Thứ Năm, 2 tháng 3, 2023

Tư duy mới về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn nhấn mạnh vị trí, vai trò của công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, coi đó là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng nhằm bảo vệ đường lối, Cương lĩnh lãnh đạo của Đảng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Ngày 22-10-2018, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị, về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Nghị quyết nêu rõ: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Ðó là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, trong đó các cơ quan báo chí tuyên truyền các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu.

Nghị quyết nêu bảy nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu. Trọng tâm là tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; đổi mới nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục đối với các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, nhằm nâng cao sức đề kháng, khả năng chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch.

Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh lãnh đạo của Đảng, những năm qua, các cấp ủy, tổ chức đảng luôn coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, làm cho cán bộ, đảng viên, nhân dân luôn kiên định nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hiện nay, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, nhiệm vụ đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch càng phải được coi trọng, lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, hiệu quả. Những năm qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo công tác phòng ngừa, đấu tranh trên lĩnh vực này, Đảng ta chỉ rõ: Tích cực đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động phòng ngừa, đấu tranh phê phán, ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. 

Đảng ta yêu cầu: Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch. Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII), Đảng ta chỉ rõ: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” nhấn mạnh: Chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì thế, để bảo vệ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng, việc tăng cường đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng là đòi hỏi khách quan, nhiệm vụ cấp bách trước mắt, đồng thời cũng là nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản, lâu dài.

Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước sẽ gia tăng các hoạt động thực hiện “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi và xảo quyệt hơn, nhất là hoạt động tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, hiến pháp, pháp luật của Nhà nước trên không gian mạng, các trang mạng Internet, mạng xã hội. Các thế lực thù địch sẽ triệt để lợi dụng những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, nhất là những khó khăn, hạn chế, yếu kém của ta trong phát triển kinh tế xã hội, tệ nạn tham ô, tham nhũng để tuyên truyền xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước; lôi kéo tập hợp lực lượng và kích động tư tưởng chống đối; chia rẽ nội bộ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, gây mất ổn định chính trị, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Công tác đảm bảo quốc phòng, an ninh trên lĩnh vực  chính trị - tư tưởng, văn hóa sẽ gặp nhiều thách thức mới.

Giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cần tập trung vào những vấn đề sau:

Trước hết, thường xuyên bám sát định hướng chỉ đạo, hướng dẫn trong các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị (khoá XIII) đối với công tác đấu tranh phòng chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, để xây dựng các chương trình, kế hoạch, giải pháp công tác cụ thể; đưa công tác phòng, chống “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng đi vào nền nếp đạt hiệu quả cao.

Hai là,  phát huy vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, người đứng đầu, Ban Chỉ đạo 35, các cơ quan chức năng, nhất là vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trong chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của đối tượng để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Tập trung lãnh đạo kiện toàn, xây dựng phát triển lực lượng đấu tranh theo hướng chủ động tạo thế liên hoàn, vững chắc, có bộ phận nòng cốt, chuyên sâu, tập hợp lực lượng rộng rãi; quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, nắm, dự báo, xử lý kịp thời những vấn đề tư tưởng nảy sinh. Trong tổ chức thực hiện, cần duy trì tốt các chuyên trang, chuyên mục chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở các cơ quan, đơn vị. Các cơ quan báo chí cần phát huy vai trò nòng cốt đấu tranh vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, góp phần định hướng dư luận xã hội.

Công tác nắm tình hình cần tập trung vào những vấn đề cụ thể như: Phát hiện các trang web, blog, “diễn đàn” thường xuyên đăng tải những nội dung xấu, thù địch; phát hiện âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động tuyên truyền chống phá của chúng trên không gian mạng, kịp thời nhận diện những phương thức, thủ đoạn mới; phát hiện cá nhân, tổ chức sở hữu, quản lý, điều hành các trang mạng xã hội thường xuyên đăng tải các bài viết, hình ảnh, video tuyên truyền phá chống phá cách mạng Việt Nam; phát hiện những bất cập, hạn chế của các biện pháp, công tác nghiệp vụ đã và đang được triển khai...

Cùng với đó, cấp ủy, chính quyền các cấp cần tích cực thông tin và tăng cường đối thoại với nhân dân; chủ động, linh hoạt tham gia các vấn đề cụ thể của xã hội. Thường xuyên duy trì, thực hiện có hiệu quả việc phối hợp với các cơ quan chức năng; phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, tạo thế trận rộng khắp, chặt chẽ trong đấu tranh phản bác quan điểm, luận điệu sai trái thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Ba là, thực hiện tốt phương châm “4 tại chỗ”: Cấp ủy tại chỗ, chính quyền tại chỗ, tổ chức chính trị quần chúng tại chỗ và nhân dân tại chỗ để quản lý, nắm bắt tư tưởng đảng viên. Công tác quản lý đảng viên là một nhiệm vụ quan trọng của công tác tổ chức xây dựng đảng. Bác Hồ nói: “Đảng mạnh là do mỗi một chi bộ mạnh. Chi bộ mạnh là do mỗi một đảng viên ra sức làm trọn các nhiệm vụ đã ghi trong Điều lệ Đảng”. Do vậy, quản lý tư tưởng đảng viên tốt sẽ góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng. Theo đó, cần đặc biệt phát huy vai trò của chi bộ nơi đảng viên sinh hoạt để nắm bắt tư tưởng đảng viên: Nắm rõ lịch sử chính trị của từng đảng viên, về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức. Cần dựa vào đoàn thể chính trị và hệ thống chính quyền để nắm bắt nhiệm vụ cụ thể được phân công, phong cách, tác phong công tác của đảng viên. Cần dựa vào nhân dân, để nắm bắt mối quan hệ, lối sống, văn hóa ứng xử... của đảng viên tại nơi cư trú.

Việc thực hiện tốt phương châm “4 tại chỗ”, giúp cho tổ chức Đảng có cái nhìn tổng thể và đánh giá chính xác về diễn biến tư tưởng của đảng viên thông qua thái độ, việc làm, ý thức chấp hành chế độ sinh hoạt, từ đó kịp thời ngắn ngừa biểu hiện lệch lạc sai sót để uốn nắn kịp thời, tránh để những luồng tư tưởng độc hại, chủ nghĩa cá nhân “đục khoét” nhân cách đảng viên và lây lan sang diện rộng.

Bốn là, thường xuyên tổ chức các cuộc tọa đàm, trao đổi, rút  kinh nghiệm giữa các cơ quan chức năng, lực lượng nòng cốt chuyên sâu trong đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội. Với phương châm vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, cấp ủy, tổ chức đảng cơ quan, đơn vị cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức các cuộc tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, hội nghị rút kinh nghiệm theo hướng thiết thực, hiệu quả. Lực lượng đấu tranh nòng cốt chuyên sâu phải thường xuyên được trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn, bồi dưỡng nghiệp vụ; được trang bị đầy đủ, vững chắc lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Các thông tin đấu tranh phải trung thực, khách quan, vì lợi ích lâu dài của dân tộc, của đất nước, mang tính đảng, tính khoa học cao. Cuộc đấu tranh này phải được triển khai sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân với nội dung phong phú, phù hợp với từng đối tượng. Đặc biệt, cần huy động được rộng rãi trí tuệ, tâm huyết của các nhân sĩ, trí thức và nhân dân tiến bộ trên thế giới tham gia công tác phòng ngừa, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, thù địch với nước ta.

Năm là, tăng cường hoạt động quản lý, kiểm soát đối với các trang mạng xã hội và chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật, ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng “độc hại” một cách có hiệu quả. Chủ động phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ, tính toán sử dụng các giải pháp về công nghệ để ngăn chặn một cách triệt để các tin tức xấu độc trên các trang mạng. Đặc biệt, phải chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ để xâm nhập, chiếm quyền quản trị, điều hành các trang web, blog, diễn đàn mạng xã hội, sau đó xóa dữ liệu, vô hiệu hóa hoặc ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng có nội dung “độc hại” trong một thời gian nhất định. Kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Ðảng. Siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong Ðảng. Các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Ðảng, Nhà nước, lan truyền những thông tin sai lệch hoặc tán phát những đơn thư nặc danh, mạo danh, hoặc thư có danh nhưng có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động.

Kinh nghiệm cho thấy, đấu tranh, phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, ngăn chặn hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, chống phá đường lối lãnh đạo của Đảng, chính  sách, pháp luật của Nhà nước bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là cuộc chiến đầy khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và các cơ quan chức năng của Đảng, Nhà nước ta, với những thành tựu đã đạt được trong công cuộc đổi mới và trong phòng chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, chúng ta tin tưởng rằng, cuộc đấu tranh, ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng, đường lối lãnh đạo của Đảng, hiến pháp, pháp luật của Nhà nước sẽ được bảo vệ vững chắc. Đó là những nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị; của các bộ, ban, ngành và từng địa phương, cơ quan, đơn vị; của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu.

Quy định mới về Lấy phiếu tín nhiệm

 

(ĐCSVN) - Lấy phiếu tín nhiệm là nội dung quan trọng trong đánh giá cán bộ, được thực hiện định kỳ; cán bộ giữ nhiều chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý thì lấy phiếu tín nhiệm tối đa ở 2 nơi cán bộ công tác và sinh hoạt.

Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng vừa thay mặt Bộ Chính trị ký ban hành Quy định số 96-QĐ/TW về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị.

Quy định này thay thế Quy định số 262-QĐ/TW, ngày 8/10/2014 của Bộ Chính trị về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với thành viên lãnh đạo cấp uỷ và cán bộ lãnh đạo trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội.

Cán bộ có tín nhiệm thấp phải kịp thời xem xét đưa ra khỏi quy hoạch

Quy định nêu rõ quan điểm, nguyên tắc: Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; nêu cao trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, người đứng đầu, nhất là người được lấy phiếu tín nhiệm, người ghi phiếu tín nhiệm.

Làm tốt công tác chính trị, tư tưởng, bảo đảm dân chủ, khách quan, công tâm, công khai, minh bạch trong lấy phiếu tín nhiệm và sử dụng kết quả tín nhiệm. Nghiêm cấm và xử lý nghiêm hành vi vi phạm, làm sai lệch mức độ tín nhiệm hoặc lợi dụng lấy phiếu tín nhiệm để làm giảm uy tín của người khác, gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ.

Lấy phiếu tín nhiệm là nội dung quan trọng trong đánh giá cán bộ, được thực hiện định kỳ; cán bộ giữ nhiều chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý thì lấy phiếu tín nhiệm tối đa ở 2 nơi cán bộ công tác và sinh hoạt.

Kết quả lấy phiếu tín nhiệm phải báo cáo cấp có thẩm quyền quản lý cán bộ và được công khai theo quy định. Những cán bộ có tín nhiệm thấp phải kịp thời xem xét đưa ra khỏi quy hoạch, cho từ chức, miễn nhiệm hoặc bố trí công tác khác thấp hơn chức vụ đang đảm nhiệm mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm.

Đối tượng lấy phiếu tín nhiệm

Cán bộ giữ chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý của các tổ chức, cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến cấp có đơn vị trực thuộc.

Cán bộ đã có thông báo nghỉ công tác chờ nghỉ hưu hoặc được bổ nhiệm, bầu cử trong năm lấy phiếu thì không thực hiện lấy phiếu tín nhiệm.

Thành phần ghi phiếu tín nhiệm được quy định cụ thể đối với từng chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị (Phụ lục 1).

Hội nghị lấy phiếu tín nhiệm chỉ được tiến hành khi có ít nhất 2/3 số người được triệu tập có mặt.

Lấy phiếu tín nhiệm năm giữa nhiệm kỳ đại hội đảng bộ các cấp

Việc lấy phiếu tín nhiệm được tiến hành định kỳ vào năm thứ 3 (năm giữa nhiệm kỳ đại hội đảng bộ các cấp), cụ thể như sau:

Lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp bầu hoặc phê chuẩn thực hiện theo quy định của Quốc hội.

Lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu thực hiện theo chương trình làm việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh lãnh đạo cấp ủy địa phương tiến hành sau khi lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do hội đồng nhân dân các cấp bầu.

Lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý khác tiến hành sau sơ kết 6 tháng đầu năm của năm thứ 3 giữa nhiệm kỳ đại hội đảng bộ các cấp.

Cụ thể hóa các tiêu chí đánh giá

Cùng với các tiêu chí chung về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật của người cán bộ lãnh đạo, Quy định lần này nêu rõ những tiêu chí liên quan tới gia đình, người thân. Cụ thể:

Lập trường, quan điểm, bản lĩnh chính trị trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; tinh thần trách nhiệm trong công việc, thái độ phục vụ Nhân dân; liêm chính, trung thực, công tâm, khách quan trong thực hiện nhiệm vụ được giao.

Ý thức tổ chức kỷ luật, việc chấp hành các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; chấp hành sự phân công của tổ chức; thực hiện các quy định, quy chế của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị nơi công tác; khả năng quy tụ, đoàn kết nội bộ và xử lý những vấn đề khó, phức tạp, nhạy cảm.

Kết quả lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chủ trương của Đảng về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương; sự gương mẫu của bản thân và vợ, chồng, con trong việc chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước; việc thường xuyên giữ mối liên hệ với cấp ủy nơi cư trú.

Về kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao (tính từ đầu nhiệm kỳ đến thời điểm lấy phiếu):

Kết quả lãnh đạo, tham mưu, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực, phạm vi phụ trách; tính năng động, đổi mới, sáng tạo, quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ được giao.

Số lượng, chất lượng sản phẩm, hiệu quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; mức độ hoàn thành nhiệm vụ của các tổ chức, cơ quan, đơn vị trực thuộc.

Kết quả lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; công tác kiểm tra, giám sát; giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực, phạm vi phụ trách.

3 mức tín nhiệm

Quy định yêu cầu phiếu ghi rõ họ tên, chức vụ của người được lấy phiếu tín nhiệm, các mức độ tín nhiệm theo 3 mức: "tín nhiệm cao", "tín nhiệm" và "tín nhiệm thấp".

Căn cứ vào nội dung tiêu chí lấy phiếu tín nhiệm, người ghi phiếu tín nhiệm nghiên cứu, đánh giá khách quan về người được lấy phiếu tín nhiệm, ghi ý kiến của mình vào phiếu tín nhiệm. Người ghi phiếu tín nhiệm có thể ký tên hoặc không ký tên vào phiếu tín nhiệm.

Kết quả phiếu tín nhiệm đối với từng người được tổng hợp như sau: Họ tên, chức vụ của người được lấy phiếu tín nhiệm; tổng số phiếu phát ra; tổng số phiếu thu về, số phiếu hợp lệ, số phiếu không hợp lệ; tổng số phiếu tín nhiệm cao và tỉ lệ phần trăm trên tổng số phiếu thu về; tổng số phiếu tín nhiệm và tỉ lệ phần trăm trên tổng số phiếu thu về; tổng số phiếu tín nhiệm thấp và tỉ lệ phần trăm trên tổng số phiếu thu về.

