Thứ Ba, 22 tháng 8, 2023

Nhận diện và phê phán các quan điểm sai trái về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Nhằm phủ nhận đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc đường lối đó với nhiều quan điểm sai trái. Vì vậy, nhận diện đúng và tích cực đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái về vấn đề này là góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Ở Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, tổng kết quá trình thực hiện những đổi mới cục bộ, từng phần theo hướng xóa bỏ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, tạo môi trường và điều kiện mở rộng các quan hệ thị trường1, Đảng ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mà Đại hội IX của Đảng xác định: “đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”2.

Chủ trương đó đánh dấu bước ngoặt cơ bản trong tư duy và quan niệm của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Từ đó đến nay, nhận thức của Đảng ta về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng được bổ sung, phát triển phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Đến Đại hội XIII, Đảng ta xác định: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”3. Đây là kết quả được rút ra từ quá trình tổng kết thực tiễn 35 năm đổi mới; đồng thời, là sự kế thừa và phát triển những thành quả lý luận của 07 kỳ đại hội đã qua; phản ánh tư duy nhất quán và sự phát triển nhận thức của Đảng ta về vấn đề này ngày càng rõ hơn, đầy đủ hơn. Những thành tựu của hơn 35 năm đổi mới đất nước đã chứng minh sự đúng đắn của đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị ở trong và ngoài nước vẫn ra sức xuyên tạc đường lối này với nhiều quan điểm sai trái. Có thể nhận diện những quan điểm sai trái đó dưới hai nhóm vấn đề sau đây:

Một là, họ cho rằng không có kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; rằng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là “sự gán ghép chủ quan, duy ý chí”, là “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, là “đầu Ngô, mình Sở”(!), v.v. Theo họ, kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là những yếu tố đối lập, loại trừ nhau, như “nước với lửa”(!).

Hai là, họ cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam chấp nhận phát triển kinh tế thị trường là “xoay trục sang con đường phát triển tư bản chủ nghĩa”, “gác lại mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, từ bỏ những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về chủ nghĩa xã hội”(!), không khác gì “vỏ đỏ, ruột xanh”(!).

Những quan điểm sai trái nói trên đều xuất phát từ sự đồng nhất sai lầm giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa tư bản, khi quan niệm rằng: “kinh tế thị trường là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản; kinh tế thị trường vận động theo các quy luật của chủ nghĩa tư bản, không thể dung hòa với định hướng xã hội chủ nghĩa”(!). Từ đây, họ đòi Đảng ta phải công khai tuyên bố lựa chọn mô hình kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, mà thực chất là đòi Đảng từ bỏ con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội để đưa đất nước theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa.

Cần khẳng định ngay rằng, việc các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản, coi đây là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản là hoàn toàn sai cả về lý luận và thực tiễn. Trên phương diện lý luận, kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa, khi mà đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất đều được thực hiện thông qua thị trường. Kinh tế thị trường chỉ là một kiểu tổ chức kinh tế mà xã hội loài người sáng tạo ra, tồn tại ở nhiều chế độ xã hội khác nhau và được chủ nghĩa tư bản sử dụng làm cơ sở cho sự tồn tại, vận động, phát triển của mình. Chính sự phát triển của sức sản xuất đạt đến một trình độ nhất định sẽ làm xuất hiện những điều kiện khách quan cho kinh tế hàng hóa - điểm khởi đầu của kinh tế thị trường tồn tại. Đó là phân công lao động xã hội và những hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất. Những điều kiện ấy đã xuất hiện trước chủ nghĩa tư bản và vẫn tiếp tục tồn tại trong chủ nghĩa xã hội, nên việc duy trì và phát triển kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta là đúng với quy luật đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền sản xuất nhỏ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, chứ không phải là sự “xoay trục sang con đường phát triển tư bản chủ nghĩa”. Bởi, kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển tất yếu của quá trình phát triển từ nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn. Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là “bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư, tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản”4, trong đó có thành tựu về phát triển kinh tế thị trường.

Cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Ảnh: tuyengiao.vn

Trên phương diện thực tiễn, trong những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga Xô - viết, V.I. Lênin đã sớm nhận thấy sai lầm khi đồng nhất kinh tế hàng hóa với chủ nghĩa tư bản, không sử dụng các quan hệ thị trường để thúc đẩy sản xuất và cải thiện đời sống nhân dân. Người đã đề ra và tổ chức thực hiện “Chính sách kinh tế mới” (NEP), mà nội dung cơ bản là duy trì và phát triển các quan hệ thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước vô sản. Việc thực hiện chính sách đó đã nhanh chóng đưa nước Nga thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội trong những năm 20 của thế kỷ XX; đồng thời, khẳng định tính hiện thực của mô hình kinh tế chứa đựng sự dung hợp giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội. Lý luận về phát triển kinh tế hàng hóa thời kỳ thực hiện NEP là một cống hiến xuất sắc của V.I. Lênin trong phát triển chủ nghĩa Mác về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước có nền kinh tế còn kém phát triển. Khai thác những di sản đó, từ những năm cuối thập niên 70 và 80 của thế kỷ XX, Trung Quốc và Việt Nam đã căn cứ vào thực tiễn của nước mình, tiến hành “cải cách”, “đổi mới” theo hướng duy trì và phát triển kinh tế thị trường, đem lại những kết quả tích cực, cho phép hiện thực hóa từng bước các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước.

Đối với nước ta, việc tổ chức thực hiện đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hơn 35 năm qua đã đem lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Việt Nam đã ra khỏi tình trạng kinh tế kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình. Quy mô và tiềm lực kinh tế của đất nước không ngừng tăng lên, từ chỗ chỉ đạt 6,3 tỉ USD vào năm 1989, thì đến năm 2022 đã đạt 409 tỉ USD, đứng thứ 37 nền kinh tế lớn nhất thế giới, đứng thứ năm trong ASEAN và trong nhóm 14 nước hàng đầu châu Á. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Thu nhập bình quân đầu người trong những năm đầu đổi mới chỉ khoảng 250 USD/năm, thì đến năm 2022 đã đạt 4.110 USD, đứng thứ năm trong ASEAN. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 58% năm 1993 xuống dưới 03% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều, được Liên hợp quốc xếp là một trong những nước đứng đầu trong thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ. Văn hóa - xã hội có bước phát triển tích cực; dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng mở rộng. Các vấn đề an sinh xã hội luôn được chăm lo, ngay cả lúc nền kinh tế gặp khó khăn do tác động của suy thoái kinh tế thế giới, hay của đại dịch Covid-19, trở thành một trong những điểm sáng của Việt Nam được quốc tế ghi nhận. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu. Nền kinh tế quốc gia hội nhập ngày càng sâu rộng vào thị trường quốc tế với nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, từng bước thích ứng với nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường thế giới. Việc trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), thành viên của hơn 500 hiệp định song phương và đa phương trên nhiều lĩnh vực, trong đó có 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới với những cam kết rất cao về tự do hóa thương mại và phát triển bền vững (liên quan đến lao động và bảo vệ môi trường), đã chứng tỏ nền kinh tế Việt Nam ngày càng thích ứng với các điều kiện của nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế; đồng thời, đưa nước ta trở thành nền kinh tế có độ mở cao - tới 200% GDP. Điều đó được thể hiện bằng các con số ấn tượng, nếu tổng kim ngạch xuất nhập khẩu bình quân giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2005 mới đạt 20,7 tỉ USD/năm, thì riêng năm 2022 đã đạt 732,5 tỉ USD; cán cân thương mại hàng hóa đã chuyển từ nhập siêu sang xuất siêu 07 năm liên tục kể từ năm 2016, riêng năm 2022 xuất siêu đạt 11,2 tỉ USD. Giá trị thương hiệu quốc gia Việt Nam (do Công ty tư vấn định giá thương hiệu hàng đầu thế giới - Brand Finance công bố) liên tục tăng trưởng với tốc độ nhanh. Nếu năm 2019, giá trị đó là 274 tỉ USD, thì năm 2022 đã đạt 431 tỉ USD, được xem là quốc gia có tốc độ tăng trưởng giá trị nhanh nhất thế giới (tăng 74%) trong giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2022.

Thực tiễn đó đã chứng minh rõ những lợi ích mà sự phát triển kinh tế thị trường đem lại phù hợp với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta. Nó không đối lập với các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mà ngược lại, còn thúc đẩy việc thực hiện những nhiệm vụ đó hiệu quả hơn. Tuy nhiên, chúng ta không chọn phát triển kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, mà chọn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. “Đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường; một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. Đây không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đầy đủ”5. Nói cách khác, đó là nền kinh tế thị trường của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nền kinh tế đó có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; nhưng kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là công cụ, lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng, điều tiết, dẫn dắt, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là “nền kinh tế thị trường hiện đại”, được điều tiết, vận hành bằng “bàn tay” của cơ chế thị trường kết hợp với “bàn tay” của nhà nước, nhưng đây là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Chế độ phân phối được thực hiện chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế; đồng thời, theo mức góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Vấn đề tiến bộ và công bằng xã hội được quan tâm giải quyết ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển; chính sách kinh tế luôn thống nhất và gắn chặt với chính sách xã hội. Theo đó, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, người có hoàn cảnh khó khăn. Đó là những điểm khác biệt rất căn bản của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa so với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.

Qua 37 năm đổi mới, bằng nỗ lực của toàn Đảng và toàn dân ta, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với những đặc trưng nói trên đã từng bước hình thành và phát triển. “Thể chế kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại và hội nhập, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước được xác lập”6; “Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách tiếp tục được hoàn thiện phù hợp với yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế. Các yếu tố thị trường và các loại thị trường từng bước phát triển, gắn với thị trường khu vực và thế giới”7. Hầu hết các loại giá cả hàng hóa được xác lập theo nguyên tắc thị trường. Vai trò của nhà nước được điều chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường, ngày càng phát huy dân chủ trong đời sống kinh tế - xã hội. Việc huy động và phân bổ các nguồn lực gắn với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội từng bước phù hợp hơn với cơ chế thị trường. Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện rõ rệt. Những tiến bộ nói trên là cơ sở để đến nay đã có 90 quốc gia công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường đầy đủ8.

Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta. Việc thực hiện thành công đường lối đó sẽ góp phần bổ sung, phát triển lý luận Mác – Lênin về chủ nghĩa xã hội và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở những nước có nền kinh tế còn kém phát triển; đồng thời, là minh chứng sinh động bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, phá hoại của các thế lực thù địch.

NGUYỄN NGỌC HỒI 

Cán bộ sợ trách nhiệm - “căn bệnh” cần chữa trị ngay

 I. Sự nguy hại từ “căn bệnh” sợ trách nhiệm của cán bộ

II. “Phương thuốc” trị “căn bệnh” cán bộ sợ trách nhiệm

Cán bộ và công tác cán bộ luôn là nhân tố đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, bởi “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém,… vấn đề cán bộ là một vấn đề rất trọng yếu, rất cần kíp”1. Vì thế, sự nguy hại từ “căn bệnh” sợ trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong tình hình hiện nay cần phải “chữa trị” dứt điểm, góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Để “chữa trị” hiệu quả “căn bệnh” này, đòi hỏi phải có cơ chế, chính sách phù hợp, nhằm khuyến khích, động viên cán bộ, đảng viên phát huy năng động, sáng tạo; khắc phục tư tưởng chưa làm đã sợ sai, sợ trách nhiệm, phạm vi phần này đề xuất một số giải pháp khắc phục trên hai góc độ tổ chức và cá nhân, như sau:                                    

Đối với tổ chức

Trước hết, cần nâng cao chất lượng, hiệu quả thực chất của công tác cán bộ. Với vị trí là “then chốt” của “then chốt”, công tác cán bộ phải được thực hiện hết sức nghiêm túc, công phu; kiên quyết loại bỏ những tiêu cực, như: chạy chức, chạy quyền, bổ nhiệm người nhà, người thân, “cánh hẩu” vào vị trí lãnh đạo, quản lý khi chưa đủ uy tín, tiêu chí, tiêu chuẩn, v.v. Đảng ta xác định rõ: “thực hiện tốt quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền; xử lý nghiêm minh, đồng bộ kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính và xử lý bằng pháp luật đối với cán bộ có vi phạm, kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu”2. Có thể khẳng định: công tác cán bộ có “sạch”, tổ chức mới mạnh; tổ chức có mạnh, quốc gia mới hưng thịnh.

Để công tác cán bộ được thực hiện có hiệu quả, cấp ủy các cấp cần tăng cường lãnh đạo trên cơ sở giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ. Từng khâu, bước của công tác cán bộ phải được lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nghiêm túc, dân chủ, công khai, chính xác, mà trước hết là khâu đánh giá cán bộ. Đánh giá cán bộ phải thực sự khách quan, phản ánh đúng phẩm chất, năng lực, sở trường, chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ; không vì nể nang, tình cảm riêng tư mà thổi phồng chất lượng hoặc giấu giếm hạn chế, khuyết điểm của cán bộ. Quy hoạch, điều động, bổ nhiệm, khen thưởng cán bộ phải trên cơ sở kết quả đánh giá cán bộ; không vì bất kỳ sự chi phối, áp lực nào mà cất nhắc sai cán bộ. Việc bổ nhiệm những cán bộ thiếu bản lĩnh, thiếu tu dưỡng phẩm chất đạo đức, thiếu năng lực, có biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, bất kỳ yếu tố nào trong đó tất yếu sẽ dẫn đến hệ luỵ cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm. Đồng thời, các cấp ủy đảng cần làm tốt công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ có đầy đủ phẩm chất và năng lực, đáp ứng với yêu cầu chức trách, nhiệm vụ được giao.

Hai là, tổ chức cần có cơ chế, chính sách khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung. Ngay từ tháng 10/1947, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: muốn cán bộ làm được việc, phải “Khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến3, và “Khiến cho cán bộ có gan phụ trách, có gan làm việc”4 . Và, Đại hội XIII của Đảng xác định: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”5. Đó là những chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp rất quan trọng để xây dựng đội ngũ cán bộ ngày càng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng. Thực hiện chủ trương, giải pháp này, các cấp ủy, tổ chức đảng cần quán triệt và thực hiện nghiêm Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Định kỳ, cấp ủy các cấp cần có đánh giá thực chất kết quả thực hiện; kịp thời biểu dương, khen thưởng những cán bộ có tư duy đổi mới, cách làm đột phá, sáng tạo, hiệu quả cao và lấy đó là một tiêu chí quan trọng để đề bạt, bổ nhiệm cán bộ. Đồng thời, nghiêm túc kiểm điểm, phê bình, thậm chí miễn nhiệm đối với những cán bộ “an phận thủ thường”, không dám nói, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm, không hành động vì lợi ích chung, mà chỉ lo vun vén lợi ích cá nhân.

Ba là, xây dựng quy chế làm việc chặt chẽ; tăng cường kiểm tra, giám sát, đề cao tự phê bình và phê bình việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, nhất là những cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp. Đây là giải pháp thiết thực để bộ máy của tổ chức hoạt động nhịp nhàng, hiệu quả; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những hạn chế, yếu kém của đội ngũ cán bộ. Xây dựng quy chế làm việc cần phân rõ thẩm quyền, trách nhiệm, mối quan hệ công tác, để mỗi thành viên trong tổ chức, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt chiểu theo đó mà thi hành. Kiểm tra, giám sát để thấy cán bộ đã thực thi đúng chức trách, nhiệm vụ hay chưa, có biểu hiện đùn đẩy, né tránh trách nhiệm hay không. Công điện số 280/CĐ-TTg, ngày 19/4/2023 của Thủ tướng Chính phủ nêu rõ: “Tăng cường công tác kiểm tra hoạt động công vụ, nhất là kiểm tra đột xuất. Kịp thời rà soát, thay thế hoặc điều chuyển sang công việc khác đối với cán bộ, công chức năng lực yếu, không dám làm, né tránh, đùn đẩy, thiếu trách nhiệm, để trì trệ và không đáp ứng yêu cầu công việc được cấp có thẩm quyền giao”6. Đây là cách làm rất thiết thực để ngăn ngừa, khắc phục tình trạng sợ trách nhiệm trong đội ngũ cán bộ hiện nay.

Cùng với đó, các tổ chức, trước hết là cấp ủy, tổ chức đảng cần đề cao tự phê bình và phê bình việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của cán bộ. Trong sinh hoạt thường kỳ phải làm rõ những biểu hiện sợ trách nhiệm trong đội ngũ cán bộ, có hay không, ở mức độ nào, nguyên nhân do đâu, cách khắc phục ra sao và phải có thái độ kiên quyết phê bình, sửa chữa. Đặc biệt, cần nghiên cứu đưa tiêu chí tinh thần trách nhiệm của cán bộ với những định lượng cụ thể vào trong bình xét, đánh giá chất lượng cán bộ; nhất định không để những cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh, đùn đẩy, thiếu trách nhiệm được đánh giá ở mức hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên.

Đối với cá nhân cán bộ

Trước hết, phải thường xuyên tự tu dưỡng, rèn luyện bản lĩnh và đạo đức cách mạng. Đây là cái gốc của người cán bộ, điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đặc biệt quan tâm giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bởi “Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước”7. Đại hội XIII của Đảng xác định: “Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng”8.

Bản lĩnh của người cán bộ được thể hiện ở ý chí vượt qua khó khăn, gian khổ, kiên cường, dũng cảm, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn thử thách, dám đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung. Người cán bộ có bản lĩnh sẽ bình tĩnh, tự tin, sáng suốt giải quyết những vấn đề đặt ra. Vì vậy, bản lĩnh là phẩm chất thiết yếu của mỗi cán bộ, trong đó bản lĩnh chính trị (lòng trung thành, tận tuỵ với Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và Nhân dân) được đặt lên hàng đầu.

Cùng với bản lĩnh, đạo đức cách mạng là nền móng, là “điều kiện cần” của người cán bộ. Người cán bộ có đạo đức cách mạng sẽ luôn định hướng mình hành động vì lợi ích chung, không thờ ơ, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc đặt ra, không tư lợi, hủ hóa. Người cán bộ có đạo đức cách mạng sẽ luôn có liêm sỉ trong suy nghĩ và hành động; họ tự biết xấu hổ khi công việc thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của mình chưa hoàn thành, công tác thuộc chức năng, nhiệm vụ của tổ chức mình lại đem giao cho người khác, tổ chức khác thực hiện; họ biết hổ thẹn khi không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao. Do đó, người cán bộ có đạo đức cách mạng sẽ đề cao trách nhiệm trước tổ chức, trước cấp trên, cấp dưới và nhân dân.

Rèn luyện bản lĩnh và đạo đức cách mạng cho cán bộ là việc làm thường xuyên, liên tục của cấp ủy, tổ chức đảng và mỗi cán bộ, trong đó phải lấy tự tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ làm cốt. Đảng ta đặt lên hàng đầu việc nêu cao tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên. Cán bộ có chức vụ, quyền hạn càng cao càng phải tự tu dưỡng, rèn luyện bản lĩnh và đạo đức cách mạng, phải thường xuyên “tự soi, tự sửa” tự soi rọi với các chuẩn mực đạo đức cách mạng để gột rửa những sai lầm, khuyết điểm, giống như việc rửa mặt hằng ngày. Có như vậy, mỗi cán bộ mới có “sức đề kháng cao”, để “bệnh sợ trách nhiệm” không có cơ hội phát sinh, lây nhiễm.

Hai là, không ngừng học tập nâng cao trình độ, năng lực, tích lũy kinh nghiệm thực tiễn đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ. Trình độ, năng lực, kinh nghiệm là những yếu tố đặc biệt quan trọng, là “điều kiện đủ”, giúp người cán bộ thực thi chức trách, nhiệm vụ, giải quyết công việc một cách khoa học, đúng đắn, hiệu quả. Người cán bộ có trình độ, năng lực, kinh nghiệm thực tiễn thường năng nổ, nhiệt tình, hăng hái trong thực hiện nhiệm vụ được giao sẽ tạo ra niềm tin và chỗ dựa vững chắc cho cán bộ, nhân viên thuộc quyền, làm cho cán bộ, nhân viên thuộc quyền không hoài nghi, dao động trước những quyết định của mình; từ đó làm cho tổ chức, cơ quan, đơn vị luôn có bầu không khí sôi nổi, tự tin trong mọi hoạt động.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Nơi nào cán bộ xoàng, thì vùng đó, như đang ngủ say”9. Để không tự biến mình thành cán bộ “xoàng”, cùng với tu dưỡng, rèn luyện bản lĩnh và đạo đức cách mạng, đòi hỏi mỗi cán bộ phải không ngừng học tập nâng cao trình độ mọi mặt, trước hết là trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ; nâng cao năng lực trong chỉ đạo, tổ chức, triển khai thực hiện nhiệm vụ; tích cực học hỏi và tự mình đúc rút kinh nghiệm thực tiễn để vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong công tác. Khi những yếu tố này được tích lũy đầy đủ, người cán bộ sẽ luôn phát huy tốt tinh thần “bảy dám: dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lới ích chung”, sẵn sàng nhận những việc khó, việc mới và tìm tòi, sáng tạo để thực hiện tốt những công việc đó; theo đó, họ sẽ không sợ trách nhiệm, né tránh hay đùn đẩy trách nhiệm.

Ba là, tích cực học tập và làm theo tư tưởng “Dĩ công vi thượng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh: cán bộ phải đặt công việc của tập thể, lợi ích của tập thể lên trên hết, trước hết, tất cả vì lợi ích của đất nước, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân, không mảy may tư lợi cá nhân.

Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về “Dĩ công vi thượng” trong bối cảnh tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường là một việc khó khăn, phức tạp, nếu như mỗi cán bộ không có ý chí quyết tâm cao, vượt qua sự cám dỗ vật chất, tiền tài và danh vọng. Do đó, mỗi cán bộ phải thấm nhuần tinh thần và nêu cao ý chí trong thực hiện “Dĩ công vi thượng”, mà trước hết là trau dồi chủ nghĩa tập thể, chống chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa tập thể đòi hỏi mỗi cá nhân phải kết hợp một cách hài hòa giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân, đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân trong hoạt động của mình theo phương châm “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”, nhằm xây dựng tổ chức, cộng đồng vững mạnh, góp phần tích cực của mỗi người vào sự nghiệp chung. Chủ nghĩa cá nhân là chỉ chăm lo vun vén lợi ích của riêng mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. Mắc vào chủ nghĩa cá nhân, người cán bộ sẽ sinh ra nhiều “căn bệnh”, thói hư, tật xấu trong tư cách của mình.

Khi chủ nghĩa tập thể được trau dồi, chủ nghĩa cá nhân được quét sạch, thì cán bộ sẽ mạnh dạn làm, mạnh dạn đổi mới sáng tạo mà không sợ trách nhiệm, dù việc làm của họ, việc đổi mới sáng tạo của họ bước đầu có thể chưa đạt mục tiêu đề ra, thậm chí gây thiệt hại cho tập thể. Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị (khóa XIII) quy định: “Khi cán bộ thực hiện thí điểm mà kết quả không đạt hoặc chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại thì cấp có thẩm quyền phải kịp thời xác định rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan, đánh giá công tâm để xem xét, xử lý phù hợp, nếu thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung thì được xem xét miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm”10. Thấm nhuần và thực hiện tốt tư tưởng “Dĩ công vi thượng”, cùng với những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung, sẽ là “lá chắn” ngăn chặn “bệnh sợ trách nhiệm” trong đội ngũ cán bộ sinh sôi, nảy nở.

Trước thực trạng cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh, đùn đẩy, thiếu trách nhiệm, ở mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương, cần tìm hiểu rõ nguyên nhân vì đâu mà có, mức độ thế nào, hậu quả ra sao, để từ đó đề ra giải pháp khắc phục triệt để. Đảng, Nhà nước đã đề ra nhiều chủ trương, giải pháp thiết thực, vừa có tính giáo dục, thuyết phục, vừa có tính kỷ luật, kỷ cương nghiêm khắc để nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức trong thực thi công vụ. Đó là những chủ trương, giải pháp nền tảng đòi hỏi mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ phải quán triệt, vận dụng triển khai thực hiện ở cấp mình với tinh thần quyết tâm cao nhất, thái độ quyết liệt nhất, kiên quyết không để yếu kém kéo dài. Bằng không, những chủ trương đó chỉ dừng lại trên giấy tờ, hội nghị, để rồi thực trạng cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh, đùn đẩy, thiếu trách nhiệm vẫn tiếp tục có đất sống và tồn tại; nguy hại hơn đó là “mảnh đất màu mỡ” để các thế lực thù địch lợi dụng kích động, chống phá đối với đội ngũ cán bộ, công tác cán bộ và nền tảng tư tưởng của Đảng. Bởi, xây dựng nội bộ tốt, đội ngũ mạnh luôn là ưu tiên hàng đầu để ngăn ngừa và làm thất bại mọi sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị.

ĐÌNH PHIẾM – NAM CƯỜNG

QUAN HỆ MỸ - TRUNG, THỜI THẾ NAY ĐÃ KHÁC XƯA!

 Hình thứ nhất, Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger thăm Bắc Kinh năm 1971, lúc này Trung Quốc và Hoa Kỳ có quan hệ nồng ấm. Trung Quốc cần Mỹ vì họ muốn đổi mới và họ cần người Mỹ để phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật, công nghệ...Mỹ cần Trung Quốc trong những nỗ lực cuối cùng hòng cứu vãn ngụy Sài Gòn, cứu chính binh lính Mỹ đang sa lầy, không lối thoát ở Việt Nam. Sau cuộc gặp này và chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Mỹ Nickson năm 1972, miền Bắc nước ta bị ném bom và chính Kissinger tuyên bố "giờ đây chúng ta chỉ cần nhìn sang Mát Cơ Va để nghiền nát Hà Nội". Đổi lại , Mỹ làm ngơ để Trung Quốc chiếm Hoàng Sa trong tay ngụy Sài Gòn năm 1974. Tóm lại cả hai đều vì lợi ích quốc gia họ nhưng lúc này người Trung Quốc ở thế cửa dưới. Khi đó Henry Kissinger 48 tuổi.

Hình thứ hai, vẫn là Henry Kissinger nhưng là Henry của 2023, một cụ già 100 tuổi người Mỹ, không chức tước. Ông ấy đến Trung Quốc để hàn gắn mối quan hệ cơm không lành, canh không ngọt Mỹ - Trung. Trung Quốc từ chối các nhà ngoại giao, quan chức Hoa Kỳ và cực chẳng đã cụ già 100 tuổi Henry Kissinger phải lặn lội ngàn dặm để đến Bắc Kinh, vì quốc gia đại sự. Thế kèo trên của Mỹ trước Trung Quốc đã không còn. Trung Quốc trỗi dậy mạnh mẽ như dự đoán của Napoleon đại đế của nước Pháp năm xưa "Trung Quốc là một người khổng lồ đang ngủ. Hãy để nó nằm ngủ, bởi khi nó thức dậy nó sẽ làm cả thế giới ngạc nhiên''. Giờ đây, người khổng lồ đó đã thức dậy!
Nếu là lãnh đạo Việt Nam sang giao hảo, cầu cạnh Trung Quốc như cách Mỹ đang làm thì chắc chắn sẽ bị cho là "sang chầu Trung Quốc", "sang xin ý kiến của Thiên triều". Trung Quốc như con Rồng lớn, ẩn mình chờ thời khá lâu và bây giờ trỗi dậy. Chỉ lợi ích quốc gia là vĩnh cửu, Việt Nam giao hảo với cả Mỹ và Trung Quốc, vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Hợp tác là để phát triển theo xu hướng của thời đại, đấu tranh là để giữ vững độc lập, tự do, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Bài Trung Quốc hay bài Hoa Kỳ đều là thất sách, là sai lầm chiến lược. Nga và Ukraine là anh em, láng giềng nhưng trở mặt thành thù. Hậu quả thì ai cũng rõ. Người Mỹ không muốn Trung Quốc vượt họ nhưng khó để kiềm chế và hai con hổ to nhất thế giới buộc phải bắt tay nhau thay vì đối đầu. Mỹ - Trung vừa ghét nhau nhưng cũng nể nhau, sợ nhau. Thời thế nay đã khác./.


NGÀY TRI ÂN 27/7 - SAO PHẢI SỢ "PHÍA BÊN KIA CHẠNH LÒNG"?

 Năm 2019, Bộ Lao động - TBXH đã tham mưu cho Chính phủ đề xuất Quốc hội cho chọn ngày 27-7 làm ngày nghỉ lễ nhằm tưởng nhớ, tri ân các anh hùng liệt sĩ hy sinh vì Tổ quốc, các thương bệnh binh, người có công với đất nước. Rất tiếc là đề xuất này đã không thành hiện thực, vì ý kiến phản đối của thiểu số Đại biểu Quốc hội. Một số vị Đại biểu Quốc hội cho rằng: "với ý nghĩa như mệnh đề đặt ra của Bộ LĐ-TBXH, bởi lịch sử nước ta có giai đoạn nhạy cảm, tuy đất nước thống nhất đã hơn 40 năm nhưng trong xã hội vẫn còn nhiều gia đình "ở phía bên này, bên kia".

"Chọn đó là ngày tri ân thì những người từng là cha mẹ, vợ con của người tử trận trong chiến tranh, nhưng họ ở phía bên kia, thì không được tri ân? Như vậy, ý nghĩa của tri ân không bao trùm xã hội được", ông Trí nói. Xin có lời như sau:
Một số vị cho rằng: "Chọn đó là ngày tri ân thì những người từng là cha mẹ, vợ con của người tử trận trong chiến tranh, nhưng họ ở phía bên kia, thì không được tri ân? Như vậy, ý nghĩa của tri ân không bao trùm xã hội được". Có phải các vị đang nhắc đến cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ cứu nước của dân tộc ta? Thật nực cười và xót lòng, đau ruột khi nghe một vị Đại biểu Quốc hội phát biểu với “tầm nhìn chiến lược” kiểu “loạn ngôn, xảo ngữ” như thế.
Thưa với các vị rằng: Từ cổ chí kim dân tộc ta, nhân dân ta luôn rạch ròi về khái niệm người yêu nước, anh hùng dân tộc với bè lũ phản quốc, làm tay sai cho ngoại bang để giày xéo dân ta. Trải qua hơn 4000 năm lịch sử dựng và giữ nước, Quốc sử vẫn còn ghi; nhân dân ta khi nhắc đến Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Nam Đế, Triệu Quang Phục, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Lý Thường Kiệt, Hưng Đạo Vương, Lê Lợi, Quang Trung, Hồ Chí Minh …Tên tuổi của họ và những anh hùng gắn với thờ đại của họ tuy khác nhau về thời điểm lịch sử nhưng điểm chung là họ đều là những tượng đài, anh hùng dân tộc; dù có trãi qua hàng ngàn đời đi nữa thì chân lý đó sẽ chẳng thay đổi; nhân dân ta mãi mãi biết ơn, lấy đó làm tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa yêu nước để ngàn đời cháu con tôn thờ, noi theo.
Ngược lại, khi nhắc đến Kiều Công Tiễn, Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Nguyễn Ánh, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Hoàng Văn Hoan… và bè lũ tay sai, bán nước hoặc vì lợi ích cá nhân mà can tâm, tình nguyện làm ưng khuyển, làm tôi tớ cho giặc để chống lại đất nước. Là người Việt Nam nhưng lại chém vào tổ quốc những nhát chém ngang lưng, chí tử. Những người mà các vị cho là "gia đình họ sẽ chạnh lòng" là những kẻ như thế, muôn đời cháu con khi nhắc đến tên họ thì không ngừng phỉ nhổ, nguyền rủa; là gương xấu muôn đời để cho con dân nước Việt nhìn vào đó mà tự răn mình. Và cũng chẳng ai “tri ân” lũ loạn loạn thần, tặc tử này, điều này là lẽ đương nhiên; các vị không phải lao tâm, khổ tứ, vắt óc để bàn!
Mỹ xâm lược nước ta, dựng nên đám bù nhìn tay sai ngụy Sài Gòn; chúng là lũ phản quốc khi thờ ngoại bang để giết hại, để chống lại Tổ quốc; chúng theo ngoại bang đi giết người dân của mình và bị người giết; những kẻ đó chẳng việc gì phải khiến cho một số vị Đại biểu Quốc hội của nước CHXHCNVN phải động lòng trắc ẩn cả, chẳng có gì để các vị thấy chạnh lòng! Việc gì các vị phải sợ “ý nghĩa không tri ân được trong toàn xã hội”? Hòa hợp dân tộc không phải là đánh đồng, cào bằng giữa người yêu nước và lũ phản tặc, ai tri ân lũ bán nước trong lịch sử dân tộc này? Không bao giờ! Đối với ngụy Sài Gòn muôn đời là giặc của nước Việt chúng ta, không thể rửa mặt cho giặc! Anh hùng và tội đồ dân tộc phải phân biệt rạch ròi, phải tuyên truyền cho thế hệ sau rõ mà ngày nghỉ lễ 27/7 là cách tuyên truyền tốt nhất, thiết thực nhất.
Hãy nhìn ra thế giới, Canada, Pháp chọn ngày 11/11 hằng năm để tưởng niệm tất cả những người hy sinh vì Tổ quốc, với phương châm tưởng nhớ, đoàn kết và khoan dung. Nước Mỹ chọn ngày thứ hai cuối cùng của tháng 5 là ngày tưởng niệm liệt sỹ. Nước Nga chọn ngày 9/5 là ngày lễ mừng Chiến thắng phát xít Đức, trong lễ mừng có tưởng nhớ đến những người đã hy sinh. Hàn Quốc, từ năm 1956 chọn ngày 6/6 là ngày tưởng niệm những người lính Hàn Quốc đã hy sinh. Indonesia chọn ngày 10/11 là Ngày anh hùng…không lý lịch sử dân tộc ta không đủ huy hoàng bằng đất nước bạn? Không lẽ những quốc gia đó sợ "chạnh lòng phía bên kia"?
Mong một số Đại biểu Quốc hội của nước CHXHCNVN suy nghĩ lại. Ủng hộ đề xuất của Bộ Lao động - TBXH và đa số Đại biểu Quốc hội./.
--------

CHƯA THỂ GỌI LÀ VĂN MINH, THANH LỊCH! --------

 Ngày 31/7, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Trần Sỹ Thanh đã có thư cảm ơn gửi tới Ban nhạc BlackPink, khán giả hâm mộ ban nhạc và các lực lượng chức năng thành phố Hà Nội. Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội cảm ơn các khán giả tham gia hai đêm diễn một cách sôi động, văn minh, thanh lịch góp phần quan trọng vào sự thành công của các đêm diễn...

Việt Nam là đất nước có 100 triệu dân, với nhiều lứa tuổi, thế hệ khác nhau. Vậy nên sở thích vì thế cũng hoàn toàn khác biệt. Các cháu thích và mến bộ ban nhạc BlackPink hay bất cứ hình thức giải trí nào, đó là quyền của các cháu. Miễn không vi phạm pháp luật, đạo đức, luân lý và không ảnh hưởng đến văn hóa, thuần phong, mỹ tục. Nếu Ronaldo hay Messi, những huyền thoại sống của bóng đá thế giới đến Việt Nam thì chắc chắn cũng sẽ có hàng vạn người hâm mộ muốn gặp gỡ thần tượng bằng xương, bằng thịt của mình...tóm lại, sở thích, thần tượng là quyền mỗi người trong thời đại nền văn hoá giao thoa mạnh mẽ toàn cầu.
Cái mà dư luận quan tâm, phản ứng chính là việc Ban Tổ chức BlackPink có quảng bá đường lưỡi bò phi pháp của Trung Quốc. Dù họ đã lên tiếng xin lỗi nhưng rõ ràng đây là sự cố hết sức đáng tiếc. Với người Việt Nam thì Hoàng Sa và Trường Sa là máu thịt của Việt Nam, đó là bất biến. Chủ quyền Quốc gia là tối thượng, cao hơn tất cả và không một thứ gì có thể đánh đổi, so sánh được. Hy vọng các tổ chức, cá nhân đến Việt Nam hay phim ảnh, ấn phẩm...khi du nhập vào nước ta cần phải được kiểm duyệt chặt chẽ, rút kinh nghiệm từ vụ việc này. Các cơ quan năng cần nâng cao tinh thần trách nhiệm không để các sự cố tương tự xảy ra.
Các bạn trẻ yêu mến thần tượng nhưng không nên thái quá, kiểu gào khóc chan chứa nước mắt đó hãy để dành cho cha mẹ, người thân khi họ trăm tuổi bạc đầu hay trước anh hùng dân tộc đã hy sinh vì Tổ quốc, để chúng ta có ngày hôm nay. Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội cho rằng "các khán giả tham gia hai đêm diễn một cách sôi động, văn minh, thanh lịch góp phần quan trọng vào sự thành công của các đêm diễn...". Tuy nhiên, nhìn cảnh rác rưởi ngập sân vận động, một số thanh niên ăn mặt hở hang theo BlackPink...như vậy, không thể khẳng định đó là văn minh, thanh lịch. Những hình ảnh đó là xấu hình ảnh của người Việt Nam nói chung và Thủ đô ngàn năm văn hiến nói riêng./.

ĐÔI LỜI VỀ SÁCH GIÁO KHOA HIỆN NAY!

 Giải trình trước Đoàn Giám sát của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội mới đây, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn cho biết "mức chiết khấu phát hành sách giáo khoa theo chương trình phổ thông mới từ năm 2020 đến nay là 23% cho sách giáo khoa lớp 1, 2, 6; 22,5% cho sách giáo khoa lớp 3, 7, 10. Còn sách giáo khoa lớp 4, 8 và 11 có mức chiết khấu 21%. Xin có đôi lời như sau:

Khoảng năm 700 trước Công nguyên, Quản Di Ngô, vị quân sư lỗi lạc của nước Tề, người đã giúp Tề Hoàn Công đứng đầu Ngũ bá đã có tư tưởng về giáo dục cực kỳ tiến bộ, đúng với mọi thời đại. Quản Trọng cho rằng: nhất niên chi kế, mạc như thụ cốc; thập niên chi kế, mạc như thụ mộc, chung thân chi kế, mạc như thụ nhân. Nghĩa là, kế sách trong một năm là trồng lúa, mười năm là trồng cây và trọn đời là trồng người. Sinh thời Bác Hồ rất quan tâm đến giáo dục, mong muốn đào tạo ra những thế hệ "vừa hồng, vừa chuyên". Bác dạy: "vì lợi ích mười năm, trồng cây. Vì lợi ích trăm năm, trồng người".
Câu chuyện loạn sách giáo khoa như hiện nay là vấn đề cả xã hội hết sức quan tâm. Đất nước thống nhất hơn 48 năm nhưng sách giáo khoa vẫn mạnh ai người ấy làm, đủ loại nhà xuất bản, đủ loại sách khiến cho người ta liên tưởng đến nồi canh rau tập tàng. Bộ trưởng giải trình rằng: "“Nhiều sách giáo khoa góp phần làm phong phú nguồn học liệu để giáo viên và học sinh được tiếp cận” nhưng liệu có thuyết phục? Nếu nói như vậy thì tại sao không thống nhất một bộ sách giáo khoa và cho phép xuất bản các bộ sách tham khảo khác nhau. Điều này cho phép phụ huynh, nhà trường chủ động sách giáo khoa và sách tham khảo thì tùy điều kiện chứ không bắt buộc...Như hiện này, thầy cô giáo cũng khó khăn trong việc nghiên cứu để giảng cho học sinh, phụ huynh khó khăn khi chuẩn bị sách cho con vì không biết trường sẽ dùng loại sách gì. Người nghèo, yếu thế trong xã hội khó khăn vì giá sách cao mà nguyên nhân chính là mức chiết khấu cao.
Mức chiết khấu đối với sách giáo khoa, sách tham khảo hiện nay quá cao, là nguyên nhân đẩy giá lên cao? Đề nghị làm rõ vấn đề này để rộng đường dư luận! Phải kiểm soát giá trần để sách giáo khoa không bị đẩy giá cao, ảnh hưởng đến phụ huynh. Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) đã tiếp tục khẳng định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”. Thế nhưng nhân dân luôn phải lo lắng khôn nguôi khi mà chương trình cải cách chưa mang lại hiệu quả cao. Sách giáo khoa thay đi, đổi lại kiểu đẽo cày giữa đường, gây lãng phí ngân sách nhà nước và khó khăn cho phụ huynh.
Sách tăng giá, gây áp lực cho phụ huynh, đặc biệt là những hộ gia đình chẳng khá giả gì. Giáo dục XHCN phải mang tính nhân bản như nội hàm vốn có của nó. Nhiều nước trên thế giới đã xoá bỏ học phí và hỗ trợ cho phụ huynh, học sinh rất nhiều nhằm ươm mầm những thế hệ tương lai. Triều Tiên, Cu Ba hay nhiều nước phát triển trên thế giới đều thực hiện theo hướng đó. Chúng ta chẳng những không miễn giảm mà còn tăng thêm Gánh nặng ngàn cân đối với những phụ huynh khó khăn liên quan đến sách giáo khoa. Bản chất ưu việt của Chủ nghĩa xã hội nhất định không phải như vậy../
----------

CÁC NƯỚC TÂY PHI LÀM CUỘC CÁCH MẠNG ĐÁNH ĐUỔI THỰC DÂN PHÁP - VÙNG LÊN HỠI CÁC NÔ LỆ Ở THẾ GIAN!

 Ở Việt Nam lâu nay vẫn nghe Trương Huy San và rất nhiều người ra rả luận điệu “Việt Nam đánh đuổi Pháp là đánh đuổi nền văn minh nhân loại”. Họ quên rằng, chính cha ông họ là nạn nhân của người Pháp khi chúng xâm lược và cai trị nước ta từ năm 1858 cho đến khi bị đánh đuổi năm 1954. Nước Pháp có lịch sử xâm lược và đô hộ suốt hàng trăm năm lịch sử và họ làm giàu trên máu xương của đồng loại, bóc lột, vơ vết tài nguyên của các dân tộc bị áp bức. Việt Nam ta đã tổn thất biển máu, non xương để chiến đấu và chiến thắng người Pháp, xây dựng đất nước hòa bình, độc lập và phát triển như hôm nay. Vậy mà đám hậu bối được thừa hưởng thành quả cách mạng của cha ông lại phán xét cha ông rằng “đánh đuổi Pháp là đánh đuổi nền văn minh nhân loại”. Đúng là gia môn bất hạnh! Thứ nghiệt súc vô ơn!

Trong thế kỷ XXI, nhiều quốc gia ở châu Phi vẫn đang rên xiết dưới chế độ thực dân kiểu mới. Hãy nghe những gì mà các vị lãnh đạo của Pháp nói: Năm 1987, Tổng thống Pháp François Mitterrand từng tuyên bố: “Nếu không có châu Phi, Pháp sẽ không có lịch sử trong thế kỷ XXI”. Năm 2008, Tổng thống Pháp Jacques Chirac cũng công nhận: “Nếu không có châu Phi, nước Pháp sẽ trượt xuống thứ hạng của thế giới thứ ba.”. Có thể nói, nước Pháp giàu có và sự hoa lệ của Paris được xây bằng máu, nước mắt của các dân tộc thuộc địa.
Có 14 nước châu Phi vẫn phải có nghĩa vụ với Pháp, ràng buộc bởi một Hiệp ước thuộc địa, quy định phải nộp 85% ngân sách dự trữ của họ vào ngân hàng trung ương Pháp, dưới sự kiểm soát của Bộ trưởng Tài chính Pháp. Cho đến nay, Togo và 13 nước châu Phi khác vẫn phải trả nợ thực dân cho Pháp. Các nhà lãnh đạo châu Phi từ chối điều đó sẽ bị giết hoặc trở thành nạn nhân của một cuộc đảo chính. Những người tuân theo sẽ được Pháp hỗ trợ và khen thưởng, bằng cuộc sống xa hoa trong khi người dân của họ phải chịu đựng đói nghèo cùng cực trong nỗi tuyệt vọng. Đó là một hệ thống tàn ác, đến mức thậm chí Liên minh châu Âu cũng phải lên tiếng tố cáo, nhưng Pháp không có động thái nào, không bao giờ chịu nhượng bộ để thay đổi chế độ thuộc địa trá hình đó, khi mà nó đem lại lợi ích to lớn từ châu Phi về cho nước Pháp.
Theo đánh giá của Liên Hợp quốc, hơn 40 triệu đàn ông, phụ nữ và trẻ em đang là nô lệ thời hiện đại ở Tây Phi, trong đó Eritrea, Burundi, Cộng hòa Trung Phi, Nigeria và Cộng hòa Dân chủ Congo có số lượng cao nhất, chiếm hơn 1/4 tổng số nạn nhân trong khu vực. Phần lớn bị ép buộc lao động trong các mỏ khoáng sản hoặc phá rừng lấy gỗ, số khác bị cưỡng bức hôn nhân hoặc bóc lột tình dục...
Niger đã trở thành quốc gia mới nhất ở Tây Phi với quân đội lên nắm quyền kiểm soát, sau Burkina Faso, Guinea, Mali và Chad - tất cả đều thuộc cộng đồng Pháp ngữ (Francophonie) châu Phi. Đây là quốc gia khai thác uranium lớn thứ 7 thế giới, nhưng 1/4 lượng uranium mà họ sản xuất được được đưa tới châu Âu, đặc biệt là Pháp, để phục vụ các nhà máy điện hạt nhân tại đây. Dù vậy, quốc gia này vẫn là một trong những nước nghèo nhất thế giới và phải nhận hàng trăm triệu USD cứu trợ mỗi năm. Khoảng 40% trong số 24,4 triệu dân Nige sống trong cảnh nghèo đói cùng cực với mức thu nhập dưới 2,15 USD mỗi ngày…
Và bây giờ các nước Tây Phi đã nhất tề đứng lên chống Pháp, yêu cầu người Pháp rời khỏi đất nước và mang về Pháp “nền văn minh nhân loại”, thứ mà họ đã cho Tây Phi suốt hai thế kỷ qua. “Chúng tôi muốn Nga giúp chúng tôi về an ninh và lương thực. Lực lượng Wagner có thể đảm bảo an ninh hiệu quả hơn Pháp, trong khi Moskva có thể cung cấp công nghệ để cải thiện nền nông nghiệp của chúng tôi” - Lời của những người tham gia cách mạng. Pháp, Mỹ và NATO đang sa lầy, tiến thoái lưỡng nan trong việc ủng hộ Zelensky trong cuộc chiến ở Ukraine và đây là cơ hội ngàn năm để các nước bị Pháp cai trị đứng lên, lật đổ bọn xâm lược, đô hộ và bè lũ tay sai.
Dân tộc ta bị Pháp xâm lược và đô hộ gần 100 năm, nhờ sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ vĩ đại đã dẫn dắt cả dân tộc kháng chiến và đánh bại người Pháp, xây dựng cơ đồ to đẹp như hôm nay. Chúng ta đã làm được và cầu mong người Tây Phi cũng sẽ thành công. Vùng lên hỡi các nô lệ ở thế gian, vùng lên hỡi ai cực khổ bần hàn. Sục sôi nhiệt huyết trong tâm đầy chứa rồi. Quyết phen này sống chết mà thôi. Chế độ xưa ta mau phá sạch tan tành. Toàn nô lệ vùng đứng lên đi. Nay mai cuộc đời của toàn dân khác xưa, bao nhiêu lợi quyền tất qua tay mình. Đã đến lúc người Pháp phải trả lại độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền tự quyết dân tộc cho các nước bị áp bức../.
P/s: Hình ảnh thứ nhất là cuộc đảo chính lật đổ chính quyền bù nhìn thân Pháp ở Niger. Hình 2 thứ hai và 3 là sự tương phản giữa Paris hoa lệ và đất nước Niger.

THANH TRA TOÀN DIỆN LIÊN QUAN ĐẾN SÁCH GIÁO KHOA - CÚ ĐẤM NGÀN CÂN ĐẤM GỤC LOẠN SÁCH GIÁO KHOA!

 Trong lịch sử giáo dục nước ta, Chu Văn An được người đời sau xem là "vạn thế sư biểu", nghĩa là "người thầy của muôn đời". Trần Nguyên Đán đánh giá đạo học của ông cao như Bắc Đẩu, Thái Sơn, có khả năng “xoay làn sóng biển học làm cho phong tục trở lại thuần hậu,… chính sự và giáo hoá được đổi mới”.

Hiện nay, nghiên cứu về tư tưởng, nội dung và phương pháp giáo dục của Chu Văn An là rất khó khăn, bởi những tác phẩm của ông không còn được lưu giữ một cách đầy đủ. Cuộc Bắc thuộc lần thứ tư 1407 - 1428, giặc Minh đã cho đốt hoặc mang sử sách, thư tịch về Yên Kinh. Tuy nhiên, trong tâm thức dân tộc, ông luôn được thừa nhận là một nhà giáo dục hành động chứ không phải là một nhà giáo dục thuần lí và triết lí giáo dục của ông là triết lí hành động, triết lí thực tiễn. Triết lý tư tưởng “hữu giáo vô loại”, giáo dục không phân biệt đẳng cấp, giàu nghèo, con quan hay thứ dân của Ông đã để lại cho đời những bài học sâu sắc.
Trong giáo dục và đào tạo học trò, Chu Văn An quan tâm đến việc biên soạn sách để giúp cho người học có được tài liệu học tập. Đây là một điểm mới trong cách quan niệm về nội dung và phương pháp giáo dục của ông và “Tứ thư thuyết ước” đã ra đời. Việc Chu Văn An viết sách không chỉ đơn giản là để làm tài liệu học tập mà cao hơn cả là qua đó, để gìn giữ và khuếch trương di sản văn hóa của dân tộc (dùng chữ Nôm), khẳng định sự độc lập về văn tự đối với nền văn hóa Hán. Cũng trong các tác phẩm ấy, để thể hiện rõ tính chất dân tộc trong văn hóa, thi ca, ông không hề vay mượn những điển tích ngoại lai mà chỉ miêu tả những gì hiện thực trước mắt, những cảnh đẹp thiên nhiên và con người Đại Việt. Đây là phong cách đặc biệt trong các nhà nho thời Trần mà đi đầu là nhà sư phạm mẫu mực Chu Văn An.
Trái với Chu Văn An, cái gọi là "giáo dục khai phóng", với tư tưởng của vị nguyên bộ trưởng bộ Giáo dục và Đào tạo là "tiền ít đừng đòi hỏi chất lượng cao"....Cải cách đủ các kiểu và sách vô tội vạ với đủ thể loại nhà xuất bản khác nhau. Loạn sách giáo khoa, loạn xã hội. Gần vào học nhưng phụ huynh chẳng biết chọn sách nào cho con, các trường học cũng chẳng biết đường nào mà lần, chẳng biết sách gì mà chọn. Những người được chọn để làm Tổng Chủ biên sách giáo khoa như Nguyễn Minh Thuyết lại là một trong 72 kẻ đòi xoá điều 4 của Hiến pháp. Vậy nên chẳng có gì khó hiểu khi họ định bỏ môn lịch sử hoặc tích hợp vào các môn học khác. Trương Vĩnh Ký, kẻ bán nước, làm tôi tớ cho giặc để chống lại đất nước được ca ngợi trong sách giáo khoa. Sự khai phóng đó mang theo hơi hướng của nền giáo dục lai tạp kiểu mớ rau tập tàng. Còn đâu là bản sắc, còn đâu là hồn cốt dân tộc. ..
Người dân lên tiếng nhiều và rất vui mừng được biết, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã đồng ý với đề xuất của Đoàn Giám sát của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, thanh tra toàn diện khâu in ấn, biên soạn, xét duyệt sách giáo khoa...chúng ta tin tưởng vào cú đấm có sức mạnh ngàn cân này để hạ gục vấn nạn về sách giáo khoa. Người dân thường cũng nhìn thấy rõ, việc loạn sách giáo khoa chỉ có lợi cho một số nhà xuất bản, nhóm lợi ích nào đó chứ không phải là nguyện vọng, ý chí của toàn dân. Chế độ ta lấy nhân dân làm trung tâm, vì nhân dân mà phụng sự. Cụ Hồ dạy "việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, có hại cho dân thì hết sức tránh". Mong rằng sau đợt thanh tra toàn diện, sách giáo khoa sẽ trở về nguyên nghĩa, nguyên giá trị của sách giáo khoa./.

NỖI NHỤC MẤT NƯỚC

Bàng hoàng khi xem bức ảnh được chụp tại Biên Hòa vào năm 1860, mô tả cảnh một người phụ nữ An Nam làm "nghề" cho chó bú. Những con chó ở đây là chó Tây, chó ngoại của những chủ đồn điền, địa chủ, quan Pháp. Và những người mẹ An Nam này phải chia sẻ giọt sữa của mình cho những con chó ấy, liệu những người mẹ sống trong bối cảnh đất nước tan nát, bị đô hộ, bị “khai hóa văn minh” liệu có đủ sữa cho những đứa con của mình hay không? Không ai rõ cũng chẳng ai hay. Đó là những hình ảnh đớn đau đã diễn ra cách đây hơn 150 năm mà có lẽ phần lớn chúng ta không tưởng tượng nổi và không nghĩ là nó có thực. Một câu hỏi chình ình trong tâm thức: “Liệu phải chăng bấy giờ, thân phận của cha ông chúng ta không bằng một con chó?”.

Một cái nghề đớn đau khác là đi đồn điền cao su - cái nghề mà khả năng “sống dở chết dở” và “biệt tăm biệt tích” rất cao, và nghề này được nhắc đến trong Lão Hạc của nhà văn Nam Cao. Theo Université Clermont Auvergne, báo cáo tại 11/20 đồn điền cao su lớn nhất An Nam, tỷ lệ tử vong của lao động An Nam lên tới 47% vào năm 1927. Tức là cứ 2 người đi lao động ở đồn điền cao su thì có 1 người chết, 1 người sống dặt dẹo. Tại đồn điền cao su của Micheline, có tới 90% công nhân mắc bệnh sốt rét, 40% trong số đã chết. Do những cái xác quá nhiều nên giới chủ Pháp đành chôn ở dưới các gốc cây cao su, rải rác ở trong rừng. Hãy thử làm một phép so sánh rất giản đơn nhưng giật mình, tỷ lệ số người chết trong các đồn điền cao su này (40%) còn lớn hơn tỷ lệ lính Pháp và lê dương chết trong Thế chiến 2 (22%). Điều đau đớn của những người còn sống phải đạp lên nấm mồ của những người đã khuất.

Đó là hai trong muôn vàn ví dụ phản biện lại những luận điểm “khai hóa văn minh”, “đem tự do đến” của những tri thức cấp tiến khi họ mở mồm nói về giai đoạn Pháp đô hộ Việt Nam. Những luận điểm này có vẻ đang ngày càng phổ biến và mở rộng, được tiếp nhận rộng mở hơn. Đa phần những người sinh sống hiện tại không thấu hiểu được “nỗi nhục mất nước”. Đau đớn thay cho lịch sử, cho những người đã khuất, khi họ phải nằm xuống trong sự nhục nhã và đám con cháu mất dạy nói rằng cái thứ đàn áp họ - lại là những con người nhân nghĩa “mang văn minh đến”.

Điều đáng sợ nhất của một dân tộc là lãng quên quá khứ của chính dân tộc mình và thờ ơ bỏ mặc cho chủ nghĩa bịa đặt và xét lại lịch sử diễn ra. “Các ngươi nghĩ con người sẽ chết đi khi nào? Khi bị bệnh ư? Không! Khi ăn phải nấm độc ư? Khôn! Khi bị đại pháo bắn vào ư? Không! Con người ta chỉ chết đi khi bị quên lãng!”- Dr. Hiriluk (One Piece)./.

Nguồn: ST 

HỌ CŨNG ĐÃ ĐỔ MÁU VÌ HÒA BÌNH VIỆT NAM

 

Để có được tự do, hòa bình cho Việt Nam ngày hôm nay, không chỉ máu cha ông ta đã đổ xuống mà còn có cả máu của những người dũng cảm ở nơi xa, sẽ thật thiếu sót nếu không nhắc nhớ đến Norman Morrison và Muhammad Ali.

Muhammad Ali - Huyền thoại boxing thế giới - nếu bắt tôi bắn họ, cứ đưa tôi vào tù đi.

Vào ngày 28/4/1967, Muhammad Ali từ chối gia nhập quân đội Mỹ để tham gia chiến tranh Việt Nam khiến ông bị tước giấy phép quyền anh và tất cả đai vô địch thế giới. Tay đấm huyền thoại nói rằng ông không gia nhập quân đội Mỹ vì lương tâm không cho phép, từ đó dẫn đến việc bị kết án 5 năm tù và phạt 10.000 USD. Trong 4 năm sau đó, Muhammad Ali huyền thoại vẫn bảo vệ ý kiến của mình trong mọi hoàn cảnh. Phong trào phản chiến, tại nước Mỹ đã trỗi dậy mạnh mẽ từ đó với sự tham gia của cả Bill Clinton, Tổng thống Mỹ giai đoạn 1993-2001. Tổng cộng có 16 triệu thanh niên Mỹ đốt thẻ quân dịch để phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ tại Việt Nam. Phong trào đòi thả Muhammad Ali cũng nổ ra, dần lan rộng và thu hút nhiều vận động viên, người hâm mộ quyền Anh cũng như nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Nhờ đó mà cuối cùng chính quyền Mỹ và Liên đoàn quyền Anh của nước này đã nhượng bộ. Năm 1971, Muhammad Ali được trả tự do. Sau khi giã từ sự nghiệp quyền Anh chuyên nghiệp vào những năm 80 của thế kỷ trước, Muhammad Ali tham gia nhiều hoạt động xã hội, các sứ mệnh nhân đạo và chương trình của LHQ mang tên “Thông điệp hòa bình”. Muhammad Ali đã từng đến thăm Việt Nam vào tháng 5/1994.

Norman Morrison - Ngọn đuốc sống trước Lầu Năm Góc

“… Emily con ơi!

Trời sắp tối rồi ...

Cha không thể bế con về được nữa

Khi đã sáng bùng lên ngọn lửa

Đêm nay mẹ đến tìm con

Con sẽ ôm lấy mẹ mà hôn

Cho cha nhé.

Và con sẽ nói giùm với mẹ

Cha đi vui, xin mẹ đừng buồn! …”

Có lẽ ai trong chúng ta cũng cảm thấy những câu thơ này thật quen thuộc, đây chính là bài thơ “Emily, con” của nhà thơ Tố Hữu đã viết 5 ngày sau khi Norman Morrison tự thiêu trước Lầu Năm Góc để phản đối chiến tranh ở Việt Nam và Norman Morrison là người cha trong bài thơ đó. Thế hệ GenZ không có nhiều người biết đến Norman Morrison nhưng vào năm 1965, hành động dũng cảm của anh đã xuất hiện trên rất nhiều mặt báo lớn ở Việt Nam nói riêng và mặt báo thế giới nói chung.

Norman Morrison sinh ngày 19/12/1933 ở Erie, bang Pennsylvania, Mỹ. Anh dạy học tại một trường trung học và là một người yêu hòa bình, là một trong những người hoạt động tích cực trong phong trào biểu tình phản đối cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của chính quyền Johnson. Anh không thể chấp nhận con số thương vong về người mà cuộc chiến phi nghĩa ấy đang gây ra, cả đối với người Việt Nam và binh sĩ Mỹ. Ông tin rằng nếu cuộc chiến này tiếp tục, đến một lúc nào đó, nó sẽ giáng một đòn nặng nề lên lương tâm của người Mỹ.

Năm 1965, đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam và dùng không quân đánh phá ra các tỉnh miền Bắc nước ta, ông nhiều lần xuống đường phản đối chiến tranh, nhưng cuộc chiến vẫn ngày càng khốc liệt hơn. Morrison nghĩ rằng, khẩu hiệu, băng rôn và các cuộc tuần hành không làm những người cầm quyền chú ý thì anh phải dùng đến biện pháp cuối cùng: Ngọn lửa của thân thể mình!

Vào ngày 2/11/1965, Norman Morrison lái xe rời khỏi nhà đưa theo cô con gái út Emily khi ấy mới 1 tuổi. Sau 64km, họ đến trước Lầu Năm Góc, theo các nhân chứng kể lại, anh đã ôm và hôn lên trán đứa con gái bé bỏng của mình lần cuối, âu yếm nhìn cô bé. Người cha ấy giao con gái mình cho một người phụ nữ trong đám đông, trèo khỏi hàng rào, đổ lên người chỗ xăng đã chuẩn bị từ trước và châm lửa. Người đàn ông ấy trở thành ngọn lửa cao 3m trong sự bàng hoàng của đám đông.

Trước đó 3 tháng, Norman Morrison gửi thư cho báo Mặt trời Baltimore bày tỏ thái độ bất bình về cuộc chiến tranh phi nghĩa của Mỹ ở Việt Nam nhưng Norman Morrison nhận ra tất cả những gì mình nỗ lực đều không hề chạm đến chính quyền Mỹ. Nhìn những đứa con của mình, người đàn ông ấy đau lòng vì những đứa trẻ ở Việt Nam đang chịu những cơn mưa bom đạn, sống trong những căn hầm, đáng lẽ chúng phải được vui chơi và đến trường. Khi châm lửa tự thiêu, ánh lửa bùng lên như một thông điệp của nhân dân Mỹ đòi chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Khi biết tin về vụ tự thiêu của Norman Morrison, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi lời chia buồn tới Anne, vợ của Norman Morrison. Khi bà Anne và các con tới thăm Việt Nam vào năm 1999, họ đã gặp nhà thơ Tố Hữu. Họ ngạc nhiên trước sự tiếp đón nồng nhiệt của Việt Nam và gặp nhiều người Việt Nam. Người con gái lớn của Norman đã chia sẻ “Là một người con, điều duy nhất giúp tôi hiểu về cái chết của cha mình là biết được nỗi đau xảy ra tại Việt Nam. Trong chuyến đi, tôi gặp những đứa trẻ nói với chúng tôi rằng, sự hy sinh của cha tôi có ý nghĩa như thế nào đối với họ. Đây là sự xoa dịu không gì tả xiết đối với tôi”, cô ấy đã thấy sự hy sinh của cha mình đã lên tiếng cho rất nhiều đứa trẻ vô tội khác. Sau chuyến thăm đó, Anne Morrison đã viết một bức thư gửi nhân dân Việt Nam như một lời cảm ơn chân thành: “Khi nào tôi còn sống thì tôi vẫn không thể quên được chuyến đi của tôi tới Việt Nam vào tháng 4/1999. Chuyến đi ấy đã hàn gắn những vết thương lòng của tôi. Sau cái chết của chồng tôi - Norman Morrison năm 1965 để phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, tôi biết nhân dân Việt Nam vô cùng xúc động về sự hy sinh của chồng tôi và kính trọng chồng tôi. Họ đã gửi những lời chia buồn đến gia đình tôi. Tôi vô cùng ngạc nhiên về tình cảm sâu sắc và lòng kính trọng dành cho chồng tôi của biết bao người dân Việt Nam mà họ vẫn gìn giữ trong suốt những năm tháng qua để nay lại bày tỏ trước chúng tôi. Tôi trân trọng và yêu quý những giọt nước mắt của họ, những giọt nước mắt của tình yêu và lòng thông cảm, Và ở một khía cạnh nào đó, những giọt nước mắt ấy là những hạt mầm của niềm vui …”.

Sau vụ tự thiêu của Morrison, phong trào phản đối chiến tranh của nhân dân Mỹ ngày càng phát triển với quy mô và lực lượng mới, nhiều tổ chức và cá nhân tham gia. Nhiều tờ báo Mỹ đã cử phóng viên sang chiến trường Việt Nam để phản ánh sự thật và tố cáo tội ác chiến tranh. Từ cuối năm 1965 trở đi, tình hình ở Mỹ diễn ra hai trận tuyến rõ rệt: một bên là chính quyền Mỹ với các đời tổng thống kế tiếp nhau cùng với một quốc hội ngày càng cam kết và dấn sâu vào chiến tranh xâm lược; với một bên là nhân dân Mỹ nhất quyết bằng mọi giá phải chấm dứt chiến tranh, rút quân về nước. Sự kiện Norman Morrison và phong trào phản chiến của nhân dân tiến bộ Mỹ là lời bênh vực trung thực nhất cho dân tộc Việt Nam, là câu trả lời đúng đắn nhất cho câu hỏi vì sao dân tộc Việt Nam lại đứng lên cầm vũ khí đánh đuổi những kẻ xâm lược Mỹ, góp phần cùng nhân loại tiến bộ trên thế giới vạch trần âm mưu và tội ác của đế quốc Mỹ tại Việt Nam, giúp nhân dân Việt Nam có thêm sức mạnh tinh thần để vượt qua khó khăn, quyết tâm chiến đấu để giành lại độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Phong trào ủng hộ Việt Nam của nhân dân Mỹ thật sự là một phong trào rộng lớn bao gồm nhiều lực lượng, cá nhân, những người có tư tưởng hòa bình./.

Nguồn: ST

HAI BÀ TRƯNG TRONG THƯ TỊCH CỔ

     Hai Bà Trưng – Hai nữ vương, danh tướng đầu tiên gương cao cờ nghĩa chống chủ nghĩa bành trướng đại Hán, đặt nền móng đầu tiên cho cuộc đấu tranh không mệt mỏi giành độc lập của dân tộc Việt Nam.

Lịch sử và truyền thuyết kể rằng: Hai Bà là chị em sinh đôi và sinh vào ngày mồng một tháng tám năm Giáp Tuất (năm 14 sau công nguyên). Hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị vốn dng dōi vua Hùng, phát tích từ vùng đất thiêng Mê Linh nay thuộc tỉnh Phú Thọ, là con gái của quan Lạc tướng vùng này. Trong bối cảnh đất nước bị nhà Hán đô hộ, thân mẫu của Hai Bà Trưng là bà Man Thiện sớm ga bụa song đã nuôi dy con cái theo tinh thần thượng vō và yêu nước. Chồng Trưng Trắc là Thi Sách, con trai một Lạc tướng huyện Chu Diên, bị Thái thú Tô Định của nhà Hán giết hại. Trước cảnh nước mất nhà tan, Trưng Trắc cng em là Trưng Nhị quyết tâm tiến hành khởi ngha đền nợ nước, trả thù nhà. Tháng 3 năm 40, Hai Bà Trưng lập đàn thờ trên cửa sông Hát Giang truyền lệnh khởi ngha. Nhân dân các quận Giao Chỉ, Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố cùng nổi dậy hưởng ứng cuộc đấu tranh chống lại nhà Hán. Hai Bà lập nên vương triều mới, đng đô ở Mê Linh, xưng hiệu là Trưng Vương. Hai năm sau, tướng nhà Hán là Mã Viện mang hai vạn quân sang xâm lược nước ta. Do lực lượng yếu, Hai Bà lui về Cẩm Khê và cầm cự với quân giặc hơn một năm trời. Cuối cùng, sau khi bị thất bại, năm 43 Hai bà chạy về Hát Môn gieo mnh xuống sông Hát Giang tự vẫn. Mặc dù giành quyền tự chủ đất nước trong một thời gian ngắn (từ năm 40 đến năm 43) song tấm gương anh hùng, trung nghĩa của Hai Bà đã khắc ghi vào lịch sử và tâm thức người dân Việt Nam, làm vẻ vang cho phụ nữ Việt Nam và dân tộc Việt Nam.

Chuyện Hai Bà Trưng được Đại Nam quốc sử diễn ca kể rằng:

Chị em nặng một lời nguyền;

Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân;

Ngàn Tây nối áng phong trần;

Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên:

Hồng quần nhẹ bước chinh yên;

Đuổi ngay Tô Định dẹp yên biên thành.

Thư tịch cổ nhất của nước ta có chép chuyện Hai Bà Trưng là bộ Đại Việt sử lược. Sách này cho hay: “Trưng Trắc người huyện Mê Linh, con gái của quan Lạc tướng vùng này. Trưng Trắc lấy chồng người huyện Chu Diên, tên là Thi Sách. Người vợ tính rất hùng dũng, (Thi Sách) làm việc gì đó có sai phạm nên bị Thái thú Tô Định mượn pháp luật để trừng trị (sát hại). Bà Trưng Trắc giận quá, bèn cùng với em gái là Trưng Nhị khởi binh ở Phong Châu, đánh phá các quận huyện. Dân ở hai quận Cửu Chân và Nhật Nam đều hưởng ứng cả. Bà chiếm được 65 thành ở ngoài phía Nam của nhà Hán rồi tự lập làm Vua, đóng đô ở huyện Mê Linh”.

Thư tịch cổ thứ hai của nước ta có chép chuyện Hai Bà Trưng là bộ Đại Việt sử ký toàn thư do tiến sĩ Ngô Sĩ Liên và các sử thần thời Lê biên soạn. Sách này có mấy đoạn rất đáng chú ý về Hai Bà Trưng, như sau: “Năm Kỉ Hợi, đời Hán Quang Vũ Lưu Tú, niên hiệu Kiến Vũ năm thứ 15,Thái thú quận Giao Chỉ là Tô Định, chính sự tàn tạo và tham lam, Trưng Nữ Vương liền dấy binh để đánh”. “(Vua) tên quý là Trắc, họ Trưng, nguyên họ Lạc, con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh (Phong Châu), vợ của Thi Sách ở huyện Chu Diên. Thi Sách cũng là con Lạc tướng. Con hai nhà Lạc tướng kết hôn với nhau”. “Mùa xuân, tháng 2 (năm Canh Tí), Vua khổ vì Thái thú Tô Định dùng pháp luật trói buộc, lại thù Tô Định giết chồng mình, mới cùng với em gái là Nhị nổi binh đánh hãm trị sở các châu. Tô Định chạy về nước. Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố đều hưởng ứng. Trưng Trắc lấy được 65 thành rồi tự lập làm Vua”.

Ngoài Đại Việt sử lược và Đại Việt sử ký toàn thư, các thư tịch cổ tiếp sau của nước ta như Khâm định Việt sử thông giám cương mục và một số bộ dã sử khác cũng chép chuyện Hai Bà Trưng nhưng nhìn chung không có thông tin gì thêm.

Đọc các thư tịch cổ viết về Hai Bà Trưng, cảm giác đầu tiên thường có ở hầu hết mọi người là: chừng như tất cả chỉ mới dừng lại ở mức độ sơ bộ nhắc nhở về những sự kiện gắn liền với Hai Bà Trưng chứ chưa đủ để làm thoả mãn ý nguyện hiểu biết của hậu thế về hai nhân vật lịch sử kiệt xuất này. Sự bất nhất và sự giản lược của thư tịch cổ khiến cho người đọc lấy làm tiếc. Không còn cách nào khác, phương pháp phổ biến của giới sử học hiện đại vẫn là kết hợp chặt chẽ giữa việc phân tích và xử lí thư tịch cổ với việc tổ chức khảo sát trên một bình diện ngày càng rộng để tìm kiếm thêm các tài liệu có liên quan đến Hai Bà Trưng; trong đó, hai nguồn tài liệu mới hơn được các nhà sử học đặc biệt chú ý là các tờ thần tích và truyền thuyết dân gian.

Qua hàng ngàn năm lịch sử của dân tộc Việt Nam, Hai Bà được mọi thời đi đánh giá là tấm gương anh hùng liệt nữ, niềm kiêu hãnh của phụ nữ Việt Nam và của đất nước, dân tộc Việt Nam. Ðến nay Hai Bà vẫn được bao phong đời đời, lửa hương không dứt tại các đền thờ Hai Bà, tại các di tch khởi ngha và liên quan đến cuộc đời Hai Bà như Hát Môn, Hạ Lôi, Ðồng Nhân, …. Trong lịch sử, văn ha dân tộc Việt Nam, Hai Bà Trưng đã được truyền thuyết dân gian tiếp nối qua nhiều đời và là một chân lу́ chi ngời trong đời sống tâm linh người Việt./.

CỘNG ĐỒNG MẠNG VIỆT NAM CHUNG TAY VẼ BẢN ĐỒ VIỆT NAM TRÊN R/PLACE

 

R/place là một sự kiện lớn trên Internet của mạng xã hội Reddit được tổ chức mỗi năm một lần và được theo dõi bởi hàng triệu người trên khắp thế giới. Đây là nơi mọi người trên thế giới có thể cùng nhau vẽ lên những bức tranh pixel thể hiện cho cộng đồng của mình trên một mặt phẳng khổng lồ. Mỗi 5 phút thì mỗi cá nhân sẽ được chấm 1 pixel (màu tùy ý) trên mặt phẳng này, từ những điểm ảnh đó, bức tranh sẽ dần hoàn thiện. Dự án R/place là một khoảng màu trắng chứa hàng triệu pixel (điểm ảnh). Vậy nên, để hoàn thành một bức pixel siêu to là siêu khó và giữ nó không bị "xâm phạm" bởi hàng triệu người còn khó hơn gấp bội vì số lượng người cùng làm rất đông nên việc đồng bộ các khâu là không hề đơn giản, bên cạnh đó còn không ít trường hợp chấm nhầm hay cố tình vẽ phá.

Từ đêm 24/7/2023, với sự phát động của một streamer trong nước, cộng đồng mạng Việt Nam đã cùng nhau chung tay vẽ bản đồ đất nước hình chữ "S", cùng lời khẳng định: "Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam" trên R/place. Đến 7h00 sáng 25/7/2023, bản đồ Việt Nam có đủ 2 quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa cùng với hình ảnh chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đã chiếm một khoảng rất lớn trên R/place. Đây là điều chưa bao giờ Việt Nam làm được khi phải cạnh tranh với cộng đồng mạng các nước mạnh như Pháp, Mỹ, Maroc, …. Một bức tranh đủ lớn và có ý nghĩa như vậy sẽ được ghi nhận trên place-atlas (1 dạng bản đồ có thông tin của R/place). Theo đó, trên place-atlas có chú thích rằng: "Việt Nam là một nước ở Đông Nam Á, đây là một vùng đất đẹp và có lịch sử vẻ vang. Lá cờ của quốc gia này gồm nền đỏ và một ngôi sao vàng chói lọi. Biển xanh có Hoàng Sa và Trường Sa ...".

Có thể nói đây là bức tranh to nhất, giữ vững được lâu nhất và mang rất nhiều ý nghĩa về chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa cũng như tinh thần đoàn kết của cộng đồng mạng Việt Nam trên R/place. Đây là một món quà tri ân và vô cùng ý nghĩa hướng tới các ngày lễ 27/7, 19/8 và 02/9 năm nay. Khi chơi game, xem stream cũng là yêu nước!

