Thứ Năm, 22 tháng 9, 2022

"HỌC ĐỂ LÀM VIỆC, LÀM NGƯỜI, LÀM CÁN BỘ"

 

Trong cuốn sách “Học tập: Một kho báu tiềm ẩn” - công trình khoa học về giáo dục do Nhà xuất bản UNESCO công bố tháng 4-1996 có nêu lên bốn trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI: Learning to know; Learning to do; Learning to live together; Learning to be (Học để biết; Học để làm việc; Học để chung sống với nhau; Học để làm người). Công trình này là một kho báu cần được khai thác, phát huy, bởi nó thể hiện rõ tư duy mới về giáo dục thế kỷ XXI, với cách tiếp cận mới về những con đường đa dạng cho sự học tập, thể hiện ý tưởng về xây dựng một xã hội học tập, học tập suốt đời của con người và trí tuệ của con người. Do vậy, được nhiều quốc gia trên thế giới đánh giá rất cao; được thảo luận kỹ ở nhiều hội nghị quốc tế và đã có nhiều nước thành viên UNESCO áp dụng.

Kỳ lạ thay, cách thời điểm công trình trên ra đời gần 50 năm, vào tháng 9-1949, trong dịp đến thăm Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ghi vào sổ của Trường:

“Học để làm việc,

                       làm người,

                       làm cán bộ,

Học để phụng sự Đoàn thể,

                       phụng sự giai cấp và nhân dân,

                       phụng sự Tổ quốc và nhân loại

Muốn đạt mục đích, thì phải

                       Cần, kiệm, liêm, chính,

                       Chí công, vô tư”.

Quan điểm đó của Người đã thể hiện những điều căn cốt nhất về giáo dục trong chế độ mới và có ý nghĩa rất lớn cho nền giáo dục nước nhà hiện nay. Cụ thể là:

1. Nền giáo dục bảo đảm thực hiện mục tiêu phát triển của đất nước

Hồ Chí Minh nêu những nội dung phản ánh về mục tiêu giáo dục của Việt Nam ngay trong năm học đầu tiên khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời (9-1945) và nhất quán trong suốt quá trình phát triển của nền giáo dục Việt Nam. Trong Thư gửi các học sinh, Người viết: “Từ giờ phút này giở đi các em bắt đầu được nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam”. Đó là “một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em,… Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Mục tiêu này tuyệt nhiên không phải là một nền giáo dục chạy theo bằng cấp, mà giáo dục để đào tạo ra con người mới phụng sự Tổ quốc, làm rạng danh non sông. Bởi vậy, giáo dục theo mục tiêu đó thì không phải cứ chạy theo khối lượng kiến thức, mà là ở chỗ trang bị kiến thức gì để đạt chất lượng phục vụ cho mục tiêu. Hồ Chí Minh mượn ý của Nho giáo để đưa ra một thông điệp: vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây; vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người. Trồng người, sự nghiệp đó mới chính là mục tiêu mà nền giáo dục của nước ta phải đạt tới. Vì thế, sự học không có trang sách cuối cùng, như Hồ Chí Minh đã làm: học trên ghế nhà trường, học trong cuộc sống, học cả cuộc đời.

2. Giáo dục toàn diện

Hồ Chí Minh quan niệm: con người là một chỉnh thể gồm cả đức và tài, hoặc theo cách diễn đạt khác là “vừa hồng, vừa chuyên”, nghĩa là vừa có phẩm chất vừa có năng lực. Nếu thiếu một trong hai vế đó thì không phải là “con người” theo đúng nghĩa hoàn chỉnh. Do vậy, việc giáo dục và học tập phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động và sản xuất. Thực chất, đó là quan điểm để phát triển con người Việt Nam (“con người mới”, “con người Việt Nam hiện đại”), với những phẩm chất và năng lực, như: có lý tưởng, đạo đức cách mạng, tình yêu đất nước, tinh thần nhân văn, có quan hệ đúng mực với những người xung quanh, có ý chí vươn lên về mọi mặt trong cuộc sống để trở thành người có ích cho xã hội. Đồng thời, có những kỹ năng cần thiết để ứng xử thành công với tất cả các mối quan hệ tự nhiên, xã hội; có tri thức chuyên sâu về chuyên môn, nghiệp vụ, áp dụng vào thực tế lao động, làm lợi cho xã hội, cho cộng đồng, cho gia đình và bản thân. Con người như vậy phải thường xuyên rèn luyện để có sức khỏe tốt. Và trên hết, đó là con người có văn hóa.

 Nhà trường, gia đình, xã hội và tự bản thân mỗi con người Việt Nam phải có trách nhiệm vươn lên để đáp ứng được những yêu cầu đó. Trong điều kiện, hoàn cảnh nhất định, con người có thể chỉ được giáo dục chuyên sâu, chuyên biệt về một hay nhiều lĩnh vực nào đó, nhưng chỉ khi được giáo dục toàn diện văn - đức - thể - mỹ,…; đức - tài trọn vẹn, thì mới là người được giáo dục thành công.

3. Giáo dục thiết thực

Giáo dục thiết thực không phải là theo lối thực dụng, mà để phục vụ mục tiêu xây dựng con người: yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu khoa học, yêu đạo đức. Cho nên, Hồ Chí Minh chú trọng tới giáo dục thiết thực để làm cho con người có đủ đức - tài phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đối với các em học sinh, Người đặt ra yêu cầu: “Khi ở nhà phải thương yêu cha mẹ, giúp đỡ cha mẹ về công việc, giúp đỡ về tinh thần,… ở trường thì phải đoàn kết giúp đỡ anh chị em thi đua học tập. Phải đoàn kết giữa thày và trò làm cho trường mình luôn luôn tiến bộ. Ở xã hội, các cháu có thể giúp được nhiều việc có ích”. Rõ ràng, giáo dục thiết thực ở đây hoàn toàn khác với kiểu giáo dục nhồi nhét.

4. Học đi đôi với hành

Đây là nội dung được Hồ Chí Minh đề cập trong nhiều bài viết, bài nói. Thực hành là một mặt quan trọng để đạt mục tiêu giáo dục. Để học đi đôi với hành, phương pháp giáo dục đóng vai trò rất quan trọng. Trong thời gian dạy ở Trường Dục Thanh và các lớp huấn luyện cán bộ, trong đó có các lớp của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã áp dụng phương pháp dạy và học tích cực; coi trọng việc tự học, tự nghiên cứu; lấy tự học làm cốt, có sự thảo luận và chỉ đạo, hướng dẫn. Người cũng không ít lần nhắc nhở những người làm công tác giáo dục là phải nhận rõ đối tượng, những đặc điểm của đối tượng để giáo dục cho thích hợp; phải giảng giải rõ ràng, dễ hiểu, đừng sáo rỗng; chống học vẹt; phải làm cho học sinh độc lập suy nghĩ, tự do tư tưởng; học tập suốt đời, học lẫn nhau, học mọi lúc, mọi nơi. Hiện nay, việc học đi đôi với hành ở các cấp học của nước ta vẫn còn những hạn chế nhất định; khả năng thích ứng với công việc của học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp còn yếu; phương pháp giảng dạy chưa phát huy hết khả năng sáng tạo, tư duy độc lập của người học.

5. Chăm lo xây dựng đội ngũ thầy, cô giáo

Nói đến lĩnh vực giáo dục, trước hết phải nói đến đội ngũ thầy, cô giáo. Theo Hồ Chí Minh, thầy giáo là lực lượng tiên phong, xung kích trên mặt trận giáo dục. Người đặt ra yêu cầu đối với lực lượng này: phải luôn luôn tự giáo dục, rèn luyện, phải yêu nghề, tận tâm, tận lực vì sự nghiệp giáo dục của nước nhà. Có kiến thức và phương pháp giáo dục tốt; kiên trì, nhẫn nại, không quản ngại khó khăn, gian khổ. Để đạt được điều đó, cả xã hội phải quan tâm, chăm lo xây dựng đội ngũ thầy, cô giáo vừa có phẩm chất, vừa có năng lực để đội ngũ này hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang, mà theo Hồ Chí Minh, nhiệm vụ đó được tôn vinh, không có tượng đồng, bia đá nào sánh kịp.

6. Một số điều cho hôm nay

Cần đẩy mạnh chống bệnh lười học tập trong cán bộ, đảng viên. Năm 1961, tâm sự với các đảng viên hoạt động lâu năm, Hồ Chí Minh nói: “Công việc ngày càng nhiều, càng mới. Đảng phải đào tạo, dìu dắt đồng chí trẻ. Một mặt, đảng viên già phải cố gắng mà học. Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học. Việc lớn, việc nhỏ tôi phải tham gia. Công việc cứ tiến mãi. Không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau”. Trong lúc bộn bề trăm thứ việc sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Hồ Chí Minh đã nhận ra ba thứ giặc cần tập trung sức lực của toàn dân để chống, đó là: giặc ngoại xâm, giặc đói và giặc dốt.

Lĩnh vực giáo dục nói riêng và việc nâng cao dân trí nói chung có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội. Sự nghiệp “trồng người” mà Hồ Chí Minh khởi xướng vẫn luôn là chiến lược hành động của toàn hệ thống chính trị. Vì vậy, trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, việc đầu tư cho giáo dục, nâng cao dân trí chính là sự đầu tư cho phát triển. Hầu hết các quốc gia có tốc độ tăng trưởng và chỉ số phát triển con người (HDI) cao đều do sự đầu tư mạnh mẽ cho giáo dục. Hiện nay, chỉ số HDI và sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đã có sự cải thiện, song vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Một trong những lực cản là trình độ dân trí chưa cao và “bệnh” lười học tập.

Đã là “bệnh” thì đều có hại. Nhưng, cán bộ, đảng viên lười học tập thì cái “hại”  nặng nề hơn rất nhiều, ảnh hưởng tiêu cực tới sự nghiệp đổi mới và công cuộc xây dựng một xã hội học tập của nước ta. Công việc cách mạng đang rất cần những tri thức, nếu cán bộ, đảng viên lười học tập, trình độ yếu kém thì không thể đáp ứng được yêu cầu. Sự tụt hậu, yếu kém về trí tuệ của mỗi cán bộ, đảng viên đều dẫn đến sự yếu kém của toàn Đảng. Do đó, học tập, học tập suốt đời không những là yêu cầu của con người Việt Nam hiện đại nói chung, mà là yêu cầu tiên phong của đội ngũ cán bộ, đảng viên./.

KẾ HOẠCH HẬU CHIẾN

 


Vào năm 1973, Mỹ buộc phải rút quân khỏi Việt Nam, sau đó hai năm ngụy quyền Sài gòn cũng sụp đổ, đúng như tiên đoán của cụ Hồ Chí Minh – Mỹ cút, tức khắc ngụy sẽ nhào!

Tuy phải rút khỏi miền nam Việt Nam, song Mỹ vẫn tìm cách duy trì ảnh hưởng đối với Việt Nam vừa bằng các biện pháp quân sự lật đổ và vừa các biện pháp “diễn biến hòa bình”.

Trong bài tính lâu dài đối Việt Nam một khi đất nước đã thống nhất, Mỹ đưa ra bản kế hoạch “Hậu chiến” bao gồm 6 điểm:

1. Bao vây, cấm vận kinh tế ngoại giao, cô lập Việt Nam để thực hiện diễn biến hòa bình. Kế hoạch này cũng phù hợp với những nước trước đây từng là bạn bè, nay muốn ve vãn Mỹ nên không ngại ngần tham gia vào kế hoạch độc ác này, thực hiện trong suốt hai mươi năm (1975-1995).

2. Khi cuộc chiến đi vào giai đoạn cuối, và nhất là khi miền nam đã được giải phóng, phương bắc gây ra vụ “nạn kiều”, lợi dụng lúc kinh tế của ta có khó khăn (do bị bao vây cấm vận), ở miền nam Mỹ và các thế lực chống đối kích động nhân dân di tản, tạo ra nạn thuyền nhân làm cho xã hội rối ren, khó khăn càng thêm khó khăn. Tội ác này chúng ta không quên!

3. Cài cắm gián điệp ở lại để phá hoại ta về lâu dài. Nhưng vỏ quýt dầy có móng tay nhọn. Cơ quan an ninh của ta bóc tách rất nhiều, nổi cộm nhất là trường hợp Nguyễn Hà Phan, nếu không xử lý sớm, hắn có thể chui vào Bộ Chính trị. Trường hợp Sáu Phan là một thất bại cay đắng của Mỹ.

4. Hậu thuẫn cho các thế lực trong nước lợi dụng những yếu kém ở nơi này nơi kia, tổ chức các cuộc bạo loạn, biểu tình quậy phá, làm ngừng trệ sản xuất. Cổ súy và cung cấp tài chính cho các tổ chức “xã hội dân sự” thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”.

5. Tổ chức huấn luyện quân sự, biệt kích gián điệp, tung về nước để chống phá, điển hình là bọn phản quốc Hoàng Cơ Minh, tổ chức các “chiến dịch đông tiến”, nhưng bị quân đội ta tiêu diệt và bắt sống rất nhiều tên, dẫn đến chiến dịch bị thất bại vào năm 1986.

6. Từ tháng Ba đến tháng Tư, 1975 Mỹ đã đưa 3.300 trẻ em dưới danh nghĩa “trẻ mồ côi” cần đưa đi để nuôi dưỡng ở nước ngoài, đó là chiến dịch Babylift. Chuyến đầu tiên, do máy bay bị sự cố nên 155 người đã chết, trong đó phần lớn là trẻ em. Mỹ nuôi mộng tưởng trong một số năm sau đó, số trẻ em này lớn lên sẽ là một lực lượng mà Mỹ có thể xử dụng vào mục đích chính trị, làm mất ổn định xã hội Việt Nam. Song đứa bé nhất thời đó, bây giờ đã vào tuổi 45 mà vẫn chưa làm ăn gì được.

Thực ra, trong tình hình hiện này, Mỹ muốn lôi kéo Việt Nam vào cùng một mặt trận chống lại Trung quốc. Song chúng ta đã có rất nhiều bài học xương máu, nên ông Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã tuyên bố rõ ràng, rằng Việt Nam không chọn phe.

Cảnh giác vẫn không thừa. Chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, đế quốc không bao giờ có thể chung sống hòa bình với nhau. Hãy luôn nhớ câu nói của ông cựu bộ trưởng Ngoại giao Hoa kỳ:

“Hai mươi năm sau chúng ta (Mỹ) sẽ trở lại Việt Nam. Những gì bom đạn không thể làm được thì sức mạnh của đồng đô-la sẽ giải quyết. Người Việt Nam sẽ đón chúng ta như những vị ân nhân” (!).

Đừng tưởng bở nghe ông Kissinger! Mỹ muốn lắm song nay đã trải qua 45 năm rồi đó. Hơn hai lần cái thời hạn “hai mươi năm” của ông rồi! ./.

Một số giải pháp phòng, chống “diễn biến hoà bình”

 

Trước những âm mưu, thủ đoạn vô cùng nguy hiểm kể trên, đòi hỏi chúng ta phải luôn chủ động, kiên quyết trong nhận diện, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”. Để đấu tranh làm thất bại chiến lực “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc, chúng ta cần triển khai và làm tốt một số nhiệm vụ, giải pháp vừa mang tính cấp bách, vừa thường xuyên, liên tục. Đó là:

Thứ nhất, cần xác định công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là chính. Tuyên truyền giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân nâng cao cảnh giác, tạo sức đề kháng trước những thông tin, quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, thường xuyên chỉ đạo, định hướng công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là giáo dục thế hệ trẻ nhận thức rõ về vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng, về mô hình chính trị mà nước ta đã kiên định. Đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

Thứ hai, cấp uỷ, chính quyền các cấp nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững lập trường tư tưởng, chính trị cho cán bộ, đảng viên. Bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên là yếu tố cơ bản, then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu của các đơn vị; đồng thời, giữ vai trò định hướng thúc đẩy hành động và hành vi tích cực của cán bộ, đảng viên. Đối với tổ chức đảng phải thường xuyên chăm lo xây dựng nội bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện, chủ động nắm bắt tình hình, định hướng dư luận không để bị động, bất ngờ khi có tình huống xảy ra, coi đây là yếu tố then chốt quyết định đến thắng lợi của nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình”. Để thực hiện nhiệm vụ này, cần quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tăng cường công tác kiểm tra, bảo đảm cho nghị quyết của tổ chức đảng được thực hiện thắng lợi. Đồng thời, xây dựng đội ngũ cán bộ, lãnh đạo các cấp mạnh về số lượng và chất lượng, thể hiện ở các khâu từ lựa chọn, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí đúng người, đúng việc, phát huy vai trò tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, phát huy hiệu quả vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, trong việc phát huy dân chủ, tinh thần đoàn kết, tính chủ động trong việc ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch.

Có thể thấy rõ phương pháp của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là thực hiện “chiến thắng không cần chiến tranh”. Chúng tập trung phá hoại về chính trị, tư tưởng của cán bộ, đảng viên. Do đó,  phải nâng cao bản lĩnh chính trị cũng cố và giữ vững tư tưởng cho mỗi cán bộ, đảng viên là tất yếu trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm tư tưởng sai trái và phản động, các biểu hiện mơ hồ, ảo tưởng, hoài nghi, dao động, lơ là mất cảnh giác trong thực hiện nhiệm vụ.

Thứ ba, cần quán triệt sâu sắc phương châm, gắn “xây dựng với bảo vệ”, “bảo vệ với xây dựng”; xây dựng là một nội dung của bảo vệ và là biện pháp chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội hiệu quả nhất. Như đã phân tích, mục đích của các thế lực thù địch nhằm thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội, công an hòng làm ta từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, phai nhạt bản chất giai cấp, lý tưởng cách mạng, xa rời phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu và cuối cùng dẫn tới xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Âm mưu của họ rất thâm hiểm. Do đó, cần phải tập trung xây dựng lực lượng quân đội và công an vững mạnh về chính trị trong tình hình mới. Bởi đây là lực lượng chủ công, nòng cốt trong việc đảm bảo an ninh trật tự và an ninh quốc gia, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và Nhân dân.

Thứ tư, xây dựng tổ chức lực lượng nòng cốt trong công tác đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình”. Lực lượng tham gia đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” phải được tổ chức bài bản và có các phương án, xây dựng, bố trí lực lượng chủ công trên từng lĩnh vực tư tưởng, chính trị, văn hóa, văn học, nghệ thuật, kết hợp giữa tin bài trên các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả mạng xã hội, báo cáo viên, thông tin chuyên đề thời sự trong sinh hoạt đảng, đoàn thể. Tổ chức các diễn đàn đối thoại, các hoạt động khoa học có tính chuyên sâu, tập hợp được chuyên gia, trí thức, văn nghệ sỹ bàn về những vấn đề đang được dư luận xã hội quan tâm, có liên quan đến lợi ích của đất nước, qua đó thu hẹp khoảng cách bất đồng quan điểm, chính kiến, không để xuất hiện các tổ chức, quan điểm chính trị đối lập.

Để thực hiện nhiệm vụ đó trước hết phải tăng cường và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng trong mọi tình huống; nâng cao hiệu quả và chất lượng của công tác giáo dục, phải coi trọng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục lý luận chính trị, cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác những thông tin cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trước những vấn đề mà dư luận, xã hội đang quan tâm, không để các vụ việc xảy ra nội cộm, bức xúc.

Thứ năm, phát huy mạnh mẽ vai trò của báo chí, truyền thông đối với công cuộc đấu tranh phòng, chống “Diễn biến hoà bình”. Đảm bảo tính tư tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính định hướng, cần phát huy vai trò của báo chí trong việc tạo dòng thông tin chủ lưu tích cực, góp phần tăng cường sự đoàn kết, nhất trí về tư tưởng, chính trị trong nhân dân. Kiên quyết đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, khắc phục các biểu hiện thương mại hoá, xa rời tôn chỉ, mục đích và các biểu hiện tiêu cực, lệch lạc. Để chống “diễn biến hoà bình”, báo chí cần tăng cường giáo dục ý thức xã hội chủ nghĩa cho quần chúng nhân dân, đặc biệt là thanh niên, sinh viên hiểu và nhận thức rõ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng… Báo chí cần tuyên truyền tinh thần yêu nước, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ vững phương hướng đúng đắn trong chỉ đạo dư luận, làm thất bại những âm mưu của “diễn biến hoà bình”.

Thứ sáu, trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” cần có sự đổi mới cách tiếp cận mục tiêu, tập trung, kiên quyết vạch trần những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, đồng thời tập trung sâu hơn vào việc hình thành khả năng “miễn nhiễm”, nâng cao “sức đề kháng” của xã hội trước những thông tin xấu độc. Trong đó, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thế hệ trẻ cần trang bị những có kiến thức, kỹ năng để làm tốt công tác tham mưu, công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, trong đó khi nói và viết bài hoặc phát ngôn trên diễn đàn, trên mạng xã hội, phải thể hiện rõ bản lĩnh chính trị không được phép phát ngôn mang tính hoài nghi, a dua với những luồng thông tin xấu độc. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự nghiên cứu, học tập, trau rèn nhận thức, bản lĩnh chính trị, trước những tư tưởng sai trái, lệch lạc, không để mình bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn phát huy vai trò "hạt nhân" tại cơ sở để đưa những thông tin chính thống, tích cực, trở thành tấm gương sáng góp phần tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng, để từ đó khiến các thế lực thù địch không còn "đất" để xuyên tạc, chống phá…/.

Các thế lực thù địch đẩy mạnh và điều chỉnh hoạt động "Diên biến hòa bình" chống phá cách mạng việt Nam

 Khái niệm “Diễn biến hòa bình” không mới và cũng không lạ đối với mọi người. Người ta biết đến cụm từ này từ thập niên 20 của thế kỷ XX, khi chủ nghĩa đế quốc sử dụng “Diễn biến hòa bình” để chống phá các nước đối địch, nhất là nước Nga - Nhà nước Xô-viết công nông đầu tiên trên thế giới vừa ra đời từ sau Cách mạng Tháng Mười vĩ đại.

Và hiện nay, “Diễn biến hòa bình” có nhiều cách gọi khác nhau, đó là “chuyển hóa hòa bình”, “biến đổi hòa bình”,“cạnh tranh hoà bình”, “vượt trên hòa bình”, “chính sách giải phóng”, “chiến thắng không cần chiến tranh”, “chiến tranh không có tiếng súng”, “phương pháp phi vũ trang”… Có thể khẳng định “Diễn biến hòa bình” là cuộc chiến tranh - cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng, thể chế chính trị. Chiến lược “diễn biến hòa bình” liên tục được điều chỉnh, bổ sung trở thành một chiến lược tổng hợp, dùng biện pháp “phi vũ trang” là chủ yếu nhằm chống phá, tiến tới lật đổ chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta thấy ngay từ đầu “Diễn biến hòa bình” không phải do chủ nghĩa đế quốc phát kiến, nhưng hiện là “sản phẩm” của họ và trên cơ sở tiếp thu tư tưởng quân sự cổ đại của nhân loại, vận dụng phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng thời điểm, từng giai đoạn, nhằm giành thắng lợi quyết định trong “cuộc chiến” sống còn với các quốc gia khác hệ tư tưởng, đối địch.

Mục tiêu của chiến lược “diễn biến hòa bình” là nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn cầu. Để đạt được mục đích đó, các thế lực thù địch đặt ra những mục tiêu cụ thể như: (1) Xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, thay thế bằng hệ tư tưởng tư sản; (2) Âm mưu thực hiện “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” trong các nước xã hội chủ nghĩa; (3) Gây mâu thuẫn nội bộ, phá vỡ sự đồng thuận xã hội và khi có thời cơ thì lôi kéo, tiến hành bạo loạn chính trị; (4) Làm suy yếu, chệch hướng phát triển của nền kinh tế, tiến tới chi phối, lũng đoạn, khống chế kinh tế trong các nước xã hội chủ nghĩa; (5) Chuyển hoá văn hoá, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo “giá trị Mỹ”, phương Tây; (6) Thực hiện âm mưu “phi chính trị hoá” để “vô hiệu hoá” quân đội trong các nước xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, có thể hiểu “Diễn biến hoà bình” là chiến lược cơ bản nhằm lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, đứng đầu là Mỹ tiến hành.

Ở Việt Nam, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” các thế lực thù địch đặc biệt coi trọng việc phá hoại tư tưởng, coi đó là mũi nhọn, là con đường ngắn nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh các đặc trưng chủ yếu như: tuyên truyền xuyên tạc nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đẩy mạnh hoạt động xuyên tạc lịch sử; thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội và công an…

Đáng chú ý, thời gian gần đây, các thế lực thù địch tích cực đẩy mạnh thực hiện một số thủ đoạn chống phá mới, đó là: Tìm cách đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đưa ra những luận điệu lập lờ, lẫn lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực, giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đến đảng viên và nhân dân. Khuyến khích những quan điểm lệch lạc và những khuynh hướng xã hội “dân chủ” kiểu Mỹ và phương Tây hòng làm cho người dân thấy hoài nghi về “xã hội Việt Nam” và mơ tưởng về một “xã hội khác” được cổ xúy là tốt đẹp hơn.

Các thế lực thù địch điều chỉnh thủ đoạn chống phá, bằng cách ngoài việc công kích trực diện vào nền tảng tư tưởng, chúng tuyên truyền kích động gây mâu thuẫn, chia rẽ trong nội bộ. Với mưu đồ gây chia rẽ nội bộ, làm cho Đảng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, chúng ra sức tuyên truyền, bịa đặt về các phe phái trong Đảng, nhất là lợi dụng việc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc là thanh trừng nội bộ. Chúng còn thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh, trật tự...

Chúng còn sử dụng nhiều cách thức tác động tinh vi, xảo quyệt đối với từng đối tượng cụ thể, trong đó đối với các tầng lớp nhân dân, chúng lợi dụng việc tiếp cận thông tin còn hạn chế, đưa những thông tin sai lệch, nhằm tạo khoảng trống trong tư tưởng nhân dân, làm cho nhân dân hoài nghi, mất niềm tin với chế độ, Đảng và nhà nước, từ đó chúng kích động các hoạt động gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Âm mưu, thủ đoạn của chúng còn xuyên tạc, bóp méo các sự kiện chính trị, các vụ việc phức tạp, nhạy cảm. Lợi dụng các sự kiện chính trị quan trọng liên quan đến các vấn đề phân định biên giới, lãnh thổ, tranh chấp Biển Đông, ô nhiễm môi trường, hay những vấn đề liên quan đến công tác cứu trợ bão lụt, công tác phòng chống COVID-19 lợi dụng tung tin thất thiệt trên các trang mạng xã hội gây hoang mang trong dư luận, tạo nên sự hiểu nhầm của người dân, sự hoài nghi vào cấp ủy, chính quyền các cấp.

Những biểu hiện trên đây tuy không hoàn toàn là những thủ đoạn mới trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhưng về cơ bản đó là những dấu hiệu đặc trưng, nổi bật nhất, thể hiện tính chất tinh vi, xảo quyệt và sự nguy hiểm, thâm độc của nó đã và đang không ngừng tăng lên. Hiện nay, các thế lực thù địch thường xuyên thay đổi các chiến lược. Vì vậy, chúng ta phải luôn tỉnh táo, nhận diện đúng, bình tĩnh xem xét, phân tích, để vạch trần bản chất và có biện pháp phòng, chống hiệu quả. Tuyệt đối không được mơ hồ, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng” nhưng đầy cam go, quyết liệt này.

Nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động chống Đảng, Nhà nước, chế độ trên không gian mạng,

 Thực tiễn công tác bảo vệ an ninh quốc gia (ANQG) thời gian qua cho thấy, âm mưu của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động trong, ngoài nước, đã kết hợp các hoạt động chống phá bên ngoài và bên trong nhằm tăng cường tuyên truyền xuyên tạc, thổi phồng, bóp méo các vấn đề bức xúc trong xã hội; tạo dựng thông tin sai sự thật nhằm làm nhiễu loạn truyền thông, gây hoài nghi trong quần chúng nhân dân, từng bước tạo bất ổn trong xã hội, tiến tới hình thành các xu hướng phản kháng chống chính quyền ngay trong lòng xã hội.

Để phục vụ cho mục đích này, thời gian vừa qua, các tổ chức phản động lưu vong, trung tâm phá hoại tư tưởng bên ngoài duy trì và lập mới hàng ngàn website, blog, tài khoản Facebook, Youtube..., gia tăng các chiến dịch “chiến tranh tâm lý”; phát động hàng trăm chiến dịch tán phát tin giả, tin sai sự thật trên mạng internet; lợi dụng vỏ bọc “xã hội dân sự”, “phản biện xã hội” để thu thập thông tin, tập hợp lực lượng đối lập, thúc đẩy “bất tuân dân sự” ở trong nước, xuyên tạc chia rẽ nội bộ, tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước.

Trong nước, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ có chiều hướng phức tạp, ngày càng công khai. Tình trạng đăng tải, chia sẻ thông tin nội bộ chưa được kiểm chứng diễn ra phổ biến trên không gian mạng. Đáng chú ý, một số phóng viên, biên tập viên thiếu bản lĩnh chính trị, trích đăng, dẫn lại thông tin xấu, độc trên mạng internet, gây dư luận xấu.

Để nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động chống Đảng, Nhà nước, chế độ trên không gian mạng, các cơ quan truyền thông cần tăng cường phối hợp tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, người dân về phương thức, thủ đoạn và các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trong, ngoài nước trên không gian mạng; kịp thời cập nhật, cung cấp thông tin chính thống về các vấn đề, vụ việc mà dư luận xã hội quan tâm để cho người dân dễ dàng tiếp cận, đối chiếu, kiểm chứng thông tin trên mạng xã hội.

Cần cảnh giác trước những luận điệu xuyên tạc chống phá cách mạng Việt Nam trong giũ gìn an ninh trật tự cơ sở

 Trong sự nghiệp lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, kể từ khi ra đời đến nay tất cả những đường lối, chủ trương của Đảng đều hướng tới mục tiêu cao nhất, đó là vì cuộc sống no ấm, hạnh phúc của nhân dân. Còn với Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong kho tàng lý luận của Người, vấn đề quần chúng nhân dân luôn được Bác đặt ở vị trí trung tâm, coi nhân dân là yếu tố quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công của cách mạng. Cơ sở lý luận, thực tiễn đó luôn được Đảng, Nhà nước, Quốc hội lấy làm căn cứ, thước đo mỗi khi ban hành văn bản luật để điều hành, quản lý xã hội.

Tuy nhiên, với âm mưu chống phá đất nước các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lại đưa ra đủ mọi luận điệu để xuyên tạc, vu cáo Việt Nam hạn chế các quyền tự do dân chủ, rồi ban hành Luật để trói buộc, gò ép người dân, thậm chí chúng còn lôi kéo, kích động người dân phản đối các dự luật khi đưa ra lấy ý kiến đóng góp rộng rãi của nhân dân trước khi trình Quốc hội.

Thời gian gần đây, lợi dụng việc các cơ quan liên quan của Quốc hội và các đơn vị chức năng đang tích cực lấy ý kiến các nhà khoa học, chuyên gia và quần chúng nhân dân xây dựng dự án Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở (ANTT) thì các đối tượng chống đối, cơ hội chính trị, một số cá nhân nhận thức chưa đầy đủ lợi dụng mạng xã hội để tăng cường các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá dự thảo dự án Luật. Thực tế, khi dự án Luật được soạn thảo với những vấn đề mới thì việc có những ý kiến khác nhau, tán thành hay chưa tán thành nội dụng, vấn đề nào đó là điều bình thường. Tuy nhiên, việc góp ý với động cơ xây dựng, với việc lợi dụng để chống phá là hai vấn đề khác nhau. Một số đối tượng cơ hội chính trị và các cá nhân vì động cơ sai lệch đã tăng cường các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, chống phá.

Đài Á châu tự do (RFA) dẫn ý kiến đối tượng Võ Minh Đức - vốn là cựu sĩ quan quân đội biến chất bị tước quân tịch, xuyên tạc rằng “Nhà nước muốn tạo ra một mạng lưới chân rết quần chúng sát với từng người dân, để nắm được từng chân tơ kẽ tóc…sẽ gây nguy hại cho dân. Cho rằng, nếu bây giờ hình thành hẳn một lực lượng hình thức gần như bán vũ trang, thì tiền phải rót xuống nhiều hơn, ngân sách rót xuống nhiều hơn, rồi chi phí dụng cụ hành nghề, thậm chí có thể là vũ khí nóng... gây bất an cho dân”.

Để khách quan, tổ chức truyền thông này còn trích dẫn thêm quan điểm của Nguyễn Ngọc Già - Tên thật là Nguyễn Đình Ngọc, (là đối tượng có nhiều hoạt động tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước và nhân dân, từng bị phạt 3 năm tù giam, 3 năm quản chế), cụ thể: “Việc soạn dự thảo Luật này có nghĩa là chính thức thành lập lực lượng gọi là tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở, nghĩa là Nhà nước đã trao quyền khi lực lượng này chính thức được thừa nhận bởi Luật; chúng cho rằng lực lượng này sẽ sinh ra những hệ lụy như trấn áp, lộng quyền, rồi thì nhà nước chính thức dùng dân trị dân…., chúng dẫn dắt dư luận chống phá dự án Luật khi đặt những câu hỏi ngô nghê như “khi nhà nước dùng “dân trị dân”, thì nhà nước để làm gì, lực lượng Công an để làm gì, rồi hợp nhất này kia, điều đó là trái khoáy”? Từ đó hướng lái vấn đề thành “lực lượng này dù có hợp nhất hay không cũng sẽ không giữ được ANTT như mong muốn của nhà cầm quyền cộng sản mà nó sẽ làm mất ANTT và xã hội sẽ trở nên hỗn loạn hơn”.

Ngay sau đó, nhiều trang mạng của các tổ chức phản động lưu vong liền đăng tải nhiều bài viết theo kiểu “tát nước theo mưa” trên mạng xã hội, chúng phát tán, bịa đặt, ngụy tạo một số bài viết chống phá dự án Luật với mục đích bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và kích động người dân. Đây rõ ràng là những luận điệu xuyên tạc nhằm dẫn dắt, hướng lái dư luận, tạo ra nhận thức lệch lạc, thái độ phản đối, chống phá đối với dự án Luật về lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở.

Trái ngược với những luận điệu xuyên tạc, sai trái, chống đối, phá hoại nói trên, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, đại biểu các tỉnh thành phố… đã khẳng định, việc ban hành Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là hết sức cần thiết, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi khách quan. Dự án Luật góp phần nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở, thực hiện quy chế và pháp lệnh dân chủ cơ sở hướng vào phục vụ đời sống của người dân, ổn định và phát triển hơn, góp phần xây dựng lực lượng Công an từ cơ sở, đến toàn quốc tiến lên chính quy, tinh nhuệ và hiện đại. Việc quán triệt, thấm nhuần những lời dạy của Bác đối với lực lượng Công an, nhất là tư tưởng “Công an là bạn dân”, “phục vụ và bảo vệ dân”, “dựa vào lực lượng của dân, tổ chức và đoàn kết được dân thì mọi việc sẽ thành công”.

Rõ ràng vai trò của nhân dân là rất lớn, lực lượng nhân dân rất hùng hậu, có nhiều hoạt động tích cực giúp đỡ lực lượng Công an tại cơ sở. Do đó, sự cần thiết phải ban hành một đạo luật để điều chỉnh, tổ chức hoạt động của nhân dân, sắp xếp, kiện toàn lực lượng của nhân dân hoạt động hiệu quả hơn, bài bản hơn trong công tác bảo vệ ANTT ở cơ sở. Việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức như vậy không làm tăng số lượng người tham gia hoạt động mà tiếp tục sử dụng lực lượng hiện có, không làm tăng chi ngân sách, ngược lại còn tinh gọn đầu mối; bảo đảm linh hoạt trong chỉ đạo, điều hành, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ANTT tại địa bàn cơ sở. Lực lượng này chính là cánh tay nối dài, sâu sát với nhân dân, hỗ trợ cấp ủy, chính quyền, hỗ trợ lực lượng Công an chính quy trong việc đảm bảo ANTT, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân.

