Thứ Ba, 20 tháng 9, 2022

“CÁC VUA HÙNG ĐÃ CÓ CÔNG DỰNG NƯỚC, BÁC CHÁU TA PHẢI CÙNG NHAU GIỮ LẤY NƯỚC”

 

Đây là lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong buổi nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên Phong (Sư đoàn 308, Quân đoàn 1) chuẩn bị về tiếp quản Thủ đô Hà Nội.
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Bác Hồ với Trung ương Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận và các đoàn thể từ “Thủ đô gió ngàn” Việt Bắc trở về tiếp quản Thủ đô Hà Nội do chính quyền Pháp bàn giao theo Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954) về đình chiến ở Đông Dương. Sáng 19-9-1954, Bác Hồ đã gặp mặt, căn dặn và giao nhiệm vụ cho cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên Phong về tiếp quản Thủ đô tại Đền Giếng trong khu di tích Đền Hùng (thuộc núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ). Bác giảng giải nhiều điều và căn dặn: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.
Làm theo lời Bác, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã vượt qua bao thử thách, cam go, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, ghi những mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Ngày nay, đất nước đang trên đà đổi mới và không ngừng phát triển; tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng nước ta. Khắc ghi lời Bác dạy năm xưa, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam và xây dựng thành công CNXH vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, trải qua gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam không ngừng lớn mạnh, lập nhiều chiến công hiển hách, xứng đáng là lực lượng nòng cốt của nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây, cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN ngày nay. Quân đội luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân làm theo lời Bác dạy với quyết tâm và trách nhiệm chính trị cao, với tinh thần “quyết chiến, quyết thắng”, ý chí tự lực tự cường, chủ động, sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN như lời Bác căn dặn năm xưa.
QĐND
Có thể là hình ảnh về 5 người
4

SỬA ĐỔI LUẬT GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ: BẢO ĐẢM CAO NHẤT AN NINH, AN TOÀN GIAO DỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

Thực hiện chương trình Phiên họp pháp luật tháng 9-2022, ngày 19-9, tại Nhà Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật Giao dịch điện tử (sửa đổi). Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải điều hành phiên họp.
Tại phiên họp, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng cho biết: Kết quả tổng kết thực tiễn 17 năm thực hiện Luật Giao dịch điện tử cho thấy, bên cạnh những đóng góp tích cực trong việc thúc đẩy phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số, Luật Giao dịch điện tử năm 2005 vẫn đang tồn tại một số bất cập cần sửa đổi, bổ sung.
Đó là, Luật Giao dịch điện tử năm 2005 thiếu quy định cụ thể về giá trị pháp lý và bảo đảm độ tin cậy cho một số yếu tố quan trọng trong giao dịch điện tử như: Thông điệp dữ liệu, chữ ký điện tử, tài khoản giao dịch điện tử, hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử, dịch vụ tin cậy...
Ngoài ra, Luật Giao dịch điện tử năm 2005 chưa có quy định làm rõ giá trị pháp lý của việc chuyển đổi từ bản giấy sang bản điện tử và ngược lại.
Đặc biệt, hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử, nền tảng số là phương tiện và môi trường để thực hiện các giao dịch điện tử nhưng chưa được quy định trong Luật Giao dịch điện tử năm 2005. Thực tế đã có một số văn bản dưới luật quy định liên quan đến nội dung này nhưng chưa được luật hóa như nền tảng mạng xã hội, nền tảng thương mại điện tử…
"Việc quản lý, phát triển hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử, nền tảng số là không thể thiếu, vì đây là thành phần quan trọng trong phát triển kinh tế số; là trung gian giao dịch giữa người dùng cuối và người dùng doanh nghiệp. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý nhà nước cần có biện pháp để kiểm soát các nền tảng số có người dùng lớn và rất lớn nhằm hạn chế sự bất bình đẳng, sự phát triển lành mạnh, hiệu quả của thị trường và bảo đảm quyền lợi của người tiêu dùng", Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng lý giải.
Từ đó, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng, xuất phát từ những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn quản lý nêu trên, đồng thời để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật và thể chế hóa kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng bảo đảm thích ứng được với sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư thì cần thiết phải xây dựng Luật Giao dịch điện tử sửa đổi, thay thế Luật Giao dịch điện tử năm 2005.
Đáng chú ý, so với Luật Giao dịch điện tử 2005 thì dự án luật sửa đổi lần này đã mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với một số hoạt động cụ thể trong các lĩnh vực tư pháp, đất đai, xây dựng, tài chính. Các thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội cơ bản nhất trí với việc mở rộng phạm vi song cho rằng “mở rộng đến đâu” thì ban soạn thảo cần tiếp tục có đánh giá tác động kỹ hơn.
Từ kinh nghiệm của quốc tế cũng cho thấy, việc mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với những lĩnh vực mà Chính phủ đề xuất cần phải được xem xét thêm để phù hợp với điều kiện trong nước. Bởi nếu quy định quá tiến bộ trong khi không gắn với lộ trình cụ thể và thực tế hạ tầng không đáp ứng được thì cũng sẽ không thể bảo đảm tính khả thi.
Cho ý kiến về nội dung này, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cũng khẳng định, xu hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh trong giao dịch điện tử là cần thiết; song nhấn mạnh, ban soạn thảo tiếp thu các ý kiến của các thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cân nhắc mức độ mở rộng, lộ trình thực hiện cho phù hợp, nghiên cứu học tập kỹ hơn kinh nghiệm quốc tế để bảo đảm cao nhất an ninh, an toàn giao dịch trên không gian mạng.
Ngoài ra, đặt vấn đề về xu hướng giao dịch điện tử, Chủ tịch Quốc hội cho rằng đây là dự án luật đi sâu vào kỹ thuật, đặc thù nên cần rà soát kỹ để thuật ngữ trong sáng, dễ hiểu, dễ nhớ…
Thay mặt cơ quan chủ trì soạn thảo, tiếp thu ý kiến của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cho biết, Ban soạn thảo sẽ tiếp tục cố gắng hơn nữa để có dự thảo luật về một vấn đề mới, trừu tượng nhưng dễ hiểu, dễ áp dụng, phù hợp với công cuộc chuyển đổi số toàn dân và toàn diện; đồng thời tính toán kỹ tính khả thi, có tác dụng tích cực cho sự phát triển.
Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng chia sẻ, nhiều quốc gia đi trước chúng ta khá lâu, kinh tế số chiếm 50-60% nền kinh tế, trong khi Việt Nam mới chỉ đạt 12%, nên chúng ta có thể tham khảo được khá nhiều kinh nghiệm. Ban soạn thảo sẽ tiếp tục tham khảo kinh nghiệm quốc tế (có bổ sung dẫn chứng cụ thể), các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia, để nghiên cứu, chắt lọc các nội dung, bảo đảm theo kịp xu thế của thế giới mà vẫn phù hợp với thực tiễn phát triển của đất nước.
Nguồn: Báo QĐND

KỶ NIỆM 45 NĂM VIỆT NAM GIA NHẬP LIÊN HỢP QUỐC (20/9/1977 – 20/9/2022): KHẲNG ĐỊNH VỊ THẾ, UY TÍN CỦA ĐẤT NƯỚC TRÊN TRƯỜNG QUỐC TẾ

 

Ngày 20/9/1977, lễ thượng cờ Việt Nam được chính thức tổ chức tại trụ sở Liên Hợp Quốc, ghi dấu ấn Việt Nam trở thành thành viên thứ 149 của tổ chức lớn nhất hành tinh này. Hành trình 45 năm qua, in đậm những dấu ấn đóng góp nổi bật của Việt Nam cho hoạt động của Liên Hợp Quốc và cũng là để Việt Nam khẳng định vị thế trên trường quốc tế.
Việc Việt Nam tham gia tích cực trong lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc từ năm 2014 đã tạo dấu ấn với cộng đồng quốc tế. Nổi bật nhất là khi đại dịch COVID-19 bùng phát và lây lan trên toàn cầu, Việt Nam chủ trì đề xuất, thương lượng và thúc đẩy để Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua Nghị quyết thành lập Ngày Quốc tế phòng, chống dịch bệnh vào ngày 27/12 hằng năm; cùng với Đức khởi xướng và trở thành nước sáng lập Nhóm Bạn bè của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982, ra mắt cuối tháng 6/2021. Từ ngày 13/9/2022, Việt Nam trở thành một trong những Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khóa 77 đại diện cho khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và đảm nhiệm vị trí này trong vòng 1 năm.
Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Antonio Guterres đã khẳng định Việt Nam là nhân tố quan trọng đóng góp vào hòa bình, ổn định trong khu vực. Theo người đứng đầu Liên Hợp Quốc, Việt Nam cho thấy những cam kết mạnh mẽ của một quốc gia luôn tích cực nỗ lực xây dựng lòng tin và đối thoại, làm cầu nối tìm kiếm giải pháp hòa bình cho các cuộc xung đột trên thế giới.
Báo Nhân dân
Có thể là hình ảnh về 6 người, mọi người đang đứng và văn bản

CUỘC DIỄN TẬP LỊCH SỬ TRÊN ĐẤT NƯỚC TRIỆU VOI.


Lịch sử lần đầu tiên quân đội 3 nước Việt Nam – Lào – Campuchia phối hợp tổ chức diễn tập chung về công tác cứu hộ, cứu nạn do Quân đội Nhân dân Lào chủ trì đăng cai. Với chủ đề “Quân đội 3 nước Lào - Việt Nam – Campuchia phối hợp ứng phó, khắc phục thảm họa do bão Kompasu gây ra”, cuộc diễn tập đã kết thúc tốt đẹp, đạt được mục đích, yêu cầu đề ra. Cuộc diễn tập thể hiện tinh thần đoàn kết, hữu nghị và sức mạnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam, Quân đội Nhân dân Lào và Quân đội Hoàng gia Vương quốc Campuchia trong sự phối hợp cứu hộ, cứu nạn trên sông và trên bộ.
Tình huống giả định “Bão Kompasu” đã di chuyển sâu vào nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân (CHDCND Lào), gây nên mưa lớn ở một số tỉnh ở miền Bắc, miền Trung cũng như thủ đô Viêng Chăn; gây thiệt hại nặng về người và tài sản; nặng nhất là huyện Naxaythong, Lào. Sau chiến dịch tìm kiếm - cứu nạn do Quân đội Nhân dân Lào tiến hành, số lượng lớn nạn nhân đã được cứu và đưa đến vùng an toàn; tuy nhiên, một số người vẫn bị mắc kẹt trong những ngôi nhà, những hòn đảo và những nơi khác trong nhiều ngôi làng. Thực hiện đề xuất của Ủy ban Nhân dân cách mạng, Chính phủ nước CHDCND Lào đề xuất với Chính phủ Việt Nam và Vương quốc Cămpuchia cử một lực lượng của Quân đội 2 nước đến hỗ trợ Quân đội nhân dân Lào tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn. Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân đội Hoàng gia Campuchia đã triển khai lực lượng, phương tiện cơ động đến hiện trường phối hợp với Quân đội Lào nhanh chóng tổ chức tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn. Trong đó, Quân khu 4 được Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ chủ trì phối hợp với Binh đoàn 18, Bộ Tư lệnh Biên phòng tham gia xử lý các tình huống giúp Quân đội Nhân dân Lào, theo Nghị định thư của Bộ Quốc phòng hai nước.
Sau Lễ khai mạc, trước sự chứng kiến, theo dõi của lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước Lào, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng 3 nước, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 cuộc diễn tập đã bắt đầu với màn trình diễn hoành tráng. Trên bầu trời đoàn máy bay trực thăng 2 nước Việt Nam và Lào bay thẳng hàng cùng với hàng chục loại tàu thuyền cứu hộ, cứu nạn treo cờ của 3 nước theo đội hình lướt sóng, thể hiện tinh thần đoàn kết và sự hùng mạnh về lực lượng, phương tiện của Quân đội 3 nước trong nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn.
Thiếu tướng Hà Thọ Bình, Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân khu 4, được giao nhiệm vụ làm đoàn trưởng, tổng chỉ huy các lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam trong cuộc diễn tập này, người phát ngôn của Quân đội Nhân dân Việt Nam tham gia diễn tập tại Lào cho biết: Cuộc diễn tập cứu hộ, cứu nạn lần này giữa Quân đội 3 nước Việt Nam – Lào – Campuchia là nhiệm vụ chính trị quan trọng, có ý nghĩa mang tầm quốc tế. Cuộc diễn tập này đã tăng thêm sự hiểu biết và tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau giữa quân đội 3 nước; đồng thời thông qua đây, chúng ta cũng học tập được một số kinh nghiệm thực tiễn, trong tham gia cứu hộ, cứu nạn khi có tình huống xảy ra trên địa bàn Quân khu 4 nói riêng và địa bàn 3 nước nói chung
Tín hiệu báo hiệu cuộc diễn tập bắt đầu: Giữa biển nước mênh mông, nhìn xa xa ở chóp đồi nhấp nhô, Nhân dân đang bị đe dọa vì nước lũ dâng lên ngày càng cao, và đang chuẩn bị nhấn chìm và trôi theo dòng nước hung dữ. Lực lượng tại chỗ của Lào đang sơ tán, di dời nhân dân đến nơi an toàn bằng nhiều phương tiện. Với số lượng người và tài sản lớn, đang bị ngập lụt với quy mô rộng, nước cuốn trôi hàng trăm ngôi nhà. Trong khi số lượng người dân trôi dần theo nước trong sự hấp hối và bị thương nặng, xuồng cứu hộ của Lữ đoàn Công binh 414 Quân khu 4, đại diện cho Công binh Quân đội Nhân dân Việt Nam đã cùng với quân đội 2 nước lướt trên sóng dữ, nhanh chóng đến vị trí, cứu, vớt người dân bị thương và lướt về bến đậu ban giao cho Quân y; thể hiện được tốc độ, thời gian và độ chính xác trong diễn tập.
Phần thực binh cứu hộ, cứu nạn trên sông càng sát thực tế khi các tình huống diễn ra có phần phức tạp hơn, khi trên bầu trời, máy bay trực thăng của Việt Nam và Lào bay lượn thả phao và xác định vị trí nạn nhân trong lũ; tiến hành ghim vị trí, thả lực lượng bằng dây thòng tiếp cận nạn nhân một cách khẩn trương, trong điều kiện nước xoáy, gió quật. Giữa dòng nước bạc, những chiến sĩ cứu hộ, cứu nạn 3 nước đã chồm lên những con sóng giữ, mặc cho hàng loạt “đạn nước” bắn thẳng vào mặt, nhưng với các những động tác điêu luyện được huấn luyện thuần thục, với bản lĩnh kiên cường, cán bộ, chiến sĩ Quân khu 4 đã dũng cảm lao mình xuống dòng nước xoáy để cứu Nhân dân đang trong tình thế nguy cấp...
Trong rừng cờ sắc màu của 3 nước, lực lượng cứu hộ, cứu nạn của Quân đội 3 nước đã phối hợp nhịp nhàng, cứu vớt toàn bộ Nhân dân bị nạn trong vùng ngập lụt, đảm an toàn tuyệt đối về người và phương tiện trạng bị. Thiếu tướng Xổm Phon Mit Tả Phon, Phó Tổng Tham mưu trưởng, người phát ngôn của QĐND Lào cho biết: Đây là lần đầu tiên Lào vinh dự được đảm nhiệm vai trò chủ nhà của một đợt diễn tập chung, đây là cơ hội tốt để chúng tôi được học hỏi, về các kinh nghiệm, kỷ năng, sử dụng phương tiện kỹ thuật hiện đại trong công tác cứu hộ, cứu nạn đường sông và đường bộ đến từ Quân đội các nước bạn. Về công tác hợp luyện, chúng tôi đã cho tổ chức ôn luyện từng bộ phận, từng binh chủng, sau đó mới ghép luyện; tổ chức rút kinh nghiệm sau mỗi buổi hợp luyện, để bổ sung các nội dung các vấn đề chưa phù hợp, để hoàn thiện kế hoạch diễn tập một cách đầy đủ.
Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cứu hộ trên sông, tại các công trình sụp đổ, trong những làn khói màu tượng trưng cho chất độc hóa học đang bốc lên dữ dội, nhiều nạn nhân bị ngộ độc và bị thương. Lực lượng hóa học Quân khu 4 và các đơn vị quân đội Lào đã triển khai phương tiện, sử dụng các loại trang thiết bị kỹ thuật phòng hóa, nhanh chóng tìm kiếm, cứu nạn các nạn nhân, trinh sát, điều tra, đánh giá địa hình nơi bị ảnh hưởng bởi hóa chất độc, phun hóa chất khử khuẩn vệ sinh môi trường, một cách kịp thời, nhịp nhàng và hiệu quả.
Do sạt lở núi với ở nhiều nơi trên địa bàn huyện Naxaythong, nhiều nhà cửa bị sập và bị đất đá vùi lấp, bà con nhân dân nằm trong lòng đất bị sạt lở, đất đá ngổn ngang, sự sống còn càng ngắn lại tính theo từng giây phút. Tuy hiện trường sạt lở giả định của 3 đơn vị được bố trí riêng biệt, nhưng tình huống đặt ra cho các đơn vị Quân đội 3 nước Việt Nam - Lào - Campuchia phướng án xử lý khẩn cấp. Tiếng còi của xe cứu hộ đa năng của Lữ đoàn Công binh 414, Quân khu 4 liên tục hú vang; tiếp cận hiện trường, Thiếu tá Hồ Hữu Ngọc, Phó Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 4 phát lệnh, cán bộ, chiến sĩ đơn vị cùng với trang bị tung ra các hướng, các tổ trinh sát Công binh và lực lượng Bộ đội Biên phòng dẫn theo chó nghiệp vụ liên tục tìm kiếm. Trong tích tắc, tiếng hô vang của các chiến sĩ trinh sát khi tìm thấy nạn nhân, cờ tiêu được cắm chính xác vị trí người bị nạn. Dù bị mắc kẹt trong những khối đá lớn, hay bị vùi lấp trong đất, những nạn nhân đã nhanh chóng được những chiến sĩ Công binh Quân khu 4 dùng các biện pháp nghiệp vụ cùng với phương tiện hiện đại nhanh chóng đưa tất cả nạn nhân bị thương nặng hay nhẹ và nạn nhân đã ngừng thở ra khỏi đống đổ nát, tổ chức sơ cứu và bàn giao cho Quân y.
Đối với nhiệm vụ cứu thương, lực lượng Quân y 3 nước hết sức vất vả, trong việc sơ cứu, vận chuyển nận nhân từ các hiện trường về phân loại, cấp cứu và điều trị. Dưới cánh quạt của máy bay trực thăng của lực lượng Phòng không, không quân Việt Nam và Lào, chiến sĩ Quân y 3 nước đã cầm chắc tay cáng, giữ chặt bình ôxi nhanh chóng vận chuyển bệnh nhân lên máy bay chuyển lên tuyến trên điều trị. Cùng với hệ thống máy móc, trang bị y tế hiện đại; đội ngũ y, bác sĩ Bệnh viện Quân y 4, Quân khu 4 đã thể hiện rõ được trình độ, khả năng và tính chuyên nghiệp của những chiến sĩ Quân y Quân đôi Nhân dân Việt Nam thông qua việc tổ chức sơ cứu, cáng thương tại hiện trường; phân loại, cấp cứu tại các lán trại và Bệnh viện dã chiến.
Trong rền vang của âm thanh các loại phương tiện, sau lưng người chỉ huy, sát cánh cùng cán bộ, chiến sĩ các đơn vị, lực lượng thông tin Quân khu 4 thầm lặng, giữ mạch thông tin thông suốt, truyền mệnh lệnh từ Ban chỉ đạo ra các hướng, đến đến các đơn vị; kết nối liên lạc từ hiện trường về Ban chỉ đạo, về người chỉ huy, đảm bảo an toàn, hiệu quả. Những chiến sĩ phiên dịch Quân khu 4 chăm chú lắng nghe tiếng Lào, tiếng Anh và tiếng Campuchia xen kẽ; nhiều thứ tiếng (dịch tiếng Anh, tiếng Lào và tiếng Campuchia sang tiếng Việt Nam và ngược lại) được sử dụng trong một cuộc diễn tập thật khó mà hiểu hết; nhưng bằng nghiệp vụ của mình, lực lượng phiên dịch của Quân khu phát huy hiệu quả vai trò cầu nối về ngôn ngữ để thủ trưởng các cấp và cán bộ, chiến sĩ Quân khu liền văn, rõ chữ trong suốt quá trình diễn tập, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Sau thời gian gần một buổi thực binh với nhiều tình huống cứu hộ, cứu nạn khó khăn, phức tạp, cuộc diễn tập đã kết thúc, trong bộ trang phục ướt đẫm mồ hôi, nước và nhuộm màu khói bụi, bùn đất, trên khuôn mặt những chiến sĩ cứu hộ, cứu nạn quân đội 3 nước đã bừng lên niền vui chiến thắng họ đã nắm chặt tay nhau trong tình đoàn kết và nhìn nhau với những nụ cười rạng rỡ.
Người phát ngôn Quân đội Hoàng gia Vương quốc Campuchia: Trung tướng Pen Sô Cay Thy, Phó Tổng Tham mưu trưởng liên quân, Quân đội Hoàng gia Campuchia nói: Cuộc dẫn tập lần này có ý nghĩa rất quan trong đối với lực lượng vũ trang của 3 nước, gắn kết được mối quan hệ hứu nghị tốt đẹp giữa 3 nước, trao đổi được những vấn đề kinh nghiệm trong công tác cứu hộ, cứu nạn; xây dựng và vun đắp mối quan hệ truyền thống tốt đẹp giữa 3 nước Việt Nam – Lào và Campuchia, trên cơ sở đó tạo cho thế hệ tương lai có mối quan hệ ngày càng tốt đẹp hơn.
Cuộc diễn tập kết thúc trong ánh nắng chói chang, nhưng từ những người cán bộ cao cấp cho đến chiến sĩ Quân đội 3 nước Việt Nam – Lào – Campuchia đều quên hết mệt nhọc. Tuy những giọt mồ hôi trên gò má đang chảy xuống ướt đẫm bờ vai, nhưng không khí thành công của diễn tập như những luồng khí mát lạnh, nhanh chóng lan tỏa rộng khắp bãi tập, tiếp thêm sức mạnh, niềm vui cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội 3 nước sau một cuộc diễn tập chiến đấu trong thời bình. Trong ánh mắt, nụ cười và những cái bắt tay thân thiện, chắc chắn của cán bộ, chiến sĩ Quân đội 3 nước nói chung và các đơn vị Quân khu 4 nói riêng đã khẳng định rằng: Cuộc diễn tập chung này, Quân đội 3 nước Việt Nam – Lào – Campuchia đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đây là một dấu ấn lịch sử về sự phối hợp cứu hộ, cứu nạn trên sông và trên bộ, thể hiện tinh thần đoàn kết, hữu nghị của Quân đội Nhân dân Việt Nam, Quân đội Nhân dân Lào và Quân đội Hoàng gia Vương quốc Campuchia.
Có thể là hình ảnh về 4 người, mọi người đang đứng, quân phục và ngoài trời
1

GIÁ TRỊ CỦA HOÀ BÌNH!

         Trong muôn vàn những điều tốt đẹp mà cuộc đời mang lại cho mỗi người thì hòa bình chính là món quà vô giá nhất. Chỉ khi có được hòa bình thì con người mới có thể sống một cuộc sống yên ổn hạnh phúc không phải chịu nỗi đau mất mát chia li như trong chiến tranh. Vì vậy hoà bình luôn là điều mong muốn của những con người chân chính trên trái đất này, đặc biệt là dân tộc Việt Nam ta.

     Dân tộc ta đã phải trải qua hơn 4000 năm lịch sử dựng nước và giữ nước, hàng trăm năm chiến tranh triền miên, gánh chịu bao mất mát đau thương nên thấu hiểu sâu sắc giá trị của hoà bình. Tuy rằng chiến tranh đã đi vào quá khứ mất mát đau thương đã nhường chỗ cho một Việt Nam tự hào và phát triển, nhưng mỗi hình ảnh, mỗi câu chuyện được kể lại khiến cho chúng ta hình dung được những tháng năm bi hùng của dân tộc.

     Chúng ta có thể khép lại quá khứ, nhưng không có nghĩa được phép quên đi lịch sử. Khi nói về lịch sử, đại văn hào Victor Hugo từng khẳng định: "Lịch sử là tiếng vọng của quá khứ trong tương lai và là phản chiếu tương lai trên quá khứ. Lịch sử là những gì diễn ra trong quá khứ, nhưng nó luôn có mối quan hệ mật thiết với hiện tại và tương lai". Lịch sử chính là thước đo chân lý và bác bỏ mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch, vì vậy những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam sẽ mãi trường tồn cho dù thời gian trôi qua.

     Nhìn về quá khứ không phải là để nung nấu hận thù, càng không phải để kích động tư tưởng bài ngoại, mà nhớ về quá khứ chính là cơ sở để xây dựng lòng tự tôn, tự hào dân tộc trong mỗi người, từ đó suy nghĩ sáng suốt, hành động hiệu quả để không làm tổn thương cha ông ta những người đã không ngại gian khổ hy sinh để giành nền độc lập tự do cho dân tộc. Quá khứ-hiện tại- tương lai là dòng chảy liên tục của lịch sử. Tương lai không thể tươi sáng, cuộc sống hòa bình, ấm no, tự do - hạnh phúc không thể vững bền nếu như chúng ta quên đi quá khứ…

Môi trường ST.

TÌM HIỂU LỊCH SỬ- NGÀY QUỐC TẾ HÒA BÌNH


Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, hòa bình luôn là khát vọng, là mục tiêu cao cả mà nhân loại hướng tới. Khát vọng ấy càng trở nên mạnh mẽ hơn khi thế giới phải đối mặt với nhiều nguy cơ, thách thức, đe dọa đến cuộc sống yên bình của mọi người dân…

Ngày Quốc tế hòa bình được Liên hợp quốc khởi xướng vào năm 1981 và lần đầu tiên được tổ chức vào tháng 9/1982.
Từ năm 2002, Đại hội đồng Liên hợp quốc chính thức lấy ngày 21/9 hàng năm để kỷ niệm Ngày Quốc tế hòa bình nhằm kêu gọi các bên tham chiến trên toàn thế giới cùng từ bỏ vũ khí, bước vào thương lượng, đàm phán trong hòa bình; kêu gọi người dân trên toàn thế giới chung tay xây dựng thế giới hòa bình, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau.
Tuy vậy, không phải chỉ đến ngày 21/9 hằng năm – Ngày Quốc tế hòa bình (hay còn gọi là Ngày hòa bình thế giới), người ta mới nói đến hòa bình. “Hòa bình” luôn là mong ước, là khát vọng thường trực và hiện hữu của nhân loại, là đích đến trong mọi hành trình và là sợi dây để kết nối toàn cầu.
Dịp 21/9 hằng năm là dịp để Liên hợp quốc và mọi quốc gia trên toàn thế giới thêm một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng, cũng như ý nghĩa cao đẹp của hòa bình đối với toàn nhân loại.
PHÒNG, CHỐNG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN “XÂM LĂNG VĂN HÓA” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRONG TÌNH HÌNH MỚI 1. Hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới Nói đến văn hoá là nói đến con người. Vì sự sinh tồn mà con người luôn cải tạo tự nhiên để đáp ứng nhu cầu đời sống của mình; đồng nghĩa với điều đó, con người đã sáng tạo ra “tự nhiên mới” mà theo Giáo sư sinh - nhân chủng học người Pháp Georges Olivier gọi là “sinh thái nhân văn”, tức sinh thái tự nhiên được con người “văn hoá hoá”. Nói một cách ngắn gọn nhất, văn hoá là do con người sáng tạo ra, giá trị văn hoá thực chất là tổng hoà các giá trị con người. Giá trị văn hoá phổ quát nhất mà con người luôn hướng tới đó là hệ giá trị Chân, Thiện, Mỹ, vì bản chất của văn hoá là sáng tạo và nhân văn. Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm lãnh đạo xây dựng, phát triển văn hoá và con người Việt Nam. Ở từng giai đoạn cách mạng, tư duy nhận thức của Đảng về vấn đề xây dựng, phát triển văn hoá, con người ngày càng có sự phát triển, hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộc, thống nhất và phát triển đất nước trên con đường xã hội chủ nghĩa. “Đề cương về văn hóa Việt Nam” năm 1943 được coi như bản cương lĩnh về văn hóa đầu tiên của Đảng, trong đó xác định: Vǎn hóa bao gồm cả tư tưởng, học thuật, nghệ thuật; nền tảng kinh tế và chế độ kinh tế của xã hội, quyết định toàn bộ vǎn hóa của xã hội. “Cách mạng vǎn hóa muốn hoàn thành phải do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo” và phải nắm vững “Ba nguyên tắc: Dân tộc hóa, Đại chúng hóa và Khoa học hóa” . Đây là những quan điểm, tư tưởng cốt lõi có giá trị định hướng cho sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá của nước ta. Từ “Đề cương về văn hóa Việt Nam” năm 1943 đến Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII về văn hóa, tư duy nhận thức của Đảng có sự phát triển, hoàn thiện hơn. Văn hóa được quan niệm toàn diện hơn, bao gồm các lĩnh vực: Tư tưởng, đạo đức, lối sống; môi trường văn hóa; giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ; văn học nghệ thuật; thông tin đại chúng; thể chế và thiết chế văn hóa... Đến Hội nghị Trung ương 9 khoá XI, Đảng ta đã đề cập rõ yêu cầu xây dựng hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới. Theo đó, cần phải “Hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam, tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật; đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, lương tâm, trách nhiệm của mỗi người với bản thân mình, với gia đình, cộng đồng, xã hội và đất nước”. Đại hội XIII của Đảng đã tiếp tục có sự bổ sung, phát triển tư duy lý luận về văn hóa; đặc biệt là vấn đề xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam thời kỳ mới. Trong đó, Đảng ta xác định một nhiệm vụ, giải pháp hết sức quan trọng, đó là: “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới.” Có thể nói, đây là lần đầu tiên Đảng ta nêu lên thuật ngữ “hệ giá trị quốc gia” trong văn kiện của Đảng. Chúng tôi cho rằng, nội hàm của nhiệm vụ, giải pháp này chính là cần phải tập trung hoàn thiện và triển khai xây dựng một hệ thống chuẩn mực giá trị văn hoá của quốc gia dân tộc Việt Nam trong thời kỳ mới. Đây là yêu cầu khách quan và hết sức cần thiết, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, phát triển và xu thế toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay. Hệ giá trị văn hoá của quốc gia, dân tộc Việt Nam trong thời kỳ mới sẽ là sự hoà quyện hữu cơ giữa những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam trải qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước với sự tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hoá của nhân loại, thể hiện rõ bản sắc, ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc Việt Nam hướng đến mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” trên con đường xã hội chủ nghĩa. Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc (tháng 11/2021), với tinh thần kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc; xây dựng, phát triển văn hóa sau 35 đổi mới, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đã xác định những yếu tố cốt lõi, nền tảng của hệ giá trị văn hóa quốc gia, dân tộc Việt Nam, với những đặc trưng: “khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; xác định tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước” . Hệ giá trị này sẽ là cơ sở định hướng sự phát triển bền vững đất nước trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời định hướng, phát triển, hoàn thiện nhân cách mỗi con người Việt Nam trong thời đại hiện nay. Cùng với đó, Hội nghị cũng đã xác định những định hướng và mục tiêu cụ thể trong xây dựng hệ chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Con người Việt Nam thời kỳ mới cần phải “có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với những chuẩn mực giá trị cơ bản, đó là: yêu nước, đoàn kết, dũng cảm, tài trí, cần cù, nhân ái, nghĩa tình, hòa hiếu, khoan dung…” . 2. Nhận diện âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch hiện nay “Xâm lăng văn hóa” là một hình thức, thủ đoạn chống phá trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, nhằm công kích, xuyên tạc, bôi nhọ hệ chân giá trị văn hóa xã hội chủ nghĩa, văn hóa Đảng Cộng sản; kích động, lôi kéo và tiêm nhiễm các phản giá trị, làm lệch chuẩn các thang giá trị trong đời sống văn hóa chính trị, đạo đức, lối sống của quần chúng nhân dân. Từ đó, tạo ra sự mâu thuẫn về nhận thức tư tưởng, lòng tin của nhân dân đối với quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam; phủ nhận đường lối văn hóa - văn nghệ của Đảng, tiến tới phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng. Âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch hiện nay hết sức tinh vi và nguy hiểm; chúng triệt để lợi dụng xu thế toàn cầu hóa trong thời kỳ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để tuyên truyền, tiêm nhiễm văn hóa, lối sống phương Tây; phủ nhận, bôi nhọ tính Đảng Cộng sản, tính giai cấp của đường lối văn hóa - văn nghệ cách mạng Việt Nam; ra sức truyền bá các sản phẩm văn hóa ngoại lai, phản nhân văn, phi văn hóa nhằm kích thích tâm lý, lối sống thực dụng, sa đọa, thấp hèn; làm băng hoại, lệch chuẩn các thang giá trị văn hóa đạo đức nhân ái, nhân văn trong một bộ phận nhân dân, nhất là đối với thế hệ trẻ… Có thể khái quát một số phương thức, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch trong tình hình hiện nay, nổi lên là: Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng Internet, mạng xã hội để truyền bá, kích động tư tưởng chống đối, lối sống thực dụng, văn hóa phẩm đồi trụy; khuếch trương các quyền tự do, dân chủ trên lĩnh vực báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ núp dưới chiêu bài tự do ngôn luận, tự do sáng tác, quyền thông tin; móc nối với những phần tử bất mãn, chống đối trong nước, lợi dụng những sơ hở, yếu kém của ta trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội, tung ra các tác phẩm báo chí, văn học nghệ thuật để xuyên tạc lịch sử, bóp méo sự thật, nói xấu, vu cáo chế độ ta, hòng bôi đen nền văn hóa xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Thông qua việc truyền bá những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch, lối sống lai căng vào xã hội, vào cán bộ, đảng viên và nhân dân, dần dần từng bước tạo sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, để đi đến chuyển hóa Đảng, chuyển hóa chế độ. Ở nước ngoài, các thế lực thù địch ra sức lôi kéo, thành lập các hội, nhóm văn hóa, văn nghệ phản động để tiến hành tuyên truyền, bôi nhọ quan điểm, đường lối của Đảng; chúng dùng mọi biện pháp để đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng, công kích chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc chủ nghĩa yêu nước Việt Nam; phủ nhận những giá trị văn hóa dựng nước và giữ nước Việt Nam, nhất là hệ giá trị văn hóa giữ nước trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc; chúng đánh đồng giá trị nhân văn, chính nghĩa với phi nghĩa, phản động, làm lẫn lộn giá trị nhân cách yêu nước, chính nghĩa của những chiến sĩ cách mạng với những kẻ phản bội, cướp nước, bán nước… Lợi dụng các tổ chức “xã hội dân sự” trong nước, các thế lực thù địch ra sức móc nối, cài cắm, phát triển lực lượng, từ đó hình thành các tổ chức phản động ở Việt Nam để truyền bá văn hóa phản động. Đặc biệt, chúng dùng mọi thủ đoạn để kích động, lôi kéo, lung lạc đội ngũ nhà văn, nghệ sĩ trong nước tham gia vào các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam; hướng lái các văn nghệ sĩ đi theo các trào lưu tư tưởng văn hóa phương Tây, đào sâu “tự do, dân chủ” trong sáng tác, thành lập cái gọi là “Văn đoàn độc lập” để đối trọng với Hội Nhà văn Việt Nam, v.v. Thậm chí, họ còn dùng những tác phẩm văn học, nghệ thuật để tạo cớ gây áp lực đòi “nhân quyền”, kích động bạo lực và lối sống thực dụng, dung tục, hòng làm phai mờ những giá trị đạo đức tốt đẹp của con người Việt Nam. Trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch còn dùng thủ đoạn cử người trực tiếp tiếp cận các tầng lớp nhân dân, nhất là giới trí thức, sinh viên, số cực đoan tôn giáo và cán bộ, đảng viên tha hóa, biến chất để tuyên truyền, lôi kéo tham gia các hoạt động chống đối trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa. Với mưu đồ phủ nhận tính giai cấp, tính Đảng của văn hóa - văn nghệ, chúng tuyên truyền đề cao chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa cơ hội trong văn hóa - văn nghệ; hạ bệ những tác phẩm đỉnh cao chứa đựng sâu sắc tính nhân văn, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân ta,… tiến tới phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với văn hóa - văn nghệ. 3. Một số giải pháp phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch hiện nay Xã hội muốn phát triển thì phản giá trị không thể chiếm chỗ của chân giá trị. Để cho “Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” , thì toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, nhất là các địa phương, cơ quan, đơn vị ở cơ sở phải tích cực, chủ động, kiên quyết đấu tranh phòng, chống, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch. Theo đó, cần phải có sự nghiên cứu tổng hợp, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức, biện pháp đấu tranh, ngăn ngừa; trong phạm vi nghiên cứu của bài viết, xin nêu mấy vấn đề cơ bản: Một là, tăng cường giáo dục, bồi đắp hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định “Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên” . Đây vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp hết sức quan trọng để ngăn ngừa sự tác động, xâm hại của những âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa”; tạo ra sự “miễn dịch” trong các tầng lớp nhân dân trước mưu đồ chống phá của kẻ địch. Quán triệt quan điểm của Đảng, cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội ở các địa phương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục. Tập trung tuyên truyền khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng; nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân ái, nhân văn trong truyền thống văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam. Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ về “hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam” thời kỳ mới, đó chính là sự gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống với giá trị hiện đại; tích cực gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống với tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại; ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực, tệ nạn xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường và xu thế hội nhập hiện nay. Cấp ủy, chính quyền, đoàn thể và các cơ quan chức năng ở cơ sở cần nghiên cứu, vận dụng linh hoạt các hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục, gắn sát với đặc điểm của từng đối tượng; trong đó, cần đẩy mạnh tuyên truyền trên các phương tiện thông tin, truyền thông; tuyên truyền, giáo dục trong các nhà trường, ở từng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. Phát huy tốt vai trò xung kích, sáng tạo của các tổ chức quần chúng trong hoạt động tuyền truyền giáo dục đoàn viên, hội viên. Kết hợp giữa tuyên truyền, giáo dục với tổ chức các hình thức hoạt động văn hóa, văn nghệ để định hướng nhận thức tư tưởng một cách sinh động, hiệu quả trong cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Hai là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, quản lý, điều hành của cấp ủy, chính quyền; phát huy tốt vai trò nêu gương về văn hóa của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt ở địa phương, cơ sở Đây là giải pháp hết sức quan trọng để giành thắng lợi trong mặt trận phòng, chống “xâm lăng văn hóa” mà các thế lực thù địch tiến hành đối với nước ta hiện nay. Trước hết, cấp ủy, chính quyền ở các địa phương, cơ quan, đơn vị cần quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam thời kỳ mới; tập trung đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức lãnh đạo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực xây dựng, phát triển văn hóa, con người. Coi trọng công tác kiểm tra, giám sát; chăm lo đào tạo, phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, tham mưu trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ; có cơ chế khuyến khích sự tìm tòi, sáng tạo trong hoạt động văn học, nghệ thuật, làm phong phú thêm bản sắc văn hóa Việt Nam; hạn chế các lệch lạc, các biểu hiện chạy theo thị hiếu tầm thường, mắc mưu lôi kéo, cám dỗ của các thế lực thù địch. Chính quyền, cơ quan chức năng ở các địa phương, cơ sở cần phải tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin, nhất là trên internet, mạng xã hội. Kiên quyết ngăn ngừa, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục… Phát huy tốt vai trò nêu gương về văn hóa của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp ở cơ sở có tác dụng lan tỏa rất lớn trong giáo dục, định hướng giá trị văn hóa cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” ; trong những năm qua, Đảng ta đã ban hành nhiều quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên: Quy định số 101-QÐ/TW, ngày 07/6/2012 của Ban Bí thư về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19/12/2016, về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên; Quy định số 08-QĐ/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Quán triệt quan điểm của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên, mà trước hết là cán bộ chủ trì, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, đoàn thể ở địa phương, cơ sở phải là những tấm gương sáng về trí tuệ, đạo đức, lối sống, phong cách và tinh thần trách nhiệm đối với tập thể, tạo sự lan toả các giá trị văn hoá nhân cách đến các tầng lớp nhân dân. Ba là, đẩy mạnh xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú ở các địa phương, cơ sở Môi trường văn hóa ở các địa phương, cơ quan, đơn vị cơ sở có vai trò hết sức quan trọng, là môi trường xã hội trực tiếp hình thành, nuôi dưỡng, phát triển, hoàn thiện nhân cách của cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân. Ca dao, tục ngữ có câu: “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”, “gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”; chăm lo xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú ở các địa phương, cơ sở là giải pháp hữu hiệu để ngăn ngừa, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch một cách hiệu quả. Xây dựng môi trường văn hóa ở địa phương, cơ quan, đơn vị cơ sở hiện nay cần phải xây dựng đồng bộ, toàn diện các yếu tố tạo nên môi trường văn hóa, bao gồm hệ thống các giá trị văn hóa, các quan hệ văn hóa, hoạt động văn hóa và thiết chế, cảnh quan văn hóa. Phải chăm lo xây dựng văn hóa từ trong các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể đến văn hóa nhân cách của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tập trung xây dựng đời sống văn hóa của các tầng lớp nhân dân, “cải thiện điều kiện hưởng thụ văn hóa của nhân dân …; bảo đảm công bằng về cơ hội và thụ hưởng văn hóa. Khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển và đời sống văn hóa giữa các vùng, miền, các giai tầng xã hội, đặc biệt quan tâm đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, các khu công nghiệp …” như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định. Chăm lo xây dựng các quan hệ văn hóa lành mạnh, văn minh, tiến bộ trong từng địa phương, cơ quan, đơn vị, nhà trường, doanh nghiệp và trong mỗi gia đình …; khắc phục sự xuống cấp về đạo đức trong các quan hệ văn hóa, nhất là trong giới trẻ hiện nay. Xây dựng cảnh quan văn hóa hài hòa, thân thiện, văn minh; tổ chức các hoạt động văn hóa đa dạng, phong phú, tạo ra ở mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị một không gian văn hóa lành mạnh, tiến bộ, làm lấn át, đẩy lùi sự nảy sinh những biểu hiện phản văn hóa và âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch. Bốn là, gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”; giữa gìn giữ, bồi đắp hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người thời kỳ mới với kiên quyết đấu tranh ngăn ngừa, lọc bỏ những biểu hiện phản giá trị văn hóa trong mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” vừa là yêu cầu khách quan, vừa là giải pháp hữu hiệu trong phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch hiện nay. Trước những tác động tiêu cực từ mặt trái nền kinh tế thị trường, xu thế toàn cầu hòa, hội nhập quốc tế và mưu đồ chống phá trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa của các thế lực thù địch, đã và đang làm nảy sinh ngày càng gia tăng những biểu hiện phi văn hóa, phản giá trị, suy thoái, tệ nạn, tiêu cực ở các địa phương, cơ quan, đơn vị ... Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” nhằm lấy “xây” để “chống”, lấy “cái đẹp” để “dẹp cái xấu” và lấy “chống” để “xây”, kiên quyết “nhổ cỏ dại” để “hái mùa vàng”. Trong tình hình mới, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể ở các địa phương, cơ quan, đơn vị cần phải coi trọng giáo dục, gìn giữ, bồi đắp và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, thể hiện bản sắc, thương hiệu của mình; đồng thời, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, tạo lập những giá trị văn hóa mới, mang tính tiên tiến, văn minh, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Kiên quyết đấu tranh ngăn ngừa, lọc bỏ những biểu hiện phản giá trị văn hóa; nhất là những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; phê phán và ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, tệ nạn mê tín, dị đoan; đẩy lùi bệnh quan liêu, bè phái, mất đoàn kết, chủ nghĩa cơ hội và thực dụng; các hành vi vi phạm pháp luật, kỷ luật ở địa phương, cơ quan, đơn vị. Phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, binh chủng trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, nhất là vai trò của cơ quan chức năng, các “Ban chỉ đạo 35”, lực lượng nòng cốt đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Phải làm cho các tổ chức, các lực lượng nhận thức đầy đủ, sâu sắc rằng, đây là việc làm thường xuyên, lâu dài chứ không phải là công việc “một sớm, một chiều”, giản đơn, “thuận buồm, xuôi gió”. Nó phải được tiến hành một cách bền bỉ, kiên trì, dũng cảm trên mọi lĩnh vực, mọi mặt hoạt động, trong mọi tổ chức, mọi lực lượng và trong mỗi con người. Trong đó, cần kết hợp chặt chẽ giữa khơi dậy và phát huy vai trò nêu gương về văn hóa của cán bộ, đảng viên với tăng cường quản lý, điều hành, thanh tra, kiểm tra xử lý các biểu hiện vi phạm.
NGƯỜI LÃNH ĐẠO VÀ BÀI HỌC TU DƯỠNG, TRÁNH CÁM DỖ Không chỉ đề cao vai trò, tầm quan trọng của người lãnh đạo: “Một người lo bằng kho người làm”, triết lý người Việt còn nhắc nhở những ai ở cương vị đó phải biết giữ gìn nhân cách, bởi “nhà dột từ nóc”. Lại có câu ca dao: “Người trên ở chẳng chính ngôi/ Để cho bề dưới chúng tôi hỗn hào” là chân lý cũng là đạo lý, vì người lãnh đạo, nhất là lãnh đạo cấp cao không chỉ phải “lo” đường lối chiến lược, hoạch định chính sách... mà còn phải là mẫu mực nhân cách có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng. Thế nhưng vừa qua, có không ít vị lãnh đạo cấp cao lại “nhúng chàm” để rồi đang ở đỉnh cao quyền lực rơi xuống đáy thân phận bị cáo, trở thành “tấm gương mờ” để người đời bêu riếu... “Tài” và “đức” là hai phạm trù cơ bản cấu thành nhân cách người lãnh đạo. Họ có thể có “tài” nhưng còn thiếu “đức”. Bác Hồ từng dạy người cách mạng phải lấy đức là nguồn, là gốc: “Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(1). Những “tấm gương mờ” kia còn thiếu đạo đức cách mạng nên sức yếu, không “gánh được nặng” và chẳng “đi được xa”. Bốn cái cột chống vững chắc của ngôi nhà đạo đức cách mạng, theo Bác Hồ là “cần, kiệm, liêm, chính”. Ngày Quốc khánh 2-9-1947, Người viết bài "Cán bộ và đời sống mới" giải thích rõ vấn đề, đặc biệt nhấn mạnh đến sự “thực hành”: “Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực hành bốn điều đó, mà muốn được lòng dân, thì cũng như bắc dây leo trời”(2). Câu nói mang ý nghĩa thời sự sâu sắc, như là nói với hôm nay! Một phẩm chất hàng đầu của người lãnh đạo là uy tín. Tham ô, đục khoét tức “vô liêm”, không trong sạch thì làm sao “được lòng dân”. Người xưa rất coi trọng chữ “liêm”. Cụ Khổng Tử mỉa mai: “Người mà không liêm, không bằng súc vật”. Cụ Mạnh Tử trăn trở: “Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy”. Bác Hồ kế thừa các tinh hoa tư tưởng ấy và minh họa một trường hợp cụ thể. Trong "Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch bốn tháng sang Pháp", Người có nói về “tấm gương” của Napoléon “đại tài nhưng tham lam”, từ một anh lính làm đến tổng tư lệnh rồi hoàng đế, vẫn chưa thấy đủ, ông còn muốn làm chúa cả thế giới: “Nếu ông Napoléon mà biết dè dặt, không tham muốn quá chừng, thì chắc nước Pháp lúc đó không đến nỗi vì chiến tranh mà chết người, hại của. Mà ông Napoléon cũng giữ được địa vị thiên tử trong một nước giàu mạnh ở Âu châu. Nhưng ông Napoléon đã làm con giời lại muốn làm cả giời, kết quả bị rơi xuống đất... Xưa nay đã nhiều người vì không “tri túc” (chừng mực) mà thất bại”(3). Là người có tài, lại ở vị trí lãnh đạo cao nhất nhưng “kết quả bị rơi xuống đất”, theo Bác Hồ có 3 lý do là “tham lam”, “không khiêm tốn”, “không biết lượng sức mình”. Vì thế mà ông ta mắc bệnh cuồng vọng “đã làm con giời lại muốn làm cả giời”. Hậu quả do người lãnh đạo gây ra, không chỉ mình người đó mà còn cả cộng đồng phải gánh chịu, có khi rất nặng nề. Soi vào một vài trường hợp cán bộ lãnh đạo cấp cao vừa rồi bị kỷ luật, không thể so sánh về tài năng, nhưng về nguyên nhân và “kết quả” thì thấy họ cũng gần giống như Napoléon vậy! Phật giáo coi tính “tham” là nguyên nhân đầu tiên dẫn con người đến “bể khổ”. Khổng Tử coi sự “tham lợi” chỉ có ở kẻ “tiểu nhân”. Bác Hồ dạy cán bộ phải biết: “Ít lòng tham muốn về vật chất”! Mọi cán bộ đều phải thế, cán bộ lãnh đạo càng phải thế! Về giải pháp ngăn chặn, căn cứ vào tư tưởng biện chứng của Lenin từ “trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng”, đối chiếu với quan niệm về đặc trưng tâm lý người lãnh đạo mới nhất của thế giới hiện nay, thì lời Bác Hồ dạy vẫn là bài học đúng đắn, thiết thực. Cụ thể nhất là lấy gương người tốt-việc tốt hằng ngày để giáo dục lẫn nhau. Đây là một truyền thống văn hóa phương Đông mà chính Bác Hồ giải thích: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Ở phương Tây, một số vị tổng thống khi nhậm chức thường đặt tay lên cuốn Kinh Thánh là một cách “hứa” sẽ làm theo những lời dạy mẫu mực, tức cũng coi đó là tấm gương. Vấn đề ở chỗ “làm gương” như thế nào, bằng cách nào? Ở ngay lĩnh vực giáo dục cán bộ, đảng viên, Bác Hồ đã là nhà giáo dục lớn với tư tưởng và các biện pháp mang tính hệ thống, toàn diện, phù hợp. Theo Người, lấy những tấm gương “đảng viên đã vì Đảng, vì giai cấp, vì dân tộc mà oanh liệt hy sinh như đồng chí Lê Hồng Phong, Trần Phú, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Văn Cừ, Lương Khánh Thiện, Minh Khai, cùng trăm nghìn đồng chí khác... Máu xương của các tiên liệt đã thấm nhuần gốc rễ của Đảng ta, làm cho cây nó càng vững, ngành nó càng to, và kết quả khai hoa ngày càng rực rỡ”(4). Hình tượng ẩn dụ “cây” Đảng ta tươi tốt là nhờ “gốc rễ” được “thấm nhuần” máu xương của các bậc tiền bối thật giàu ý nghĩa biểu cảm này được Người nhiều lần nhắc lại. Thế hệ lãnh đạo đầu tiên ấy đã hy sinh trọn vẹn, tuyệt đối cho dân tộc, xứng đáng là tấm gương cho mọi thế hệ kế tục học tập, noi theo. Bác Hồ từng nhấn mạnh những cán bộ chủ chốt, cấp cao phải tiên phong trong việc nêu gương. Trong "Bài nói chuyện tại phiên họp cuối năm của Hội đồng Chính phủ năm 1963", Người nhắc nhở: “Một điều rất quan trọng nữa là các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng và cán bộ lãnh đạo phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn tác phong gian khổ phấn đấu, phải không ngừng nâng cao chí khí cách mạng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Có như thế mới xứng đáng với đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng chống đế quốc Mỹ và tay sai của chúng để giải phóng miền Nam và hòa bình thống nhất nước nhà. Nhân dân ta rất tốt. Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”(5). Không chỉ là lời dạy về nội dung, còn là vấn đề phương pháp luận: Phải lấy tấm gương sáng nhất, cụ thể mà gần gũi để giáo dục. Thời điểm ấy, với các bộ trưởng, thứ trưởng... thì có tấm gương nào “sáng” hơn “đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng”. Một số cán bộ lãnh đạo mắc khuyết điểm vừa qua có nguyên nhân là phai mờ lý tưởng cộng sản, nhạt phai tinh thần tự nguyện cống hiến, hy sinh vì cách mạng, vì dân nên sa vào chủ nghĩa cá nhân, đúng như Bác nói, họ “coi Đảng như một cái cầu thang để thăng quan phát tài”(6). Xa dân nên thành “quan cách”, không đoái hoài đến đời sống của dân, không chỉ không “cần kiệm” mà còn xa hoa, lãng phí. Do vậy quy trình bổ nhiệm cán bộ cấp cao cần hết sức chặt chẽ. Nhất thiết cán bộ đó phải kinh qua những cương vị lãnh đạo gần với dân, hiểu dân. Bởi có vậy họ mới thấm thía “một hột gạo, một đồng tiền, tức là một số mồ hôi nước mắt của đồng bào” nên có ý thức chi tiêu, sử dụng bất cứ cái gì cũng phải nghĩ đó là của dân. Chỉ khi nghĩ được như lời Bác dạy “hoang phí là một tội ác” thì mới biết trân trọng, giữ gìn tài sản của dân và danh dự của mình. Những vụ việc ấy cho thấy bài học là còn nhiều cơ quan, tổ chức đảng coi nhẹ công tác tự phê bình và phê bình. Điều ấy có lý do từ căn tính tiểu nông cả nể đã ngàn xưa, với cán bộ chủ chốt thì sự cả nể càng tăng lên nhiều. Lại thêm tâm lý “chín bỏ làm mười”, “xuê xoa”, “an phận thủ thường”, “đấu tranh là... tránh đâu”... nên lãnh đạo mắc khuyết điểm ngày thêm nặng mà không được góp ý, chỉ ra, ngăn chặn. Rất nhiều lần Bác Hồ nhắc cán bộ phải “gương mẫu”, “nêu gương”, phải là “đầu tàu”... Không ít lần, Người mượn lời Khổng Tử dạy cán bộ mình có đứng đắn, trong sáng mới tề được gia, trị được quốc, bình được thiên hạ... Những lời dạy ấy không chỉ đúng với đạo lý mà còn là khoa học, biện chứng. Để có uy tín, để là tấm gương sáng, với người lãnh đạo-theo lời Bác dạy là phải “thực hành trước” các nguyên tắc “Cần, kiệm, liêm, chính”, “chí công”, “vô tư” . Một phương pháp sư phạm đã trở thành chân lý: Cách tốt nhất để giáo dục, thuyết phục người khác là giáo dục, thuyết phục bằng chính nhân cách mình!
Chủ tịch Quốc hội dự Lễ khai giảng năm học 2022 - 2023 tại Học viện Quốc phòng Sáng 13/9, tại Hà Nội, Giáo sư, Tiến sĩ, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ dự Lễ khai giảng năm học 2022 - 2023 của Học viện Quốc phòng. Tham dự có các Ủy viên Trung ương Đảng: Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Thường vụ Quân uỷ Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Bùi Văn Cường; Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục Nguyễn Đắc Vinh; Chủ nhiệm Uỷ ban Quốc phòng, An ninh Lê Tấn Tới; Trung tướng Trịnh Văn Quyết, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; Thượng tướng, Giáo sư, Tiến sĩ, Giám đốc Học viện Quốc phòng Trần Việt Khoa… Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ phát biểu khai giảng năm học 2022 – 2023 của Học viện Quốc phòng. Phát biểu tại Lễ khai giảng, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ gửi tới các cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ Học viện Quốc phòng những tình cảm thân thiết và lời chúc mừng tốt đẹp nhất. Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sau hơn 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Trong những thành tựu chung của đất nước, có sự đóng góp rất quan trọng của công tác quốc phòng, an ninh nói chung và của Học viện Quốc phòng nói riêng. Là trung tâm huấn luyện, đào tạo tướng lĩnh, sĩ quan cấp cao, cán bộ khoa học nghệ thuật quân sự đầu ngành của Quân đội nhân dân Việt Nam; trung tâm bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước, Học viện đã quán triệt chủ trương của Đảng về đẩy mạnh đột phá chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Học viện đã chủ động, quyết liệt đổi mới theo hướng chuyển mục tiêu đào tạo từ tư duy quân sự là chủ yếu sang tư duy quốc phòng, an ninh; nâng cao năng lực đào tạo từ đào tạo cán bộ cấp chiến thuật - chiến dịch là chủ yếu sang đào tạo cán bộ cấp chiến dịch - chiến lược. Học viện cũng quán triệt, thực hiện tốt chủ trương của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về “chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị”; có nhiều nỗ lực trong thực hiện 3 thực chất “dạy thực chất - học thực chất - đánh giá kết quả thực chất”; nghiên cứu xây dựng chương trình, biên soạn, nâng cao chất lượng giáo trình, bài giảng; vận dụng phương pháp dạy học tích cực với phương châm “lấy người học làm trung tâm”. Học viện đã triển khai nghiên cứu nhiều đề tài khoa học (đã có 978 đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, trong đó có 6 đề tài cấp Quốc gia, 179 đề tài cấp Bộ Quốc phòng); tham gia nghiên cứu tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận và có những đóng góp xứng đáng vào công tác lý luận của Đảng và Quân đội. Chủ tịch Quốc hội đánh giá cao Học viện đã luôn bám sát tình hình thực tiễn, chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng để hoạch định các chủ trương, đường lối, cơ chế, chính sách về quốc phòng, quân sự, xây dựng quân đội, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Công tác đối ngoại quốc phòng có bước phát triển mới, Học viện mở rộng trao đổi, đối thoại, giao lưu quốc phòng với các nước; hoàn thành tốt nhiệm vụ đào tạo cán bộ cấp cao cho Quân đội Lào, Campuchia và đào tạo quan chức quốc phòng quốc tế; mở rộng trao đổi tiếp xúc đoàn, nghiên cứu học thuật, chia sẻ kinh nghiệm trên các diễn đàn quốc tế song phương, đa phương, nhất là trên Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF); ngày càng khẳng định vị thế của Học viện Quốc phòng, góp phần tích cực vào thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nước ta. Cùng với đó, Học viện đã luôn chú trọng công tác xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh tiêu biểu gắn với xây dựng Học viện vững mạnh toàn diện, chính quy, “mẫu mực, tiêu biểu” và phát triển bền vững; nâng cao chất lượng, xây dựng đội ngũ giảng viên, cán bộ khoa học, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Với những thành tích xuất sắc của mình, Học viện đã vinh dự được Đảng, Nhà nước trao tặng danh hiệu “Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ đổi mới”; Huân chương Hồ Chí Minh, 2 Huân chương Độc lập hạng Nhất và nhiều phần thưởng cao quý khác. Tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung giáo dục - đào tạo và nghiên cứu Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Năm học 2022 - 2023 diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực đang có những diễn biến nhanh chóng và khó lường. Ở trong nước, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị vẫn ráo riết đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình”, với âm mưu, thủ đoạn ngày càng tinh vi, công khai, quyết liệt và trực diện hơn… Từ đó, Chủ tịch Quốc hội nêu rõ, tình hình trên càng cho thấy yêu cầu cấp thiết phải tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN; chăm lo xây dựng, tăng cường sức mạnh quốc phòng, quân sự; xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, phấn đấu đến năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại, có chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống. Chủ tịch Quốc hội khẳng định Đảng, Nhà nước, Quốc hội sẽ tiếp tục quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi để Học viện Quốc phòng nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, giữ vững vai trò là trung tâm huấn luyện - đào tạo, nghiên cứu khoa học quốc phòng, quân sự hàng đầu của đất nước, ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới. Chủ tịch Quốc hội đề nghị Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, lãnh đạo các ban, bộ, ngành trung ương và các địa phương tiếp tục phối hợp chặt chẽ, tăng cường quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Học viện Quốc phòng trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao. Học viện quyết tâm, nỗ lực cao hơn nữa, chủ động sáng tạo hơn nữa trong việc thực hiện một số nội dung trọng tâm. Học viện tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng về công tác huấn luyện - đào tạo. Trọng tâm là Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”; Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Cùng với đó, Học viện tiếp tục chủ động, tích cực, sáng tạo, đi đầu trong thực hiện chủ trương “Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị” mà Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã triển khai; tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt được trong những năm qua, tạo ra bước chuyển biến tích cực có tính đột phá về đổi mới chương trình, nội dung giáo dục - đào tạo và nghiên cứu khoa học phù hợp với chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN thời kỳ mới; đi đầu trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Quân đội và bồi dưỡng, giáo dục quốc phòng, an ninh trong Quân đội và của cả nước. Chủ tịch Quốc hội đề nghị Học viện Quốc phòng đẩy mạnh việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, phát triển khoa học quốc phòng, an ninh quân sự trong tình hình mới. Học viện cần tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; kế thừa, vận dụng sáng tạo kinh nghiệm giữ nước nghệ thuật quân sự của cha ông, làm tốt công tác tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận quân sự, quốc phòng, an ninh để tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng các vấn đề về chiến lược quốc phòng, an ninh, quân sự, nhất là những nhận thức mới, tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc; nắm vững quan điểm của Đảng về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh và tăng cường quốc phòng, an ninh với đối ngoại… , phát hiện những vấn đề mới và những phương pháp giải quyết mới, làm cơ sở cho việc tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh ở các cơ quan, bộ, ngành, địa phương trong cả nước. Học viện có hình thức đóng góp phù hợp cho Đảng, Quốc hội, Chính phủ trong hoạch định các chủ trương, hoàn thiện hệ thống luật pháp, thể chế, chính sách để phát triển đất nước, nhất là kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Học viện không ngừng nâng cao chất lượng hợp tác quốc tế trong đào tạo; tiếp tục mở rộng, nâng cao hiệu quả hợp tác với Học viện, Trường Đại học Quốc phòng - Quân sự, Viện nghiên cứu Quốc phòng - An ninh các nước trên thế giới trong nhiều lĩnh vực, nhất là về huấn luyện - đào tạo, trao đổi tọa đàm, nghiên cứu học thuật... Coi trọng nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cao cấp quân sự giúp hai nước bạn: Lào và Campuchia; đồng thời, tiếp tục mở các lớp đào tạo quan chức quốc phòng quốc tế. “Đây là nhiệm vụ rất quan trọng trong xây dựng Học viện Quốc phòng ngang tầm với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, quân sự của đất nước và nền giáo dục quốc phòng tiên tiến trên thế giới; góp phần thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước trong tình hình hiện nay”, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh. Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác tiếp tục chăm lo xây dựng Đảng bộ Học viện vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ gắn với xây dựng Học viện vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”. Học viện tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Kết luận số 21 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về xây dựng chỉnh đốn Đảng; Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và Nghị quyết số 847 của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”. Học viện tập trung bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên, các nhà khoa học đầu ngành vững về bản lĩnh, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có tư duy chiến lược sâu sắc, có trí tuệ và năng lực thực tiễn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; đẩy mạnh tiến độ hiện đại hóa, ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao chất lượng cơ sở vật chất, trang thiết bị huấn luyện. Cùng với chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên và chiến sĩ, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nhấn mạnh yêu cầu Học viện Quốc phong chú trọng xây dựng môi trường văn hóa, môi trường sư phạm tiên tiến, mẫu mực, kiên quyết không để những biểu hiện tiêu cực xâm nhập vào; xây dựng Đảng bộ Học viện vững mạnh tiêu biểu về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ, Học viện vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu” đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.