Thứ Hai, 28 tháng 8, 2023

NHẬN DIỆN ÂM MƯU CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG TRÊN MÔI TRƯỜNG MẠNG XÃ HỘI

 


Trong những năm trở lại đây, mạng xã hội đang ngày càng phát triển và trở thành một nhu cầu thiết yếu của nhiều người. Tuy nhiên, mạng xã hội như “con dao hai lưỡi”, một mặt mang lại rất nhiều tiện ích cho con người, thúc đẩy sự phát triển trên nhiều lĩnh vực; mặc khác, với tính chất “mở”, mạng xã hội trở thành môi trường thuận lợi để các thế lực thù địch, phản động tiến hành thực hiện các âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Điều này đặt ra không ít thách thức trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên, chủ trương, đường lối của Đảng, thành quả của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, việc ngăn chặn, đẩy lùi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động trên môi trường mạng xã hội là vấn đề cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.Hoạt động chống phá của các đối tượng phản động có nhiều nột mới, phức tạp hơn; cường độ, phạm vì chống phỏ tăng; việc sử dụng các công cụ của một cuộc “cách mạng màu”, đặc biệt là Internet, mạng xã hội được đẩy mạnh. Các tổ chức phản động lưu vong liên kết chặt chẽ với số chống đối trong nước điều chinh phương thức, thủ đoạn chống phá theo hướng kết hợp giữa “đấu tranh bất bạo động” với sử dụng bạo lực, hoạt động manh động, khủng bố phá hoại, nhằm tạo bất ổn bên trong, tạo đà thúc đẩy “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” ở Việt Nam. Gia tăng các hoạt động liên kết, phối hợp trong - ngoài, giữa phản động lưu vong với số chống đối, bất món bên trong, số cực đoan trong Tôn giáo, dân tộc, luật sư “cấp tiến”, “xã hội dân sự”... để tiến hành các hoạt động chống phá.

        Để tạo dựng lực lượng chống đối trong nước, các đối tượng phản động triệt để sử dụng Internet, mạng xã hội để móc nối, lôi kéo người tham gia tổ chức; tiến hành huấn luyện, giao nhiệm vụ và chỉ đạo hoạt động. Thành phần móc nối, gây dựng cơ sở, tác động ảnh hường mở rộng vào hầu hết các giai tầng xã hội, trọng tâm là thanh niên, sinh viên, luật sư, trí thức, văn nghệ sĩ có quan điểm bất mãn chế độ, thậm chí cả cán bộ, đảng viên có dấu hiệu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; địa bàn tác động cả thành thị, nông thôn, duyên hải, các vùng chiến lược, địa bàn vùng giáo, các khu công nghiệp, khu kinh tế tập trung. Thời gian gần đây, có xu hướng đi vào số đối tượng lưu manh, hình sự để thực hiện âm mưu khủng bố, gây rối an ninh, trật tự.

Liên tục triển khai các “chiến dịch truyền thông”, chiếm lĩnh “trận địa” mạng xã hội, truyền thông “lề trái” để tuyên truyền phá hoại tư tường, làm giảm sút, từng bước xói mòn lòng tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước; tác động phá hoại nội bộ bằng nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hơn. Từng bước xây dựng nền tảng cho tình trạng “bất tuân dân sự”, tâm lý sẵn sàng biểu tình phản đối chỉnh sách pháp luật, coi thường kỷ cương pháp luật, chuẩn bị cơ sở tiến hành “cách mạng màu” thay đổi chế độ.

Thứ nhất , tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với nhiệm vụ bảo vệ an ninh mạng. Hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về quản lý không gian mạng quốc gia phù hợp với xu thế phát triển, tạo môi trường không gian mạng lành mạnh.

Trong tình hình mới, để quản lý tốt, cần có sự phối, kết hợp đồng bộ, thống nhất và phù hợp của các tổ chức, cơ quan quản lý nhà nước và các bộ, ban, ngành, địa phương về bảo vệ an ninh, an toàn thông tin, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Đồng thời, các cơ quan quản lý cần xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách đồng bộ, tạo hành lang pháp lý đầy đủ, minh bạch, bảo đảm môi trường mạng xã hội lành mạnh, trong sạch. Cần có các giám sát phù hợp với các công ty đang hoạt động trên môi trường in-tơ-nét, đặc biệt là các doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ mạng xã hội và truyền thông xã hội; có các điều kiện trong quản lý các hoạt động trên in-tơ-nét đảm bảo chủ quyền, lợi ích và an ninh quốc gia. Bên cạnh đó, cần tổ chức các hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý việc thực hiện các quy định của pháp luật.

Cần có chế tài và biện pháp xử lý nghiêm minh, có tính răn đe để cảnh báo cũng như kịp thời xử lý nghiêm những hành vi vi phạm. Có biện pháp ngăn chặn và đẩy lùi những trang mạng có nội dung xấu độc, chống phá Đảng, Nhà nước, kết hợp với chủ động cung cấp thông tin, tăng cường giải thích, đối thoại, tháo gỡ khó khăn kịp thời những khó khăn, vướng mắc của nhân dân. Khắc phục hiệu quả những hạn chế, bất cập, không để hình thành “điểm nóng”, tiêu cực trên mạng xã hội.

Thứ hai , nhìn nhận đúng tính chất hai mặt của mạng xã hội, nhất là mặt tiêu cực để đưa ra giải pháp ngăn chặn có hiệu quả những hành vi lợi dụng mạng xã hội để tác động đến ổn định chính trị; nâng cao nhận thức, trách nhiệm và ý thức cho người sử dụng.

Để phát huy thế mạnh cũng như ngăn ngừa, khắc phục những mặt tiêu cực của mạng xã hội, cần phải nhìn nhận đúng về mạng xã hội ở cả hai mặt tích cực và tiêu cực, nhận diện và quản lý những tác nhân gây ảnh hưởng để có phương thức ứng xử phù hợp với tinh thần chủ động, tích cực, linh hoạt, an toàn, hiệu quả. Chú trọng tăng cường các biện pháp tuyên truyền nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức, trách nhiệm khi tham gia các nền tảng mạng xã hội cho người dùng. Tiếp tục thực hiện tốt Luật An ninh mạng năm 2018, Quy tắc sử dụng mạng xã hội của người làm báo Việt Nam (của Hội Nhà báo Việt Nam), Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội (theo Quyết định số 874/QĐ-BTTTT, ngày 17-6-2021, của Bộ Thông tin và Truyền thông). Đặc biệt, giáo dục định hướng giá trị để người dân khi sử dụng mạng xã hội, trong đó hết sức quan tâm đến lực lượng thanh, thiếu niên - là lực lượng tích cực nhất trên các mạng xã hội có ý thức cảnh giác, chủ động kiểm chứng thông tin để nhận diện đúng - sai, nâng cao “sức đề kháng” để có thể bảo vệ những giá trị của bản thân, của cộng đồng và dân tộc trước những thông tin không chính xác, dung tục, phản cảm, thông tin có ý đồ xấu.

Kịp thời chấn chỉnh trật tự, kỷ cương, chủ động đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Cần xử lý nghiêm minh các hành vi lợi dụng mạng xã hội phát tán thông tin sai lệch, có nội dung xấu, độc, sai sự thật về Đảng, Nhà nước và chế độ. Có biện pháp ngăn chặn, triệt phá, vô hiệu hóa các thông tin xấu, độc, sai sự thật trên các nền tảng mạng xã hội.

Thứ ba , sử dụng ưu thế của mạng xã hội trở thành phương tiện, cách thức hữu hiệu đấu tranh, phản bác thông tin sai lệch.

Cần tận dụng, phát huy vai trò tích cực của mạng xã hội để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Các cơ quan chức năng cần chủ động cung cấp kịp thời các thông tin chính thống, mang tính định hướng để chủ động “phản bác” thông tin sai lệch, giành ưu thế trong cuộc chiến tranh mạng. Lựa chọn một số luận điểm, có ảnh hưởng tư tưởng lớn, từ đó chủ động đấu tranh với nhiều hình thức phong phú. Sử dụng ngôn từ chuẩn xác, lập luận mạch lạc, khúc chiết.

Phát huy vai trò của các cá nhân và tổ chức, nhất là những người điều hành website, blog, fanpage, các nhân vật nổi tiếng, có sức ảnh hưởng trên mạng xã hội, có khả năng thu hút người xem, nghe, bình luận, chia sẻ để xây dựng môi trường không gian mạng lành mạnh. Tăng cường và đa dạng hoá các hình thức truyền tải các thông tin tích cực về thành tựu trong công cuộc đổi mới đất nước; những tấm gương người tốt, việc tốt; những giá trị truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc nhằm lan toả những điều tích cực đến mọi người với phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, ngăn chặn, đẩy lùi những tác động tiêu cực trước các quan điểm sai trái, thù địch.

                                                                                                                                    N.T.T

 

 

KHẮC PHỤC TỆ LAN MAN, LẤP LIẾM

 Tổ chức cuộc họp bàn giải quyết những vấn đề đời sống, thực tiễn đặt ra là yêu cầu tất yếu trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành. Song để cuộc họp đạt chất lượng, đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn của mỗi đơn vị, cá nhân, đặc biệt là cần khắc phục được tình trạng cán bộ mắc tệ lan man, lấp liếm khi tham gia hội họp.