Người ngoài danh sách lấy phiếu tín nhiệm thì phần ghi thêm là không hợp lệ

Quy định cũng nêu rõ, phiếu không hợp lệ: Là phiếu không do ban kiểm phiếu phát ra; phiếu gạch xóa họ tên người được in trên phiếu; phiếu ghi tên một người mà người ghi phiếu không đánh dấu vào ô nào hoặc đánh dấu vào hai hoặc ba ô.

Trường hợp phiếu ghi thêm tên của người ngoài danh sách lấy phiếu tín nhiệm thì phần ghi thêm là không hợp lệ; các trường hợp trong danh sách còn lại nếu đánh dấu theo quy định thì hợp lệ.

Quy trình 3 bước

Đối với các chức danh cấp ủy và chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị

Bước 1: Chuẩn bị lấy phiếu tín nhiệm

Căn cứ kế hoạch của cấp có thẩm quyền, cơ quan tham mưu tổ chức, cán bộ chuẩn bị các nội dung sau:

- Yêu cầu người được lấy phiếu tín nhiệm báo cáo theo quy định tại Khoản 3, Điều 7 Quy định này.

- Tập hợp báo cáo, hồ sơ của người được lấy phiếu tín nhiệm theo quy định và báo cáo giải trình, cung cấp thông tin về nội dung liên quan (nếu có), gửi cho người ghi phiếu trước 15 ngày; các nội dung, vấn đề cần làm rõ theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền hoặc người ghi phiếu tín nhiệm thì gửi cho người được lấy phiếu tín nhiệm trước 10 ngày lấy phiếu tín nhiệm.

- Chuẩn bị phiếu tín nhiệm ghi danh sách người được lấy phiếu tín nhiệm, các mức tín nhiệm và có đóng dấu treo của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị có thẩm quyền theo quy định.

- Đề xuất ban kiểm phiếu.

Bước 2: Tổ chức lấy phiếu tín nhiệm

- Cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị chủ trì hội nghị quán triệt về mục đích, yêu cầu việc lấy phiếu tín nhiệm đối với cán bộ theo quy định

- Bầu ban kiểm phiếu; ban kiểm phiếu tiến hành phát phiếu, hướng dẫn cách ghi phiếu.

- Cán bộ trong thành phần ghi phiếu và bỏ phiếu vào thùng phiếu theo quy định.

Bước 3: Báo cáo kết quả lấy phiếu tín nhiệm

- Ban kiểm phiếu tiến hành kiểm phiếu và thông báo kết quả kiểm phiếu với hội nghị.

- Biên bản kiểm phiếu được lập thành 3 bản (2 bản gửi cấp trên trực tiếp; 1 bản lưu tại địa phương, cơ quan, đơn vị) và quản lý theo chế độ mật.

- Cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị tổ chức lấy phiếu tín nhiệm báo cáo kết quả lấy phiếu tín nhiệm theo quy định tại Điều 10, Quy định này.

Đối với các chức danh cán bộ do Quốc hội và hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn. Căn cứ vào quy trình quy định tại Khoản 1 Điều này, Đảng đoàn Quốc hội lãnh đạo cụ thể hóa, tổ chức thực hiện.

Cơ sở để đánh giá, bổ nhiệm nhiệm hoặc cho thôi chức vụ

Theo Quy định, kết quả phiếu tín nhiệm được sử dụng để đánh giá cán bộ, làm cơ sở cho công tác quy hoạch, điều động, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, miễn nhiệm và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ.

Những trường hợp có trên 50% nhưng dưới 2/3 số phiếu tín nhiệm thấp thì cấp có thẩm quyền quản lý cán bộ đưa ra khỏi quy hoạch các chức vụ cao hơn; xem xét cho thôi giữ chức vụ đang đảm nhiệm, bố trí công tác khác hoặc cho từ chức hoặc tiến hành bỏ phiếu tín nhiệm theo quy định.

Những trường hợp có từ 2/3 số phiếu tín nhiệm thấp trở lên thì cấp có thẩm quyền quản lý cán bộ thực hiện miễn nhiệm chức vụ đang đảm nhiệm và bố trí công tác khác (thấp hơn) mà không chờ đến hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm.

Quy định cũng nêu rõ, đối với người được lấy phiếu tín nhiệm ở 2 nơi thì việc đánh giá tín nhiệm đối với cán bộ sẽ do cấp có thẩm quyền quyết định trên cơ sở xem xét tổng thể kết quả phiếu tín nhiệm ở từng nơi…/.

Bao nhiêu lợi ích đều vì dân

 


Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng ngoài lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác. Vì thế, tất cả đường lối, phương châm, chính sách của Đảng đều không ngoài mục đích phụng sự Tổ quốc và Nhân dân, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân.

Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Nhân dân

Nhận thức sâu sắc rằng “chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân” và dân là gốc của nước, của cách mạng, nên Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nhấn mạnh: “Trong bầu trời không có gì quý bằng Nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của Nhân dân (…). Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của Nhân dân”  mà còn khẳng định rẳng “nước lấy dân làm gốc (…). Gốc có vững cây mới bền, Xây lầu thắng lợi trên nền Nhân dân” , để kêu gọi, cổ vũ, tập hợp và lãnh đạo Nhân dân tiến hành thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Sau 15 năm đấu tranh đầy gian khó, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc: khai sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đưa những người dân của xứ An Nam thuộc địa từ thân phận nô lệ trở thành người chủ/làm chủ - chủ thể của quyền lực Nhà nước. Thắng lợi của cuộc cách mạng mùa Thu năm 1945 đồng thời cũng cho thấy rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam/một Đảng Mácxít - Lêninnít trong sạch, vững mạnh do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, với một đội ngũ cán bộ, đảng viên luôn nỗ lực gương mẫu về mọi mặt, luôn “nếm mật nằm gai” cùng Nhân dân đã thực sự xứng đáng với vị thế Đảng cầm quyền - với vai trò tiền phong, với vị thế vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ trung thành của Nhân dân.

Giành được độc lập và xây dựng chế độ mới, cùng với việc tập trung xây dựng một Đảng cầm quyền phụng sự và liêm chính, một Nhà nước của dân, do dân, vì dân với một hệ thống các cơ quan Nhà nước luôn chú trọng hành động “sao cho vừa lòng dân” là việc Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng: “nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”  và “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

Không chỉ nhấn mạnh vị thế, vai trò của Nhân dân trong sự nghiệp đấu tranh để giải phóng dân tộc và giải phóng chính bản thân mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thông qua việc khẳng định vị thế là chủ, làm chủ của Nhân dân để tiếp tục phát huy vai trò và nhân nguồn sức mạnh của mọi người dân Việt Nam yêu nước trong sự nghiệp xây đắp nền dân chủ cộng hòa, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Sẽ là không ngạc nhiên khi Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong Thư gửi Ủy ban Nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng ngày 17/10/1945 rằng: “Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” và vì thế “chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ, từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta” .

Sau này, trong tác phẩm Thường thức chính trị (năm 1953), Người cũng không chỉ nhấn mạnh “ở nước ta chính quyền là của Nhân dân, do Nhân dân làm chủ (...). Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ”, mà còn yêu cầu các cấp chính quyền phải “cải tiến công tác trong các cơ quan chính quyền, tẩy sạch bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Phải liên hệ chặt chẽ với Nhân dân. Phải giáo dục Nhân dân biết sử dụng quyền lợi của mình và hăng hái làm tròn nghĩa vụ của mình”  để Nhân dân được thụ hưởng những giá trị đích thực của độc lập, tự do.

Mọi chủ trương, chính sách đều xuất phát từ lợi ích của Nhân dân

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiền phong của giai cấp và dân tộc, nên Nhân dân là chỗ dựa vững chắc của Đảng, là nguồn gốc sức mạnh của Đảng; và phục vụ Nhân dân là mục tiêu duy nhất, mục tiêu tối thượng, là bản chất của Đảng. Trong đó, Đảng không chỉ phải làm cho quần chúng Nhân dân thấm nhuần tư tưởng cách mạng (kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội) mà còn phải luôn “làm gương mẫu” trong mọi công việc trên tinh thần “nhất định phải vào sâu trong quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ quần chúng, làm cho quần chúng mến Đảng, tin Đảng, ra sức ủng hộ Đảng và tự giác tự nguyện chịu sự lãnh đạo” . Cùng với đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải trung thành với Tổ quốc và Nhân dân; luôn thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và tận tâm, tận lực “đấu tranh cho lợi ích của toàn dân” để “làm cho dân tin, dân phục, dân yêu” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh.

Có thể thấy rằng, thực hiện theo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những động thái quyết liệt, những quyết sách phù hợp, sát với điều kiện cụ thể của đất nước như kiên quyết chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm; về chủ trương và tổ chức thắng lợi cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu; xây dựng và thông qua Hiến pháp 1946; đẩy mạnh tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, gây dựng đời sống mới, nền văn hóa mới… của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa những năm đầu mới giành được độc lập chính là minh chứng sinh động trên thực tiễn. Cùng với đó, trong bối cảnh đại dịch COVID-19 tác động khắp thế giới, Đảng, Nhà nước Việt Nam và các cơ quan chức năng của Chính phủ đã kịp thời đề ra chủ trương, biện pháp, giải pháp tổng thể và cục bộ nhằm phòng và chống đại dịch COVID-19 - 19 trên tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau” cùng cả hệ thống chính trị chung sức, đồng lòng, nỗ lực đảm bảo ổn định đời sống của người dân, nhất là những vùng trung tâm dịch; và phát triển sản xuất, thực hiện an sinh xã hội những năm vừa qua chính là minh chứng sinh động chứng minh rằng: Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về không được để dân đói, dân rét, dân dốt/không được để người dân thiếu ăn, thất học, không được chăm sóc, chữa bệnh khi ốm đau… đã được cả hệ thống chính trị từ Trung ương tới địa phương linh hoạt, quyết liệt và kiên trì thực hiện.

Thực tế đó cũng cho thấy rằng, trong quá trình thực thi những quyết sách để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội… dù điều kiện đất nước đang còn chiến tranh hay đã hòa bình thì Đảng Cộng sản Việt Nam và mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng cũng đã luôn “đặt lợi ích của Ðảng và của Nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ Nhân dân. Vì Ðảng vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”; đồng thời, hướng về Nhân dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, ý kiến của Nhân dân với tinh thần cầu thị, khiêm tốn, phụng sự nhưng không theo đuôi quần chúng. Những tấm gương cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên… hết lòng phụng sự Nhân dân, vì Nhân dân thậm chí hy sinh quyền lợi, tính mệnh của mình trên phòng tuyến bảo vệ an ninh biên giới quốc gia, trong cuộc đấu tranh chống buôn lậu ma túy, trong cuộc đấu tranh giành giật sự sống cho người bệnh khi nhiễm virút COVID-19… được đăng tải trên các phương tiện báo chí, truyền thông chính là những bông hoa đẹp trong vườn hoa học và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về “bao nhiêu lợi ích đều vì dân”.

Vì thế, càng đối diện với nhiều khó khăn, thử thách thì Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng càng phải thấm nhuần những chỉ dẫn, căn dặn của Người. Đó là, mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về các chiến lược, kế hoạch, chính sách về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội… đều phải xuất phát từ lợi ích của Nhân dân, không ngoài mục đích vì dân để người dân ở mọi miền của Tổ quốc đều có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Cùng với đó, phải phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và xây dựng hệ thống pháp luật cùng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất, năng lực, luôn phụng sự Tổ quốc và Nhân dân toàn tâm, toàn ý, hiệu quả.

Và cũng vì thế, mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị càng phải chú trọng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng gắn với đẩy mạnh phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực; càng phải thực hiện nghiêm Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cùng với các Quy định về nêu gương, về những điều đảng viên không được làm…, để kiên định lý tưởng xã hội chủ nghĩa, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao bản lĩnh chính trị, phòng và đấu tranh chống cá nhân chủ nghĩa quyết liệt để ngăn chặn và từng bước đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống gắn với tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát nghiêm ngặt. Cùng với việc thực hiện nghiêm Điều lệ Đảng, kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước, kỷ cương của xã hội, tự mình phòng và chống các biểu hiện suy thoái từ sớm, từ xa, mỗi cán bộ, đảng viên còn phải gần dân, học dân, có trách nhiệm với dân, sẻ chia và đồng cam, cộng khổ với Nhân dân cũng như thực hiện có hiệu quả phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” để khơi dậy sức mạnh và nguồn lực của Nhân dân trong quá trình đưa đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống.

Không ai có thể xuyên tạc tinh thần quốc tế cao cả của Quân đội ta

 

Một trong những phẩm chất cao quý làm nên nhân cách tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ và truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam trong gần tám thập niên qua là cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đã không ngại gian khổ, hy sinh, sẵn sàng lên đường làm nghĩa vụ quốc tế cao cả, đóng góp vào cuộc sống hòa bình của nhân loại. Tuy nhiên, vẫn có những ý kiến sai trái, lạc lõng nhằm phủ nhận tinh thần nghĩa vụ quốc tế cao cả của Quân đội ta.

Ý kiến sai trái tự phơi bày âm mưu đen tối

Đêm 12-2-2023, Đoàn cứu hộ, cứu nạn của Quân đội nhân dân Việt Nam gồm 76 cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đã đến Thổ Nhĩ Kỳ làm nhiệm vụ hỗ trợ nước bạn khắc phục hậu quả thảm họa động đất. Việc tham gia hỗ trợ nhân đạo, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục thảm họa động đất thể hiện chính sách đối ngoại ưu việt, trách nhiệm cao cả của Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam trước cộng đồng quốc tế. Việc làm này cũng khẳng định uy tín, vị thế, tinh thần trách nhiệm và năng lực tác chiến trong thời bình của Quân đội ta trước các vấn đề an ninh phi truyền thống và góp phần thực hiện chính sách đối ngoại quốc phòng vì hòa bình của Việt Nam.

Tuy nhiên, những người thiếu thiện chí, có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước và Quân đội ta lại không nghĩ như thế. Họ cho rằng, “tham gia cứu hộ, cứu nạn ở Thổ Nhĩ Kỳ là việc làm không cần thiết”, “là ôm rơm nặng bụng”. Thậm chí có người còn cho rằng, việc làm đó của Quân đội ta là “khôn chợ, dại nhà”, “việc nhà thì lười nhác, việc chú bác thì siêng năng” (!). Ác ý hơn có người còn cho rằng, “đất nước còn nghèo, nhân dân còn đói khổ, tại sao quân đội lại đem tiền của ra nước ngoài mà không dùng nó để cứu giúp đồng bào ta”, lại “lăng xăng đi cứu người” (!)...

