yêu tiếng thơ của Người. Tiếng thơ của con người vĩ đại trong hoàn cảnh tù đầy đã thể hiện viên mãn nhân cách cao cả, lòng nhân ái bao la, bản lĩnh phi thường. Chúng ta càng tự hào về Chủ tịch Hồ Chí Minh! Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hoá thế giới, chính Người đã làm rạng rỡ mỗi con người chúng ta, Dân tộc ta, non sông đất nước ta./.


Ảnh: Tống Văn Sơ (Nguyễn Ái Quốc) khi bị chính quyền Anh bắt giam ở Hồng Kông (Trung Quốc) năm 1931.

Yêu nước ST.

Hệ lụy khôn lường

Trong 20 năm gần đây, số lượng cán bộ mạnh dạn xin từ chức chỉ đếm trên đầu ngón tay. Ở một đất nước luôn quan niệm cán bộ là gốc của công việc; cán bộ là công bộc của dân; cán bộ là những người đặt lợi ích của tập thể, tổ chức và nhân dân lên trên hết mà chưa có văn hóa từ chức, hoặc mới chỉ lấp ló ở đâu đó thứ văn hóa quý báu này thì quả là một vấn đề bất thường trong quy luật vốn dĩ bình thường. Nó gây ra nhiều hệ lụy đáng suy nghĩ, băn khoăn, trăn trở.

VÀI LỜI SUY NGHĨ VỀ VIỆC GIÁO SƯ THÊM ĐỀ NGHỊ BỎ CHỮ LỄ TRONG "TIÊN HỌC LÊ-HẬU HỌC VĂN" TRONG NHÀ TRƯỜNG!

Mấy nay cư dân mạng

Cứ bàn tán xôn xao

Đúng sai có thế nào

Em xin không bàn cãi


Đêm nay em nghĩ mãi

Và cứ thấy sai sai

Nên phản biện một bài

Đúng sai xin phân tỏ


Chắc giáo sư quá rõ

Ngày nhỏ được mẹ cha

Dạy lễ hiếu ở nhà

Phải vâng lời cha mẹ


Cây phải uốn từ bé

Không xem nhẹ coi thường

Lễ là một tấm gương

Soi đường cho đạo đức


Lễ là điều chuẩn mực

Trong văn hóa loài người

Đôi khi là nụ cười

Sáng tươi khi hội ngộ


Lễ là điều đức độ

Đối đáp với Thầy cô

Lễ là cách xưng hô

Không thiển thô văn hóa


Cứ đâu phải hoa quả

Đặt lên và cúi đầu

Lễ là cả chiều sâu

Lá trầu đầu câu chuyện


Lễ là sự quấn quyện

Của văn hiến ngàn năm

Lễ là cuộc viếng thăm

Tỏ lòng trong báo hiếu


Lễ là không thể thiếu

Trong văn hóa Việt ta

Trẻ phải biết kính già

Con phải vâng lời bố


Lễ là biết đúng chỗ

Dạy dỗ và học hành

Mấy ai đạt công danh

Không thành từ chữ lễ


Bác Hồ cũng dạy thế

Ta không thể làm ngơ

Công an phải từng giờ

Với dân phải "lễ phép"


Vì cuộc sống tươi đẹp

Chúng ta phải "trồng người"

Đất nước sẽ sáng tươi

Cũng nhờ người biết lễ


Nên giáo sư không thể

Bỏ chữ lễ nhà trường

Nó là phép luân thường

Kỷ cương về đạo đức


Đó là rèn ý thức

Chuẩn mực trong tương lai

Đó là thẻ lệnh bài

Chứ không phải tuân phục


Nhà trường nơi giáo dục

Phải có đức có tài

Nên tôi thấy ông sai

Tư duy trong suy nghĩ


Ngẫm lại rất phi lý

Duy ý chí đạo nho

Lễ đâu bắt học trò

Được tự do hùng biện


Nhìn sang nước tiên tiến

Phát triển rất văn minh

Người Nhật luôn cúi mình

Đáp tình vuông chữ lễ


Nên ông ơi không thể

Bỏ chữ lễ đầu tiên

Mà hãy bỏ chữ tiền

Ở trong nền giáo dục


Mệt rồi tôi xin chúc

Ông ngủ ngon đêm nay

Để sáng mai luận bày

Thêm nhiều ý tưởng tốt


Giờ tôi phải làm nốt

Công việc kẻ ô sin

Quét rác và giữ gìn

Môi trường mỏ trong sạch


Đêm nay trời rất lạnh

Lại không rảnh thời gian

Chẳng có thời gian nhàn

Luận bàn cùng ông mãi


Nên cho tôi khép lại

Vụng dại có mấy lời

Trong chăn ấm ông ơi

Nghĩ cho đời chữ lễ./.

Yêu nước ST.

Nhận rõ thủ đoạn xuyên tạc, chống phá

 Sân bay quốc tế Long Thành (gọi tắt là sân bay) là dự án trọng điểm Quốc gia, có tổng mức đầu tư 336.630 tỷ đồng (tương đương hơn 16 tỷ USD). Trong đó, giai đoạn 1 của dự án đang triển khai có mức đầu tư 114.450 tỷ đồng, được sử dụng một phần vốn ngân sách nhà nước, vốn ODA, vốn cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của ngành hàng không, vốn doanh nghiệp, vốn đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP).

NGUY CƠ PHAI NHẠT BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC!

      “Văn hóa còn thì dân tộc còn” là khẳng định hết sức đúng đắn về vị trí và vai trò của văn hóa trong lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc, đồng thời là một trong những yếu tố mà từ khi ra đời, tổ chức, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đến nay, Đảng ta luôn luôn cùng toàn dân nỗ lực bảo đảm, phát triển. Tuy nhiên, thời gian gần đây đã và đang xuất hiện một số hiện tượng có thể đẩy tới nguy cơ phai nhạt bản sắc văn hóa dân tộc đòi hỏi cần được kịp thời chấn chỉnh.

Qua những chặng đường lịch sử của dân tộc, từ quá trình dựng nước, giữ nước đến xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, dù trải qua nhiều biến động, thăng trầm nhưng chúng ta luôn hướng đến một nền văn hóa lấy con người làm trung tâm, và xây dựng nền văn hóa của dân, do dân, vì dân. Khi lãnh đạo dân tộc tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập và xây dựng chủ nghĩa xã hội, từ nhận thức, nắm bắt các vấn đề mới của thực tiễn mà Đảng Cộng sản Việt Nam luôn bổ sung nội dung mới cho khái niệm văn hóa, để văn hóa luôn “soi đường cho quốc dân đi” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định.

Từ năm 1943, “Đề cương văn hóa” của Đảng đã nêu lên ba yếu tố then chốt, là mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam là dân tộc - đại chúng - khoa học. Vì thế, từ quá trình vận động, tuyên truyền, giác ngộ quần chúng làm nên Cách mạng tháng Tám năm 1945, thành lập Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đến trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, chúng ta đã xây dựng được vị trí tiên phong của nền văn hóa văn nghệ chống đế quốc, phong kiến trên phạm vi toàn thế giới trong thời đại ngày nay như Đảng ta tổng kết. Đó chính là di sản lớn lao thấm đẫm mồ hôi và máu của bao lớp đồng chí, đồng bào đi trước mà thế hệ hôm nay và mai sau phải giữ gìn, phát huy; cũng là kế tục xứng đáng các giá trị cốt lõi của truyền thống anh hùng, đầy tính nhân văn đã được cha ông xây dựng từ hàng nghìn năm trước, và trao lại cho chúng ta.

Có thể thấy, khi đề ra đường lối phát triển văn hóa Việt Nam, dù trong giai đoạn nào, hoàn cảnh nào, chiến tranh hay hòa bình, Đảng ta cũng luôn đề cao tính dân tộc. Và nổi lên là bản sắc văn hóa dân tộc với những giá trị văn hóa tốt đẹp của tổ tiên, ông cha phải được giữ gìn, phát huy. Có thể coi đây chính là “tấm căn cước” để mỗi người Việt Nam hội nhập với thế giới. Văn hóa còn thì dân tộc còn là ở đó. Hòa nhập song không hòa tan cũng ở đó. Truyền thống tốt đẹp khi biết giữ gìn và phát huy không hề mâu thuẫn, đối lập với đổi mới, tiến bộ, hiện đại. Bởi, trong tổng hòa nguồn lực để xây dựng văn hóa hôm nay, có các giá trị được cha ông tạo dựng từ quá khứ.

Tuy vậy nhìn vào bối cảnh hiện tại, dù chúng ta đã làm được rất nhiều điều tốt đẹp cho xã hội - con người, thì vẫn phải thẳng thắn nói rằng vẫn còn có không ít biểu hiện “lệch chuẩn” văn hóa đáng băn khoăn, trăn trở. Đó là những biểu hiện lệch lạc, nông cạn trong nhận thức về văn hóa của một bộ phận xã hội, thậm chí có người còn quan niệm văn hóa chỉ là “cờ đèn kèn trống, đóng đinh leo thang”, múa may, hát xướng… Ngay trong đội ngũ người làm công tác văn hóa không hẳn ai cũng hoàn toàn thấm nhuần trong cả nhận thức và hành động để đáp ứng phát triển văn hóa là phải phát triển toàn diện, thống nhất trong sự đa dạng, thấm đậm tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, nội lực quan trọng để phát triển đất nước.

Vì thế vẫn xảy ra tình trạng còn coi nhẹ văn hóa, đặt văn hóa thấp hơn kinh tế. Hệ quả là trong khi đạt nhiều mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đời sống vật chất vượt trội so với trước đây, nhưng ở một số nơi, trong một số trường hợp, đạo đức, văn hóa xã hội lại bị xuống cấp nghiêm trọng, chủ nghĩa cá nhân bành trướng, không ít cán bộ, đảng viên suy thoái, biến chất, phai nhạt lý tưởng, coi thường kỷ luật, tham ô, lãng phí…

Hiện thực xã hội hiện nay đang đan xen các mảng sáng - tối, tốt - xấu hết sức phức tạp. Bên cạnh rất nhiều tấm gương tốt đẹp, giàu lòng vị tha, thiện tâm, khi có thiên tai, dịch bệnh sẵn sàng chia sẻ với đồng bào theo tinh thần “lá lành đùm lá rách”, “một miếng khi đói bằng một gói khi no”, “thương người như thể thương thân”, chung tay cùng đất nước, chính quyền để vượt qua mọi khó khăn… lại có một số người ích kỷ, tham lam, lợi dụng dịch bệnh để trục lợi. Lối sống thực dụng cực đoan như một thứ dịch bệnh đang nguy cơ lan rộng trong xã hội, nhất là lớp trẻ.

Trong khi đó nghệ thuật dường như lại quá coi trọng chức năng giải trí. Có thời điểm trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng phải gióng lên hồi chuông báo động về một số cuốn sách chạy theo thị hiếu thấp kém, phản văn hóa. Ở đó, nhân danh cách tân, đổi mới, một số người ca tụng lối viết bí hiểm, rắc rối, tù mù, đánh đố… Thái độ sùng ngoại biểu hiện song song với việc chê bai, bỉ bôi, hạ thấp văn học truyền thống. Nguy hại hơn là coi thường, công kích các giá trị tiêu biểu của nghệ thuật kháng chiến, hoặc mượn chữ nghĩa văn chương để bôi lem, làm xấu hình ảnh một số anh hùng, danh nhân của đất nước.