 

SỰ THẬT LỊCH SỬ VỀ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

 

Gần đến kỷ niệm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9, trên các trang mạng tung ra một số bài của những người khác chính kiến phê phán Cách mạng tháng Tám, cho rằng, “không có cuộc cách mạng này, nước Việt Nam vẫn thống nhất”. Có bài viết “đề nghị lấy ngày 11/3/1945, ngày Chính phủ Nhật dựng lên Chính phủ Việt Nam do Hoàng đế Bảo Đại đứng đầu làm ngày Quốc khánh của Việt Nam, thay cho ngày 2/9/1945?”. Có bài viết so sánh nhiều nước ở Đông Nam Á có tiến hành Cách mạng tháng Tám đâu mà nước họ vẫn phát triển hơn Việt Nam, như Thái Lan, Singapore, Indonesia, .… Những luận điệu sai trái trên đây cần phải được phê phán vì nó phản ánh sai trái lịch sử. Việc lấy ngày 11/3/1945 làm ngày Quốc khánh của Việt Nam thay cho ngày 2/9/1945 thật là phi lý, vì chính quyền bù nhìn Bảo Đại có còn nữa đâu, cái thây ma đã ruỗng nát từ lâu rồi.

Chúng ta biết rằng, Cách mạng tháng Tám năm 1945 nổ ra ở Việt Nam là một cuộc Cách mạng mang tính thời đại và tinh thần dân tộc mãnh liệt, mở ra trang lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam. Nó đã đập tan chính quyền của thực dân và phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, đưa nhân dân ta từ người nô lệ thành người chủ thực sự của đất nước, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; đưa nước ta từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến thành một nước độc lập và dân chủ nhân dân; đưa Đảng ta từ một đảng hoạt động không hợp pháp, thành một đảng hoạt động hợp pháp, nắm chính quyền trong cả nước; đưa dân tộc ta tiến lên hàng đầu các dân tộc tiên phong trên thế giới. Rõ ràng, Cách mạng tháng Tám đã mở ra trang sử mới cho nhân dân Việt Nam, trang  sử hào hùng của dân tộc.

Cách mạng tháng Tám thành công năm 1945 là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác – Lênin ở một nước thuộc địa và nửa phong kiến, góp phần mở ra một thời kỳ sụp đổ của hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc thế giới. Cách mạng tháng Tám thành công chứng tỏ rằng, trong thời đại ngày nay, một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân và đội tiên phong là Đảng Cộng sản lãnh đạo, hoàn toàn có khả năng thắng lợi ở một nước thuộc địa bị ách thực dân, đế quốc thống trị xâm lược. Cách mạng tháng Tám thắng lợi đã đánh thẳng vào dinh lũy của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, làm đứt tung một khâu yếu nhất trong chuỗi xích của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, mở đường cho cách mạng giải phóng dân tộc phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở một nước nông nghiệp lạc hậu, không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Thành công của Cách mạng tháng Tám đánh dấu mốc son chói lọi của nghệ thuật lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, một đảng mới 15 tuổi (1930-1945) đã lãnh đạo cách mạng thành công, giành chính quyền trong cả nước; là cuộc khởi nghĩa vĩ đại của nhân dân ta, là sự kết hợp tài tình giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, một cuộc nổi dậy chưa từng có cả ở thành thị lẫn nông thôn mà đòn tiến công quyết định là cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn.

Cách mạng tháng Tám bắt đầu từ Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8, họp từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941, tại rừng Khuổi Nậm, thôn Pác Bó, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, tháng 5/1941, do Nguyễn Ái Quốc, đại biểu Quốc tế Cộng sản, chủ trì, với sự tham gia của các đồng chí Trường Chinh, quyền Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương, Hoàng Văn Thụ và Hoàng Quốc Việt là Ủy viên Thường vụ Trung ương Lâm thời Đảng Cộng sản Đông Dương, .… Hội nghị họp vào giữa lúc tình hình chính trị thế giới đầy biến động. Ở những nơi xa xôi như Cao Bằng, các đại biểu dự Hội nghị cũng nhận được những tin tức về việc Đức  ký hòa ước với Anh, lôi kéo Anh – Mỹ vào khối liên minh chống Liên Xô. Tình hình khẩn cấp đến nỗi chỉ một tháng sau đó, phátxít Đức bắt đầu tấn công Liên Xô. Thái độ của Mỹ, Anh lúc đó bộc lộ rất rõ: Nếu Đức thắng, họ sẽ giúp Nga, nếu Nga thắng thì sẽ giúp Đức. Âm mưu của họ là muốn để cho hai nước Đức, Nga chém giết lẫn nhau nhiều chừng nào hay chừng ấy. Điểm nút thắt ở chỗ tập đoàn phát xít – đế quốc muốn cho Liên Xô thất bại, nhằm thủ tiêu chế độ Xô viết. Trước tình hình nghiêm trọng xảy ra trên thế giới như vậy, Hội nghị thảo luận kỹ về tình hình quốc tế. Trung ương nhận định thấy rằng sự giống nhau giữa Chiến tranh thế giới thứ nhất với Chiến tranh thế giới thứ hai ở chỗ sự xâu xé quyền lợi giữa hai phe đế quốc (Đức, Ý, Nhật – Mỹ, Anh, Pháp), cả hai phe đều tham lam giành giật thuộc địa và thị trường của nhau. Cái chung giống nhau của họ còn thể hiện ở chỗ bắt các nước thuộc địa cung cấp nhân lực, tài lực, phục vụ cho chiến tranh và thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng. Hội nghị nhận định rằng, nếu Chiến tranh thế giới thứ nhất là một tiền đề dẫn đến Cách mạng tháng Mười Nga, thì Chiến tranh thế giới thứ hai sẽ là một tiền đề dẫn đến thắng lợi của nhiều cuộc cách mạng mới ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Về tình hình Đông Dương, Hội nghị nhận định rằng, từ khi khói lửa Chiến tranh thế giới thứ hai lan rộng, Đông Dương bị Pháp lôi cuốn vào vòng chiến, gây sự đổ nát về kinh tế và rối loạn về xã hội. Mối đe dọa của Pháp đang còn chống chất, thì bàn tay tàn bạo của phát xít Nhật đối với nhân dân Đông Dương ngày càng bóp chặt. Nhật tăng cường lục lượng quân sự trên bán đảo Đông Dương, hòng thôn tính Đông Dương. Chống lại chính sách thực dân, phát xít ở Đông Dương, Nghị quyết của Hội nghị nêu rõ các dân tộc ở Đông Dương chỉ có một con đường đoàn kết chống kẻ thù chung, giành độc lập dân tộc cho mỗi nước. Muốn vậy, các dân tộc Đông Dương phải tập hợp được các lực lượng, không phân biệt thợ thuyền, dân cày, phú nông, địa chủ, tư sản bản xứ, lương, giáo, … bất kỳ ai có lòng yêu nước, thương nòi, cần tập hợp dưới lá cờ cứu nước, đánh đuổi Nhật, Pháp xâm chiếm Đông Dương, giành độc lập cho các dân tộc ở Đông Dương. Riêng đối với dân tộc Việt Nam, sau khi đánh đuổi Pháp, Nhật “sẽ thành lập một nước Việt Nam dân chủ mới theo tinh thần tân dân chủ. Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của giai cấp nào mà là của chung của toàn thể dân tộc …”. Dân tộc Việt Nam cần đoàn kết chặt chẽ với các dân tộc khác trên bán đảo Đông Dương, giúp đỡ nhau về tinh thần và vật chất trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do của mỗi nước. Nghị quyết của Hội nghị quyết định khởi nghĩa vũ trang trong toàn thể các dân tộc trên bán đảo Đông Dương, trong đó có Việt Nam. Muốn có đủ lực lượng để khởi nghĩa vũ trang trong toàn quốc, Đảng Cộng sản Đông Dương phải mở rộng và củng cố các tổ chức cứu nước, vũ trang bằng những phương tiện có thể có để tiêu diệt kẻ thù xâm lược trên bán đảo Đông Dương. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 nhấn mạnh đến vấn đề giữ chính sách dân tộc, đại đoàn kết, vì chính sách ấy “hợp với nguyện vọng của toàn thể nhân dân, hợp với nguyện vọng của các giai cấp, các dân tộc ở Đông Dương, hợp với cuộc tranh đấu chung của toàn thế giới chống phát xít và xâm lược, cuộc cách mạng Đông Dương mới thành công chắc chắn được”. Để đoàn kết toàn dân đấu tranh, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh vào ngày 19/5/1941 - ngày bế mạc Hội nghị. Hội nghị bầu Ban lãnh đạo mới của Đảng. Ban Thường vụ Trung ương chính thức gồm Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, do Trường Chinh làm Tổng Bí thư.

Sau Hội nghị Trung ương 8, tháng 5/1941, mọi công tác chuẩn bị khởi nghĩa được tiến hành gấp. Ngày 23/3/1945, Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra Chỉ thị “Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, do Tổng Bí thư Trường Chinh trực tiếp soạn thảo. Tư tưởng chỉ đạo có tính chất bao trùm của Chỉ thị thực chất là chương trình hành động cách mạng của nhân dân ta. Cần hành động ngay, hành động kiên quyết, nhanh chóng, sáng tạo, chủ động, táo bạo, không chịu bó tay khi tình thế biến chuyển thuận lợi, đẩy mạnh cao trào kháng Nhật, cứu nước tiến đến tổng khởi nghĩa, “Thắng lợi cuối cùng nhất định về tay chúng ta!”. Cùng với Chỉ thị là Hiệu triệu của Việt Minh kêu gọi đồng bào cả nước đứng lên chống Nhật (sau khi Pháp đã đầu hàng) bằng các hình thức biểu tình, thị oai, bãi công, bãi thị, bãi khóa, phá đường giao thông, kho tàng, đánh đồn, chặn các đội quân tuần tiễu của Nhật, chặn bàn tay của của chúng lại, không để cho chúng tác oai, tác quái. Toàn dân tuốt gươm, chĩa súng, giết giặc, trừ gian, dựng lên một nước Việt Nam độc lập và tự do.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, sự chỉ đạo kịp thời của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Tổng Bí thư Trường Chinh, khắp các địa phương đã nổi dậy giành chính quyền về tay nhân dân, dẫn đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 tại Việt Nam. “Tuyên ngôn độc lập” do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo và đọc tại Lễ độc lập ở vườn hoa Ba Đình, Hà Nội, chiều ngày 2/9/1945, đã chính thức tuyên bố nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, ra đời.

Sau Cách mạng tháng Tám, đất nước phải trải qua 9 năm kháng chiến chống Pháp và 20 năm chống Mỹ xâm lược, cuối cùng đã giành được độc lập, tự do, giang sơn thu về một mối, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa trong phạm vi cả nước như ngày hôm nay.

Mọi luận điệu xuyên tạc sự thật lịch sử về Cách mạng tháng Tám nhất định sẽ bị dư luận xã hội lên án./.