Thứ Năm, 12 tháng 1, 2023
10 NĂM BỀN BỈ PHÒNG, CHỐNG “GIẶC NỘI XÂM”
“LẤY NHỎ THẮNG LỚN, LẤY ÍT ĐỊCH NHIỀU, LẤY YẾU ĐÁNH MẠNH” LÀ NỘI DUNG CHỦ ĐẠO, NÉT ĐỘC ĐÁO CỦA NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM NHẰM PHÁT HUY TRÍ TUỆ, Ý CHÍ, SỨC MẠNH CỦA TOÀN DÂN, CŨNG NHƯ KHẢ NĂNG ĐỘNG VIÊN CẢ NƯỚC ĐÁNH GIẶC VỚI LỰC LƯỢNG VŨ TRANG LÀM NÒNG CỐT; ĐỒNG THỜI, GIẢI QUYẾT HỢP LÝ CÁC YẾU TỐ THIÊN THỜI - ĐỊA LỢI - NHÂN HÒA, LỰA CHỌN, VẬN DỤNG CÁCH ĐÁNH LINH HOẠT, SÁNG TẠO ĐỂ GIÀNH CHIẾN THẮNG. TRONG LỊCH SỬ CHỐNG GIẶC NGOẠI XÂM, DÂN TỘC VIỆT NAM THƯỜNG PHẢI ĐƯƠNG ĐẦU VỚI CÁC THẾ LỰC XÂM LƯỢC MẠNH HƠN TA RẤT NHIỀU LẦN. VÌ VẬY, LỰA CHỌN ĐƯỜNG LỐI CHIẾN TRANH NHÂN DÂN LÀ SỰ LỰA CHỌN DUY NHẤT ĐÚNG CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ NHÂN DÂN TA; TRONG ĐÓ “LẤY NHỎ THẮNG LỚN, LẤY ÍT ĐỊCH NHIỀU, LẤY YẾU ĐÁNH MẠNH” LÀ NỘI DUNG NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ CHỦ ĐẠO, PHÙ HỢP VỚI CÁC ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH LỊCH SỬ CỦA ĐẤT NƯỚC, DÂN TỘC. NGHỆ THUẬT ĐÓ KHÔNG NHỮNG TRỞ THÀNH TRUYỀN THỐNG ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC, MÀ CÒN THỂ HIỆN TÍNH NHÂN ĐẠO, NHÂN VĂN SÂU SẮC CỦA VĂN HÓA QUÂN SỰ VIỆT NAM. HIỆN NAY, CÓ MỘT SỐ CUỐN SÁCH VIẾT LÀ TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ, CÓ VĂN BẢN VIẾT LÀ QUAN ĐIỂM QUÂN SỰ, THEO CHÚNG TÔI, GỌI NHƯ THẾ NÀO CÒN TÙY THUỘC VÀO QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU KHI KHAI THÁC NỘI HÀM CHỦ ĐẠO NÀY CỦA NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ. BÀI VIẾT NÀY ĐƯA RA MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ “LẤY NHỎ THẮNG LỚN, LẤY ÍT ĐỊCH NHIỀU, LẤY YẾU ĐÁNH MẠNH” VỚI TƯ CÁCH LÀ NỘI DUNG CƠ BẢN, BAO TRÙM CỦA NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ, CÓ TÍNH CHẤT NHƯ LÀ TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠO CÁC HOẠT ĐỘNG CHUẨN BỊ VÀ TIẾN HÀNH THẮNG LỢI CHIẾN TRANH NHÂN DÂN VIỆT NAM THEO NGHĨA RỘNG, ĐẶC BIỆT LÀ TRONG CHỈ ĐẠO CÁC HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ, KHÔNG NÊN HIỂU THEO NGHĨA HẸP, ĐƠN THUẦN VỀ SỬ DỤNG LỰC LƯỢNG. 1. TẠO NGUỒN SỨC MẠNH GIỮ NƯỚC TRONG NHÂN DÂN, THỰC HIỆN CẢ NƯỚC ĐÁNH GIẶC VỚI LỰC LƯỢNG VŨ TRANG LÀM NÒNG CỐT TẠO NGUỒN SỨC MẠNH TRONG NHÂN DÂN, PHÁT ĐỘNG ĐƯỢC CẢ NƯỚC ĐÁNH GIẶC LÀ MỘT TRONG NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHỆ THUẬT “LẤY NHỎ THẮNG LỚN, LẤY ÍT ĐỊCH NHIỀU, LẤY YẾU ĐÁNH MẠNH”. TRONG LỊCH SỬ CHỐNG GIẶC NGOẠI XÂM, TỔ TIÊN TA LUÔN COI TRỌNG VÀ LẤY DÂN LÀM GỐC, DỰA VÀO SỨC MẠNH NƠI DÂN, COI SỰ ĐỒNG LÒNG, ỦNG HỘ CỦA NHÂN DÂN LÀ THÀNH TRÌ VỮNG CHẮC NHẤT - “CHÚNG CHÍ THÀNH THÀNH”. KHƠI DẬY LÒNG TỰ HÀO, TỰ TÔN DÂN TỘC, TINH THẦN YÊU NƯỚC NỒNG NÀN, CHÍ CĂM THÙ GIẶC SÂU SẮC, TÍNH CỐ KẾT CỘNG ĐỒNG, Ý CHÍ KIÊN CƯỜNG, BẤT KHUẤT ĐỂ THỰC HIỆN CẢ NƯỚC ĐÁNH GIẶC - “CỬ QUỐC NGHÊNH ĐỊCH”. THỜI NHÀ TRẦN ĐỀ CAO TƯ TƯỞNG “VUA TÔI ĐỒNG LÒNG, ANH EM HÒA THUẬN, CẢ NƯỚC GÓP SỨC”, “KHOAN THƯ SỨC DÂN LÀM KẾ SÂU RỄ BỀN GỐC”; THỜI HẬU LÊ LÀ TƯ TƯỞNG: “CHỞ THUYỀN LÀ DÂN, LẬT THUYỀN CŨNG LÀ DÂN”, TẤT CẢ ĐỀU HƯỚNG ĐẾN MỤC TIÊU HUY ĐỘNG ĐƯỢC TOÀN THỂ NHÂN DÂN THAM GIA ĐÁNH GIẶC VỚI TINH THẦN “GIẶC ĐẾN NHÀ ĐÀN BÀ CŨNG ĐÁNH”. CHỈ CÓ TOÀN DÂN ĐÁNH GIẶC MỚI TẠO ĐƯỢC THẾ TRẬN “LÀNG - NƯỚC”, CÓ THỂ ĐÁNH ĐƯỢC GIẶC TRÊN KHẮP ĐẤT NƯỚC, ĐÁNH Ở PHÍA TRƯỚC, BÊN SƯỜN, PHÍA SAU VÀ TRONG LÒNG ĐỊCH, V.V. THỰC TIỄN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN MÔNG - NGUYÊN XÂM LƯỢC, VƯƠNG TRIỀU NHÀ TRẦN RA LỜI HIỆU TRIỆU: TẤT CẢ CÁC CHÂU, PHỦ, HUYỆN, HƯƠNG, Xà TRONG CẢ NƯỚC, NẾU CÓ GIẶC NGOÀI ĐẾN, PHẢI LIỀU CHẾT MÀ ĐÁNH. NẾU SỨC KHÔNG ĐỊCH NỔI THÌ CHO PHÉP LẨN TRÁNH VÀO RỪNG NÚI, KHÔNG ĐƯỢC ĐẦU HÀNG. KHI CUỘC KHÁNG CHIẾN KẾT THÚC, LÚC XÉT CÔNG, ĐỊNH TỘI, TRIỀU ĐÌNH THẤY CÓ HAI HƯƠNG LÀ BA ĐIỂM VÀ BĂNG HÀ (Ở PHÍA ĐÔNG VẠN KIẾP) Đà KHÔNG TỔ CHỨC THAM GIA ĐÁNH GIẶC KHI QUÂN CỦA Ô Mà NHI KÉO ĐẾN, BÈN XỬ TỘI ĐỒ, NGƯỜI DÂN Ở HAI HƯƠNG ĐÓ ĐỜI ĐỜI KHÔNG ĐƯỢC LÀM QUAN. TRONG LỊCH SỬ DỰNG NƯỚC VÀ GIỮ NƯỚC, BÀI THƠ THẦN CỦA LÝ THƯỜNG KIỆT, HỊCH TƯỚNG SĨ CỦA HƯNG ĐẠO VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN, BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO CỦA NGUYỄN TRÃI HAY LỜI KÊU GỌI TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH ĐỀU LÀ NHỮNG ÁNG HÙNG VĂN, Đà KHƠI DẬY TINH THẦN YÊU NƯỚC, Ý CHÍ KIÊN CƯỜNG, BẤT KHUẤT CỦA CẢ NƯỚC ĐỨNG LÊN ĐÁNH ĐUỔI QUÂN XÂM LƯỢC. TUY NHIÊN, DÂN TỘC VIỆT NAM CŨNG CÓ NHỮNG BÀI HỌC ĐẮT GIÁ DẪN ĐẾN MẤT NƯỚC DO LÒNG DÂN KHÔNG THUẬN. ĐIỂN HÌNH LÀ DƯỚI TRIỀU HỒ, MẶC DÙ CÓ QUÂN ĐỘI MẠNH, VŨ KHÍ TỐT, THÀNH CAO, HÀO SÂU ĐỂ CHỐNG GIẶC, NHƯNG LẠI KHÔNG ĐƯỢC NHÂN DÂN ỦNG HỘ DẪN ĐẾN MẤT NƯỚC. ĐIỀU ĐÓ ĐƯỢC THỂ HIỆN QUA CÂU NÓI ĐẦY ĐAU XÓT CỦA HỒ NGUYÊN TRỪNG: “THẦN KHÔNG SỢ ĐÁNH, CHỈ SỢ LÒNG DÂN KHÔNG THEO”. CÙNG VỚI CẢ NƯỚC ĐÁNH GIẶC, NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ “LẤY NHỎ THẮNG LỚN, LẤY ÍT ĐỊCH NHIỀU, LẤY YẾU ĐÁNH MẠNH” CŨNG CHỈ RA RẰNG, CẦN PHẢI CÓ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG LÀM NÒNG CỐT. VÌ VẬY, XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG VỮNG MẠNH, LÀM NÒNG CỐT CHO TOÀN DÂN ĐÁNH GIẶC LÀ NHIỆM VỤ CƠ BẢN, QUAN TRỌNG CÓ Ý NGHĨA QUYẾT ĐỊNH TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC. TRONG THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH, ĐẢNG TA XÁC ĐỊNH, XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG BA THỨ QUÂN LÀM NÒNG CỐT CHO TOÀN DÂN ĐÁNH GIẶC. ĐÂY LÀ SỰ KẾ THỪA TRUYỀN THỐNG GIỮ NƯỚC QUÝ BÁU CỦA DÂN TỘC. TRONG LỊCH SỬ NƯỚC NHÀ, TỔ TIÊN TA CŨNG Đà XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHIỀU THỨ QUÂN: QUÂN TRIỀU ĐÌNH (CHỦ LỰC); QUÂN CÁC LỘ, PHỦ, CHÂU; QUÂN CỦA CÁC VƯƠNG HẦU, QUÝ TỘC; DÂN BINH, THỔ BINH TRONG CÁC LÀNG, XÃ,… TỰU CHUNG LẠI CÓ QUÂN ĐỊA PHƯƠNG (TẠI CHỖ) VÀ QUÂN CHỦ LỰC (CƠ ĐỘNG). QUÂN ĐỊA PHƯƠNG ĐƯỢC XÂY DỰNG MẠNH, RỘNG KHẮP, ĐỦ SỨC LÀM NÒNG CỐT CHO NHÂN DÂN Ở CÁC ĐỊA PHƯƠNG ĐÁNH GIẶC. QUÂN CHỦ LỰC XÂY DỰNG THEO QUAN ĐIỂM “NGỤ BINH Ư NÔNG”, “QUÂN CỐT TINH, KHÔNG CỐT NHIỀU” ĐỦ SỨC CƠ ĐỘNG THỰC HIỆN CÁC ĐÒN ĐÁNH TIÊU DIỆT CÓ TRỌNG ĐIỂM. BÊN CẠNH ĐÓ, QUÂN ĐỘI PHẢI CHÍNH NGHĨA, CÓ Ý CHÍ, QUYẾT TÂM CHIẾN ĐẤU CAO, NHƯ THỜI NHÀ TRẦN, QUÂN SĨ Đà THÍCH HAI CHỮ “SÁT THÁT” LÊN CÁNH TAY ĐỂ THỂ HIỆN QUYẾT TÂM DIỆT GIẶC. PHẢI HUẤN LUYỆN QUÂN SĨ TINH THÔNG VÕ NGHỆ, “TẬP DƯỢT CUNG TÊN KHIẾN NGƯỜI NGƯỜI GIỎI NHƯ BÀNG MÔNG, NHÀ NHÀ ĐỀU LÀ HẬU NGHỆ”, LẠI PHẢI NẮM VỮNG BINH PHÁP. XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI CÓ TINH THẦN ĐOÀN KẾT, “PHẢI ĐẠT ĐƯỢC QUÂN ĐỘI ĐỒNG LÒNG NHƯ CHA CON MỘT NHÀ”1, “TƯỚNG SĨ MỘT LÒNG PHỤ TỬ, HÒA NƯỚC SÔNG CHÉN RƯỢU NGỌT NGÀO” CÓ THẾ MỚI DÙNG ĐƯỢC. LẠI PHẢI CHỌN DÙNG TƯỚNG GIỎI ĐỂ CHỈ HUY QUÂN SĨ, “TRONG QUÂN CÓ NGƯỜI ỐM, TƯỚNG PHẢI THÂN HÀNH ĐEM THUỐC ĐIỀU TRỊ, QUÂN CÓ NGƯỜI CHẾT TƯỚNG PHẢI KHÓC THƯƠNG, QUÂN ĐI THÚ XA THÌ SAI VỢ CON ĐẾN NHÀ THĂM HỎI”, SONG “TƯỚNG DŨNG CÓ THỂ GIÚP ĐƯỢC VIỆC ĐÁNH THÀNH HÃM TRẬN, NHƯNG LIỆU TÍNH VIỆC ĐỊCH, CHIA ĐẶT QUÂN KỲ, LÂM CƠ ỨNG BIẾN NẾU KHÔNG CÓ TƯỚNG TRÍ THÌ KHÔNG ĐƯỢC. MÀ KẺ DŨNG THÌ THƯỜNG KÉM KẺ MƯU”2. DO ĐÓ, KHI “LẤY NHỎ THẮNG LỚN, LẤY ÍT ĐỊCH NHIỀU, LẤY YẾU ĐÁNH MẠNH” BÊN CẠNH NHỮNG TƯỚNG GIỎI CŨNG CẦN TƯỚNG CÓ NHIỀU MƯU LƯỢC ĐỂ CHỈ HUY. 2. VẬN DỤNG CÁCH ĐÁNH LINH HOẠT, PHÙ HỢP NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ “LẤY NHỎ THẮNG LỚN, LẤY ÍT ĐỊCH NHIỀU, LẤY YẾU ĐÁNH MẠNH” TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠO VẬN DỤNG CÁCH ĐÁNH TRONG NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ “LẤY NHỎ THẮNG LỚN, LẤY ÍT ĐỊCH NHIỀU, LẤY YẾU ĐÁNH MẠNH” ĐƯỢC THỂ HIỆN RÕ NÉT TRONG DI CHÚC CANH TÝ CỦA HƯNG ĐẠO VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN: “NÓ CẬY TRƯỜNG TRẬN, TA CẬY ĐOẢN BINH, LẤY ĐOẢN CHỐNG TRƯỜNG ĐÓ LÀ VIỆC THƯỜNG TRONG BINH PHÁP”3 VÀ TRONG THỜI HẬU LÊ LÀ “THẾ TRẬN XUẤT KỲ LẤY YẾU CHỐNG MẠNH, DÙNG QUÂN MAI PHỤC LẤY ÍT ĐỊCH NHIỀU”. ĐÂY LÀ NHỮNG TƯ TƯỞNG THỂ HIỆN QUAN ĐIỂM ĐÁNH ĐỊCH LINH HOẠT, QUYỀN BIẾN, TÙY CƠ ỨNG BIẾN. TRƯỚC HẾT, PHẢI ĐÁNH GIÁ ĐÚNG TÌNH HÌNH ĐỊCH, TA, ĐỂ CÓ PHƯƠNG LƯỢC HÀNH ĐỘNG ĐÚNG; ĐÁNH GIÁ ĐÚNG ĐỊCH ĐỂ CÓ THỂ HẠN CHẾ CHỖ MẠNH ĐÁNH VÀO CHỖ YẾU, CHỖ HIỂM YẾU CỦA CHÚNG, ĐÁNH GIÁ ĐÚNG TA ĐỂ CÓ SỰ CHỦ ĐỘNG CHUẨN BỊ ĐÁNH ĐỊCH. TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN MÔNG - NGUYÊN LẦN THỨ BA, KHI ĐƯỢC NHÀ VUA HỎI VỀ KẾ SÁCH ĐÁNH GIẶC, HƯNG ĐẠO VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN TRẢ LỜI “NĂM NAY ĐÁNH GIẶC NHÀN”, ĐIỀU ĐÓ CHỨNG TỎ VỊ QUỐC CÔNG TIẾT CHẾ Đà NGHIÊN CỨU, NẮM CHẮC VỀ QUÂN XÂM LƯỢC CŨNG NHƯ “THẾ NƯỚC” CỦA DÂN TỘC CHUẨN BỊ KHÁNG CHIẾN. QUÂN MÔNG - NGUYÊN CÓ KỴ BINH CƠ ĐỘNG MẠNH ĐÓ LÀ “TRƯỜNG TRẬN”, TA DÙNG “ĐOẢN BINH” - ĐÁNH GẦN, ĐÁNH BẤT NGỜ, NHỎ LẺ, RỘNG KHẮP, KẾT HỢP VỚI THẾ CỦA SÔNG NƯỚC, ĐỊA HÌNH NÊN Đà CHẾ NGỰ ĐƯỢC “TRƯỜNG TRẬN” CỦA CHÚNG, ĐÓ LÀ NGHỆ THUẬT “LẤY NHỎ THẮNG LỚN, LẤY ÍT ĐỊCH NHIỀU, LẤY YẾU ĐÁNH MẠNH”. “LẤY NHỎ THẮNG LỚN, LẤY ÍT ĐỊCH NHIỀU, LẤY YẾU ĐÁNH MẠNH” PHẢI GIẢI QUYẾT HỢP LÝ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC NHÂN TỐ THIÊN THỜI, ĐỊA LỢI, NHÂN HÒA ĐỂ TẠO NÊN SỨC MẠNH LỚN NHẤT ĐÁNH THẮNG QUÂN XÂM LƯỢC. THIÊN THỜI KHÔNG BẰNG ĐỊA LỢI, ĐỊA LỢI KHÔNG BẰNG NHÂN HÒA, TRONG ĐÓ NHÂN HÒA LÀ QUAN TRỌNG NHẤT, CÒN ĐỊA LỢI NGHĨA LÀ BIẾT TẬN DỤNG VÀ CẢI TẠO ĐỊA HÌNH THÀNH THẾ CÓ LỢI CHO TA, BUỘC ĐỊCH PHẢI HÀNH ĐỘNG Ở ĐỊA HÌNH BẤT LỢI. TRONG LỊCH SỬ CHỐNG GIẶC NGOẠI XÂM, TỔ TIÊN TA THƯỜNG DỰA VÀO SÔNG NƯỚC ĐỂ CHẶN ĐỊCH, DỰA VÀO NÚI RỪNG ĐỂ ĐÁNH NHỎ LẺ, RỘNG KHẮP, TẠO THẾ, TẠO THỜI CƠ, DỰA VÀO ĐỊA HÌNH TRUNG DU, ĐỒNG BẰNG ĐỂ ĐEM QUÂN THỦY, BỘ ĐÁNH CÁC ĐÒN TIÊU DIỆT LỚN Ở CÁC TRỌNG ĐIỂM. NGUYỄN SƯỞNG - NHÀ THƠ THỜI NHÀ TRẦN, KHI CA NGỢI CHIẾN THẮNG BẠCH ĐẰNG Đà VIẾT: “THÙY CHI VẠN CỔ TRÙNG HƯNG NGHIỆP/BÁN TẠI QUAN HÀ, BÁN TẠI NHÂN” - CÓ AI BIẾT RẰNG SỰ NGHIỆP THỜI TRÙNG HƯNG LƯU DANH MUÔN THUỞ/MỘT NỬA LÀ DO SÔNG NÚI, MỘT NỬA DO NGƯỜI4. BÊN CẠNH ĐÓ, ĐỊA HÌNH, THỜI TIẾT NƯỚC TA CŨNG LÀ MỘT YẾU TỐ QUAN TRỌNG GÓP PHẦN TĂNG THÊM SỨC MẠNH KHÁNG CHIẾN. QUÂN ĐỊCH THƯỜNG KHỞI BINH XÂM LƯỢC NƯỚC TA VÀO MÙA ĐÔNG, THỜI TIẾT PHÙ HỢP VỚI CHÚNG Ở PHƯƠNG BẮC, CÒN QUÂN VÀ DÂN TA THƯỜNG TRÌ HOÃN CHIẾN KÉO SANG MÙA XUÂN, MÙA HÈ VỚI THỜI TIẾT NHIỆT ĐỚI LAM SƠN CHƯỚNG KHÍ NGÀY CÀNG NHIỀU, DỊCH BỆNH HOÀNH HÀNH, KHIẾN QUÂN ĐỊCH ỐM ĐAU, TINH THẦN SUY SỤP, SỨC CHIẾN ĐẤU GIẢM SÚT ĐẾN MỨC CHÚNG CŨNG PHẢI TỰ ĐÁNH GIÁ “KHÍ ĐỘC HẠI NGƯỜI CÒN HƠN LÀ BINH ĐAO”5 VÀ ĐẠI VIỆT “CHỈ CẬY CÓ NÚI BIỂN HIỂM TRỞ VÀ LAM CHƯỚNG ÁC LIỆT MÀ THÔI”6. “LẤY NHỎ THẮNG LỚN, LẤY ÍT ĐỊCH NHIỀU, LẤY YẾU ĐÁNH MẠNH” PHẢI COI TRỌNG DÙNG MƯU KẾ, TẠO LẬP VÀ CHUYỂN HÓA THẾ TRẬN LINH HOẠT, TỪ ĐÓ TẠO RA THỜI CƠ CÓ LỢI ĐỂ ĐÁNH ĐỊCH Ở THẾ CÓ LỢI. TRONG CÁC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG XÂM LƯỢC, TỔ TIÊN TA ĐẶC BIỆT CHĂM LO XÂY DỰNG THẾ TRẬN CẢ NƯỚC ĐÁNH GIẶC, “NGƯỜI ĐÁNH GIỎI THƯỜNG TÌM Ở THẾ, KHÔNG TRÁCH Ở NGƯỜI, CHO NÊN MỚI CHỌN NGƯỜI MÀ DÙNG THẾ”. PHẢI KẾT HỢP CHẶT CHẼ “THẾ NGƯỜI” - THẾ BỐ TRÍ LỰC LƯỢNG VỚI THẾ CỦA ĐỊA HÌNH, HÌNH THÀNH THẾ XEN KẼ VỚI ĐỊCH Ở CẢ CẤP CHIẾN THUẬT VÀ CHIẾN LƯỢC TRÊN CƠ SỞ THẾ TRẬN “LÀNG - NƯỚC”, MỘT THẾ TRẬN ĐẶC THÙ CỦA CHIẾN TRANH NHÂN DÂN ĐẠI VIỆT. LẬP THẾ PHẢI HẠN CHẾ CHỖ MẠNH, ĐÁNH VÀO CHỖ YẾU CỦA ĐỊCH, ĐƯA QUÂN ĐỊCH VÀO TÌNH THẾ “CÁ LỚN LỘI Ở CHỖ NƯỚC NÔNG”, “THÚ MẠNH Đà SA VÀO ĐỒNG NỘI” MÀ TA THÌ CÓ THỂ TỰ DO HÀNH ĐỘNG, CHỦ ĐỘNG ỨNG BIẾN LINH HOẠT Ở THẾ TRẬN CÓ LỢI, PHẢI ĐẠT ĐƯỢC “ĐÁNH Ở CHỖ KHÔNG CÓ THÀNH, CÔNG Ở CHỖ KHÔNG CÓ LŨY, CHIẾN Ở CHỖ KHÔNG CÓ TRẬN”. PHẢI TRÊN CƠ SỞ THẾ TRẬN CẢ NƯỚC ĐÁNH GIẶC, KẾT HỢP CHẶT CHẼ, PHÁT HUY CAO ĐỘ SỨC MẠNH CỦA CÁC LỰC LƯỢNG. VẬN DỤNG LINH HOẠT CÁC HÌNH THỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP TÁC CHIẾN, ĐÁNH ĐỊCH NHỎ LẺ, RỘNG KHẮP, THƯỜNG XUYÊN, LIÊN TỤC, ĐÁNH ĐỊCH NGAY CẢ KHI PHẢI RÚT LUI CHIẾN LƯỢC, ĐẨY ĐỊCH VÀO THẾ BỊ SÁT THƯƠNG, TIÊU HAO, SUY YẾU, SA LẦY; TRÊN CƠ SỞ ĐÓ, TẠO THẾ VÀ THỜI CƠ CÓ LỢI, TẬP TRUNG LỰC LƯỢNG CƠ ĐỘNG CHIẾN LƯỢC, ĐÁNH ĐÒN TIÊU DIỆT LỚN Ở CÁC TRỌNG ĐIỂM TẠO ĐỘT BIẾN CHIẾN LƯỢC, KẾT THÚC CHIẾN TRANH. ĐÓ LÀ SỰ VẬN DỤNG SÁNG TẠO, THỰC HIỆN HIỆU QUẢ BIỆN PHÁP TÁC CHIẾN: KẾT HỢP ĐÁNH TIÊU HAO RỘNG KHẮP VỚI ĐÁNH TIÊU DIỆT CÓ TRỌNG ĐIỂM CỦA NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ “LẤY NHỎ THẮNG LỚN, LẤY ÍT ĐỊCH NHIỀU, LẤY YẾU ĐÁNH MẠNH”. QUÁ TRÌNH TÁC CHIẾN LÀ QUÁ TRÌNH PHỐI HỢP CHẶT CHẼ CÁC ĐÒN ĐÁNH VỀ QUÂN SỰ VỚI CÁC HÌNH THỨC ĐẤU TRANH, NÊU CAO CHÍNH NGHĨA, ĐÁNH VÀO LÒNG NGƯỜI - “MƯU PHẠT NHI TÂM CÔNG”, CHỦ ĐỘNG ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO, GÓP PHẦN QUAN TRỌNG VÀO THẮNG LỢI CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG XÂM LƯỢC.
“Lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh” là nội dung chủ đạo, nét độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam nhằm phát huy trí tuệ, ý chí, sức mạnh của toàn dân, cũng như khả năng động viên cả nước đánh giặc với lực lượng vũ trang làm nòng cốt; đồng thời, giải quyết hợp lý các yếu tố thiên thời - địa lợi - nhân hòa, lựa chọn, vận dụng cách đánh linh hoạt, sáng tạo để giành chiến thắng.
Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm, dân tộc Việt Nam thường phải đương đầu với các thế lực xâm lược mạnh hơn ta rất nhiều lần. Vì vậy, lựa chọn đường lối chiến tranh nhân dân là sự lựa chọn duy nhất đúng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta; trong đó “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh” là nội dung nghệ thuật quân sự chủ đạo, phù hợp với các điều kiện, hoàn cảnh lịch sử của đất nước, dân tộc. Nghệ thuật đó không những trở thành truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc, mà còn thể hiện tính nhân đạo, nhân văn sâu sắc của văn hóa quân sự Việt Nam. Hiện nay, có một số cuốn sách viết là tư tưởng quân sự, có văn bản viết là quan điểm quân sự, theo chúng tôi, gọi như thế nào còn tùy thuộc vào quan điểm, mục tiêu nghiên cứu khi khai thác nội hàm chủ đạo này của nghệ thuật quân sự. Bài viết này đưa ra một số vấn đề về “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh” với tư cách là nội dung cơ bản, bao trùm của nghệ thuật quân sự, có tính chất như là tư tưởng chỉ đạo các hoạt động chuẩn bị và tiến hành thắng lợi chiến tranh nhân dân Việt Nam theo nghĩa rộng, đặc biệt là trong chỉ đạo các hoạt động quân sự, không nên hiểu theo nghĩa hẹp, đơn thuần về sử dụng lực lượng.
1. Tạo nguồn sức mạnh giữ nước trong nhân dân, thực hiện cả nước đánh giặc với lực lượng vũ trang làm nòng cốt
Tạo nguồn sức mạnh trong nhân dân, phát động được cả nước đánh giặc là một trong những nội dung cơ bản của nghệ thuật “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh”. Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm, tổ tiên ta luôn coi trọng và lấy dân làm gốc, dựa vào sức mạnh nơi dân, coi sự đồng lòng, ủng hộ của nhân dân là thành trì vững chắc nhất - “chúng chí thành thành”. Khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc, tinh thần yêu nước nồng nàn, chí căm thù giặc sâu sắc, tính cố kết cộng đồng, ý chí kiên cường, bất khuất để thực hiện cả nước đánh giặc - “cử quốc nghênh địch”. Thời nhà Trần đề cao tư tưởng “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức”, “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”; thời Hậu Lê là tư tưởng: “chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”, tất cả đều hướng đến mục tiêu huy động được toàn thể nhân dân tham gia đánh giặc với tinh thần “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Chỉ có toàn dân đánh giặc mới tạo được thế trận “làng - nước”, có thể đánh được giặc trên khắp đất nước, đánh ở phía trước, bên sườn, phía sau và trong lòng địch, v.v. Thực tiễn trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên xâm lược, vương triều nhà Trần ra lời hiệu triệu: tất cả các châu, phủ, huyện, hương, xã trong cả nước, nếu có giặc ngoài đến, phải liều chết mà đánh. Nếu sức không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, không được đầu hàng. Khi cuộc kháng chiến kết thúc, lúc xét công, định tội, triều đình thấy có hai hương là Ba Điểm và Băng Hà (ở phía Đông Vạn Kiếp) đã không tổ chức tham gia đánh giặc khi quân của Ô Mã Nhi kéo đến, bèn xử tội đồ, người dân ở hai hương đó đời đời không được làm quan. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, Bài thơ thần của Lý Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Bình ngô đại cáo của Nguyễn Trãi hay Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều là những áng hùng văn, đã khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường, bất khuất của cả nước đứng lên đánh đuổi quân xâm lược. Tuy nhiên, dân tộc Việt Nam cũng có những bài học đắt giá dẫn đến mất nước do lòng dân không thuận. Điển hình là dưới triều Hồ, mặc dù có quân đội mạnh, vũ khí tốt, thành cao, hào sâu để chống giặc, nhưng lại không được nhân dân ủng hộ dẫn đến mất nước. Điều đó được thể hiện qua câu nói đầy đau xót của Hồ Nguyên Trừng: “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo”.
Cùng với cả nước đánh giặc, nghệ thuật quân sự “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh” cũng chỉ ra rằng, cần phải có lực lượng vũ trang làm nòng cốt. Vì vậy, xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc là nhiệm vụ cơ bản, quan trọng có ý nghĩa quyết định trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong thời đại Hồ Chí Minh, Đảng ta xác định, xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Đây là sự kế thừa truyền thống giữ nước quý báu của dân tộc. Trong lịch sử nước nhà, tổ tiên ta cũng đã xây dựng lực lượng vũ trang nhiều thứ quân: quân triều đình (chủ lực); quân các lộ, phủ, châu; quân của các vương hầu, quý tộc; dân binh, thổ binh trong các làng, xã,… tựu chung lại có quân địa phương (tại chỗ) và quân chủ lực (cơ động). Quân địa phương được xây dựng mạnh, rộng khắp, đủ sức làm nòng cốt cho nhân dân ở các địa phương đánh giặc. Quân chủ lực xây dựng theo quan điểm “ngụ binh ư nông”, “quân cốt tinh, không cốt nhiều” đủ sức cơ động thực hiện các đòn đánh tiêu diệt có trọng điểm. Bên cạnh đó, quân đội phải chính nghĩa, có ý chí, quyết tâm chiến đấu cao, như thời nhà Trần, quân sĩ đã thích hai chữ “Sát Thát” lên cánh tay để thể hiện quyết tâm diệt giặc. Phải huấn luyện quân sĩ tinh thông võ nghệ, “tập dượt cung tên khiến người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ”, lại phải nắm vững binh pháp. Xây dựng quân đội có tinh thần đoàn kết, “phải đạt được quân đội đồng lòng như cha con một nhà”1, “tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào” có thế mới dùng được. Lại phải chọn dùng tướng giỏi để chỉ huy quân sĩ, “trong quân có người ốm, tướng phải thân hành đem thuốc điều trị, quân có người chết tướng phải khóc thương, quân đi thú xa thì sai vợ con đến nhà thăm hỏi”, song “Tướng dũng có thể giúp được việc đánh thành hãm trận, nhưng liệu tính việc địch, chia đặt quân kỳ, lâm cơ ứng biến nếu không có tướng trí thì không được. Mà kẻ dũng thì thường kém kẻ mưu”2. Do đó, khi “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh” bên cạnh những tướng giỏi cũng cần tướng có nhiều mưu lược để chỉ huy.
2. Vận dụng cách đánh linh hoạt, phù hợp nghệ thuật quân sự “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh”
Tư tưởng chỉ đạo vận dụng cách đánh trong nghệ thuật quân sự “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh” được thể hiện rõ nét trong Di chúc Canh Tý của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn: “Nó cậy trường trận, ta cậy đoản binh, lấy đoản chống trường đó là việc thường trong binh pháp”3 và trong thời Hậu Lê là “thế trận xuất kỳ lấy yếu chống mạnh, dùng quân mai phục lấy ít địch nhiều”. Đây là những tư tưởng thể hiện quan điểm đánh địch linh hoạt, quyền biến, tùy cơ ứng biến. Trước hết, phải đánh giá đúng tình hình địch, ta, để có phương lược hành động đúng; đánh giá đúng địch để có thể hạn chế chỗ mạnh đánh vào chỗ yếu, chỗ hiểm yếu của chúng, đánh giá đúng ta để có sự chủ động chuẩn bị đánh địch. Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên lần thứ Ba, khi được nhà Vua hỏi về kế sách đánh giặc, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trả lời “Năm nay đánh giặc nhàn”, điều đó chứng tỏ vị Quốc công tiết chế đã nghiên cứu, nắm chắc về quân xâm lược cũng như “thế nước” của dân tộc chuẩn bị kháng chiến. Quân Mông - Nguyên có kỵ binh cơ động mạnh đó là “trường trận”, ta dùng “đoản binh” - đánh gần, đánh bất ngờ, nhỏ lẻ, rộng khắp, kết hợp với thế của sông nước, địa hình nên đã chế ngự được “trường trận” của chúng, đó là nghệ thuật “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh”.
“Lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh” phải giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa các nhân tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa để tạo nên sức mạnh lớn nhất đánh thắng quân xâm lược. Thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hòa, trong đó nhân hòa là quan trọng nhất, còn địa lợi nghĩa là biết tận dụng và cải tạo địa hình thành thế có lợi cho ta, buộc địch phải hành động ở địa hình bất lợi. Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm, tổ tiên ta thường dựa vào sông nước để chặn địch, dựa vào núi rừng để đánh nhỏ lẻ, rộng khắp, tạo thế, tạo thời cơ, dựa vào địa hình trung du, đồng bằng để đem quân thủy, bộ đánh các đòn tiêu diệt lớn ở các trọng điểm. Nguyễn Sưởng - nhà thơ thời nhà Trần, khi ca ngợi Chiến thắng Bạch Đằng đã viết: “Thùy chi vạn cổ Trùng Hưng nghiệp/Bán tại quan hà, bán tại nhân” - Có ai biết rằng sự nghiệp thời Trùng Hưng lưu danh muôn thuở/Một nửa là do sông núi, một nửa do người4. Bên cạnh đó, địa hình, thời tiết nước ta cũng là một yếu tố quan trọng góp phần tăng thêm sức mạnh kháng chiến. Quân địch thường khởi binh xâm lược nước ta vào mùa đông, thời tiết phù hợp với chúng ở phương bắc, còn quân và dân ta thường trì hoãn chiến kéo sang mùa xuân, mùa hè với thời tiết nhiệt đới lam sơn chướng khí ngày càng nhiều, dịch bệnh hoành hành, khiến quân địch ốm đau, tinh thần suy sụp, sức chiến đấu giảm sút đến mức chúng cũng phải tự đánh giá “khí độc hại người còn hơn là binh đao”5 và Đại Việt “chỉ cậy có núi biển hiểm trở và lam chướng ác liệt mà thôi”6.
“Lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh” phải coi trọng dùng mưu kế, tạo lập và chuyển hóa thế trận linh hoạt, từ đó tạo ra thời cơ có lợi để đánh địch ở thế có lợi. Trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, tổ tiên ta đặc biệt chăm lo xây dựng thế trận cả nước đánh giặc, “người đánh giỏi thường tìm ở thế, không trách ở người, cho nên mới chọn người mà dùng thế”. Phải kết hợp chặt chẽ “thế người” - thế bố trí lực lượng với thế của địa hình, hình thành thế xen kẽ với địch ở cả cấp chiến thuật và chiến lược trên cơ sở thế trận “làng - nước”, một thế trận đặc thù của chiến tranh nhân dân Đại Việt. Lập thế phải hạn chế chỗ mạnh, đánh vào chỗ yếu của địch, đưa quân địch vào tình thế “cá lớn lội ở chỗ nước nông”, “thú mạnh đã sa vào đồng nội” mà ta thì có thể tự do hành động, chủ động ứng biến linh hoạt ở thế trận có lợi, phải đạt được “đánh ở chỗ không có thành, công ở chỗ không có lũy, chiến ở chỗ không có trận”. Phải trên cơ sở thế trận cả nước đánh giặc, kết hợp chặt chẽ, phát huy cao độ sức mạnh của các lực lượng. Vận dụng linh hoạt các hình thức và phương pháp tác chiến, đánh địch nhỏ lẻ, rộng khắp, thường xuyên, liên tục, đánh địch ngay cả khi phải rút lui chiến lược, đẩy địch vào thế bị sát thương, tiêu hao, suy yếu, sa lầy; trên cơ sở đó, tạo thế và thời cơ có lợi, tập trung lực lượng cơ động chiến lược, đánh đòn tiêu diệt lớn ở các trọng điểm tạo đột biến chiến lược, kết thúc chiến tranh. Đó là sự vận dụng sáng tạo, thực hiện hiệu quả biện pháp tác chiến: kết hợp đánh tiêu hao rộng khắp với đánh tiêu diệt có trọng điểm của nghệ thuật quân sự “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh”. Quá trình tác chiến là quá trình phối hợp chặt chẽ các đòn đánh về quân sự với các hình thức đấu tranh, nêu cao chính nghĩa, đánh vào lòng người - “mưu phạt nhi tâm công”, chủ động đấu tranh ngoại giao, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống xâm lược.
ST
LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 12 THÁNG 01 NĂM 1955!
Thứ Tư, 11 tháng 1, 2023
ĐẠI TƯỚNG HUN MANET: HỌ LÀ HÀNG XÓM CỦA CỦA CHÚNG TA, LÀ ÂN NHÂN CỦA CHÚNG TA!
THÁI BÁ TÂN, KẺ SUY THOÁI NGHIÊM TRỌNG!
NỰC CƯỜI CHUYỆN "TÂY SƠN CÓ TỘI"!
Đổi mới và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực
Để kiểm soát quyền lực, yêu cầu đặt ra là phải xây dựng cơ chế;
theo đó, hoàn thiện hệ giải pháp đồng bộ, phù hợp và khả thi, với các thể chế
và định chế, theo phương châm “dễ hiểu, dễ làm và dễ kiểm tra”.
Tại Hội nghị tiếp xúc cử tri, ngày 16-10-2016, lần đầu tiên Tổng
Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Phải nhốt quyền lực vào trong lồng cơ chế,
pháp luật”(6). Nói một cách hình tượng, “lồng cơ chế” đó chính là sự
tổng hòa hệ thống kỷ luật của Đảng và hệ thống pháp luật của Nhà nước. Đó là
Quốc pháp và Đảng cương. Nhưng, trung tâm của Quốc pháp và Đảng cương là sự tín
nhiệm của nhân dân - chủ thể quyền lực nhà nước, mà thước đo là lòng dân đối
với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chiến lược. Ba nhân tố rường cột này hợp
thành cơ chế kiểm soát quyền lực.
Có thể khẳng định ở đây, quá trình đổi mới và xây dựng cơ chế kiểm
soát quyền lực thực chất là quá trình vạch ra những “độ” tồn tại của quyền lực, với
những giới hạn cho phép về mặt lịch sử, mà người được ủy quyền hoặc được trao
quyền lực không được phép vượt qua theo thẩm quyền và trách nhiệm, trong bất cứ
hoàn cảnh, cả điều kiện trên nền tảng pháp lý và đạo lý, để bảo đảm quyền lực
được kiểm soát, cân bằng. Vì vậy, cần lưu ý rằng, việc đổi mới, sáng tạo cơ chế
kiểm soát quyền lực chính là việc xác định hệ thống chỉnh thể bao gồm toàn thể
các yếu tố (chính trị, pháp luật, đạo đức...) có liên quan tác động lẫn nhau
một cách tự nhiên và tất yếu để nhằm đạt mục đích, còn cơ chế chính là cấu trúc
vận hành, nhằm truyền nối động cơ giúp vận hành toàn bộ hệ thống, từ bên trong
tới bên ngoài, từ chủ thể tới khách thể; nếu một yếu tố nào đó không có giá trị
trong chỉnh thể và không bảo đảm tính thống nhất thì hệ thống đó không tồn tại,
dẫn đến cơ chế sẽ bị phá vỡ.
Do đó, để xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực, cùng với các nhân
tố cấu thành cơ chế (điều kiện cần và đủ, phương thức thực thi, các công cụ và
điều kiện hỗ trợ...), phải có đủ ba nhân tố căn bản, có tính rường cột hợp
thành và chi phối cơ chế kiểm soát quyền lực, đó là: Quốc pháp - Đảng cương -
Sự tín nhiệm của nhân dân. Nếu thiếu đi một trong ba nhân tố căn bản này, nhất
định sẽ không có bất cứ một cơ chế kiểm soát quyền lực nào tương thích và hữu
hiệu đáp ứng với tình hình hiện nay.
Các giải pháp căn bản và chủ yếu thực thi kiểm soát quyền lực
Một là, định lượng hóa và cụ thể hóa trách nhiệm theo thẩm quyền
trên từng phương diện, như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tư tưởng... và
từng vị trí, chức vụ bảo đảm đúng quyền, rõ quyền, đủ quyền và thực quyền; theo
đó, định lượng hóa để cụ thể hóa những biểu hiện tha hóa, thoái hóa quyền lực
với phương châm “xây kết hợp với chống”, “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, không thể
dung nạp những “quyền lực ngoài quyền lực”, “quyền lực ngầm”, “quyền lực
đen”... Những cá nhân, tổ chức được giao quyền, ủy quyền, phải tự kiểm soát
mình bởi pháp luật và kỷ luật. Đây là việc rất khó, vì điều khó khăn nhất đối
với mỗi con người chính là chiến thắng được chính bản thân mình.
Đồng thời, tiếp tục đổi mới và định rõ mối quan hệ giữa người đứng
đầu với tập thể lãnh đạo, quản lý; giữa thẩm quyền các bên; giữa cấp trên với
cấp dưới; giữa bên trong tập thể lãnh đạo, quản lý với bên ngoài, trong hệ
thống và ngoài hệ thống; giữa cơ quan kiểm soát quyền lực với người và tổ chức
được trao hoặc ủy thác quyền lực trong một chỉnh thể hữu cơ, không cắt khúc,
không khép kín, không ngoại lệ, trên cơ sở trách nhiệm giải trình công khai và
dân chủ. Việc buông lỏng quyền lực hay quyền lực bị tha hóa, thoái hóa - cả hai
đều nguy hiểm như nhau; theo đó, muốn hạn chế, đẩy lùi tình trạng trên, đội ngũ
cán bộ cần được đào tạo một cách đầy đủ về pháp luật, khoa học tổ chức, khoa
học hành chính ngang tầm trọng trách.
Hai là, đổi mới cơ chế kiểm soát quyền lực theo
nguyên tắc quyền hạn song hành và gắn với trách nhiệm, mọi quyền lực đều phải
được kiểm soát và kiểm soát nghiêm ngặt các cơ quan kiểm soát quyền
lực. Đổi mới và hoàn thiện, bảo đảm thống nhất các quy định của Đảng với
hệ thống pháp luật của Nhà nước một cách toàn diện, đồng bộ và cụ thể. Cần nhấn
mạnh, tiếp tục hiến định và luật định hóa quyền lực của nhân dân - với tư cách
là chủ thể quyền lực quốc gia - trong việc kiểm soát quyền lực được nhân dân ủy
quyền, giao phó cho người đứng đầu trong bộ máy của Đảng, bộ máy của Nhà nước
và bộ máy của cả hệ thống chính trị.
Trên cơ sở định lượng hóa và cụ thể hóa về thẩm quyền, tiếp tục
xây dựng, hoàn thiện cơ chế về cá thể hóa trách nhiệm trong việc chất vấn, giải
trình, phản biện một cách dân chủ, công khai, minh bạch đối với người được giao
và giữ quyền lực (người, tổ chức và công việc); đồng thời, có định chế minh
bạch về nguyên tắc, trách nhiệm, thẩm quyền của tập thể lãnh đạo, quản lý, quản
trị (gồm các cá nhân thành viên ban lãnh đạo với vị trí công vụ của mỗi người),
theo nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm dựa trên nền tảng nguyên tắc tập trung
dân chủ một cách thống nhất, thông suốt. Gắn công tác kiểm tra, giám sát của
Đảng với thanh tra của Nhà nước, giám sát của nhân dân trong việc kiểm
soát quyền lực một cách đồng bộ, thống nhất, liên thông và chặt chẽ. Thực hiện
đồng thời cấp trên kiểm tra, giám sát cấp dưới; kiểm tra, giám sát nội bộ, giám
sát từ dưới lên; giám sát chéo giữa các cơ quan, tổ chức, giám sát của nhân
dân. Công khai hóa, minh bạch hóa là con đường ngắn nhất, là phương pháp tốt
nhất để giám sát, kiểm soát quyền lực của cá nhân hay tập thể. Định vị cơ chế
thưởng - phạt một cách dân chủ, minh bạch, chính xác, kịp thời, không có vùng
cấm, không có ngoại lệ, không có giới hạn cuối cùng trong kiểm soát quyền lực.
Ba là, đổi mới và xây dựng bộ máy thực thi công việc kiểm soát
quyền lực (kiểm tra, thanh tra, điều tra, kiểm sát...) trong tổng thể tiến
trình đổi mới, sắp xếp, tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị các cấp theo
hướng liên thông, nâng cao hiệu lực, hiệu quả. Kiện toàn đội ngũ cán bộ giữ
chức năng, nhiệm vụ kiểm soát việc thực thi quyền lực là nhiệm vụ có ý nghĩa
rất quan trọng, là nhân tố quyết định thành bại của việc kiểm soát quyền lực.
Do đó, những người được trao trọng trách kiểm soát quyền lực trong các cơ quan
có thẩm quyền phải là những người trung thành, tinh nhuệ, liêm chính, mẫn cán,
dũng cảm, hành động công vụ theo kỷ luật và pháp luật một cách nhân văn. Đặc
biệt, trước yêu cầu cấp bách hiện nay, càng cần phải thực thi kiểm soát quyền
lực một cách nghiêm ngặt ở các cơ quan có chức năng, nhiệm vụ kiểm soát quyền
lực.
Bốn là, xây dựng và phát triển môi trường chính trị - xã hội bảo đảm
kiểm soát quyền lực một cách bao trùm, rộng khắp và chặt chẽ. Trọng tâm của
công việc đổi mới thể chế là bảo vệ vô điều kiện sự tham gia và phát huy mạnh
mẽ vai trò của nhân dân - với tư cách là chủ thể quyền lực, Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng
và truyền thông xã hội trong giám sát, phát hiện, tố cáo sự tha hóa, thoái hóa
quyền lực của cá nhân và tổ chức được ủy thác hoặc được trao quyền lực.
Mỗi cơ quan, đơn vị, tổ chức là một môi trường kiểm soát quyền lực
trực tiếp, dân chủ, công khai, cụ thể thông qua các định chế phù hợp với chức
năng, nhiệm vụ của mình theo quy định, kỷ luật đảng, Hiến pháp và pháp luật.
Đây là công việc bảo đảm kiểm soát từ ngoài vào, từ dưới lên... cả về phương
diện pháp lý lẫn bình diện đạo lý xã hội và dư luận xã hội (hiện đang bị ngăn
trở bởi không ít “cục nghẽn mạch” về thể chế cần được dỡ bỏ). Đây là công việc
quan trọng, vẫn đang còn không ít “khoảng trống” cần phải nhanh chóng được lấp
đầy để thực thi và bảo vệ quyền lực của nhân dân có hiệu quả. Bởi lẽ, chỉ cần
nhìn trong 10 năm qua, có tới 75% số vụ việc liên quan tới vi phạm pháp luật do
lợi dụng quyền lực dưới mọi hình thức và mức độ là do nhân dân và công luận
phát hiện. Hơn lúc nào hết, hiện nay, chính trị phải là sự thanh
khiết từ to đến nhỏ, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói; và lòng tin của nhân
dân, sức mạnh của công luận có vai trò vô cùng quan trọng cho việc thực hiện
nhiệm vụ chính trị quan trọng này.
Năm là, đổi mới và thống nhất các công cụ khác
trong việc giám sát, kiểm soát quyền lực. Tiếp tục đổi mới tư duy, thực hiện
hiến định và luật định về quyền thông tin và được thông tin (về cá nhân, tổ
chức và thẩm quyền của họ theo luật định); về quyền và trách nhiệm giám sát, về
phương thức kiểm tra, giám sát, kiểm soát; về quyền được trưng cầu ý kiến, lựa
chọn và bãi miễn của nhân dân đối với cá nhân và tổ chức. Tất cả nhằm khắc
phục sự chồng lấn, không minh bạch giữa trách nhiệm cá nhân với trách nhiệm tập
thể, ngăn chặn nạn nhân danh tập thể để mưu đồ lợi ích cá nhân hoặc “ẩn nấp”
trong danh nghĩa tập thể để che giấu, trốn tránh, rũ bỏ trách nhiệm cá nhân,
làm cho quyền lực nằm ngoài vòng giám sát, kiểm soát; nhân danh “tổ chức kiểm
soát quyền lực” mà dung túng, bao che cho hành vi lợi dụng quyền lực, thậm chí
cả những “quyền lực đen”, “quyền lực ngầm”, “quyền lực trong bóng tối”... Theo
đó, cần xác định rõ quyền lực tối thượng của nhân dân trên phương diện này
và quyền lực ấy phải tiếp tục được luật hóa một cách cấp thiết.
Sáu là, tiến hành việc gắn kiểm soát
quyền lực cá nhân và tổ chức ở trong nước với kiểm soát họ ở ngoài nước (khi
công tác và hoạt động ở ngoài nước), chủ động tăng cường hợp tác, trao đổi,
tham chiếu kinh nghiệm với nước ngoài trong việc kiểm soát quyền lực. Cần tiếp
thu, tiếp biến kinh nghiệm cầm quyền của các đảng cầm quyền và kinh nghiệm của
các nước trên thế giới, một cách cầu thị, không kỳ thị, không xa lánh; đồng
thời, hợp tác chặt chẽ với các quốc gia trên thế giới, là công việc cần thiết
và rất quan trọng.
Thực tiễn vừa qua đã vạch rõ những mưu đồ gây rối việc kiểm soát
quyền lực đối với những cá nhân và tổ chức liên quan với nước ngoài; đồng thời,
tạo nên những “vùng trắng”, “vùng trống”, biến đây thành những “lỗ hổng thoát
tội”, “vùng tránh”, “vùng né”, “vùng trốn”, nơi tẩu tán “nhân sự”, tẩu tán tài
sản trong thực thi kiểm soát quyền lực đối với sự tha hóa và thoái hóa quyền
lực. Và trước mắt, với bao nhiêu công việc và từ kinh nghiệm thực tiễn cho
thấy, khi Việt Nam đang trên con đường đổi mới và phát triển, thì càng cần phải
tăng cường kiểm soát quyền lực và thực thi cơ chế kiểm soát quyền lực một cách
thực chất, hiệu quả.
HAIVAN.
Sự buông lỏng hoặc tha hóa, thoái hóa quyền lực
Thực tiễn đã và đang chỉ rõ, mọi sự tha hóa, thoái hóa quyền
lực đều là tham nhũng dưới mọi thủ đoạn, hình thức và mức độ, từ tham nhũng
kinh tế tới tham nhũng chính sách. Những người tha hóa quyền lực cấu kết với
nhau rất tinh vi, chặt chẽ trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ; họ lợi
dụng các “khoảng trống” pháp luật, việc thiếu công khai, minh bạch, thiếu cơ
chế và chế tài kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực để trục lợi; bất chấp
các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chà đạp lên luân thường đạo lý,
cốt chiếm đoạt mọi thứ vì cá nhân và phe nhóm. Những hành động đó phá vỡ sự
đoàn kết, thống nhất trong Đảng, gây xáo trộn, làm rối loạn kỷ cương và xã hội.
Sự tha hóa, thoái hóa quyền lực, “ăn cắp” và “buôn bán” quyền lực
dưới mọi hình thức, cấp độ làm xuất hiện những “lợi ích nhóm”, “nhóm lợi ích”,
có nguy cơ nảy nở những “sứ quân”, biến những người được trao quyền thành những
“ông tướng, bà tướng” tự tung tự tác, trong “những bầu trời riêng”; đồng thời,
gây chia rẽ nội bộ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, làm suy yếu nền chính trị
của đất nước. Sự tha hóa quyền lực biểu hiện từ việc dùng thẩm quyền của
mình để tác động không đúng, không phù hợp cho đến sự “ưu ái” đối với các lĩnh
vực, nhằm trục lợi cho mình và “nhóm lợi ích”, cũng như trong việc quyết định
các chủ trương, chính sách, các lĩnh vực dễ nảy sinh tiêu cực, như cấp phép,
cấp vốn, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ... Đặc biệt, sự tha hóa, thoái hóa quyền
lực vừa công khai, vừa tinh vi, câu kết chặt chẽ ngang - dọc, trên - dưới,
trong - ngoài... bằng những “luật ngầm” đã xuất hiện trên các phương diện kinh
tế, chính trị, xã hội ở một số nơi, đã và đang gây nên những hậu họa khôn
lường.
Đáng lo ngại là sự tha hóa, thoái hóa quyền lực của không ít người
rất đa dạng, tinh vi; họ núp sau tấm bình phong tập thể, cộng đồng. Tuy nhiên,
việc phát hiện và xử lý các vụ việc có liên quan đến tha hóa, thoái hóa quyền
lực thường rất khó khăn, phức tạp; vì nó thường gắn với người có chức vụ, quyền
lực lớn, nên có mối quan hệ chằng chịt, đa dạng và không ít trường hợp còn được
bao che, thậm chí dùng cả tổ chức quyền lực phản kích quyết liệt, chống lại các
lực lượng kiểm tra, thanh tra, giám sát, các cơ quan thực thi và bảo vệ pháp
luật, làm cho tình hình ở không ít nơi diễn ra rất phức tạp.
Ngay từ tháng 6-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo: “Dìm người
giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình là đạo vị (đạo là trộm). Gặp việc
phải, mà sợ khó nhọc nguy hiểm, không dám làm, là tham vật uý lạo. Gặp giặc mà
rút ra, không dám đánh là tham sinh úy tử. Đều làm trái với chữ LIÊM. Do BẤT
LIÊM mà đi đến tội ác trộm cắp. Công khai hay bí mật, trực tiếp hay gián tiếp,
bất liêm tức là trộm cắp”, “Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp
cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu
lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư””.
Thực tiễn cách mạng chỉ rõ, giải quyết có hiệu quả, không để xảy
ra tình trạng thừa quyền lực nhưng thiếu năng lực, trước hết là năng lực chính
trị và pháp luật, trong điều kiện Đảng lãnh đạo, cầm quyền bằng pháp luật là
nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với Đảng Cộng sản Việt Nam. Ranh
giới giữa thẩm quyền được giao với sự năng động, sáng tạo vốn rất mong manh
nhưng rất đa dạng, phong phú... và trong một số hoàn cảnh lại là điều kiện
thuận lợi cho những kẻ rắp tâm lợi dụng quyền lực để mưu lợi cho cá nhân. Điều
đó dẫn tới sự rối loạn hệ giá trị trong đánh giá, thẩm định, vượt ngoài khuôn
khổ cho phép và làm rối loạn kỷ cương, kỷ luật ở không ít nơi. Những trường hợp
đó âm mưu sở hữu quyền lực một cách “vô pháp vô thiên”, rắp mưu hoành hành
quyền lợi cá nhân, phe nhóm, phường hội. Nếu không nghiêm túc giải quyết tình
trạng trên, dễ dẫn tới nạn rũ bỏ, trốn tránh trách nhiệm theo thẩm quyền, chia
cắt kỷ luật và khoanh vùng kỷ luật và pháp luật, nguy cơ biến kỷ luật và pháp
luật thành những “thanh kiếm phường chèo”(!). Qua các vụ đại án về tha hóa,
thoái hóa quyền lực của nhiều cá nhân và tổ chức vi phạm pháp luật do lợi dụng
quyền lực đã được xét xử gần đây cho thấy rõ tính nguy hại của vấn nạn trên;
đồng thời, cảnh báo nghiêm khắc sự thiếu tôn trọng pháp luật hoặc cố tình giẫm
đạp lên luật pháp đều dẫn đến những hệ lụy nguy hiểm đó.
Nhưng điều đáng sợ hơn là, khi bị chi phối bởi “lợi ích nhóm”, tệ
“cát cứ phường hội”, băm nhỏ lợi ích quốc gia... tất sẽ dẫn đến tình trạng thật
giả lẫn lộn, phải trái bất minh, “chụp mũ” những người năng động, sáng tạo, dám
nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung hoặc tấn công những người
có dũng khí đấu tranh chống lại nạn lạm quyền, lộng quyền, hoặc cố ý làm trái;
đồng thời, làm thui chột, thậm chí phá vỡ động lực phát triển, làm rạn vỡ đội
ngũ cán bộ các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược; xuất hiện nguy cơ
làm băng hoại không ít tổ chức, cơ quan, đơn vị.
HAIVAN
Vấn đề quyền lực và kiểm soát quyền lực
Thực tiễn cách mạng nước ta yêu cầu: “Những người có thể phụ trách
giải quyết các vấn đề, trong những hoàn cảnh khó khăn. Ai sợ phụ trách và không
có sáng kiến thì không phải người lãnh đạo”. Công cuộc đổi mới toàn diện, đồng
bộ, hơn bao giờ hết đang “Đòi hỏi cao đối với cán bộ lãnh đạo, nhất là các đồng
chí giữ cương vị trọng trách trong bộ máy của Đảng, Nhà nước ở Trung ương và
địa phương, các đồng chí Ủy viên Trung ương, bí thư tỉnh, thành ủy, bộ trưởng,
người đứng đầu các ngành, địa phương, đơn vị và các cán bộ lãnh đạo khác phải
tự giác rèn luyện, nêu gương cho cấp dưới về sự giác ngộ chính trị, giữ gìn
phẩm chất, đạo đức, lối sống, sự hy sinh phấn đấu vì lý tưởng của Đảng, vì hạnh
phúc của nhân dân”; “quy định rõ thẩm quyền và trách nhiệm người đứng đầu cấp
ủy, tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị”.
Theo nghĩa rộng thông thường, quyền lực là năng lực, khả năng của
một cá nhân hay tổ chức tác động đến những cá nhân, tổ chức khác, buộc họ phải
thực hiện ý chí của mình thông qua các hình thức thể hiện trên phương diện
chính trị, lập pháp, hành chính, tư pháp, kinh tế, thông tin,...; trong đó,
quyền lực chính trị là quan trọng nhất, bao trùm, chi phối mọi hoạt động của
đời sống xã hội, trên nền tảng pháp lý và đạo lý. Trong giai đoạn hiện nay, cá
nhân và tổ chức phải được trao hoặc ủy quyền đủ để thực thi quyền lực theo pháp
luật đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ và hội
nhập quốc tế sâu rộng.
Khi một cá nhân hay một tổ chức, dù lớn hay nhỏ, sẵn lòng ủy
quyền, trao quyền cho người thể hiện được tài năng, đạo đức, sức lôi cuốn các
cá nhân, để dẫn dắt cộng đồng thì việc giám sát sự thi hành thẩm quyền tự nó đã
trở thành trách nhiệm đối với người trao quyền hoặc ủy quyền của cộng đồng, của
quốc gia, theo pháp luật. Vì vậy, theo nghĩa nào đó, nếu thẩm quyền không
gắn với trách nhiệm thì thẩm quyền hoặc bị buông lỏng, trở nên vô tác dụng
hoặc bị tha hóa, thoái hóa trở nên không giới hạn. Và khi đó, sự mất cân bằng
quyền lực sẽ xảy ra, tạo nên tình trạng quyền lực vô tác dụng, hoặc bị biến
thành vật sở hữu của cá nhân, của phe nhóm, gây rối loạn xã hội.
Điều cần cảnh báo là, khi quyền lực đạt tới trình độ tuyệt đối,
mặt đối lập của tình trạng này nhất định sẽ dẫn tới tha hóa tuyệt đối, nếu thẩm
quyền không được khắc chế và kiểm soát bằng đạo đức, bằng pháp luật và các công
cụ kiểm soát khác, thông qua đề cao trách nhiệm cá nhân. Nói một cách hình ảnh, nếu
biết ra lệnh thì chỉ là quan chức, còn biết truyền cảm hứng và chủ động chịu
trách nhiệm thì đó là người lãnh đạo, quản lý đúng nghĩa. Một trong những
thử thách của sự lãnh đạo, quản lý chiến lược là khả năng giải quyết vấn đề một
cách khoa học và dân chủ, đó cũng là mấu chốt đối với công việc kiểm soát quyền
lực.
V.I. Lê-nin đã chỉ rõ rằng: “Lý do tồn tại của tổ chức đảng, và
của các lãnh tụ xứng đáng với danh hiệu đó là, ngoài nhiều điểm khác, đảng và
lãnh tụ còn phải thông qua một công tác lâu dài, kiên cường, thiên hình vạn
trạng và nhiều mặt của tất cả những đại biểu giác ngộ của giai cấp mình mà thu
hoạch được những kiến thức cần thiết, kinh nghiệm cần thiết, - ngoài kiến thức
và kinh nghiệm - là tính nhạy bén chính trị cần thiết để giải quyết một cách
chính xác và mau lẹ những vấn đề chính trị phức tạp”. Điều đó cho thấy rằng, sự
nhạy bén chính trị cũng như việc kiểm soát quyền lực là những khâu quan trọng
trong công cuộc lãnh đạo, cầm quyền của đảng cộng sản. Quyền lực được nhân dân
ủy thác và giao phó cho Nhà nước; đến lượt mình, Nhà nước quản lý mang tầm
chiến lược, chủ động đón nhận sự ủy thác quyền lực từ nhân dân và hoàn thành
việc thực thi quyền lực của nhân dân một cách xứng đáng, theo phương châm minh
bạch, dân chủ và đúng chức năng, nhiệm vụ theo luật định một cách thống nhất.
Điều đó sẽ bảo đảm vị trí, vai trò cầm quyền của Đảng, nhằm kiến tạo và phát
triển Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xây dựng hệ thống chính
trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực và hiệu quả.
HAIVAN
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội bằng công tác vận động, tuyên truyền
Quốc hội thông qua cử tri, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, ý chí
của nhân dân, vận động nhân dân tích cực tham gia xây dựng Đảng và hệ thống
chính trị, đặc biệt là vận động nhân dân thực hiện chính sách phát triển kinh
tế - xã hội.
Thứ nhất, Đảng chú ý lắng nghe ý kiến,
tiếng nói của mọi tầng lớp nhân dân. Để đổi mới hiệu quả phương thức lãnh đạo
của Đảng bằng công tác vận động, tuyên truyền, mỗi đảng viên tham gia Quốc hội
phải ra sức rèn luyện đạo đức gắn với học tập lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là về phát huy sức mạnh của nhân dân, của khối đại
đoàn kết toàn dân tộc,... để có phương pháp đúng đắn, hiệu quả trong việc vận
động, tập hợp quần chúng nhân dân thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị.
Thứ hai, đại biểu Quốc hội là cầu nối giữa cử tri
và Quốc hội, lắng nghe tiếng nói của cử tri về những vấn đề phát triển kinh tế,
văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, tập hợp những ý kiến đó, chuyển tải đến
Đảng; đồng thời, tập hợp, vận động nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật của
Nhà nước.
Thứ ba, đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo
chủ chốt của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan, hội đồng, các
ủy ban của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội có nhiệm vụ tham vấn minh bạch đối với
nhu cầu, ý chí, nguyện vọng chính đáng của nhân dân về các chủ trương, đường
lối và chính sách, đánh giá tác động của chính sách, pháp luật trong chương
trình pháp luật, đánh giá thực hiện chính sách, tác động chính sách; từ đó,
tham mưu với Đảng hoạch định “đúng” và “trúng”, kịp thời những vấn đề phát
triển kinh tế - chính trị, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh trong bối
cảnh mới.
Thứ tư, công tác dân nguyện không chỉ tham mưu thực hiện tốt công tác
dân nguyện của Quốc hội, mà còn chủ động tiếp nhận, phân loại và xử lý đơn, thư
của công dân, đi sâu phân tích, đánh giá kiến nghị cử tri, đôn đốc các cơ quan
giải quyết kiến nghị của cử tri; từng bước khắc phục được tình trạng chuyển
đơn, thư qua lại giữa các cơ quan của Quốc hội, thực hiện khẩn trương, hiệu quả
hơn việc trả lời và thực hiện kiến nghị của cử tri. Chú trọng nắm bắt tâm tư, ý
chí, nguyện vọng của nhân dân về các chủ trương, đường lối, chính sách, thông
qua Ủy ban Thường vụ Quốc hội kịp thời chuyển tải đến các cơ quan lãnh đạo của
Đảng ở Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Thứ năm, thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương của
đội ngũ cán bộ, đảng viên của Quốc hội. Các đại biểu Quốc hội cần phải ra sức
học tập đạo đức cách mạng theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, quét
sạch chủ nghĩa cá nhân, thực hiện “nói đi đôi với làm”, trở thành tấm gương
sáng trong cơ quan và bên ngoài xã hội; từ đó, tạo uy tín, sức hút tự nhiên đối
với các tầng lớp nhân dân trong xã hội.
HAIVAN
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội bằng công tác tổ chức cán bộ
Đại hội VI của Đảng đánh dấu sự đổi mới trên nhiều mặt, nhiều lĩnh
vực, trong đó có quan điểm đổi mới về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.
Báo cáo chính trị của Đại hội VI chỉ rõ: “Nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà
nước. Nêu cao vị trí và vai trò của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các
cấp, tạo điều kiện cho các cơ quan dân cử thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và
quyền hạn theo Hiến pháp quy định. Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và quản
lý xã hội bằng pháp luật... Chấn chỉnh bộ máy quản lý nhà nước theo hướng tinh,
gọn, có đủ năng lực thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật,
chính sách cụ thể”.
Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng đã đề cập thêm một nhiệm
vụ quan trọng của Quốc hội là quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.
Nhiệm vụ đặt ra với Quốc hội là kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức và nâng
cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, trọng tâm là tăng cường công tác lập pháp,
đổi mới quy trình ban hành luật. Quốc hội cần làm tốt chức năng quyết định các
vấn đề quan trọng của đất nước, quyết định và phân bổ ngân sách nhà nước, thực
hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.
Thời gian qua, Đảng đoàn Quốc hội đã thực hiện nhiều quy trình
chặt chẽ nhằm bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng với Quốc hội và công tác tổ chức cán
bộ của Quốc hội. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn những nhiệm kỳ vừa qua, cần đổi
mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội về công tác tổ chức cán bộ
như sau:
Một là, trước mỗi kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội, Đảng đoàn Quốc hội
xây dựng đề án công phu về các nội dung lớn của cuộc bầu cử, trình Bộ Chính
trị, Ban Chấp hành Trung ương cho ý kiến; đồng thời, triển khai nghiêm túc kết luận
của Bộ Chính trị về đề án bầu cử. Tuy nhiên, Đảng không làm thay, cụ thể là
không ấn định về cơ cấu đại biểu, không quy định cơ cấu “cứng” phân bổ cho cơ
quan, tổ chức. Thời gian qua, hầu hết người giới thiệu ứng cử trong cơ cấu
“cứng” là lãnh đạo cơ quan, tổ chức làm cho tỷ lệ đại biểu là nhà khoa học và
các giới, các ngành chưa cao, dẫn đến việc tỷ lệ không nhỏ đại biểu Quốc hội
“gánh nhiều cơ cấu”. Xu hướng tăng dần đại biểu Quốc hội chuyên trách từ khoảng
5 - 6% tổng số đại biểu Quốc hội đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa IX lên 25,1% ở Quốc
hội khóa XI, khoảng 35 - 40% ở Quốc hội khóa XIII và tăng khoảng 5% ở mỗi nhiệm
kỳ tiếp theo là tín hiệu tốt; bởi vì, việc tăng số lượng đại biểu Quốc hội hoạt
động chuyên trách sẽ giúp Quốc hội hoạt động hiệu quả, chất lượng hơn.
Hai là, đổi mới công tác cán bộ, lựa chọn người đủ đức, đủ tài tham
gia vào Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nhân sự cấp chiến lược phải chịu trách nhiệm
trước Đảng về thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, tức là
gắn việc lựa chọn nhân sự cấp chiến lược với thực hiện chính sách; nói cách
khác là tích hợp phương thức lãnh đạo bằng công tác cán bộ với phương thức lãnh
đạo bằng chính sách. Nhân sự cơ cấu vào các ủy ban của Quốc hội như hiện nay về
cơ bản là phù hợp, bảo đảm sự kết nối giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Hội
đồng Dân tộc, các ủy ban, các cơ quan thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội, gồm có 3
cơ quan giúp việc về các lĩnh vực công tác đại biểu, dân nguyện, lập pháp. Đặc
biệt, Ban Công tác đại biểu làm tốt công tác tham mưu, việc phục vụ bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân đi vào nền nếp; nâng cao chất lượng
đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách.
Trong thời gian qua, Đảng đã lãnh đạo Ủy ban Thường vụ Quốc hội
thực hiện tốt nhiệm vụ là cơ quan thường trực của Quốc hội, chỉ đạo, điều hòa,
phối hợp hoạt động của các cơ quan của Quốc hội. Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã
phân công Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội thẩm tra các dự án luật,
nghị quyết và các báo cáo, dự án khác theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; thực
hiện các nội dung thuộc chương trình giám sát của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ
Quốc hội.
Ba là, cần có cơ chế tăng cường vai trò, sự
tham gia của Đảng đoàn Quốc hội và tổ chức đảng ở Thường trực Hội đồng Dân tộc,
các ủy ban của Quốc hội từ sớm, từ xa trong tham mưu với Đảng để quyết định chủ
trương, đường lối, chính sách; có quy định về sự phối hợp giữa Đảng đoàn Quốc
hội và cơ quan trình nội dung nghị quyết ra Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính
trị, Ban Bí thư nhằm tạo sự đồng thuận trong hoạt động của Quốc hội. Đề cao vai
trò của Bí thư, Phó Bí thư Đảng đoàn Quốc hội và Đảng đoàn Quốc hội chịu trách
nhiệm trước Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về kết quả hoạt
động của Quốc hội, mở rộng thêm phạm vi đánh giá và cụ thể hóa bằng việc đánh
giá kết quả thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách mà Đảng đã hoạch
định.
Bốn là, đổi mới phương thức lãnh đạo qua các tổ chức đảng trong Quốc
hội, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Hội đồng Dân tộc và 9 ủy ban (từ
nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII) thông qua các tổ chức đảng tại đây. Hội đồng Dân
tộc và các ủy ban có thường trực, gồm chủ tịch/chủ nhiệm, phó chủ tịch/phó chủ
nhiệm và ủy viên hoạt động chuyên trách. Cần sớm hoàn thiện tổ chức đảng trong
Quốc hội để gắn kết, quản lý chặt chẽ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách
ở các cơ quan của Quốc hội, cơ quan của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; quy định rõ
vai trò của tổ chức đảng ở Hội đồng Dân tộc và các ủy ban của Quốc hội trong
lãnh đạo cơ quan tương ứng của Quốc hội; có mô hình tổ chức đảng đặc thù trong
Quốc hội khi tăng đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách.
Năm là, đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Đoàn đại biểu Quốc hội,
tập trung vào các đại biểu Quốc hội chuyên trách, giúp Đoàn đại biểu Quốc hội phát
huy được vai trò là cầu nối giữa đại biểu và công dân cử tri, cung cấp thêm
nhiều thông tin, dữ liệu minh bạch hơn cho hoạt động giám sát của các cơ quan
của Quốc hội, giúp đại biểu Quốc hội thực hiện tốt nhiệm vụ.
Sáu là, đổi
mới phương thức lãnh đạo của Đảng qua tìm kiếm, lựa chọn nhân tài là nhân sự
cấp chiến lược vào bộ phận hỗ trợ, tham mưu cho Quốc hội, điển hình như vị trí
Tổng Thư ký Quốc hội và tăng cường kỷ cương hành chính, mục tiêu cải cách hành
chính đối với Văn phòng Quốc hội.
HAIVAN
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội bằng các chủ trương, đường lối, chính sách lớn
Trong thời gian qua, Quốc hội đã làm tốt nhiệm vụ thể chế hóa
đường lối, chủ trương của Đảng thành luật và nghị quyết của Quốc hội. Luật Ban
hành văn bản quy phạm pháp luật đã quy định nội dung thẩm tra bắt buộc về sự
phù hợp của nội dung dự thảo văn bản với đường lối, chủ trương của Đảng. Đảng
đoàn Quốc hội đã phát huy vai trò tích cực, chủ động trong việc lãnh đạo, chỉ
đạo đối với các hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội. Các chủ
trương, chính sách lớn, phức tạp đều được kịp thời báo cáo xin ý kiến Bộ Chính
trị, Ban Bí thư để có phương án giải quyết phù hợp, hiệu quả. Đảng đoàn Quốc
hội luôn thực hiện nghiêm túc việc xin ý kiến của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ
Chính trị, Ban Bí thư những định hướng lớn về nội dung các hoạt động của Quốc
hội, những vấn đề chủ yếu của một số dự án luật, pháp lệnh quan trọng, có tác
động và ảnh hưởng đến tình hình chính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế, xã hội
và đời sống nhân dân.
Quốc hội kịp thời phản ánh với Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị,
Ban Bí thư những ý kiến, kiến nghị của nhân dân về xây dựng đất nước nhằm góp
phần vào việc định hướng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng. Nhiệm kỳ
Quốc hội khóa XIV, hoạt động của Đảng đoàn Quốc hội đã có nhiều đổi mới trong
việc xin ý kiến Bộ Chính trị. Các nội dung báo cáo xin ý kiến được phân thành
nhóm vấn đề, để vừa bảo đảm tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, vừa
phát huy dân chủ trong thảo luận của Quốc hội, bao gồm vấn đề cần xin ý
kiến chỉ đạo cụ thể, vấn đề báo cáo để Bộ Chính trị nắm thông tin và xin được
trình Quốc hội xem xét, thảo luận.
Kế thừa những kết quả trong thời gian qua, trong giai đoạn tiếp
theo cần đẩy mạnh đổi mới phương thức lãnh đạo bằng các chủ trương, đường lối,
chính sách, cụ thể như sau:
Thứ nhất, tiếp tục bổ sung, phát triển đường
lối chính trị để giúp Đảng lãnh đạo Nhà nước toàn diện, trong đó có lãnh đạo
Quốc hội. Với vai trò của mình, Quốc hội có nhiệm vụ thực hiện đường lối chính
trị được tuyên ngôn trong Cương lĩnh và những chủ trương lớn của Đảng. Đường
lối chính trị được xác định cụ thể trong văn kiện các kỳ đại hội Đảng và cụ thể
hóa tại các hội nghị Trung ương bằng các nghị quyết chuyên đề xác định các mục
tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chính sách xuất phát từ yêu cầu thực tiễn.
Thứ hai, nâng cao chất lượng thảo
luận về các vấn đề phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, môi trường, quốc phòng
- an ninh, ban hành kịp thời nghị quyết; trong đó, xác định rõ các mục tiêu,
gợi ý giải pháp và công cụ chính sách phù hợp để Nhà nước thực hiện. Một
mặt, Quốc hội là một thành tố trong hệ thống chính trị, có nhiệm vụ thực
hiện các mục tiêu chính sách này; mặt khác, là cơ quan thực hiện
quyền lập pháp và giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và Nghị quyết
của Quốc hội.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội bằng các
chủ trương, đường lối, chính sách bảo đảm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, ổn định, công khai, minh
bạch, có sức cạnh tranh quốc tế theo yêu cầu, định hướng của Chiến lược
xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa đến năm
2030 và định hướng đến năm 2045. Đổi mới phương thức lãnh đạo gắn liền với
việc hoàn thiện hệ thống pháp luật để thực hiện các mục tiêu chính sách trong
các lĩnh vực, ngành trên cơ sở chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng đã
được hoạch định.
Đổi mới phương thức lãnh đạo bằng các chủ trương, đường lối, chính
sách bảo đảm Đảng không làm thay Nhà nước, trong đó có Quốc hội, trong việc tổ
chức thực hiện chính sách trên tất cả các mặt, các lĩnh vực đời sống xã hội;
đồng thời, trên cơ sở đường lối, chủ trương, chính sách lớn, Đảng lãnh đạo Nhà
nước, trong đó có Quốc hội, tiếp tục hoàn thiện các chính sách cụ thể và thực
hiện chính sách, đánh giá chính sách qua các chức năng của Quốc hội, như ban
hành các nghị quyết, chương trình pháp luật, quyết định những vấn đề quan
trọng, giám sát tối cao... Các mục tiêu chính sách cần được đo lường cụ thể
bằng các chỉ số, các tiêu chí định lượng để thuận lợi cho việc thực hiện, giám
sát đánh giá.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng để Quốc hội thực hiện chính
sách bằng chương trình pháp luật (thông qua các luật) và chương trình giám sát,
thực hiện chính sách thông qua các quyết định quan trọng; trong đó, quá trình
thực hiện ngân sách Quốc hội cũng là việc thực hiện các chủ trương, đường lối,
chính sách của Đảng, từ việc phân bổ ngân sách, quyết toán ngân sách. Do đó,
đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội, qua các hoạt động của
Quốc hội đều gắn với việc thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách mà
Đảng với tư cách là thành tố cốt lõi lãnh đạo hệ thống chính trị đã hoạch định
và xây dựng. Như vậy, đổi mới phương thức lãnh đạo bằng chủ trương, đường lối,
chính sách của Đảng gắn liền với đổi mới hoạt động của Quốc hội, tạo thành xung
lực lớn thúc đẩy quản trị quốc gia hiệu quả, hướng đến mục tiêu phát triển bền
vững.
Thời gian qua, các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, như
giảm nghèo, bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển bền vững, phòng, chống tham
nhũng, ứng phó với biến đổi khí hậu, tự chủ và xã hội hóa cung ứng dịch vụ
công, giáo dục - y tế, phòng, chống đại dịch COVID-19,... đều gắn với chương
trình pháp luật và quyết định những vấn đề quan trọng, như quyết định ngân
sách, quyết định đầu tư công phục hồi kinh tế - xã hội sau đại dịch COVID-19.
Yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay là phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
đối với Quốc hội, đổi mới hoạt động lập pháp của Quốc hội nhằm đáp ứng yêu cầu
nâng cao chất lượng, bảo đảm tiến độ ban hành luật và hoàn thiện hệ thống pháp
luật, tạo lập khung khổ pháp lý để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển
kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030, định hướng đến năm 2045.
Thứ ba, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng gắn liền trách nhiệm
kiểm tra, giám sát đánh giá việc thực hiện các chủ trương, đường lối, chính
sách. Nhà nước, trong đó có Quốc hội, thực hiện các chủ trương, đường lối,
chính sách thông qua chương trình pháp luật, thông qua các luật, bảo đảm hiệu
lực các luật và hệ thống pháp luật, sự tuân thủ pháp luật thông qua hoạt động
giám sát, căn cứ vào các mục tiêu chính sách của từng lĩnh vực, từng ngành với
các chỉ tiêu, tiêu chí cụ thể.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng Đảng kiểm tra,
giám sát kết quả thực hiện các chính sách, tác động chính sách (sau thực hiện),
thông qua sơ kết, tổng kết các nghị quyết được ban hành vào giữa nhiệm kỳ hoặc
kết thúc nhiệm kỳ của Nhà nước, Quốc hội, để bảo đảm việc kiểm tra, giám sát
đánh giá kết quả thực hiện, tác động của các chủ trương, chính sách một cách
đầy đủ nhất.
Thứ tư, nâng
cao chất lượng hoạch định chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho Quốc hội và
các cơ quan của Quốc hội thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Đổi mới phương thức
lãnh đạo của Đảng bao gồm tăng cường chất lượng phân tích chính sách, tham vấn
chính sách, bảo đảm các mục tiêu chính sách phù hợp, đồng thuận đối với Nhà
nước, nhất là Quốc hội với cộng đồng xã hội. Mấu chốt của việc đổi mới ở đây
là, trên cơ sở đường lối chính trị thể hiện trong Cương lĩnh, các nghị quyết
được ban hành “đúng” và “trúng”, nhất là các nghị quyết chuyên đề, tạo sự đồng
thuận trong cả hệ thống chính trị, tạo điều kiện thuận lợi cho Quốc hội tổ chức
thực hiện.
Thứ năm, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng để tạo sự chủ động,
sáng tạo trong hoạt động của Quốc hội, nhất là hoạt động lập pháp đối với một
số chủ trương, đường lối, chính sách mà Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị
quyết định khung để Quốc hội thảo luận, quyết định cụ thể trong phạm vi chủ
trương của Đảng; đồng thời, giúp Bộ Chính trị kịp thời điều chỉnh các nội dung
chỉ đạo của Đảng đối với vấn đề quan trọng, mà qua thảo luận tại Quốc hội còn
có ý kiến khác nhau. Với từng nhiệm kỳ Quốc hội, Đảng có định hướng chương trình
xây dựng luật, pháp lệnh cho cả nhiệm kỳ.
HAIVAN