Những luận điệu nêu trên là sai trái, hết sức vô cảm, cần phải lên án, bác bỏ. Nó không những tạo ra tâm lý nghi ngờ, bất an, sự thờ ơ, thiếu trách nhiệm đối với một bộ phận người dân, nhất là một số thân nhân, gia đình có quân nhân nhận nhiệm vụ đến Thổ Nhĩ Kỳ tham gia cứu hộ, cứu nạn, mà còn bôi đen hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ; xuyên tạc bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta; làm phai mờ hình ảnh Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế. 

Tỏa sáng tinh thần nghĩa vụ quốc tế cao cả của Quân đội ta

Thực hiện sự chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chính phủ, Thường vụ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã gửi lời chia buồn sâu sắc đến Chính phủ và người dân của hai quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ và Syria về những thiệt hại vô cùng to lớn do thảm họa động đất gây ra, làm hàng chục nghìn người thiệt mạng.

Thấu hiểu, sẻ chia về những tổn thất, đau thương, mất mát to lớn ấy, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quyết định cử đoàn công tác của Quân đội nhân dân Việt Nam sang tham gia hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa tại Thổ Nhĩ Kỳ, giúp bạn tìm kiếm các nạn nhân xấu số và cứu chữa những nạn nhân còn sống, đưa họ về trạng thái an toàn; tiếp tục giúp giải quyết, khắc phục hậu quả thảm họa, sớm đem lại cuộc sống bình thường mới cho người dân nơi xảy ra động đất ở đất nước này.

Tham gia đoàn cứu hộ, cứu nạn, giúp bạn là thực hiện mục đích nhân đạo. Trong lịch sử, Quân đội ta đã từng giúp nhân dân Campuchia, nhân dân Lào trong sự nghiệp đấu tranh chống quân xâm lược, giải phóng dân tộc, coi “giúp bạn là tự giúp mình”. Đoàn cứu hộ, cứu nạn, giúp bạn của Quân đội ta là các quân nhân đã được đào tạo cơ bản, có sức khỏe, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ tốt. Trong số đó có nhiều quân nhân từng tham gia cứu hộ, cứu nạn tại hai tỉnh Quảng Trị và Quảng Nam năm 2020 và có mặt tại các tâm điểm phòng, chống dịch Covid-19 năm 2021 ở các tỉnh: Bắc Ninh, Bắc Giang, Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh... Trong đoàn công tác cũng có một số quân nhân từng tham gia Lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại Nam Sudan.

Thiên tai, thảm họa là điều không ai muốn và bất khả kháng. Mất mát về tiền của có thể bù đắp, có thể tạo ra bằng sự quyên góp của cộng đồng nhưng thương vong về con người là vô cùng to lớn, không thể bù đắp được. Việc Quân đội ta tham gia giúp bạn khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa là góp phần làm vơi đi nỗi đau thương, mất mát của một dân tộc, là nghĩa tình bạn bè trong lúc hoạn nạn có nhau, chia bùi sẻ ngọt cùng nhau.

Trong buổi chia tay, tiễn 76 cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp lên đường làm nhiệm vụ quốc tế, lãnh đạo Bộ Quốc phòng đã biểu dương tinh thần chủ động, tích cực khắc phục khó khăn, thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị có liên quan. Từng thành viên trong đoàn công tác sẵn sàng nhận nhiệm vụ, họ đã rất khẩn trương thu xếp công việc gia đình, cơ quan để lên đường và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn, đáp ứng yêu cầu, sự chờ đợi lực lượng của các quốc gia đến cứu hộ, cứu nạn, trong đó có Việt Nam.

Từng trải qua những năm tháng chiến tranh biết bao gian khổ, đau thương, mất mát, hơn ai hết, dân tộc, nhân dân Việt Nam và cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn khát vọng được sống trong hòa bình. Cán bộ, chiến sĩ quân đội mong muốn an tâm công tác, xây dựng đơn vị; không ai muốn rời xa đồng đội, người thân đi đến nơi “đất khách quê người”, đối mặt với gian khổ, hiểm nguy. Thế nhưng, do yêu cầu, nhiệm vụ và thực hiện công việc nhân đạo, họ đã chấp nhận rời xa người thân, tổ ấm gia đình, xa đơn vị, xa đồng chí, đồng đội để lên đường thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả. Trong số các quân nhân sang Thổ Nhĩ Kỳ thực hiện nhiệm vụ lần này có một quân nhân chỉ ít ngày nữa sẽ xây dựng gia đình, nhưng vẫn xung phong lên đường và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ để làm quà kỷ niệm ngày cưới. Đó là bằng chứng sinh động thể hiện tinh thần cống hiến, hy sinh của Bộ đội Cụ Hồ trong thời bình. Vì việc chung, lợi ích chung nên sẵn sàng gác lại việc riêng, lợi ích riêng - đó là phẩm chất, bản lĩnh của người quân nhân cách mạng đã được giáo dục, nuôi dưỡng, tôi rèn bền bỉ trong môi trường quân đội.