Có thể nói, xây dựng Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là sự cụ thể hóa đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm TTATXH, đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, trong đó CAND là lực lượng nòng cốt, bảo vệ ANTT từ xa, từ sớm, từ cơ sở.

Thực tiễn cho thấy, thời gian qua cùng với lực lượng CAND, trên địa bàn cấp xã có sự tham gia bảo vệ ANTT của các lực lượng: Bảo vệ dân phố, Dân phòng, Công an xã bán chuyên trách. Đây là những lực lượng quần chúng do UBND cấp xã thành lập, quản lý, duy trì hoạt động, hỗ trợ lực lượng Công an trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ANTT. Các lực lượng này được gọi chung là lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở. Tuy nhiên, mỗi địa phương tên gọi không thống nhất, tổ chức, hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau, không rõ ràng, bộc lộ nhiều vướng mắc bất cập, nhất là về chính sách, pháp luật. Bên cạnh đó, quy định về chế độ, chính sách, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị hoạt động của các lực lượng này còn thiếu, chưa đồng bộ... Điều này đã gây nhiều khó khăn trong lãnh đạo, quản lý, duy trì, củng cố, phát huy vai trò của lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở, làm giảm hiệu quả hoạt động. Từ đó, có những vụ việc dẫn đến tình trạng lạm quyền, không làm hết trách nhiệm, rất khó trong chỉ đạo, tổ chức, thực hiện, nên đòi hỏi phải được chuẩn hóa, đưa vào Luật.

Với mục tiêu, ý nghĩa như trên, thì việc ban hành Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là rất cần thiết, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi thực tiễn và cấp bách trong giai đoạn hiện nay. Việc thảo luận, đóng góp ý kiến nhằm chỉnh lý, bổ sung những vấn đề mới; thảo luận, làm rõ những vấn đề còn có ý kiến khác nhau trong dự án Luật là vấn đề bình thường khi xây dựng các dự án văn bản quy phạm pháp luật.

Tuy nhiên, đóng góp ý kiến khác với việc lợi dụng để đả phá, xuyên tạc với những ngôn từ như: ban hành luật sẽ “tạo ra một mạng lưới chân rết, trao quyền để lấy dân trị dân, sinh ra những hệ lụy như lộng quyền, rình mò, hạch sách, trấn áp nhân dân, không giữ được ANTT mà khiến xã hội sẽ trở nên hỗn loạn hơn”. Những luận điệu này được các thế lực thù địch tung ra nhằm tạo cho người dân những nhận thức lệch lạc, suy giảm niềm tin, kích động tâm lý, thái độ chống đối, phá hoại tư tưởng, phá hoại dự thảo Luật, sâu xa hơn là chống phá chế độ, Đảng và Nhà nước. Do đó, mỗi người dân chúng ta cần hết sức cảnh giác trước những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, kích động về dự án Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở.

Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở ra đời để tạo cơ sở pháp lý cao hơn, quy định thống nhất với các lực lượng Bảo vệ dân phố, Dân phòng, Công an xã bán chuyên trách nhằm triển khai thực hiện đảm bảo hiệu quả, đồng bộ. Bởi đây là những lực lượng quần chúng nòng cốt từ cơ sở, có vị trí, nhiệm vụ tương đồng trong hỗ trợ lực lượng Công an chính quy bảo vệ an ninh trật tự, xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc tại cơ sở. Có thể khẳng định rằng, việc xây dựng dự án Luật này là rất phù hợp với đường lối chủ trương của Đảng và thống nhất, phù hợp với hệ thống pháp luật hiện nay.

“Trên mặt trận nông nghiệp, mỗi đồng bào nhà nông phải là một chiến sĩ xung phong..."

“Trên mặt trận nông nghiệp, mỗi đồng bào nhà nông phải là một chiến sĩ xung phong. Chiến sĩ trước mặt trận thì xung phong giết giặc bằng súng đạn. Chiến sĩ nhà nông thì xung phong giết giặc bằng cày cuốc, nghĩa là phải xung phong tăng gia sản xuất, để giúp cho bộ đội đủ ăn đủ mặc để đánh giặc”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết “Việt Bắc quyết thắng”, Người viết khoảng cuối tháng 9 năm 1949. Đây là thời điểm cách mạng nước ta gặp rất nhiều khó khăn, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh rút về căn cứ địa Việt Bắc để bảo toàn và phát triển lực lượng, chỉ đạo cả nước trường kỳ kháng chiến.

Thực hiện lời Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy, quân và dân ta đã chung sức, đồng lòng, kề vai sát cánh, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hậu phương thi đua tăng gia sản xuất giỏi với phương châm “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”; cán bộ, chiến sĩ trên chiến trường thi đua giết giặc lập công, với khẩu hiệu “mỗi viên đạn là một quân thù” tiến hành cuộc kháng chiến ba nghìn ngày, với tinh thần: “Dù bom đạn xương tan thịt nát/ Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh…” đã làm nên một Điện Biên Phủ lững lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Trong thành tích vẻ vang đó, có công sức đóng góp rất lớn của nông dân, nông nghiệp Việt Nam, đã xây dựng nên một hậu phương lớn chi viện kịp thời cho tiền tuyến ăn no, đánh thắng, càng đánh càng mạnh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy vai trò của nông nghiệp, nông dân vẫn còn nguyên giá trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông dân và nông nghiệp Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, trưởng thành về mọi mặt, từ một quốc gia nhiều năm thiếu lương thực, Việt Nam đã vươn lên trở thành một quốc gia xuất khẩu lương thực hàng đầu, là thành viên quan trọng góp phần bảo đảm an ninh lương thực của thế giới.

Những năm gần đây, ngành nông nghiệp và nông dân Việt Nam đã có nhiều sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, đạt chuẩn của các nước phát triển và thâm nhập nhiều thị trường lớn như: Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Úc… vị thế, vai trò của người nông dân, của ngành nông nghiệp được nâng cao có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần nâng cai vị thế, uy tín của quốc gia trên trường quốc tế, được Đảng, Nhà nước và xã hội ghi nhận.

“Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau”

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết “Cách làm việc tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách” (ký tên X.Y.Z), đăng trên Báo Sự Thật, số 100, ra ngày 23 tháng 9 năm 1948. Đây là một trong những nguyên tắc lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hơn 80 năm qua, nhờ thực hiện nguyên tắc này, Đảng ta đã phát huy trí tuệ của cán bộ, đảng viên trong Đảng đề ra đường lối cách mạng đúng đắn trong mỗi thời kỳ, phát huy vai trò, trách nhiệm của từng cán bộ, đảng viên trong hoạt động thực tiễn, đưa sự nghiệp cách mạng không ngừng tiến lên giành được những thắng lợi có ý nghĩa to lớn.

Trong điều kiện Đảng cầm quyền ở nước ta, nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách có mối quan hệ mật thiết với nguyên tắc tập trung dân chủ. Cũng có thể nhìn nhận, tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách vừa là một nguyên tắc trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, vừa là một nội dung, một biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ. Nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách góp phần xây dựng Đảng vững mạnh trên các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Do đó, phải hiểu và làm đúng, đầy đủ toàn diện nguyên tắc tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách là yêu cầu cấp thiết đặt ra cho mọi cấp ủy đảng, nhất là trong bối cảnh hiện nay.

Cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp trong Đảng bộ Quân đội luôn quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện nghiêm túc, thống nhất nguyên tắc tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách, góp phần xây dựng tổ chức đảng các cấp trong sạch vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, lãnh đạo đơn vị hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Mọi công việc trong cơ quan, đơn vị đều phải được bàn bạc tập thể trong cấp ủy, chỉ huy các cấp, nhằm phát huy dân chủ, tạo sự thống nhất cao trong cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị.

Mỗi lĩnh vực công tác do một cấp ủy viên hoặc người chỉ huy phụ trách chỉ đạo, tham mưu, đề xuất với tập thể cấp ủy, chỉ huy cho ý kiến, từ đó trở thành chủ trương của cấp ủy, chỉ huy đơn vị mới triển khai thực hiện. Mặt khác, mỗi cá nhân phải làm tốt trách nhiệm được phân công để lĩnh vực họ phụ trách được tốt, nên vai trò cá nhân phụ trách cũng vô cùng quan trọng sau khi có nghị quyết về lĩnh vực họ phụ trách.

Đồng thời mỗi cá nhân phải báo cáo kết quả công tác lĩnh vực mình phụ trách cho tập thể để mọi người tham gia ý kiến góp trí tuệ cho mình. Đây cũng là thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu; chống mọi biểu hiện độc đoán, gia trưởng, áp đặt ý kiến cá nhân, hoặc nể nang, né tránh, dựa dẫm vào tập thể.

“Thanh niên phải luôn luôn rèn luyện đạo đức cách mạng ”

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi đến thăm và phát biểu tại “Hội nghị cán bộ Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam toàn miền Bắc” ngày 22 tháng 9 năm 1962.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc giáo dục đạo đức cho đoàn viên, thanh niên, thấy rõ vị trí, vai trò “Là người tiếp sức cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai”.

