Thứ Bảy, 8 tháng 1, 2022

Xây dựng nhà nước dưới hình thức nhà nước pháp quyền

 Để thể hiện và thực hiện đầy đủ bản chất quyền lực của mình nhà nước xã hội chủ nghĩa phải tồn tại dưới hình thức chế độ dân chủ, hơn nữa phải là chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, chế độ dân chủ cao nhất, triệt để nhất và rộng rãi nhất. Hình thức chế độ dân chủ là hình thức bắt buộc đối với nhà nước xã hội chủ nghĩa, nếu không muốn làm tha hóa bản chất quyền lực của mình. Khẳng định điều đó, Ph.Ăngghen viết: “Nếu có một điều gì chắc chắn thì đó là đảng ta và giai cấp công nhân chỉ có thể đi đến nắm quyền thống trị dưới một hình thức chính trị, như nền cộng hòa dân chủ. Nền cộng hòa này cũng chính là hình thức đặc thù của chuyên chính vô sản, như Đại cách mạng Pháp đã chứng minh”[1].

Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một quá trỉnh lâu dàí. Trong điều kiện Việt Nam hiện nay mà áp đặt một chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa đầy đủ là không phù hợp. Tuy nhiên, nói như vậy không nghĩa là hiện nay chúng ta chưa nên phát huy dân chủ, mở rộng dân chủ. Ngược lại, như V.I.Lênin đã chỉ ra: “Phát triển dân chủ đến cùng tìm ra những hình thức của sự phát triển ấy, đem thí nghiệm những hình thức ấy trong thực tiễn”[2], là một trong những nhiệm vụ cấu thành của cách mạng xã hội chủ nghĩa, là một vấn đề có tính quy luật của sự phát triển và hoàn thiện nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Trong đổi mới, Đảng ta chủ trương dân chủ hóa xã hội, dân chủ hóa tổ chức và phương thức hoạt động của Nhà nước, Chủ trương đó không chỉ phản ánh đòi hỏi tất yếu khách quan của quá trình xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa từ một đất nước không trải qua chế độ dân chủ tư sản, mà còn bắt nguồn từ yêu cẩu phải khắc phục tình trạng thiếu dân chủ và dân chủ còn mang nặng tính hình thức trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước. Một trong những lý do chủ yếu của tình trạng đó là do, Nhà nước chưa thực sự tồn tại dưới hình thức chế độ dân chủ, chưa xây dựng được những thiết chế, cơ chế nhà nước thực hiện một cách hữu hiệu quyền dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân. Mặt khác, do ảnh hưởng của chiến tranh và những nguyên nhân khác, nên Nhà nước còn mang nặng tính chất là một hệ thống quan liêu, mệnh lệnh hành chính. Vì vậy, dân chủ hóa tổ chức và phương thức hoạt động cùa Nhà nước ở Việt Nam phải gắn liền với quá trình đổi mới căn bản tố chức và hoạt dộng của Nhà nước. Chủ trương đổi mới Nhà nước theo mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chu nghĩa, đánh dấu mốc quan trọng trong quá trình đổi mới và xây dựng nhà nước xã hội chù nghĩa ở Việt Nam.

Có thể nói, trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước trước đây chưa sử dụng thuật ngữ nhà nước pháp quyền, nhưng một số đặc trưng, giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền thì đã được nhận thức và diễn đạt khá rõ nét trong các bản Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980. Đó chính là kết quả của việc vận dụng tư tưởng về nhà nước kiểu mới của C.Mác, Ph.Ăngghen, Vl.Lênin và Hồ Chí Minh.

Bước vào đổi mới, nhận thức của Đảng ta về nhà nước pháp quyền ngày càng đầy đủ hơn, rõ ràng, cụ thể hơn và quyết tâm xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa dưới hình thức nhà nước pháp quyền cũng ngày càng cao hơn.

Tại Đại hội Đảng lần thứ VI, chủ trương đổi mới nhà nước đã manh nha một số nội dung về nhà nước pháp quyền. Đó là sự khẳng định, “quản lý đất nước bằng pháp luật, chứ không chỉ bằng đạo lý”1. “Phải quan tâm xây dựng pháp luật. Từng bước bổ sung và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật để bảo đảm cho bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo pháp luật”2. Đến Đại hội VII, quan điểm đổi mới nhà nước được bổ sung thêm nội dung: “Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, với sự phân công rành mạch ba quyền đó”[3]. Như vậy, qua hai nhiệm kỳ Đại hội của thời kỳ đổi mới, tư duy về đổi mới nhà nước theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền của Đảng có những bước iến quan trọng. Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa 7(1994) chủ trương XDNNPQ được khẳng định. Thuật ngữ NNPQ lần đầu tiên chính thức sư dụng trong Văn kiện quan trọng cùa Đảng. Đến Đại hội lần thứ IX, Đảng ta mới có quyết tâm cao trong việc đổi mới Nhà nước theo hướng xây dựng NNPQ xã hội chủ nghĩa. Trong Văn kiện Đại hội IX, Đảng ta coi: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng”[4] là một nhiệm vụ có tính chiến lược và xuyên suốt trong đổi mới, xây dựng và hoàn thiện nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Xây ựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đối với Việt Nam là điều mới mẻ, hiểu biết của chúng ta còn ít, có nhiều việc phải vừa làm, vừa tìm tòi, rút kinh nghiệm. Mô hình nhà nước pháp quyền đã được nhân loại thử nghiệm, chọn lọc qua nhiều thế kỷ và đang trở thành hình thức phổ biến trên thế giới. Tuy nhiên, xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam không có nghĩa là “bê nguyên” những mô bình ấy áp đặt vào nước ta.

Nhà nước pháp quyền mà Việt Nam chủ trương xây dựng là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhà nước đó về bản chất là đối lập với nhà nước pháp quyền tư sản. hơn nữa, ngay ở phương Tây, các nhà nước pháp quyền cũng không hoàn toàn giống nhau. Nhà nước pháp quyền là hình thức nhà nước ngày nay được nhiều nước lựa chọn, song nó phải được xây dựng sao cho phù hợp với đặc điểm và truyền thống dân tộc, cũng như trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, dân trí của xã hội. Vì vậy, xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta phải có sự chuẩn bị về mặt lý luận, thận trọng trong từng bước đi cho phù hợp với thực tế, tránh nôn nóng, chủ quan.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H. 1995, t.22 tr 346

[2] V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Tiến bộ, M.1976, t.33, tr.97.

[3]  Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quả độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb.Sự thật, H. 1991, tr.20.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Nxb.Chính trị quốc gia, H2001, tr. 131.

Phát huy hơn nữa liên minh giai cấp tầng lớp trong xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng

 

Trong cương lĩnh 1991, lần đầu tiên Đảng ta nêu lên khái niệm mới về khối liên minh công - nông - trí làm nền tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là nhận thức mới của Đảng ta về vị trí, vai trò, của các giai tầng trong xã hội, nhất là tầng lớp trí thức trong điều kiện cách mạng khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ và kinh tế tri thức có vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất.

Khẳng định nguồn sức mạnh và động lực to lớn nhất của đại đoàn kết toàn dân tộc trong tiến trình của cách mạng, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Theo đó, so với các động lực khác (vấn đề lợi ích và dân chủ xã hội...), đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực tổng hợp và là động lực to lớn nhất. Chính vì vậy, Văn kiện Đại hội XI của Đảng có nêu lên 5 bài học lớn, trong có bài học: “không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta”. Đại hội XIII của Đảng xác định:     “Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân. Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân”.

Chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước

 - Chức năng đối nội của nhà nước nhằm duy trì trật tự kinh tế, xã hội, chính trị và những trật tự khác hiện có trong xã hội theo lợi ích của giai cấp thống trị.

Thông thường điều đó phải được pháp luật hóa và được thực hiện nhờ sự cưỡng bức của bộ máy nhà nước.

Ngòai ra, nhà nước còn sử dụng nhiều công cụ, phương tiện khác khác (bộ máy thông tin,tuyên truyền, các cơ quan văn hóa, giáo dục, v.v.) để xác lập, củng cố tư tưởng, ý chí của giai cấp thống trị, làm cho chúng trở thành chính thống trong xã hội.

- Chức năng đối ngoại của nhà nước nhằm bảo vệ biên giới lãnh thổ quốc gia và thực hiện các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội với các nước khác vì lợi ích của giai cấp thống trị và lợi ích quốc gia, - khi lợi ích quốc gia không mâu thuẫn với lợi ích của giai cấp thống trị.

Ngày nay chức năng đối ngoại của nhà nước càng trở nên quan trọng trong xu thế hội nhập quốc tế.

 Cả 2 chức năng đều xuất phát từ lợi ích giai cấp thống trị; chúng là 2 mặt của một thể thống nhất. Tính chất của chức năng đối nội quyết định tính chất chức năng đối ngoại; ngược lại tính chất và những nhu cầu của chức năng đối ngoại có tác động mạnh mẽ trở lại chức năng đối nội.

KHƠI DẬY MẠNH MẼ TINH THẦN YÊU NƯỚC VIỆT NAM

 

Đại hội XIII của Đảng nêu lên quan điểm chung là: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững”

Chức năng thống trị chính trị của giai cấp và chức năng xã hội của nhà nước

 

- Chức năng thống trị chính trị của giai cấp (chức năng giai cấp): là chức năng nhà nước làm công cụ chuyên chính của một giai cấp nhằm bảo vệ sự thống trị của giai cấp đó đối với toàn xã hội.

Chức năng thống trị chính trị của giai cấp bắt nguồn từ lý do ra đời của nhà nước, phản ánh bản chất giai cấp sâu sắc của nhà nước. Thực hiện chứng năng này ở nhà nước khác nhau cũng khác nhau.

- Chức năng xã hội (chức năng công quyền): thực hiện sự quản lý những hoạt động chung vì sự tồn tại của xã hội, thoả mãn một số nhu cầu chung của cộng đồng dân cư nằm dưới sự quản lý của nhà nước.

Tuy nhiên, thực hiện chứng năng này ở nhà nước khác nhau nó cũng khác nhau, và một giai cấp, ở những giai đoạn khác nhau, chứng năng xã hội của nhà nước cũng khác nhau.

+ Hai chức năng có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó chức năng thống trị chính trị là cơ bản nhất, chi phối quan điểm, phương hướng và mức độ thực hiện chức năng xã hội; chức năng xã hội là cơ sở, điều kiện để nhà nước thực hiện chức năng thống trị chính trị, nhưng phải phụ thuộc và phục vụ cho chức năng thống trị chính trị. Song chức năng giai cấp chỉ có thể được thực hiện thông qua chức năng xã hội.

+ Mọi hoạt động của chức năng xã hội bao giờ cũng chỉ có giới hạn trong khuôn khổ lợi ích và phục vụ cho giai cấp thống trị.

+ Khi xã hội không còn giai cấp thì những nội dung thuộc chức năng xã hội sẽ do xã hội tự đảm nhận, và khi đó chế dộ tự quản của nhân dân được đảm nhận.

Ph. Ăngghen: “Ở khắp nơi, chức năng xã hội là cơ sở của sự thống trị chính trị; và sự thống trị chính trị cũng chỉ kéo dài chừng nào nó còn thực hiện chức năng xã hội đó của nó[1].



[1] C. Mác và Ph. Ăngghen  toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, H. 1995, tr. 253.

 

Những thành tựu phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta hiện nay

 

Ban hành và thực hiện có hiệu quả nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, vận động đông đảo nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước, phát huy ngày càng tốt hơn vai trò đại diện quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân; chủ động tham gia giám sát và phản biện xã hội; làm tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và heẹ thống chính trị, góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước

Chức năng cơ bản của nhà nước

 Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về chức năng của nhà nước: 

- Từ phạm vi của nhà nước: có chức năng đối nội và chức năng đối ngoại.

- Từ tính chất quyền lực chính trị: có chức năng thống trị chính trị giai cấp và chức năng xã hội.    

- Từ tính chất và nhiệm vụ của nhà nước: có chức năng trấn áp và tổ chức xây dựng.

- Từ chức năng cơ bản của bộ máy nhà nước trung ương: có chức năng lập pháp, chức năng hành pháp và chức năng tư pháp.

- Từ đời sống xã hội: có chức năng kinh tế, chức năng chính trị, chức năng văn hoá tư tưởng, chức năng xâm lược và chống xâm lược.

Đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đổi mới

 

Khơi dậy và phát huy cao nhất sức mạnh dân tộc, đặt lợi ích chung của dân tộc, của đất nước và con người lên hàng đầu; coi đó là cơ sở để xây dựng các chủ trương, chính sách kinh tế - xã hội nhằm chiến thắng đói nghèo và lạc hậu.

Xuất phát từ lợi ích dân tộc mà mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tranh thủ mọi khả năng có thể tranh thủ được để xây dựng, phát triển đất nước.

Trong quá trình đổi mới, Đảng ta khẳng định, chính những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng. Cũng do nhân dân hưởng ứng đường lối đổi mới, dũng cảm phấn đấu, vượt qua biết bao khó khăn, thử thách mà công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu hôm nay.

Đại hội IX nhấn mạnh: “Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội”[1]. Tiếp tục hoàn thiện đường lối được xác định trong các Đại hội trước, Đại hội X đưa vấn đề phát huy sức mạnh toàn dân tộc thành một trong bốn thành tố của chủ đề Đại hội với quan điểm: Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định đảm bảo thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại hội XI của Đảng đã diễn ra với chủ đề: “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Đại hội XI của Đảng thể hiện rõ các quan điểm:

Một là, nêu cao ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc, mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, xoá bỏ mọi thiên kiến, mặc cảm, hận thù trong quá khứ; tập hợp, đoàn kết mọi lực lượng, mọi người Việt Nam ở trong nước và định cư ở nước ngoài vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước; lấy liên minh công nhân - nông dân - trí thức làm nòng cốt của khối đại đoàn kết dân tộc.

Hai là, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, xác lập quyền làm chủ của người lao động trong lĩnh vực kinh tế, khuyến khích làm giầu chính đáng theo pháp luật, đồng thời thực hiện các chính sách “đền ơn đáp nghĩa”, “xoá đói giảm nghèo”.

Ba là, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế theo phương châm Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực.

 Đại hội XII của Đảng xác định: “ Đại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo. Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” .

Tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, Đại hội XIII của Đảng xác định: “ Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo”

Đại hội XIII của Đảng xác định: “Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân. Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của nhân dân; không ngừng cải thieẹn nâng cao đời sống vật chất và tinh thầnh của nhân dân”



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H.2001, tr 23

Đặc trưng cơ bản của nhà nước

 Thứ nhất: Nhà nước quản lý dân cư trên một lãnh thổ nhất định và là chủ thể đại diện duy nhất cho chủ quyền quốc gia trong quan hệ đối ngoại.

Khác tổ chức thị tộc, bộ lạc thời nguyên thủy được hình thành trên cơ sở những quan hệ huyết thống, nhà nước được hình thành trên cơ sở phân chia dân cư theo lãnh thổ mà họ cư trú. Quyền lực nhà nước có hiệu lực đối với mọi thành viên sinh sống trên địa bàn ấy không phân biệt huyết thống.

Đặc trưng này làm xuất hiện mối quan hệ giữa từng người trong cộng đồng nhà nước. Mỗi nhà nước được xác định bằng một biên giới quốc gia nhất định.

 Thứ hai: Nhà nước có một bộ máy quyền lực chuyên nghiệp mang tính cưỡng chế đối với mọi thành viên trong xã hội.

 - Bộ máy quyền lực nhà nước bao gồm: đội vũ trang đặc biệt (quân đội, cảnh sát, nhà tù...) và bộ máy quản lý hành chính từ trung ương đến địa phương.

 - Nhà nước thực hiện quyền lực của mình trên cơ sở sức mạnh cưỡng bức của pháp luật và dùng các thiết chế bạo lực để pháp luật của mình được thực hiện trong thực tế.     

Nhà nước ban hành pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật, chỉ có nhà nước mới có quyền ban hành pháp luật và chính nhà nước bảo đảm cho pháp luật được thực thi.

  Thứ ba: Nhà nước hình thành hệ thống thuế khoá để duy trì và tăng cường bộ máy cai trị.  (Thuế là nguồn thu chính của nhà nước).

- Do thoát ly sản xuất, nên để tồn tại, nhà nước phải dựa vào thuế khoá, quốc trái và các hình thức bóc lột khác có tính chất cưỡng chế để nuôi sống bộ máy cai trị.

- Vì vậy, nhà nước của giai cấp bóc lột không những là công cụ trấn áp giai cấp mà còn là công cụ thực hiện sự bóc lột các giai cấp bị áp bức.

Lịch sử đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam

 

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, kể cả những lúc phát triển cao, nước ta vẫn luôn là một nước đất không rộng, người không đông, tiềm lực kinh tế, quốc phòng có hạn. Trong khi đó, bên cạnh chúng ta là một nước có nền văn minh phát triển sớm, một nước mạnh với tư tưởng đại bá. Việt Nam luôn là trọng điểm của tư tưởng bành trướng của các vương triều phong kiến phương Bắc. Có thể nói rằng, trong  lịch sử thế giới hiếm có dân tộc nào như Việt Nam, trong mấy ngàn năm lịch sử đã có hơn ngàn năm phải đương đầu với giặc ngoại xâm. Trong cuộc vận lộn không cân sức ấy, dựng nước và giữ nước trở thành quy luật xuyên suốt của dân tộc . Điều đó, khiến cho nhân dân Việt Nam sớm có lòng yêu nước nồng nàn và ý thức đoàn kết, cố kết cộng đồng. Trở thành truyền thống bền vững, thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm của mỗi con người Việt Nam. Tinh thần ấy đã tạo nên sức mạnh vô địch của cả một dân tộc để chiến thắng thiên tai, địch hoạ, bảo đảm cho sự trường tồn của dân tộc.

Điều đó xuất phát từ những tình cảm tự nhiên: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương; Người trong một nước phải thương nhau cùng”. Tình cảm đó đã trở thành một triết lý nhân sinh: “Một cây làm chẳng nên non; ba cây chụm lại thành hòn núi cao”; và trở thành phép ứng xử và tư duy chính trị: Tình làng, nghĩa nước; nước mất nhà tan; giặc đến nhà đàn bà cũng đánh.

Những tình cảm đó đã trở thành tư tưởng của các bậc minh quân, các bậc hiền tài của dân tộc: “trên dưới một lòng, cả nước chung sức”, “tướng sĩ một lòng phụ tử”, “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”.

Trong tác phẩm Nên học sử ta, viết vào đầu năm 1942, Bác đã viết: “Sử ta dạy cho ta bài học này: lúc nào nhân dân ta đoàn kết muôn người như một thì đất nước ta độc lập, tự do. Trái lại, lúc nào nhân dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn. Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi...”. Thực tiễn lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh chân lý đó.

Trong “Chính cương”, “Sách lược tóm tắt”, Đảng ta nêu chủ trương đoàn kết rộng rãi các giai cấp, các tầng lớp nhân dân. Ngay sau khi Đảng ra đời đã chỉ đạo tổ chức thành lập Mặt trận dân chủ Đông Dương, Mặt trận Việt Minh với mục tiêu đoàn kết các tầng lớp nhân dân đánh Pháp, đuổi Nhật giành độc lập, tự do cho dân tộc. Với đường lối đúng đắn sáng tạo đó, Đảng ta đã phát động toàn thể dân tộc Việt Nam tiến hành tổng khởi nghĩa, đập tan ánh thống trị của chủ nghĩa thực dân, giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Trong kháng chiến chống Pháp, để đánh thắng những đội quân xâm lược lớn của chủ nghĩa đế quốc, Đảng ta đã dựa vào sức mạnh của toàn dân, phát huy sức mạnh của khối đoàn kết dân tộc. Theo đó, Đảng ta chủ trương thực hiện kháng chiến toàn dân gắn liền với kháng chiến toàn diện. Với chiến lược đó, Đảng đã tổ chức cả nước thành một mặt trận, tạo nên thế trận "cả nước đánh giặc". Điều kiện chủ yếu để quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến là huy động cho được sức mạnh toàn dân. Trong "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến", Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: "Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước"[1]. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh là lời hiệu triệu, động viên, cổ vũ toàn thể các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các nhân sĩ yêu nước trong khối đoàn kết dân tộc đều cùng góp sức người, sức của cho kháng chiến.

Đảng ta đã chỉ rõ, nhiệm vụ cấp bách trước mắt của cuộc kháng chiến là đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập và thống nhất đất nước. Đảng ta sớm xác định được mục tiêu chính trị đúng đắn. Đó là điều cơ bản nhất để thực hiện toàn dân kháng chiến. Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, ta đã tạo được sức mạnh tổng hợp để đánh thắng thực dân Pháp xâm lược và cũng chính trong lòng cuộc kháng chiến, chế độ dân chủ nhân dân được xây dựng và củng cố.

Có thể nói, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là một bức tranh đại đoàn kết dân tộc rất sinh động. Toàn thể dân tộc Việt Nam đã kết thành một khối vững chắc không gì có thể phá vỡ nổi, trong đó, Đảng, lực lượng vũ trang và toàn thể nhân dân luôn đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhau. Đảng tin vào dân, dân tin vào Đảng; quân với dân một ý chí, cả nước đồng lòng, toàn dân ra trận, tất cả vì mục tiêu quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Để phát huy được sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta chủ trương thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất ở hai miền (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - tháng 9 năm 1955; Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam - tháng 12 năm 1960), lấy liên minh công nông làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Chủ trương thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất ở hai miền với những mục tiêu, thành phần, phương thức hoạt động phù hợp với nhiệm vụ cách mạng của mỗi miền là một chủ trương đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta và của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chủ trương đó thể hiện sự thấm nhuần sâu sắc Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và thực tiễn cách mạng Việt Nam; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Mặt trận dân tộc thống nhất trên cả hai miền đã thực sự tập hợp, động viên được mọi lực lượng, mọi cá nhân có ý thức dân tộc, có tinh thần yêu nước, chống Mỹ, tham gia vào cuộc chiến đấu cho mục tiêu chung là đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, thống nhất Tổ quốc.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ đã khẳng định sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết dân tộc. Sức mạnh đó có cội nguồn từ tinh thần yêu nước, ý chí độc lập, tự chủ của dân tộc ta trải qua mấy ngàn năm lịch sử. Với đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã động viên đến mức cao nhất lực lượng nhân dân cả nước, kết hợp tiền tuyến lớn miền Nam với hậu phương lớn miền Bắc, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, gắn đoàn kết dân tộc với đoàn kết quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.



