Thứ Năm, 22 tháng 9, 2022

Cần nắm vững và hiểu đúng về thể chế, cơ chế lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam


Một là, không thể nói thể chế nhất nguyên chính trị, một đảng cầm quyền ở Việt Nam là “phi dân chủ”, cũng không thể nói đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới là dân chủ. Lúc còn là Chủ tịch Quốc hội, đồng chí Nguyễn Phú Trọng đã trả lời phỏng vấn báo chí Ấn Độ: “Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, hai đảng thì ít dân chủ hơn và một đảng thì ít dân chủ nữa, mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, điều quan trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển đi lên không? Đó là tiêu chí quan trọng nhất” Thế đã rõ, mức độ dân chủ và không dân chủ của chế độ chính trị một quốc gia không phụ thuộc vào việc có áp dụng hay không áp dụng chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, mà nó phụ thuộc vào bản chất của chính đảng cầm quyền. Ở quốc gia nhất nguyên, một đảng, nếu đảng cầm quyền đại diện cho quyền và lợi ích của đa số người dân, phục vụ và bảo vệ cho số đông thì quốc gia đó vẫn dân chủ hơn quốc gia dù đa nguyên, đa đảng mà ở đó các đảng không đại diện và bảo vệ quyền lợi cho đông đảo người dân trong xã hội. Khi đảng cầm quyền bảo vệ, phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn có nghĩa là trong chế độ mà đảng đó thiết lập, nắm quyền lãnh đạo, dân chủ vẫn đang được bảo đảm, tính chính đáng của đảng cầm quyền là điều khẳng định.
- Hai là, với cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo giải quyết những lợi ích thiết thực của người dân như quyền tự do, dân chủ, các vấn đề dân sinh, dân trí. Người dân quan tâm, hưởng ứng, thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng; tham gia bầu cử Quốc hội, HĐND các cấp; tham gia góp ý xây dựng Đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên; tham gia bồi dưỡng kết nạp quần chúng vào Đảng… thể hiện sự thống nhất, đồng tâm của người dân với Đảng. Nhà nước không ngừng hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền làm chủ của nhân dân (Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, Luật Trưng cầu ý dân, Luật Tiếp cận thông tin,...). Thông qua đó, nhân dân làm chủ trực tiếp thông qua quyền bầu cử, quyền ứng cử; thực hiện quyền giám sát và phản biện xã hội thông qua Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức xã hội khác; thực hiện quyền đối thoại dân chủ trực tiếp giữa nhân dân với chính quyền, góp ý trực tiếp đối với các dự luật.
Ba là, thành công không thể phủ nhận của cách mạng Việt Nam 92 năm qua do Đảng lãnh đạo là giành, giữ vững độc lập dân tộc, từng bước xây dựng và phát huy nền dân chủ XHCN. Trong điều kiện hòa bình, Đảng đề ra đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN một cách khách quan, khoa học. Đó là nền kinh tế phù hợp với sự phát triển của Việt Nam hiện nay, là nền kinh tế hiện đại và hội nhập quốc tế, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN. Mà trong đó, sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người, sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội.
- Bốn là, phải thừa nhận có một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện xâm phạm lợi ích của nhân dân, sa sút về lối sống, về những chuẩn mực đạo đức, tham nhũng, tiêu cực đã làm ảnh hưởng xấu tới niềm tin của Nhân dân đối với Đảng. Song, cơ sở quyết định nhất của mối quan hệ giữa Đảng và Nhân dân là lợi ích của nhân dân trong tương quan với lợi ích quốc gia - dân tộc. Hiện nay, khi mà lợi ích quốc gia - dân tộc vẫn là điểm mấu chốt, chi phối lợi ích sống còn của toàn Đảng và toàn dân thì mối quan hệ này không thể bị phá vỡ. Bản lĩnh chính trị, năng lực chính trị này của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhiều lần được chứng minh trong lịch sử.
- Năm là, trong thực tế, ở nơi này nơi kia quyền làm chủ của nhân dân chưa thực sự được tôn trọng, đời sống người dân không được bảo đảm đã làm hạn chế tính tích cực, năng động, sáng tạo vốn có của người dân, làm phát sinh bức xúc trong xã hội, làm cho niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước bị giảm sút. Nhưng cũng trên thực tế, phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” mà Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương, đòi hỏi đảng viên của mình thực hiện trong bao nhiêu năm qua đã được bổ sung thành “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Chủ trương đó là nhất quán, xuyên suốt. Cũng rõ ràng rằng các chủ trương, quan điểm, đường lối, cơ chế, chính sách, pháp luật về dân chủ luôn được xây dựng, bổ sung, hoàn thiện phù hợp với điều kiện, trình độ phát triển và yêu cầu của đất nước.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét