Đảng Cộng sản Việt Nam là một khối thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện lãnh đạo tập thể và cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình, thực hiện dân chủ đầy đủ và kỷ luật chặt chẽ trong sinh hoạt đảng. Sức mạnh tổ chức to lớn của Đảng là ở sự thực hiện đầy đủ nguyên tắc này. Tình trạng tập trung quan liêu, gia trưởng độc đoán, không tôn trọng ý kiến cấp dưới hay không phát huy trí tuệ tập thể đễ dẫn đến những quyết định sai lầm hoặc tình trạng cục bộ, vô kỷ luật gây hậu quả tai hại… đều làm suy yếu sự đoàn kết trong Đảng, đều làm cho sự lãnh đạo của Đảng kém hiệu lực. Vì thế, mọi cán bộ, đảng viên đều phải nêu cao tinh thần gương mẫu thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng.
Trong toàn Đảng,
những vấn đề cơ bản, quan trọng (chủ trương, nghị quyết của tổ chức đảng, cơ
quan, đơn vị về thực hiện nhiệm vụ chính trị; công tác cán bộ, công tác nhân sự
cấp ủy, cơ quan…) đều phải được dân chủ thảo luận trong tập thể cấp ủy, lãnh
đạo cơ quan, tổ chức đảng từ cao đến thấp theo phạm vi, quyền hạn được xác
định. Quyết định của cấp ủy được quyết định theo đa số và ý kiến thiểu số vẫn
được bảo lưu để trình cấp trên xem xét, nhưng khi nghị quyết đã ban hành, thì
mọi đảng viên đều phải đồng lòng nói và làm theo nghị quyết. Trong toàn Đảng,
mọi cấp uỷ đều thực hiện sự lãnh đạo tập thể (được bàn bạc và quyết định tập
thể) đi đôi với tăng cường trách nhiệm cá nhân; "mọi cấp uỷ viên có quyền
và có trách nhiệm phát biểu ý kiến, tranh luận thẳng thắn, tham gia các quyết
định của cấp uỷ. Chống mọi biểu hiện độc đoán, gia trưởng, áp đặt ý kiến cá
nhân, hoặc nể nang, né tránh”[1].
Trong công tác
lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện, Đảng xác định tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ
trách có mối quan hệ chặt chẽ với nhau; trong đó, "tập thể lãnh đạo không
phủ nhận trách nhiệm cá nhân, trái lại phải trên cơ sở phát huy đầy đủ trách
nhiệm cá nhân. Mọi cá nhân trên cương vị của mình phải chủ động đóng góp ý kiến
với tập thể để tập thể có được quyết định chính xác, và dám chịu trách nhiệm
trong việc chấp hành các nghị quyết của tập thể, dám tự phê bình và thành khẩn
nhận khuyết điểm của mình trong việc chấp hành các nghị quyết ấy”[2]. Đồng thời, mọi cấp ủy từ Trung ương đến địa phương đều quán
triệt sâu sắc rằng, bất cứ người đứng đầu nào cũng không được lợi dụng, lạm
dụng quyền lực của mình (được bầu, được trao) để mưu cầu lợi ích cá nhân, nhóm
lợi ích và "bất cứ người lãnh đạo nào cũng không được tự đặt mình ra ngoài
tổ chức, tự cho mình quyền nói và làm khác quyết định của tập thể. Cấp dưới, dù
cho người đứng đầu là ủy viên Trung ương, cũng không thể tự cho mình quyền
không thi hành hoặc làm trái chỉ thị của cấp trên. Tăng cường sự lãnh đạo tập
thể, mở rộng sinh hoạt dân chủ”[3].
Vì vậy, mọi hiện
tượng, biểu hiện “bằng mặt nhưng không bằng lòng”, "nói một đàng nhưng làm
một nẻo", "nói trong hội nghị khác nhưng phản ánh lên cấp trên
khác" hoặc lợi dụng tập trung dân chủ vì mục đích không chính đáng… đều là
những hạn chế cần phải khắc phục trong quá trình thực hiện nguyên tắc tập trung
dân chủ; đều là trái với nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Những
hạn chế này vừa không khuyến khích người đứng đầu nhiệt tình, tâm huyết, dám
nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, lại vừa tạo kẽ hở cho cách làm việc tắc
trách, trì trệ hoặc lạm dụng quyền lực một cách tinh vi để mưu cầu lợi ích cá
nhân; đồng thời, cũng dễ tạo kẽ hở cho các phần tử phản động, cơ hội xuyên tạc,
công kích, chống phá Đảng.
Thực tế ở Việt
Nam, việc mở rộng sinh hoạt dân chủ trong Đảng, nâng cao chất lượng sinh hoạt
của các cấp ủy, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát gắn liền
với việc không ngừng hoàn thiện, thực hiện tốt hơn, có hiệu quả hơn nguyên tắc
tập trung dân chủ; tiếp tục xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa lãnh đạo tập trung
và phát huy dân chủ, bảo đảm để nguyên tắc tập trung dân chủ không chỉ được
thực hiện nghiêm trong Đảng mà đã và đang trở thành nguyên tắc quản lý
của một xã hội văn minh, hiện đại, nhằm xây dựng đất nước Việt Nam phồn
vinh, hạnh phúc, phát triển bền vững.
Trong 77 năm qua,
dân chủ xã hội chủ nghĩa không phải chỉ dừng lại ở khẩu hiệu mà ngày càng trở
thành hiện thực sinh động, nhất là trong hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc
tế. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được thực thi; nhân dân là người làm chủ xã hội,
được thụ hưởng những thành quả của mình tạo ra đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
khẳng định: "NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao
nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của
dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã
đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ
chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”[4]…
Cùng với thời
gian, chế độ dân chủ, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực
thực sự thuộc về nhân dân ở Việt Nam ngày càng hoàn thiện hơn gắn với kỷ luật,
kỷ cương; được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm và được phổ
biến sâu rộng đến mọi người dân. Việc thực hành dân chủ trong Đảng có ý nghĩa
quyết định đối với phát triển dân chủ trong tổ chức, hoạt động của cả hệ thống
chính trị gắn với dân chủ hóa đời sống xã hội, bởi dân chủ tạo sự đồng thuận xã
hội và đồng thuận xã hội tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng
vào bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát
triển năm 2011) tiếp tục nhất quán mục tiêu xã hội xã hội chủ nghĩa
mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh; do nhân dân làm chủ; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; xây dựng
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Gần đây nhất, bài
viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ngày
16/5/2021 cũng đã tiếp tục khẳng định và làm rõ: Dân chủ là bản chất của chế độ
xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội nói chung, ở Việt Nam nói riêng. Dân chủ vừa là bản chất vừa là
động lực; đồng thời, cũng chính là mục tiêu của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân kiên định xây dựng trong suốt 9 thập niên
qua. Đó là sự thật và sự thật này đã được kiểm chứng bởi lịch sử Việt Nam hiện
đại; bởi sự tin tưởng, ủng hộ, đi theo của các tầng lớp nhân dân; bởi sự ghi
nhận của các tổ chức quốc tế.
Nghiêm ngặt thực
hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, đoàn
kết, thống nhất trong tư tưởng và hành động; đảm bảo lãnh đạo và tổ chức thực
hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước vào cuộc sống. Vì thế, bất cứ sự buông lỏng nào trong việc thực hiện
nguyên tắc tập trung dân chủ cũng sẽ dẫn đến tình trạng vô chính phủ, tạo ra
phe phái, lực lượng đối lập với Đảng, phá hoại sự đoàn kết, thống nhất trong
Đảng!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét