Thứ Hai, 10 tháng 4, 2023

Nhiệm vụ, giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch chống phá cách mạng nước ta

 


Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp cơ bản sau:

Một là, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Đây vừa là nhiệm vụ vừa là giải pháp cơ bản khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với giai cấp, Nhà nước và xã hội; xây dựng, chỉnh đốn Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, phẩm chất đạo đức, tổ chức, cán bộ; đổi mới phương thức lãnh đạo, tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với nhân dân, bảo đảm cho Đảng đủ sức lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước không ngừng phát triển. Tuyệt đối không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; kiên quyết đấu tranh với những quan điểm tư tưởng chính trị sai trái, thù địch đòi đa nguyên, đa đảng.

Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong điều kiện Đảng ta là đảng cầm quyền, hoạt động trong môi trường phát triển kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập quốc tế; cán bộ, đảng viên giữ nhiều trọng trách, thường xuyên phải đối mặt với những cám dỗ của tiền bạc, của cải vật chất, quyền lực, lợi ích cá nhân, mỗi cán bộ, đảng viên càng phải chăm lo giữ vững bản chất cách mạng và tính tiên phong của Đảng. Nếu không nhận thức sâu sắc điều này, nếu cán bộ, đảng viên không tích cực, kiên trì rèn luyện và học tập thì rất dễ bị thoái hoá, biến chất. Vấn đề giữ vững bản chất giai cấp của Đảng - một Đảng Cộng sản, đảng cách mạng chân chính, hoạt động vì sự nghiệp của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc tộc, là vấn đề hết sức cơ bản và quan trọng.

Hai là, chủ động phát hiện kịp thời những tư tưởng đối lập do các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội trong bộ máy lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang; xử lý kịp thời và nghiêm minh theo pháp luật đối với các hoạt động chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, không để chúng tạo dựng ngọn cờ tập hợp được lực lượng. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý các hoạt động báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, internet, mạng xã hội (Facebook), các cuộc hội thảo, việc hợp tác nghiên cứu khoa học xã hội về những vấn đề tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền... Không xảy ra sơ hở để bên ngoài có thể lợi dụng xâm nhập, thu thập bí mật, xuyên tạc, phủ nhận, truyền bá quan điểm tư tưởng thù địch và kích động phá hoại. Đồng thời, đẩy mạnh đấu tranh, vô hiệu hóa các trang mạng xã hội có nội dung xấu, độc; tăng cường giáo dục, đối thoại với những người có quan điểm sai trái, ngăn chặn sự tác động của bọn phản động bên ngoài, không đẩy họ vào thế đối địch, đồng thời kiên quyết xử lý những trường hợp “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” gây tổn hại đến nội bộ Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp.

Ba là, chủ động phê phán, bác bỏ các quan điểm tư tưởng sai trái và ý đồ thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”. Đây vừa là nhiệm vụ vừa là yêu cầu cần kiên quyết, kiên trì, tăng cường đấu tranh phê phán hệ tư tưởng tư sản, tư tưởng xã hội - dân chủ, chủ nghĩa thực dụng. Đảng ta chỉ rõ: “Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nới còn bị động, thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa đáp ứng được yêu cầu”[2]. Bởi vậy, yêu cầu: “Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị. Hết sức coi trọng xây dựng Đảng về tư tưởng. Kiên định, vững vàng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội…”, “không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên; thường xuyên đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”. “Tập trung xây dựng Đảng về đạo đức, tích cực đấu tranh phòng chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ gắn với đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phát huy thật tốt trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”.

Bốn là, tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống những luận điểm sai trái, thù địch, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng để có luận chứng bác bỏ có sức thuyết phục từng luận điểm. Trên cơ sở đó, huy động và phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của các cơ quan, đơn vị trên mặt trận tư tưởng - lý luận tiến hành phản bác kịp thời, có hiệu quả các quan điểm sai trái, phủ nhận đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vạch trần thủ đoạn thổi phồng những sơ hở, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, trong quản lý kinh tế - xã hội nhằm kích động tâm lý bất mãn, chống đối, chia rẽ nội bộ, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Đồng thời, “Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống; phòng chống tham nhũng, tiêu cực; sắp xếp tổ chức bộ máy, sát nhập đơn vị hành chính cấp huyện, xấp xã và tinh giảm biên chế của hệ thống chính trị; đổi mới công tác cán bộ và ngăn chặn tình trạng chạy chức, chạy quyền; tăng cường kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, xử lý nghiêm những tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên vi phạm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ”[3].

          V3.

Nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, hòng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng

 


Các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, với âm mưu hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam, bằng các thủ đoạn, như: (i) Xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin; (ii) Tập trung công kích, xuyên tạc quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; (iii) Bóp méo, hạ thấp, phủ nhận thành quả đổi mới của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng...

Về kinh tế, chúng xuyên tạc, chống phá đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta. Các thế lực thù địch âm mưu làm cho nền kinh tế nước ta phát triển chệch định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng bóp méo các nguyên lý kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đối lập định hướng xã hội chủ nghĩa với phát triển kinh tế thị trường…, tạo ra nền tảng vật chất, xã hội hình thành nền “chính trị dân chủ” và “xã hôi dân sự” kiểu tư bản chủ nghĩa.

Về văn hóa, chúng lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng Việt Nam; gieo rắc tư tưởng sùng bái lối sống, văn hóa phương Tây; o bế các cây viết, khuynh hướng, xu hướng văn hóa - văn nghệ cực đoan, phản động; phát tán những tác phẩm cổ vũ sự chống đối, xúc phạm những giá trị văn hóa truyền thống, đòi “giải thiêng thần tượng”, “hạ bệ thần tượng”. Các thế lực thù địch lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền để lôi kéo, dụ dỗ một bộ phận quần chúng thực hiện các hành vi chống đối chính quyền; tìm cách khoét sâu vào những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để bóp méo, xuyên tạc, tạo ra sự hoài nghi, lung lay trong tư tưởng của đảng viên và nhân dân ta.

Về ngoại giao, tìm cách cản trở Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế, mặt khác, lôi kéo, mua chuộc các đối tác từ bên ngoài để gây sức ép, tác động vào bên trong đất nước; quốc tế hóa những vấn đề nội bộ của Việt Nam; xuyên tạc đường lối đối ngoại, độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển đa dạng hóa, đa phương hóa của Việt Nam…

          V3.

Một số giải pháp bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới

 


Là quốc gia biển nên vấn đề an ninh biển có tầm quan trọng đặc biệt đối với Việt Nam, tác động lớn đến phát triển kinh tế biển và bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường hòa bình của đất nước. Tuy nhiên, hiện nay tình hình tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và các vấn đề an ninh phi truyền thống, như: khủng bố, cướp biển, buôn lậu, tranh chấp ngư trường, khai thác tài nguyên biển gây ô nhiễm môi trường,… diễn biến ngày càng phức tạp, khó dự báo.

Về tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông hiện đang tồn tại bốn vấn đề lớn liên quan đến chủ quyền biển, đảo Việt Nam chưa được giải quyết: Chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa; bảo vệ chủ quyền và giải quyết tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Trường Sa giữa năm nước sáu bên; phân định ranh giới các vùng biển theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982; xác định ranh giới ngoài vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Cùng với đó, những nhân tố có thể gây mất ổn định trên Biển Đông vẫn đang diễn ra gay gắt: xâm phạm chủ quyền, an ninh; nguy cơ xung đột vũ trang; tranh chấp biển, đảo và thềm lục địa, v.v. Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển...”1. Quán triệt tinh thần đó, cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau:

Một làxây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, sớm đưa nước ta trở thành quốc gia trong khu vực mạnh về kinh tế biển, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế. Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định: “Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ”2. Để kinh tế phát triển tương xứng với tiềm năng của biển, gắn phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo cần phải tổ chức lại hoạt động khai thác hải sản theo hướng giảm khai thác gần bờ, đẩy mạnh khai thác xa bờ; thúc đẩy các hoạt động nuôi trồng, khai thác hải sản bền vững, tăng cường bảo vệ, tái sinh nguồn lợi hải sản và môi trường biển, nghiêm cấm các hoạt động khai thác mang tính hủy diệt.

Phát triển nhanh một số khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp năng lượng, công nghiệp hàng hải, đóng tàu, nuôi trồng, khai thác và chế biến hải sản chất lượng cao. Đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, xây dựng các trung tâm kinh tế ven biển mạnh, tạo thế tiến ra biển, gắn với phát triển đa dạng các ngành dịch vụ, xuất khẩu, du lịch, dịch vụ nghề cá, dầu khí, vận tải biển, v.v. Phát triển kinh tế các đảo, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, thăm dò, khai thác, nuôi trồng thủy sản gắn với bảo vệ, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Xây dựng các chiến lược, quy hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội trên biển, đảo; tăng cường đầu tư các nguồn lực và hoạch định cơ chế chính sách trong phòng, chống thiên tai, thảm họa, bảo vệ môi trường biển.

Hai làxây dựng lực lượng quản lý, bảo vệ biển, đảo vững mạnh về mọi mặt. Việc tập trung nỗ lực xây dựng lực lượng quản lý biển, đảo và các hoạt động kinh tế biển, nhất là lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển, Biên phòng, Dân quân tự vệ biển và lực lượng Kiểm ngư vững mạnh, đủ sức hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao là yêu cầu bức thiết hiện nay. Trong đó, Hải quân nhân dân Việt Nam là lực lượng chuyên trách hoạt động trên biển, giữ vai trò quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ các vùng biển, đảo của Tổ quốc, cần được ưu tiên đầu tư xây dựng theo hướng hiện đại hóa và có chính sách đãi ngộ thỏa đáng, đặc biệt là lực lượng thường xuyên tuần tra trên biển và chốt giữ các đảo xa bờ. Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng chuyên trách quản lý, duy trì thực thi pháp luật trên biển, cần được tiếp tục củng cố, hoàn thiện về tổ chức, biên chế, tăng cường trang bị hiện đại, bảo đảm đủ sức hoàn thành nhiệm vụ trước mắt và lâu dài. Bộ đội Biên phòng cần được đầu tư đủ trang thiết bị kỹ thuật, phương tiện cơ động, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự, cứu hộ, cứu nạn, chống buôn lậu và các tệ nạn xã hội trên các vùng biển. Dân quân tự vệ biển được xây dựng theo phương châm vững mạnh, rộng khắp, ở đâu có tàu, thuyền, ngư dân hoạt động và dân cư sinh sống trên đảo thì ở đó có dân quân tự vệ biển; lấy doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã làm nòng cốt; tổ chức biên chế phù hợp với đặc điểm của từng địa phương, bảo đảm thành ba tuyến: ven bờ, lộng, khơi; coi trọng lực lượng hoạt động trên biển. Kiểm ngư là lực lượng được tổ chức chặt chẽ, hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ, nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý các vi phạm của tàu thuyền nước ngoài; hỗ trợ ngư dân, đảm bảo an ninh trật tự và có vai trò quan trọng trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền trên các vùng biển của Tổ quốc.

Ba làkiên quyết, kiên trì giải quyết tranh chấp trên biển, đảo bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Là thành viên của Liên hợp quốc, của UNCLOS cũng như tuyên bố của các bên về cách ứng xử trên biển Đông (DOC), Việt Nam luôn tuân thủ các quy định của luật pháp quốc tế; kiên trì con đường giải quyết các vấn đề nảy sinh bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau; thông qua đàm phán, thương lượng, nhằm tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của tất cả các bên liên quan vì độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, vì hòa bình, ổn định khu vực và quốc tế. Theo tinh thần đó, những vấn đề còn đang bất đồng, tranh chấp song phương thì giải quyết song phương; những vấn đề tranh chấp liên quan đến nhiều bên thì giải quyết đa phương và phải hết sức công khai, minh bạch giữa các bên có liên quan. Trong khi nỗ lực xử lý các vấn đề nảy sinh ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, cần kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ những lợi ích chính đáng của ta trên biển với quyết tâm “Việt Nam quyết không để một tấc đất, tấc biển nào bị xâm phạm”; kiên trì tìm kiếm một giải pháp lâu dài và yêu cầu các bên liên quan kiềm chế, không có hoạt động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, tuân thủ cam kết giải quyết bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, UNCLOS và 05 nguyên tắc chung sống hòa bình, tăng cường nỗ lực xây dựng lòng tin, hợp tác đa phương về an ninh biển, nghiên cứu khoa học, chống tội phạm; cùng nhau thực hiện nghiêm chỉnh DOC, hướng tới xây dựng Bộ quy tắc ứng xử COC để Biển Đông thực sự là vùng biển hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Tại các vùng biển không phải là tranh chấp, hoàn toàn thuộc chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển, Việt Nam có quyền áp dụng các biện pháp cần thiết, phù hợp với quy định của UNCLOS để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng.

Bốn làthực hiện tốt công tác đối ngoại quốc phòng. Đối ngoại quốc phòng là vấn đề quan trọng diễn ra chủ yếu trong thời bình và cả khi có tình huống chiến tranh, thực hiện tốt vấn đề này góp phần vừa giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, hòa bình, ổn định trên Biển Đông, vừa duy trì sự ổn định chính trị - xã hội trong nước và môi trường quốc tế thuận lợi để phát triển kinh tế. Thực hiện tốt công tác đối ngoại quốc phòng trong bối cảnh hội nhập quốc tế, điều quan trọng trước hết là hợp tác chặt chẽ trên tất cả lĩnh vực, đặc biệt là giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Các ngành chức năng, trọng tâm là Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Bộ Ngoại giao cần xây dựng, hoàn thiện quy chế phối hợp, trọng tâm là công tác nghiên cứu cơ bản, phân tích dự báo chiến lược về tình hình thế giới, khu vực, chiều hướng diễn biến của mối quan hệ quốc tế, về đối tác, đối tượng của cách mạng. Từ đó, tham mưu cho Đảng, Nhà nước hoạch định đường lối chiến lược và các đối sách xử lý thắng lợi các tình huống quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng với các nước, nhất là các nước trong khu vực và các nước lớn trên thế giới để tăng sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau. Hải quân, Cảnh sát biển cần tăng cường giao lưu với các đối tác, tổ chức các hoạt động phối hợp tuần tra chung, diễn tập, cứu hộ, cứu nạn trên biển, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và triệt tiêu nguy cơ xung đột trên biển.

Năm làđẩy mạnh công tác tuyên truyền về chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Thực hiện tốt nội dung này, các đơn vị Hải quân, Cảnh sát biển, Biên phòng đóng quân ở địa phương ven biển và các đảo cần kết hợp chặt chẽ với địa phương và cơ quan Tuyên giáo xây dựng kế hoạch, tổ chức bồi dưỡng báo cáo viên, biên soạn, phát hành tài liệu tuyên truyền sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, nhất là cư dân sinh sống ở ven biển, trên đảo, ngư dân làm ăn trên biển, kiều bào ta ở nước ngoài. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, công tác tuyên truyền về chủ quyền biển, đảo cần có sự tham gia, phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương và các phương tiện thông tin đại chúng, dưới sự chỉ đạo tập trung, thống nhất của các cơ quan chức năng Trung ương. Đặc biệt, cần thông tin kịp thời, minh bạch, chính xác để mọi người dân trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài và nhân dân thế giới hiểu cơ sở pháp lý, chứng cứ lịch sử và sự chiếm hữu thực tế của Việt Nam trên các vùng biển, đảo ở Biển Đông; hiểu rõ quan điểm, lập trường của Đảng, Nhà nước ta về giải quyết vấn đề chủ quyền trên Biển Đông; từ đó, xây dựng niềm tin, ý chí quyết tâm, đồng thuận của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo và các hoạt động kinh tế biển.

Cùng với công tác truyên truyền về biển, đảo, cần kết hợp với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, làm cho ngư dân hiểu rõ các quy định trong luật biển Việt Nam và pháp luật quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, làm cho ngư dân không chỉ chấp hành, mà còn kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật của tàu, thuyền nước ngoài ở vùng biển Việt Nam. Cần sớm đưa các nội dung về chủ quyền biên giới, lãnh thổ, biển, đảo vào chương trình giáo dục phổ thông và đại học; phổ biến rộng rãi trong cộng đồng người Việt Nam và quốc tế về chủ quyền lãnh thổ Việt Nam trên biển.

          V3.

 

Mấy giải pháp xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

 


Những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn quân luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, hiệu quả nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hóa quân sự với nhiều cách làm phong phú, thiết thực. Vì vậy, môi trường văn hóa quân sự đã phát triển toàn diện, có ý nghĩa tích cực trên nhiều mặt; với nhiều nét tiêu biểu, như: đã xây dựng được môi trường giàu tính giáo dục, nuôi dưỡng và phát triển phong trào cán bộ, chiến sĩ phấn đấu theo tiêu chuẩn con người mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa; phát huy và làm đẹp thêm truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới. Đời sống văn hóa, tinh thần trong các cơ quan, đơn vị ngày càng phát triển vững chắc, tạo ra nhiều giá trị văn hóa mới, làm cơ sở để bồi đắp thêm những phẩm chất tốt đẹp của người quân nhân cách mạng. Toàn quân đã tích cực, chủ động, kiên quyết đấu tranh phòng, chống, ngăn chặn tệ nạn xã hội, văn hóa xấu độc xâm nhập vào đời sống bộ đội. Việc xây dựng, củng cố doanh trại chính quy, sáng, xanh, sạch, đẹp, hài hòa, thân thiện với môi trường, thiết thực với đời sống bộ đội được triển khai rộng khắp trong toàn quân. Qua đó, tạo dựng diện mạo văn hóa mới trong các đơn vị Quân đội; gắn kết chặt chẽ các hoạt động văn hóa, tinh thần giữa bộ đội và nhân dân, tăng cường đoàn kết quân dân; đấu tranh có hiệu quả trước âm mưu thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội và các quan điểm sai trái trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, góp phần nâng cao chất lượng chính trị, sức mạnh chiến đấu của Quân đội.

Tuy nhiên, nhận thức, trách nhiệm, công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cán bộ, cấp ủy, chỉ huy một số cơ quan, đơn vị có lúc chưa thường xuyên, có thời điểm chưa sát với đơn vị cơ sở; thiết chế văn hóa ở một số đơn vị chưa được củng cố kịp thời; cán bộ, nhân viên văn hóa chưa thực sự sâu về chuyên môn, khả năng tổ chức hoạt động văn hóa, tinh thần trong ngày nghỉ còn biểu hiện hình thức, gò ép, chưa hấp dẫn, v.v.

Để tiếp tục xây dựng môi trường văn hóa quân sự, ngày 18/8/2022, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã ban hành Quyết định số 3087/QĐ-BQP phê duyệt Kế hoạch số 1349/KH-CT, ngày 15/8/2022 của Tổng cục Chính trị về thực hiện Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 trong Quân đội nhân dân Việt Nam với chủ trương phát triển văn hóa Quân đội nhân dân Việt Nam để xây dựng phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; đồng thời, xây dựng phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là nội dung cốt lõi, tiêu chí, đặc trưng của văn hóa Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong đó xác định, xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” là nội dung quan trọng, cần được cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện hiệu quả. Từ góc độ nghiên cứu, chúng tôi đề xuất một số giải pháp cơ bản sau:

Một lànâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ, các tổ chức, lực lượng trong xây dựng môi trường văn hóa quân sự. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Tư tưởng đúng thì hành động mới khỏi sai lạc và mới làm trọn nhiệm vụ cách mạng được”1. Vì vậy, việc nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể trong xây dựng môi trường văn hóa quân sự là vấn đề quan trọng hàng đầu. Trong đó, tiếp tục giáo dục, quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị về văn hóa và xây dựng môi trường văn hóa2; tập trung quán triệt, làm rõ quan điểm Đại hội XIII của Đảng về xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam, v.v. Qua đó, nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chỉ huy, cán bộ, đảng viên, quần chúng về vị trí, vai trò của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đề cao trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện xây dựng môi trường văn hóa quân sự. Hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục phải đa dạng, phong phú, phù hợp với điều kiện của đơn vị và đối tượng, như: đưa nội dung giáo dục về văn hóa vào chương trình giáo dục chính trị hằng năm; tổ chức diễn đàn, tọa đàm về giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”; xây dựng các chuyên trang, chuyên mục trên các báo, đài; tuyên truyền, quảng bá các tác phẩm điện ảnh về đề tài lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng đến bộ đội và nhân dân, v,v. Đi đôi với việc giáo dục, quán triệt, định hướng nhận thức, cần tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá thực trạng, nhất là những hạn chế, bất cập để kịp thời chấn chỉnh; kiên quyết đấu tranh với các quan điểm, khuynh hướng văn hóa lệch lạc, phản động, xem nhẹ vị trí, vai trò của văn hóa và xây dựng môi trường văn hóa quân sự.

Hai là, tiếp tục giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa quân sự trong tình hình mới. Giá trị văn hóa quân sự rất phong phú, tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, cả ở dạng vật thể và phi vật thể; trong đó, cốt lõi là hình ảnh, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Để giá trị văn hóa này không ngừng tỏa sáng, yêu cầu quan trọng hiện nay là tiếp tục quán triệt, tổ chức thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 855-CT/QUTW, ngày 12/8/2019 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, gắn với việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, v.v. Cùng với đó, phát huy vai trò tự giác tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, chiến sĩ, trước hết là cán bộ chủ trì các cấp trong giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa quân sự. Tổ chức chặt chẽ việc quy hoạch xây dựng doanh trại gắn với quy hoạch hệ thống thiết chế văn hóa, cảnh quan, công trình văn hóa đảm bảo thống nhất, thiết thực; tạo môi trường và điều kiện sống tốt về tinh thần và sức khỏe của bộ đội. Mở rộng giao lưu văn hóa với quân đội các nước, tạo điều kiện để phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc, Quân đội; tiếp thu những giá trị văn hóa tiên tiến, tốt đẹp, lành mạnh từ bên ngoài. Kiên quyết đấu tranh chống quan điểm sai trái, phản động, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, chức năng, nhiệm vụ và những giá trị văn hóa tốt đẹp của Quân đội.

Ba là, chăm lo xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp, lành mạnh trong Quân đội. Văn hóa nói chung, văn hóa quân sự nói riêng được biểu hiện khá phong phú trong môi trường quân sự, nhưng tiêu biểu và rõ nét hơn cả là các mối quan hệ giữa: lãnh đạo, chỉ huy với phục tùng sự lãnh đạo, chỉ huy; cấp trên với cấp dưới; đảng viên với quần chúng; cán bộ với chiến sĩ và giữa quân nhân với nhau, v.v. Để xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp, lành mạnh, thiết nghĩ cần xây dựng bầu không khí dân chủ, cởi mở, sự đoàn kết, thống nhất, tin tưởng lẫn nhau; nghiên cứu xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống các quy chế, quy định trong thực hiện Quy chế Dân chủ cơ sở; phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng trong tham gia xây dựng tổ chức đảng, tăng cường hiệu lực người chỉ huy các cấp. Trong chỉ đạo thực tiễn, xác định đúng tính chất của mối quan hệ, có biện pháp tác động đúng đắn, phù hợp để xây dựng các mối quan hệ văn hóa lành mạnh. Tích cực hóa các quan hệ văn hóa quân sự bằng nhiều biện pháp cụ thể, như: tọa đàm dân chủ; giao lưu văn hóa, hoạt động liên kết giữa bộ đội với nhân dân địa phương, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, cách mạng, văn hóa dân tộc. Đẩy mạnh hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”, tích cực tham gia phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Cả nước chung tay vì người nghèo”, v.v. Trong công tác quản lý, chỉ huy cần khắc phục biểu hiện quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, phân biệt cấp trên với cấp dưới, cán bộ với chiến sĩ, chiến sĩ cũ với chiến sĩ mới.

Bốn làhoàn thiện, nâng cao hiệu quả hệ thống thiết chế và các hình thái hoạt động văn hóa quân sự. Thiết chế văn hóa là yếu tố đặc biệt quan trọng, được coi là “trung khu thần kinh” của môi trường văn hóa. Để có môi trường văn hóa quân sự tốt đẹp, phong phú, lành mạnh, phải có hệ thống thiết chế văn hóa vững chắc, năng động. Điều đó đặt ra yêu cầu cần xây dựng, hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa quân sự theo Quyết định số 3672/QĐ-BQP, ngày 24/12/2020 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về Quy hoạch hệ thống thiết chế văn hóa trong Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030. Việc quy hoạch hệ thống thiết chế văn hóa phải nhằm bảo đảm chính quy, tinh gọn, thống nhất, cơ cấu hợp lý; quản lý, tổ chức hoạt động hiệu quả. Chủ động sáng tạo ra các hình thức hoạt động mới theo phương châm: ngắn gọn, nhỏ lẻ, linh hoạt, kịp thời, phù hợp với điều kiện, khả năng nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống văn hóa, tinh thần ngày càng cao của bộ đội. Ngoài ra, cần chỉnh đốn những hoạt động văn hóa không còn phù hợp, gây tốn kém, lãng phí; khắc phục bệnh phô trương, hình thức. Đồng thời, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực văn hóa chất lượng cao, thực hiện chế độ, chính sách đặc thù đối với lực lượng đảm nhiệm công tác văn hóa - văn nghệ.

Xây dựng môi trường văn hóa quân sự là vấn đề lớn, có chiều sâu. Những giải pháp trên chưa thể đề cập toàn diện các khía cạnh, song cấp ủy, chỉ huy các cấp có thể nghiên cứu vận dụng linh hoạt để xác định các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng môi trường văn hóa của đơn vị đảm bảo hiệu quả, thiết thực.

          V3.

Khẳng định chủ quyền và quyền chủ quyền đối với vùng biển và hải đảo Quốc gia

 


Việt Nam là quốc gia ven biển có địa vị chính trị và địa vị kinh tế rất quan trọng,với bờ biển dài trên 3.260 km trải dài từ Bắc xuống Nam, đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, các quốc đảo và các lãnh thổ trên thế giới. Chỉ số chiều dài bờ biển trên diện tích đất liền của nước ta là xấp xỉ 0,01 (nghĩa là cứ 100 km2 đất liền có 1 km bờ biển). Trong 63 tỉnh, thành phố của cả nước thì 28 tỉnh, thành phố có biển và gần một nửa dân số sinh sống tại các tỉnh, thành ven biển1.

Theo Công ước của Liên hiệp quốc về Luật Biển năm 1982, nước ta có diện tích biển khoảng trên 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền, chiếm gần 30% diện tích Biển Đông (cả Biển Đông gần 3,5 triệu km2). Vùng biển nước ta có khoảng 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ và 2 quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa (điều này đã được công bố, minh chứng trong lịch sử, các tư liệu khoa học và pháp lý về chủ quyền biển, đảo Việt Nam). Một số đảo ven bờ còn có vị trí quan trọng được sử dụng làm các điểm mốc quốc gia trên biển để thiết lập đường cơ sở ven bờ lục địa Việt Nam, từ đó,xác định vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, làm cơ sở pháp lý để bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển2.

Có thể nói, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC)- còn gọi là Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Nam Trung Hoa (Declaration on Conduct of the Parties in the South China Sea) là một văn kiện được các nước ASEAN và Trung Quốc ký kết ngày 04/11/2002 tại Phnom Penh, Campuchia,nhân dịp Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 8.Đây là văn kiện chính trị đầu tiên mà ASEAN và Trung Quốc đạt được có liên quan đến vấn đề Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) và được coi là bước đột phá trong quan hệ ASEAN – Trung Quốc về vấn đề Biển Đông. Việc ký văn kiện này là kết quả nỗ lực của các nước ASEAN, đặc biệt là 4 nước liên quan trực tiếp tranh chấp ở quần đảo Trường Sa (Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei) trong việc duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông và Tuyên bố cấp cao kỷ niệm 10 năm DOC3.

Ý nghĩa quan trọng nhất của Tuyên bố chung nằm ở 3 điểm: các nước ASEAN và Trung Quốc tái cam kết ở cấp cao nhất với những nguyên tắc của DOC; nhất trí với nhau ở cấp cao nhất cùng hướng tới bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC); nâng cơ chế thực hiện lên cấp Bộ trưởng. Việc tái cam kết những nguyên tắc ở cấp cao nhất sẽ hỗ trợ nhiều hơn cho việc bảo đảm hòa bình, ổn định an ninh, an toàn hàng hải và giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Luật Biển. Tuyên bố chung này càng có ý nghĩa khi đặt trong bối cảnh các nước đã có những bước tiến nhất định trong việc xây dựng lòng tin và thực hiện DOC trong 10 năm qua nhưng vẫn còn những diễn biến phức tạp.

Để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là: bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Quan điểm của Đảng là tập trung trước hết về phát triển kinh tế độc lập tự chủ, kinh tế biển, bảo vệ chủ quyền biển, đảo, giữ vững chủ quyền biển, đảo, biên giới, vùng trời của Việt Nam trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế; coi đây là một trong những động lực cơ bản cho sự phát triển bền vững của đất nước. Điều này được khẳng định trong các văn kiện Đại hội của Đảng lần thứ VII, VIII, IX, XI và XII, đặc biệt trong các nghị quyết, chỉ thị như: Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 06/5/1993 của Bộ Chính trị khóa VII về một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt; Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 22/9/1997 của Bộ Chính trị khóa VIII về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương 4 (khóa X) về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, quan điểm chỉ đạo của Đảng là: "Đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển”4.

Tiếp tục khẳng định quan điểm chỉ đạo của Đảng ta, đó là: "Chủ động, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp phù hợp, bảo vệ được chủ quyền biển, đảo, vùng trời và giữ được hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”5. Xác định rõ hơn quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước, của quân và dân trong công cuộc bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên biển và lợi ích quốc gia trên biển: "nhận thức của toàn hệ thống chính trị, nhân dân và đồng bào ta ở nước ngoài về vị trí, vai trò của biển, đảo đối với phát triển kinh tế, bảo vệ chủ quyền quốc gia được nâng lên rõ rệt. Chủ quyền, an ninh quốc gia trên biển được giữ vững” (đây là nội dung trong Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045)6.

Việc đổi mới tư duy, phát triển nhận thức của Đảng trên các vấn đề cơ bản khác của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó để hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, điều tiên quyết đặt ra là phải không ngừng củng cố, tăng cường sức mạnh quốc gia, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển đã được chỉ rõ tại Nghị quyết Đại hội XII của Đảng: "Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc”7. Đó là trách nhiệm chung của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, trong đó có thanh niên được xác định là lực lượng nòng cốt, xung kích đi đầu trong bảo vệ chủ quyền biển đảo, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam.

Cụ thể hóa các văn kiện, nghị quyết của Đảng nhằm xây dựng thế trận lòng dân, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc, Luật Biển Việt Nam năm 2012 quy định về chính sách quản lý và bảo vệ biển, trong đó nhấn mạnh việc phát huy sức mạnh toàn dân tộc và thực hiện các biện pháp cần thiết bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo và quần đảo, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, phát triển kinh tế biển; xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch quản lý, sử dụng, khai thác, bảo vệ các vùng biển, đảo và quần đảo một cách bền vững phục vụ mục tiêu xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách ưu tiên đối với nhân dân sinh sống trên các đảo và quần đảo; chế độ ưu đãi đối với các lực lượng tham gia quản lý và bảo vệ các vùng biển, đảo và quần đảo (tại Điều 5 của Luật Biển năm 1982). Nhấn mạnh rõ vai trò của thế hệ trẻ Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ biển, đảo và Tổ quốc.

Nhìn lại lịch sử địa lý của Việt Nam liên quan đến chủ quyền biển đảo, có thể khẳng định: hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam, điều này đã được xác định rõ trong công trình nghiên cứu về vấn đề biển đảo cũng như tìm hiểu 24 bộ sách dư địa chí Trung Quốc từ thời Hán đến thời Thanh của các nhà khoa học, nhà lịch sử (quốc tế và Việt Nam) đã cho thấy, trong các tư liệu này đều không ghi hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc sở hữu của Trung Quốc. Trong khi đó, các thư tịnh, bản đồ cổ của các nhà tư bản, các cố đạo phương Tây đều ghi nhận hai quần đảo này là của Việt Nam, đặc biệt ghi chép nhiều lần Chúa Nguyễn cứu trợ những người mắc nạn trên 2 đảo.

Trong các thư tịch cổ lưu giữ tại cố đô Huế cũng ghi chép về sự thành lập đội Hoàng Sa, các chỉ dụ chỉ đạo việc bố phòng canh giữ… của các đời vua nhà Nguyễn. Bản đồ chủ quyền của Pháp khi xâm lược Việt Nam cũng quy hoạch rõ có việc sở hữu hai quần đảo thuộc Việt Nam năm 1954, khi Hiệp định Giơ-ne-vơ ký kết (Trung Quốc là một thành viên Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc tham dự cũng thừa nhận phần Nam vĩ tuyến 17, bao gồm lục địa biển quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là do chính quyền Việt Nam cộng hòa quản lý).

Với những tư liệu lịch sử ghi nhận tính sở hữu hai quần đảo của Việt Nam vừa mang tính pháp lý phù hợp với Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển năm 1982 và trên cơ sở pháp luật của Việt Nam, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, khẳng định rằng: Việt Nam có chủ quyền và quyền chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

V3.

 

Định hướng tư tưởng bộ đội trong đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng

 


Nhận thức rõ tác động tiêu cực của những thông tin, quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng đối với công tác tư tưởng trong Quân đội, cấp ủy, chỉ huy các cấp đã chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp đấu tranh phòng, chống. Trong đó, tăng cường nắm bắt, định hướng tư tưởng cán bộ, chiến sĩ là một giải pháp quan trọng trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Quán triệt, thực hiện nghiêm sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị về đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng1, Ban Chỉ đạo 35, cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp đã lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai đồng bộ nội dung, hình thức, biện pháp tiến hành phù hợp; giải quyết tư tưởng nảy sinh, định hướng kịp thời, góp phần ổn định tư tưởng bộ đội, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

Tuy nhiên, trong tổ chức thực hiện vẫn còn một số cơ quan, đơn vị chưa quan tâm coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng bộ đội trước sự tác động tiêu cực của không gian mạng dẫn đến một số quân nhân chưa nhận thức đúng “kẻ thù giấu mặt”, vi phạm quy định khi tham gia mạng xã hội đến mức phải xử lý kỷ luật làm ảnh hưởng đến hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Để khắc phục hạn chế trên, cần có giải pháp định hướng tư tưởng bộ đội trong đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng.

Một là, phát huy vai trò của cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị và lực lượng nòng cốt, chuyên sâu. Thực hiện giải pháp này, các đơn vị cần quán triệt, thực hiện thống nhất sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo 35 các cấp; thường xuyên làm tốt công tác nắm tình hình và định hướng tư tưởng bộ đội, nhằm kịp thời phát hiện, ngăn ngừa những thông tin sai trái, thù địch xâm nhập vào đơn vị. Duy trì tốt nền nếp, các khâu, các bước của công tác tư tưởng, coi trọng thực hiện tốt năm chủ động2; đi sâu vào công tác giáo dục, định hướng, dự báo, phân tích, đánh giá để kịp thời có chủ trương, biện pháp giải quyết hiệu quả. Nội dung tập trung vào việc nắm khuynh hướng tư tưởng trong đời sống sinh hoạt thường ngày của bộ đội; niềm tin vào sự nghiệp cách mạng, vào sự lãnh đạo của Đảng; tính tích cực trong rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, đoàn kết, kỷ luật, v.v. Tiến hành đồng bộ các biện pháp nắm bắt tình hình tư tưởng bộ đội thông qua: sinh hoạt tổ ba người, chiến sĩ dân vận, chiến sĩ bảo vệ, tổ đội thanh niên xung kích; các mối quan hệ: đồng chí, đồng đội, quan hệ cấp trên, cấp dưới, chiến sĩ cũ và chiến sĩ mới, gia đình và quan hệ xã hội. Phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, bí thư, chính ủy (chính trị viên), người chỉ huy, cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị các cấp trong nắm bắt, định hướng tư tưởng thông qua hoạt động: “Ngày Chính trị và văn hóa tinh thần”, “Ngày Pháp luật” ở đơn vị, hoặc các hình thức học tập chuyên đề, thông báo thời sự, sinh hoạt chính trị - tư tưởng, đọc báo, nghe đài, diễn đàn, v.v.

Cùng với đó, tổ chức tập huấn nội dung, kỹ năng, phương pháp đấu tranh trên không gian mạng cho cấp ủy, cơ quan chính trị và lực lượng nòng cốt chuyên trách ở đơn vị; duy trì nghiêm nền nếp chế độ giao ban nắm tình hình hằng tuần, tháng, quý để rút kinh nghiệm, thống nhất nội dung định hướng tư tưởng bộ đội, nhất là trước những nhiệm vụ quan trọng của đơn vị, các sự kiện trọng đại của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Phát huy vai trò của lực lượng nòng cốt, chuyên sâu trong nghiên cứu âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; nắm vững tư tưởng, tâm trạng của cán bộ, chiến sĩ để dự báo, tham mưu cho lãnh đạo, chỉ huy những biện pháp giáo dục, định hướng tư tưởng, bảo đảm cho mọi quân nhân kiên định, vững vàng về chính trị, tư tưởng trong mọi tình huống.

Hai là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị. Hoạt động tuyên truyền, giáo dục cần kết hợp chặt chẽ việc nắm bắt tư tưởng, giáo dục nâng cao nhận thức với thực hiện các phong trào thi đua, các cuộc vận động và xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh để nắm bắt, quản lý, định hướng tư tưởng bộ đội. Tổ chức tốt công tác tuyên truyền miệng và hoạt động báo cáo viên, coi đây là kênh thông tin quan trọng nhất3 kịp thời định hướng tư tưởng cán bộ, chiến sĩ, nhất là các vấn đề nhạy cảm, phức tạp tác động trực tiếp tới tư tưởng tình cảm cán bộ, chiến sĩ. Hằng tuần, tháng duy trì tốt chế độ nói chuyện thời sự, thông báo chính trị, trực tiếp cung cấp thông tin có định hướng theo đúng quan điểm của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị cho các đối tượng. Đặc biệt, trước các vấn đề nhạy cảm về chính trị, đối ngoại, an ninh, quốc phòng, những vấn đề nóng của tình hình thế giới, Biển Đông, các hoạt động quan trọng của lãnh đạo Đảng và Nhà nước,... cần nhanh chóng triển khai cho báo cáo viên thông tin, định hướng kịp thời, góp phần ổn định tình hình, thống nhất về nhận thức, nâng cao tinh thần cảnh giác của bộ đội, hướng vào đối tượng là cán bộ trẻ, chiến sĩ mới. Tổ chức nhiều nội dung, hình thức tuyên truyền, giáo dục phong phú gắn với phê phán, phản bác luận điệu sai trái bằng những lý lẽ sắc sảo, khoa học, khách quan, thực tế, có sức thuyết phục cao. Tăng cường công tác thông tin, truyền tuyền, kịp thời giải đáp thông tin từ nội bộ, cơ sở, tạo dư luận rộng rãi phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, chỉ đạo và tổ chức lực lượng nòng cốt, chuyên sâu đấu tranh trực tiếp vào các trang mạng để chia sẻ thông tin chính thống, đăng tải bài viết, comment vạch trần quan điểm sai trái, thù địch, vấn nạn xã hội trên không gian mạng để người đọc nhận thức đúng, nhất là các vấn đề nhạy cảm.

Ba là, xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh tại đơn vị. Phát huy có hiệu quả các thiết chế văn hóa ở đơn vị; tổ chức tốt các hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể thao, vui chơi giải trí, nhất là trong ngày nghỉ, giờ nghỉ, tạo sân chơi lành mạnh, bổ ích góp phần ngăn chặn sự xâm nhập của văn hóa phẩm, thông tin có nội dung xấu độc, xuyên tạc, kích động trên các trang mạng xã hội xâm nhập vào đơn vị. Thực hiện tốt Quy chế Dân chủ cơ sở và Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Nắm vững phương châm lấy “xây” để “chống”, lấy “cái đẹp, dẹp cái xấu”; cổ vũ mạnh mẽ các nhân tố tích cực, lấy cái tích cực, cái tốt đẩy lùi cái tiêu cực, cái xấu. Lấy xây dựng nội bộ trong sạch, vững mạnh là nhân tố quyết định; phòng ngừa những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; khắc phục tình trạng thụ động, chủ quan, lơ là, mất cảnh giác. Duy trì tốt mô hình: “Tổ tư vấn tâm lý - pháp lý quân nhân”; “Hồ sơ thông tin chiến sĩ”; quản lý tư tưởng theo nhóm; “Tổ định hướng đồng hành”; phân công “Mỗi đảng viên giúp đỡ một nòng cốt, một nòng cốt giúp đỡ ba quần chúng”; cán bộ người dân tộc thiểu số giúp đỡ, kèm cặp chiến sĩ người dân tộc thiểu số, thực hiện “ba cùng” (cùng ăn, cùng ở, cùng chia sẻ), v.v. Đây là những mô hình đã được khẳng định trong thực tiễn, nhằm giúp cán bộ, chiến sĩ (nhất là chiến sĩ mới) nắm được kỹ năng sống, hiểu được những vấn đề còn vướng mắc và tự quyết định hướng giải quyết một cách đúng đắn. Đồng thời, nâng cao sự hiểu biết về pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội và các quy định của đơn vị; xây dựng tinh thần lạc quan, thái độ, hành vi ứng xử đúng đắn, tích cực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ; tránh được sự tác động của những thông tin sai trái, thù địch trên không gian mạng.

Bốn là, quản lý tốt hoạt động khai thác, sử dụng mạng internet của các tập thể và cá nhân trong đơn vị. Quy định rõ việc cung cấp, khai thác, sử dụng thông tin, tránh để lộ, lọt thông tin của đơn vị; chú trọng việc hướng dẫn sử dụng và quản lý hoạt động khai thác internet và các trang mạng xã hội. Tăng cường quản lý cán bộ, chiến sĩ khi sử dụng các phương tiện máy tính, điện thoại thông minh có kết nối mạng internet, tham gia mạng xã hội theo đúng quy định của đơn vị, Quân đội và Luật An toàn thông tin mạng, Luật An ninh mạng. Quản lý các hoạt động cung cấp và sử dụng thông tin điện tử trên internet theo đúng các quy định của pháp luật về công nghệ thông tin, báo chí, xuất bản, bảo vệ bí mật Nhà nước và các quy định quản lý thông tin điện tử trên internet. Động viên cán bộ, chiến sĩ chấp hành nghiêm kỷ luật trong quản lý, sử dụng khai thác mạng internet, bảo vệ bí mật của Quân đội, bí mật của Đảng và Nhà nước. Khai thác tốt các máy tính ảo tại đơn vị, chủ động “phủ xanh” thông tin, không để “khoảng trống” thông tin trên mạng internet. Tận dụng không gian mạng internet để truyền bá quan điểm đúng, thông tin trung thực, khách quan, kịp thời, chính xác cho cán bộ, chiến sĩ. Đồng thời, thông qua hệ thống Blogger để tổ chức đấu tranh trực diện với quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng theo phương châm: “chủ động, kiên quyết, nhạy bén, kịp thời, liên tục, triệt để”.

Nghiên cứu, vận dụng linh hoạt các giải pháp trên để định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ nhận rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn tinh vi, thâm độc của các thế lực thù địch, nhất là trên không gian mạng. Qua đó, tạo sức đề kháng, “hệ miễn dịch” trong mỗi quân nhân, góp phần tạo sự thống nhất cao về chính trị, tư tưởng, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong mỗi cơ quan, đơn vị và toàn quân.

          V3.

Văn hóa- xã hội phát triển; văn hóa truyền thống được bảo tồn, tiếng nói, chữ viết, tôn giáo tín ngưỡng của các dân tộc thiểu số được tôn trọng

 


Văn hóa các dân tộc tiếp tục được giữ gìn và phát huy. Thiết chế văn hóa cơ sở nhiều nơi được củng cố gắn với phong trào xây dựng nếp sống văn hóa mới. Đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số được nâng lên. Mạng lưới thông tin, phát thanh, truyền hình phủ rộng khắp, giúp người dân tiếp cận được nhiều hơn chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đời sống chính trị- xã hội của đất nước, tiến bộ khoa học- kỹ thuật góp phần quan trọng mở mang dân trí. Các giá trị văn hóa dân tộc được bảo tồn, phát huy góp phần làm phng phú, sống động hơn văn hóa Việt Nam. Nhiều di sản văn hóa của đồng bào các dân tộc được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận (không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên) và một số di sản được công nhận là di sản quốc gia (sử thi Đam San- Tây Nguyên, Hát then - dân tộc Tầy, Nùng),v.v...

 

Chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch đối với quân đội

 


Chúng ta thường nhận ra mục tiêu chống phá đối với quân đội đó là: Chúng thường đưa ra một số luận điểm “Quân đội trung lập, Quân đội chỉ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, không bảo vệ Đảng…” vì một chế độ chính trị một đảng hay nhiều đảng thì do Nhân dân bầu ra chứ không phải do quân đội.

Đây là luận điểm phi lý, bởi vì trong bất kỳ xã hội nào, bản chất của quân đội cũng là bản chất của giai cấp cầm quyền, nên không thể có một quân đội nào lại không phục vụ giai cấp, đứng ngoài giai cấp.

Lênin đã đề ra nguyên tắc căn bản để xây dựng quân đội kiểu mới, Người viết “Hãy chăm lo đến khả năng quốc phòng của nước ta và chăm lo đến Hồng Quân như chăm lo đến con ngươi trong mắt mình”. Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ khi đặt tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã có nghĩa là chính trị, trọng hơn quân sự “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”.

Gần đây thế lực thù địch phát động nhiều chiến dịch với nhiều đợt tấn công vào quân đội với tần suất, phương thức, thủ đoạn, luận điệu hết sức thâm độc, nổi lên là: (1) Tiếp tục chiến dịch tấn công vào mục tiêu lý tưởng chiến đấu, bản chất, truyền thống, chức năng, nhiệm vụ của quân đội, phớt lờ những thành tích, chiến công, thổi phồng những hạn chế, khuyết điểm, suy diễn “mục tiêu lý tưởng chiến đấu của quân đội đã thay đổi” nên đã bị “khuất phục, làm ngơ trước sự xâm lấn biển, đảo của Trung Quốc”; qua đó, chúng đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, cổ súy, kêu gọi phải “dân sự hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội; (2) Lợi dụng một số thông tin, tư liệu, sử liệu chưa thống nhất, chúng phát tán nhiều tin, bài, video clip, phóng sự, bình luận, suy diễn, áp đặt ý kiến chủ quan gây nghi ngờ, mâu thuẫn giữa cán bộ quân đội với cựu chiến binh, giữa cựu chiến binh và những nhân chứng lịch sử; phát động phong trào xét lại lịch sử quân đội, dân tộc; (3) Lợi dụng việc kiện toàn nhân sự cán bộ cấp cao quân đội, chúng phát tán nhiều thông tin xấu độc trên MXH về các vấn đề liên quan đến tài sản, đời tư, mối quan hệ các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo cấp cao Bộ Quốc phòng nhằm bôi nhọ danh dự, uy tín, gây nghi ngờ giữa các đồng chí cán bộ chủ chốt của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và trong nội bộ quân đội; (4) Một số đối tượng lợi dụng việc kiện toàn tổ chức, tinh giản biên chế quân đội, phong, thăng quân hàm cán bộ cấp tướng trong quân đội, công an, chúng bình luận, suy diễn gây chia rẽ đoàn kết giữa quân đội với công an; (5) Gần đây, lợi dụng vụ việc quân nhân tử vong, chúng sử dụng nhiều phương thức, thủ đoạn “dương đông, kích tây”, đưa thông tin hiện trường vụ việc, gây bán tín bán nghi, làm dư luận bị cuốn theo; đẩy “nóng vấn đề”, kích động cộng đồng mạng xã hội “tạo áp lực, đòi yêu sách đối với quân đội”, kích động dư luận trong Nhân dân, tẩy chay, không cho con em nhập ngũ vào quân đội.

          V3.

Mức sống đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng được cải thiện

 


Đời sống vật chất của đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh hằng năm, bình quân toàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi giảm 4%/năm trở lên; các huyện nghèo giảm 05%-06%/năm trở lên. Giai đoạn 2015-2019, đã có 8/64 huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP, ngày 27-12-2008 của Chính phủ thoát nghèo; 14/30 huyện nghèo hưởng cơ chế theo nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP, ngày 27-12-2008 của Chính phủ thoát khỏi tình trạng khó khăn; 124/2.139 xã, 1.322/20.176 thôn đặc biệt khó khăn ra khỏi diện đầu tư của chương trình 135. Từ năm 2013 -2020, bộ mặt nông thôn cả nước nói chung và vùng dân tộc thiểu số nói riêng được đổi thay rõ rệt; thu nhập và điều kiện sống của người dân được cải thiện và nâng cao. Đồng thời, chính phủ tập trung xây dựng hàng vạn công trình nước sạch, trường, lớp học, trạm y tế, nhà văn hóa, mạng lưới chợ, tạo thuận lợi, có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển kinh tế- xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Nhiều trường lớp học, trạm y tế đã được xây dựng mới. Đến nay 100% huyện có đường đến trung tâm huyện; 98,4 xã có đường ô tô đến trung tâm xã; 100% xã và 97,2% thôn, bản có điện lưới quốc gia; tỷ lệ hộ gia đình được sử dụng điện đạt 93,9%; 100% xã có trường tiểu học và trung học cơ sở; 99,7% xã có trường mầm non, mẫu giáo; 99,3% xã có trạm y tế; 65,8% số xã và 76,7% số thôn có nhà văn hóa hoặc nhà sinh hoạt cộng đồng

Cảnh giác với thủ đoạn lợi dụng tôn giáo kích động gây mất ổn định chính trị-xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc

 


 

Nhận diện thủ đoạn

Thời gian qua, các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để công kích, xuyên tạc, chống phá Đảng và Nhà nước. Chúng đưa ra luận điệu “Việt Nam đàn áp tôn giáo”, “vi phạm quyền tự do tôn giáo” của người dân; yêu cầu các tôn giáo phải được hoạt động tự do, không cần đặt dưới sự quản lý của Nhà nước… Chúng vu cáo rằng: “CNXH không chấp nhận tôn giáo, xóa bỏ tôn giáo”; “Pháp luật Việt Nam về tôn giáo, tín ngưỡng chỉ là hình thức, thực chất là cơ sở để đàn áp, bóp nghẹt tôn giáo”; “Chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của nhiều tôn giáo, thậm chí có hành động đàn áp các tín đồ tôn giáo”… Chúng còn lập nhiều tài khoản trên các trang mạng xã hội như: Youtube, Facebook, Blog… để phát tán, đăng tải các bài viết, video, hình ảnh đả kích, nói xấu chế độ, bôi nhọ lãnh tụ, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Chúng “vạch lá tìm sâu”, cố tình xoáy vào những mặt trái của xã hội để quy kết, hạ thấp thanh danh của Đảng, Nhà nước; thậm chí lợi dụng đức tin và sự gắn kết cộng đồng của tôn giáo để lôi kéo, tập hợp lực lượng, truyền đạo trái phép, tổ chức biểu tình, thách thức, chống phá chính quyền, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội… Tất cả nhằm mục đích thêu dệt nên một bức tranh màu xám, méo mó về vấn đề tôn giáo tại Việt Nam, từ đó kêu gọi quốc tế “gây sức ép”, “can thiệp” vào nước ta.

Lợi dụng tính nhạy cảm của vấn đề tôn giáo, một số phần tử cực đoan trong tôn giáo cấu kết với các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Đảng và Nhà nước Việt Nam tổ chức các cuộc “hội luận”, “họp báo”, soạn thảo và tán phát các tài liệu có nội dung xuyên tạc, bịa đặt để tuyên truyền chống Đảng và Nhà nước Việt Nam, nhất là trên các lĩnh vực dân chủ và nhân quyền. Họ đẩy mạnh xuyên tạc Đảng và Nhà nước Việt Nam “đàn áp tôn giáo”, Việt Nam “không có tự do tôn giáo”. Họ cho rằng Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo (trước đây) và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay là sự “đàn áp tôn giáo” bằng pháp luật của Nhà nước Việt Nam, không tạo điều kiện cho các tôn giáo phát triển; từ đó, khoét sâu mâu thuẫn giữa các tôn giáo với chính quyền các cấp. Đồng thời, móc nối, câu kết với một số tổ chức, cá nhân ở trong nước và nước ngoài thành lập hoặc tích cực tham gia các hội, nhóm trái pháp luật, mang danh nghĩa tôn giáo để tập hợp, phát triển lực lượng chống đốiMột số chức sắc cực đoan lợi dụng các vấn đề chính trị – xã hội phức tạp để kích động tín đồ xuống đường biểu tình, gây mất ổn định chính trị – xã hội. Đáng chú ý, với lý do “bảo vệ tự do tôn giáo”, một số thế lực nước ngoài đã ban hành báo cáo, phúc trình, thậm chí là đạo luật, nghị quyết “lên án” tình hình bảo đảm quyền con người của Việt Nam, nhất là trên lĩnh vực tôn giáo, từ đó gây sức ép về ngoại giao, đồng thời gắn các vấn đề dân chủ và nhân quyền trên lĩnh vực tôn giáo với các vấn đề về viện trợ kinh tế, đầu tư phát triển, nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Lợi dụng đường lối, chính sách đổi mới, mở cửa và tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta, các tôn giáo đều gia tăng các hoạt động mở rộng cơ sở vật chất, dẫn đến phát sinh nhiều vụ tranh chấp, khiếu kiện đất đai liên quan đến tôn giáo. Đáng chú ý, số đối tượng cực đoan trong các tôn giáo cũng như các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Nhà nước Việt Nam ở trong nước và nước ngoài đã triệt để lợi dụng các vụ tranh chấp, khiếu kiện về đất đai liên quan đến tôn giáo để kích động các hoạt động chống đối, gây tâm lý bức xúc và phản ứng của tín đồ đối với chính quyền; gây chia rẽ giữa chính quyền với tôn giáo. Nghiêm trọng hơn, họ còn cố tình chính trị hóa sự việc, xuyên tạc, vu cáo chính quyền “lấy đất đai của tôn giáo, bỏ quên quyền lợi nhân dân, bao che cho doanh nghiệp, tàn phá môi trường”, kích động tâm lý so bì, cho rằng Nhà nước đối xử không bình đẳng giữa các tôn giáo. Một số tổ chức, cá nhân tôn giáo không hợp tác với chính quyền trong việc kê khai, làm các thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhằm lấn chiếm đất để mở rộng cơ sở thờ tự.

Bên cạnh hoạt động vi phạm pháp luật về đất đai, trong hoạt động tôn giáo cũng xảy ra các vụ, việc chưa tuân thủ các quy định của pháp luật, như thuyên chuyển, bổ nhiệm chức sắc, chức việc, nhà tu hành trong các tôn giáo; việc thành lập các cơ sở tôn giáo trực thuộc chưa được sự chấp thuận của chính quyền. Một số cơ sở đào tạo của tôn giáo chưa nghiêm túc triển khai môn học về lịch sử Việt Nam và pháp luật Việt Nam, là môn chính thức trong chương trình giảng dạy. Bên cạnh đó, vẫn tồn tại việc “đào tạo kép”, cụ thể là đào tạo chức sắc ở trong nước kết hợp với cử chức sắc ra nước ngoài đào tạo trái phép vẫn diễn ra ở một số tôn giáo.Các hoạt động vi phạm nói trên luôn tiềm ẩn nguy cơ bị các thế lực xấu khai thác, lợi dụng để gây chia rẽ giữa tôn giáo với chính quyền, giữa người theo đạo và người không theo đạo, cũng như tiến hành các hoạt động chống phá, gây bất ổn chính trị – xã hội.

Đáng chú ý, tại địa bàn các tỉnh Tây Nguyên nói riêng, vùng DTTS trong cả nước nói chung, lợi dụng vấn đề tôn giáo trong vùng đồng bào một số dân tộc thiểu số; sự sa sút tính chân truyền trong các tôn giáo đã được Nhà nước công nhận; điều kiện khó khăn về kinh tế, xã hội…, một số đối tượng đã thành lập các hội, nhóm mang danh nghĩa tôn giáo, hoạt động vi phạm pháp luật, gây mất đoàn kết dân tộc. Bên cạnh đó, còn có nhiều loại hình mang danh tín ngưỡng, tôn giáo, hiện tượng tôn giáo mới xuất hiện ở nhiều địa phương, xa rời văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, như không thờ cúng tổ tiên, gọi bố mẹ là anh, chị, em; khám, chữa bệnh bằng cầu cúng; tuyên truyền, hứa hẹn về tương lai tốt đẹp để mê muội quần chúng. Điển hình là các tổ chức “Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ”, Pháp Luân Công, Dương Văn Mình, “Nhất quán đạo”, “Thanh Hải Vô Thượng Sư”… Hoạt động của các tổ chức này không chỉ gây mâu thuẫn trong quần chúng, ảnh hưởng tới khối đoàn kết toàn dân tộc, mà còn tạo ra những tác động tiêu cực tới sự ổn định chính trị – xã hội của đất nước, tạo cớ cho các thế lực thù địch xuyên tạc tình hình tôn giáo ở Việt Nam, vu cáo Việt Nam “không có tự do tôn giáo”. Tại một số cơ sở tôn giáo xuất hiện hiện tượng thương mại hóa hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, cụ thể là lợi dụng lòng tin của người dân để trục lợi, phát triển các hoạt động tâm linh mang màu sắc mê tín, như hoạt động dâng sao giải hạn, bói toán, xem quẻ, cúng oan gia trái chủ, chữa bệnh bằng tâm linh… Các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí đã triệt để lợi dụng các vấn đề đó để công kích, bịa đặt, xuyên tạc, gây mất đoàn kết trong nội bộ một số tôn giáo, kích động tín đồ tạo phe phái để chống đối lẫn nhau, ly khai, thành lập tổ chức khác. Đây đều là các yếu tố tiềm ẩn nguy cơ đe dọa sự đoàn kết nội bộ các tôn giáo cũng như khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Việt Nam luôn đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân

Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo với hơn 26,5 triệu tín đồ các tôn giáo (chiếm 27% dân số), hơn 58.000 chức sắc, 148.000 chức việc, 29.000 cơ sở thờ tự, 53 cơ sở đào tạo tôn giáo và 16 tôn giáo.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người. Các quyền này được ghi nhận trong Hiến pháp 2013, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và Nghị định số 162/2017/NĐ-CP của Chính phủ đã tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Cụ thể:

Hiến pháp năm 2013 quy định mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật. Như vậy, việc theo hay không theo tín ngưỡng hoặc tôn giáo nào là quyền tự do của mỗi cá nhân, mỗi công dân Việt Nam được Hiến pháp 2013 thừa nhận.

Thể chế hóa Hiến pháp năm 2013 và cần thiết phải điều chỉnh pháp luật về tôn giáo trong bối cảnh hội nhập quốc tế và tình hình tôn giáo tiếp tục có những biến động, mở rộng không chỉ hoạt động tôn giáo mà cả các hoạt động xã hội, ngày 18/11/2016, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XIV đã thông qua Luật tín ngưỡng, tôn giáo thay thế Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo. Theo đó, ngày 30/12/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 162/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo, tiếp tục tạo hành lang pháp lý quan trọng cho các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Việc ban hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo đã đánh dấu son cho quá trình hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam. Cụ thể hóa chủ trương nhất quán của Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Có ý nghĩa quan trọng cả về đối nội và đối ngoại, phù hợp với chủ trương cải cách thể chế, đơn giản hóa thủ tục hành chính hiện nay ở Việt Nam, đảm bảo lợi ích của quốc gia, dân tộc và các tổ chức tôn giáo. Đồng thời, thông qua đó cũng khẳng định với quốc tế, Việt Nam luôn là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong việc bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đây cũng chính là minh chứng rõ nét nhất để chống lại luận điệu xuyên tạc của các thế lực xấu, vu cáo Việt Nam vi phạm quyền dân chủ nhân quyền tôn giáo.

V3.

Quan tâm chăm lo đến sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số

 


Cùng với đó, Chính phủ đã tập trung chỉ đạo phát triển sản xuất, đẩy nhanh công tác xóa đói giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới suy thoái, tình hình đất nước còn nhiều khó khăn, nhưng nhà nước đã ưu tiên bố trí nguồn lực kết hợp với nguồn vốn tài trợ của các tổ chức quốc tế, các doanh nghiệp và địa phương để hỗ trợ, đầu tư phát triển kinh tế- xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Chỉ tính giai đoạn 2011-2015, nhà nước đã đầu tư khoảng 135,000 tỉ đồng (tăng gấp 3 lần so với 5 năm trước)[1]) giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu. Nhờ đó sản xuất hầu hết các địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi đều phát triển, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp. Đồng bào đã thay đổi phương thức canh tác truyền thống, áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, giống mới có chất lượng, năng xuất cao. Các huyện, xã đều có điển hình sản xuất giởi; một số vùng đã có sản xuất hang hóa với các sản phẩm chủ lực như: cà phê, hồ tiêu, cao su (ở các tỉnh Tây Nguyên); chè, lúa, gạo, cây ăn quả (ở miền núi phía Bắc); cây ăn quả (ở các tỉnh Tây nam Bộ). Việc làm và thu nhập của người dân tăng lên. Nhờ đó tốc độ tăng trưởng kinh tế của vùng dân tộc thiểu số và miền núi khá cao; giai đoạn 2016-2018 đạt bình quân 07% và tăng dần hằng năm.



[1] Ủy ban Dân tộc- Báo cáo đánh giá và triển khai chính sách vùng dân tộc, năm 2016

Cảnh giác những khuynh hướng tư tưởng phi xã hội chủ nghĩa trên không gian mạng

 


Khi xây dựng học thuyết về các hình thái kinh tế - xã hội, C.Mác và Ph.Ăngghen đã sớm cảnh báo thời kỳ chuyển biến từ hình thái tư bản chủ nghĩa lên hình thái cộng sản chủ nghĩa chưa thể là một xã hội phát triển trên cơ sở của chính nó, mà là một trạng thái xã hội mà về mọi phương diện kinh tế, đạo đức, tinh thần… còn mang những dấu vết của xã hội cũ. Đến đầu thế kỷ XX, V.I.Lênin là lãnh tụ đầu tiên trực tiếp lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Người đã luận chứng sinh động và cụ thể phạm trù thời kỳ quá độ có nghĩa là “trong chế độ hiện nay có những thành phần, những bộ phận, những mảnh của cả chủ nghĩa tư bản lẫn chủ nghĩa xã hội”[1]. Trên lĩnh vực kinh tế, nước Nga Xô viết thời kỳ Lênin vẫn tồn tại cơ cấu kinh tế 5 thành phần: kinh tế gia trưởng, kinh tế hàng hóa nhỏ, kinh tế tư bản, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế xã hội chủ nghĩa.

Ở nước ta hiện nay, bên cạnh những nhân tố chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa… quyết định sự hình thành và bảo đảm con đường phát triển xã hội chủ nghĩa, vẫn còn không ít nhân tố mà về bản chất chưa thực sự là của chủ nghĩa xã hội. Các thành phần kinh tế tư bản tư nhân, tư bản có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài…; một số quan hệ sản xuất vẫn còn cơ chế bóc lột lao động; sự tồn tại của cơ cấu xã hội đa tầng, đa dạng với đội ngũ khá đông đảo các chủ tư bản nước ngoài cùng những chủ sử dụng lao động trong nước; trình độ trưởng thành chưa cao của đội ngũ công nhân, nông dân, trí thức xã hội chủ nghĩa; sự xâm nhập của các giá trị tư bản chủ nghĩa thông qua quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế; những khó khăn của phong trào xã hội chủ nghĩa và ưu thế tạm thời của các cường quốc tư bản chủ nghĩa trên thế giới hiện nay…, đó là những tiền đề, cơ sở cho sự xuất hiện và tồn tại của các khuynh hướng tư tưởng phi xã hội chủ nghĩa.

Biểu hiện rõ nhất của các khuynh hướng tư tưởng phi xã hội chủ nghĩa trên không gian mạng hiện nay là trạng thái, phát ngôn mơ hồ về chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội. Không ít giọng điệu ngợi ca chủ nghĩa tư bản như hình mẫu của sự phát triển hiện đại và xem cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội thời gian qua là bằng chứng khách quan của một thử nghiệm thất bại(?!). Một số tiếng nói cực đoan hơn, đã lớn tiếng phê phán Đảng, Bác Hồ đã không lựa chọn con đường phát triển tư bản chủ nghĩa để Việt Nam sớm “hóa rồng”, “hóa hổ” như Hàn Quốc, Đài Loan…(?!). Họ đã cố tình lãng quên rằng, trong suốt thời kỳ dài từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, các anh hùng, chí sĩ yêu nước Việt Nam đã từng thử nghiệm hàng loạt con đường giải phóng dân tộc, phát triển đất nước, trong đó có con đường tư bản chủ nghĩa, nhưng tất cả đều không thành công. Đất nước đòi hỏi một con đường khác, con đường dẫn nhân dân Việt Nam đến độc lập, tự do, hạnh phúc thật sự mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và Đảng ta đã khai mở từ mùa Xuân năm 1930.

Biểu hiện nguy hiểm thứ hai là trạng thái, phát ngôn mơ hồ về kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa trên thế giới và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Khá nhiều blogger say sưa ngụy biện, đã là kinh tế thị trường là tất cả đều giống nhau, đều chấp nhận bóc lột và các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, là trước sau đều đi lên chủ nghĩa tư bản ! Những blogger này chỉ nhận biết cái bên ngoài, bỏ qua nhiều chất liệu định tính bên trong của mỗi nền kinh tế thị trường. Ngay trong khuôn khổ của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, cũng tồn tại nhiều mô hình khác nhau: mô hình kinh tế thị trường tự do thuần khiết Ănglôxắcxông ở Anh, Bắc Mỹ; mô hình kinh tế thị trường xã hội ở Tây Âu, Bắc Âu; mô hình kinh tế thị trường Đông Á… Kinh tế thị trường là một trình độ, nấc thang phát triển của kinh tế nói chung, được quyết định suy cho cùng bởi trình độ phát triển của các lực lượng sản xuất. Bởi vậy, nó không phải độc quyền, càng không phải là của riêng chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa xã hội có con đường và cách thức của mình trong phát triển kinh tế thị trường phù hợp với bối cảnh cụ thể. Ở đó, chúng ta chấp nhận cả những thành phần kinh tế bóc lột lao động, nhưng không chấp nhận bóc lột như một chế độ kinh tế - xã hội; chúng ta chủ động phát triển một số quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa nhưng trong bối cảnh các quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa giữ vai trò chủ đạo. Với tính cách là một quan hệ kinh tế giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, hoạt động bóc lột nêu trên ở Việt Nam hiện nay được triển khai trong điều kiện có sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa và hàng loạt hệ thống pháp luật, chính sách, cơ chế bảo vệ người lao động trên con đường Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Biểu hiện nguy hiểm thứ ba là sự xem nhẹ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa thông qua chính đảng tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự nghiệp cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay, trong đó có công cuộc đổi mới từ năm 1986, đúng là sự nghiệp, là thành quả của Nhân dân, của tất cả các giai cấp, tầng lớp xã hội, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhưng theo mục tiêu, lý tưởng và hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, giai cấp tiên tiến nhất, cách mạng nhất. Nếu giai cấp công nhân không liên minh được với giai cấp nông dân và các lực lượng cách mạng khác, thì sự nghiệp cách mạng sẽ rơi vào “bài ai điếu” xót xa, như Công xã Paris năm 1870 đã nếm trải. Ngược lại, nếu mơ hồ cho rằng bất kỳ giai cấp nào cũng có thể lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội, thì sẽ rơi vào một thứ chủ nghĩa không tưởng lớn nhất của mọi thời đại ! Công nhân xứng đáng với vai trò lãnh đạo sự nghiệp xây dựng một xã hội không còn bóc lột, áp bức, bất công vì giai cấp này luôn đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến và là giai cấp duy nhất chỉ có thể giải phóng được mình khi giải phóng tất cả các giai cấp, tầng lớp xã hội khác. Giai cấp công nhân Việt Nam từ năm 1930 đến nay đã giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đã lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam, đã rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam thành lực lượng lãnh đạo, dẫn dắt toàn dân tộc đến kỷ nguyên của độc lập, tự do, đổi mới thành công, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Biểu hiện nguy hiểm thứ tư là sự xem nhẹ, phủ nhận sức mạnh của lý tưởng xã hội chủ nghĩa và niềm tin, ý chí cách mạng trong sự nghiêp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Trong suốt chiều dài lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa trước và sau C.Mác, chủ nghĩa xã hội bao giờ cũng được nhận thức như một lý tưởng, niềm tin và ý chí; nó không chỉ được xây dựng trên cơ sở các điều kiện vật chất cần thiết, mà còn phải nhất thiết nhờ vào hoạt động tự giác và sức mạnh tinh thần to lớn của nhân tố con người xã hội chủ nghĩa. Trên không gian mạng hiện nay, có luận điệu cho rằng, chỉ có thể tin tưởng và xây dựng được niềm tin về một vấn đề gì đó khi có đầy đủ nhận thức về nó ! Tuy nhận thức khoa học là một trong những cơ sở quan trọng của niềm tin cách mạng, nhưng đối với từng người và trong thời điểm cụ thể, không thể nhận thức sâu sắc mọi vấn đề liên quan đến sự nghiệp cách mạng. Trong bối cảnh ấy, cần hơn hết một niềm tin cách mạng mãnh liệt, một lý tưởng xã hội chủ nghĩa thường trực, soi đường cho chúng ta vững bước trên con đường lớn của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Biểu hiện nguy hiểm thứ năm là nghi ngờ, phủ nhận giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới của đất nước và thế giới. Có người lập luận rằng, học thuyết do C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin sáng lập là kết quả của việc tổng kết lịch sử châu Âu thế kỷ XIX, đầu XX, không còn sức sống trong thời đại mới, nhất là đối với các quốc gia ngoài châu Âu như Việt Nam. Một số người khác lập luận rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của thời đại công nghiệp, không còn sinh lực cho những chuyển động của thế giới trong thời đại toàn cầu hóa, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo… Nếu lập luận theo cách tầm thường đó, chắc chắn sẽ dẫn đến phủ nhận toàn bộ giá trị của nhiều di sản tư tưởng, tinh thần khác của nhân loại, trong đó có cả Thiên chúa giáo, Nho giáo, Hồi giáo…!

Như chúng ta đều biết, chủ nghĩa Mác - Lênin nghiên cứu vạch ra những quy luật chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên và xã hội; từ đó nghiên cứu vạch ra những quy luật của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, trong đó có phương thức bóc lột giá trị thặng dư và, trên cơ sở đó, nghiên cứu vạch ra quy luật của cách mạng vô sản và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin đúng là chỉ có thể ra đời trong điều kiện nền sản xuất công nghiệp điển hình ở châu Âu từ cuối thế kỷ XIX, nhưng điều đó không có nghĩa là lý luận đó chỉ đúng với bối cảnh ấy ! Hơn nữa, cũng cần lưu ý thêm, nền sản xuất công nghiệp của nhân loại dù ở trình độ công nghệ máy hơi nước cuối thế kỷ XVIII, điện khí hóa cuối thế kỷ XIX, điện tử hóa từ giữa thập kỷ 70 của thế kỷ XX hay trong kỷ nguyên 4.0 hiện nay, vẫn là nền sản xuất công nghiệp, nằm trọn trong thời đại công nghiệp. Bản thân tên gọi cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4thIndustrial Revolution) đã khẳng định sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thế giới đang thay đổi hiện nay./.

V3.

 

Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, bộ mặt đô thị, nông thôn vùng dân tộc được cải thiện rõ rệt

 


Nhà nước quan tâm, có chính sách ưu tiên đầu tư đối với các vùng dân tộc thiểu số, đặc biệt là xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội thiết yếu như: Phát triển hệ thống giao thông nông thôn, điện, thủy lợi, nước sinh hoạt, các công trình trường học, trạm y tế…, nhờ đó, bộ mặt nông thôn vùng dân tộc thiểu số, miền núi đã có sự chuyển biến rõ rệt.

 Những năm qua quy mô, mạng lưới trường lớp ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi được củng cố, phát triển từ mầm non, phổ thông đến cao đẳng, đại học. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú được phát triển mạnh mẽ ở các tỉnh, thành phố, tạo điều kiện cho con em dân tộc thiểu số được học tập, ăn ở tại trường. Triển khai đề án củng cố các trường phổ thông dân tộc nội trú, đã có nhiều lớp học, phòng phục vụ học tập được nâng cấp và đầu tư xây dựng mới. Hiện nay có 316 trường phổ thông dân tộc nội trú ở 49 tỉnh, thành phố với 109.245 học sinh, trong đó có khoảng 40 % số trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia. Chất lượng giáo dục ở các trường phổ thông dân tộc nội trú ngày càng được nâng lên qua từng năm học. Trường phổ thông dân tộc bán trú đã được thành lập ở 28 tỉnh, với quy mô 1.097 trường và 185.671 học sinh. Tỷ lệ học sinh bán trú hoàn thành cấp tiểu học đạt 98,9%; cấp trung học cơ sở đạt 92%. Có 15,2% số trường phổ thông dân tộc bán trú được công nhận đạt chuẩn quốc gia.