Tiếng gọi từ trái tim, mệnh lệnh của cuộc sống

Hơn ai hết, quân nhân mang bộ quân phục màu xanh, đội mũ đeo sao vàng, trên vai, trên ngực áo mang quân hàm tươi màu cờ đỏ và trong trái tim là tình yêu Tổ quốc, hình bóng người thân, gia đình, đơn vị. Họ là Bộ đội Cụ Hồ đi làm nhiệm vụ quốc tế mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ủy thác. Gánh trên vai trách nhiệm thiêng liêng đối với Tổ quốc, niềm vinh dự, tự hào là Bộ đội Cụ Hồ, tấm lòng tận trung với Đảng, trọn hiếu với dân, Đoàn cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp của Quân đội ta tham gia cứu hộ, cứu nạn ở Thổ Nhì Kỳ đại diện cho dân tộc Việt Nam, góp sức mình để lan tỏa tinh thần nhân ái, “thương người như thể thương thân” của dân tộc Việt Nam để tương trợ, giúp bạn trong lúc khó khăn, hoạn nạn, hiểm nghèo.

Đây là việc làm đầy tính nhân văn, nhân đạo, tất cả vì con người, vì sự tiến bộ xã hội. Chính điều đó góp phần lan tỏa mạnh mẽ chính sách nhân đạo, đoàn kết, vì hòa bình của Đảng, Nhà nước Việt Nam trước cộng đồng quốc tế. Hàng triệu triệu con mắt trên hành tinh đang dõi theo việc làm, trách nhiệm của của họ đối với thể diện quốc gia, hình ảnh của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Với vai trò đại diện cho đất nước và cho Quân đội nhân dân Việt Nam, cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp của Quân đội ta đang gắng sức khắc phục khó khăn, nỗ lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, Quân đội tin tưởng giao phó. Hơn thế, họ còn có nhiệm vụ tạo ấn tượng tốt đẹp với bạn bè quốc tế và chính quyền, nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ về hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, góp phần giữ vững và phát huy phẩm chất, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong mắt bạn bè quốc tế.

Quân đội ta là Quân đội nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Ngoài lợi ích của nhân dân, Quân đội ta không có mục đích nào khác. Nếu không phải vì mục tiêu, lý tưởng cao đẹp ấy thì cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đâu dám xả thân hy sinh vì cách mạng; cùng nhân dân làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự cưu mang, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân, Quân đội ta đã làm nòng cốt và cùng toàn dân đánh thắng hai thế lực xâm lược cường bạo nhất nhì thế giới là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; đồng thời tình nguyện giúp đỡ nhân dân Lào, đặc biệt là giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng, hồi sinh và phát triển đất nước. Phát huy tinh thần quốc tế cao cả đó, việc tham gia cứu hộ, cứu nạn, giúp nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ vượt qua hoạn nạn, thảm họa động đất là một hoạt động nhân văn trong các hoạt động “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân” của Quân đội ta trong thời bình.

Sự thật ấy là minh chứng đầy thuyết phục để bác bỏ mọi sự xuyên tạc, ác ý của những kẻ xấu.

Chủ nghĩa Mác lênin,tư tưởng Hồ Chí Minh nói về chủ nghĩa cơ hội


V.I.Lênin cho rằng, mặc dù chủ nghĩa cơ hội được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau với những tên gọi khác nhau trong mỗi thời kỳ lịch sử, nhưng bản chất của chúng chỉ là một. Đó là sự phản bội chủ nghĩa Mác, phản bội phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, vì những lợi ích cục bộ bảo thủ - mà thực chất là phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản (CNTB) - mà từ bỏ những lợi ích căn bản của giai cấp công nhân. Những kẻ cơ hội chủ nghĩa đã cắt xén chủ nghĩa Mác cho phù hợp với lợi ích giai cấp tư sản, núp dưới chiêu bài bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác để xét lại chủ nghĩa Mác, “ôm hôn chủ nghĩa Mác để bóp chết chủ nghĩa Mác”. Do vậy, phần tử cơ hội chính là kẻ thù bên trong của chủ nghĩa Mác - Lênin. Những kẻ vốn bài xích chủ nghĩa Mác đã “khoác áo” chủ nghĩa Mác để lừa dối giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Chúng cản trở việc truyền bá chủ nghĩa xã hội khoa học, thực chất là giúp giai cấp tư sản truyền bá hệ tư tưởng vào trong công nhân, từ đó khiến cho việc thành lập các chính đảng của giai cấp công nhân gặp nhiều khó khăn, đẩy lùi phong trào công nhân ở các nước... Vì vậy, trong từng giai đoạn, nhiệm vụ cách mạng cụ thể, V.I.Lênin luôn kiên quyết phê phán, đấu tranh, vạch trần bản chất phản khoa học, phản động của các quan điểm, tư tưởng và hành động của những kẻ cơ hội chủ nghĩa.

Hồ Chí Minh gọi những phần tử cơ hội chủ nghĩa là bọn đầu cơ, cơ hội chủ nghĩa thực dụng với bản chất là mưu lợi cá nhân, ích kỷ, vụ lợi, chỉ tìm cách “thích nghi”, luồn lách và sẵn sàng thỏa hiệp vô nguyên tắc với mọi trào lưu. Người cho rằng bọn đầu cơ cũng giống như là bọn phản động, “là địch nhân lọt vào trong Đảng để phá hoại”./.