Với một số người, nghệ thuật không chỉ là phương tiện, mà còn là “vũ khí” tấn công quá khứ. Không phải không có hiện tượng “hai mặt” trong văn nghệ sĩ hiện nay. Đã xuất hiện hiện tượng, nghệ thuật, thu mình vào “cái tôi” đơn độc, riêng biệt, duy nhất, và phai nhạt sự gắn bó sâu sắc với công cuộc xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc có tầm vóc rộng lớn, phong phú; dẫn đến tình trạng xa rời dân tộc và đời sống của nhân dân... Đương nhiên, hội nhập là vươn tỏa ra nhân loại, nhưng lan tỏa thế nào vẫn phải đặt trên mẫu số chung là dân tộc - nơi nghệ sĩ là thành viên, là nguồn cội - nơi nghệ sĩ sinh ra, trưởng thành. Đồng bào, chiến sĩ yêu quý văn nghệ sĩ bởi khi soi vào tác phẩm, họ thấy có bóng dáng, tâm hồn mình, niềm vui được nhân lên, nỗi buồn được chia sẻ…

Do đó, cùng với việc khuyến khích, cổ vũ, nâng đỡ các sáng tác nghệ thuật có tính thể nghiệm, cũng nên chú ý tới nguy cơ đoạn tuyệt với nguồn mạch văn hóa dân tộc để rồi cóp nhặt, bắt chước, lai căng vô lối, nhố nhăng. Cũng phải nhắc đến tình trạng đó đây, thuần phong mỹ tục của dân tộc bị lãng quên, bị coi thường, thậm chí bị xâm hại. Đến cả một số di sản văn hóa quý báu của dân tộc cũng chưa được bảo tồn gìn giữ cẩn trọng dẫn tới bị xuống cấp, hay hủy hoại. Có công trình đưa vào trùng tu, phục chế sau khi làm xong người ta không còn nhận ra được đường nét, màu sắc xưa cũ bởi sự đắp điếm, tô vẽ tùy tiện, cẩu thả…

Nghệ thuật không thể tồn tại nếu mất gốc rễ văn hóa dân tộc. Không thể có một nền nghệ thuật đứng ngoài văn hóa dân tộc. Đáng lo ngại là trong khi nghệ thuật Việt Nam đang vắng bóng, thiếu hụt các tác phẩm có giá trị tư tưởng - nghệ thuật sâu sắc, hấp dẫn, xứng đáng với chiều kích, tầm vóc công cuộc đổi mới của đất nước; thì lại xuất hiện nhiều tác phẩm làng nhàng, nhợt nhạt; những chương trình truyền hình ồn ào, vô bổ; những bộ phim dễ dãi, lê thê cùng sự khen chê, định giá tù mù, cánh hẩu, bè phái, cơ hội. Ngay cả sách giáo khoa cũng phơi bày không ít sỏi sạn, một số ngữ liệu, dữ liệu đưa vào chương trình dạy cho học sinh còn thiếu chọn lọc kỹ càng, buộc dư luận phải lên tiếng mạnh mẽ, nhưng nơi có trách nhiệm lại chậm sửa chữa, thay đổi.

Trên mạng xã hội, trong đời sống cộng đồng đang tồn tại không ít “nọc độc” hoặc xu hướng, nguy cơ có thể gây nguy hại cho văn hóa dân tộc. Một ca sĩ nước ngoài bỗng nhiên được không ít bạn trẻ coi là “thần tượng”, mê muội tung hô thái quá, thậm chí hôn cả ghế “thần tượng” đã ngồi! Còn có cả “thánh chửi” trên mạng xã hội được một bộ phận thanh niên tán dương rầm rộ. Tại sao lại có các hiện tượng đó? Phải chăng đời sống văn hóa tinh thần đang tồn tại lỗ hổng ở nhiều nơi, từ truyền thông, báo chí, chương trình biểu diễn,… đến gia đình, nhà trường, xã hội?...

Khó có thể liệt kê, kiểm đếm hết những biểu hiện “lệch chuẩn” văn hóa nhưng vẫn có thể nói rằng sự “lệch chuẩn” ấy là mối nguy hại không hề nhỏ của đất nước, của dân tộc. Đó là một thứ vi-rút gây hại cho đời sống văn hóa tinh thần của xã hội, cần phải ngăn chặn, bài trừ. Văn hóa Việt Nam cần phải tỏa sáng bởi những giá trị tốt đẹp của kết hợp sự tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại.

Ngày nay, với sự phát triển của công nghệ, sự giao lưu, kết nối giữa con người với con người, giữa dân tộc với nhân loại có thể diễn ra dễ dàng, cái hay cũng dễ thấy nhưng điều dở cũng dễ lây. Bởi vậy văn hóa cần được trang bị bộ lọc tinh diệu để “gạn đục khơi trong” như lời dạy cổ nhân. Chưa lúc nào văn hóa cần phải nâng cao sức đề kháng như bây giờ. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, văn hóa là của mọi người, vì vậy công tác văn hóa không chỉ là nhiệm vụ của những người công tác trong lĩnh vực văn hóa.

Ở đâu có hoạt động của con người ở đó có văn hóa. Vì thế điều trước tiên trong nhận thức của mọi cấp, mọi ngành, của mọi người cần phải hiểu đúng, hiểu sâu về vai trò, vị trí của văn hóa trong đời sống xã hội. Văn hóa cũng là môi trường sống cho nên không thể và không bao giờ được phép đánh đổi văn hóa để lấy kinh tế. Nhận thức đúng, tư duy đúng sẽ hành động đúng. Xây dựng văn hóa là xây dựng đất nước, xây dựng tương lai, xây dựng hạnh phúc cho nhân dân.

Văn hóa là chân - thiện - mỹ, là cái đẹp ngàn xưa, cái đẹp hôm nay, cái đẹp mai sau của dân tộc Việt Nam. Xã hội càng trong sạch thì cơ hội phát triển vững mạnh càng lớn. Một xã hội vừa tuân thủ nghiêm kỷ cương, luật lệ vừa coi trọng văn hóa, đạo đức là một xã hội tốt đẹp. Đấy là thước đo trình độ phát triển văn minh của một đất nước, một xã hội.

Đó cũng là điều kiện tiên quyết tạo nên hạnh phúc cho nhân dân. Đường lối phát triển văn hóa của Đảng luôn lấy con người làm trung tâm. Điều này hoàn toàn phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân mà toàn Đảng, toàn dân đang nỗ lực phấn đấu, thực hiện. Bất luận trong hoàn cảnh nào, chúng ta vẫn cần phải xác định xây dựng xã hội phát triển lành mạnh, xây dựng con người tiến bộ, phát triển hài hòa, sống nhân nghĩa,… là mục tiêu, động lực của văn hóa./.

Yêu nước ST.

Ỷ THẾ LÀM LIỀU

Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ đạo xử lý nhiều vụ án quan trọng có liên quan đến các cán bộ, đảng viên. Đã cách chức, giáng chức, giáng cấp, khai trừ, kỷ luật hàng nghìn cán bộ, đảng viên có vi phạm. Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ cao cấp của Đảng, sĩ quan cao cấp trong LLVT đã bị truy tố do vi phạm pháp luật.

Tài sản chung vô giá của hai dân tộc Việt Nam - Lào

 Sự ra đời của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân (CHDCND) Lào vào ngày 2-12-1975 không chỉ viết nên trang sử huy hoàng nhất, rực rỡ nhất của nhân dân các dân tộc Lào anh em, đưa đất nước Lào bước vào kỷ nguyên phát triển mới, tươi sáng mà còn có ý nghĩa thời đại sâu sắc, đánh dấu bước ngoặt mới trong cục diện địa chính trị khu vực, đồng thời cũng là mốc son chói lọi trong sự nghiệp cách mạng chung của hai nước Việt Nam và Lào.

Bước phát triển mới trong quan hệ Việt Nam - Lào

Ngày mai (6-12), Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Saysomphone Phomvihane dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Quốc hội nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Phu nhân bắt đầu thăm chính thức nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ ngày 6 đến 8-12-2021, theo lời mời của Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Vương Đình Huệ.

Ghi nhận 462 ca F0 mới, Hà Nội cán mốc 13.172 ca nhiễm

Theo thông tin từ Sở Y tế Hà Nội, số ca mắc mới từ 18 giờ ngày 4-12 đến 18 giờ ngày 5-12, thành phố ghi nhận 462 ca bệnh trong đó 189 ca cộng đồng, 167 ca khu cách ly, 106 ca khu phong tỏa.

Nguyên nhân dẫn đến biến chứng đông máu sau tiêm vaccine ngừa COVID-19 của AstraZeneca

Các nhà khoa học Anh và Mỹ mới đây đã tìm ra nguyên nhân dẫn đến tình trạng đông máu hiếm gặp sau khi tiêm vaccine ngừa COVID-19 do AstraZeneca sản xuất.

TRÂN TRỌNG LỊCH SỬ LÀ CÁCH TỐT NHẤT ĐỂ XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC HÙNG MẠNH CỦA TỔNG THỐNG PUTIN!

      Một con én không làm được mùa xuân. Nhưng Tổng thống Putin đã làm rạng danh dân tộc Nga. Kính trọng Ông về tinh thần dân tộc và thượng võ. 

Tôi tự hào về những người biết yêu Tổ quốc của họ.

Tôi kính phục những người mà Tổ quốc họ tự hào về họ.


TRÂN TRỌNG LỊCH SỬ LB XÔ VIẾT.

      Tổng thống Putin của liên bang Nga 🇷🇺 đã đối nhân, xử thế rất sâu sắc với nguyên soái của Liên Xô tên là : Dimitry Yazov 94 tuổi. Ông chưa được Liên Xô phong Anh hùng. 

       Nguyên soái là người bị Litva xử vắng mặt 10 năm tù hồi tháng 3/2019. 

       Trước đây ông cũng bị Yeltsin xử tù vì qui chụp cho ông tội "phản quốc", vì ông kiên quyết chỉ huy Hồng quân Liên Xô bảo vệ chế độ Xô Viết. Nhưng Liên Xô vẫn tan rả vì bọn phản bội phá hoại.

       Ngược lại, nguyên soái được TT Putin kính trọng. Dịp mừng 90 tuổi của ông được tổ chức tại Trung tâm VH các LLVT của LB Nga theo nghi lễ rất trang trọng.

       Nhân sinh nhật lần 90 của ông, TT Putin dự cùng Bộ trưởng Quốc phòng Nga, TT Putin đã tặng cho ông danh hiệu : Huân chương Alexander Nevsky. Ông đã có công lao tăng cường:

       1- Phòng thủ đất nước xảy ra khi có nguy cơ xấu.

        2- Có trách nhiệm góp phần xây dựng LLVT Nga, với việc giáo dục lòng yêu nước cho thanh niên Nga.

     3- Cá nhân TT Putin còn tặng ông chiếc đồng hồ làm kỷ niệm.

      4- Bộ trưởng QP Nga tặng ông : Một thanh kiếm, bản sao bộ hồ sơ cá nhân của ông, một bức họa chân dung của ông.

         Đeo huân chương xong, cầm thanh kiếm trên tay, nguyên soái nói: Tay ông vẫn còn vững vàng, kẻ thù biết rằng ông vẫn đang trên lưng ngựa.

          TT Putin phát biểu tại buổi mừng SN lần 90 của ông: Mong ông tiếp tục giúp đỡ LLVT Nga, tiếp tục giáo dục thế hệ trẻ Nga về tinh thần yêu Tổ Quốc. 

           Đối nhân, xử thế của TT Putin rất nhân văn, sâu sắc. Là cái tát vào kẻ phản bội lại Liên Xô. Putin đã cứu nhân loại trên thế giới giảm hủy diệt vì chiến tranh. Putin đang trân trọng lịch sử của LB Xô Viết, của CM tháng 10 Nga./.


Yêu nước ST.

ĐIỀU KIỆN ĐỂ F0 ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ TẠI NHÀ Ở HÀ NỘI

 UBND thành phố Hà Nội vừa ban hành Phương án số 276/PA-UBND ngày 2-12-2021 về cách ly, quản lý, theo dõi, khám và điều trị tại nhà đối với người nhiễm Covid-19 trên địa bàn thành phố.