[1] Sđd: Tập 4, tr 480

ÔNG CHA TA ĐÁNH GIẶC: CÂU CHUYỆN CẢNH GIÁC CỦA BÀ MẸ CHIẾN SỸ MIỀN BẮC TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC CỦA NHÂN DÂN TA!

     "Bu, sống từng tuổi này rồi mà chưa thấy chú bộ đội nào ăn xong lại để bu phải rửa bát cả".

Nguyễn Văn Chung, cựu đại tá Biệt Cách dù của quân Ngụy Sài gòn từng kể câu chuyện bị Cộng sản bắt.

"Hồi năm 1970, nghe nói có nhiều Phi công Mỹ bị bắt và tra tấn dã man lắm, nên trên phòng tác chiến có ra lệnh cho anh em chúng tôi cải trang thành Bộ đội Bắc Việt rồi nhảy dù xuống Thái Nguyên, rồi từ đó lần về Hà Nội tìm cách cứu tù binh Mỹ, ngày 28 tháng 3 chúng tôi đổ bộ thuận lợi không ai biết, từ đó đi theo bản đồ hơn 4 ngày đường thì về tới Vĩnh Phúc, phần vì để giữ bí mật, phần vì để thám thính nên chúng tôi cứ đi lặng lẽ tắt qua các cánh đồng.

Đến hôm 1/4 thì chúng tôi mệt và đói, chúng tôi mò vào nhà một cụ già xin cơm ăn, vì chúng tôi biết ở Bắc Việt quân với dân sống lẫn với nhau.

Cụ già đó đón tiếp bọn tôi rất nhiệt tình vì tưởng bọn tôi là bộ đội. Bà lúi húi nấu cơm, tụi tôi tranh thủ ngả lưng. Một lát sau, cơm chín bà cụ gọi tụi tôi dậy ăn cơm. Ăn cơm xong tụi tôi đi tiếp được gần 1 đoạn đến đầu làng thì bị bắt. Chúng tôi lúc đó rất hoang mang, không biết sao bị lộ, một lính Bắc Việt tỏ ra khá bất ngờ hỏi cụ già là: Trông chúng nó không khác gì Bộ đội thực thụ, sao cụ biết là Biệt kích.

Bà ấy thành thực trả lời:

- "Bu, sống từng tuổi này rồi mà chưa thấy chú bộ đội nào ăn xong lại để bu phải rửa bát cả thế nên, tụi nó chỉ có là lính Ngụy thôi"./.

Yêu nước ST.

NHỮNG CÂU NÓI THẤM THÍA CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG TRONG NĂM 2021!

      Một trong những dấu ấn đọng lại năm 2021 là công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng tiếp tục được đẩy mạnh gắn liền với nhiều câu nói thấm thía của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.


🇻🇳 Phát biểu tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng vào ngày 9/12, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Mọi thái độ nể nang, né tránh, hữu khuynh, "ngậm miệng ăn tiền" hoặc cực đoan, muốn lợi dụng phê bình để đả kích người khác, gây rối nội bộ, đều là không đúng”.


Theo Tổng Bí thư, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là công việc xây dựng tổ chức, xây dựng con người, là công tác con người, rất dễ đụng chạm đến danh dự, lợi ích, quan hệ của con người. Vì vậy, đòi hỏi mỗi chúng ta phải tự phê bình, phân tích, mổ xẻ những ưu, khuyết điểm của chính bản thân mình; phải nhận xét, đánh giá về người khác.


Nếu không thật tự giác, chân thành, công tâm, khách quan thì rất dễ chủ quan, thường chỉ thấy ưu điểm, mặt mạnh của mình nhiều hơn người khác; trong khi chỉ thấy khuyết điểm, mặt yếu của người khác nhiều hơn mình.


“Tôi nhớ nhà văn Nga Mắc-xim Goóc-ky có nói: "Con người - hai tiếng ấy vang lên kiêu hãnh làm sao!". Nhưng con người cũng có không ít tật: "Kém một miếng không chịu được", "Miếng ăn là miếng tồi tàn, mất ăn một miếng thì lộn gan lên đầu!". Vì vậy, thường rất khó, rất phức tạp. Khó nhưng không thể không làm, vì nó liên quan đến sinh mệnh của Đảng và sự tồn vong của chế độ”, Tổng Bí thư nói.


🇻🇳 Tại Hội nghị Văn hoá toàn quốc vào ngày 24/11/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng để lại một câu nói đầy thấm thía: “Hạnh phúc của con người không phải chỉ ở chỗ nhiều tiền, lắm của, ăn ngon, mặc đẹp, mà còn ở sự phong phú về tâm hồn, được sống giữa tình thương và lòng nhân ái, lẽ phải và công bằng”.


🇻🇳 Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc các cơ quan nội chính triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng vào ngày 15/9/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc nhở: Mỗi cán bộ, chiến sĩ, công chức cơ quan nội chính phải thường xuyên tôi luyện, rèn giũa bản thân để "thanh bảo kiếm" luôn rắn rỏi và sắc bén, dám vung kiếm và vung kiếm đúng lúc, chém đúng đối tượng, không bị sứt mẻ; để "lá chắn" luôn vững vàng, chắc chắn, không một viên đạn, mũi tên nào có thể xuyên thủng, nhất là những viên đạn, mũi tên "bọc đường".


"Tôi đã nhiều lần nói rồi, nay xin nhắc lại: Những ai có tư tưởng này thì hãy dẹp sang một bên cho người khác làm! Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho có ý nghĩa, để không phải xót xa ân hận vì những việc làm ti tiện, đớn hèn, vô liêm sỉ; tiền bạc lắm làm gì, chết có mang theo được đâu. Danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất!", Tổng Bí thư tâm niệm.


🇻🇳 Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nhiệm kỳ 2021 – 2026 vào ngày 11/8/2021, Tổng Bí thư yêu cầu làm tốt hơn nữa công tác cán bộ, nhất là việc quản lý, nhận xét, đánh giá cán bộ để lựa chọn, bố trí đúng những người thật sự có đức, có tài; thật sự "cần, kiệm, liêm, chính", "chí công vô tư"; thật sự tâm huyết vì nước, vì dân vào các vị trí lãnh đạo của bộ máy chính phủ và chính quyền các cấp.


“Đừng "nhìn gà hoá cuốc", "đừng thấy đỏ tưởng là chín", đừng bị cám dỗ bởi những lợi ích xấu xa, những việc làm vô liêm sỉ. Kiên quyết đấu tranh loại bỏ những phần tử hư hỏng, suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; chống mọi biểu hiện chạy chức, chạy quyền, cục bộ, ưu ái tuyển dụng người nhà, người thân không đủ tiêu chuẩn”, Tổng Bí thư nhắc nhở.


Tổng Bí thư cũng lưu ý chấn chỉnh, đấu tranh loại bỏ tư tưởng bàn lùi, vin cớ rằng việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực sẽ cản trở sự phát triển, làm nhụt chí dẫn đến làm "cầm chừng", "phòng thủ", "che chắn", giữ "an toàn" trong một bộ phận cán bộ, công chức nào đó, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.


🇻🇳 Còn tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XV vào ngày 20/7/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng không quên dặn dò: “Tất cả các vị đại biểu Quốc hội chúng ta khoá này cần tiếp tục nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng vì nước, vì dân, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, nâng cao trình độ về mọi mặt, gần gũi và lắng nghe ý kiến của nhân dân, thực hiện và hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ mà cử tri và nhân dân giao phó”.


  🇻🇳 Vào hồi đầu năm, sau khi Đại hội XIII của Đảng bầu 200 Ủy viên Trung ương khóa mới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thay mặt Ban Chấp hành Trung ương phát biểu ra mắt Đại hội XIII:

"Tập thể 200 thành viên Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII xin hứa với Đại hội sẽ là một tập thể đoàn kết, thống nhất cao như Bác Hồ nói, Đại hội là một dịp đã đoàn kết càng đoàn kết hơn, đã tiến bộ ngày càng tiến bộ hơn. Cho nên tuyệt đối không được chủ quan, không được tự mãn, không được kiêu ngạo và càng phải khiêm tốn, học tập, làm mọi công việc để xứng đáng với sự tin cậy của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân”./.
Yêu nước ST.

BA “MẢNH ĐẤT” TRÊN MẠNG XÃ HỘI VÀ ÂM MƯU PHÁ HOẠI


Để hiện thực hóa mục tiêu chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước đã và đang cấu kết với nhau, ra sức đẩy mạnh các hoạt động “diễn biến hòa bình” chống phá nước ta. Nắm bắt ưu thế của mạng xã hội, chúng đã chọn mạng xã hội như là một “mặt trận” mới để thực hiện mục tiêu chống phá nước ta. Chúng chia môi trường mạng xã hội thành ba “mảnh đất” khác nhau để chống phá bằng các thủ đoạn ngày càng công khai, trực diện, nhưng phù hợp với từng “chất đất” trong ba “mảnh đất” ấy.

Ba “mảnh đất” đó là gì?

VIỆT NAM GIÚP NHÂN DÂN CAMPUCHIA THOÁT KHỎI THẢM HỌA DIỆT CHỦNG - TINH THẦN NHÂN VĂN, QUỐC TẾ CAO CẢ VÀ MỐI QUAN HỆ TRUYỀN THỐNG GẮN BÓ

 

Chế độ diệt chủng tàn bạo Khmer Đỏ do Pol Pot cầm đầu và cuộc nội chiến Campuchia trong suốt 5 năm (1975 – 1979) là một trong những trang sử bi thảm nhất lịch sử loài người trong thế kỷ 20. Đất nước chùa tháp và người dân Campuchia đã thực sự thoát khỏi họa diệt chủng khi có sự giúp đỡ trong sáng, chí nghĩa, chí tình của Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam.

VƯỢT ĐỊNH MỆNH NGHIỆT NGÃ

Cách đây đúng 7 năm, vụ tai nạn máy bay ở xã Bình Yên (Thạch Thất, TP Hà Nội) khiến 20 thành viên tham gia chuyến bay huấn luyện nhảy dù của Tiểu đoàn Đặc công 18, Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội hy sinh.

QUAN VŨ CÓ TUỔI GÌ MÀ SO SÁNH VỚI HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG

Trong ít ngày qua tại nhiều diễn đàn lịch sử đã có những bài viết gây tranh cãi đến từ việc so sánh Quan Vũ với Trần Hưng Đạo.

Covid hôm nay sáng 9-1: F0 Hà Nội cao nhất cả nước; Quảng Ninh thêm nhiều ca mắc tại doanh nghiệp, trường học

 

Hà Nội ghi nhận số ca mắc cao nhất cả nước. Hải Dương, Quảng Ninh thêm nhiều ca mắc mới tại doanh nghiệp, trường học; trong khi đó tại TP Hồ Chí Minh, Vĩnh Long giảm cấp độ dịch.

TRANG SỬ HÀO HÙNG CỦA DÂN TỘC PHẢI ĐƯỢC TÔN TRỌNG!

      Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn có bài viết hết sức sắc sảo, phản biện lại quan điểm của GS, TS Nguyễn Mạnh Hà - nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Việt Nam.

Đọc bài viết của Trung tướng ta thấy trang sử hào hùng nhất trong lịch sử Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh đang bị lợi dụng và làm vẩn đục bằng đủ mọi chiêu trò...

Qua đây, chúng ta phần nào thấy được sự nguy hiểm đối với chế độ khi kẻ thù đã dùng vật chất để mua chuộc cả những người từng là cán bộ đầu ngành của nền sử học nước nhà...


======================

ĐÔI LỜI CÙNG ANH NGUYỄN MẠNH HÀ!

Đôi lời cùng anh Nguyễn Mạnh Hà, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

Hôm qua dù bận việc tôi cũng cố xem cơ bản gần hết clip anh trao đổi tại CLB Cà phê số. Là người quen biết với anh tôi định gọi điện để trao đổi, song tôi nghĩ nói trên điện thoại khó hết ý và nhất là khi một người đã từng quen biết nhưng đã có thái độ khi nói về mình thiếu thân thiện thì chắc khi trao đổi cũng khó hiểu ý của nhau. Do vậy tôi dùng trang viết này để trao đổi công khai cùng anh và cộng đồng cư dân mạng cùng rõ về những quan điểm của anh khi phát biểu được đăng báo cũng như đăng trên clip dài trên 2 giờ (và dù anh nhắc không đăng báo song cái clip này vẫn được công khai trên mạng xã hội).

Trước hết tôi có vài dòng nói về tôi trong mối quan hệ phê phán quan điểm xét lại lịch sử này. Tôi vào Đảng trong thời điểm chiến tranh chống Mỹ ác liệt nhất và vừa bước vào tuổi 18, tuổi chớm đủ tiêu chuẩn để được kết nạp vào Đảng Nhân dân cách mạng VN, khi anh còn ngồi ghế nhà trường tôi đã là sĩ quan Quân đội nhân dân VN (cả anh Võ Tiến Trung cũng vậy), tôi cũng không có học hàm PGS, học vị Tiến sĩ như anh… song cuộc sống luôn là như thế, mình có thể hơn người này điểm này song cũng sẽ thua điểm khác đó là chuyện bình thường, tôi chưa bao giờ cho mình hơn người khác tất cả. Vài lời như vậy để chúng ta hiểu nhau.

Về những nội dung anh đề cập đến lịch sử giai đoạn 1945-1975, tôi thấy anh đã phạm nhiều sai sót thậm chí có những sai sót không thể chấp nhận được. Đó là:


Trước hết, khi có người hỏi anh mối quan hệ giữa ông Phan Huy Quát nguyên Thủ tướng bù nhìn của chế độ ngụy ở miền Nam VN thời điểm 1965 và sau đó là Chủ tịch cái gọi là Hội đồng liên tôn chống Cộng ở miền Nam với ông Phan Huy Lê như thế nào? Anh lại trả lời chỉ là họ hàng bà con. Trong khi lúc bình thường anh luôn một thầy, hai thầy Phan Huy Lê (PHL) và trong nghiên cứu anh luôn lấy trước tác của ông làm kim chỉ nam cho nghiên cứu lịch sử của mình, anh lại không biết rằng ông PHL là em cùng cha khác mẹ với ông Phan Huy Quát, một kẻ suốt cả cuộc đời làm tay sai cho giặc phản dân, hại nước mà hầu hết ai cũng biết mối quan hệ này, nhất là sau khi Bộ sử 15 tập lúc đầu do ông PHL làm Tổng chủ biên sau này chuyển lại cho ông Trần Đức Cường thay thế đã có những nội dung đánh giá và đưa vào Bộ sử này, đã bị dư luận xã hội, báo chí nhất là báo mạng vạch rõ.

