Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nói chung, đổi mới phương thức lãnh đạo bằng nghị quyết nói riêng, là một nội dung quan trọng được Hội nghị Trung ương 6, khóa XIII của Đảng tập trung thảo luận, gợi mở nhiều vấn đề mới. Đáng chú ý là các đồng chí Trung ương đã thẳng thắn đúc rút: Để sớm đưa nghị quyết vào cuộc sống thì trước hết phải đưa cuộc sống vào nghị quyết!
Có nghĩa là phải lấy thực tiễn làm căn cứ, cơ
sở quan trọng để xây dựng nghị quyết; là môi trường, điều kiện vận hành nghị
quyết; đồng thời là thước đo, chân lý kiểm nghiệm tính khả thi, hiệu quả lãnh
đạo bằng nghị quyết.
Thời gian qua, không ít tổ chức cơ sở đảng xây
dựng nghị quyết chủ yếu bám vào chủ trương, giải pháp của cấp trên và xem đó
như một căn cứ duy nhất và cao nhất. Nói cách khác là nghị quyết cấp trên xác
định thế nào thì cấp dưới cứ thế “sao chụp”, mà quên rằng thực tiễn mới là căn
cứ quan trọng hàng đầu. Thành thử, ở nhiều nơi, nghị quyết khi được ban hành
thường có nội dung chung chung, phương phưởng; dù “đúng” đường lối, nhưng chưa
“trúng” với đòi hỏi thực tiễn.
Để nghị quyết sát thực tiễn, việc hết sức quan
trọng là tổ chức đảng nơi ấy phải xác định bằng được, rằng địa phương, cơ quan,
đơn vị mình đang cần gì, khả năng lãnh đạo đến đâu, dự báo kết quả đạt được như
thế nào, vấn đề lãnh đạo trọng tâm, những ưu tiên trước mắt và chiến lược lâu
dài... Có nghĩa, tinh thần nghị quyết tất yếu phải bám sát chủ trương của trên,
nhưng chất liệu thực tiễn mới là phần lõi của nội dung nghị quyết. Khảo sát một
số tỉnh ở địa bàn Tây Nguyên cho thấy, nhiều đảng bộ cấp huyện, xã có xu hướng
quy kết con số phần trăm (%) về con số thực trên thực tế gắn với địa bàn. Ví
như, nghị quyết cấp trên xác định phải giảm 5% hộ nghèo/năm thì về đến cấp
huyện, cấp xã phải cụ thể 5% ấy tương ứng với bao nhiêu hộ trên địa bàn; rồi
cân nhắc xem có nâng lên hay hạ xuống về chỉ tiêu hay không; thực hiện số lượng
ấy bằng cách nào... Cũng ở những địa phương này, con số phần trăm được nhìn
nhận, đánh giá hết sức linh hoạt, phù hợp. Đều đạt 1% chỉ tiêu, nhưng ở địa
phương này là một thành tích đáng ghi nhận; nhưng tại nơi khác thì đó là khuyết
điểm lớn trong công tác lãnh đạo. Có nghĩa, kết quả lãnh đạo được đánh giá thực
chất, chứ không cào bằng.
Công bằng mà nói, đưa thực tiễn vào nghị quyết
là việc khó, đòi hỏi sự linh động, sáng tạo, cho nên khi chủ trương đã được
quyết nghị, ban hành thì không cứ xem đó là “chiếu lệnh” để bằng mọi giá hiện
thực một cách cứng nhắc; hoặc dùng các thủ thuật để thổi phồng thành tích, hòng
"báo công" hay "tự đắc" rằng tổ chức mình đã lãnh đạo hoàn
thành 100% chỉ tiêu. Đó là tư duy và cách làm sai lệch, thậm chí là vi phạm quy
định, kỷ luật Đảng. Theo nghĩa đó, nghị quyết dù đã ban hành, nhưng phải căn cứ
vào diễn biến thực tiễn để không ngừng nghiên cứu, hoàn thiện, bổ sung, điều
chỉnh... sao cho thật hợp lý, có tính khả thi cao.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét