Thứ Tư, 2 tháng 11, 2022

Không thể xuyên tạc một chuyến thăm hữu nghị đặc biệt

 

          Những ngày vừa qua, khi các cơ quan báo chí truyền thông Việt Nam và Trung Quốc đưa tin về chuyến thăm hữu nghị nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (từ ngày 30/10 đến 2/11) theo lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình, thì mạng xã hội “dậy sóng” những loạt tin xấu độc theo hướng “bài Hoa, thân Mỹ”. Trong các luận điệu xuyên tạc phản động ấy, nổi lên một số quy chụp, suy diễn hồ đồ khi cho rằng đó là “một chuyến đi vội vã”, là “đi sang cống thiên triều”, là thể hiện sự “thần phục của Việt Nam trước Trung Quốc”… Và vì thế, Việt Nam sẽ gặp bất lợi trong mối quan hệ với Mỹ; Việt Nam sẽ tiếp tục mất biển, đảo với Trung Quốc; Việt Nam “hãy học Đài Loan” trước tham vong của Trung Quốc và Tập Cận Bình…

          Song, sự thật vẫn ngời sáng, nên bất chấp những thông tin xấu độc đó, chuyến thăm hữu nghị của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến đất nước Trung Hoa ngay sau khi Đại hội XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc kết thúc thắng lợi đã khẳng định tầm quan trong và ý nghĩa đặc biệt của chuyến thăm hữu nghị này.

          Một là, lịch sử quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Trung Quốc đã có từ lâu đời, đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông cùng các thế hệ tiền bối dày công vun đắp. Suốt chiều dài lịch sử hai nước nói chung và 7 thập niên kể từ khi 2 nước thiết lập quan hệ ngoại giao (18/1/1950) nói riêng, trên tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, quan hệ Việt – Trung đã đi qua những thăng trầm, nhưng hợp tác hữu nghị vẫn là dòng chảy chính, là lựa chọn đúng đắn và mối quan hệ hữu nghị giữa 2 nước cũng không ngừng được xây đắp.

          Cụ thể, kể từ năm 2008 khi 2 bên nhất trí thiết lập khuôn khổ quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Trung Quốc, đến nay Việt Nam và Trung quốc đã thiết lập khoảng 60 cơ chế giao lưu hợp tác từ Trung ương đến địa phương, phủ sóng gần như tất cả các lĩnh vực. Trong thực tế, Trung Quốc tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất và thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam; trong khi đó, Việt Nam cũng tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong ASEAN và đối tác lớn thứ 6 của Trung Quốc trên thế giới. Gần nhất, trong cuộc chiến phòng và chống đại dịch Covid-19, Trung Quốc cũng là một trong những nước cung cấp vaccine nhiều nhất, đóng góp hiệu quả cho công tác phòng, chống và kiểm soát dịch bệnh tại Việt Nam. Còn trong các lĩnh vực khác, Việt Nam và Trung Quốc đã phối hợp chặt chẽ triển khai thực hiện các văn kiện pháp lý về biên giới trên đất liền giữa 2 quốc gia; đồng thời, tăng cường quản lý an ninh, an toàn khu vực biên giới để kiểm soát bất đồng, duy trì hòa bình, ổn định trên biển phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982 và tích cực thúc đẩy các cơ chế đàm phán về các vấn đề trên biển, thực hiện hiệu quả DOC, thúc đẩy tiến trình tham vấn COC…

          72 năm qua, quan hệ đối tác hợp tác chiến lược Việt Nam – Trung Quốc duy trì xu thế ổn định, tích cực và phát triển. Lãnh đạo 2 bên đạt được nhiều nhận thức chung quan trọng, góp phần đưa quan hệ song phương lên tầm cao mới. Đặc biệt, sau Đại hội lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 1-2/2021), Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quốc hội 2 nước đã có các cuộc điện đàm, hội đàm trực tuyến, đưa ra những định hướng lớn quan trọng, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác cùng có lợi giữa 2 nước. Gần nhất, 2 bên tổ chức thành công Phiên họp lần thứ 14 Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam – Trung Quốc (tháng 7/2022)…

          Việt Nam luôn coi trọng và củng cố, phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Trung Quốc, nên chuyến đi thăm hữu nghị nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lần này không phải là “sự thần phục’, càng không phải là Việt Nam “sợ Trung Quốc”, “sợ thiên triều” và cũng không phải là “ẩn trong lời mời của ông Tập Cận Bình có sự hối thúc nào mà ông Trọng không thể trì hoãn được” hay “sau khi quét sạch trong nhà, phải chăng đến lúc Tập Cận Bình muốn quét ngoài ngõ, mà Đảng CSVN được chọn để chiếu cố đầu tiên” như các thế lực thù địch xuyên tac, mà chính là nhằm tạo động lực và làm sâu sắc hơn mối quan hệ giữa 2 Đảng, 2 Nhà nước vốn đã có bề dày lịch sử.

          Hai là, việc Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là nhà lãnh đạo nước ngoài đầu tiên thăm chính thức Trung Quốc ngay sau khi kết thúc Đại hội XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc theo lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình không chỉ thể hiện sự coi trọng của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và cá nhân Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình đối với vị thế, vai trò quốc tế của Việt Nam và cá nhân Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, mà còn khẳng định mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc đã vượt lên trên quan hệ song phương theo nghĩa thông thường và có ý nghĩa chiến lược quan trọng.

          Thực tế, 5 năm trước, sau khi Đại hội XIX của Đảng Cộng sản Trung Quốc bế mạc, Tổng Bí thư Tập Cận Bình đã chọn Việt Nam để thực hiện chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của mình. Đó cũng chính là sự thể hiện nhất quán truyền thống tăng cường giao lưu cấp cao giữa 2 Đảng, 2 nước sau Đại hội Đảng. Hơn nữa, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng thăm hữu nghị nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa các năm 1992, 1997, 2001, 2003, 2007; đặc biệt là 3 lần thăm Trung Quốc sau khi đảm nhận cương vị Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 10/2011, tháng 4/2015, tháng 1/2017). Vì thế, chuyến thăm hữu nghị nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa lần này của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không phải là “vội vã” cũng không phải vì “Việt Nam lép vế, thần phục Trung Quốc”, “đi chầu mẫu quốc” như các luận điệu xuyên tạc, mà nằm trong chương trình, kế hoạch chung giữa 2 Đảng và 2 Nhà nước; là mong muốn quan hệ Việt Nam – Trung Quốc phát triển lâu dài, ổn định, ngày càng hiệu quả, thực chất theo tinh thần nhận thức chung của Lãnh đạo cấp cao 2 Đảng, 2 nước; đồng thời làm rõ những quan tâm, lập trường đúng đắn, các lợi ích chính đáng của Việt Nam.

          Với chuyến thăm lần này, Đảng Cộng sản Việt Nam và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định sự ủng hộ của Việt Nam đối với vị trí, vai trò là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội của Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng như những tư tưởng, đường lối phát triển tại Đại hội XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc có lợi cho hòa bình, hợp tác và phát triển; nhất là vị trí hạt nhân lãnh đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình được Đảng Cộng sản Trung Quốc xác lập; đồng thời thể hiện mong muốn củng cố, mở rộng và nâng cao hiệu quả quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc, tiếp tục làm định hướng cho quan hệ 2 nước trong tương lai, chứ không phải “chỉ mang tính biểu tượng hay còn gì khác” và “chuyến đi lần này của ông Trọng có nhiều điểm bất thường khiến ngoại giới quan tâm” như suy diễn, đơm đặt của các thế lực thù địch.

          Thông qua chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lần này, góp phần tăng cường quan hệ trên các kênh Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc; đồng thời, tạo chuyển biến mới trong hợp tác bình đẳng, cùng có lợi về kinh tế, thương mại, đầu tư và các lĩnh vực khác và nâng cao hợp tác quốc phòng, an ninh, tăng cường hợp tác giữa 2 nước tại các diễn đàn quốc tế… góp phần thúc đẩy chính sách của Trung Quốc về quan hệ hữu nghị, hợp tác với Việt Nam; ủng hộ Việt Nam phát triển, có vị thế quốc tế ngày càng cao.

          Cuối cùng, phải khẳng định rằng: Không thể xuyên tạc hay bẻ cong được lịch sử. Chuyến thăm hữu nghị Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lần này là thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; là hiện thực hóa đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó khẳng định chủ trương nhất quán của Việt Nam coi trọng quan hệ với Trung Quốc và coi đây là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại, chứ không phải là “quan hệ Việt – Trung càng bền chặt thì thì mức độ Việt Nam lệ thuộc vào Trung Quốc càng tăng lên” như trang Việt Tân, Quyenduocbiet, Thông luận, Chantroimoimedia.com… lảm nhảm. Cho nên, chuyến thăm hữu nghị lần này không chỉ khẳng định và làm sâu sắc hơn quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Trung Quốc, góp phần củng cố và tăng cường sự hợp tác hữu nghị Việt – Trung phù hợp lợi ích căn bản, lâu dài của 2 Đảng, 2 Nhà nước và người dân 2 nước, mà còn có lợi cho hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới, nên đặc biệt được dư luận 2 nước và quốc tế quan tâm./.

                                                                                       St

Một số phần từ lợi dụng động thiện nguyện để xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, gây mất an ninh trật tự


Tương thân tương ái, giàu tinh thần thiện nguyện, luôn là truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay và đây là truyền thống tốt đẹp cần được nhân lên trong xã hội. Tuy nhiên, Nhà nước ta không cho phép bất kỳ ai lợi dụng “chiếc áo” từ thiện nhằm mục đích đánh bóng tên tuổi, thậm chí còn có hành vi tiêu cực gây kích động trong Nhân dân.

CẢNH GIÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHUYẾN THĂM TRING QUỐC CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG


Những ngày vừa qua, khi các cơ quan báo chí truyền thông Việt Nam và Trung Quốc đưa tin về chuyến thăm hữu nghị nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (từ ngày 30/10 đến 2/11) theo lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA NGÀY 03 THÁNG 11 NĂM 1968!

         “… Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi…”[*]!
     Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Lời kêu gọi cả nước tiến lên đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, đăng Báo Nhân dân, số 5317, ngày 03 tháng 11 năm 1968.
     Lời kêu gọi thể hiện sâu sắc ý chí mạnh mẽ và quyết tâm sắt đá của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta kiên quyết bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc, phản ánh niềm tin vững chắc vào sức mạnh của dân tộc Việt Nam, dù phải chịu nhiều hy sinh gian khổ nhưng không thể lay chuyển ý chí, quyết tâm của toàn thể dân tộc Việt Nam về một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Lời kêu gọi của Người tựa như lời “hịch” đanh thép thúc giục cả dân tộc đồng tâm, nhất trí, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn. Lời kêu gọi còn là một cuộc vận động lớn để toàn Đảng, toàn quân và toàn dân tộc đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, củng cố niềm tin, xiết chặt đội ngũ để đi vào giai đoạn quyết liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại không chỉ của dân tộc Việt Nam mà của cả nhân loại tiến bộ trong thế kỷ XX. Đó là tinh thần kiên quyết tiến công của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng ta, của toàn quân và toàn dân ta trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng và chiến tranh cách mạng. Tinh thần tiến công đó tiếp tục soi sáng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. 
     Trong những năm tới, tình hình thế giới, khu vực sẽ còn nhiều diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định, bất trắc, khó lường; tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biên giới, biển, đảo, đặc biệt là trên Biển Đông tiếp tục diễn ra gay gắt, phức tạp. Trong nước, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn còn tồn tại. Các thế lực thù địch đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội. Để thực hiện trọn vẹn lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta phải thường xuyên chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở. Nâng cao bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc, đảm bảo lực lượng vũ trang nhân dân luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng; nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, thực sự là lực lượng nòng cốt cho toàn dân trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất và các nhiệm vụ khác được giao./.
[*]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011, tập 7, tr.391.
Môi trường (Yêu nước) ST.

Bản lĩnh vững vàng trước thông tin xuyên tạc

Lợi dụng xã hội thông tin mở và đa dạng hiện nay, các thế lực thù địch, phản động tăng cường hoạt động chống phá nước ta. Chỉ cần mở điện thoại thông minh, lên mạng xã hội là mỗi người chúng ta đã có thể bị tấn công bởi rất nhiều tin giả, tin đồn thất thiệt, xuyên tạc. Do đó, nếu cán bộ, đảng viên không đủ bản lĩnh, không tỉnh táo nhận diện thì rất dễ mắc mưu, dẫn đến những trạng thái tâm lý, những hành động tiêu cực. Cạm bẫy từ những “bả thông tin” Tôi quen một bác cán bộ đã nghỉ hưu, từng có nhiều năm công tác và có những đóng góp nhất định tại một bộ nọ. Thời gian gần đây, bác liên tục thể hiện trên facebook một trạng thái tâm lý và những phát ngôn tiêu cực về thực trạng đất nước. Theo cách nhìn của bác thì bất cứ lĩnh vực nào của Việt Nam cũng "rất tệ hại". Với những thành tựu trong phát triển kinh tế thì bác cho rằng số liệu không đúng. Với kết quả rõ ràng của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, bác lại cho rằng đó chẳng qua là đấu đá trong nội bộ Đảng. Hay kể cả niềm vui sau những thành công vang dội của bóng đá Việt Nam, bác cũng lắc đầu bảo là do ăn may. Quan sát cách cán bộ nghỉ hưu này thu thập, tiếp nhận thông tin, tôi phần nào lý giải được tại sao bác lại có một thế giới quan nhiều màu xám. Ấy là do bác chủ yếu chỉ tiếp nhận thông tin qua mạng xã hội facebook, youtube, những trang thông tin mù mờ trên mạng, hoặc những trang thông tin của các tổ chức, đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước. Bác nhầm lẫn cho rằng, những trang thông tin ấy "dám nói thẳng, nói thật" vào những vấn đề mà các cơ quan báo chí chính thống không dám đề cập. Đáng lo ngại là không chỉ các cán bộ đã nghỉ hưu mà ngay cả những cán bộ đang đương chức nếu không tỉnh táo, không có bản lĩnh vững vàng thì cũng rất dễ bị lừa phỉnh, bị ăn phải "bả thông tin". Mấy ngày gần đây, liên quan đến sự việc cơ quan công an bắt bà Trương Mỹ Lan, Chủ tịch Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, xuất hiện những tin đồn, những lời xì xầm to nhỏ, những thuyết âm mưu là vụ việc liên quan đến vị lãnh đạo này, quan chức kia, rồi những sự đổ vỡ... Các thông tin được thổi phồng, cắt ghép, khớp nối có vẻ hợp lý, nếu người nghe thiếu hiểu biết, không đủ bản lĩnh thì rất dễ mắc bẫy, sẽ tin vào những thông tin xuyên tạc đó. Khi hỏi những người lan truyền thông tin là họ nghe thông tin từ đâu, thì họ nói rằng nghe trên đài, trên báo. Hỏi kỹ hơn là: “Đài, báo nào?” thì họ kể ra một loạt cái tên, hóa ra lại là toàn các trang mạng điện tử chuyên đưa thông tin phản động, các trang thông tin mù mờ không rõ ràng về nguồn gốc. Mặc dù trên Đài Truyền hình Việt Nam đã có những lãnh đạo đầu ngành trả lời rất rõ ràng về các vấn đề liên quan đến vụ việc này, thế nhưng vẫn có người bán tín, bán nghi, vẫn xì xào về các thông tin mù mờ trên mạng mà mình xem, nghe được. Những người tiếp nhận và tin theo các thông tin mù mờ trên mạng là hết sức ngây thơ. Bởi họ không biết, hoặc biết không đầy đủ rằng các tổ chức khủng bố, phản động như Việt Tân, Hội anh em dân chủ... thiết lập rất nhiều website, blog, facebook, youtube, mở nhiều diễn đàn, câu lạc bộ nhằm tán phát các thông tin, tài liệu, hình ảnh, video clip có nội dung xấu, độc. Một số cơ quan báo chí của phương Tây như RFA, BBC Việt ngữ, hay các trang thông tin do một số đối tượng có tiền án, tiền sự, chống đối Đảng, Nhà nước ta lập ra như thoibao.de... thường xuyên đăng tải, tung những thông tin sai sự thật, xuyên tạc nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Phạm vi của các thông tin xuyên tạc là rất rộng, các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, đối ngoại, quốc phòng, an ninh... đều là "chiến địa" của chúng. Đối tượng công kích của chúng rất đa dạng từ các cơ quan Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành địa phương, cơ quan, đơn vị cho tới các tổ chức chính trị-xã hội, từ lãnh đạo cấp cao cho tới cả các nghệ sĩ, nhà báo, doanh nhân, người nổi tiếng đều có thể trở thành mục tiêu của họ... Đến cả việc Việt Nam vừa trúng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc thông qua phiên bỏ phiếu tại Đại hội đồng Liên hợp quốc một cách dân chủ, công khai, khách quan, chứng tỏ uy tín cao của Việt Nam trên trường quốc tế thì trên trang facebook của mình, tổ chức Việt Tân vẫn trơ trẽn xuyên tạc rằng kết quả trên chứng tỏ Việt Nam đã hoàn toàn lệ thuộc vào một nước khác (!?)... Nhìn chung những thông tin xấu, độc đều có một mục đích là bôi đen hiện thực Việt Nam; thổi phồng những hạn chế, khiếm khuyết trong quá trình lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; xuyên tạc về cán bộ, về công tác nhân sự; phóng đại những tiêu cực trong xã hội; bóp méo các chủ trương, chính sách, luật pháp hòng gây rối tình hình đất nước; kích động, chia rẽ nội bộ, ảnh hưởng đến uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội... Từ đó tạo ra nhận thức sai lệch về hiện thực theo chiều hướng xấu, hình thành tâm lý chán ghét, phẫn nộ, thậm chí căm thù chế độ và bộ máy chính quyền các cấp. Thông qua mạng xã hội, các phần tử xấu, cơ hội chính trị cũng điên cuồng chống phá, không từ một thủ đoạn nào, từ xuyên tạc sự thật lịch sử cho đến tìm mọi cách hạ thấp uy tín, bôi nhọ lãnh tụ Đảng ta, bài bác, hòng phủ nhận giá trị của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Các thế lực thù địch còn ra sức rêu rao: Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập là điều kiện cần thiết để thực thi dân chủ ở Việt Nam, để chống tham nhũng có hiệu quả, để bảo đảm đất nước phát triển; rằng lựa chọn con đường cách mạng vô sản, đi lên chủ nghĩa xã hội là sai lầm của dân tộc ta... Thông thường thì những thông tin xấu, độc này lại được đăng tải dưới những chủ đề khá hấp dẫn và thu hút người đọc, bởi nó khơi gợi sự tò mò và tâm lý phản kháng, bất mãn trước những tiêu cực của một bộ phận cán bộ, quan chức. Những thông tin như vậy thường có tính kích động, tạo cảm xúc tiêu cực cho người đọc. Những kẻ thực hiện các thông tin xuyên tạc cũng rất tinh vi trong việc đưa thông tin. Thường thì chúng đưa khoảng 6-7 phần là sự thật, rồi cài 3-4 phần là xuyên tạc, suy diễn với các thuyết âm mưu vào để dẫn dắt người đọc, người xem. Nếu không thận trọng để nhận diện chính xác vấn đề, người đọc sẽ dần dần hình thành niềm tin vào các trang thông tin chống phá Nhà nước, chống phá chế độ. Đừng tự biến mình thành “cục máu đông” Trong buổi nói chuyện tại lễ bế mạc Lớp bổ túc trung cấp, được Báo Vệ quốc quân đăng lại trên số 15, ngày 10-10-1947, Bác Hồ ví một tập thể, một tổ chức như một cơ thể và mỗi khâu, mỗi cá nhân là một bộ phận hợp thành cơ thể ấy. Người nói: “Mệnh lệnh cũng như dòng máu chảy từ tim ra đến đầu, các tứ chi. Nếu chảy đến tay mà mắc nghẽn, thì tay bại. Tay bại người sẽ yếu đi”. Có thể thấy, việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước hiện nay cũng như “dòng máu chảy từ tim ra đến đầu, các tứ chi”, tắc ở bộ phận nào là “bại” ở bộ phận ấy, “bại” ở một bộ phận cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực hiện chủ trương lớn. Do đó, việc rèn luyện bản lĩnh chính trị, đủ tỉnh táo trước các thông tin xuyên tạc, bịa đặt chính là một yêu cầu để cán bộ, đảng viên không tự biến mình thành một “cục máu đông” trong đơn vị, tổ chức. Trước những thông tin bịa đặt, có những cán bộ, đảng viên suy nghĩ một cách giản đơn rồi chia sẻ, bình luận trên mạng xã hội hoặc tán phát trong cộng đồng. Vô hình trung những thông tin này có vỏ bọc vững chắc hơn vì nó được nói ra từ những cán bộ, đảng viên có trách nhiệm. Mảnh đất sống màu mỡ nhất của thông tin xấu, độc chính là dư luận. Nếu như không bình tĩnh, tỉnh táo tiếp nhận thông tin thì cán bộ, đảng viên sẽ mắc bẫy và tiếp tay, lan truyền những thông tin xấu, độc của các đối tượng chống phá. Ngoài ra, còn có một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, phai nhạt lý tưởng, cơ hội, đầy tham vọng quyền lực cá nhân. Những người có thể sẽ phản bội lại quá khứ, phản bội lại lý tưởng, và nguyên nhân của sự phản bội đó đôi khi bắt nguồn từ sự bất mãn, không đồng ý một số vấn đề cụ thể trong chính sách, hay cách ứng xử của những cơ quan, đơn vị nơi người đó công tác. Họ rất dễ trở thành "miếng mồi ngon" cho những thông tin xấu, độc và bản thân họ cũng có thể trở thành những tác nhân của thông tin xấu, độc, cả những khiếu nại, tố cáo với mục đích không trong sáng gây nhiễu loạn nội bộ. Để tránh những tác hại lan truyền của thông tin xấu, độc, mỗi cán bộ, đảng viên cần xây dựng cho mình hệ miễn dịch trước thông tin xấu, độc, cần nhận thức sâu sắc, giữ vững bản lĩnh chính trị, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, với những giải pháp như sau: Thứ nhất, thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đảng viên về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thứ hai, mỗi cán bộ, đảng viên phải nghiêm túc học tập, kết hợp tự học, tự nghiên cứu nâng cao trình độ về chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, kiến thức pháp luật, quản lý nhà nước..., hình thành thói quen chỉ tiếp nhận thông tin qua các kênh thông tin chính thống của Đảng, Nhà nước. Từ đó nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, năng lực công tác và phông nhận thức, hiểu biết, tạo thành bản lĩnh vững vàng trước các thông tin xấu, độc. Thứ ba, các tổ chức đảng trong sinh hoạt thường kỳ nên lồng ghép những buổi sinh hoạt tư tưởng, nhanh nhạy nắm bắt, phát hiện các thông tin xấu, độc, bịa đặt lan truyền trong xã hội, đặc biệt là trên không gian mạng để kịp thời có sự định hướng bằng những thông tin đúng đắn, các luận điểm thuyết phục để phản bác, hạn chế sự lan tỏa, ảnh hưởng của các luồng thông tin xấu, độc trong đơn vị. Thứ tư, các tổ chức trong hệ thống chính trị, cơ quan nhà nước cần phát huy vai trò của báo chí, truyền thông; chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động báo chí, truyền thông, xuất bản; tăng tính đấu tranh của báo chí với các thông tin xuyên tạc. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý và sử dụng internet, mạng xã hội, trong đó chú trọng xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Thứ năm, các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Ðảng, Nhà nước, nghiêm cấm lan truyền những thông tin sai lệch hoặc tán phát những đơn thư nặc danh, mạo danh có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động. Để những thông tin xấu, độc không còn đất dung thân thì cán bộ, đảng viên phải giữ vững lập trường, quan điểm, giữ gìn đạo đức, lối sống trong sáng, bình tĩnh trong việc tiếp nhận thông tin, kiểm chứng thông tin, thận trọng trong lan truyền thông tin. Đồng thời, việc cung cấp thông tin chính thống kịp thời, đúng đắn, chính xác của các cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan chức năng, cơ quan báo chí sẽ có tác động rất lớn giúp cho đảng viên và nhân dân có thêm kiến thức, sự hiểu biết và tư tưởng ổn định, giúp loại bỏ các khoảng trống cho thông tin xấu, độc.

Cội nguồn sức mạnh vô địch của Đảng

Sức mạnh của Đảng nằm trong mối liên hệ mật thiết với nhân dân: “Dân là gốc của nước, gốc có vững thì nước mới yên”. Ông cha ta đã để lại những tư tưởng bất hủ, như: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ, bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”; “Lật thuyền mới biết dân như nước”; “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”; Cái gốc của nhạc là ở nơi “thôn cùng xóm vắng không có một tiếng hờn giận oán sầu”... An Dương Vương chủ quan, mất cảnh giác, chỉ dựa vào vũ khí, không biết dựa vào sức mạnh nhân dân để chống giặc ngoại xâm nên kết cục là mất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đặt vị trí của nhân dân lên một tầm cao mới, khẳng định nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, tạo ra mọi của cải, vật chất và những giá trị văn hóa, tinh thần. Nhân dân là lực lượng cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những quan niệm rất độc đáo, sáng tạo về nhân dân; không những khẳng định dân là gốc của nước, của cách mạng mà còn đặt nhân dân ở vị trí tối thượng. Người viết: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”; “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ, mà Chính phủ là người đày tớ trung thành của nhân dân”; “... Quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Người nhấn mạnh: Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân; nhân dân cần Đảng dẫn đường. Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn tỏ rõ là một Đảng cách mạng chân chính, hết lòng phấn đấu vì nhân dân, mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân luôn được củng cố, tăng cường. Sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân, đó chính là nền tảng, nguồn gốc tạo nên sức mạnh vô địch của Đảng. Lênin từng căn dặn rằng: Nguy cơ lớn nhất của một đảng cầm quyền là sai lầm về đường lối và quan liêu, xa rời quần chúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh: Đảng phải gần dân, trọng dân, tin dân, học dân để lãnh đạo dân. Củng cố, tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân là vấn đề có tính quy luật trong sự hình thành, tồn tại và phát triển của Đảng ta. Để xây dựng, củng cố, tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân, cần nắm vững và làm tốt những vấn đề cơ bản sau đây: Một là, giải quyết tốt mối quan hệ giữa chính quyền với nhân dân. Chính quyền phải gần dân, sát dân, thân dân. Khi đã trở thành đảng cầm quyền, mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trước hết và chủ yếu ở mối quan hệ giữa chính quyền với nhân dân thông qua pháp luật, chính sách, thông qua hoạt động của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước. “Tất cả cán bộ chính quyền... đều phải phụ trách dân vận” như Bác Hồ đã căn dặn. Cần tránh quan niệm cho rằng, cán bộ chính quyền chỉ làm công tác hành chính, không làm công tác dân vận. Không hiểu công tác dân vận và không thực sự làm dân vận thì chưa thể là cán bộ, công chức, viên chức cách mạng, công bộc của dân. Hai là, giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội. Không giải quyết tốt vấn đề này thì khó có thể xây dựng được mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với dân và xây dựng được khối đại đoàn kết toàn dân tộc một cách vững chắc, lâu dài. Lợi ích là nhân tố nổi lên hàng đầu, là vấn đề mấu chốt trong việc củng cố và tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân. Trong điều kiện Đảng cầm quyền lãnh đạo chính quyền quản lý xã hội thì vấn đề quan trọng nhất là các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải đáp ứng lợi ích thiết thân của nhân dân, phù hợp với yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân trong sự hài hòa giữa các lợi ích, thống nhất quyền lợi, nghĩa vụ công dân. Chủ trương, chính sách đúng với đường lối của Đảng, hợp với nguyện vọng chính đáng của nhân dân, được tổ chức thực hiện dân chủ, mang lại lợi ích thiết thực, cơ bản cho dân sẽ có ý nghĩa cực kỳ to lớn để củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và dân. Nếu chúng ta không chăm lo đến những lợi ích thiết thực của dân, các thế lực thù địch sẽ tập trung khai thác mặt yếu này để tranh thủ quần chúng, kích động khiếu kiện, biểu tình gây mất ổn định chính trị-xã hội. Ba là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng-một vấn đề mấu chốt để củng cố, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với dân. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân là cầu nối rất quan trọng thắt chặt mối quan hệ giữa và Đảng, Nhà nước với nhân dân. Đồng thời, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tham gia phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, qua đó tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố sự nhất trí về chính trị tinh thần trong xã hội, củng cố và tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với dân. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội và phải luôn được củng cố, phát triển sâu rộng trên cơ sở liên minh vững chắc giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Chính trong sự đoàn kết đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với dân được củng cố, tăng cường và phát triển. Đảng phải là hạt nhân cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phải tiêu biểu cho sự đoàn kết đó. Bốn là, phát huy vai trò làm chủ và thực hiện tốt quyền làm chủ của nhân dân, giữ vững kỷ cương phép nước. Đảng cần phải tăng cường lãnh đạo các cơ quan nhà nước, các cấp chính quyền chăm lo phát huy và thực hiện trên thực tế quyền dân chủ của nhân dân theo pháp luật, tăng cường đồng thuận xã hội. Các cấp ủy đảng và chính quyền phải thường xuyên đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến, giải quyết các khó khăn, vướng mắc của nhân dân; tin dân, tôn trọng những người có ý kiến khác; làm tốt công tác dân vận, có cơ chế, pháp luật để nhân dân bày tỏ chính kiến, nguyện vọng và thực hiện quyền làm chủ của mình. Đồng thời, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh những biểu hiện vi phạm quyền dân chủ của nhân dân, cũng như những biểu hiện lợi dụng dân chủ để vi phạm pháp luật, kích động nhân dân, gây rối trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị, xã hội và chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chỉ có thực sự phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa mới có đồng thuận xã hội và đoàn kết thực sự, bền vững. Trong thời kỳ phát triển mới của đất nước, thực hiện đường lối đổi mới, mở cửa, hội nhập của Đảng, đòi hỏi mỗi người cán bộ, đảng viên của đảng cầm quyền phải luôn nêu cao đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính; phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết, thật sự xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân; phải đi sâu, đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Có như vậy, mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân mới được củng cố, tăng cường. Khi Đảng đã gắn bó máu thịt với dân, dân tin yêu Đảng thì Đảng sẽ có sức mạnh vô địch để vượt qua mọi thác ghềnh, vững tay chèo lái đưa con thuyền cách mạng Việt Nam thẳng hướng đi lên, cập bến quang vinh.

Quyết chống "giặc nội xâm"

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. Đặc biệt, Người nhắc nhở rất ngắn gọn, dễ hiểu mà vô cùng sâu sắc, trở thành nguyên tắc hành động đối với các cơ quan, tổ chức, mọi cán bộ cách mạng: Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, phải tiền phong, gương mẫu. Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền. Việc gì có lợi cho dân dù nhỏ nhất vẫn phải cố gắng làm, việc gì có hại cho dân dù nhỏ nhất cũng phải tránh. Theo quan điểm ấy, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng luôn tiền phong, gương mẫu, nói đi đôi với làm; luôn phấn đấu vì nhân dân, đất nước nên quy tụ được sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc-nhân tố quyết định để đánh thắng những kẻ thù xâm lược. Tuy nhiên, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật và nói rõ sự thật, chúng ta nhận thấy hiện nay, việc huy động sức mạnh lòng dân để khơi dậy khát vọng phát triển đất nước đang gặp phải những rào cản từ một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái, biến chất với các biểu hiện: Nói, viết và làm không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; kén chọn chức danh, vị trí công tác, chọn nơi có nhiều lợi ích, việc dễ làm; không sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi xa, nơi khó khăn; chỉ tập trung giải quyết những vấn đề có lợi cho mình... Nhân dân không khỏi tâm tư trước tình trạng một số cán bộ, công chức "giàu thần tốc" không phải từ thu nhập chính đáng. Rồi trong thời kháng chiến, rất nhiều con cháu cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước xung phong vào quân ngũ, xông pha nơi gian khổ, hiểm nguy nhưng bây giờ ngày càng ít con cháu cán bộ cấp cao tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự hoặc xông pha nơi khó khăn, gian khổ. Một số cán bộ không những nuông chiều con cháu thái quá mà còn tìm cách ưu ái để con cháu được thăng tiến “thần tốc”, được công tác ở những vị trí nhàn nhã... Ở góc độ khác, có những cán bộ, đảng viên không chỉ vô trách nhiệm mà còn vô liêm sỉ, trục lợi trên nỗi đau khổ của người dân (mà vụ án liên quan đến Công ty Việt Á và vụ lợi dụng những chuyến bay giải cứu đồng bào ở nước ngoài trong lúc cao điểm dịch Covid-19, với hàng chục, hàng trăm cán bộ, đảng viên vi phạm đã và đang bị nghiêm trị-là điển hình của loại cán bộ thoái hóa, biến chất). Quần chúng cũng không khỏi bất bình trước hiện tượng một số cán bộ ưu ái và bảo kê cho "doanh nghiệp sân sau"; doanh nghiệp ngang nhiên sai phạm mà cán bộ sở tại, lực lượng chức năng vẫn phớt lờ "cho qua" dù người dân nhiều lần phản ánh, kiến nghị cần kiểm tra, xử lý. Tư tưởng tính toán thực dụng, háo danh, hám lợi, làm gì cũng chỉ đặt lợi ích của bản thân và gia đình mình lên trên hết, trước hết là biểu hiện rõ nhất của chủ nghĩa cá nhân-kẻ thù nguy hại số một đối với mỗi cán bộ, đảng viên và toàn Đảng. Đây chính là cái cớ để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, thổi phồng nhằm chống phá cách mạng, gây mất lòng tin của nhân dân với Đảng và chế độ ta. Chính vì vậy, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải ra sức đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân bởi đó chính là "giặc nội xâm", là kẻ thù của những người cách mạng, là nguy cơ làm suy yếu Đảng, giảm lòng tin của quần chúng đối với Đảng. Cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, nhất là chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đang được Đảng ta tiến hành mạnh mẽ với quyết tâm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai", được nhân dân rất đồng tình, ủng hộ. Đó là phương thức vô cùng quan trọng để giữ vững và củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ-giữ vững "thế trận lòng dân". Tuy nhiên, những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn hiện hữu là thực tế cần được nghiêm túc xem xét, đề ra giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn và quyết liệt đấu tranh, khắc phục hiệu quả, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh: Tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa nhân dân với Đảng và chính quyền, tạo thành sức mạnh to lớn, vô địch để xây dựng Tổ quốc ta ngày càng cường thịnh, nhân dân ta ngày càng hạnh phúc, đất nước ta ngày càng phát triển, phồn vinh. Kiên quyết đấu tranh loại bỏ những phần tử hư hỏng, suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống. Ngày 1-8-2022, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã ban hành Hướng dẫn số 25-HD/BCĐTW về một số nội dung về công tác phòng, chống tiêu cực, trong đó xác định rõ 19 nhóm hành vi tiêu cực của cơ quan, tổ chức, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức (trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị) phải tập trung đấu tranh, xử lý. Việc quy định rõ những hành vi vi phạm này là hết sức cần thiết, có tác dụng cảnh báo, răn đe để cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức soi xét lại hành vi của mình nhằm tránh vi phạm; đồng thời làm cơ sở cho nhân dân giám sát, phòng, chống các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức từ cấp trung ương tới cơ sở. Mong rằng, tổ chức đảng các cấp quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm hướng dẫn này để phòng, chống hiệu quả tham nhũng, tiêu cực và những hành vi là biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, qua đó giữ vững và củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng và chính quyền để thế trận lòng dân thêm vững chắc.

Để từ chức trở thành nét văn hóa ứng xử của cán bộ

Điều đó cho thấy, để từ chức thực sự trở thành vấn đề bình thường, là nét văn hóa ứng xử trong công vụ cần có cả quá trình thay đổi từ quan niệm, nhận thức đến hành vi của mỗi người, cùng những thiết chế phù hợp. Vì sao từ chức khó khăn? Trong hệ thống công quyền ở nước ta, cán bộ từ chức hiện nay được nhìn nhận dưới hai góc độ. Thứ nhất là cán bộ có sai phạm khi thực thi công vụ. Trong đó, một số từ chức vì tự trọng, danh dự khi sai phạm của họ chưa đến mức phải cách chức. Số còn lại từ chức, nghỉ việc vì sai phạm của họ đến mức phải xử lý, nếu họ không từ chức thì tổ chức cũng sẽ cách chức. Thứ hai là cán bộ từ chức vì sức khỏe; vì tạo cơ hội cho người khác; vì công việc không phù hợp với chuyên môn; vì có định hướng khác... Thẳng thắn nhìn nhận, từ chức vốn là vấn đề không dễ dàng với mỗi cá nhân do nó liên quan đến lợi ích, quyền lực, danh dự... thậm chí là "cơm áo" hằng ngày của chính người đó. Để từ chức trở thành nét văn hóa ứng xử của cán bộ Tranh minh họa: Tạp chí Tuyên giáo. Những năm tháng kháng chiến, giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, cán bộ phần lớn xả thân đi làm cách mạng, chịu mọi tù đày cũng chỉ mong cách mạng thành công, đến ngày được giải phóng. Khi đó, bổng lộc, quyền lợi với họ chỉ là thứ yếu, họ sẵn sàng hy sinh cả tính mạng vì tổ chức. Bởi thế, chuyện họ từ chức khi thấy mình không hoàn thành tốt công việc, hay nhường cơ hội cho người khác... diễn ra nhẹ nhàng. Ngày nay, nhiều cán bộ trưởng thành trong hòa bình (một số được thừa hưởng cuộc sống đầy đủ từ gia đình), gắn liền với quyền lợi, bổng lộc, bởi thế không dễ để họ từ bỏ những điều đang có. Bên cạnh đó, gánh nặng khiến nhiều cán bộ không dám từ chức đó là sức ép từ gia đình, dòng họ, đồng nghiệp. Sức ép từ quan niệm “một người làm quan cả họ được nhờ” là áp lực lớn với nhiều cán bộ. Chức tước ở nước ta vẫn bị mặc định là “tiêu chuẩn” đánh giá sự thành đạt, địa vị xã hội không chỉ với cá nhân mà còn với gia đình, dòng họ, thậm chí mang tính địa phương. Dân tộc ta trọng tri thức, trọng danh nên luôn quan niệm “một người làm quan cả họ được nhờ”, “làm quan phát tài”. Về bản chất, đây là những quan niệm tốt đẹp, cái “cả họ được nhờ” ở đây là tiếng tốt, tiếng thơm, nhưng dần dần nó mặc nhiên được hiểu là sự nâng đỡ, mang lại lợi ích vật chất, quyền lực cho dòng họ. Mặt khác, dù là một góc khuất nhưng rất cần “điểm mặt, chỉ tên” đó là tình trạng cán bộ chạy chức, chạy quyền không phải là chuyện hiếm. Ai đó, bỏ tiền bạc để chạy chức thì khó để họ từ chức. Mặc dù Đảng, Nhà nước đã có những quy định rõ ràng cũng như khuyến khích cán bộ có sai phạm, không đủ uy tín từ chức, tuy vậy, chúng ta chưa xây dựng được thiết chế thuận tiện để cán bộ đã từ chức, nghỉ việc quay trở lại làm việc. Thực tế, những cán bộ đã từ chức, nghỉ việc thì rất khó có cơ hội trở lại hệ thống công quyền. Những tấm gương trong lịch sử Từ chức theo Quy định số 41-QĐ/TW ngày 3-11-2021 của Bộ Chính trị “về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ” là việc cán bộ tự nguyện xin thôi giữ chức vụ khi chưa hết nhiệm kỳ hoặc chưa hết thời hạn bổ nhiệm và được cấp có thẩm quyền chấp thuận. Ở một chừng mực nhất định, trong lịch sử dân tộc, văn hóa công vụ về từ chức đã hình thành dù chưa phổ biến. Nó thể hiện lòng tự trọng, giữ phẩm giá của mỗi người. Khi thấy mình không đủ năng lực, không đủ uy tín để lãnh đạo, dẫn dắt, mở đường thì từ chức là cần thiết. Từ chức đúng cũng là tiếng nói phản biện, chống lại cái sai, cái không phù hợp. Lịch sử dân tộc ta đã có những người như thế. Nhà giáo-đại quan Chu Văn An, đại thi hào Nguyễn Trãi, Trình Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm... là những người đã khẳng khái từ quan khi khuyên can triều đình những việc làm sai trái mà không được chấp thuận. Lịch sử dân tộc còn ghi việc nhiều vị quan tướng đã từ quan để phản đối sau khi Vua Tự Đức và triều đình nhà Nguyễn ký các hiệp ước đầu hàng thực dân Pháp. Cũng trong lịch sử các triều đại phong kiến, nhiều bậc danh tướng cầm quân đánh giặc, khi thất bại đã từ chức, tự trói mình chịu tội với triều đình. Thời đại Hồ Chí Minh, vì sự nghiệp lớn lao của cách mạng, nhiều đồng chí giữ các cương vị quan trọng đã sẵn sàng rút lui khỏi chức vụ để thuận lợi cho cách mạng, sẵn sàng từ chức khi thấy mình chưa hoàn thành tốt trọng trách. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa thành lập, khi tổ chức Chính phủ lâm thời, có những đồng chí trong Ủy ban Trung ương Quốc dân Đại hội bầu ra, đáng lẽ cũng tham dự Chính phủ, song các đồng chí ấy đã tự động xin rút, để nhường chỗ cho những nhân sĩ yêu nước nhưng còn ở ngoài Việt Minh. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần phát biểu trước Đảng, trước dân cũng đã đánh giá rất cao công lao và sự hy sinh quyền lợi của các đồng chí đó. Trong quá trình công tác, cũng có nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng tự nguyện xin rút khỏi các vị trí lãnh đạo. Sau sai lầm của cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức đảng, đồng chí Trường Chinh xin từ chức Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã xin rút khỏi Bộ Chính trị. Hay như đồng chí Nguyễn Văn Linh từng xin rút khỏi Bộ Chính trị, nhưng sau đó, với những đóng góp quan trọng cho Đảng, cho đất nước, ông trở lại tham gia Bộ Chính trị rồi trở thành Tổng Bí thư. Ngày nay, có một số cán bộ mạnh dạn từ chức để dành cơ hội cho người khác. Một trong số đó là ông Nguyễn Sự, nguyên Bí thư Thành ủy Hội An (Quảng Nam). Ông Nguyễn Sự từ chức Bí thư Thành ủy trước hai năm của nhiệm kỳ. Việc ông Nguyễn Sự từ chức đã gây sự tiếc nuối với nhiều người vì ông là cán bộ có uy tín, luôn làm việc với tinh thần trách nhiệm cao và không có sai phạm. Trên thực tế, thời gian qua, đã có một số cán bộ giữ các chức vụ quan trọng ở cả Trung ương và địa phương xin từ chức. Phần lớn số cán bộ này từ chức là do có vi phạm khuyết điểm. Dù việc họ từ chức là thể hiện sự chủ động, tuy nhiên việc từ chức sau khi đã nhận hình thức kỷ luật thì tính chất, ý nghĩa cũng khác. Chúng ta cần những cán bộ làm gương như ông Nguyễn Sự, với lời chia sẻ của ông: "Mình đã làm được một thời gian rồi, tư duy của mình không thể tạo ra những cái mới, vì thế, để tạo điều kiện cho lớp trẻ kế tục sự nghiệp của mình và sự nghiệp chung thì tốt nhất nên từ chức...". Cần có “Khoán 100”, “Khoán 10” về từ chức-phục chức Trên thực tế, Đảng, Nhà nước đã có các quy định pháp lý cho việc từ chức. Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII) của Đảng "về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ" xác định phải "xây dựng quy định để việc nhận trách nhiệm, từ chức, từ nhiệm trở thành nếp văn hóa ứng xử của cán bộ". Luật Công chức, viên chức cũng quy định những vấn đề này. Đặc biệt, ngày 3-11-2021, Bộ Chính trị ban hành Quy định 41-QĐ/TW “về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ” và ngày 8-9-2022, Bộ Chính trị tiếp tục ban hành Thông báo số 20-TB/TW Kết luận của Bộ Chính trị “về chủ trương bố trí công tác đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật”. Điểm đáng chú ý, Bộ Chính trị khuyến khích cán bộ bị kỷ luật cảnh cáo hoặc khiển trách mà năng lực hạn chế, uy tín giảm sút tự nguyện xin từ chức. Có thể thấy, những quy định này đã có nội hàm rất rõ khi coi việc từ chức là vấn đề bình thường trong thực thi công vụ. Nó cũng mở đường cho những cán bộ có sai phạm, yếu kém; đồng thời tạo thuận lợi cho những cán bộ muốn từ chức vì những lý do chính đáng khác. Tuy nhiên, trên thực tế, còn một rào cản khác khiến cho cán bộ không dễ dàng từ chức, đó là nếu đã từ chức thì gần như không còn cơ hội để quay lại hệ thống công quyền. Thực tế, các quy định của Đảng không chặn đường tiến của cán bộ đã từ chức. Điểm 2 Điều 10 Quy định số 41-QĐ/TW nêu: “2. Cán bộ đã từ chức và bố trí công tác khác, nếu được cấp có thẩm quyền đánh giá tốt, bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện và khắc phục được những yếu kém, sai phạm, khuyết điểm thì có thể được xem xét để quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử theo quy định”. Dù vậy, trên thực tế vẫn còn quan điểm nặng nề, định kiến khi phục chức, hay thăng chức cho một cán bộ từ chức. Dư luận dường như chưa sẵn sàng chấp nhận điều đó. Có ý kiến cho rằng, cần có một “Khoán 100”, “Khoán 10” trong việc “từ chức-phục chức”. Như đã đề cập, nếu ai đó đã chạy chức thì rất khó để họ từ chức, mà bằng mọi cách để giữ chức. Bởi thế, cần xử lý cương quyết với tình trạng chạy chức. Cùng với thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về cán bộ nêu gương, chống chạy chức, chạy quyền thì điều rất quan trọng là thực hiện các giải pháp để ngăn chặn hành vi này. Từ thực tiễn cho thấy, Đảng phải kiên quyết siết chặt quy trình, quy định về công tác bổ nhiệm cán bộ theo hướng gắn trách nhiệm cụ thể của người đề cử cán bộ và người đứng đầu cấp ủy đề nghị bổ nhiệm. Trường hợp cán bộ có sai phạm trong phạm vi thời gian nhất định thì người đề cử và người đứng đầu cấp ủy đề nghị bổ nhiệm cán bộ đó cũng bị xem xét xử lý kỷ luật. Cùng với đó, cần thực hiện công khai danh sách cán bộ từ quy hoạch đến đề bạt, bổ nhiệm, đánh giá, luân chuyển để quần chúng biết và cùng giám sát. Thực hiện cơ chế cạnh tranh bình đẳng để tuyển chọn những người tài giỏi, trong sạch làm lãnh đạo, quản lý. Và điều quan trọng nhất, phải ban hành được tiêu chuẩn đánh giá cán bộ hằng năm một cách công khai, minh bạch, công bố trong tập thể để giám sát. Những người bị đánh giá hạn chế về năng lực, phẩm chất, không có quy hoạch thì cũng không dễ để chạy chức. Trở lại vấn đề gốc của người cán bộ thì từ chức cần được xem là vấn đề bình thường trong bộ máy công quyền, đúng cả về lý luận và thực tiễn. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhiều lần khẳng định quan điểm xuyên suốt: “Cán bộ là công bộc của dân”; chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ... Chức tước, địa vị của cán bộ thực ra là do nhân dân ủy thác. Khi thấy mình không thể làm tốt vai trò là một công bộc thì từ chức là việc nên làm. Đó không đơn thuần là một hành động mà cần xem nó là văn hóa ứng xử của cán bộ, rất cần thiết dù trong bất cứ môi trường, công việc nào.

Chống mọi biểu hiện sai trái bằng sức mạnh dân tộc

 


Trong điều kiện hiện nay dưới tác động của cơ chế thị trường, mở cửa hội nhập, sự chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, sự phân hóa các tầng lớp xã hội cũng như sự phân hóa giàu nghèo ngày một gia tăng, xuất hiện nhiều nhóm lợi ích khác biệt nhau, thậm chí đôi khi đối lập nhau, thì vấn đề phát huy sức mạnh dân tộc thực sự là một vấn đề nan giải. Bởi vậy, Thường xuyên giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng mới phát huy  hết tiềm năng của sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại bảo đảm cho đất nước không ngừng được củng cố và phát triển.

Thách thứ và nguy cơ

 


Trong tình hình hiện nay thế giới đang biến đổi nhanh chóng và phức tạp, các nhân tố tích cực và tiêu cực đan xen nhau tác động đến mỗi quốc gia, dân tộc. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ 4.0 thúc đẩy xu thế toàn cầu hóa gia tăng mạnh mẽ đồng thời tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức mới cho sự phát triển của các quốc gia, dân tộc. Hòa vào xu thế của thời đại và nhu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Việt Nam tất yếu phải tham gia vào xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Việc tham gia đó tạo điều kiện để nước ta có thể tiếp nhận những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại phục vụ nhu cầu phát triển đất nước. Tuy nhiên, điều đó cũng đặt ra nhiều thách thức và cả nguy cơ cho cách mạng nước ta. Dự báo chính xác tình hình thế giới, khu vực và trong nước trong thời gian tới Đảng ta xác định quan điểm chủ yếu

Dựa vào sức mình là chính

 


Đảng xác định cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc ở mỗi nước phải do chính nhân dân của dân tộc đó tiến hành trên mảnh đất của họ. Đảng đã chủ trương nêu cao ý chí tự lực, tự cường, tinh thần độc lập tự chủ dựa vào sức mình là chính. Đảng ta đã huy động đến mức cao nhất, lực lượng chính trị, quân sự, kinh tế văn hoá, lực lượng vật chất tinh thần có sẵn trong nước. Đảng đã phát động các phong trào thi đua như: “mỗi người làm việc bằng hai”, “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” cùng với lời kêu gọi của Bác Hồ: “Đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào”. Đảng đã rộng rãi tất cả mọi lực lượng có thể tập hợp được từ tiền tuyến đến hậu phương từ nông thôn đến thành thị, nhờ phát huy cao độ sức mạnh trong nước nó đã trở thành sức mạnh thần kỳ, động lực quan trọng đưa đến đại thắng mùa Xuân năm 1975. Đồng thời với đường lối quốc tế đúng đắn, Đảng đã tranh thủ được sự ủng hộ to lớn và hiệu quả của các nước xã hội chủ nghĩa mà nòng cốt là Liên Xô và Trung Quốc với anh em các nước bè bạn năm châu trong đó có cả nhân dân tiến bộ Mỹ. Sự kết hợp của đường lối đúng đắn này là thể hiện sự lết hợp giữa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa Mác - Lênin. Đây là đường lối chính trị - quân sự của Đảng cộng sản Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta

 


Ngay trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận có quan hệ mật thiết với phong trào cách mạng thế giới. Từ đây sức mạnh dân tộc từng bước được kết hợp với sức mạnh thời đại. Đường lối cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân được hoàn chỉnh hướng tới mục tiêu giải phóng dân tộc Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Việt Nam đã đứng về phe Đồng minh chống chủ nghĩa phát xít và Đảng đã tranh thủ được điều kiện thuận lợi làm lên cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng 8 năm 1945 - “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Thành công đó là một phần kết quả từ sự nhạy bén trước xu thế biến đổi của chiến tranh thế giới thứ hai và sự phát triển phong trào cách mạng thế giới. Cách mạng tháng Tám thành công là sự thể hiện sinh động bài học kết hợp sức mạnh to lớn của dân tộc Việt Nam với sức mạnh vĩ đại của thời đại.

Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để bảo vệ Tổ quốc

 


Mỗi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với vai trò của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trước các nhiệm vụ lịch sử, Đảng đã kịp thời xác định đúng đắn, sáng tạo đường lối, chiến lược, sách lược đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Thắng lợi to lớn ấy có rất nhiều nguyên nhân trong đó “Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại” là một trong những nguyên nhân cơ bản, một trong những bài học lớn, đồng thời là vấn đề có tính quy luật trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.  

Cần chống chủ nghĩa chủ quan và phương pháp tư duy siêu hình

 


Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn lĩnh vực quân sự, cần chống chủ nghĩa chủ quan và phương pháp tư duy siêu hình; phải xuất phát từ thực tế khách quan và lấy thực tế khách quan làm căn cứ, làm cơ sở cho mọi hoạt động của mình. V.I.Lênin nhấn mạnh không được lấy ý muốn chủ quan của mình để định ra chính sách, không đ­ược lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến l­ược cách mạng. Nếu xuất phát từ ý muốn chủ quan, lấy ý trí áp đạt cho thực tế thì sẽ rơi vào bệnh chủ quan duy ý chí và nhất định sẽ thất bại trong hoạt động thực tiễn. Từ kinh nghiệm thành công và thất bại trong hoạt động thực tiễn cách mạng, Đảng ta đã rút ra bài học là: “Mọi đ­ường lối chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”. Vì vậy mỗi cán bộ cần học tập, nắm vững phương pháp luận triết học Mác-Lênin để vận dụng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn phát triển nghệ thuật quân sự cho phù hợp.

 

Đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, bảo vệ, phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam lên tầm cao mới

 


Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa nếu xảy ra trong tương lai chắc chắn sẽ rất khác các cuộc chiến tranh trước đây, bởi vì không gian chiến tranh sẽ rộng, chiều sâu lớn; sử dụng nhiều loại vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại với nhiều phương thức và thủ đoạn tác chiến; tiến công quân sự kết hợp với chính trị, ngoại giao, kinh tế… Vì vậy, người cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược vừa phải kiên định, vừa phải vận dụng sáng tạo nghệ thuật, giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn trong những điều kiện và hoàn cảnh mới. Phải dự kiến các loại tình huống và các biện pháp ứng phó ngay từ thời bình.

Xác định sức mạnh để chiến thắng kẻ thù

 


Để đánh giá đúng tương quan so sánh lực lượng giữa ta và địch, cần phải biết xác định sức mạnh để chiến thắng kẻ thù. Đó là sức mạnh tổng hợp của cả lực, thế, thời, mưu. Cùng với quá trình lập thế, phải tìm ra mưu kế hay, biết khéo sử dụng lực lượng, bố trí đội hình thành thế trận hiểm hóc. Đồng thời, thực hiện lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, vận dụng sáng tạo quy luật lượng - chất trong hoạt động quân sự. Lấy chất lượng cao thắng số lượng đông: Các nhà quân sự trong lịch sử đã đúc kết: “Binh mạnh hay yếu không cứ nhiều” và “Cốt dùng tinh binh” trong tác chiến. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Quân đội phải tinh, sức chiến đấu mới mạnh” và “Phải trên cơ sở chất lượng mới có điều kiện sử dụng lực lượng không nhiều mà vẫn giành thắng lợi”. Trong tác chiến hoàn toàn có khả năng thực hiện lấy chất lượng cao, số lượng ít để chiến thắng số lượng đông. Do vậy, yếu tố quyết định là không phải số lượng mà là chất lượng. Chất lượng của quân đội là sự kết tinh của tổng hợp các nhân tố chính trị - tinh thần; vũ khí, trang bị; kỹ, chiến thuật, năng lực chỉ huy và khoa học, nghệ thuật quân sự, nghệ thuật tác chiến, được huấn luyện, diễn tập thuần thục từ thời bình, được chuẩn bị chu đáo, kỹ lưỡng về mọi mặt.

Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng

 


Trong điều kiện hiện nay dưới tác động của cơ chế thị trường, mở cửa hội nhập, sự chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, sự phân hóa các tầng lớp xã hội cũng như sự phân hóa giàu nghèo ngày một gia tăng, xuất hiện nhiều nhóm lợi ích khác biệt nhau, thậm chí đôi khi đối lập nhau, thì vấn đề phát huy sức mạnh dân tộc thực sự là một vấn đề nan giải. Bởi vậy, Thường xuyên giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng mới phát huy hết tiềm năng của sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại bảo đảm cho đất nước không ngừng được củng cố và phát triển.

 

Phòng chống mọi biểu hiện tuyệt đối hóa

 


Phòng chống mọi biểu hiện tuyệt đối hóa. Không được thần thánh hóa sức mạnh dân tộc mà xem nhẹ sức mạnh thời đại, coi việc tìm kiếm những nguồn lực quốc tế là sự lệ thuộc vào nước ngoài, là dẫn tới mất độc lập, mất bản sắc trong phát triển, từ đó dẫn tới bảo thủ, biệt lập và nhất định sẽ đi đến chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi. Cũng không được xem nhân tố quốc tế như cứu cánh cho mọi vấn đề, coi cái gì của bên ngoài đều hay, đều tốt, còn những gì ở trong nước đều là yếu kém, điều này sẽ dẫn tới việc coi nhẹ những giá trị mà chúng ta đã phải đổ bao nhiêu mồ hôi và xương máu mới giành được, dẫn tới xem nhẹ sức mạnh dân tộc, lãng phí nhiều lợi thế nội sinh, vô tình bỏ rơi nhiều di sản quý báu cho sự hưng thịnh của đất nước hiện nay.

SỰ LỰA CHỌN ĐÚNG ĐẮN CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 


Mới đây, trên mạng xã hội “Danlambao” có đưa ra cái gọi là: Nhà văn Nguyên Ngọc: Hồ Chí Minh “sai từ Đại hội Tua”! của Trần Trung Đạo. Với giọng lưỡi đầy hiềm khích, mưu mô, bằng thủ đoạn xảo quyệt, y đã phủ nhận công lao và đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cho rằng, việc Người dẫn dắt Việt Nam lựa chọn con đường Cách mạng Tháng Mười Nga là hoàn toàn sai lầm. Đây là luận điệu hết sức phi lý, sai trái cần được bác bỏ, bởi vì:

ĐƯA CUỘC SỐNG VÀO NGHỊ QUYẾT

 


Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nói chung, đổi mới phương thức lãnh đạo bằng nghị quyết nói riêng, là một nội dung quan trọng được Hội nghị Trung ương 6, khóa XIII của Đảng tập trung thảo luận, gợi mở nhiều vấn đề mới. Đáng chú ý là các đồng chí Trung ương đã thẳng thắn đúc rút: Để sớm đưa nghị quyết vào cuộc sống thì trước hết phải đưa cuộc sống vào nghị quyết!

CẢNH GIÁC VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC MỚI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 


Thời gian gần đây, lợi dụng sự nhẹ dạ, cả tin, tính hiếu kỳ của một bộ phận người dân, các thế lực thù địch phản động, cơ hội chính trị, chống đối cực đoan đã đẩy mạnh thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” tiến công trên các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội. Chúng triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, nhất là mạng internet, các website, blog, tạp chí, tập san, báo, đài phát thanh,…

CẢNH GIÁC VỚI TRÀO LƯU ĐỘC HẠI TRÊN MẠNG XÃ HỘI TikTok

 


Thời gian gần đây, những trào lưu độc hại, phản cảm trên mạng xã hội TikTok ngày càng nở rộ và phát triển tràn lan, gây ra những hậu quả khó lường đối với chính người dùng và xã hội. Khác với Facebook và Youtube, người dùng không mất thời gian truy cập trang và gõ tìm kiếm, thay vào đó những nội dung trên TikTok sẽ tự động tìm đến người dùng. Do đó nếu không tỉnh táo, người sử dụng mạng dễ bị dẫn dắt, lôi cuốn vào các nội dung xấu độc, trào lưu nguy hiểm.

 

BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA VIỆT NAM 
TỪ CHIẾN DỊCH QUÂN SỰ CỦA NGA Ở UKRAINE HIỆN NAY

Kể từ ngày 24/2 khi quân đội Nga tiến hành chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ukraine, nhiều chuyên gia quân sự, chính trị đã tiến hành theo dõi, bình luận, đánh giá. Chúng ta có thể rút ra bài học kinh nghiệm là:

Thứ nhất, kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; duy trì quan hệ cân bằng với các nước lớn; giữ vững nguyên tắc bốn không. Tôn trọng thể diện của nước lớn.

Thứ hai, coi trọng xây dựng quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng, bảo đảm vành đai an ninh trực tiếp của quốc gia.

Thứ ba, làm tốt công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược. Không loại trừ bất kỳ khả năng diễn biến tình hình nào; chuẩn bị sẵn sàng các phương án ứng phó.

Thứ tư, chuẩn bị đầy đủ các nguồn lực, các điều kiện để giành thế chủ động ứng phó với mọi tình huống có thể xảy đến. Sẵn sàng đối diện với hiện thực để kịp thời xử lý mọi sự biến động./.

 

VIỆT NAM LÀ QUỐC GIA BỊ NÉM BOM NHIỀU NHẤT TRONG LỊCH SỬ THẾ GIỚI

 


Trong ảnh là Bản đồ ném bom của Mỹ ở Đông Nam Á và 3 nước Đông Dương trong chiến tranh Việt Nam. Mỗi chấm đen là bom nặng 1000 pounds, tương đương 453 kg.

XỬ LÝ NGHIÊM MỌI HÀNH VI LỢI DỤNG TÔN GIÁO ĐỂ THỰC HIỆN MƯU ĐỒ CHÍNH TRỊ

 


Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật (Điều 24).

Tiếp tục đẩy mạnh học và làm theo "Tư cách một người cách mệnh" để xây dựng và chỉnh đốn Đảng

 


95 năm sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra những yêu cầu về "Tư cách một người cách mệnh", có thể thấy những điều răn đó vẫn rất ý nghĩa, rất thời sự trong quá trình xây dựng đạo đức mới, đạo đức xã hội chủ nghĩa nói chung, xây dựng Đảng về đạo đức nói riêng. Từ những diễn biến phức tạp về đạo đức dưới tác động của nền kinh tế thị trường; từ thực trạng xuống cấp đạo đức trong xã hội nói chung, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng, có thể thấy một trong những nguyên nhân quan trọng của vấn nạn này chính là việc mỗi người, mỗi cán bộ, đảng viên đã không tuân thủ thực hiện nguyên tắc rèn luyện đạo đức cách mạng theo 23 điều răn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu trong tác phẩm Đường Cách mệnh.

Thấm nhuần "tư cách một người cách mệnh" để phòng và chống suy thoái từ sớm, từ xa

 


Tác phẩm Đường Kách mệnh (bìa cuốn sách xuất bản năm 1927 là chữ "Kách", sau này đã dùng chữ "Cách"- Đường Cách mệnh) không phải là cuốn sách chuyên viết về đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, song trên thực tế được xem như tác phẩm đầu tiên của Người nói về đạo đức cách mạng

Tập trung dân chủ là nguyên tắc căn bản của một Đảng Mácxít Lêninnit

 


Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nguyên tắc tập trung dân chủ được hiểu giản dị là, "tập thể lãnh đạo là dân chủ, cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tức là dân chủ tập trung"[1]; và theo đó, “lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc. Phụ trách không do cá nhân, thì sẽ đi đến tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Kết quả cũng là hỏng việc. Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau”[2]. Cho nên, tập trung dân chủ là nguyên tắc rường cột chỉ đạo toàn bộ, xuyên suốt quá trình xây dựng, tổ chức, sinh hoạt và hoạt động lãnh đạo của một Đảng Cộng sản nói chung, Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng; đồng thời, chi phối các nguyên tắc khác, để xây dựng Đảng thành một tổ chức thống nhất, chặt chẽ, kỷ luật; bảo đảm Đảng luôn thống nhất trong tư tưởng và hành động chứ không phải là một câu lạc bộ.

Thực hiện nghiêm ngặt tập trung dân chủ để Đảng thống nhất trong tổ chức và hoạt động

 


Đảng Cộng sản Việt Nam là một khối thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện lãnh đạo tập thể và cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình, thực hiện dân chủ đầy đủ và kỷ luật chặt chẽ trong sinh hoạt đảng. Sức mạnh tổ chức to lớn của Đảng là ở sự thực hiện đầy đủ nguyên tắc này. Tình trạng tập trung quan liêu, gia trưởng độc đoán, không tôn trọng ý kiến cấp dưới hay không phát huy trí tuệ tập thể đễ dẫn đến những quyết định sai lầm hoặc tình trạng cục bộ, vô kỷ luật gây hậu quả tai hại… đều làm suy yếu sự đoàn kết trong Đảng, đều làm cho sự lãnh đạo của Đảng kém hiệu lực. Vì thế, mọi cán bộ, đảng viên đều phải nêu cao tinh thần gương mẫu thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng.

 

NHỮNG PHÁT NGÔN THỂ HIỆN QUYẾT TÂM  PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG QUYẾT LIỆT CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG

Trên cơ sở quyết tâm, đồng lòng, đồng sức đấu tranh phòng, chống tham nhũng ngày càng đi vào chiều sâu và thực chất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Người đứng đầu của Đảng Cộng sản Việt Nam - Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thể hiện đậm nét về ý chí của mình bằng những phát ngôn ấn tượng của thể hiện quyết tâm chống tham nhũng tới cùng của Đảng.

Phát biểu chỉ đạo Hội nghị trực tuyến của Chính phủ với các chính quyền địa phương, ngày 28/12/2017, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: "Kiên quyết đấu tranh loại bỏ những người tham nhũng, hư hỏng; chống mọi biểu hiện chạy chức, chạy quyền, ưu ái tuyển dụng người thân, không đủ tiêu chuẩn"

Tổng Bí thư cũng lưu ý trong quá trình đấu tranh phòng, chống tham nhũng cần phải: "...không chủ quan, thỏa mãn; không say sưa với thành tích, thắng lợi bởi đất nước vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, trong đó có tình trạng "trên nóng, dưới lạnh", "trên bảo dưới không nghe", kỷ cương phép nước bị buông lỏng còn diễn ra ở nhiều nơi...."

 

 

 

 

 

TẦM QUAN TRỌNG CỦA SỰ LỰA CHỌN MỘT NỀN TẢNG
TƯ TƯỞNG DẪN ĐƯỜNG ĐÚNG ĐẮN CHO MỘT CHẾ ĐỘ

 Trong lịch sử phát triển xã hội loài người nói chung, đặc biệt kể từ khi xã hội có giai cấp xuất hiện cho đến nay, lý luận về phát triển giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Trong thế kỷ XX, nhân loại đã từng chứng kiến vai trò tích cực và tiêu cực của nhiều học thuyết. Một thời kỳ dài, lý luận về nhà nước và các học thuyết kinh tế đã giúp cho các cá nhân và quốc gia dưới sự thống trị của giai cấp tư sản thành công và duy trì được vai trò thống trị của mình. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã dẫn đến thành lập các Đảng Cộng sản, Cách mạng Tháng Mười và nước Nga Xô-Viết đã ra đời - nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới - mở ra một thời đại mới cho nhân loại, vạch ra con đường giải phóng dân tộc cho các nước thuộc địa trên thế giới, trong đó có cách mạng Việt Nam. Chủ nghĩa phát xít đã dẫn tới Chiến tranh thế giới thứ II - một thảm họa lớn của nhân loại… Chủ nghĩa tự do cũ và mới, mà Hoa Kỳ là tiêu biểu đã phát triển mạnh mẽ rồi rơi vào khủng hoảng. Chủ nghĩa xã hội dân chủ và “con đường thứ ba” đã và đang tồn tại ở các nước Bắc Âu, Cộng hoà Liên bang Đức… với những thành quả và khó khăn thể hiện trong các cuộc khủng hoảng chính trị - xã hội…sự biến đổi không có điểm dừng của an ninh thế giới hiện tại buộc các nước phải nhanh chóng đưa ra quyết sách của mình một cách mau lẹ và dòi hỏi độ chính xác cao.

Sau khủng hoảng và sụp đổ của của các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu (1989 - 1991), có học giả cho rằng chủ nghĩa xã hội đã đi vào hồi kết. Nhưng cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ nước Mỹ (năm 2007 - 2009) và hiện nay phong trào “Chiếm phố Uôn” nổ ra từ nước Mỹ lan rộng ra các nước tư bản phát triển đã cho người ta thấy chủ nghĩa tư bản sẽ không bao giờ có thể thay đổi bản chất của một xã hội bất công, một xã hội luôn chứa đựng đầy mâu thuẫn. Sự phục hồi ngày càng mạnh mẽ của các nước xã hội chủ nghĩa còn lại: Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba, Lào…và phong trào cánh tả đang lan rộng trên toàn cầulại tiếp tục minh chứng cho sự trường tồn của Chủ nghĩa Mác - Lênin.

Một kinh nghiệm xương máu rút ra từ tiến trình cải tổ, cải cách của các nước xã hội chủ nghĩa trong thập kỷ 80, 90 của thế kỷ XX là đã không phát triển được lý luận mác-xít đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống. Đặc biệt là, các Đảng Cộng sản không đánh giá đúng tầm quan trọng của cuộc đấu tranh trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng, đã du nhập các quan điểm dân chủ, nhân quyền cực đoan của phương Tây, như: đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập… dẫn tới sự sụp đổ một bộ phận quan trọng của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế hiện nay của thế giới. Chúng ta cần tin và sự lựa chọn đúng đắn của Đảng ta, đó là: "Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của mình"[1]. Sự lựa chọn đó đã được Đảng Cộng sản Việt Nam chứng minh sau 92 năm (kể từ khi Đảng ra đời 03/02/1930); 77 năm thành lập nước (02/9/1945). Ngày nay, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải nắm vững, kế thừa và phát triển theo yêu cầu thực tiễn của cuộc sống./.



[1] Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011).

 MỌI NỖ LỰC HẠ THẤP VIỆT NAM ĐỀU LÀ VÔ LÝ


Có một điều buồn cười là các bác lãnh đạo Việt Nam đi ngoại giao khắp thế giới thì chẳng bị nói gì. Nhưng cứ hễ liên quan đi ngoại giao liên quan Trung Quốc thì lại bị vu cho cái tâm thế là "đi chầu" hay "bái kiến thiên triều" rồi nào là bán đảo, nịnh bợ. Vậy ít ngày nữa Thủ tướng Đức sang thăm Trung Quốc có phải là đi “chầu chực” không? Hay Cựu thủ tướng Nhật Suga chọn Việt Nam trong chuyến công du đầu tiên khi nhậm chức có phải là đi “trình diện” trước Việt Nam không?


Trong khi báo chí thế giới trước đó còn đang tiên đoán về nước nào có vinh dự được ông Tập Cận Bình mời thăm đầu tiên sau khi tái đắc cử. Đó có thể là Tổng thống Nga Vladimir Putin - quốc gia đứng hàng cao nhất trong hệ ngoại giao của Trung Quốc, Thủ tướng Pakistan Shehbaz Sharif - quốc gia đồng minh quan trọng nhất của Trung Quốc. Nhưng vị trí này lại thuộc về Việt Nam. Điều này cho thấy vị trí ngoại giao quan trọng của Việt Nam với Trung Quốc.


Hãy thử nghĩ thế này, bạn là người đầu tiên được nhà hàng xóm giàu nhất vùng mời đến tham gia tiệc tân gia, được mời đủ thứ của ngon vật lạ, được tặng quà mang về, được bắn pháo hoa chào mừng khi đến, được đón tiễn trọng thị, được mở ra bao nhiêu cơ hội hợp tác làm ăn, bạn có thấy ngầu không? Lại dám bảo không đi.


Có biết bao nhiêu quốc gia muốn có được vị trí như Việt Nam nhưng mà không được. Cách đây ít hôm, Tổng thống Pháp còn bày tỏ mong muốn đi cùng Thủ tướng Đức đến thăm Trung Quốc vào ngày 04/11 tới nhưng chưa nhận được thu xếp từ nước chủ nhà. Còn lãnh đạo Úc, Canada, Anh… cùng bày tỏ thiện chí tương tự nhưng chưa được bố trí thời gian. Trong khi Việt Nam, cụ thể là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lại được đích thân ông Tập Cận Bình mời, điều này ngay cả các cường quốc cũng khó có được. 


Hôm bác Trọng đáp xuống sân bay Bắc Kinh không đeo khẩu trang thì có đám người nói là không tôn trọng luật pháp Trung Quốc khi nước này vẫn đang chống dịch quyết liệt rồi phao tin là sẽ bị Trung Quốc “ngó lơ”. Nhưng hôm sau, bác Trọng với ông Tập đều không mang khẩu trang tham gia các đại lễ, tay bắt mặt mừng, cùng tiệc trà, cùng ăn uống thăm quan, được trao tặng huân chương cao quý nhất Trung Quốc… thì đám này lại im lặng á khẩu.


Điều buồn cười hơn nữa là lại có đám nào đấy phao tin rằng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sang Trung Quốc để thực hiện “Hội nghị Thành Đô” - cái hội nghị được đồn thổi là có quy định Việt Nam sẽ trở thành một tỉnh tự trị của Trung Quốc vào năm 2020, nhưng bị trễ 2 năm do đại dịch, năm nay sang để thực hiện. Đùa chứ đến những con người ngây thơ, có tư duy bình thường nhất cũng biết rằng cái tin kia chỉ là nhảm ruồi, vậy mà vẫn cố phao tin bằng được thì cũng lạ thật.


Nếu ai tinh ý một chút, có làm việc xuất nhập hàng nhiều, sẽ biết là ngay từ chuyến đi của bác Trọng cũng là lúc Trung Quốc nới lỏng việc xuất nhập hàng, nông sản cửa khẩu giữa bối cảnh phương Tây đang gặp khó khăn kinh tế. Nếu đi ngoại giao mà lại đem lại lợi ích cho nhân dân, cho kinh tế đất nước thì luôn là một điều đáng mừng.


Không phải ngẫu nhiên mà trong những ngày gần đây, ngành ngoại giao Việt Nam đang làm việc hết công suất để nâng cao vị thế nước nhà. Ví dụ như chỉ trong 14 ngày, Việt Nam lần lượt chào đón Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, Thái tử Đan Mạch, Thủ tướng Đức Olaf Scholz và có thể là Tổng thống Joe Biden sang thăm vào cuối tháng 11… 


Quốc gia nào cũng muốn kéo Việt Nam về phía họ, cũng muốn tạo ra sức ảnh hưởng đến Việt Nam. Điều đó cho thấy vị thế đất nước ngày càng được nâng cao, hình ảnh Việt Nam ngày càng được cải thiện, thế giới ngày càng coi trọng Việt Nam hơn và chúng ta sẵn sàng cho những điều đó… Dĩ nhiên là vẫn luôn có những cá nhân, những nhóm người tự nhục luôn cố gắng phủ nhận và hạ thấp những điều như thế này. 


Nhưng dù thế nào, những nỗ lực này đều là vô lý. Việt Nam vẫn sẽ tiến lên mạnh mẽ!



   VAI TRÒ CỦA VIỆC HỌC TẬP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ĐỐI VỚI CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY

Giá trị của lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với vai trò cầm quyền và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, với mỗi cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) và nhân dân Việt Nam đã được chứng minh trong thực tiễn.

Trước thực trạng một bộ phận CB, ĐV lười học LLCT, cùng với việc tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của LLCT, Đảng ta đã ban hành nhiều chủ trương, giải pháp để khắc phục tình trạng này. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng đã chỉ rõ một trong 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay là: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập LLCT; lười học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Nghị quyết cũng chỉ rõ hạn chế: “Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho CB, ĐV về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giảng dạy và học tập nghị quyết của Đảng chưa được coi trọng đúng mức, kém hiệu quả, nội dung và phương pháp giáo dục, truyền đạt chậm đổi mới; chưa tạo được sự thống nhất cao trong nhận thức về tình trạng suy thoái, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và những hậu quả gây ra”.

Trong Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đó là phải tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; phải tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của CB, ĐV về tầm quan trọng của nghiên cứu, học tập LLCT, đề cao trách nhiệm tự học, tự nghiên cứu của cá nhân. Trước đó, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 26-5-2014 về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ lãnh đạo, quản lý, nghị quyết đã khẳng định: Đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ lãnh đạo, quản lý là nhiệm vụ quan trọng của Ðảng.

Đảng ta đã nhiều lần nhấn mạnh quan điểm xuyên suốt, học tập LLCT là nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của CB, ĐV, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT phải luôn bám sát mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ của chiến lược cán bộ và gắn kết chặt chẽ với các khâu trong công tác cán bộ. Bởi thế, đào tạo LLCT phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ gắn với quy định của Đảng về công tác quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, phân cấp quản lý cán bộ... Tránh hiện tượng giao chỉ tiêu, cử cán bộ đi học LLCT theo kiểu “điền vào chỗ trống” khiến người học không có động lực, không thấy đó là nhu cầu thiết thân mà còn gây tốn kém, lãng phí ngân sách, thời gian, công sức. Trên thực tế, một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa quan tâm đúng mức tới việc bồi dưỡng LLCT cho đảng viên, có hiện tượng khoán trắng cho cơ quan tham mưu mà thiếu kiểm tra, giám sát. Việc cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng thành chương trình, kế hoạch tổ chức thực hiện ở một số địa phương, đơn vị còn chung chung, chỉ đạo thiếu quyết liệt, còn trông chờ, ỷ lại cấp trên. Tình trạng bớt thời gian, cắt xén nội dung trong quán triệt, truyền tải nghị quyết của Đảng không hiếm. Điều này đã được Đảng ta chỉ ra. Tuy vậy, những giải pháp để khắc phục ở cơ sở hiện nay là chưa triệt để.

Nhiều cán bộ qua đào tạo LLCT ở các bậc học đã nêu lên một thực trạng, đó là sự trùng lặp nội dung các bậc học, thiếu sự liên thông, tính kế thừa, tính thống nhất giữa các cấp học dẫn đến việc cán bộ phải học nhiều lần một số chuyên đề, học phần. Chương trình đào tạo vẫn còn nặng về lý thuyết, kinh viện mà chưa có bổ sung thấu đáo về tính thực tiễn. Đúng như tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ ra: “Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa có chiều sâu, không theo kịp tình hình thực tế”. Như vậy, phải có nghiên cứu thấu đáo việc đưa chương trình, nội dung vào giảng dạy ở các bậc học. Đây cũng là vấn đề lớn mà Đảng, Nhà nước, hệ thống các cơ sở đào tạo cần quan tâm, tìm ra phương thức hợp lý.