Thứ hai, khi đề cập đến chế độ ngụy Sài Gòn, anh lại phạm sai lầm tiếp khi anh nói chế độ này ra đời theo nội dung của Hiệp định Giơnevơ. Thật buồn cho anh, với tư cách là nhà sử học giao cho làm chủ biên tập sử viết về giai đoạn này, anh lại có thể trả lời như vậy, làm sao tráo trở đến mức cho rằng cái chính thể do Mỹ lật lọng xé toạc Hiệp định Giơnevơ dựng nên chính quyền bù nhìn này vào năm 1956 sau cái gọi là trưng cầu dân ý dưới họng súng, lưỡi lê và sự đàn áp đẫm máu đồng bào miền Nam là một thực thể ra đời từ Hiệp định Giơnevơ. Anh có nghe tiếng khóc than thảm thiết của hàng vạn gia đình có người thân bị Mỹ – ngụy bắt bớ tù đày và giết hại dã man (Chợ Được, Vĩnh Trinh, Phú Lợi…) trên khắp miền Nam hay không? Anh hãy trả lời cho mọi người rõ chỗ nào trong Hiệp định Giơnevơ nói đến sự ra đời hợp pháp cái chế độ phản dân hại nước này… Và từ cách lập luận đó anh đi đến nói rằng chế độ này tồn tại độc lập và không thể phủ nhận họ là một quốc gia, là nhà sử học sao anh có thể trả lời như vậy, anh là người Cộng sản và anh là thầy dạy về Lịch sử Đảng, về Hồ Chí Minh, anh quên mất hay cố bỏ đi lời tuyên bố bất hủ của Hồ Chí Minh: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; Sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lý đó không bao giờ thay đổi” và vì chân lý đó dân tộc ta đã đổ bao máu xương để có Hiệp định Giơnevơ, để đi đến thống nhất nước nhà. Vậy ai phá hoại điều khoản Tổng tuyển cử thống nhất hai miền Bắc – Nam trong Hiệp định này? Anh hãy trả lời cho nhân dân được rõ. Anh thừa nhận chế độ ngụy là một quốc gia độc lập thì khác nào anh nói theo quan điểm của bọn ngụy ngày đêm ra rả chiến tranh tâm lý rằng Cộng sản Bắc Việt đang đưa quân xâm lược miền Nam, và chúng tôi những đồng bào yêu nước ở miền Nam chúng gọi là quân phiến Cộng, một loại người chúng có quyền bắt giữ, bắn giết không cần xét xử.

Tiếp theo anh nói chế độ ngụy được Liên hiệp quốc thừa nhận, anh tránh cách nói của ông nguyên Thứ trưởng Ngoại giao “chế độ VNCH là thành viên của LHQ”.


Ôi sao anh làm sử mà có thể sai lầm nghiêm trọng như ông ta, xin hỏi anh VNCH, cái chế độ bán nước này vào Liên hiệp quốc lúc nào? Đừng nói càn như vị nguyên Thứ trưởng đó anh ạ!


Rồi anh cho rằng không dùng từ ngụy là cho khách quan và tránh miệt thị, khách quan kiểu của thầy PHL thực chất là không khách quan mà là nói theo kiểu Mỹ; xin dẫn chứng cho anh biết thời chống Mỹ, Đảng ta, Quân đội ta (Quân giải phóng miền Nam và QĐND VN), đồng bào ta, rộng ra là dân tộc ta và cả những người nghiên cứu lịch sử nước ngoài đều gọi đó là chế độ bù nhìn, tay sai và để gọn lại, nhẹ nhàng dễ hiểu đó là chế độ ngụy, là ngụy quyền và cùng với ngụy quyền thì quân đội tay sai này ta gọi là ngụy quân; còn bọn ngụy thì gọi là chính phủ quốc gia (VNCH) và Mỹ thì gọi là chính quyền VNCH, nay các anh bỏ từ gọi dễ hiểu của ta và gọi theo kiểu Mỹ là chính quyền VNCH, vậy đâu còn khách quan, và đâu còn sự thật các anh gọi theo phía kẻ thù của dân tộc và phủ nhận cách gọi của dân tộc ta, như vậy có đúng khách quan không? Còn sao các anh bảo gọi ngụy là miệt thị, vậy cả Đảng ta đứng đầu là Bác Hồ cả dân tộc ta trước đây gọi theo cảm tính không khoa học hay sao? Các anh chỉ là lớp hậu sinh sao dám làm cái việc tày đình xúc phạm Bác Hồ và cả dân tộc, là nhà trí thức anh có cảm nhận sai trái này không? Cách gọi này là nhẹ nhàng nhất, còn không phải gọi là chế độ bù nhìn, chế độ tay sai mà tội ác của nó chính là nguyên nhân dẫn đến hàng triệu đồng bào ta phải chết, là hàng triệu anh hùng liệt sĩ phải hy sinh vậy mà các anh còn cho cách gọi đó là miệt thị? Vì sao vậy anh Nguyễn Mạnh Hà?


Anh nói tiếp rằng có công nhận chế độ này chúng ta mới có cơ sở pháp lý đòi lại Hoàng Sa và Trường Sa, anh dẫn chứng nguyên tắc trong Công ước về Luật biển 1982 của Liên hiệp quốc để bảo vệ cho quan điểm này, thì hết sức sai trái, nói như anh thì chúng ta phải công nhận chế độ thuộc địa của thực dân Pháp là hợp pháp hay sao? Đừng vì động cơ sai trái mà dẫn chứng như vậy. Một nguyên tắc cái gì của dân tộc VN thì không được xâm phạm và bất cứ chế độ xâm lược nào mà VN đánh đổ, VN đều kế thừa những gì thuộc về VN không cần phải công nhận tính hợp hiến của nó.


Rồi anh lại nói về cuộc hải chiến Hoàng Sa tháng 1-1974, anh có nghiên cứu về sự kiện này hay chưa? Nếu chưa nghiên cứu thì hãy nghiên cứu kỹ rồi nói. Tôi trao đổi với anh mấy vấn đề: Thứ nhất, xét về lý luận, chế độ ngụy không có Tổ quốc vì họ đã bán Nước cho Mỹ như thực tiễn mà tôi đã nói ở trên, ai công nhận nó có Tổ quốc tôi kết luận với anh đó là kẻ phản động, là bọn ba que đang ra rả ngày đêm chống chế độ; do vậy đừng bao giờ nói rằng họ bảo vệ Tổ quốc. Thứ hai, xét về thực tiễn trận chiến năm 1974 chỉ là cuộc ngụy chiến theo sự thỏa hiệp Mỹ – Trung, Mỹ đồng ý cho TQ chiếm Hoàng Sa và ngược lại TQ giúp Mỹ ngăn ta không giải phóng miền Nam, bảo vệ sự tồn tại của chế độ tay sai Sài Gòn, chính vì vậy đây chỉ là cuộc ngụy chiến, mà cụ thể là HQ4 và HQ5 cùng các tàu chiến TQ tập trung tấn công tiêu diệt hai tàu HQ10 và HQ16 họ cần phải đánh chìm hai tàu để rêu rao rằng ngụy Sài Gòn không bàn giao đảo cho TQ (anh nhìn hình ảnh lính bảo vệ đảo Hoàng Sa trút hết quân phục dồn súng một chỗ đầu hàng nhục nhã mới thấy sự yếu hèn của đội quân mà anh gọi là bảo vệ Tổ quốc), điều mà chúng không ngờ là HQ16 không bị đánh chìm đã cố lết về quân cảng Đà Nẵng, để làm nhân chứng cho cuộc ngụy chiến này bằng quả đạn pháo 127 ly do Mỹ sản xuất của tàu HQ5 bắn trúng; sự thật như vậy sao các nhà sử học không biết mà cứ dựa vào tài liệu bịa đặt của bọn ngụy để rồi tự phong cho chúng là anh hùng, chiến sĩ bảo vệ Tổ quốc, còn gọi đó là những người hy sinh vì nước, anh có biết những con tàu này đã từng ngăn chặn bao lần các con tàu không số vượt biển vào Nam và gây bao nhiêu tội ác với đồng bào ta. Chúng ta gác lại quá khứ chứ không phải là xóa đi quá khứ, với sử học điều đó là phi lịch sử.

Mấy dòng trao đổi cùng anh để anh tự nhìn lại mình mà góp phần biên tập các tập sử mà Đảng, Chính phủ, Nhân dân đã giao cho các anh, đừng để tiền của nhân dân lãng phí vì những sai phạm của mình.

Chào anh và gởi đến anh lời chào quen biết!

Ảnh: Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, nguyên Cục trưởng CTH, TCCT QĐND Việt Nam.

Yêu nước ST.

"NGỤY BIỆN", "NGỤY SỬ" THẬT NGUY HẠI!

      Thấy có mấy "Sử Da" lên mạng "ngụy biện", dựng lại thây ma VNCH, mình đăng lại bài tóm tắt này để chúng ta thấy "ngụy sử" nguy hiểm, nham hiểm đến chừng nào:

Đó là bài của tác giả Hải Yến trong Win.Win, vn. Xin tóm tắt những vấn đề chính mà tác giả nêu ra để các bạn tiện theo dõi và thấy được "ngụy biện" nguy hiểm và tráo trở như thế nào đối với lịch sử của dân tộc ta.

Tác giả nêu định nghĩa "ngụy biện" rồi tóm tắt "ngụy biện" có những loại sau đây:

1. Ngụy biện biến sự kiện từ thật, thành giả: Từ một sự kiện lịch sử có thật, họ biến nội dung sự kiện thành giả để đánh lừa dư luận, rồi họ kết luận bóp méo sự kiện, ví dụ điển hình về hội nghị Thành Đô là sự kiện ngoại giao kín có thật giữa đại diện Chính phủ ta với Trung quốc, vì thế nội dung được giữ bí mật không công bố, nhưng họ đã "khéo" nặn ra vấn đề rằng trong hội nghị này phía Việt Nam đã thỏa thuận với TQ là đến năm 2020 Vn sẽ sáp nhập vào TQ, luận điệu này đã làm không ít người hoang mang, đặc biệt những kẻ chống đối nhà nước được dịp lu loa, kích đông dư luận rằng CS Việt nam đúng là tay sai bán nước. Chỉ đến khi năm 2020 đã qua, khi quốc ca Vn vẫn cất lên hùng hồn, cờ Tổ quốc vẫn tung bay ở Ba Đình lịch sử và khắp nơi trên Tổ quốc, nước CHXHCNVN vẫn vẻ vang sánh vai cùng các cường quốc năm châu, thì họ mới biến mất tăm cùng hàng loạt bình luận cổ vũ, kích động cho họ trên mạng xã hội.


2. Ngụy biện liên quan đến hội nghị Giơnever 1954: đây là một Hiệp định quốc tế mà Vn tham gia nhằm chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương, là một thắng lợi lớn về ngoại giao mà nhân dân ta đã phải đổ xương máu để được công nhận Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền. Trong hiệp định này không một câu từ nào ghi có hai nước Việt Nam. Hiệp định ấn định sau hai năm Vn sẽ tiến hành Tổng tuyển cử thống nhất đất nước, để tránh xung đột giữa hai lực lượng của Việt Minh và của Pháp còn hiện diện trên lãnh thổ Vn, đã ấn định lấy vĩ tuyến 17 làm GIỚI TUYẾN QUÂN SỰ TẠM THỜI (đường ranh quân sự) để tập kết, trong đó bên Việt Nam dân chủ cộng hòa (VNDCCH) tập kết về phía Bắc, bên đối phương tập kết ở phía Nam. Người Pháp có trách nhiệm cùng VNDCCH hiệp thương để tiến hành Tổng tuyển cử vào năm 1956 sau hai năm Pháp rút quân, thế nhưng họ chỉ thực hiện rút quân, còn viêc hiệp thương để Tổng tuyển cử họ bỏ luôn.

Ngụy biện xuất hiện khi Ngô Đình Diệm được Mỹ dựng lên đưa về Miền Nam Vn, Diệm đã chuyển đổi, tước quyền cái gọi là Quốc Gia Việt nam của Bảo Đại bằng một cuộc "trưng cầu dân ý" gian lận, phế truất Bảo Đại, lập nên cái gọi là "Chính quyền Việt Nam cộng hòa" (VNCH) sau đó họ lu loa lên rằng Việt Minh đã ký một Hiệp định chia cắt, biến Vn thành hai quốc gia, từ đó họ biến sự thật GIỚI TUYẾN QUÂN SỰ TẠM THỜI thành GIANH GIỚI LÃNH THỔ (biên giới), biến từ cái đúng chỉ có một nước Việt Nam độc lập, có chủ quyền thành hai nước Việt Nam, từ GIỚI TUYẾN QUÂN SỰ TẠM THỜI thành GIANH GIỚI LÃNH THỔ, từ đó họ lại tiến thêm một bước nữa, khi nhân dân ta tiến hành đấu tranh giành độc lập thống nhất, họ lu loa lên Miền Bắc xâm lược "nước VNCH". Như vậy ngụy biện đã biến "cái tạm thời" thành cái thật. Chiêu trò này đã khiến không ít người Việt Nam không thể nhận ra sự thật. 

Ngay đến bây giờ vẫn còn có những người dựa vào phương pháp luận ngụy biện này để cho rằng muốn đòi TQ trả Hoàng Sa và các đảo trên quần đảo Trường Sa bị TQ chiếm giữ, thì Vn phải công nhận "chế độ VNCH" mới có cơ sở pháp lý, vì các đảo và quần đảo đó do "VNCH giữ chủ quyền". Với luận điểm này, họ đã phớt lờ một sự thật là chưa bao giờ và chưa hề có một văn bản nào cho rằng các đảo, quần đảo đó giao "VNCH" quản lý về chủ quyền cả. Trên văn bản của Hiệp định quốc tế, vĩ tuyến 17 chỉ là GIỚI TUYẾN QUÂN SỰ TẠM THỜI nhằm tập kết lực lượng của hai bên, vì vậy các đảo, quần đảo và lãnh thổ Nam Vn cũng chỉ là tạm thời quản lý về hành chính mà thôi. Để bao biện cho cái lý lẽ ngụy biện này, họ nói rằng, "VNCH" từng là một quốc gia thành viên của Liên Hợp quốc (LHQ), được nhiều quốc gia công nhận, nhưng họ không biết rằng cái gọi là VNCH chưa bao giờ được LHQ công nhận cả, vì khi Mỹ đưa họ vào LHQ thì Liên Xô đã dùng quyền của thành viên Hội đồng Bảo An LHQ phủ quyết (chắc lúc bấy giờ TQ cũng phủ quyết). 

