Thứ Năm, 12 tháng 1, 2023

10 NĂM BỀN BỈ PHÒNG, CHỐNG “GIẶC NỘI XÂM”


Cách đây tròn 10 năm, không khí đón Xuân Quý Mùi 2013 của các địa phương trên mọi miền Tổ quốc khá vui vẻ so với năm trước đó bởi kinh tế đất nước trong năm Nhâm Ngọ 2012 tăng trưởng khá cao, đời sống của nhân dân sau 2 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XI đã được cải thiện đáng kể. Thế nhưng người dân vẫn còn băn khoăn, lo lắng bởi “quốc nạn tham nhũng” chưa được đầy lùi. Chính vì vậy, vào giáp Tết Nguyên đán Quý Mùi, khi nhận được thông tin, Bộ Chính trị có Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng ban, nhân dân khắp cả nước đều phấn khởi. Quyết định này được ban hành ngày 1-2-2013, tức ngày 21 tháng chạp năm Nhâm Ngọ. Ba ngày sau, tức ngày 4-2-2013, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã họp phiên đầu tiên (phiên thứ Nhất), dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Mở đầu phiên họp, đồng chí Tô Huy Rứa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương đã công bố Quyết định số 162-QĐ/TW ngày 1-2-2013 của Bộ Chính trị về việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng. Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị, gồm 16 thành viên. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng ban. 5 Phó Trưởng ban gồm các đồng chí: Lê Hồng Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư; Ngô Văn Dụ, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương; Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ (nay là Chủ tịch nước); Uông Chu Lưu, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội; Nguyễn Bá Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương.
Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng có 9 nhiệm vụ: Tham mưu, đề xuất với Bộ Chính trị, Ban Bí thư xem xét, quyết định chủ trương, định hướng về cơ chế, chính sách, pháp luật, giải pháp phòng, chống tham nhũng. Thảo luận, quyết định các nội dung công tác trọng tâm, chương trình làm việc hằng năm và kế hoạch triển khai thực hiện các nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng. Chỉ đạo, đôn đốc, điều hòa phối hợp các cấp ủy, tổ chức đảng hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc triển khai các nghị quyết, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng. Chỉ đạo cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương thông qua hoạt động thuộc phạm vi trách nhiệm của mình làm rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh tham nhũng, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để xảy ra tham nhũng; những sơ hở, bất hợp lý về cơ chế, chính sách, pháp luật để kiến nghị, yêu cầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị và người có thẩm quyền đưa ra biện pháp ngăn ngừa, khắc phục. Chỉ đạo các cấp ủy và tổ chức đảng trực thuộc Trung ương phối hợp kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra trong phòng, chống tham nhũng; chỉ đạo đôn đốc điều tra, truy tố, xét xử đối với vụ, việc tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp hoặc dư luận xã hội đặc biệt quan tâm. Chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương và cấp ủy viên, đảng viên có thẩm quyền trong xử lý khiếu nại, tố cáo về hành vi tham nhũng và xử lý các thông tin về vụ, việc tham nhũng do các cá nhân, tổ chức phát hiện, cung cấp. Chỉ đạo định hướng thông tin tuyên truyền về phòng, chống tham nhũng; chỉ đạo xử lý vi phạm quy định về quản lý, cung cấp thông tin và những hành vi lợi dụng việc tuyên truyền về phòng, chống tham nhũng để vu khống, gây mất đoàn kết nội bộ.
Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng còn có trách nhiệm chỉ đạo Ban cán sự Đảng Chính phủ, Ban cán sự Đảng Tòa án nhân dân tối cao, Ban cán sự Đảng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Ban cán sự Đảng Thanh tra Chính phủ, Ban cán sự Đảng Kiểm toán Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương và các cơ quan có liên quan báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng; việc xử lý những vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp hoặc dư luận xã hội đặc biệt quan tâm. Tổ chức sơ kết, tổng kết và định kỳ hoặc đột xuất báo cáo với Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tình hình, kết quả công tác phòng, chống tham nhũng và việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chỉ đạo.
Tại phiên họp, nhiều thành viên Ban Chỉ đạo đã đóng góp ý kiến về chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo và các thành viên Ban Chỉ đạo; dự kiến phân công nhiệm vụ các thành viên; Chương trình công tác năm 2013 của Ban Chỉ đạo; một số vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp cần quan tâm chỉ đạo, đôn đốc giải quyết; báo cáo tình hình công tác phòng, chống tham nhũng thời gian qua, định hướng nhiệm vụ trong thời gian tới…
Phát biểu kết luận phiên họp, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ: Phòng, chống tham nhũng là công việc vô cùng hệ trọng, liên quan đến sự bền vững của chế độ nhưng cực kỳ khó khăn, phức tạp vì liên quan đến lợi ích vật chất, tiền tài, danh vọng, liên quan đến chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, động chạm đến những người có chức, có quyền.
Chính vì vậy, Đảng, Nhà nước ta đã làm nhiều lần, làm quyết liệt nhiều việc, nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm và phải làm lâu dài, làm quyết liệt hơn nữa, kiên trì, bền bỉ, không thể nóng vội. Việc thành lập Ban Chỉ đạo lần này với mong muốn đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, vừa kế thừa những cái đã có trước, vừa có những điểm mới bổ sung, phát triển.
Đồng chí Tổng Bí thư lưu ý: Đối với những vụ án lớn, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng không sa vào xử lý từng vụ án cụ thể, không làm thay chức năng của cơ quan nhà nước; chỉ giám sát việc xử lý các vụ việc; phối hợp với các ngành, các cấp, đôn đốc làm đúng chức năng nhiệm vụ, theo quy định của pháp luật; cho định hướng chỉ đạo đối với một số vụ trọng điểm, phức tạp, để kéo dài, hoặc có ý kiến khác nhau. Mỗi thành viên, mỗi cán bộ làm việc trong lĩnh vực này phải hết sức gương mẫu, liêm, dũng, chính, trực, tức là phải trong sạch, dũng cảm, ngay thẳng, công tâm, trung thực. Bản thân mỗi đồng chí và cả gia đình, vợ, con, phải giữ gìn sự trong sạch, rồi mới chống tham nhũng được, nếu không nói chẳng ai nghe, tay đã nhúng chàm thì không thể làm gì khác được.
Mười năm qua, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã họp hơn hai chục lần. Mỗi lần họp, quân và dân cả nước lại trông mong, chờ đợi những quyết sách lớn, làm tăng thêm niềm tin của quần chúng nhân dân với Đảng. Năm 2022 vừa qua, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã được bổ sung thêm nhiệm vụ là phòng, chống tiêu cực. Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng thành lập xong Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh.
Dù các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội chính trị có ra sức xuyên tạc sự thật về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng ta, nhưng sự thật vẫn là sự thật. Nhân dân đang kỳ vọng vào năm mới 2023, công cuộc phòng, chống “giặc nội xâm” của chúng ta sẽ thu được kết quả cao hơn, đánh dấu mốc 10 năm thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng./.
ST
Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết '1 KIÊN QUYÊT, KIÊN TRÌ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG GäP PHẦN XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG SẠCH, VŨNG MẠNH PE'

“LẤY NHỎ THẮNG LỚN, LẤY ÍT ĐỊCH NHIỀU, LẤY YẾU ĐÁNH MẠNH” LÀ NỘI DUNG CHỦ ĐẠO, NÉT ĐỘC ĐÁO CỦA NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM NHẰM PHÁT HUY TRÍ TUỆ, Ý CHÍ, SỨC MẠNH CỦA TOÀN DÂN, CŨNG NHƯ KHẢ NĂNG ĐỘNG VIÊN CẢ NƯỚC ĐÁNH GIẶC VỚI LỰC LƯỢNG VŨ TRANG LÀM NÒNG CỐT; ĐỒNG THỜI, GIẢI QUYẾT HỢP LÝ CÁC YẾU TỐ THIÊN THỜI - ĐỊA LỢI - NHÂN HÒA, LỰA CHỌN, VẬN DỤNG CÁCH ĐÁNH LINH HOẠT, SÁNG TẠO ĐỂ GIÀNH CHIẾN THẮNG. TRONG LỊCH SỬ CHỐNG GIẶC NGOẠI XÂM, DÂN TỘC VIỆT NAM THƯỜNG PHẢI ĐƯƠNG ĐẦU VỚI CÁC THẾ LỰC XÂM LƯỢC MẠNH HƠN TA RẤT NHIỀU LẦN. VÌ VẬY, LỰA CHỌN ĐƯỜNG LỐI CHIẾN TRANH NHÂN DÂN LÀ SỰ LỰA CHỌN DUY NHẤT ĐÚNG CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ NHÂN DÂN TA; TRONG ĐÓ “LẤY NHỎ THẮNG LỚN, LẤY ÍT ĐỊCH NHIỀU, LẤY YẾU ĐÁNH MẠNH” LÀ NỘI DUNG NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ CHỦ ĐẠO, PHÙ HỢP VỚI CÁC ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH LỊCH SỬ CỦA ĐẤT NƯỚC, DÂN TỘC. NGHỆ THUẬT ĐÓ KHÔNG NHỮNG TRỞ THÀNH TRUYỀN THỐNG ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC, MÀ CÒN THỂ HIỆN TÍNH NHÂN ĐẠO, NHÂN VĂN SÂU SẮC CỦA VĂN HÓA QUÂN SỰ VIỆT NAM. HIỆN NAY, CÓ MỘT SỐ CUỐN SÁCH VIẾT LÀ TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ, CÓ VĂN BẢN VIẾT LÀ QUAN ĐIỂM QUÂN SỰ, THEO CHÚNG TÔI, GỌI NHƯ THẾ NÀO CÒN TÙY THUỘC VÀO QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU KHI KHAI THÁC NỘI HÀM CHỦ ĐẠO NÀY CỦA NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ. BÀI VIẾT NÀY ĐƯA RA MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ “LẤY NHỎ THẮNG LỚN, LẤY ÍT ĐỊCH NHIỀU, LẤY YẾU ĐÁNH MẠNH” VỚI TƯ CÁCH LÀ NỘI DUNG CƠ BẢN, BAO TRÙM CỦA NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ, CÓ TÍNH CHẤT NHƯ LÀ TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠO CÁC HOẠT ĐỘNG CHUẨN BỊ VÀ TIẾN HÀNH THẮNG LỢI CHIẾN TRANH NHÂN DÂN VIỆT NAM THEO NGHĨA RỘNG, ĐẶC BIỆT LÀ TRONG CHỈ ĐẠO CÁC HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ, KHÔNG NÊN HIỂU THEO NGHĨA HẸP, ĐƠN THUẦN VỀ SỬ DỤNG LỰC LƯỢNG. 1. TẠO NGUỒN SỨC MẠNH GIỮ NƯỚC TRONG NHÂN DÂN, THỰC HIỆN CẢ NƯỚC ĐÁNH GIẶC VỚI LỰC LƯỢNG VŨ TRANG LÀM NÒNG CỐT TẠO NGUỒN SỨC MẠNH TRONG NHÂN DÂN, PHÁT ĐỘNG ĐƯỢC CẢ NƯỚC ĐÁNH GIẶC LÀ MỘT TRONG NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHỆ THUẬT “LẤY NHỎ THẮNG LỚN, LẤY ÍT ĐỊCH NHIỀU, LẤY YẾU ĐÁNH MẠNH”. TRONG LỊCH SỬ CHỐNG GIẶC NGOẠI XÂM, TỔ TIÊN TA LUÔN COI TRỌNG VÀ LẤY DÂN LÀM GỐC, DỰA VÀO SỨC MẠNH NƠI DÂN, COI SỰ ĐỒNG LÒNG, ỦNG HỘ CỦA NHÂN DÂN LÀ THÀNH TRÌ VỮNG CHẮC NHẤT - “CHÚNG CHÍ THÀNH THÀNH”. KHƠI DẬY LÒNG TỰ HÀO, TỰ TÔN DÂN TỘC, TINH THẦN YÊU NƯỚC NỒNG NÀN, CHÍ CĂM THÙ GIẶC SÂU SẮC, TÍNH CỐ KẾT CỘNG ĐỒNG, Ý CHÍ KIÊN CƯỜNG, BẤT KHUẤT ĐỂ THỰC HIỆN CẢ NƯỚC ĐÁNH GIẶC - “CỬ QUỐC NGHÊNH ĐỊCH”. THỜI NHÀ TRẦN ĐỀ CAO TƯ TƯỞNG “VUA TÔI ĐỒNG LÒNG, ANH EM HÒA THUẬN, CẢ NƯỚC GÓP SỨC”, “KHOAN THƯ SỨC DÂN LÀM KẾ SÂU RỄ BỀN GỐC”; THỜI HẬU LÊ LÀ TƯ TƯỞNG: “CHỞ THUYỀN LÀ DÂN, LẬT THUYỀN CŨNG LÀ DÂN”, TẤT CẢ ĐỀU HƯỚNG ĐẾN MỤC TIÊU HUY ĐỘNG ĐƯỢC TOÀN THỂ NHÂN DÂN THAM GIA ĐÁNH GIẶC VỚI TINH THẦN “GIẶC ĐẾN NHÀ ĐÀN BÀ CŨNG ĐÁNH”. CHỈ CÓ TOÀN DÂN ĐÁNH GIẶC MỚI TẠO ĐƯỢC THẾ TRẬN “LÀNG - NƯỚC”, CÓ THỂ ĐÁNH ĐƯỢC GIẶC TRÊN KHẮP ĐẤT NƯỚC, ĐÁNH Ở PHÍA TRƯỚC, BÊN SƯỜN, PHÍA SAU VÀ TRONG LÒNG ĐỊCH, V.V. THỰC TIỄN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN MÔNG - NGUYÊN XÂM LƯỢC, VƯƠNG TRIỀU NHÀ TRẦN RA LỜI HIỆU TRIỆU: TẤT CẢ CÁC CHÂU, PHỦ, HUYỆN, HƯƠNG, Xà TRONG CẢ NƯỚC, NẾU CÓ GIẶC NGOÀI ĐẾN, PHẢI LIỀU CHẾT MÀ ĐÁNH. NẾU SỨC KHÔNG ĐỊCH NỔI THÌ CHO PHÉP LẨN TRÁNH VÀO RỪNG NÚI, KHÔNG ĐƯỢC ĐẦU HÀNG. KHI CUỘC KHÁNG CHIẾN KẾT THÚC, LÚC XÉT CÔNG, ĐỊNH TỘI, TRIỀU ĐÌNH THẤY CÓ HAI HƯƠNG LÀ BA ĐIỂM VÀ BĂNG HÀ (Ở PHÍA ĐÔNG VẠN KIẾP) Đà KHÔNG TỔ CHỨC THAM GIA ĐÁNH GIẶC KHI QUÂN CỦA Ô Mà NHI KÉO ĐẾN, BÈN XỬ TỘI ĐỒ, NGƯỜI DÂN Ở HAI HƯƠNG ĐÓ ĐỜI ĐỜI KHÔNG ĐƯỢC LÀM QUAN. TRONG LỊCH SỬ DỰNG NƯỚC VÀ GIỮ NƯỚC, BÀI THƠ THẦN CỦA LÝ THƯỜNG KIỆT, HỊCH TƯỚNG SĨ CỦA HƯNG ĐẠO VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN, BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO CỦA NGUYỄN TRÃI HAY LỜI KÊU GỌI TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH ĐỀU LÀ NHỮNG ÁNG HÙNG VĂN, Đà KHƠI DẬY TINH THẦN YÊU NƯỚC, Ý CHÍ KIÊN CƯỜNG, BẤT KHUẤT CỦA CẢ NƯỚC ĐỨNG LÊN ĐÁNH ĐUỔI QUÂN XÂM LƯỢC. TUY NHIÊN, DÂN TỘC VIỆT NAM CŨNG CÓ NHỮNG BÀI HỌC ĐẮT GIÁ DẪN ĐẾN MẤT NƯỚC DO LÒNG DÂN KHÔNG THUẬN. ĐIỂN HÌNH LÀ DƯỚI TRIỀU HỒ, MẶC DÙ CÓ QUÂN ĐỘI MẠNH, VŨ KHÍ TỐT, THÀNH CAO, HÀO SÂU ĐỂ CHỐNG GIẶC, NHƯNG LẠI KHÔNG ĐƯỢC NHÂN DÂN ỦNG HỘ DẪN ĐẾN MẤT NƯỚC. ĐIỀU ĐÓ ĐƯỢC THỂ HIỆN QUA CÂU NÓI ĐẦY ĐAU XÓT CỦA HỒ NGUYÊN TRỪNG: “THẦN KHÔNG SỢ ĐÁNH, CHỈ SỢ LÒNG DÂN KHÔNG THEO”. CÙNG VỚI CẢ NƯỚC ĐÁNH GIẶC, NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ “LẤY NHỎ THẮNG LỚN, LẤY ÍT ĐỊCH NHIỀU, LẤY YẾU ĐÁNH MẠNH” CŨNG CHỈ RA RẰNG, CẦN PHẢI CÓ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG LÀM NÒNG CỐT. VÌ VẬY, XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG VỮNG MẠNH, LÀM NÒNG CỐT CHO TOÀN DÂN ĐÁNH GIẶC LÀ NHIỆM VỤ CƠ BẢN, QUAN TRỌNG CÓ Ý NGHĨA QUYẾT ĐỊNH TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC. TRONG THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH, ĐẢNG TA XÁC ĐỊNH, XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG BA THỨ QUÂN LÀM NÒNG CỐT CHO TOÀN DÂN ĐÁNH GIẶC. ĐÂY LÀ SỰ KẾ THỪA TRUYỀN THỐNG GIỮ NƯỚC QUÝ BÁU CỦA DÂN TỘC. TRONG LỊCH SỬ NƯỚC NHÀ, TỔ TIÊN TA CŨNG Đà XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHIỀU THỨ QUÂN: QUÂN TRIỀU ĐÌNH (CHỦ LỰC); QUÂN CÁC LỘ, PHỦ, CHÂU; QUÂN CỦA CÁC VƯƠNG HẦU, QUÝ TỘC; DÂN BINH, THỔ BINH TRONG CÁC LÀNG, XÃ,… TỰU CHUNG LẠI CÓ QUÂN ĐỊA PHƯƠNG (TẠI CHỖ) VÀ QUÂN CHỦ LỰC (CƠ ĐỘNG). QUÂN ĐỊA PHƯƠNG ĐƯỢC XÂY DỰNG MẠNH, RỘNG KHẮP, ĐỦ SỨC LÀM NÒNG CỐT CHO NHÂN DÂN Ở CÁC ĐỊA PHƯƠNG ĐÁNH GIẶC. QUÂN CHỦ LỰC XÂY DỰNG THEO QUAN ĐIỂM “NGỤ BINH Ư NÔNG”, “QUÂN CỐT TINH, KHÔNG CỐT NHIỀU” ĐỦ SỨC CƠ ĐỘNG THỰC HIỆN CÁC ĐÒN ĐÁNH TIÊU DIỆT CÓ TRỌNG ĐIỂM. BÊN CẠNH ĐÓ, QUÂN ĐỘI PHẢI CHÍNH NGHĨA, CÓ Ý CHÍ, QUYẾT TÂM CHIẾN ĐẤU CAO, NHƯ THỜI NHÀ TRẦN, QUÂN SĨ Đà THÍCH HAI CHỮ “SÁT THÁT” LÊN CÁNH TAY ĐỂ THỂ HIỆN QUYẾT TÂM DIỆT GIẶC. PHẢI HUẤN LUYỆN QUÂN SĨ TINH THÔNG VÕ NGHỆ, “TẬP DƯỢT CUNG TÊN KHIẾN NGƯỜI NGƯỜI GIỎI NHƯ BÀNG MÔNG, NHÀ NHÀ ĐỀU LÀ HẬU NGHỆ”, LẠI PHẢI NẮM VỮNG BINH PHÁP. XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI CÓ TINH THẦN ĐOÀN KẾT, “PHẢI ĐẠT ĐƯỢC QUÂN ĐỘI ĐỒNG LÒNG NHƯ CHA CON MỘT NHÀ”1, “TƯỚNG SĨ MỘT LÒNG PHỤ TỬ, HÒA NƯỚC SÔNG CHÉN RƯỢU NGỌT NGÀO” CÓ THẾ MỚI DÙNG ĐƯỢC. LẠI PHẢI CHỌN DÙNG TƯỚNG GIỎI ĐỂ CHỈ HUY QUÂN SĨ, “TRONG QUÂN CÓ NGƯỜI ỐM, TƯỚNG PHẢI THÂN HÀNH ĐEM THUỐC ĐIỀU TRỊ, QUÂN CÓ NGƯỜI CHẾT TƯỚNG PHẢI KHÓC THƯƠNG, QUÂN ĐI THÚ XA THÌ SAI VỢ CON ĐẾN NHÀ THĂM HỎI”, SONG “TƯỚNG DŨNG CÓ THỂ GIÚP ĐƯỢC VIỆC ĐÁNH THÀNH HÃM TRẬN, NHƯNG LIỆU TÍNH VIỆC ĐỊCH, CHIA ĐẶT QUÂN KỲ, LÂM CƠ ỨNG BIẾN NẾU KHÔNG CÓ TƯỚNG TRÍ THÌ KHÔNG ĐƯỢC. MÀ KẺ DŨNG THÌ THƯỜNG KÉM KẺ MƯU”2. DO ĐÓ, KHI “LẤY NHỎ THẮNG LỚN, LẤY ÍT ĐỊCH NHIỀU, LẤY YẾU ĐÁNH MẠNH” BÊN CẠNH NHỮNG TƯỚNG GIỎI CŨNG CẦN TƯỚNG CÓ NHIỀU MƯU LƯỢC ĐỂ CHỈ HUY. 2. VẬN DỤNG CÁCH ĐÁNH LINH HOẠT, PHÙ HỢP NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ “LẤY NHỎ THẮNG LỚN, LẤY ÍT ĐỊCH NHIỀU, LẤY YẾU ĐÁNH MẠNH” TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠO VẬN DỤNG CÁCH ĐÁNH TRONG NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ “LẤY NHỎ THẮNG LỚN, LẤY ÍT ĐỊCH NHIỀU, LẤY YẾU ĐÁNH MẠNH” ĐƯỢC THỂ HIỆN RÕ NÉT TRONG DI CHÚC CANH TÝ CỦA HƯNG ĐẠO VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN: “NÓ CẬY TRƯỜNG TRẬN, TA CẬY ĐOẢN BINH, LẤY ĐOẢN CHỐNG TRƯỜNG ĐÓ LÀ VIỆC THƯỜNG TRONG BINH PHÁP”3 VÀ TRONG THỜI HẬU LÊ LÀ “THẾ TRẬN XUẤT KỲ LẤY YẾU CHỐNG MẠNH, DÙNG QUÂN MAI PHỤC LẤY ÍT ĐỊCH NHIỀU”. ĐÂY LÀ NHỮNG TƯ TƯỞNG THỂ HIỆN QUAN ĐIỂM ĐÁNH ĐỊCH LINH HOẠT, QUYỀN BIẾN, TÙY CƠ ỨNG BIẾN. TRƯỚC HẾT, PHẢI ĐÁNH GIÁ ĐÚNG TÌNH HÌNH ĐỊCH, TA, ĐỂ CÓ PHƯƠNG LƯỢC HÀNH ĐỘNG ĐÚNG; ĐÁNH GIÁ ĐÚNG ĐỊCH ĐỂ CÓ THỂ HẠN CHẾ CHỖ MẠNH ĐÁNH VÀO CHỖ YẾU, CHỖ HIỂM YẾU CỦA CHÚNG, ĐÁNH GIÁ ĐÚNG TA ĐỂ CÓ SỰ CHỦ ĐỘNG CHUẨN BỊ ĐÁNH ĐỊCH. TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN MÔNG - NGUYÊN LẦN THỨ BA, KHI ĐƯỢC NHÀ VUA HỎI VỀ KẾ SÁCH ĐÁNH GIẶC, HƯNG ĐẠO VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN TRẢ LỜI “NĂM NAY ĐÁNH GIẶC NHÀN”, ĐIỀU ĐÓ CHỨNG TỎ VỊ QUỐC CÔNG TIẾT CHẾ Đà NGHIÊN CỨU, NẮM CHẮC VỀ QUÂN XÂM LƯỢC CŨNG NHƯ “THẾ NƯỚC” CỦA DÂN TỘC CHUẨN BỊ KHÁNG CHIẾN. QUÂN MÔNG - NGUYÊN CÓ KỴ BINH CƠ ĐỘNG MẠNH ĐÓ LÀ “TRƯỜNG TRẬN”, TA DÙNG “ĐOẢN BINH” - ĐÁNH GẦN, ĐÁNH BẤT NGỜ, NHỎ LẺ, RỘNG KHẮP, KẾT HỢP VỚI THẾ CỦA SÔNG NƯỚC, ĐỊA HÌNH NÊN Đà CHẾ NGỰ ĐƯỢC “TRƯỜNG TRẬN” CỦA CHÚNG, ĐÓ LÀ NGHỆ THUẬT “LẤY NHỎ THẮNG LỚN, LẤY ÍT ĐỊCH NHIỀU, LẤY YẾU ĐÁNH MẠNH”. “LẤY NHỎ THẮNG LỚN, LẤY ÍT ĐỊCH NHIỀU, LẤY YẾU ĐÁNH MẠNH” PHẢI GIẢI QUYẾT HỢP LÝ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC NHÂN TỐ THIÊN THỜI, ĐỊA LỢI, NHÂN HÒA ĐỂ TẠO NÊN SỨC MẠNH LỚN NHẤT ĐÁNH THẮNG QUÂN XÂM LƯỢC. THIÊN THỜI KHÔNG BẰNG ĐỊA LỢI, ĐỊA LỢI KHÔNG BẰNG NHÂN HÒA, TRONG ĐÓ NHÂN HÒA LÀ QUAN TRỌNG NHẤT, CÒN ĐỊA LỢI NGHĨA LÀ BIẾT TẬN DỤNG VÀ CẢI TẠO ĐỊA HÌNH THÀNH THẾ CÓ LỢI CHO TA, BUỘC ĐỊCH PHẢI HÀNH ĐỘNG Ở ĐỊA HÌNH BẤT LỢI. TRONG LỊCH SỬ CHỐNG GIẶC NGOẠI XÂM, TỔ TIÊN TA THƯỜNG DỰA VÀO SÔNG NƯỚC ĐỂ CHẶN ĐỊCH, DỰA VÀO NÚI RỪNG ĐỂ ĐÁNH NHỎ LẺ, RỘNG KHẮP, TẠO THẾ, TẠO THỜI CƠ, DỰA VÀO ĐỊA HÌNH TRUNG DU, ĐỒNG BẰNG ĐỂ ĐEM QUÂN THỦY, BỘ ĐÁNH CÁC ĐÒN TIÊU DIỆT LỚN Ở CÁC TRỌNG ĐIỂM. NGUYỄN SƯỞNG - NHÀ THƠ THỜI NHÀ TRẦN, KHI CA NGỢI CHIẾN THẮNG BẠCH ĐẰNG Đà VIẾT: “THÙY CHI VẠN CỔ TRÙNG HƯNG NGHIỆP/BÁN TẠI QUAN HÀ, BÁN TẠI NHÂN” - CÓ AI BIẾT RẰNG SỰ NGHIỆP THỜI TRÙNG HƯNG LƯU DANH MUÔN THUỞ/MỘT NỬA LÀ DO SÔNG NÚI, MỘT NỬA DO NGƯỜI4. BÊN CẠNH ĐÓ, ĐỊA HÌNH, THỜI TIẾT NƯỚC TA CŨNG LÀ MỘT YẾU TỐ QUAN TRỌNG GÓP PHẦN TĂNG THÊM SỨC MẠNH KHÁNG CHIẾN. QUÂN ĐỊCH THƯỜNG KHỞI BINH XÂM LƯỢC NƯỚC TA VÀO MÙA ĐÔNG, THỜI TIẾT PHÙ HỢP VỚI CHÚNG Ở PHƯƠNG BẮC, CÒN QUÂN VÀ DÂN TA THƯỜNG TRÌ HOÃN CHIẾN KÉO SANG MÙA XUÂN, MÙA HÈ VỚI THỜI TIẾT NHIỆT ĐỚI LAM SƠN CHƯỚNG KHÍ NGÀY CÀNG NHIỀU, DỊCH BỆNH HOÀNH HÀNH, KHIẾN QUÂN ĐỊCH ỐM ĐAU, TINH THẦN SUY SỤP, SỨC CHIẾN ĐẤU GIẢM SÚT ĐẾN MỨC CHÚNG CŨNG PHẢI TỰ ĐÁNH GIÁ “KHÍ ĐỘC HẠI NGƯỜI CÒN HƠN LÀ BINH ĐAO”5 VÀ ĐẠI VIỆT “CHỈ CẬY CÓ NÚI BIỂN HIỂM TRỞ VÀ LAM CHƯỚNG ÁC LIỆT MÀ THÔI”6. “LẤY NHỎ THẮNG LỚN, LẤY ÍT ĐỊCH NHIỀU, LẤY YẾU ĐÁNH MẠNH” PHẢI COI TRỌNG DÙNG MƯU KẾ, TẠO LẬP VÀ CHUYỂN HÓA THẾ TRẬN LINH HOẠT, TỪ ĐÓ TẠO RA THỜI CƠ CÓ LỢI ĐỂ ĐÁNH ĐỊCH Ở THẾ CÓ LỢI. TRONG CÁC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG XÂM LƯỢC, TỔ TIÊN TA ĐẶC BIỆT CHĂM LO XÂY DỰNG THẾ TRẬN CẢ NƯỚC ĐÁNH GIẶC, “NGƯỜI ĐÁNH GIỎI THƯỜNG TÌM Ở THẾ, KHÔNG TRÁCH Ở NGƯỜI, CHO NÊN MỚI CHỌN NGƯỜI MÀ DÙNG THẾ”. PHẢI KẾT HỢP CHẶT CHẼ “THẾ NGƯỜI” - THẾ BỐ TRÍ LỰC LƯỢNG VỚI THẾ CỦA ĐỊA HÌNH, HÌNH THÀNH THẾ XEN KẼ VỚI ĐỊCH Ở CẢ CẤP CHIẾN THUẬT VÀ CHIẾN LƯỢC TRÊN CƠ SỞ THẾ TRẬN “LÀNG - NƯỚC”, MỘT THẾ TRẬN ĐẶC THÙ CỦA CHIẾN TRANH NHÂN DÂN ĐẠI VIỆT. LẬP THẾ PHẢI HẠN CHẾ CHỖ MẠNH, ĐÁNH VÀO CHỖ YẾU CỦA ĐỊCH, ĐƯA QUÂN ĐỊCH VÀO TÌNH THẾ “CÁ LỚN LỘI Ở CHỖ NƯỚC NÔNG”, “THÚ MẠNH Đà SA VÀO ĐỒNG NỘI” MÀ TA THÌ CÓ THỂ TỰ DO HÀNH ĐỘNG, CHỦ ĐỘNG ỨNG BIẾN LINH HOẠT Ở THẾ TRẬN CÓ LỢI, PHẢI ĐẠT ĐƯỢC “ĐÁNH Ở CHỖ KHÔNG CÓ THÀNH, CÔNG Ở CHỖ KHÔNG CÓ LŨY, CHIẾN Ở CHỖ KHÔNG CÓ TRẬN”. PHẢI TRÊN CƠ SỞ THẾ TRẬN CẢ NƯỚC ĐÁNH GIẶC, KẾT HỢP CHẶT CHẼ, PHÁT HUY CAO ĐỘ SỨC MẠNH CỦA CÁC LỰC LƯỢNG. VẬN DỤNG LINH HOẠT CÁC HÌNH THỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP TÁC CHIẾN, ĐÁNH ĐỊCH NHỎ LẺ, RỘNG KHẮP, THƯỜNG XUYÊN, LIÊN TỤC, ĐÁNH ĐỊCH NGAY CẢ KHI PHẢI RÚT LUI CHIẾN LƯỢC, ĐẨY ĐỊCH VÀO THẾ BỊ SÁT THƯƠNG, TIÊU HAO, SUY YẾU, SA LẦY; TRÊN CƠ SỞ ĐÓ, TẠO THẾ VÀ THỜI CƠ CÓ LỢI, TẬP TRUNG LỰC LƯỢNG CƠ ĐỘNG CHIẾN LƯỢC, ĐÁNH ĐÒN TIÊU DIỆT LỚN Ở CÁC TRỌNG ĐIỂM TẠO ĐỘT BIẾN CHIẾN LƯỢC, KẾT THÚC CHIẾN TRANH. ĐÓ LÀ SỰ VẬN DỤNG SÁNG TẠO, THỰC HIỆN HIỆU QUẢ BIỆN PHÁP TÁC CHIẾN: KẾT HỢP ĐÁNH TIÊU HAO RỘNG KHẮP VỚI ĐÁNH TIÊU DIỆT CÓ TRỌNG ĐIỂM CỦA NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ “LẤY NHỎ THẮNG LỚN, LẤY ÍT ĐỊCH NHIỀU, LẤY YẾU ĐÁNH MẠNH”. QUÁ TRÌNH TÁC CHIẾN LÀ QUÁ TRÌNH PHỐI HỢP CHẶT CHẼ CÁC ĐÒN ĐÁNH VỀ QUÂN SỰ VỚI CÁC HÌNH THỨC ĐẤU TRANH, NÊU CAO CHÍNH NGHĨA, ĐÁNH VÀO LÒNG NGƯỜI - “MƯU PHẠT NHI TÂM CÔNG”, CHỦ ĐỘNG ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO, GÓP PHẦN QUAN TRỌNG VÀO THẮNG LỢI CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG XÂM LƯỢC.

    “Lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh” là nội dung chủ đạo, nét độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam nhằm phát huy trí tuệ, ý chí, sức mạnh của toàn dân, cũng như khả năng động viên cả nước đánh giặc với lực lượng vũ trang làm nòng cốt; đồng thời, giải quyết hợp lý các yếu tố thiên thời - địa lợi - nhân hòa, lựa chọn, vận dụng cách đánh linh hoạt, sáng tạo để giành chiến thắng.

    Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm, dân tộc Việt Nam thường phải đương đầu với các thế lực xâm lược mạnh hơn ta rất nhiều lần. Vì vậy, lựa chọn đường lối chiến tranh nhân dân là sự lựa chọn duy nhất đúng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta; trong đó “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh” là nội dung nghệ thuật quân sự chủ đạo, phù hợp với các điều kiện, hoàn cảnh lịch sử của đất nước, dân tộc. Nghệ thuật đó không những trở thành truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc, mà còn thể hiện tính nhân đạo, nhân văn sâu sắc của văn hóa quân sự Việt Nam. Hiện nay, có một số cuốn sách viết là tư tưởng quân sự, có văn bản viết là quan điểm quân sự, theo chúng tôi, gọi như thế nào còn tùy thuộc vào quan điểm, mục tiêu nghiên cứu khi khai thác nội hàm chủ đạo này của nghệ thuật quân sự. Bài viết này đưa ra một số vấn đề về “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh” với tư cách là nội dung cơ bản, bao trùm của nghệ thuật quân sự, có tính chất như là tư tưởng chỉ đạo các hoạt động chuẩn bị và tiến hành thắng lợi chiến tranh nhân dân Việt Nam theo nghĩa rộng, đặc biệt là trong chỉ đạo các hoạt động quân sự, không nên hiểu theo nghĩa hẹp, đơn thuần về sử dụng lực lượng.

    1. Tạo nguồn sức mạnh giữ nước trong nhân dân, thực hiện cả nước đánh giặc với lực lượng vũ trang làm nòng cốt

    Tạo nguồn sức mạnh trong nhân dân, phát động được cả nước đánh giặc là một trong những nội dung cơ bản của nghệ thuật “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh”. Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm, tổ tiên ta luôn coi trọng và lấy dân làm gốc, dựa vào sức mạnh nơi dân, coi sự đồng lòng, ủng hộ của nhân dân là thành trì vững chắc nhất - “chúng chí thành thành”. Khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc, tinh thần yêu nước nồng nàn, chí căm thù giặc sâu sắc, tính cố kết cộng đồng, ý chí kiên cường, bất khuất để thực hiện cả nước đánh giặc - “cử quốc nghênh địch”. Thời nhà Trần đề cao tư tưởng “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức”, “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”; thời Hậu Lê là tư tưởng: “chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”, tất cả đều hướng đến mục tiêu huy động được toàn thể nhân dân tham gia đánh giặc với tinh thần “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Chỉ có toàn dân đánh giặc mới tạo được thế trận “làng - nước”, có thể đánh được giặc trên khắp đất nước, đánh ở phía trước, bên sườn, phía sau và trong lòng địch, v.v. Thực tiễn trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên xâm lược, vương triều nhà Trần ra lời hiệu triệu: tất cả các châu, phủ, huyện, hương, xã trong cả nước, nếu có giặc ngoài đến, phải liều chết mà đánh. Nếu sức không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, không được đầu hàng. Khi cuộc kháng chiến kết thúc, lúc xét công, định tội, triều đình thấy có hai hương là Ba Điểm và Băng Hà (ở phía Đông Vạn Kiếp) đã không tổ chức tham gia đánh giặc khi quân của Ô Mã Nhi kéo đến, bèn xử tội đồ, người dân ở hai hương đó đời đời không được làm quan. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, Bài thơ thần của Lý Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Bình ngô đại cáo của Nguyễn Trãi hay Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều là những áng hùng văn, đã khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường, bất khuất của cả nước đứng lên đánh đuổi quân xâm lược. Tuy nhiên, dân tộc Việt Nam cũng có những bài học đắt giá dẫn đến mất nước do lòng dân không thuận. Điển hình là dưới triều Hồ, mặc dù có quân đội mạnh, vũ khí tốt, thành cao, hào sâu để chống giặc, nhưng lại không được nhân dân ủng hộ dẫn đến mất nước. Điều đó được thể hiện qua câu nói đầy đau xót của Hồ Nguyên Trừng: “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo”.

    Cùng với cả nước đánh giặc, nghệ thuật quân sự “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh” cũng chỉ ra rằng, cần phải có lực lượng vũ trang làm nòng cốt. Vì vậy, xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc là nhiệm vụ cơ bản, quan trọng có ý nghĩa quyết định trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong thời đại Hồ Chí Minh, Đảng ta xác định, xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Đây là sự kế thừa truyền thống giữ nước quý báu của dân tộc. Trong lịch sử nước nhà, tổ tiên ta cũng đã xây dựng lực lượng vũ trang nhiều thứ quân: quân triều đình (chủ lực); quân các lộ, phủ, châu; quân của các vương hầu, quý tộc; dân binh, thổ binh trong các làng, xã,… tựu chung lại có quân địa phương (tại chỗ) và quân chủ lực (cơ động). Quân địa phương được xây dựng mạnh, rộng khắp, đủ sức làm nòng cốt cho nhân dân ở các địa phương đánh giặc. Quân chủ lực xây dựng theo quan điểm “ngụ binh ư nông”, “quân cốt tinh, không cốt nhiều” đủ sức cơ động thực hiện các đòn đánh tiêu diệt có trọng điểm. Bên cạnh đó, quân đội phải chính nghĩa, có ý chí, quyết tâm chiến đấu cao, như thời nhà Trần, quân sĩ đã thích hai chữ “Sát Thát” lên cánh tay để thể hiện quyết tâm diệt giặc. Phải huấn luyện quân sĩ tinh thông võ nghệ, “tập dượt cung tên khiến người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ”, lại phải nắm vững binh pháp. Xây dựng quân đội có tinh thần đoàn kết, “phải đạt được quân đội đồng lòng như cha con một nhà”1, “tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào” có thế mới dùng được. Lại phải chọn dùng tướng giỏi để chỉ huy quân sĩ, “trong quân có người ốm, tướng phải thân hành đem thuốc điều trị, quân có người chết tướng phải khóc thương, quân đi thú xa thì sai vợ con đến nhà thăm hỏi”, song “Tướng dũng có thể giúp được việc đánh thành hãm trận, nhưng liệu tính việc địch, chia đặt quân kỳ, lâm cơ ứng biến nếu không có tướng trí thì không được. Mà kẻ dũng thì thường kém kẻ mưu”2. Do đó, khi “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh” bên cạnh những tướng giỏi cũng cần tướng có nhiều mưu lược để chỉ huy.

    2. Vận dụng cách đánh linh hoạt, phù hợp nghệ thuật quân sự “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh”

    Tư tưởng chỉ đạo vận dụng cách đánh trong nghệ thuật quân sự “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh” được thể hiện rõ nét trong Di chúc Canh Tý của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn: “Nó cậy trường trận, ta cậy đoản binh, lấy đoản chống trường đó là việc thường trong binh pháp”3 và trong thời Hậu Lê là “thế trận xuất kỳ lấy yếu chống mạnh, dùng quân mai phục lấy ít địch nhiều”. Đây là những tư tưởng thể hiện quan điểm đánh địch linh hoạt, quyền biến, tùy cơ ứng biến. Trước hết, phải đánh giá đúng tình hình địch, ta, để có phương lược hành động đúng; đánh giá đúng địch để có thể hạn chế chỗ mạnh đánh vào chỗ yếu, chỗ hiểm yếu của chúng, đánh giá đúng ta để có sự chủ động chuẩn bị đánh địch. Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên lần thứ Ba, khi được nhà Vua hỏi về kế sách đánh giặc, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trả lời “Năm nay đánh giặc nhàn”, điều đó chứng tỏ vị Quốc công tiết chế đã nghiên cứu, nắm chắc về quân xâm lược cũng như “thế nước” của dân tộc chuẩn bị kháng chiến. Quân Mông - Nguyên có kỵ binh cơ động mạnh đó là “trường trận”, ta dùng “đoản binh” - đánh gần, đánh bất ngờ, nhỏ lẻ, rộng khắp, kết hợp với thế của sông nước, địa hình nên đã chế ngự được “trường trận” của chúng, đó là nghệ thuật “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh”.

    “Lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh” phải giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa các nhân tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa để tạo nên sức mạnh lớn nhất đánh thắng quân xâm lược. Thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hòa, trong đó nhân hòa là quan trọng nhất, còn địa lợi nghĩa là biết tận dụng và cải tạo địa hình thành thế có lợi cho ta, buộc địch phải hành động ở địa hình bất lợi. Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm, tổ tiên ta thường dựa vào sông nước để chặn địch, dựa vào núi rừng để đánh nhỏ lẻ, rộng khắp, tạo thế, tạo thời cơ, dựa vào địa hình trung du, đồng bằng để đem quân thủy, bộ đánh các đòn tiêu diệt lớn ở các trọng điểm. Nguyễn Sưởng - nhà thơ thời nhà Trần, khi ca ngợi Chiến thắng Bạch Đằng đã viết: “Thùy chi vạn cổ Trùng Hưng nghiệp/Bán tại quan hà, bán tại nhân” - Có ai biết rằng sự nghiệp thời Trùng Hưng lưu danh muôn thuở/Một nửa là do sông núi, một nửa do người4. Bên cạnh đó, địa hình, thời tiết nước ta cũng là một yếu tố quan trọng góp phần tăng thêm sức mạnh kháng chiến. Quân địch thường khởi binh xâm lược nước ta vào mùa đông, thời tiết phù hợp với chúng ở phương bắc, còn quân và dân ta thường trì hoãn chiến kéo sang mùa xuân, mùa hè với thời tiết nhiệt đới lam sơn chướng khí ngày càng nhiều, dịch bệnh hoành hành, khiến quân địch ốm đau, tinh thần suy sụp, sức chiến đấu giảm sút đến mức chúng cũng phải tự đánh giá “khí độc hại người còn hơn là binh đao”5 và Đại Việt “chỉ cậy có núi biển hiểm trở và lam chướng ác liệt mà thôi”6.

    “Lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh” phải coi trọng dùng mưu kế, tạo lập và chuyển hóa thế trận linh hoạt, từ đó tạo ra thời cơ có lợi để đánh địch ở thế có lợi. Trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, tổ tiên ta đặc biệt chăm lo xây dựng thế trận cả nước đánh giặc, “người đánh giỏi thường tìm ở thế, không trách ở người, cho nên mới chọn người mà dùng thế”. Phải kết hợp chặt chẽ “thế người” - thế bố trí lực lượng với thế của địa hình, hình thành thế xen kẽ với địch ở cả cấp chiến thuật và chiến lược trên cơ sở thế trận “làng - nước”, một thế trận đặc thù của chiến tranh nhân dân Đại Việt. Lập thế phải hạn chế chỗ mạnh, đánh vào chỗ yếu của địch, đưa quân địch vào tình thế “cá lớn lội ở chỗ nước nông”, “thú mạnh đã sa vào đồng nội” mà ta thì có thể tự do hành động, chủ động ứng biến linh hoạt ở thế trận có lợi, phải đạt được “đánh ở chỗ không có thành, công ở chỗ không có lũy, chiến ở chỗ không có trận”. Phải trên cơ sở thế trận cả nước đánh giặc, kết hợp chặt chẽ, phát huy cao độ sức mạnh của các lực lượng. Vận dụng linh hoạt các hình thức và phương pháp tác chiến, đánh địch nhỏ lẻ, rộng khắp, thường xuyên, liên tục, đánh địch ngay cả khi phải rút lui chiến lược, đẩy địch vào thế bị sát thương, tiêu hao, suy yếu, sa lầy; trên cơ sở đó, tạo thế và thời cơ có lợi, tập trung lực lượng cơ động chiến lược, đánh đòn tiêu diệt lớn ở các trọng điểm tạo đột biến chiến lược, kết thúc chiến tranh. Đó là sự vận dụng sáng tạo, thực hiện hiệu quả biện pháp tác chiến: kết hợp đánh tiêu hao rộng khắp với đánh tiêu diệt có trọng điểm của nghệ thuật quân sự “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh”. Quá trình tác chiến là quá trình phối hợp chặt chẽ các đòn đánh về quân sự với các hình thức đấu tranh, nêu cao chính nghĩa, đánh vào lòng người - “mưu phạt nhi tâm công”, chủ động đấu tranh ngoại giao, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống xâm lược. 

ST

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 12 THÁNG 01 NĂM 1955!

     “Nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân, giữ đúng đạo đức công dân”!
     Là lời trong Bài "Đạo đức công dân" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đăng Báo Nhân dân, số 320 ngày 15-1-1955; trong lúc đại đa số nhân dân ta hăng hái đóng góp sức của, sức người, tự giác, tự động làm trọn nghĩa vụ của người chủ nước nhà để khắc phục hậu quả do chiến tranh để lại, xây dựng cuộc sống mới ở miền Bắc, tích cực tham gia kháng chiến giải phóng dân tộc thống nhất nước nhà; nhưng vẫn còn một số người chỉ muốn hưởng quyền lợi mà không làm nghĩa vụ của mình đối với Tổ quốc, thậm chí có người còn làm trái pháp luật (như tham ô, buôn gian, lậu thuế, trộm cắp, lưu manh...).
     Bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những biểu hiện tiêu cực, việc làm thiếu trách nhiệm của một số công dân đối với Tổ quốc, với cộng đồng; Người nhắc nhở các địa phương, các ngành phải quan tâm và sử dụng phương pháp giáo dục phù hợp, giải thích cho quần chúng hiểu rõ địa vị cao quý của người làm chủ nước nhà, nhất trí lợi ích chung của Nhà nước và lợi ích riêng của mỗi người, qua đó nêu cao ý thức, trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Tổ quốc, với cộng đồng.
     Lời của Người nhanh chóng được cấp ủy, chính quyền các địa phương trên toàn miền Bắc quán triệt, hiện thực hóa thành các chương trình, kế hoạch hoạt động cụ thể; tuyên truyền, giáo dục đạo đức công dân, vận động mọi người làm tròn bổn phận của người dân làm chủ; thi đua với bộ đội và nhân dân miềm Nam anh dũng đang chiến đấu hy sinh xương máu để giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà; hàng ngàn khẩu hiệu hành động ở các địa phương được nhân dân đồng thuận, hưởng ứng tích cực; nhân dân bảo nhau, cùng nhau thực hiện nghiêm pháp luật Nhà nước; tuân theo kỷ luật lao động; tự giác đóng góp (nộp thuế) đúng kỳ hạn, tích cực tham gia xây dựng lợi ích chung; hăng hái trong thực hiện công việc tập thể; quan tâm bảo vệ tài sản của công, góp phần xây dựng hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chi viện cho chiến trường miền Nam giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
     Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hiện nghĩa vụ và giữ vững đạo đức công dân, tiếp tục được Đảng và Nhà nước ta nghiên cứu, vận dụng sáng tạo phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, làm cho mọi người Việt Nam hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn hóa dân tộc; nêu cao ý thức công dân tích cực đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến quá trình xây dựng nền văn hóa, xây dựng con người.
     Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và sự nghiệp xây dựng quân đội có bước phát triển, đòi hỏi nghĩa vụ, trách nhiệm và đạo đức của người quân nhân cách mạng phải tiếp tục được củng cố, tu dưỡng, rèn luyện; tập trung nâng cao nhận thức và sự nhạy bén chính trị của cán bộ, chiến sĩ, xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, lập trường tư tưởng kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội; bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và nhân cách quân nhân, giữ vững, phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao./.
Yêu nước ST.

Thứ Tư, 11 tháng 1, 2023

ĐẠI TƯỚNG HUN MANET: HỌ LÀ HÀNG XÓM CỦA CỦA CHÚNG TA, LÀ ÂN NHÂN CỦA CHÚNG TA!

     Đại tướng Hun Manet, con trai Thủ tướng Hunsen đăng bài phát biểu nhân ngày lễ Chiến thắng Khmer Đỏ (07/01/1979), trong đó có đoạn: "Có nhiều người nói quân đội Việt Nam tiến vào Campuchia là ngày hận thù. Vậy ai đã giúp hàng triệu người Khmer thoát khỏi nạn diệt chủng?". 
     Bài phát biểu ông Hun Manet cũng giải thích bốn vấn đề về lịch sử cuộc chiến chống Khmer Đỏ vốn đã và đang bị bóp méo trong những tháng ngày vừa qua.
1. Trong giai đoạn 1975-1979, chế độ Pol Pot đã tàn sát nhân dân Campuchia như thế nào?
2. Đảo chính 1963 liệu có giúp Pol Pot ngưng thảm sát người dân Campuchia hay không?
3. Tại sao không nhờ quốc tế giải cứu? 
4. Vì sao người Khmer không tự đứng lên lật đổ chế độ Pol Pot? 
     Đại tướng Hun Manet còn nói thêm rằng, thế giới không biết đến việc người Khmer đang bị thảm sát, người dân chúng ta phải trốn chạy và không đủ mạnh để chống lại. Những người Việt Nam ở ngay cạnh chúng ta và cha tôi đã gửi lời đến họ, họ đắn đo rất nhiều nhưng vẫn đưa đôi tay giúp đỡ. Họ là hàng xóm của chúng ta, là những ân nhân của chúng ta./.
Yêu nước ST.

THÁI BÁ TÂN, KẺ SUY THOÁI NGHIÊM TRỌNG!

     Nói đến Thái Bá Tân, chắc nhiều người cũng đã biết ông này là một thầy giáo, dịch giả, nhà thơ, là người từng được Đảng và Nhà nước tạo điều kiện cử đi học ở Liên Xô trước đây. Sau khi về nước thì được bố trí công tác ở nhiều vị trí khác nhau. 
     Thế nhưng khi về hưu, cứ tưởng ông ta sẽ an phận tuổi già, sống vui cùng con cháu. Nào ngờ, ông lại đi theo đ.ám khát nước, những kẻ tr.ở cờ, thường xuyên có những phát biểu xuyên tạc tình hình, chế độ. Nào là “đuổi Pháp Mỹ là đuổi văn minh khỏi nước ta”, “tin ai cũng được trừ Mác, LêNin”…
     Xin hỏi ông thế nào là Văn minh? Phải chăng văn minh của ông là b..oom đ.ạn, là tr.a t.ấn, c.ực hình, gi..ết người, đ.ốt nhà, là dio.xin,… Nếu thế thì chúng tôi không cần thứ văn minh này.
     Và cũng giống như nhiều người khác, từ lúc trẻ đến khi về hưu được Cộng sản nuôi dạy, ăn cơm Cộng sản, ở nhà Cộng sản, nghỉ hưu vẫn nhận lương hưu nhưng bây giờ lại ch.ê bai Cộng sản, sùng bái phương Tây. Liệu ông đã quên mất ông cha đã hy sinh như thế nào để có được Việt Nam như ngày hôm nay, đã quên mất Nhà nước đã giúp đỡ ông như thế nào. 
     “Không phải người già nào cũng đáng kính”đúng với trường hợp của ông./.

Yêu nước ST.

NỰC CƯỜI CHUYỆN "TÂY SƠN CÓ TỘI"!

     Trên nhóm "Tìm hiểu lịch sử Việt Nam", nhiều tài khoản mang dòng giống nhà ngụy đang ra sức bảo vệ Nguyễn Ánh và xuyên tạc Quang Trung bằng nhiều thủ đoạn hòng bôi lem lịch sử dân tộc, bôi lem hình ảnh vị vua kiệt xuất của dân tộc Việt Nam.
     Một triều đại đánh đuổi hơn 5 vạn quân xâm lược Xiêm do Nguyễn Ánh rước vào; đánh đuổi hơn 20 vạn quân Mãn Thanh do Lê Chiêu Thống rước vào rồi chính chúng cũng được Nguyễn Phúc Ánh với thủ đoạn làm yếu lực lượng Quân Tây Sơn ở đàng ngoài đã cung cấp 60 vạn lương thảo cho chúng để duy trì lực lượng xâm lược nước ta. Như vậy là có tội chăng???
     Vì "đắc tội" như chúng tuyên truyền mà ở tỉnh thành nào của Việt Nam củng có tượng đài, tên đường, tên trường học vua Quang Trung, còn Nguyễn Ánh bao đời nay vẫn ghi vào trang sử dân tộc dòng chữ sấm truyền: "Cõng rắn cắn gà nhà"?
     Thật nực cười, đám xuyên tạc này thường xuyên ra rả hô hào kích động chống Tàu nhưng suốt ngày cũng ra rả Tây Sơn có tội.. đào xới xuyên tạc lịch sử chống ngoại xâm, rửa mặt cho Nguyễn Ánh, cho đám ngụy quyền - những kẻ mang danh "bám gót ngoại bang" suốt 20 năm ở miền Nam.
     Cái dòng liu điu Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Nguyễn Ánh, Ngô Đình Diệm những kẻ làm Osin bám gót ngoại bang làm sao sánh với Long - Ly - Quy - Phượng như thời đại Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Quang Trung -Nguyễn Huệ, Hồ Chí Minh mà dám bôi lem xuyên tạc lịch sử!
Yêu nước ST.

Đổi mới và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực

 

Để kiểm soát quyền lực, yêu cầu đặt ra là phải xây dựng cơ chế; theo đó, hoàn thiện hệ giải pháp đồng bộ, phù hợp và khả thi, với các thể chế và định chế, theo phương châm “dễ hiểu, dễ làm và dễ kiểm tra”. 

Tại Hội nghị tiếp xúc cử tri, ngày 16-10-2016, lần đầu tiên Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Phải nhốt quyền lực vào trong lồng cơ chế, pháp luật”(6). Nói một cách hình tượng, “lồng cơ chế” đó chính là sự tổng hòa hệ thống kỷ luật của Đảng và hệ thống pháp luật của Nhà nước. Đó là Quốc pháp và Đảng cương. Nhưng, trung tâm của Quốc pháp và Đảng cương là sự tín nhiệm của nhân dân - chủ thể quyền lực nhà nước, mà thước đo là lòng dân đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chiến lược. Ba nhân tố rường cột này hợp thành cơ chế kiểm soát quyền lực.

Có thể khẳng định ở đây, quá trình đổi mới và xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực thực chất là quá trình vạch ra những “độ” tồn tại của quyền lực, với những giới hạn cho phép về mặt lịch sử, mà người được ủy quyền hoặc được trao quyền lực không được phép vượt qua theo thẩm quyền và trách nhiệm, trong bất cứ hoàn cảnh, cả điều kiện trên nền tảng pháp lý và đạo lý, để bảo đảm quyền lực được kiểm soát, cân bằng. Vì vậy, cần lưu ý rằng, việc đổi mới, sáng tạo cơ chế kiểm soát quyền lực chính là việc xác định hệ thống chỉnh thể bao gồm toàn thể các yếu tố (chính trị, pháp luật, đạo đức...) có liên quan tác động lẫn nhau một cách tự nhiên và tất yếu để nhằm đạt mục đích, còn cơ chế chính là cấu trúc vận hành, nhằm truyền nối động cơ giúp vận hành toàn bộ hệ thống, từ bên trong tới bên ngoài, từ chủ thể tới khách thể; nếu một yếu tố nào đó không có giá trị trong chỉnh thể và không bảo đảm tính thống nhất thì hệ thống đó không tồn tại, dẫn đến cơ chế sẽ bị phá vỡ.

Do đó, để xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực, cùng với các nhân tố cấu thành cơ chế (điều kiện cần và đủ, phương thức thực thi, các công cụ và điều kiện hỗ trợ...), phải có đủ ba nhân tố căn bản, có tính rường cột hợp thành và chi phối cơ chế kiểm soát quyền lực, đó là: Quốc pháp - Đảng cương - Sự tín nhiệm của nhân dân. Nếu thiếu đi một trong ba nhân tố căn bản này, nhất định sẽ không có bất cứ một cơ chế kiểm soát quyền lực nào tương thích và hữu hiệu đáp ứng với tình hình hiện nay.

Các giải pháp căn bản và chủ yếu thực thi kiểm soát quyền lực

Một là, định lượng hóa và cụ thể hóa trách nhiệm theo thẩm quyền trên từng phương diện, như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tư tưởng... và từng vị trí, chức vụ bảo đảm đúng quyền, rõ quyền, đủ quyền và thực quyền; theo đó, định lượng hóa để cụ thể hóa những biểu hiện tha hóa, thoái hóa quyền lực với phương châm “xây kết hợp với chống”, “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, không thể dung nạp những “quyền lực ngoài quyền lực”, “quyền lực ngầm”, “quyền lực đen”... Những cá nhân, tổ chức được giao quyền, ủy quyền, phải tự kiểm soát mình bởi pháp luật và kỷ luật. Đây là việc rất khó, vì điều khó khăn nhất đối với mỗi con người chính là chiến thắng được chính bản thân mình.

Đồng thời, tiếp tục đổi mới và định rõ mối quan hệ giữa người đứng đầu với tập thể lãnh đạo, quản lý; giữa thẩm quyền các bên; giữa cấp trên với cấp dưới; giữa bên trong tập thể lãnh đạo, quản lý với bên ngoài, trong hệ thống và ngoài hệ thống; giữa cơ quan kiểm soát quyền lực với người và tổ chức được trao hoặc ủy thác quyền lực trong một chỉnh thể hữu cơ, không cắt khúc, không khép kín, không ngoại lệ, trên cơ sở trách nhiệm giải trình công khai và dân chủ. Việc buông lỏng quyền lực hay quyền lực bị tha hóa, thoái hóa - cả hai đều nguy hiểm như nhau; theo đó, muốn hạn chế, đẩy lùi tình trạng trên, đội ngũ cán bộ cần được đào tạo một cách đầy đủ về pháp luật, khoa học tổ chức, khoa học hành chính ngang tầm trọng trách.

Hai là, đổi mới cơ chế kiểm soát quyền lực theo nguyên tắc quyền hạn song hành và gắn với trách nhiệm, mọi quyền lực đều phải được kiểm soát và kiểm soát nghiêm ngặt các cơ quan kiểm soát quyền lực. Đổi mới và hoàn thiện, bảo đảm thống nhất các quy định của Đảng với hệ thống pháp luật của Nhà nước một cách toàn diện, đồng bộ và cụ thể. Cần nhấn mạnh, tiếp tục hiến định và luật định hóa quyền lực của nhân dân - với tư cách là chủ thể quyền lực quốc gia - trong việc kiểm soát quyền lực được nhân dân ủy quyền, giao phó cho người đứng đầu trong bộ máy của Đảng, bộ máy của Nhà nước và bộ máy của cả hệ thống chính trị.   

Trên cơ sở định lượng hóa và cụ thể hóa về thẩm quyền, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện cơ chế về cá thể hóa trách nhiệm trong việc chất vấn, giải trình, phản biện một cách dân chủ, công khai, minh bạch đối với người được giao và giữ quyền lực (người, tổ chức và công việc); đồng thời, có định chế minh bạch về nguyên tắc, trách nhiệm, thẩm quyền của tập thể lãnh đạo, quản lý, quản trị (gồm các cá nhân thành viên ban lãnh đạo với vị trí công vụ của mỗi người), theo nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm dựa trên nền tảng nguyên tắc tập trung dân chủ một cách thống nhất, thông suốt. Gắn công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra của Nhà nước, giám sát của nhân dân trong việc kiểm soát quyền lực một cách đồng bộ, thống nhất, liên thông và chặt chẽ. Thực hiện đồng thời cấp trên kiểm tra, giám sát cấp dưới; kiểm tra, giám sát nội bộ, giám sát từ dưới lên; giám sát chéo giữa các cơ quan, tổ chức, giám sát của nhân dân. Công khai hóa, minh bạch hóa là con đường ngắn nhất, là phương pháp tốt nhất để giám sát, kiểm soát quyền lực của cá nhân hay tập thể. Định vị cơ chế thưởng - phạt một cách dân chủ, minh bạch, chính xác, kịp thời, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không có giới hạn cuối cùng trong kiểm soát quyền lực.

Ba là, đổi mới và xây dựng bộ máy thực thi công việc kiểm soát quyền lực (kiểm tra, thanh tra, điều tra, kiểm sát...) trong tổng thể tiến trình đổi mới, sắp xếp, tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị các cấp theo hướng liên thông, nâng cao hiệu lực, hiệu quả. Kiện toàn đội ngũ cán bộ giữ chức năng, nhiệm vụ kiểm soát việc thực thi quyền lực là nhiệm vụ có ý nghĩa rất quan trọng, là nhân tố quyết định thành bại của việc kiểm soát quyền lực. Do đó, những người được trao trọng trách kiểm soát quyền lực trong các cơ quan có thẩm quyền phải là những người trung thành, tinh nhuệ, liêm chính, mẫn cán, dũng cảm, hành động công vụ theo kỷ luật và pháp luật một cách nhân văn. Đặc biệt, trước yêu cầu cấp bách hiện nay, càng cần phải thực thi kiểm soát quyền lực một cách nghiêm ngặt ở các cơ quan có chức năng, nhiệm vụ kiểm soát quyền lực.

Bốn là, xây dựng và phát triển môi trường chính trị - xã hội bảo đảm kiểm soát quyền lực một cách bao trùm, rộng khắp và chặt chẽ. Trọng tâm của công việc đổi mới thể chế là bảo vệ vô điều kiện sự tham gia và phát huy mạnh mẽ vai trò của nhân dân - với tư cách là chủ thể quyền lực, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng và truyền thông xã hội trong giám sát, phát hiện, tố cáo sự tha hóa, thoái hóa quyền lực của cá nhân và tổ chức được ủy thác hoặc được trao quyền lực.

Mỗi cơ quan, đơn vị, tổ chức là một môi trường kiểm soát quyền lực trực tiếp, dân chủ, công khai, cụ thể thông qua các định chế phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định, kỷ luật đảng, Hiến pháp và pháp luật. Đây là công việc bảo đảm kiểm soát từ ngoài vào, từ dưới lên... cả về phương diện pháp lý lẫn bình diện đạo lý xã hội và dư luận xã hội (hiện đang bị ngăn trở bởi không ít “cục nghẽn mạch” về thể chế cần được dỡ bỏ). Đây là công việc quan trọng, vẫn đang còn không ít “khoảng trống” cần phải nhanh chóng được lấp đầy để thực thi và bảo vệ quyền lực của nhân dân có hiệu quả. Bởi lẽ, chỉ cần nhìn trong 10 năm qua, có tới 75% số vụ việc liên quan tới vi phạm pháp luật do lợi dụng quyền lực dưới mọi hình thức và mức độ là do nhân dân và công luận phát hiện. Hơn lúc nào hết, hiện nay, chính trị phải là sự thanh khiết từ to đến nhỏ, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói; và lòng tin của nhân dân, sức mạnh của công luận có vai trò vô cùng quan trọng cho việc thực hiện nhiệm vụ chính trị quan trọng này.     

Năm là, đổi mới và thống nhất các công cụ khác trong việc giám sát, kiểm soát quyền lực. Tiếp tục đổi mới tư duy, thực hiện hiến định và luật định về quyền thông tin và được thông tin (về cá nhân, tổ chức và thẩm quyền của họ theo luật định); về quyền và trách nhiệm giám sát, về phương thức kiểm tra, giám sát, kiểm soát; về quyền được trưng cầu ý kiến, lựa chọn và bãi miễn của nhân dân đối với cá nhân và tổ chức. Tất cả nhằm khắc phục sự chồng lấn, không minh bạch giữa trách nhiệm cá nhân với trách nhiệm tập thể, ngăn chặn nạn nhân danh tập thể để mưu đồ lợi ích cá nhân hoặc “ẩn nấp” trong danh nghĩa tập thể để che giấu, trốn tránh, rũ bỏ trách nhiệm cá nhân, làm cho quyền lực nằm ngoài vòng giám sát, kiểm soát; nhân danh “tổ chức kiểm soát quyền lực” mà dung túng, bao che cho hành vi lợi dụng quyền lực, thậm chí cả những “quyền lực đen”, “quyền lực ngầm”, “quyền lực trong bóng tối”... Theo đó, cần xác định rõ quyền lực tối thượng của nhân dân trên phương diện này và quyền lực ấy phải tiếp tục được luật hóa một cách cấp thiết.

Sáu là, tiến hành việc gắn kiểm soát quyền lực cá nhân và tổ chức ở trong nước với kiểm soát họ ở ngoài nước (khi công tác và hoạt động ở ngoài nước), chủ động tăng cường hợp tác, trao đổi, tham chiếu kinh nghiệm với nước ngoài trong việc kiểm soát quyền lực. Cần tiếp thu, tiếp biến kinh nghiệm cầm quyền của các đảng cầm quyền và kinh nghiệm của các nước trên thế giới, một cách cầu thị, không kỳ thị, không xa lánh; đồng thời, hợp tác chặt chẽ với các quốc gia trên thế giới, là công việc cần thiết và rất quan trọng.

Thực tiễn vừa qua đã vạch rõ những mưu đồ gây rối việc kiểm soát quyền lực đối với những cá nhân và tổ chức liên quan với nước ngoài; đồng thời, tạo nên những “vùng trắng”, “vùng trống”, biến đây thành những “lỗ hổng thoát tội”, “vùng tránh”, “vùng né”, “vùng trốn”, nơi tẩu tán “nhân sự”, tẩu tán tài sản trong thực thi kiểm soát quyền lực đối với sự tha hóa và thoái hóa quyền lực. Và trước mắt, với bao nhiêu công việc và từ kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, khi Việt Nam đang trên con đường đổi mới và phát triển, thì càng cần phải tăng cường kiểm soát quyền lực và thực thi cơ chế kiểm soát quyền lực một cách thực chất, hiệu quả.

HAIVAN.

Sự buông lỏng hoặc tha hóa, thoái hóa quyền lực

 

 Thực tiễn đã và đang chỉ rõ, mọi sự tha hóa, thoái hóa quyền lực đều là tham nhũng dưới mọi thủ đoạn, hình thức và mức độ, từ tham nhũng kinh tế tới tham nhũng chính sách. Những người tha hóa quyền lực cấu kết với nhau rất tinh vi, chặt chẽ trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ; họ lợi dụng các “khoảng trống” pháp luật, việc thiếu công khai, minh bạch, thiếu cơ chế và chế tài kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực để trục lợi; bất chấp các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chà đạp lên luân thường đạo lý, cốt chiếm đoạt mọi thứ vì cá nhân và phe nhóm. Những hành động đó phá vỡ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, gây xáo trộn, làm rối loạn kỷ cương và xã hội.

Sự tha hóa, thoái hóa quyền lực, “ăn cắp” và “buôn bán” quyền lực dưới mọi hình thức, cấp độ làm xuất hiện những “lợi ích nhóm”, “nhóm lợi ích”, có nguy cơ nảy nở những “sứ quân”, biến những người được trao quyền thành những “ông tướng, bà tướng” tự tung tự tác, trong “những bầu trời riêng”; đồng thời, gây chia rẽ nội bộ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, làm suy yếu nền chính trị của đất nước. Sự tha hóa quyền lực biểu hiện từ việc dùng thẩm quyền của mình để tác động không đúng, không phù hợp cho đến sự “ưu ái” đối với các lĩnh vực, nhằm trục lợi cho mình và “nhóm lợi ích”, cũng như trong việc quyết định các chủ trương, chính sách, các lĩnh vực dễ nảy sinh tiêu cực, như cấp phép, cấp vốn, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ... Đặc biệt, sự tha hóa, thoái hóa quyền lực vừa công khai, vừa tinh vi, câu kết chặt chẽ ngang - dọc, trên - dưới, trong - ngoài... bằng những “luật ngầm” đã xuất hiện trên các phương diện kinh tế, chính trị, xã hội ở một số nơi, đã và đang gây nên những hậu họa khôn lường.

Đáng lo ngại là sự tha hóa, thoái hóa quyền lực của không ít người rất đa dạng, tinh vi; họ núp sau tấm bình phong tập thể, cộng đồng. Tuy nhiên, việc phát hiện và xử lý các vụ việc có liên quan đến tha hóa, thoái hóa quyền lực thường rất khó khăn, phức tạp; vì nó thường gắn với người có chức vụ, quyền lực lớn, nên có mối quan hệ chằng chịt, đa dạng và không ít trường hợp còn được bao che, thậm chí dùng cả tổ chức quyền lực phản kích quyết liệt, chống lại các lực lượng kiểm tra, thanh tra, giám sát, các cơ quan thực thi và bảo vệ pháp luật, làm cho tình hình ở không ít nơi diễn ra rất phức tạp. 

Ngay từ tháng 6-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo: “Dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình là đạo vị (đạo là trộm). Gặp việc phải, mà sợ khó nhọc nguy hiểm, không dám làm, là tham vật uý lạo. Gặp giặc mà rút ra, không dám đánh là tham sinh úy tử. Đều làm trái với chữ LIÊM. Do BẤT LIÊM mà đi đến tội ác trộm cắp. Công khai hay bí mật, trực tiếp hay gián tiếp, bất liêm tức là trộm cắp”, “Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư””. 

Thực tiễn cách mạng chỉ rõ, giải quyết có hiệu quả, không để xảy ra tình trạng thừa quyền lực nhưng thiếu năng lực, trước hết là năng lực chính trị và pháp luật, trong điều kiện Đảng lãnh đạo, cầm quyền bằng pháp luật là nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với Đảng Cộng sản Việt Nam. Ranh giới giữa thẩm quyền được giao với sự năng động, sáng tạo vốn rất mong manh nhưng rất đa dạng, phong phú... và trong một số hoàn cảnh lại là điều kiện thuận lợi cho những kẻ rắp tâm lợi dụng quyền lực để mưu lợi cho cá nhân. Điều đó dẫn tới sự rối loạn hệ giá trị trong đánh giá, thẩm định, vượt ngoài khuôn khổ cho phép và làm rối loạn kỷ cương, kỷ luật ở không ít nơi. Những trường hợp đó âm mưu sở hữu quyền lực một cách “vô pháp vô thiên”, rắp mưu hoành hành quyền lợi cá nhân, phe nhóm, phường hội. Nếu không nghiêm túc giải quyết tình trạng trên, dễ dẫn tới nạn rũ bỏ, trốn tránh trách nhiệm theo thẩm quyền, chia cắt kỷ luật và khoanh vùng kỷ luật và pháp luật, nguy cơ biến kỷ luật và pháp luật thành những “thanh kiếm phường chèo”(!). Qua các vụ đại án về tha hóa, thoái hóa quyền lực của nhiều cá nhân và tổ chức vi phạm pháp luật do lợi dụng quyền lực đã được xét xử gần đây cho thấy rõ tính nguy hại của vấn nạn trên; đồng thời, cảnh báo nghiêm khắc sự thiếu tôn trọng pháp luật hoặc cố tình giẫm đạp lên luật pháp đều dẫn đến những hệ lụy nguy hiểm đó.

Nhưng điều đáng sợ hơn là, khi bị chi phối bởi “lợi ích nhóm”, tệ “cát cứ phường hội”, băm nhỏ lợi ích quốc gia... tất sẽ dẫn đến tình trạng thật giả lẫn lộn, phải trái bất minh, “chụp mũ” những người năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung hoặc tấn công những người có dũng khí đấu tranh chống lại nạn lạm quyền, lộng quyền, hoặc cố ý làm trái; đồng thời, làm thui chột, thậm chí phá vỡ động lực phát triển, làm rạn vỡ đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược; xuất hiện nguy cơ làm băng hoại không ít tổ chức, cơ quan, đơn vị.

HAIVAN

Vấn đề quyền lực và kiểm soát quyền lực

 

Thực tiễn cách mạng nước ta yêu cầu: “Những người có thể phụ trách giải quyết các vấn đề, trong những hoàn cảnh khó khăn. Ai sợ phụ trách và không có sáng kiến thì không phải người lãnh đạo”. Công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ, hơn bao giờ hết đang “Đòi hỏi cao đối với cán bộ lãnh đạo, nhất là các đồng chí giữ cương vị trọng trách trong bộ máy của Đảng, Nhà nước ở Trung ương và địa phương, các đồng chí Ủy viên Trung ương, bí thư tỉnh, thành ủy, bộ trưởng, người đứng đầu các ngành, địa phương, đơn vị và các cán bộ lãnh đạo khác phải tự giác rèn luyện, nêu gương cho cấp dưới về sự giác ngộ chính trị, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống, sự hy sinh phấn đấu vì lý tưởng của Đảng, vì hạnh phúc của nhân dân”; “quy định rõ thẩm quyền và trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị”.

Theo nghĩa rộng thông thường, quyền lực là năng lực, khả năng của một cá nhân hay tổ chức tác động đến những cá nhân, tổ chức khác, buộc họ phải thực hiện ý chí của mình thông qua các hình thức thể hiện trên phương diện chính trị, lập pháp, hành chính, tư pháp, kinh tế, thông tin,...; trong đó, quyền lực chính trị là quan trọng nhất, bao trùm, chi phối mọi hoạt động của đời sống xã hội, trên nền tảng pháp lý và đạo lý. Trong giai đoạn hiện nay, cá nhân và tổ chức phải được trao hoặc ủy quyền đủ để thực thi quyền lực theo pháp luật đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Khi một cá nhân hay một tổ chức, dù lớn hay nhỏ, sẵn lòng ủy quyền, trao quyền cho người thể hiện được tài năng, đạo đức, sức lôi cuốn các cá nhân, để dẫn dắt cộng đồng thì việc giám sát sự thi hành thẩm quyền tự nó đã trở thành trách nhiệm đối với người trao quyền hoặc ủy quyền của cộng đồng, của quốc gia, theo pháp luật. Vì vậy, theo nghĩa nào đó, nếu thẩm quyền không gắn với trách nhiệm thì thẩm quyền hoặc bị buông lỏng, trở nên vô tác dụng hoặc bị tha hóa, thoái hóa trở nên không giới hạn. Và khi đó, sự mất cân bằng quyền lực sẽ xảy ra, tạo nên tình trạng quyền lực vô tác dụng, hoặc bị biến thành vật sở hữu của cá nhân, của phe nhóm, gây rối loạn xã hội.

Điều cần cảnh báo là, khi quyền lực đạt tới trình độ tuyệt đối, mặt đối lập của tình trạng này nhất định sẽ dẫn tới tha hóa tuyệt đối, nếu thẩm quyền không được khắc chế và kiểm soát bằng đạo đức, bằng pháp luật và các công cụ kiểm soát khác, thông qua đề cao trách nhiệm cá nhân. Nói một cách hình ảnh, nếu biết ra lệnh thì chỉ là quan chức, còn biết truyền cảm hứng và chủ động chịu trách nhiệm thì đó là người lãnh đạo, quản lý đúng nghĩa. Một trong những thử thách của sự lãnh đạo, quản lý chiến lược là khả năng giải quyết vấn đề một cách khoa học và dân chủ, đó cũng là mấu chốt đối với công việc kiểm soát quyền lực.

V.I. Lê-nin đã chỉ rõ rằng: “Lý do tồn tại của tổ chức đảng, và của các lãnh tụ xứng đáng với danh hiệu đó là, ngoài nhiều điểm khác, đảng và lãnh tụ còn phải thông qua một công tác lâu dài, kiên cường, thiên hình vạn trạng và nhiều mặt của tất cả những đại biểu giác ngộ của giai cấp mình mà thu hoạch được những kiến thức cần thiết, kinh nghiệm cần thiết, - ngoài kiến thức và kinh nghiệm - là tính nhạy bén chính trị cần thiết để giải quyết một cách chính xác và mau lẹ những vấn đề chính trị phức tạp”. Điều đó cho thấy rằng, sự nhạy bén chính trị cũng như việc kiểm soát quyền lực là những khâu quan trọng trong công cuộc lãnh đạo, cầm quyền của đảng cộng sản. Quyền lực được nhân dân ủy thác và giao phó cho Nhà nước; đến lượt mình, Nhà nước quản lý mang tầm chiến lược, chủ động đón nhận sự ủy thác quyền lực từ nhân dân và hoàn thành việc thực thi quyền lực của nhân dân một cách xứng đáng, theo phương châm minh bạch, dân chủ và đúng chức năng, nhiệm vụ theo luật định một cách thống nhất. Điều đó sẽ bảo đảm vị trí, vai trò cầm quyền của Đảng, nhằm kiến tạo và phát triển Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực và hiệu quả.

HAIVAN

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội bằng công tác vận động, tuyên truyền

 

Quốc hội thông qua cử tri, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, ý chí của nhân dân, vận động nhân dân tích cực tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, đặc biệt là vận động nhân dân thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ nhất, Đảng chú ý lắng nghe ý kiến, tiếng nói của mọi tầng lớp nhân dân. Để đổi mới hiệu quả phương thức lãnh đạo của Đảng bằng công tác vận động, tuyên truyền, mỗi đảng viên tham gia Quốc hội phải ra sức rèn luyện đạo đức gắn với học tập lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là về phát huy sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc,... để có phương pháp đúng đắn, hiệu quả trong việc vận động, tập hợp quần chúng nhân dân thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị.

Thứ hai, đại biểu Quốc hội là cầu nối giữa cử tri và Quốc hội, lắng nghe tiếng nói của cử tri về những vấn đề phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, tập hợp những ý kiến đó, chuyển tải đến Đảng; đồng thời, tập hợp, vận động nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Thứ ba, đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan, hội đồng, các ủy ban của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội có nhiệm vụ tham vấn minh bạch đối với nhu cầu, ý chí, nguyện vọng chính đáng của nhân dân về các chủ trương, đường lối và chính sách, đánh giá tác động của chính sách, pháp luật trong chương trình pháp luật, đánh giá thực hiện chính sách, tác động chính sách; từ đó, tham mưu với Đảng hoạch định “đúng” và “trúng”, kịp thời những vấn đề phát triển kinh tế - chính trị, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh trong bối cảnh mới.

Thứ tư, công tác dân nguyện không chỉ tham mưu thực hiện tốt công tác dân nguyện của Quốc hội, mà còn chủ động tiếp nhận, phân loại và xử lý đơn, thư của công dân, đi sâu phân tích, đánh giá kiến nghị cử tri, đôn đốc các cơ quan giải quyết kiến nghị của cử tri; từng bước khắc phục được tình trạng chuyển đơn, thư qua lại giữa các cơ quan của Quốc hội, thực hiện khẩn trương, hiệu quả hơn việc trả lời và thực hiện kiến nghị của cử tri. Chú trọng nắm bắt tâm tư, ý chí, nguyện vọng của nhân dân về các chủ trương, đường lối, chính sách, thông qua Ủy ban Thường vụ Quốc hội kịp thời chuyển tải đến các cơ quan lãnh đạo của Đảng ở Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Thứ năm, thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Quốc hội. Các đại biểu Quốc hội cần phải ra sức học tập đạo đức cách mạng theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, thực hiện “nói đi đôi với làm”, trở thành tấm gương sáng trong cơ quan và bên ngoài xã hội; từ đó, tạo uy tín, sức hút tự nhiên đối với các tầng lớp nhân dân trong xã hội.

HAIVAN

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội bằng công tác tổ chức cán bộ

 

Đại hội VI của Đảng đánh dấu sự đổi mới trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực, trong đó có quan điểm đổi mới về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Báo cáo chính trị của Đại hội VI chỉ rõ: “Nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước. Nêu cao vị trí và vai trò của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, tạo điều kiện cho các cơ quan dân cử thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn theo Hiến pháp quy định. Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và quản lý xã hội bằng pháp luật... Chấn chỉnh bộ máy quản lý nhà nước theo hướng tinh, gọn, có đủ năng lực thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật, chính sách cụ thể”.

Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng đã đề cập thêm một nhiệm vụ quan trọng của Quốc hội là quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Nhiệm vụ đặt ra với Quốc hội là kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, trọng tâm là tăng cường công tác lập pháp, đổi mới quy trình ban hành luật. Quốc hội cần làm tốt chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, quyết định và phân bổ ngân sách nhà nước, thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.

Thời gian qua, Đảng đoàn Quốc hội đã thực hiện nhiều quy trình chặt chẽ nhằm bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng với Quốc hội và công tác tổ chức cán bộ của Quốc hội. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn những nhiệm kỳ vừa qua, cần đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội về công tác tổ chức cán bộ như sau:

Một là, trước mỗi kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội, Đảng đoàn Quốc hội xây dựng đề án công phu về các nội dung lớn của cuộc bầu cử, trình Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương cho ý kiến; đồng thời, triển khai nghiêm túc kết luận của Bộ Chính trị về đề án bầu cử. Tuy nhiên, Đảng không làm thay, cụ thể là không ấn định về cơ cấu đại biểu, không quy định cơ cấu “cứng” phân bổ cho cơ quan, tổ chức. Thời gian qua, hầu hết người giới thiệu ứng cử trong cơ cấu “cứng” là lãnh đạo cơ quan, tổ chức làm cho tỷ lệ đại biểu là nhà khoa học và các giới, các ngành chưa cao, dẫn đến việc tỷ lệ không nhỏ đại biểu Quốc hội “gánh nhiều cơ cấu”. Xu hướng tăng dần đại biểu Quốc hội chuyên trách từ khoảng 5 - 6% tổng số đại biểu Quốc hội đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa IX lên 25,1% ở Quốc hội khóa XI, khoảng 35 - 40% ở Quốc hội khóa XIII và tăng khoảng 5% ở mỗi nhiệm kỳ tiếp theo là tín hiệu tốt; bởi vì, việc tăng số lượng đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách sẽ giúp Quốc hội hoạt động hiệu quả, chất lượng hơn.

