Thứ Năm, 15 tháng 9, 2022

Người lãnh đạo và bài học tu dưỡng, tránh cám dỗ

 Không chỉ đề cao vai trò, tầm quan trọng của người lãnh đạo: “Một người lo bằng kho người làm”, triết lý người Việt còn nhắc nhở những ai ở cương vị đó phải biết giữ gìn nhân cách, bởi “nhà dột từ nóc”.

Lại có câu ca dao: “Người trên ở chẳng chính ngôi/ Để cho bề dưới chúng tôi hỗn hào” là chân lý cũng là đạo lý, vì người lãnh đạo, nhất là lãnh đạo cấp cao không chỉ phải “lo” đường lối chiến lược, hoạch định chính sách... mà còn phải là mẫu mực nhân cách có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng.

Thế nhưng vừa qua, có không ít vị lãnh đạo cấp cao lại “nhúng chàm” để rồi đang ở đỉnh cao quyền lực rơi xuống đáy thân phận bị cáo, trở thành “tấm gương mờ” để người đời bêu riếu... “Tài” và “đức” là hai phạm trù cơ bản cấu thành nhân cách người lãnh đạo. Họ có thể có “tài” nhưng còn thiếu “đức”. Bác Hồ từng dạy người cách mạng phải lấy đức là nguồn, là gốc: “Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(1). Những “tấm gương mờ” kia còn thiếu đạo đức cách mạng nên sức yếu, không “gánh được nặng” và chẳng “đi được xa”.

Bốn cái cột chống vững chắc của ngôi nhà đạo đức cách mạng, theo Bác Hồ là “cần, kiệm, liêm, chính”. Ngày Quốc khánh 2-9-1947, Người viết bài "Cán bộ và đời sống mới" giải thích rõ vấn đề, đặc biệt nhấn mạnh đến sự “thực hành”: “Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực hành bốn điều đó, mà muốn được lòng dân, thì cũng như bắc dây leo trời”(2). Câu nói mang ý nghĩa thời sự sâu sắc, như là nói với hôm nay!

Người lãnh đạo và bài học tu dưỡng, tránh cám dỗ
Bác Hồ đến thăm hội nghị phổ biến máy cấy công cụ cải tiến ở Từ Liêm, Hà Nội, tháng 7-1960. Ảnh tư liệu.

Một phẩm chất hàng đầu của người lãnh đạo là uy tín. Tham ô, đục khoét tức “vô liêm”, không trong sạch thì làm sao “được lòng dân”. Người xưa rất coi trọng chữ “liêm”. Cụ Khổng Tử mỉa mai: “Người mà không liêm, không bằng súc vật”. Cụ Mạnh Tử trăn trở: “Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy”. Bác Hồ kế thừa các tinh hoa tư tưởng ấy và minh họa một trường hợp cụ thể. Trong "Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch bốn tháng sang Pháp", Người có nói về “tấm gương” của Napoléon “đại tài nhưng tham lam”, từ một anh lính làm đến tổng tư lệnh rồi hoàng đế, vẫn chưa thấy đủ, ông còn muốn làm chúa cả thế giới: “Nếu ông Napoléon mà biết dè dặt, không tham muốn quá chừng, thì chắc nước Pháp lúc đó không đến nỗi vì chiến tranh mà chết người, hại của. Mà ông Napoléon cũng giữ được địa vị thiên tử trong một nước giàu mạnh ở Âu châu. Nhưng ông Napoléon đã làm con giời lại muốn làm cả giời, kết quả bị rơi xuống đất... Xưa nay đã nhiều người vì không “tri túc” (chừng mực) mà thất bại”(3). Là người có tài, lại ở vị trí lãnh đạo cao nhất nhưng “kết quả bị rơi xuống đất”, theo Bác Hồ có 3 lý do là “tham lam”, “không khiêm tốn”, “không biết lượng sức mình”. Vì thế mà ông ta mắc bệnh cuồng vọng “đã làm con giời lại muốn làm cả giời”. Hậu quả do người lãnh đạo gây ra, không chỉ mình người đó mà còn cả cộng đồng phải gánh chịu, có khi rất nặng nề.

Soi vào một vài trường hợp cán bộ lãnh đạo cấp cao vừa rồi bị kỷ luật, không thể so sánh về tài năng, nhưng về nguyên nhân và “kết quả” thì thấy họ cũng gần giống như Napoléon vậy!  

Phật giáo coi tính “tham” là nguyên nhân đầu tiên dẫn con người đến “bể khổ”. Khổng Tử coi sự “tham lợi” chỉ có ở kẻ “tiểu nhân”. Bác Hồ dạy cán bộ phải biết: “Ít lòng tham muốn về vật chất”! Mọi cán bộ đều phải thế, cán bộ lãnh đạo càng phải thế!

Về giải pháp ngăn chặn, căn cứ vào tư tưởng biện chứng của Lenin từ “trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng”, đối chiếu với quan niệm về đặc trưng tâm lý người lãnh đạo mới nhất của thế giới hiện nay, thì lời Bác Hồ dạy vẫn là bài học đúng đắn, thiết thực. Cụ thể nhất là lấy gương người tốt-việc tốt hằng ngày để giáo dục lẫn nhau. Đây là một truyền thống văn hóa phương Đông mà chính Bác Hồ giải thích: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Ở phương Tây, một số vị tổng thống khi nhậm chức thường đặt tay lên cuốn Kinh Thánh là một cách “hứa” sẽ làm theo những lời dạy mẫu mực, tức cũng coi đó là tấm gương. Vấn đề ở chỗ “làm gương” như thế nào, bằng cách nào?

Ở ngay lĩnh vực giáo dục cán bộ, đảng viên, Bác Hồ đã là nhà giáo dục lớn với tư tưởng và các biện pháp mang tính hệ thống, toàn diện, phù hợp. Theo Người, lấy những tấm gương “đảng viên đã vì Đảng, vì giai cấp, vì dân tộc mà oanh liệt hy sinh như đồng chí Lê Hồng Phong, Trần Phú, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Văn Cừ, Lương Khánh Thiện, Minh Khai, cùng trăm nghìn đồng chí khác... Máu xương của các tiên liệt đã thấm nhuần gốc rễ của Đảng ta, làm cho cây nó càng vững, ngành nó càng to, và kết quả khai hoa ngày càng rực rỡ”(4). Hình tượng ẩn dụ “cây” Đảng ta tươi tốt là nhờ “gốc rễ” được “thấm nhuần” máu xương của các bậc tiền bối thật giàu ý nghĩa biểu cảm này được Người nhiều lần nhắc lại. Thế hệ lãnh đạo đầu tiên ấy đã hy sinh trọn vẹn, tuyệt đối cho dân tộc, xứng đáng là tấm gương cho mọi thế hệ kế tục học tập, noi theo.

Bác Hồ từng nhấn mạnh những cán bộ chủ chốt, cấp cao phải tiên phong trong việc nêu gương. Trong "Bài nói chuyện tại phiên họp cuối năm của Hội đồng Chính phủ năm 1963", Người nhắc nhở: “Một điều rất quan trọng nữa là các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng và cán bộ lãnh đạo phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn tác phong gian khổ phấn đấu, phải không ngừng nâng cao chí khí cách mạng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Có như thế mới xứng đáng với đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng chống đế quốc Mỹ và tay sai của chúng để giải phóng miền Nam và hòa bình thống nhất nước nhà. Nhân dân ta rất tốt. Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”(5). Không chỉ là lời dạy về nội dung, còn là vấn đề phương pháp luận: Phải lấy tấm gương sáng nhất, cụ thể mà gần gũi để giáo dục. Thời điểm ấy, với các bộ trưởng, thứ trưởng... thì có tấm gương nào “sáng” hơn “đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng”.

Một số cán bộ lãnh đạo mắc khuyết điểm vừa qua có nguyên nhân là phai mờ lý tưởng cộng sản, nhạt phai tinh thần tự nguyện cống hiến, hy sinh vì cách mạng, vì dân nên sa vào chủ nghĩa cá nhân, đúng như Bác nói, họ “coi Đảng như một cái cầu thang để thăng quan phát tài”(6). Xa dân nên thành “quan cách”, không đoái hoài đến đời sống của dân, không chỉ không “cần kiệm” mà còn xa hoa, lãng phí. Do vậy quy trình bổ nhiệm cán bộ cấp cao cần hết sức chặt chẽ. Nhất thiết cán bộ đó phải kinh qua những cương vị lãnh đạo gần với dân, hiểu dân. Bởi có vậy họ mới thấm thía “một hột gạo, một đồng tiền, tức là một số mồ hôi nước mắt của đồng bào” nên có ý thức chi tiêu, sử dụng bất cứ cái gì cũng phải nghĩ đó là của dân. Chỉ khi nghĩ được như lời Bác dạy “hoang phí là một tội ác” thì mới biết trân trọng, giữ gìn tài sản của dân và danh dự của mình.

Những vụ việc ấy cho thấy bài học là còn nhiều cơ quan, tổ chức đảng coi nhẹ công tác tự phê bình và phê bình. Điều ấy có lý do từ căn tính tiểu nông cả nể đã ngàn xưa, với cán bộ chủ chốt thì sự cả nể càng tăng lên nhiều. Lại thêm tâm lý “chín bỏ làm mười”, “xuê xoa”, “an phận thủ thường”, “đấu tranh là... tránh đâu”... nên lãnh đạo mắc khuyết điểm ngày thêm nặng mà không được góp ý, chỉ ra, ngăn chặn.

Rất nhiều lần Bác Hồ nhắc cán bộ phải “gương mẫu”, “nêu gương”, phải là “đầu tàu”... Không ít lần, Người mượn lời Khổng Tử dạy cán bộ mình có đứng đắn, trong sáng mới tề được gia, trị được quốc, bình được thiên hạ... Những lời dạy ấy không chỉ đúng với đạo lý mà còn là khoa học, biện chứng. Để có uy tín, để là tấm gương sáng, với người lãnh đạo-theo lời Bác dạy là phải “thực hành trước” các nguyên tắc “Cần, kiệm, liêm, chính”, “chí công”, “vô tư” . Một phương pháp sư phạm đã trở thành chân lý: Cách tốt nhất để giáo dục, thuyết phục người khác là giáo dục, thuyết phục bằng chính nhân cách mình!

Đừng xa rời văn hóa truyền thống tốt đẹp

 Sau Tết Trung thu, sáng sớm, sinh hoạt rút kinh nghiệm ban tổ chức đêm hội trăng rằm của thôn, ông Phát, Trưởng ban công tác Mặt trận thôn không khách khí nói ngay:

- Tôi thấy, anh Sơn cần rút kinh nghiệm sâu sắc. Tôi không đồng ý với cách tổ chức năm nay. Ngay từ đầu, tôi đã nói rồi, chúng ta cần phải để các cháu được tự tay làm đèn ông sao, đèn lồng; để các cháu trông trăng, phá cỗ... chứ không phải phát cho mỗi cháu một cái đèn điện xanh đỏ, tím vàng nhấp nháy, trao mỗi cháu một cái phong bì rồi để các cháu thi hát karaoke dăm bài thiếu nhi là hết chuyện.

Anh Sơn, Bí thư chi đoàn thôn phân trần:

- Thưa bác, cháu thấy chúng cháu có làm có gì sai đâu ạ. Năm nay, chúng cháu đã vận động được doanh nghiệp tài trợ nên mua đèn lồng điện tử cho tất cả các con trong xóm, tặng quà bằng tiền mặt. Chúng cháu để ý, bọn trẻ cũng háo hức mà bác.

- Tôi không chê chuyện các anh đi vận động ủng hộ để các cháu có thêm những món quà. Thế nhưng, các hoạt động tổ chức trong Tết Trung thu, đặc biệt là đêm trăng rằm cần ý nghĩa và gắn với truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, chứ không nên xa rời truyền thống như vậy.

- Thưa bác, cháu nghĩ, văn hóa gì thì cũng là để các em nhỏ vui vẻ. Chỉ là chúng cháu thay đổi cách làm mới hơn để thiếu niên, nhi đồng tiếp cận với văn minh hơn. Thay vì đèn làm bằng tre, nứa, giấy, thắp nến dễ cháy thì chúng cháu dùng đèn điện nhập ngoại, vừa rẻ vừa đẹp. Rồi buổi tối chúng cháu tổ chức cho các bạn nhỏ hát ca, vui văn hóa, văn nghệ mà bác.

Chủ trì cuộc họp, nghe câu chuyện của ông Phát và anh Sơn, Trưởng thôn Trần Duy Hưng cắt lời cậu bí thư chi đoàn:

- Anh Sơn phải suy nghĩ lại đi. Bác Phát nói đúng đấy! Dù là nên đổi mới phương pháp, cách làm cho sinh động nhưng cốt lõi là giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc trong ngày Tết Trung thu cũng không thể thay đổi, không được phép mất đi. Khi đồng ý cho các anh tổ chức Trung thu cho các cháu, tôi tin tưởng giao việc nên không yêu cầu báo cáo rõ. Giờ việc đã rồi, tôi yêu cầu anh cần rút kinh nghiệm sâu sắc.

- Thưa bác, cháu hiểu rồi ạ. Chúng cháu không nghĩ việc nghiêm trọng đến thế. Chúng cháu muốn công tác tổ chức gọn nhẹ, các em nhỏ được vui nên làm như vậy mà không ý thức được hậu quả. Cháu sẽ nghiêm túc rút kinh nghiệm tổ chức các chương trình sau này ạ.

Ông Phát ôn tồn:

- Cháu hiểu ra là tốt rồi. Sơn ạ, việc tiếp thu những tri thức, văn minh, văn hóa mới là cần thiết. Thế nhưng, cùng với đó phải luôn ý thức giữ gìn giá trị văn hóa dân tộc. Từ các hoạt động thường ngày đến các dịp lễ, tết, chúng ta phải có trách nhiệm giáo dục cho con em mình hiểu biết, giữ gìn và được sống trong không gian văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Với Trung thu, phải là đèn ông sao, đèn lồng, phải là bánh trung thu, mâm ngũ quả, phải rước đèn, phá cỗ, trông trăng... Nếu chú trọng vào vật chất mà xa rời hay làm phai nhạt giá trị văn hóa dân tộc là chính chúng ta đang tự diễn biến, tự chuyển hóa đấy.

Đâu phải một đảng “đẻ ra” tham nhũng

 Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN) ở Việt Nam có những bước tiến quan trọng, rất đáng ghi nhận.

Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN) ở Việt Nam có những bước tiến quan trọng, rất đáng ghi nhận. Thế nhưng, với những âm mưu, thủ đoạn thâm độc, các thế lực thù địch vẫn ra sức phủ nhận thành quả PCTN của Đảng và dân tộc Việt Nam. Chúng quy chụp rằng: Tham nhũng ở Việt Nam là hệ quả của việc Đảng Cộng sản Việt Nam độc quyền lãnh đạo và việc PCTN thực chất chỉ là một cuộc thanh trừng nội bộ. Đây là luận điệu xuyên tạc, bịa đặt, phải kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

1. Mới đây, RFA đăng bài viết “Thuốc đặc trị chữa tham nhũng: Thay đổi thể chế”. Bài viết có nhiều nội dung lật lọng, đả kích, cho rằng: Việt Nam từ nhiều năm qua ra quyết tâm chống tham nhũng nhưng vẫn có hàng trăm cán bộ cấp cao bị kỷ luật bằng nhiều hình thức do tham nhũng. Liệu có diệt được tham nhũng trong thể chế hiện hành hay không? Trên cơ sở đó, tác giả bài viết hồ đồ “hiến kế”, cho rằng ở Việt Nam muốn chống tham nhũng thì phải thay đổi hoàn toàn cơ chế hiện tại.

Với ý đồ tương tự, một số bài viết đăng trên báo mạng nước ngoài đặt điều cho rằng, ở Việt Nam nên có sự cạnh tranh lãnh đạo giữa các đảng phái mới có thể phát hiện ra những “ung nhọt” hạn chế, yếu kém của nhau; qua đó mới giúp công tác PCTN chuyển biến thực chất. Cùng với đó, chúng còn vu cáo Đảng, Nhà nước Việt Nam đang ở thế “lưỡng nan đối nghịch” với hàm ý chống tham nhũng nhưng ngại thay đổi thể chế chính trị, rồi giả danh những người yêu nước để hiến kế “một cách nghĩa hiệp”...

Các bài viết trên cũng tập trung phủ nhận kết quả đấu tranh PCTN, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta. Chúng rêu rao, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã và đang ra sức phát động PCTN, tiêu cực nhưng đều không thành công, thậm chí, vấn nạn này ngày càng gia tăng rộng khắp. Bởi “bới” chỗ nào cũng ra tham nhũng, sờ đến đâu thì kỷ luật cán bộ đến đấy. Viện dẫn bằng chứng cho những suy diễn đó, chúng chắp vá một số vụ việc tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên được phát hiện trong thời gian gần đây, rồi quy chụp hiện tượng thành bản chất, quy chụp những sự vụ đơn lẻ thành lỗi hệ thống.

Đâu phải một đảng “đẻ ra” tham nhũng
Tranh minh họa. Nguồn: Tuyengiao.vn 

Những lập luận, suy diễn trên hoàn toàn thiếu cơ sở; với mưu đồ gây nhiễu loạn thông tin dư luận, gây bất lợi cho công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ở Việt Nam. Bởi vì, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất là hiện tượng mang tính xã hội, tồn tại ở các quốc gia, do quyền lực nhà nước bị thao túng, tha hóa gây ra, không phân biệt chế độ xã hội, thể chế chính trị nào, chế độ đa đảng hay một đảng lãnh đạo. Có nghĩa, ở bất cứ nơi nào có quyền lực và quyền lực chính trị mà bị tha hóa, lạm dụng thì nơi ấy sinh ra tham nhũng. Nói đến nhà nước là nói đến quyền lực-một quyền lực to lớn và sự lạm quyền, lộng quyền, quyền lực có nguy cơ bị “tha hóa” là điều dễ xảy ra; tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh của quyền lực”. Tham nhũng là “căn bệnh” của nhà nước, có nhà nước là có tham nhũng, có chăng chỉ khác nhau ở mức độ nghiêm trọng.

2. Lịch sử nhân loại cho thấy, chế độ một đảng lãnh đạo hoàn toàn không phải là “cha đẻ” của tệ nạn tham nhũng, suy thoái, biến chất trong giới cầm quyền. Mà thực chất, tham nhũng là tệ nạn nhức nhối, xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới; trong số đó, đa số là các quốc gia thực hiện chế độ đa đảng lãnh đạo, tam quyền phân lập, do giai cấp tư sản lãnh đạo. Không ít quốc gia theo chế độ đa đảng, tình trạng tham nhũng diễn ra trong hệ thống công quyền đã trở thành mối nguy hại lớn, thậm chí đã leo đến tận các nguyên thủ quốc gia. Từ năm 1995, Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) đã công bố chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) hằng năm (dựa trên dữ liệu từ 13 nguồn bên ngoài, bao gồm Ngân hàng Thế giới, Diễn đàn Kinh tế thế giới, rủi ro tư nhân, các công ty tư vấn và các tổ chức khác). Đây là chỉ số toàn cầu hàng đầu về tham nhũng trong khu vực công, cung cấp một cái nhìn tổng thể hằng năm về mức độ tham nhũng tương đối ở 180 quốc gia và vùng lãnh thổ. Điều đó cho thấy, tham nhũng là vấn nạn chung của mọi quốc gia, chứ không thuộc bất cứ đất nước, hay bộ máy chính quyền nào.

Để PCTN hiệu quả, các quốc gia trên thế giới đều xây dựng cho mình những chiến lược dài hạn với thái độ và phương thức tiến hành rất quyết liệt, mạnh mẽ. Ví như, Trung Quốc ban hành các văn bản quy định về giáo dục đạo đức và xây dựng tác phong liêm chính trong cán bộ đảng và nhà nước. Luật Chống tham nhũng (năm 1989) của Singapore cho phép tòa án tịch thu tài sản của công chức nếu họ không giải thích được nguồn gốc tài sản đó. Thái Lan yêu cầu các cơ quan chức năng phải xem xét tất cả đơn thư tố giác của người dân về tham nhũng, dù có ký tên hay không ký tên. Một số nước như Brazil, Colombia, Singapore... thiết lập các đường dây nóng để thu nhận tin tức về tội phạm nói chung và tham nhũng nói riêng. Thực tế đó cho thấy, dù là quốc gia nào, chế độ nào, thời kỳ nào cũng đều sinh ra tham nhũng và vấn nạn này hoàn toàn không phải là “con đẻ” của chế độ một đảng lãnh đạo.

Do đó, việc một số cá nhân, tổ chức thù địch, thiếu thiện chí cho rằng, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất là “căn bệnh nan y”, chỉ xảy ra ở các quốc gia do Đảng Cộng sản lãnh đạo hay ở quốc gia do một đảng lãnh đạo, cầm quyền là hoàn toàn không đúng với thực tế và hòng hiện thực những thủ đoạn chính trị thâm độc, xấu xa. Trước hết, chúng hướng đến việc tạo nên sự hoài nghi, hoang mang, dao động, gây lầm tưởng tham nhũng phức tạp là do chế độ một đảng lãnh đạo, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với chế độ. Đồng thời, thông qua đó, các đối tượng nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng và toàn xã hội; mà trực tiếp, trước hết là sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc PCTN, tiêu cực.

3. Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta cho thấy, cùng với quyết tâm xây dựng bộ máy nhà nước dựa trên pháp trị, các triều đại phong kiến Việt Nam rất quan tâm đến việc PCTN. Hơn một nghìn năm trước, Triều Lý (1009-1225) đã đề ra những quy định khắt khe và rất cụ thể để ngăn ngừa và trừng trị hành vi tham ô, ăn trộm của công của quan lại. Đến Triều Lê Sơ, Bộ luật Hồng Đức có 722 điều, trong đó có hơn 40 điều liên quan đến việc PCTN. Các triều đại kế tiếp, việc chống tham nhũng được coi trọng; quan tâm ngăn ngừa, loại bỏ các mối quan hệ thân tộc, gia đình, đồng hương, bè cánh, tránh tình trạng bao che, thông đồng để thực hiện những hành vi tham nhũng... Đặc biệt, trong lịch sử dân tộc Việt Nam còn lưu truyền một lễ hội quan trọng thường được tổ chức dịp đầu năm-Lễ hội “Thề không tham nhũng”. 

Trải qua các thời kỳ cách mạng, Đảng, Nhà nước ta luôn xác định tham nhũng, tiêu cực là “giặc nội xâm”; một trong các nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ, cản trở tiến trình phát triển của đất nước, phải kiên quyết đấu tranh loại ra khỏi đời sống xã hội. Đảng ta kiên định, phải chủ động phòng ngừa, không để xảy ra tham nhũng, tiêu cực; xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi tham nhũng, lãng phí, hành vi bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng. Kết hợp giữa xây và chống, phòng ngừa gắn liền với xử lý nghiêm minh mọi hành vi tham nhũng; không có ngoại lệ, không có “vùng cấm” trong chống tham nhũng ở Việt Nam.

Đặc biệt, thời gian qua, công tác PCTN, tiêu cực được Đảng, Nhà nước tiến hành một cách công khai, minh bạch, quyết liệt từ Trung ương đến cơ sở. Hàng loạt cán bộ cấp cao sai phạm thuộc diện Trung ương và địa phương quản lý đều bị xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng tội. Kết quả đánh giá tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác PCTN, tiêu cực (giai đoạn 2012-2022) được Bộ Chính trị tổ chức vào ngày 30-6-2022, cho thấy: Chỉ trong 10 năm qua, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên, trong đó có hơn 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng. Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật hơn 170 cán bộ cấp cao diện Trung ương quản lý, trong đó có 33 ủy viên, nguyên ủy viên Trung ương Đảng... Đây thực sự là những con số biết nói và là minh chứng sinh động nhất cho việc Đảng Cộng sản Việt Nam không khoan nhượng với “giặc nội xâm” và trong chế độ một đảng lãnh đạo, tham nhũng luôn bị đấu tranh loại bỏ đến tận cùng. Quyết tâm PCTN trong thời gian tới, cũng được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần bày tỏ, khẳng định: “Phải tiếp tục đẩy mạnh PCTN, quyết liệt, thường xuyên, liên tục, với quyết tâm cao hơn, mạnh mẽ hơn, hiệu quả hơn”.

4. Kết quả PCTN giúp Việt Nam không ngừng ổn định, phát triển, tạo thế và lực của đất nước trên trường quốc tế. Đặc biệt, từ kết quả PCTN, niềm tin của nhân dân dành cho Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa được nâng lên. Tuy nhiên, PCTN là cuộc chiến phức tạp, còn kéo dài với nhiều gian khổ, hiểm nguy nên tinh thần là phải tiếp tục làm, làm quyết liệt, làm tập trung, dứt điểm; đòi hỏi sự kiên quyết, kiên trì, chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Để thực hiện điều đó, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng phải nêu cao tinh thần, dũng khí đấu tranh không khoan nhượng với mọi biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, quyết liệt chống chủ nghĩa cá nhân, xem đó là “thang thuốc hay nhất”, “thang thuốc thánh” để PCTN như Bác Hồ từng căn dặn. Có như vậy thì Đảng mới từng bước trưởng thành, tiến bộ, hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang mà dân tộc giao phó. Đó cũng chính là cách mà mỗi tổ chức, cá nhân góp phần đấu tranh đẩy lùi, tẩy trừ, thủ tiêu mọi âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá cách mạng của các thế lực thù địch.

Đấu tranh vạch trần quan điểm “một đảng duy nhất lãnh đạo thì không có dân chủ, sẽ đưa đất nước, dân tộc vào ngõ cụt” của các thế lực thù địch

 

Phải chăng chế độ một đảng cầm quyền là mất dân chủ? Nếu chỉ nhìn vào hiện tượng, thì đã có lúc, có nơi một số đảng cộng sản cầm quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa Liên Xô và Đông Âu gây mất dân chủ trong nội bộ đảng và trong quá trình lãnh đạo đất nước dẫn tới sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở các nước này vào những năm 90 của thế kỷ XX, với cách nhìn khách quan, biện chứng và tinh thần học hỏi thì Đảng ta đã thẳng thắn nhìn nhận ra điều này và cho đó là một bài học trong quá trình lãnh đạo đất nước. Nền dân chủ vô sản gắn chặt với cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội, cho nên, nó chỉ có thể thực hiện được bằng con đường thiết lập quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản đối với toàn thể xã hội thông qua đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản. Chỉ giai cấp vô sản và đảng tiên phong của mình với cơ sở xã hội rộng lớn là quảng đại nhân dân lao động và mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng lao động, giải phóng xã hội và giải phóng con người mới có khả năng thiết lập được một nền chuyên chính vừa đảm bảo dân chủ cũng như các lợi ích căn bản khác của đông đảo quần chúng lao động, vừa triệt tiêu mọi khả năng phục hồi chế độ bóc lột và nô dịch.           

Ở nước ta, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa là quy luật hình thành, phát triển, là tôn chỉ mục đích hoạt động của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo, là người đại diện chân chính duy nhất cho lợi ích và nguyện vọng của nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh bảo vệ quyền sống, quyền tự do, dân chủ và hạnh phúc. Đó là các quyền sử dụng tư liệu sản xuất, có công ăn việc làm, quyền học tập và hưởng thụ văn hóa, quyền tham gia quản lý nhà nước, giám sát cán bộ, đảng viên, công chức và cơ quan nhà nước, quyền đóng góp ý kiến vào các chủ trương, chính sách, pháp luật, bày tỏ ý kiến về các hiện tượng tích cực và tiêu cực trong đời sống xã hội... Vì vậy, có ai đó nói “một quốc gia chỉ có một đảng duy nhất lãnh đạo như Việt Nam thì không có dân chủ” là không có căn cứ, thậm chí là phản khoa học, vì thực tế ở Việt Nam hiện nay đang chứng minh điều ngược lại.           

Thực tiễn ở nước ta hiện nay cho thấy, mọi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân. Nhân dân lao động là chủ thể mọi quyền lực; quyền lợi và nghĩa vụ, quyền hạn và trách nhiệm, cống hiến và hưởng thụ gắn bó chặt chẽ với nhau. Mọi người dân đều trực tiếp hay gián tiếp đề đạt nguyện vọng và đóng góp ý kiến của mình cho các cơ quan công quyền. Các kênh bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ngày càng được mở rộng và hoạt động hiệu quả. “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trở thành quy chế, thiết chế dân chủ trong xã hội; là phương châm hành động của người dân trong xây dựng hệ thống chính trị; là yêu cầu ứng xử

Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ luôn là đảng lãnh đạo duy nhất tại Việt Nam

 

Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) mang bản chất khoa học và cách mạng. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của đất nước và dân tộc. Điều này đã được kiểm chứng và khẳng định cả về lý luận và thực tế trong hơn 80 năm qua từ ngày có Đảng. Đảng CSVN mang bản chất khoa học, bởi vì Đảng ra đời, tồn tại và phát triển hợp theo quy luật của xã hội; đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Đảng CSVN mang bản chất cách mạng, bởi vì Đảng lĩnh trách nhiệm lãnh đạo toàn dân tộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước; mang lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân nhằm đạt mục tiêu của CNXH; đồng thời, đóng góp vào phong trào cách mạng thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, v.v…

Thực tiễn đã chứng minh, từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là đội tiên phong, lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam, là người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Qua sự “sàng lọc” khắc nghiệt của lịch sử những thập niên đầu thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là người duy nhất dẫn dắt mình đi đến tương lai hạnh phúc. Như vậy, cần khẳng định rằng, Việt Nam đã từng có thời kỳ lịch sử nhiều đảng cùng tham gia lãnh đạo cách mạng, nhưng chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam là cách mạng nhất, chân chính nhất, đủ bản lĩnh lãnh đạo cách mạng nước ta. Chế độ chính trị một đảng lãnh đạo là do nhân dân ta lựa chọn từ chính những trải nghiệm trong quá trình lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, kháng chiến chống xâm lược và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, đó là nhận định không chỉ của Đảng, nhân dân ta mà còn là của bạn bè quốc tế.

Tuy nhiên, hiện nay, các thế lực thù địch chống Việt Nam thường xuyên tuyên truyền luận điệu: “Ở quốc gia mà chỉ có một đảng duy nhất lãnh đạo như Việt Nam thì không có dân chủ, sẽ đưa đất nước, dân tộc đi vào ngõ cụt”. Trên mạng internet vẫn xuất hiện nhiều thông tin thù địch, trái chiều, các blog có nội dung xấu rêu rao tư tưởng dân chủ tư sản, bôi son, tô hồng về những thành tựu của các nước tư sản theo chế độ đa nguyên, đa đảng, hay trực tiếp nói xấu, bôi nhọ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta. Bản chất của hoạt động này là nhằm phủ nhận sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, kích động đa nguyên, đa đảng, từng bước chuyển hóa thể chế chính trị ở Việt Nam. Nhưng những mục đích thấp hèn đó của các thế lực thù địch sẽ luôn không bao giờ được thực hiện vì Đảng luôn được sự tin yêu, yêu mến của Nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ luôn là đảng lãnh đạo duy nhất tại Việt Nam trong tương lai và mã mãi về sau.

Những con kền kền tráo trở

 

Năm 1990 khi ngoại trưởng Mỹ mong muốn Liên Xô rút quân đồn trú khỏi Đông Đức để thống nhất nước Đức. Người Liên Xô đã rất quân tử khi rút 300 nghìn quân trong hoà bình để trả lại một nước Đức tươi đẹp. Và ngoại trưởng Mỹ đã hứa rằng Nato sẽ không tiến 1 milimet nào về phía đông. Thủ tướng Đức - Anh cũng đã hứa như vậy với Mikhail Sergeyevich Gorbachov. Và Liên Xô cũng chơi đẹp đến mức tuyên bố không ngăn cản tiến trình chính trị của khối Đông Âu nếu họ muốn. Ưng thì ở chán thì đi chứ không ngăn cản khối rời khỏi chủ nghĩa cộng sản và chỉ cần Mỹ và Nato đảm bảo đừng mở rộng khối về phía đông... Nghe mà cảm thán cho một siêu cường trong buổi hoàng hôn của đế chế và những gì xảy ra sau đó là lịch sử. Thế giới đã từng phải ngả mũ trước người "ANH CẢ" như thế . NATO khi hứa như vậy có 16 thành viên còn bây giờ thì sao? là 30, và hầu hết là những nước thuộc Liên Xô cũ. Và có những lúc người Nga tuyệt vọng đến mức đã muốn tham gia vào: NATO và EU. Tổng Thống Vladimir Putin từng xuống nước ngỏ lời với Cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton trong chuyến thăm Mosscow năm 2000 rằng : - Vladimir Putin : Ngài có nghĩ chúng tôi có thể tham gia Nato không? - Bill Clinton: Không, chúng tôi không nghĩ như vậy... - Vladimir Putin: Ồ, nếu ta không thể là một liên minh, tôi hi vọng các ngài cũng đừng trở thành kẻ thù của chúng tôi... Sau này, khi tổng thống Vladimir Putin yêu cầu Mỹ, Nato giữ lời hứa không mở rộng khối đến sát Nga thì Mỹ và Đồng Minh nói rằng: Chúng tôi chỉ hứa với Liên Xô và bây giờ Liên Xô đã không còn thì lời hứa cũng không còn nốt. Thế nên trong những năm qua Tổng Thống Vladimir Putin luôn yêu cầu một văn bản chính thức của Mỹ về việc không mở rộng khối liên minh đến biên giới Nga. Nhưng thay vì bàn bạc để có hoà bình thì người Mỹ phớt lờ yêu cầu đó và vươn cánh tay đến tận Ukraine. Bạn có ngủ yên trên giường được hay không khi thằng hàng xóm cứ lăm le hướng tên lửa về phía nhà mình? Và chuyện gì phải đến cũng đã đến. Hậu quả khôn lường, ảnh hưởng đến không chỉ các nước trong cuộc mà trên phạm vi toàn thế giới. Tất cả chỉ vì sự tráo trở của những con kền kền mà thôi

OHCHR đánh giá không khách quan về tình hình nhân quyền tại Việt Nam

 

Ngày 12/9/2022, trong phiên họp lần thứ 51 của Hội đồng Nhân quyền LHQ, Văn phòng Cao uỷ Nhân quyền LHQ (OHCHR) đã trình bày báo cáo cập nhật tình hình nhân quyền toàn cầu. Nội dung của bản báo cáo có những thông tin không khách quan, sai lệch về tình hình nhân quyền tại Việt Nam; OHCHR đưa ra dẫn chứng về trường hợp của Ngụy Thị Khanh, Đặng Đình Bách và Mai Phan Lợi… và kết luận: Việc bắt giữ, kết án các đối tượng này là “tuỳ tiện”, việc xét xử “không công bằng, làm oan người vô tội”. Tổ chức này kêu gọi Việt Nam trả tự do cho các tù nhân “thuộc các tổ chức dân sự” để đạt được lợi ích…
Đây không phải là lần đầu OHCHR đưa ra những đánh giá, nhận định sai trái, thiếu khách quan, thiếu thiện chí về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Những thông tin không đúng về vụ việc, cố tình phớt lờ sự thật để xuyên tạc, suy diễn vấn đề, vẽ ra các “thuyết âm mưu”, hướng lái dư luận về bản chất vụ việc, dựng chuyện chính quyền “bắt bớ người vô tội” để “ngăn chặn các tổ chức dân sự”...
Những cái tên được OHCHR phù phép bằng cụm từ “hình sự hóa tội trốn thuế” như Ngụy Thị Khanh, Đặng Đình Bách và Mai Phan Lợi thực chất là những “con sâu” phá hoại nền kinh tế của Việt Nam. Với những hành vi sai phạm đã thực hiện, việc các cơ quan chức năng của Việt Nam bắt giữ, xử lý là đảm bảo theo quy định của pháp luật. Đây là việc làm cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự xã hội, không phải là biện pháp “hình sự hóa” như những gì các đối tượng xấu và một số cơ quan nước ngoài có cái nhìn phiến diện để đánh giá về Việt Nam.
Trên thực tế, không riêng Việt Nam, mà các quốc gia khác trên thế giới cũng có những quy định hết sức chặt chẽ liên quan đến thuế. Tuỳ theo tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm thì người phạm tội sẽ phải chịu những chế tài tương ứng. Do đó, việc khởi tố, xét xử bản án 24 tháng tù giam đối với bà Ngụy Thị Khanh - Giám đốc Trung tâm phát triển sáng tạo xanh Green ID; 5 năm tù giam đối với ông Đặng Đình Bách - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Pháp luật và Chính sách Phát triển bền vững (LPSD); 45 tháng tù giam đối với ông Mai Phan Lợi - Chủ tịch Hội đồng Khoa học Trung tâm Truyền thông Giáo dục Cộng đồng (MEC) về tội danh “trốn thuế” là việc phải làm của cơ quan chức năng để đảm bảo an ninh trật tự xã hội, bảo vệ quyền lợi chính đáng của cộng đồng, giữ nghiêm kỷ cương phép nước. Quá trình điều tra, xét xử được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật. Phiên tòa được diễn ra công khai, bị cáo được bảo đảm đầy đủ các quyền theo quy định của pháp luật.
Trước khi bị khởi tố, tuyên án tù, những đối tượng trên đều là những người có chức vụ và uy tín nhất định trong xã hội. Lẽ ra, với sự nổi tiếng của bản thân, những đối tượng này càng phải có việc làm đúng quy định pháp luật để nêu gương. Thế nhưng họ lại có hành vi “trốn thuế” và việc bị kết án về tội danh này là căn cứ vào hồ sơ, tài liệu và quá trình xét xử tại tòa.
Từ những vụ việc trên cho thấy, OHCHR – nhân danh là “nhà dân chủ” đang cố tình lợi dụng vấn đề "xã hội dân sự" để bao biện cho hành vi sai phạm, tạo cớ đả phá chính quyền nhân dân, cố tình dựng chuyện hòng làm giảm vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Nhưng không thể nhân danh “hoạt động vì môi trường” hay “kêu gọi tài trợ” để vi phạm pháp luật. Và không thể biện minh, cổ súy cho hành vi sai trái ấy bằng những luận điệu lố bịch, lời lẽ vô lý, xảo trá, càng không thể đưa ra bất kỳ yêu cầu nào để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam như cái cách mà OHCHR đang làm; cũng không thể tuyệt đối nền dân chủ, nhân quyền của một quốc gia, một chế độ nào và coi đây là hình mẫu bắt buộc cho đất nước khác. Một quốc gia có nhân quyền hay không, có tốt đẹp hay không thì chỉ người dân đất nước đó mới có thể đánh giá. Đồng thời, trước khi đánh giá về tình hình Việt Nam, các quốc gia, tổ chức quốc tế hãy tự nhìn lại chính mình.
Đặng Trọng Anh
Có thể là hình ảnh về 3 người và mọi người đang đứng
1

“Mắt sáng, tai tinh, đầu óc thông minh” khi tham gia mạng xã hội

 

Tính hai mặt của mạng xã hội, bài toán đang cần lời giải đáp mới

Với đặc tính ảo, dễ ẩn danh, phát tán, lan truyền nhanh, internét và mạng xã hội đã trở thành môi trường thuận lợi để các thế lực thù địch, những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị lợi dụng, khai thác, tung tin xấu, độc, lừa gạt mọi người, gây hại cho cộng đồng, xã hội. Đúng là, sử dụng mạng xã hội như dùng “dao hai lưỡi”, vừa tiện ích, vừa hiểm nguy. Ai có đủ trí thông minh để khai thác, sử dụng mặt tiện ích sẽ đem lại hiệu quả cao trong công việc; khắc chế được mặt tiêu cực, sự nguy hiểm do mạng xã hội sinh ra và ngược lại.

Vài năm gần đây, do đại dịch Covid-19 hoành hành, cả thế giới phải gồng mình chống dịch. Để đối phó với tình hình, tiếp tục khơi thông “dòng chảy lịch sử”, duy trì sự sống, các nhà khoa học đã nghiên cứu, tìm ra việc chuyển đổi số, thiết kế và xây dựng các chương trình, phần mềm hỗ trợ nhằm khuyến khích mọi người dân vừa thực hiện “giãn cách xã hội”, vừa làm việc tại nhà, học tập, họp hành hiệu quả theo hình thức trực tuyến, góp phần nối liền mạch máu thông tin, khắc phục sự gián đoạn, bị cô lập cục bộ. Qua đó, khắc phục được tình trạng thông tin đơn điệu, một chiều, chậm chễ, bị chia tách. Nhờ đó, người dân “ngồi tại nhà, ở một chỗ mà biết mọi việc diễn ra trên thế giới”, không bị lạc hậu với thời cuộc. Họ đã kết nối, cùng nhau tương tác, cung cấp, chia sẻ thông tin, tạo nên các mối quan hệ đa chiều với nhiều nội dung, hình thức khác nhau rất tiện lợi. Vì vậy, sự xuất hiện và phát triển mạnh mẽ của một số công cụ, thiết bị máy móc, đã góp phần mở rộng và phát triển mạng xã hội; làm cho nó trở thành cơ hội cho tin giả, xấu, độc “lên ngôi”, tăng tốc chóng mặt với sự lan truyền nhanh chóng, tạo đột biến trên không gian mạng, thậm chí gây nhiễu loạn thông tin, dư luận xã hội, môi trường sống.