Do vậy, Người đặc biệt quan tâm tổ chức, bồi dưỡng đoàn viên, thanh niên thành đội xung kích cách mạng, lực lượng hậu bị của Đảng nhằm kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp của giai cấp và dân tộc. Người yêu cầu mỗi đoàn viên, thanh niên phải tự giác rèn luyện, không ngừng học tập, gương mẫu xung phong trong mọi công việc. Đi đôi với việc giáo dục trí lực, nâng cao trình độ chuyên môn, nắm vững khoa học kỹ thuật, mỗi đoàn viên, thanh niên phải thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng để trở thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội “vừa hồng, vừa chuyên”.

Đảng và Nhà nước ta luôn đề cao vai trò của đoàn viên, thanh niên. Coi đây là lực lượng xung kích, là đội dự bị tin cậy của Đảng và coi công tác thanh niên là vấn đề được đặc biệt quan tâm chỉ đạo. Do vậy, phải chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, văn hoá, sức khoẻ, nghề nghiệp, giải quyết việc làm, phát triển tài năng - sức sáng tạo, phát huy vai trò xung kích…của đoàn viên, thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Bác Hồ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với tinh thần “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên”, thanh niên Việt Nam đã phát huy truyền thống, hăng hái, sôi nổi hưởng ứng các cuộc vận động, các phong trào thi đua, cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thanh niên Quân đội là bộ phận ưu tú của thanh niên Việt Nam, lực lượng đông đảo, trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Quân đội, thấu triệt lời Bác dạy, tích cực hưởng ứng thực hiện các phong trào do Trung ương Đoàn phát động, gắn với cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” và phong trào thi đua Quyết thắng.

Các phong trào hành động cách mạng của tuổi trẻ toàn quân, nòng cốt là hai phong trào lớn: “Thanh niên Quân đội vươn tới những đỉnh cao”, “Thanh niên Quân đội tiến quân vào khoa học và công nghệ”… đã xuất hiện nhiều mô hình hay tấm gương điển hình tiêu biểu. Qua đó, phát huy hiệu quả vai trò xung kích, sáng tạo của tuổi trẻ trong thi đua rèn đức, luyện tài, xung kích thực hiện việc khó, việc mới, việc quan trọng, xác lập những đỉnh cao, kỷ lục mới trên từng lĩnh vực hoạt động  xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”.

“Mỗi người sẽ tùy theo sức mình tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà”

Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Thư gửi bộ đội, cán bộ và gia đình cán bộ miền Nam ra Bắc”, Báo Nhân dân đăng số 229, từ ngày 21 đến ngày 22 tháng 9 năm 1954.

Sau những chiến thắng của quân và dân ta trên các mặt trận quân sự, ngoại giao, Hiệp định Giơnevơ về lập lại hòa bình ở Đông Dương đã được ký kết. Đây là một thắng lợi to lớn, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với cách mạng nước ta.

Với tầm nhìn xa, trông rộng, thấy trước âm mưu của địch phá hoại Hiệp định Giơnevơ, đàn áp, trả thù những người kháng chiến, Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo khẩn trương bố trí một bộ phận cán bộ, đảng viên ở lại miền Nam để lãnh đạo cuộc chiến đấu và chuyển hàng vạn đồng bào và con em các gia đình cách mạng đi cùng với bộ đội và cán bộ tập kết ra Bắc để đào tạo đội ngũ cán bộ vừa góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa chuẩn bị lực lượng cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Để kịp thời động viên bộ đội, cán bộ và các gia đình từ miền Nam ruột thịt tập kết ra Bắc trong những ngày đầu còn nhiều bỡ ngỡ, Bác Hồ đã gửi thư thăm hỏi, động viên và căn dặn.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, những cán bộ, chiến sĩ, học sinh, các gia đình miền Nam tập kết ra Bắc đã nỗ lực vượt mọi khó khăn, sớm ổn định cuộc sống và có nhiều đóng góp cho công cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong đó, nhiều người đã trở thành cán bộ, lãnh đạo các cấp; các tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp, các nhà khoa học đầu ngành ở nhiều lĩnh vực, các văn nghệ sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ, nhà báo nổi tiếng, nhiều doanh nhân tài ba, nhiều người đã trở thành Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động… góp phần làm rạng danh quê hương, đất nước.

Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng, Bác Hồ trực tiếp tổ chức, giáo dục và rèn luyện, được nhân dân tin yêu, đùm bọc và nuôi dưỡng, thấu triệt lời Bác dạy, Quân đội ta không ngừng phát huy bản chất cách mạng tốt đẹp, xây đắp nên truyền thống vẻ vang “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng đã kết tinh thành giá trị và biểu tượng “Bộ đội Cụ Hồ”.

Không chỉ trong chiến đấu, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn thi đua huấn luyện giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao, kỷ luật nghiêm, đoàn kết, hiệp đồng, quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Đồng thời, làm tốt công tác dân vận, tích cực tham gia xóa đói, giảm nghèo, chung sức xây dựng nông thôn mới, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, đóng góp to lớn cho công cuộc phát triển kinh tế – xã hội và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn xung kích ở những nơi xảy ra thiên tai, bão lũ…, giúp đỡ, cứu chữa nhân dân vượt qua khó khăn, hoạn nạn…; nhiều cán bộ, chiến sĩ đã chiến đấu hi sinh vì sự bình yên của đất nước, vì cuộc sống của nhân dân, xứng đáng với sự tin yêu của Đảng, Bác, Nhà nước và nhân dân.

“Cán bộ cần hoan nghênh ý kiến và những lời phê bình của dân, để sửa chữa sai lầm”

 Là lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong thư thăm hỏi các đại biểu và tất cả các cán bộ và nhân viên mậu dịch, Người viết ngày 20-9-1951.

Đây là thời điểm nền kinh tế nước ta gặp rất nhiều khó khăn do chiến tranh kéo dài, hàng hóa, nhu yếu phẩm rất khan hiếm và được phân phối cho cán bộ và nhân dân theo chế độ tem phiếu thông qua hệ thống các cửa hàng mậu dịch Nhà nước. Do vậy, đã nẩy sinh rất nhiều bất cập, khó khăn cho cả phía cán bộ, nhân viên mậu dịch và nhân dân. Để khắc phục những hạn chế, yếu kém trên, Bác Hồ đã gửi thư và căn dặn cán bộ, nhân viên ngành mậu dịch. Theo Bác, việc tự phê bình và tiếp thu phê bình đối với người cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) như việc rửa mặt hằng ngày. Cấp trên phê bình, chưa đủ. Đồng chí, đồng sự phê bình, chưa đủ. Phải hoan nghênh quần chúng phê bình nữa, thì sự phê bình mới hoàn toàn.

Bởi lẽ, nhân dân là lực lượng đông đảo, rộng khắp, họ thấy rõ, thấy đầy đủ những thiếu sót cần phải phê bình, góp ý cụ thể cho CB, ĐV. Trong cuộc đấu tranh chống các nguy cơ đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của đất nước hiện nay, một vũ khí không thể thiếu đó là công luận và tiếng nói của nhân dân. Học tập và làm theo Bác, những năm qua, Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội đã tạo môi trường, có các chủ trương, chính sách, cơ chế, pháp luật để nhân dân tham gia giám sát, phê bình CB, ĐV. Những ý kiến đóng góp của nhân dân đối với tổ chức đảng và CB, ĐV, nhất là cán bộ “có chức, có quyền” là kênh thông tin quan trọng để họ vươn lên tự hoàn thiện bản thân, có trách nhiệm với công việc, là cơ sở đề ra chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật đúng đắn với lợi ích của đất nước và phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của nhân dân.

Thấu triệt lời Bác Hồ dạy, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong quân đội luôn đề cao và duy trì nền nếp, không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc tự phê bình và phê bình của CB, ĐV. Định kỳ 6 tháng, một năm, tổ chức đảng tổ chức để mỗi CB, ĐV trên cương vị, chức trách nhiệm vụ được giao thực hiện việc tự phê bình trước chi bộ, lấy ý kiến phê bình của các tổ chức quần chúng trong đơn vị; ý kiến nhận xét của cấp ủy, chi bộ nơi cư trú theo Quy định 76-QĐ/TW của Bộ Chính trị khóa VIII về việc đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với chi ủy, đảng ủy cơ sở và gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú.

Nội dung phê bình toàn diện trên các mặt tư tưởng chính trị, việc chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực; giữ gìn đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân và các quy định của địa phương, nơi cư trú. Tôn trọng ý kiến đóng góp của quần chúng, CB, ĐV phải nghiêm túc tiếp thu, nhận khuyết điểm, định rõ thời gian, biện pháp khắc phục sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

“Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”

Đây là lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong buổi nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên Phong (Sư đoàn 308, Quân đoàn 1) chuẩn bị về tiếp quản Thủ đô Hà Nội.

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Bác Hồ với Trung ương Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận và các đoàn thể từ “Thủ đô gió ngàn” Việt Bắc trở về tiếp quản Thủ đô Hà Nội do chính quyền Pháp bàn giao theo Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954) về đình chiến ở Đông Dương. Sáng 19-9-1954, Bác Hồ đã gặp mặt, căn dặn và giao nhiệm vụ cho cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên Phong về tiếp quản Thủ đô tại Đền Giếng trong khu di tích Đền Hùng (thuộc núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ). Bác giảng giải nhiều điều và căn dặn: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Làm theo lời Bác, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã vượt qua bao thử thách, cam go, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, ghi những mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Ngày nay, đất nước đang trên đà đổi mới và không ngừng phát triển; tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng nước ta. Khắc ghi lời Bác dạy năm xưa, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam và xây dựng thành công CNXH vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, trải qua hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam không ngừng lớn mạnh, lập nhiều chiến công hiển hách, xứng đáng là lực lượng nòng cốt của nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây, cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN ngày nay. Quân đội luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân làm theo lời Bác dạy với quyết tâm và trách nhiệm chính trị cao, với tinh thần “quyết chiến, quyết thắng”, ý chí tự lực tự cường, chủ động, sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN như lời Bác căn dặn năm xưa.

“Người cách mạng mẫu mực phải... can đảm khi sa cơ, bình tĩnh khi thắng thế”

Trong bài viết “Người cách mạng mẫu mực”, đăng trên Báo Thanh Niên, số 61, năm 1926, Chủ tịch Hồ Chí Minh răn dạy: “Người cách mạng mẫu mực phải khiêm tốn, khoan hòa, lượng thứ, can đảm khi sa cơ, bình tĩnh khi thắng thế, không bao giờ được quên rằng cuộc đời mình và sự nghiệp của mình thuộc về toàn nhân loại chứ không thuộc về mình”.

Bài viết nêu 12 điều đòi hỏi ở một người cách mạng, bao quát các mặt về lý tưởng, tinh thần hy sinh, phẩm chất đạo đức, phương pháp công tác. Người nhấn mạnh: Sự nghiệp cách mạng rộng lớn và khó thực hiện; nó không thể do một người hay một nhà làm mà tốt được. Cách mạng có mục đích là giải phóng các dân tộc yếu, sau tiến lên làm cách mạng thế giới, sẽ giải phóng toàn nhân loại khỏi ách đế quốc chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Theo Bác, người cách mạng mẫu mực trước hết phải là người có đạo đức cách mạng. Bởi “không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”, có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước. Vì lợi ích chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và của loài người mà không ngần ngại hy sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình. Khi cần, thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc. Đó là biểu hiện rất rõ rệt, cao quý của đạo đức cách mạng.

Thấm nhuần tư tưởng về vị trí, vai trò của đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế hệ cán bộ, đảng viên của Đảng đã luôn phát huy tốt tính tiền phong gương mẫu, trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, giành độc lập tự do, thống nhất đất nước, đã có rất nhiều cán bộ, đảng viên bất chấp mọi hiểm nguy, gian khổ, sẵn sàng hy sinh thân mình vì độc lập, tự do cho Tổ quốc. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng tiếp tục phát huy tính tiền phong gương mẫu trên nhiều lĩnh vực công tác, góp phần làm nên những thành tựu bước đầu rất quan trọng của công cuộc đổi mới.

Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, luôn luôn khắc ghi lời dạy của Người về phẩm chất đạo đức của cán bộ, đảng viên, trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân, với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. Mỗi cán bộ, chiến sĩ thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, nhân cách theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để trở thành người quân nhân kiểu mẫu, thật sự xứng đáng là quân nhân cách mạng của một quân đội anh hùng.

“Chúng ta không sợ có khuyết điểm, chúng ta chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi..."

“Chúng ta không sợ có khuyết điểm, chúng ta chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi, chúng ta phải lấy lòng “chí công vô tư”. Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà”, đề ngày 17- 9-1945, Người viết tại Hà Nội, lấy danh nghĩa của một đồng chí già, mục đích là để san sẻ ít kinh nghiệm với các đồng chí quê mình.

Thư gồm 4 mục nhỏ, nhằm chuyển tải 4 nội dung: Một là, ý nghĩa rất to lớn của cuộc cách mạng dân tộc; hai là, lý giải vì sao cuộc cách mạng thắng lợi; ba là, sự nghiệp kiến thiết xây dựng xã hội mới sau khi giành chính quyền; bốn là, những khó khăn cần giải quyết, phải vừa làm vừa học, cái chính là theo cho đúng chính sách của Chính phủ ban hành.

Chính sách của Chính phủ ngay sau giành chính quyền, theo Người rút lại chỉ có hai chuyện: Củng cố đoàn kết và sửa chữa khuyết điểm. Sức mạnh đoàn kết dân tộc, ai cũng rõ rồi, nhưng nêu rõ ra và yêu cầu sửa chữa những khuyết điểm trên nhiều phương diện chủ yếu của cán bộ, đảng viên lúc bấy giờ thì không phải ai cũng quán triệt. Những khuyết điểm đó, cụ thể ra là thói bao biện, hẹp hòi; lạm dụng hình phạt; kỷ luật không nghiêm; một số việc làm xấu xa, như lên mặt làm quan cách mạng, độc đoán, dùng phép công để báo thù tư…, khiến dân chúng hoang mang, sự đoàn kết bị lung lay, uy tín của Chính phủ và đoàn thể bị ảnh hưởng xấu. Giành được chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn nhiều-nhận thức sâu sắc điều này, Bác kêu gọi đồng chí, đồng bào ở tỉnh nhà phải lập tức sửa đổi ngay.

Lời căn dặn của Bác trong “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà” đến nay vẫn còn nguyên giá trị lịch sử và có ý nghĩa thời sự đối với việc tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của cán bộ, đảng viên các cấp trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Quân đội ta do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo, rèn luyện, luôn thấm nhuần lời dạy của Bác và được cụ thể hóa trong các mặt công tác, đặc biệt là trong chiến đấu. Sau mỗi trận đánh, mỗi nhiệm vụ, cấp ủy, chỉ huy các cấp đều lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức rút kinh nghiệm nghiêm túc, đã có nhiều hội nghị chỉnh huấn cấp toàn quân. Thông qua việc mở rộng dân chủ, đề cao trách nhiệm trong tự phê bình và phê bình, đã làm rõ nguyên nhân, rút ra những kinh nghiệm quý để Quân đội ta càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng, lập nên những chiến công vang dội tô thắm truyền thống “Quyết chiến, quyết thắng” và phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ, xứng đáng với sự tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Cần nắm vững và hiểu đúng về thể chế, cơ chế lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam


Một là, không thể nói thể chế nhất nguyên chính trị, một đảng cầm quyền ở Việt Nam là “phi dân chủ”, cũng không thể nói đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới là dân chủ. Lúc còn là Chủ tịch Quốc hội, đồng chí Nguyễn Phú Trọng đã trả lời phỏng vấn báo chí Ấn Độ: “Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, hai đảng thì ít dân chủ hơn và một đảng thì ít dân chủ nữa, mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, điều quan trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển đi lên không? Đó là tiêu chí quan trọng nhất” Thế đã rõ, mức độ dân chủ và không dân chủ của chế độ chính trị một quốc gia không phụ thuộc vào việc có áp dụng hay không áp dụng chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, mà nó phụ thuộc vào bản chất của chính đảng cầm quyền. Ở quốc gia nhất nguyên, một đảng, nếu đảng cầm quyền đại diện cho quyền và lợi ích của đa số người dân, phục vụ và bảo vệ cho số đông thì quốc gia đó vẫn dân chủ hơn quốc gia dù đa nguyên, đa đảng mà ở đó các đảng không đại diện và bảo vệ quyền lợi cho đông đảo người dân trong xã hội. Khi đảng cầm quyền bảo vệ, phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn có nghĩa là trong chế độ mà đảng đó thiết lập, nắm quyền lãnh đạo, dân chủ vẫn đang được bảo đảm, tính chính đáng của đảng cầm quyền là điều khẳng định.
- Hai là, với cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo giải quyết những lợi ích thiết thực của người dân như quyền tự do, dân chủ, các vấn đề dân sinh, dân trí. Người dân quan tâm, hưởng ứng, thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng; tham gia bầu cử Quốc hội, HĐND các cấp; tham gia góp ý xây dựng Đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên; tham gia bồi dưỡng kết nạp quần chúng vào Đảng… thể hiện sự thống nhất, đồng tâm của người dân với Đảng. Nhà nước không ngừng hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền làm chủ của nhân dân (Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, Luật Trưng cầu ý dân, Luật Tiếp cận thông tin,...). Thông qua đó, nhân dân làm chủ trực tiếp thông qua quyền bầu cử, quyền ứng cử; thực hiện quyền giám sát và phản biện xã hội thông qua Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức xã hội khác; thực hiện quyền đối thoại dân chủ trực tiếp giữa nhân dân với chính quyền, góp ý trực tiếp đối với các dự luật.
Ba là, thành công không thể phủ nhận của cách mạng Việt Nam 92 năm qua do Đảng lãnh đạo là giành, giữ vững độc lập dân tộc, từng bước xây dựng và phát huy nền dân chủ XHCN. Trong điều kiện hòa bình, Đảng đề ra đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN một cách khách quan, khoa học. Đó là nền kinh tế phù hợp với sự phát triển của Việt Nam hiện nay, là nền kinh tế hiện đại và hội nhập quốc tế, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN. Mà trong đó, sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người, sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội.
- Bốn là, phải thừa nhận có một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện xâm phạm lợi ích của nhân dân, sa sút về lối sống, về những chuẩn mực đạo đức, tham nhũng, tiêu cực đã làm ảnh hưởng xấu tới niềm tin của Nhân dân đối với Đảng. Song, cơ sở quyết định nhất của mối quan hệ giữa Đảng và Nhân dân là lợi ích của nhân dân trong tương quan với lợi ích quốc gia - dân tộc. Hiện nay, khi mà lợi ích quốc gia - dân tộc vẫn là điểm mấu chốt, chi phối lợi ích sống còn của toàn Đảng và toàn dân thì mối quan hệ này không thể bị phá vỡ. Bản lĩnh chính trị, năng lực chính trị này của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhiều lần được chứng minh trong lịch sử.
- Năm là, trong thực tế, ở nơi này nơi kia quyền làm chủ của nhân dân chưa thực sự được tôn trọng, đời sống người dân không được bảo đảm đã làm hạn chế tính tích cực, năng động, sáng tạo vốn có của người dân, làm phát sinh bức xúc trong xã hội, làm cho niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước bị giảm sút. Nhưng cũng trên thực tế, phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” mà Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương, đòi hỏi đảng viên của mình thực hiện trong bao nhiêu năm qua đã được bổ sung thành “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Chủ trương đó là nhất quán, xuyên suốt. Cũng rõ ràng rằng các chủ trương, quan điểm, đường lối, cơ chế, chính sách, pháp luật về dân chủ luôn được xây dựng, bổ sung, hoàn thiện phù hợp với điều kiện, trình độ phát triển và yêu cầu của đất nước.

Thanh niên phải chú trọng bồi dưỡng về chí khí cách mạng

"Không có việc gì khó/Chỉ sợ lòng không bền/Đào núi và lắp biển/Quyết chí ắt làm nên". Trung tuần tháng 9-1950, trên đường đi Chiến dịch Biên giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh ghé thăm một đơn vị thanh niên xung phong đang làm đường phục vụ chiến dịch, Người đã làm bài thơ trên tặng thanh niên.

Qua bốn câu thơ, Bác muốn nhắn nhủ thanh niên phải chú trọng bồi dưỡng về chí khí cách mạng. Người cho rằng, thanh niên muốn thực hiện ước mơ, hoài bão cao đẹp, muốn làm được việc lớn ích nước, lợi dân thì trước hết phải tự mình nâng cao chí khí, tuyệt đối trung với nước, với Đảng, hiếu với dân.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, lớp lớp các thế hệ thanh niên Việt Nam luôn tiếp nối truyền thống cha anh, phát huy tinh thần đoàn kết, xung kích, sáng tạo, vươn lên chinh phục các đỉnh cao trên mọi lĩnh vực công tác, góp phần vào thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược, giải phóng đất nước. Trong thời kỳ đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thanh niên Việt Nam tiếp tục vươn lên mạnh mẽ trên các lĩnh vực, là lực lượng quan trọng góp phần đưa đất nước hội nhập nhanh hơn, sâu hơn; thanh niên thực sự là lực lượng nòng cốt, là động lực của sự phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới.

Thanh niên phải có tinh thần: Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên, gian khổ thì đi trước, hưởng thụ sau mọi người, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc.

Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, việc rèn luyện và nâng cao chí khí cách mạng đang đặt ra cho mọi đoàn viên, thanh niên trên tất cả lĩnh vực hoạt động, nhất là đối với những việc mới, việc khó cần sự nỗ lực, cố gắng cao. Mặt trái của cơ chế thị trường đang tác động tiêu cực đến thế hệ trẻ. Chính vì vậy, công tác giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện thanh niên sống có chí khí, hoài bão, lý tưởng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, để thanh niên không mất phương hướng, không bị lôi cuốn vào những thói hư tật xấu, lối sống thực dụng… là việc rất quan trọng và cấp bách. Giáo dục thanh niên học tập và làm theo lời dạy của Người còn góp phần tích cực vào việc đào tạo những chủ nhân tương lai của nước nhà, để họ trở thành những người kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng của cha anh.

Là một bộ phận của thanh niên Việt Nam, thanh niên quân đội luôn có vai trò hết sức quan trọng; đã kế thừa, phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần tình nguyện, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc, xây đắp nên truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Trong thời kỳ đổi mới, thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thanh niên quân đội luôn là lực lượng xung kích nòng cốt, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; tích cực huấn luyện, SSCĐ; đi đầu trong phòng, chống thiên tai; khắc phục khó khăn, gian khổ; nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tự giác học tập, rèn luyện, phấn đấu, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

“Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không… chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”

“Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.

Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong “Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa”, ngày 15-9-1945.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã đưa dân tộc Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới-kỷ nguyên của độc lập, tự do. Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định, thành quả đó mới chỉ là những cơ sở nền móng đầu tiên; để độc lập, tự do thực sự vững bền, để nhân dân thực sự cảm nhận được giá trị của độc lập, tự do, Đảng, chính phủ và nhân dân Việt Nam phải tiếp tục nỗ lực vươn lên, xây dựng đất nước thành một quốc gia giàu mạnh, có nền kinh tế tri thức phát triển cao; xã hội dân chủ, công bằng, văn minh cùng tiềm lực quốc phòng hùng mạnh... Để có được điều đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh mong mỏi các thế hệ tương lai của Việt Nam đang được cắp sách đến trường phải không ngừng cố gắng học tập, vươn lên tiếp thu những thành tựu khoa học-kỹ thuật tiên tiến của thế giới, tự đào tạo mình trở thành một lực lượng lao động quyết định, có đủ khả năng đưa đất nước sánh vai với các cường quốc trên thế giới.

Thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thế hệ học sinh, sinh viên Việt Nam không ngừng nỗ lực học tập, rèn luyện, trưởng thành cả về phẩm chất, năng lực, giành nhiều thành tích cao, góp phần quan trọng cùng quân dân cả nước giành thắng lợi trong công cuộc kháng chiến chống đế quốc, thực dân xâm lược, giải phóng đất nước và thành công trong sự nghiệp đổi mới. Thành tích học tập, nghiên cứu khoa học của các thế hệ học sinh, sinh viên Việt Nam thực sự làm rạng danh đất nước, đặt nền móng vững chắc, tạo tiền đề đưa đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

Tuổi trẻ, học viên, sinh viên quân đội đinh ninh lời Bác dạy, thi đua thực hiện thắng lợi các phong trào thi đua: “Thanh niên Quân đội rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, quyết thắng”, "Thanh niên Quân đội vươn tới những đỉnh cao", phong trào “Thanh niên Quân đội tiến quân vào khoa học và công nghệ”… và cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, vượt mọi khó khăn, nỗ lực phấn đấu học tập, rèn luyện đoạt những giải cao tại các cuộc thi trong nước và quốc tế; tích cực học tập, huấn luyện làm chủ vũ khí trang bị, nhất là vũ khí mới, hiện đại… góp phần xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

“Cán bộ phải đi đúng đường lối quần chúng, dựa vào nhân dân…”

“Cán bộ phải đi đúng đường lối quần chúng, dựa vào nhân dân; trước hết phải tin tưởng lực lượng và trí tuệ của nhân dân là vô cùng vô tận”. Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong bài nói chuyện tại Hội nghị thủy lợi toàn miền Bắc, ngày 14-9-1959.

Tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, qua thực tiễn hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh càng thấm sâu chân lý: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Người cho rằng, nhân dân rất thông minh, sáng tạo, là nguồn sức mạnh vô tận.Thực tiễn đã chứng minh, thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược và trong sự nghiệp đổi mới đất nước đều xuất phát từ đường lối, quan điểm “lấy dân làm gốc”.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn khẳng định, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc không phải chỉ là việc riêng của các cơ quan Nhà nước, của cán bộ, đảng viên, mà có sự tham gia tích cực của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, theo phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Hoạt động của quần chúng nhân dân theo phương châm đó, trước hết, là giúp cho các tổ chức Đảng và cơ quan Nhà nước khắc phục tệ quan liêu, tham nhũng, đề cao trách nhiệm trước nhân dân, tôn trọng ý kiến và nguyện vọng của nhân dân; tăng cường mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thấm nhuần lời Bác dạy, trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta, cấp ủy, chỉ huy các cấp luôn quan tâm, chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội, thương yêu, tôn trọng bộ đội. Mối quan hệ cán-binh được xây dựng trên cơ sở tình thương yêu đồng chí, đồng đội, được tôi luyện, thiết lập vững chắc qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trở thành bản chất, truyền thống tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ, là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt, vừa là thuộc tính bản chất của một quân đội cách mạng, vừa là một trong những cơ sở tạo nên sức mạnh, vượt mọi khó khăn thử thách, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.