Hai là, đổi mới công tác cán bộ, lựa chọn người đủ đức, đủ tài tham gia vào Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nhân sự cấp chiến lược phải chịu trách nhiệm trước Đảng về thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, tức là gắn việc lựa chọn nhân sự cấp chiến lược với thực hiện chính sách; nói cách khác là tích hợp phương thức lãnh đạo bằng công tác cán bộ với phương thức lãnh đạo bằng chính sách. Nhân sự cơ cấu vào các ủy ban của Quốc hội như hiện nay về cơ bản là phù hợp, bảo đảm sự kết nối giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Hội đồng Dân tộc, các ủy ban, các cơ quan thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội, gồm có 3 cơ quan giúp việc về các lĩnh vực công tác đại biểu, dân nguyện, lập pháp. Đặc biệt, Ban Công tác đại biểu làm tốt công tác tham mưu, việc phục vụ bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân đi vào nền nếp; nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách.

Trong thời gian qua, Đảng đã lãnh đạo Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện tốt nhiệm vụ là cơ quan thường trực của Quốc hội, chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của các cơ quan của Quốc hội. Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã phân công Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội thẩm tra các dự án luật, nghị quyết và các báo cáo, dự án khác theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; thực hiện các nội dung thuộc chương trình giám sát của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Ba là, cần có cơ chế tăng cường vai trò, sự tham gia của Đảng đoàn Quốc hội và tổ chức đảng ở Thường trực Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội từ sớm, từ xa trong tham mưu với Đảng để quyết định chủ trương, đường lối, chính sách; có quy định về sự phối hợp giữa Đảng đoàn Quốc hội và cơ quan trình nội dung nghị quyết ra Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhằm tạo sự đồng thuận trong hoạt động của Quốc hội. Đề cao vai trò của Bí thư, Phó Bí thư Đảng đoàn Quốc hội và Đảng đoàn Quốc hội chịu trách nhiệm trước Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về kết quả hoạt động của Quốc hội, mở rộng thêm phạm vi đánh giá và cụ thể hóa bằng việc đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách mà Đảng đã hoạch định.

Bốn là, đổi mới phương thức lãnh đạo qua các tổ chức đảng trong Quốc hội, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Hội đồng Dân tộc và 9 ủy ban (từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII) thông qua các tổ chức đảng tại đây. Hội đồng Dân tộc và các ủy ban có thường trực, gồm chủ tịch/chủ nhiệm, phó chủ tịch/phó chủ nhiệm và ủy viên hoạt động chuyên trách. Cần sớm hoàn thiện tổ chức đảng trong Quốc hội để gắn kết, quản lý chặt chẽ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ở các cơ quan của Quốc hội, cơ quan của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; quy định rõ vai trò của tổ chức đảng ở Hội đồng Dân tộc và các ủy ban của Quốc hội trong lãnh đạo cơ quan tương ứng của Quốc hội; có mô hình tổ chức đảng đặc thù trong Quốc hội khi tăng đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách.

Năm là, đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Đoàn đại biểu Quốc hội, tập trung vào các đại biểu Quốc hội chuyên trách, giúp Đoàn đại biểu Quốc hội phát huy được vai trò là cầu nối giữa đại biểu và công dân cử tri, cung cấp thêm nhiều thông tin, dữ liệu minh bạch hơn cho hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội, giúp đại biểu Quốc hội thực hiện tốt nhiệm vụ.

Sáu là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng qua tìm kiếm, lựa chọn nhân tài là nhân sự cấp chiến lược vào bộ phận hỗ trợ, tham mưu cho Quốc hội, điển hình như vị trí Tổng Thư ký Quốc hội và tăng cường kỷ cương hành chính, mục tiêu cải cách hành chính đối với Văn phòng Quốc hội.

HAIVAN

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội bằng các chủ trương, đường lối, chính sách lớn

 

Trong thời gian qua, Quốc hội đã làm tốt nhiệm vụ thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành luật và nghị quyết của Quốc hội. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã quy định nội dung thẩm tra bắt buộc về sự phù hợp của nội dung dự thảo văn bản với đường lối, chủ trương của Đảng. Đảng đoàn Quốc hội đã phát huy vai trò tích cực, chủ động trong việc lãnh đạo, chỉ đạo đối với các hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội. Các chủ trương, chính sách lớn, phức tạp đều được kịp thời báo cáo xin ý kiến Bộ Chính trị, Ban Bí thư để có phương án giải quyết phù hợp, hiệu quả. Đảng đoàn Quốc hội luôn thực hiện nghiêm túc việc xin ý kiến của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư những định hướng lớn về nội dung các hoạt động của Quốc hội, những vấn đề chủ yếu của một số dự án luật, pháp lệnh quan trọng, có tác động và ảnh hưởng đến tình hình chính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế, xã hội và đời sống nhân dân.

Quốc hội kịp thời phản ánh với Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư những ý kiến, kiến nghị của nhân dân về xây dựng đất nước nhằm góp phần vào việc định hướng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng. Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV, hoạt động của Đảng đoàn Quốc hội đã có nhiều đổi mới trong việc xin ý kiến Bộ Chính trị. Các nội dung báo cáo xin ý kiến được phân thành nhóm vấn đề, để vừa bảo đảm tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, vừa phát huy dân chủ trong thảo luận của Quốc hội, bao gồm vấn đề cần xin ý kiến chỉ đạo cụ thể, vấn đề báo cáo để Bộ Chính trị nắm thông tin và xin được trình Quốc hội xem xét, thảo luận.

Kế thừa những kết quả trong thời gian qua, trong giai đoạn tiếp theo cần đẩy mạnh đổi mới phương thức lãnh đạo bằng các chủ trương, đường lối, chính sách, cụ thể như sau:

Thứ nhất, tiếp tục bổ sung, phát triển đường lối chính trị để giúp Đảng lãnh đạo Nhà nước toàn diện, trong đó có lãnh đạo Quốc hội. Với vai trò của mình, Quốc hội có nhiệm vụ thực hiện đường lối chính trị được tuyên ngôn trong Cương lĩnh và những chủ trương lớn của Đảng. Đường lối chính trị được xác định cụ thể trong văn kiện các kỳ đại hội Đảng và cụ thể hóa tại các hội nghị Trung ương bằng các nghị quyết chuyên đề xác định các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chính sách xuất phát từ yêu cầu thực tiễn.

Thứ hai, nâng cao chất lượng thảo luận về các vấn đề phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, môi trường, quốc phòng - an ninh, ban hành kịp thời nghị quyết; trong đó, xác định rõ các mục tiêu, gợi ý giải pháp và công cụ chính sách phù hợp để Nhà nước thực hiện. Một mặt, Quốc hội là một thành tố trong hệ thống chính trị, có nhiệm vụ thực hiện các mục tiêu chính sách này; mặt khác, là cơ quan thực hiện quyền lập pháp và giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và Nghị quyết của Quốc hội.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội bằng các chủ trương, đường lối, chính sách bảo đảm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, ổn định, công khai, minh bạch, có sức cạnh tranh quốc tế theo yêu cầu, định hướng của Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa đến năm 2030 và định hướng đến năm 2045. Đổi mới phương thức lãnh đạo gắn liền với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật để thực hiện các mục tiêu chính sách trong các lĩnh vực, ngành trên cơ sở chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng đã được hoạch định.

Đổi mới phương thức lãnh đạo bằng các chủ trương, đường lối, chính sách bảo đảm Đảng không làm thay Nhà nước, trong đó có Quốc hội, trong việc tổ chức thực hiện chính sách trên tất cả các mặt, các lĩnh vực đời sống xã hội; đồng thời, trên cơ sở đường lối, chủ trương, chính sách lớn, Đảng lãnh đạo Nhà nước, trong đó có Quốc hội, tiếp tục hoàn thiện các chính sách cụ thể và thực hiện chính sách, đánh giá chính sách qua các chức năng của Quốc hội, như ban hành các nghị quyết, chương trình pháp luật, quyết định những vấn đề quan trọng, giám sát tối cao... Các mục tiêu chính sách cần được đo lường cụ thể bằng các chỉ số, các tiêu chí định lượng để thuận lợi cho việc thực hiện, giám sát đánh giá.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng để Quốc hội thực hiện chính sách bằng chương trình pháp luật (thông qua các luật) và chương trình giám sát, thực hiện chính sách thông qua các quyết định quan trọng; trong đó, quá trình thực hiện ngân sách Quốc hội cũng là việc thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, từ việc phân bổ ngân sách, quyết toán ngân sách. Do đó, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội, qua các hoạt động của Quốc hội đều gắn với việc thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách mà Đảng với tư cách là thành tố cốt lõi lãnh đạo hệ thống chính trị đã hoạch định và xây dựng. Như vậy, đổi mới phương thức lãnh đạo bằng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng gắn liền với đổi mới hoạt động của Quốc hội, tạo thành xung lực lớn thúc đẩy quản trị quốc gia hiệu quả, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.

Thời gian qua, các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, như giảm nghèo, bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển bền vững, phòng, chống tham nhũng, ứng phó với biến đổi khí hậu, tự chủ và xã hội hóa cung ứng dịch vụ công, giáo dục - y tế, phòng, chống đại dịch COVID-19,... đều gắn với chương trình pháp luật và quyết định những vấn đề quan trọng, như quyết định ngân sách, quyết định đầu tư công phục hồi kinh tế - xã hội sau đại dịch COVID-19. Yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay là phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội, đổi mới hoạt động lập pháp của Quốc hội nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng, bảo đảm tiến độ ban hành luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo lập khung khổ pháp lý để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030, định hướng đến năm 2045.

Thứ ba, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng gắn liền trách nhiệm kiểm tra, giám sát đánh giá việc thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách. Nhà nước, trong đó có Quốc hội, thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách thông qua chương trình pháp luật, thông qua các luật, bảo đảm hiệu lực các luật và hệ thống pháp luật, sự tuân thủ pháp luật thông qua hoạt động giám sát, căn cứ vào các mục tiêu chính sách của từng lĩnh vực, từng ngành với các chỉ tiêu, tiêu chí cụ thể.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng Đảng kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện các chính sách, tác động chính sách (sau thực hiện), thông qua sơ kết, tổng kết các nghị quyết được ban hành vào giữa nhiệm kỳ hoặc kết thúc nhiệm kỳ của Nhà nước, Quốc hội, để bảo đảm việc kiểm tra, giám sát đánh giá kết quả thực hiện, tác động của các chủ trương, chính sách một cách đầy đủ nhất.   

Thứ tư, nâng cao chất lượng hoạch định chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bao gồm tăng cường chất lượng phân tích chính sách, tham vấn chính sách, bảo đảm các mục tiêu chính sách phù hợp, đồng thuận đối với Nhà nước, nhất là Quốc hội với cộng đồng xã hội. Mấu chốt của việc đổi mới ở đây là, trên cơ sở đường lối chính trị thể hiện trong Cương lĩnh, các nghị quyết được ban hành “đúng” và “trúng”, nhất là các nghị quyết chuyên đề, tạo sự đồng thuận trong cả hệ thống chính trị, tạo điều kiện thuận lợi cho Quốc hội tổ chức thực hiện. 

Thứ năm, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng để tạo sự chủ động, sáng tạo trong hoạt động của Quốc hội, nhất là hoạt động lập pháp đối với một số chủ trương, đường lối, chính sách mà Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị quyết định khung để Quốc hội thảo luận, quyết định cụ thể trong phạm vi chủ trương của Đảng; đồng thời, giúp Bộ Chính trị kịp thời điều chỉnh các nội dung chỉ đạo của Đảng đối với vấn đề quan trọng, mà qua thảo luận tại Quốc hội còn có ý kiến khác nhau. Với từng nhiệm kỳ Quốc hội, Đảng có định hướng chương trình xây dựng luật, pháp lệnh cho cả nhiệm kỳ.

HAIVAN