Hiện nay, Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ người dân sử dụng mạng xã hội cao nhất thế giới. Hơn thế, xu hướng đọc tin, tìm kiếm tư liệu phục vụ nghiên cứu, học tập, sản xuất, kinh doanh qua mạng xã hội ngày càng tăng lên, nhất là việc kết nối, sử dụng Facebook, Youtube, TikTok, Za lô… Triệt để lợi dụng điều đó, các thế lực thù địch, phần tử bất mãn, cơ hội chính trị đã triệt để lợi dụng các nền tảng mạng xã hội để xuyên tạc sự thật, phát tán tin giả, phổ biến thông tin xấu, độc nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ, cản trở công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; làm cho công tác quản lý thông tin, quản trị mạng, định hướng dư luận, tuyên truyền thông tin tích cực đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, nhất là việc ngăn chặn, bóc gỡ những tin xấu, độc và nguy cơ lột, lọt thông tin, bí mật quốc gia.

 Vì vậy, yêu cầu, nhiệm vụ cấp bách đặt ra hiện nay là các cơ quan chức năng, đội ngũ chuyên gia công nghệ thông tin cần có biện pháp khả thi giúp các đối tượng người dân “mắt sáng, tai tinh, đầu óc thông minh” khi khái thác, sử dụng mạng xã hội một cách hiệu quả nhất là việc quản lý mạng an toàn nhằm mục đích kép: vừa khai thác mặt ưu điểm, lợi thế, tích cực, tiện ích của mạng để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, vừa hạn chế tối đa những tác động tiêu cực, ảnh hưởng xấu từ mặt trái của nó, qua đó góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Khơi dòng “nước mát”, tránh “nơi hoang mạc”, khai thác hiệu quả mạng xã hội

Để đáp ứng yêu cầu khai thác, quản lý mạng xã hội an toàn, hiệu quả, cần “mắt sáng, tai tinh, đầu óc thông minh”, thực hiện tốt các giải pháp sau:

(1) Đẩy mạnh việc trang bị kiến thức, sự hiểu biết và phương pháp khai thác, sử dụng mạng xã hội cho các đối tượng người dân, nhất là giới trẻ, học sinh, sinh viên để họ tự quản lý, chủ động tham gia, khai thác các loại hình truyền thông, internét, mạng xã hội một cách thông minh, hiệu quả, nhất là việc nhận diện, phát hiện, cảnh giác cao với những thông tin xấu, độc, tin giả để biết cách phòng tránh. Đồng thời, biết tiếp cận, lựa chọn, sàng lọc kỹ và sử dụng những thông tin lành mạnh, hữu ích, tạo được “sự miễn dịch” trước những thông tin thất thiệt lan tràn trên mạng. Vì vậy, cần đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhân viên chuyên môn, nghiêp vụ, làm cơ sở giúp các đối tượng người dân có kiến thức công nghệ thông tin cần thiết để tương tác và thực hành trao đổi thông tin trên không gian mạng: kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn, hiệu quả. Qua học tập, người dân biết làm chủ các tính năng, công cụ, thiết bị máy móc kết nối với internét, mạng xã hội. Đây là biện pháp quan trọng, trực tiếp thúc đẩy truyền thông chủ động, phát hiện và xử lý kịp thời những mối đe dọa, nguy cơ tiềm ẩn, các yếu tố tác động, gây bất lợi cho quá trình quản lý không gian mạng.

(2) Tăng cường lan tỏa thông tin chính thống, tích cực, lành mạnh, phù hợp với nhu cầu, thị hiếu, sở thích, sự mong muốn của người dân trên không gian mạng, góp phần chuyển dần sự tập trung chú ý của dư luận xã hội tại cùng thời điểm, thu hút người dân tập trung vào những thông tin tích cực, có giá trị văn hóa và sự hấp dẫn cao. Nhờ đó, góp phần “pha loãng”, phân hóa và cô lập nhóm thông tin tiêu cực, thực hiện tốt phương châm “lấy xây để chống”, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, tạo môi trường phát triển thông tin tốt nhằm phủ kín, bao trùm, lấn át các thông tin xấu, độc trên không gian mạng.

(3) Nghiên cứu, nắm vững đặc điểm tâm lý, phương thức sử dụng thời gian, công việc của từng đối tượng và thời điểm sử dụng mạng xã hội để chọn cách tiếp cận viết bài, đưa tin, xây dựng các video clip phù hợp, thiết thực, hiệu quả. Ngoài những giá trị phổ biến của thông tin, nhất là tính xác thực, tính thực chứng, tính giáo dục thuyết phục, luận cứ khoa học chặt chẽ; người sử dụng mạng đang cần nhiều hơn những tin, bài viết ngắn gọn, dễ hiểu, các video clip có hình ảnh, âm nhạc để dễ xem và cảm nhận. Theo đó, cần tránh viết tin, bài dài dòng, lý luận cao siêu, trừu tượng, thuần túy với giọng điệu “lên lớp, dạy đời”, xa rời thực tế…Vì vậy, việc tuyền truyền thông tin trên mạng xã hội cần chọn lọc kỹ lưỡng, bảo đảm tính thiết thực, cụ thể, rõ ràng, đúng nhu cầu, lợi ích của người thụ hưởng, đem lại cho họ thông tin tích cực, niềm tin và sự thuyết phục cao. Do đó, việc “sản xuất”, “chế biến” các tin, bài viết, video clip cần rõ hơn thông điệp truyền tải, định hướng chính trị, phù hợp với tâm lý lứa tuổi và ngôn ngữ của cư dân mạng, thời gian tối ưu cho phép.

(4) Bên cạnh việc đổi mới nội dung, hình thức các thông điệp thông tin, cần đổi mới mạnh mẽ nội dung và hình thức tạo tin, viết bài, xây dựng video clip, nhất là chọn thời điểm “giờ vàng” để đưa thông tin lên mạng xã hội. Cần làm “cuộc cách mạng” về việc “sản xuất”, “chế biến” các sản phẩm: bài viết, videp clip sao cho “hợp khẩu vị cư dân mạng”, nghĩa là tin, bài viết thật ngắn gọn, các video clip vừa có nội dung đặc sắc, vừa có màu, có nhạc, có lời bình hay, hấp dẫn, rõ hơn tính “giải trí”, giáo dục và sức thuyết phục.

Muốn vậy, cần thông qua các câu chuyện lý thú, có kết cấu chặt chẽ, cốt truyện hấp dẫn để thu hút người xem, có tác dụng khêu gợi, “đánh thức” tình cảm, “chạm vào trái tim” người sử dụng tin, bài, mang lại cho họ giá trị nhân đạo đích thực, lẽ sống cao đẹp. Từ đó, truyền tải thông điệp thông tin, định hướng dư luận cần thiết. Cùng với đó, phát hiện các thông tin thất thiệt, giả dối, xấu, độc để kịp thời ngăn chặn. Cách tốt nhất là có ngay “ngân hàng thông tin tích cực” để kịp thời “giải độc”, “trị bệnh”, giúp người dân nắm rõ bản chất vấn đề, tính khách quan của sự thật. Qua đó, họ biết cách tự khẳng định, lan tỏa tính đúng đắn, sáng tạo từ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tự giác đưa nó vào cuộc sống. Hơn thế, giúp họ củng cố niềm tin, có thêm dũng khí để đấu tranh, phản bác, bác bỏ những thông tin giả, xấu, độc; chủ động, tích cực tham gia chia sẻ, lan tỏa nguồn thông tin chính thống, tạo thành dòng chủ lưu chi phối trên không gian mạng.

(5) Gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”; trong đó, “xây” là cơ bản, là chính yếu, tập trung vào bên trong, nội bộ; “chống” là giải pháp quan trọng, hướng vào việc ngăn chặn, đẩy lùi những thông tin giả mạo, xấu, độc, tiêu cực từ bên ngoài; “chống” phải kiên quyết, kiên trì, quyết liệt, khẩn trương, nghiêm túc và hiệu quả, đồng loạt diễn ra ở mọi cấp, mọi ngành, mọi lúc, mọi nơi. Vì vậy, cần đẩy mạnh việc nghiên cứu, dự báo chính xác tình hình, xu hướng vận động, phát triển của sự việc để chủ động phòng, chống, chiếm lĩnh truyền thông, không gian mạng. Trên cơ sở đó, tổ chức các đợt đấu tranh cứng rắn, kiên quyết, nhất là sử dụng các có biện pháp mạnh, khả thi, kể cả biện pháp quân sự, an ninh để chống lại các mạng xã hội “đen”, “lậu”, xuyên biên giới; kịp thời bóc gỡ tin giả, thông tin xấu, độc, lừa đảo, gây mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Cần trí tuệ thông minh để sử dụng mạng “tinh khôn” hiệu quả

Mạng xã hội do con người tạo ra để phục vụ con người, nếu sử dụng mạng xã hội thông minh, nó sẽ đem lại hiệu quả tốt; ngược lại, nếu sử dụng mạng xã hội không đúng cách, chính nó sẽ gây hại cho con người. Kể từ khi ra đời cho đến nay, mạng xã hội đã trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực trong việc cung cấp thông tin chính thống, định hướng kịp thời những vấn đề quan trọng; những vấn đề nhạy cảm, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi, phản bác các thông tin xấu, độc, tiêu cực, làm lành mạnh xã hội.

 Ở nước ta, mạng xã hội thật sự là công cụ thông minh, “bộ óc trí tuệ” rất cần cho cuộc sống. Nó không chỉ góp phần tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước mà còn góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; thiết thực phục vụ cuộc sống của đất nước có gần 100 triệu dân. Vì vậy, các cấp, các ngành cần vào cuộc, có quan điểm, chủ trương, biện pháp phù hợp để khai thác và phát huy mặt tích cực, lợi thế của mạng xã hội, nhất là khả năng ứng dụng các tiện ích của nó trong công tác thông tin, tuyên truyền. Đồng thời, hạn chế tối đa những tác động, ảnh hưởng tiêu cực từ mặt trái của nó, tạo môi trường không gian mạng rộng mở, tích cực để phục tốt hơn nữa sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Vì lẽ đó, mỗi chúng ta cần giữ cho mắt sáng, tai tinh, đầu óc thông minh khi tham gia mạng xã hội./.

Nguyễn Đình Thắng – kẻ núp bóng chống mua bán người để chống phá Việt Nam

 

Dựa trên những vụ việc đơn lẻ, chưa được xác minh rõ ràng, báo cáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về tình hình mua bán người trên thế giới năm 2022 công bố mới đây phần nói về Việt Nam chứa đựng nhiều thông tin chủ quan, phiến diện một chiều, không xác thực, không phản ánh đầy đủ, chính xác về tình hình cũng như quyết tâm và nỗ lực của Việt Nam trong phòng, chống mua bán người. Đáng lưu ý, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho rằng Việt Nam dung túng, bao che cho tội phạm mua bán người và xếp Việt Nam vào nhóm 3, gồm những quốc gia không đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn tối thiểu để xóa bỏ nạn buôn người…

Sau khi bản báo cáo trên được công bố, các thế lực thù địch, phản động coi đây là cơ hội để tuyên truyền xuyên tạc chống phá Việt Nam. Đặc biệt, núp bóng chống mua bán người, giở trò “té nước theo mưa” trong trả lời phỏng vấn một số trang mạng ở hải ngoại Nguyễn Đình Thắng – đối tượng cầm đầu cái gọi là tổ chức Ủy ban cứu người vượt biển lợi dụng việc này để tuyên truyền, xuyên tạc tình hình và phủ nhận những nỗ lực của Việt Nam trong phòng, chống mua bán người.

Dựa theo những thông tin chưa được kiểm chứng từ bản báo cáo, Nguyễn Đình Thắng hồ đồ quy kết rằng: Việt Nam là nước buôn người. Theo đuôi Nguyễn Đình Thắng, một số tổ chức, cá nhân thù địch, phản động, cơ hội chính trị cũng hả hê tung hô và tự cho rằng những đánh giá của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ là “thành tích” từ những hoạt động tuyên truyền xuyên tạc chống phá Việt Nam của chúng.

Từ những thông tin sai lệch trong bản báo cáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chúng tung tin xấu độc thêu dệt, phụ họa nhằm bôi nhọ hình ảnh, hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, phủ nhận những thành quả trong sự nghiệp đổi mới của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Chúng vu khống, nói xấu, phủ nhận những thành quả của Việt Nam trong bảo vệ quyền con người; xuyên tạc đường lối phát triển kinh tế – xã hội, những chủ trương, chính sách nhằm góp phần bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, giữ gìn trật tự an toàn và ổn định xã hội của Việt Nam…Từ chuyện mua bán người chúng kéo vào lĩnh vực kinh tế – xã hội, nhằm phá hoại môi trường đầu tư ở Việt Nam. Chúng suy diễn cho rằng môi trường đầu tư của Việt Nam là không an toàn, với việc bị xếp vào nhóm 3 Việt Nam sẽ đối mặt với những chế tài trừng phạt, các công ty quốc tế sẽ ngần ngại làm ăn với Việt Nam, hàng hóa Việt Nam sẽ bị người tiêu dùng tẩy chay…

Chúng ta chẳng lạ gì mưu đồ của Nguyễn Đình Thắng và một số cá nhân, tổ chức thù địch. Cần khẳng định rõ rằng hành động của Nguyễn Đình Thắng không hề vì mục đích đấu tranh ngăn chặn tình trạng mua bán người ở Việt Nam và thế giới như chúng từng rêu rao. Thực chất hành động của Nguyễn Đình Thắng và đồng bọn là lợi dụng những thông tin sai lệch của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về tình hình mua bán người để bóp méo, xuyên tạc chống phá Việt Nam; thông qua đó “đánh bóng” tên tuổi nhằm thu hút sự chú ý của các tổ chức quốc tế, tìm kiếm nguồn tài trợ nhưng không phục vụ cho hoạt động thiện nguyện như chúng từng rêu rao mà dùng cho chi tiêu cá nhân… Chính sự nhập nhèm, không minh bạch của Nguyễn Đình Thắng mà ngay trong chính nội bộ của cái gọi là tổ chức Ủy ban cứu người vượt biển đã xảy ra những vụ tố cáo, kiện tụng… Qua sự việc này một lần nữa Nguyễn Đình Thắng lộ nguyên hình một kẻ núp bóng bảo vệ nhân quyền, chống mua bán người để chống phá Việt Nam.

Về bản báo cáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã khẳng định: Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ra báo cáo năm 2022 về tình hình mua bán người trên thế giới với các thông tin không xác thực, không phản ánh đầy đủ, chính xác về tình hình và nỗ lực phòng, chống mua bán người của Việt Nam….

Trên thực tế, những nỗ lực, cố gắng và kết quả mà Việt Nam đạt được trong đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người là toàn diện, rõ nét, không ai có thể phủ nhận và xuyên tạc. Việt Nam kiên quyết lên án, phản bác mạnh mẽ mọi hành động cản trở cuộc đấu tranh phòng, chống mua bán người và kịch liệt phản đối, bác bỏ mọi luận điệu tuyên truyền bóp méo, xuyên tạc, bịa đặt nhằm phủ nhận những thành tựu bảo vệ quyền con người nói chung và công tác phòng, chống tệ nạn mua bán người nói riêng của Việt Nam. Mọi hành động núp bóng mua bán người, lợi dụng những thông tin sai lệch từ bản báo cáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ để tuyên truyền xuyên tạc chống phá Việt Nam của một số tổ chức, cá nhân thù địch như Nguyễn Đình Thắng chỉ là vô nghĩa và nhất định sẽ thất bại./

Người lãnh đạo và bài học tu dưỡng, tránh cám dỗ

 

Không chỉ đề cao vai trò, tầm quan trọng của người lãnh đạo: “Một người lo bằng kho người làm”, triết lý người Việt còn nhắc nhở những ai ở cương vị đó phải biết giữ gìn nhân cách, bởi “nhà dột từ nóc”.

Lại có câu ca dao: “Người trên ở chẳng chính ngôi/ Để cho bề dưới chúng tôi hỗn hào” là chân lý cũng là đạo lý, vì người lãnh đạo, nhất là lãnh đạo cấp cao không chỉ phải “lo” đường lối chiến lược, hoạch định chính sách… mà còn phải là mẫu mực nhân cách có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng.

Thế nhưng vừa qua, có không ít vị lãnh đạo cấp cao lại “nhúng chàm” để rồi đang ở đỉnh cao quyền lực rơi xuống đáy thân phận bị cáo, trở thành “tấm gương mờ” để người đời bêu riếu… “Tài” và “đức” là hai phạm trù cơ bản cấu thành nhân cách người lãnh đạo. Họ có thể có “tài” nhưng còn thiếu “đức”. Bác Hồ từng dạy người cách mạng phải lấy đức là nguồn, là gốc: “Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(1). Những “tấm gương mờ” kia còn thiếu đạo đức cách mạng nên sức yếu, không “gánh được nặng” và chẳng “đi được xa”.

Bốn cái cột chống vững chắc của ngôi nhà đạo đức cách mạng, theo Bác Hồ là “cần, kiệm, liêm, chính”. Ngày Quốc khánh 2-9-1947, Người viết bài “Cán bộ và đời sống mới” giải thích rõ vấn đề, đặc biệt nhấn mạnh đến sự “thực hành”: “Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực hành bốn điều đó, mà muốn được lòng dân, thì cũng như bắc dây leo trời”(2). Câu nói mang ý nghĩa thời sự sâu sắc, như là nói với hôm nay!

Một phẩm chất hàng đầu của người lãnh đạo là uy tín. Tham ô, đục khoét tức “vô liêm”, không trong sạch thì làm sao “được lòng dân”. Người xưa rất coi trọng chữ “liêm”. Cụ Khổng Tử mỉa mai: “Người mà không liêm, không bằng súc vật”. Cụ Mạnh Tử trăn trở: “Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy”. Bác Hồ kế thừa các tinh hoa tư tưởng ấy và minh họa một trường hợp cụ thể. Trong “Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch bốn tháng sang Pháp”, Người có nói về “tấm gương” của Napoléon “đại tài nhưng tham lam”, từ một anh lính làm đến tổng tư lệnh rồi hoàng đế, vẫn chưa thấy đủ, ông còn muốn làm chúa cả thế giới: “Nếu ông Napoléon mà biết dè dặt, không tham muốn quá chừng, thì chắc nước Pháp lúc đó không đến nỗi vì chiến tranh mà chết người, hại của. Mà ông Napoléon cũng giữ được địa vị thiên tử trong một nước giàu mạnh ở Âu châu. Nhưng ông Napoléon đã làm con giời lại muốn làm cả giời, kết quả bị rơi xuống đất… Xưa nay đã nhiều người vì không “tri túc” (chừng mực) mà thất bại”(3). Là người có tài, lại ở vị trí lãnh đạo cao nhất nhưng “kết quả bị rơi xuống đất”, theo Bác Hồ có 3 lý do là “tham lam”, “không khiêm tốn”, “không biết lượng sức mình”. Vì thế mà ông ta mắc bệnh cuồng vọng “đã làm con giời lại muốn làm cả giời”. Hậu quả do người lãnh đạo gây ra, không chỉ mình người đó mà còn cả cộng đồng phải gánh chịu, có khi rất nặng nề.

Soi vào một vài trường hợp cán bộ lãnh đạo cấp cao vừa rồi bị kỷ luật, không thể so sánh về tài năng, nhưng về nguyên nhân và “kết quả” thì thấy họ cũng gần giống như Napoléon vậy!  

Phật giáo coi tính “tham” là nguyên nhân đầu tiên dẫn con người đến “bể khổ”. Khổng Tử coi sự “tham lợi” chỉ có ở kẻ “tiểu nhân”. Bác Hồ dạy cán bộ phải biết: “Ít lòng tham muốn về vật chất”! Mọi cán bộ đều phải thế, cán bộ lãnh đạo càng phải thế!

Về giải pháp ngăn chặn, căn cứ vào tư tưởng biện chứng của Lenin từ “trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng”, đối chiếu với quan niệm về đặc trưng tâm lý người lãnh đạo mới nhất của thế giới hiện nay, thì lời Bác Hồ dạy vẫn là bài học đúng đắn, thiết thực. Cụ thể nhất là lấy gương người tốt-việc tốt hằng ngày để giáo dục lẫn nhau. Đây là một truyền thống văn hóa phương Đông mà chính Bác Hồ giải thích: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Ở phương Tây, một số vị tổng thống khi nhậm chức thường đặt tay lên cuốn Kinh Thánh là một cách “hứa” sẽ làm theo những lời dạy mẫu mực, tức cũng coi đó là tấm gương. Vấn đề ở chỗ “làm gương” như thế nào, bằng cách nào?

Ở ngay lĩnh vực giáo dục cán bộ, đảng viên, Bác Hồ đã là nhà giáo dục lớn với tư tưởng và các biện pháp mang tính hệ thống, toàn diện, phù hợp. Theo Người, lấy những tấm gương “đảng viên đã vì Đảng, vì giai cấp, vì dân tộc mà oanh liệt hy sinh như đồng chí Lê Hồng Phong, Trần Phú, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Văn Cừ, Lương Khánh Thiện, Minh Khai, cùng trăm nghìn đồng chí khác… Máu xương của các tiên liệt đã thấm nhuần gốc rễ của Đảng ta, làm cho cây nó càng vững, ngành nó càng to, và kết quả khai hoa ngày càng rực rỡ”(4). Hình tượng ẩn dụ “cây” Đảng ta tươi tốt là nhờ “gốc rễ” được “thấm nhuần” máu xương của các bậc tiền bối thật giàu ý nghĩa biểu cảm này được Người nhiều lần nhắc lại. Thế hệ lãnh đạo đầu tiên ấy đã hy sinh trọn vẹn, tuyệt đối cho dân tộc, xứng đáng là tấm gương cho mọi thế hệ kế tục học tập, noi theo.

Bác Hồ từng nhấn mạnh những cán bộ chủ chốt, cấp cao phải tiên phong trong việc nêu gương. Trong “Bài nói chuyện tại phiên họp cuối năm của Hội đồng Chính phủ năm 1963”, Người nhắc nhở: “Một điều rất quan trọng nữa là các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng và cán bộ lãnh đạo phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn tác phong gian khổ phấn đấu, phải không ngừng nâng cao chí khí cách mạng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Có như thế mới xứng đáng với đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng chống đế quốc Mỹ và tay sai của chúng để giải phóng miền Nam và hòa bình thống nhất nước nhà. Nhân dân ta rất tốt. Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”(5). Không chỉ là lời dạy về nội dung, còn là vấn đề phương pháp luận: Phải lấy tấm gương sáng nhất, cụ thể mà gần gũi để giáo dục. Thời điểm ấy, với các bộ trưởng, thứ trưởng… thì có tấm gương nào “sáng” hơn “đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng”.

Một số cán bộ lãnh đạo mắc khuyết điểm vừa qua có nguyên nhân là phai mờ lý tưởng cộng sản, nhạt phai tinh thần tự nguyện cống hiến, hy sinh vì cách mạng, vì dân nên sa vào chủ nghĩa cá nhân, đúng như Bác nói, họ “coi Đảng như một cái cầu thang để thăng quan phát tài”(6). Xa dân nên thành “quan cách”, không đoái hoài đến đời sống của dân, không chỉ không “cần kiệm” mà còn xa hoa, lãng phí. Do vậy quy trình bổ nhiệm cán bộ cấp cao cần hết sức chặt chẽ. Nhất thiết cán bộ đó phải kinh qua những cương vị lãnh đạo gần với dân, hiểu dân. Bởi có vậy họ mới thấm thía “một hột gạo, một đồng tiền, tức là một số mồ hôi nước mắt của đồng bào” nên có ý thức chi tiêu, sử dụng bất cứ cái gì cũng phải nghĩ đó là của dân. Chỉ khi nghĩ được như lời Bác dạy “hoang phí là một tội ác” thì mới biết trân trọng, giữ gìn tài sản của dân và danh dự của mình.

Những vụ việc ấy cho thấy bài học là còn nhiều cơ quan, tổ chức đảng coi nhẹ công tác tự phê bình và phê bình. Điều ấy có lý do từ căn tính tiểu nông cả nể đã ngàn xưa, với cán bộ chủ chốt thì sự cả nể càng tăng lên nhiều. Lại thêm tâm lý “chín bỏ làm mười”, “xuê xoa”, “an phận thủ thường”, “đấu tranh là… tránh đâu”… nên lãnh đạo mắc khuyết điểm ngày thêm nặng mà không được góp ý, chỉ ra, ngăn chặn.

Rất nhiều lần Bác Hồ nhắc cán bộ phải “gương mẫu”, “nêu gương”, phải là “đầu tàu”… Không ít lần, Người mượn lời Khổng Tử dạy cán bộ mình có đứng đắn, trong sáng mới tề được gia, trị được quốc, bình được thiên hạ… Những lời dạy ấy không chỉ đúng với đạo lý mà còn là khoa học, biện chứng. Để có uy tín, để là tấm gương sáng, với người lãnh đạo-theo lời Bác dạy là phải “thực hành trước” các nguyên tắc “Cần, kiệm, liêm, chính”, “chí công”, “vô tư” . Một phương pháp sư phạm đã trở thành chân lý: Cách tốt nhất để giáo dục, thuyết phục người khác là giáo dục, thuyết phục bằng chính nhân cách mình!