Rõ ràng từ cái gọi là Quốc gia Việt Nam bị tiếm quyền bằng một cuộc "trưng cầu dân ý gian lận", để tự xưng là "Nước VNCH" cho đến ngày 30/4/1975 nhào đổ, về pháp lý chưa bao giờ cái gọi là VNCH được quốc tế công nhận là thành viên của LHQ.

Các bạn thấy đó, độ nguy của ngụy biện ghê chưa...!






Yêu nước ST.

PHÒNG CHỐNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH: Ờ….CŨNG THẤY HAO HAO.!

      Anh nhạc sĩ "dân chủ" Tuấn Khanh đăng đàn lên RFA để xiên xẹo, đá đểu chính quyền thông qua việc cơ quan điều tra bắt giữ một số đối tượng trong vụ "Tịnh Thất Bồng Lai". Sự việc như báo, đài đã đưa tin, tôi cũng chẳng bình luận gì thêm, nhưng cái cách vin vào đó để quay ra đá xóc chính quyền như anh "nhạc sĩ dân chủ" đang làm trên RFA thì quả đúng là củ chuối vô cùng. Chưa hiểu anh này căn cứ vào đâu để nói rằng việc bắt giữ cho thấy chính quyền làm vậy là bất minh, vô pháp, rồi không an toàn trong khung luật pháp....??

Trên thực tế sự việc ở "Tịnh !Thất Bồng Lai" như nào cơ quan điều tra còn đang tiếp tục làm sáng tỏ. Nhưng xem ra quý anh Tuấn Khanh đây chỉ chờ có thế là đã lên ngay sàn RFA để nhảy đồng và trưng ra một câu phát biểu ngang tầm hũ nút như vậy là đủ thấy anh này vẫn còn đắm đuối với “dân chủ” lắm. Nhưng chống phá như anh thì chả được cái vị gì đâu. Mà sao anh lại muốn cổ vũ cho cái lối sống thác loạn ấy nhỉ…??? Hay từ ngày hít khói “dân chủ” đến nay anh lại thấy phải là kiểu “hoang dã, bầy đàn” như thế mới đã….?

À….suýt tôi quên mất. Coi lại cái hình dáng của anh mà sao tôi thấy hao hao với mấy đệ tử của anh Vân lắm…! Có nhẽ nào anh cũng cùng gu…??...

Yêu nước ST.

BÀI VIẾT CỦA TỔNG BÍ THƯ LÀ ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC MANG TÍNH THỜI ĐẠI!

        Mấy ngày nay tranh thủ đọc các bài viết trong sách Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam… có thể khẳng định qua bài viết của TBT Nguyễn Phú Trọng đã làm sáng tỏ hơn cả lý luận và thực tiễn con đường phát triển của đất nước ta. Tôi xin giới thiệu bài viết của ông Khamvisanh Keosouvanh, Trợ lý Trưởng Ban Tuyên huấn Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, trên báo Vietnam+ ngày 02/11/2021.

Theo ông Khamvisanh Keosouvanh, nội dung bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng rất phù hợp với tình hình phát triển thực tế của Việt Nam cũng như của thế giới.

Bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng là “định hướng chiến lược mang tính thời đại về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam.”

Đây là nhận định của ông Khamvisanh Keosouvanh, Trợ lý Trưởng Ban Tuyên huấn Đảng Nhân dân Cách mạng Lào trong bài viết gửi riêng cho phóng viên TTXVN tại Vientiane.

Theo ông Khamvisanh, nội dung bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng rất phù hợp với tình hình phát triển thực tế của Việt Nam cũng như của thế giới.

Thứ nhất, sau khi tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (Đại hội Đảng XIII), nhiệm vụ quan trọng đặt ra đối với Đảng và nhân dân Việt Nam là phổ biến, quán triệt và phấn đấu tổ chức thực hiện các mục tiêu xây dựng, phát triển đất nước đến các mốc năm 2025, 2030 và 2045 mà Đại hội Đảng XIII đã đề ra, cũng như xác định phương hướng để thống nhất tổ chức thực hiện, đặc biệt là trong công tác chính trị-tư tưởng ở trong và ngoài Đảng; đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, thủ đoạn, luận điệu chống phá của các thế lực thù địch, phản động.

Việc bài viết được xuất bản trước ngày tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 và dịp kỷ niệm 131 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất phù hợp để giúp lãnh đạo Việt Nam nhận thức rõ, chuẩn bị lựa chọn nhân sự chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam với những thời cơ và thử thách mới.

Thứ hai, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã bắt đầu bài viết với những ngôn từ nhẹ nhàng nhưng rất sâu sắc, từ đó khẳng định chủ trương, lập trường của Đảng Cộng sản Việt Nam kể từ ngày được thành lập và trong suốt sự nghiệp đấu tranh cách mạng, đó là: chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Qua đó thể hiện sự vững tin tuyệt đối, sự trung thành của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với chủ nghĩa Marx-Lenin, Tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước tiến tới mục tiêu chủ nghĩa xã hội.

Ông Khamvisanh nhấn mạnh bài viết đã nêu bật quan điểm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm Đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới.

Theo ông Khamvisanh, không phải ngẫu nhiên mà trong năm 2020, khi cả thế giới đang phải đối mặt với sự lây lan của đại dịch COVID-19, Việt Nam vẫn là quốc gia thu hút đầu tư nước ngoài và có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh hàng đầu tại khu vực châu Á.

Ông khẳng định rất hiếm quốc gia nào trên thế giới có thể làm được điều này, đồng thời tin tưởng rằng dưới sự lãnh đạo tài tình, đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước của Việt Nam theo mục tiêu xã hội chủ nghĩa sẽ đảm bảo thực hiện thành công.

Thứ ba, bài viết là định hướng chiến lược mang tính thời đại về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; là kết tinh trí tuệ của người viết, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin vào tình hình thực tiễn của Việt Nam, là sự tổng kết mới về mặt lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, góp phần quan trọng làm đa dạng, phong phú kho tàng lý luận về chủ nghĩa xã hội trên thế giới. Do vậy, bài viết rất phù hợp để đưa ra thảo luận trên diễn đàn quốc tế về sự nghiệp xây dựng, phát triển của các quốc gia có mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội.

Không chỉ vậy, bài viết cũng phù hợp để đưa vào nội dung trao đổi lý luận của Đảng cũng như các trường Đảng tại những quốc gia có mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội để trao đổi kinh nghiệm, đưa ra thảo luận, nghiên cứu tại các hội thảo khoa học, là tài liệu nghiên cứu ý nghĩa cho các giảng viên, nghiên cứu sinh của các trường Đảng.

Ông Khamvisanh nêu rõ Lào và Việt Nam là hai nước anh em, có quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện; Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam có cùng một nguồn cội từ Đảng Cộng sản Đông Dương.

Do đó, bài học kinh nghiệm từ công tác lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước hướng tới mục tiêu chủ nghĩa xã hội, nhất là kinh nghiệm mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đúc rút cũng sẽ là những bài học quý báu cho Đảng Nhân dân Cách mạng Lào để vận dụng vào tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, cùng nhau lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội./.

Yêu nước ST.