Hiện nay, chất lượng các hội nghị, cuộc họp ở nhiều cấp, ngành ngày càng được nâng lên.
Tiêu biểu là các hội nghị do Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, Quốc hội tổ chức. Không chỉ rút ngắn thời gian, nhờ đổi mới tư duy, nhất là trong công tác điều hành của chủ tọa, các cuộc họp đã đi thẳng vào vấn đề. Sau các cuộc họp đều có kết luận cụ thể, rõ ràng và công bố công khai trên phương tiện thông tin đại chúng. Đặc biệt, nhờ áp dụng hình thức trực tuyến, các hội nghị quán triệt, triển khai nghị quyết, chủ trương lớn của Trung ương được tổ chức với quy mô toàn quốc, có sự tham gia của số lượng lớn đại biểu.
Ví dụ, hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt các nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) diễn ra tháng 12-2022 bằng hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, đã kết nối từ điểm cầu trung ương tới 11.632 điểm cầu trên toàn quốc với hơn 1 triệu cán bộ, đảng viên tham gia. Cách làm đổi mới này đã góp phần tiết kiệm rất lớn cho ngân sách và thời gian cho các cấp địa phương; đồng thời bảo đảm thống nhất, đồng bộ trong nhận thức từ Trung ương xuống cơ sở...
Từ sự gương mẫu của Trung ương, xuống các địa phương, chất lượng hội họp cũng được quan tâm, tập trung đổi mới gắn với nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Trước đây, họp tập trung tại một điểm cấp tỉnh chỉ có khoảng hơn 200 cán bộ chủ chốt tham dự. Nhưng hiện nay, nhờ tổ chức trực tuyến, hội nghị được kết nối tới gần 600 điểm cầu với sự tham gia của gần 9.000 đại biểu từ tỉnh xuống các phường, xã, thị trấn. Nhờ đó, những quan điểm chỉ đạo của lãnh đạo tỉnh được chuyển tải trực tiếp xuống cơ sở.
Tuy nhiên, như đã đề cập, trong nhiều cuộc họp ở cả cấp tỉnh và phổ biến ở cấp huyện, cấp xã vẫn còn tình trạng lan man, kể lể trong phát biểu của không ít cán bộ, thậm chí có hiện tượng dùng báo cáo thành tích để lấp liếm, né tránh yêu cầu giải trình của chủ tọa. Nhiều trường hợp cán bộ không tuân thủ quy định thời gian phát biểu, không đi vào trọng tâm, còn nặng về "kính thưa", "kính gửi", báo cáo tình hình, bối cảnh, diễn giải quá trình… thay vì đi thẳng vào nội dung chính, tập trung vào hạn chế, yếu kém còn tồn tại, đề xuất giải pháp khắc phục... Có trường hợp, chủ tọa vài lần nhắc nhở vẫn “ngó lơ”, hồn nhiên tiếp tục kể lể, trình bày...
Cách tham gia hội họp như thế vô hình trung làm giảm không khí nghiêm túc của cuộc họp, gây khó chịu cho người tham gia, ảnh hưởng lớn đến chất lượng, hiệu quả chung. Xét về tư cách cán bộ, tham gia hội họp như vậy còn là biểu hiện thiếu trách nhiệm, gián tiếp gây lãng phí tiền của Nhà nước, công sức, thời gian của chung; ảnh hưởng đến tâm lý, tinh thần làm việc của người khác.
Để khắc phục tật xấu này trong đội ngũ cán bộ, nhất thiết, các cấp, ngành, trước hết là trong cấp ủy tổ chức Đảng phải chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng hội họp nói riêng và nâng cao hiệu quả công việc nói chung. Mỗi hội nghị, cuộc họp khi tổ chức phải rõ mục tiêu, nhiệm vụ, giải quyết được những vấn đề đặt ra; cần lấy “thước đo” chủ yếu là sản phẩm, hiệu quả thực thi các nhiệm vụ chính trị, là phục vụ nhân dân, là tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đang đặt ra, khắc phục những hạn chế, yếu kém đang tồn tại...
Các cuộc họp cần được tổ chức trên cơ sở cắt giảm tối đa về mặt lễ nghi không cần thiết, đổi mới khâu trình bày báo cáo như áp dụng mô hình “slide” thuyết trình, video; gửi và đề nghị đại biểu đọc trước tài liệu, khi vào cuộc họp là tiến hành thảo luận ngay. Người chủ tọa điều hành cuộc họp có vai trò quyết định đối với chất lượng cuộc họp, cần kiên quyết, quyết liệt đặt chất lượng lên hàng đầu, không chấp nhận “du di” bỏ qua cho bất kỳ biểu hiện nào của tệ lan man, lấp liếm; sẵn sàng yêu cầu đại biểu đi thẳng vào vấn đề, cần thiết phải phê bình, chấn chỉnh ngay.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhất là đối với cán bộ chủ chốt cần phải có riêng chương trình, nội dung được thiết kế chuyên sâu về điều hành hội nghị, cuộc họp, cập nhật những hình thức tổ chức hội nghị mới hiện nay. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng cần quan tâm hình thành văn hóa trong tham gia hội họp, hướng tới xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngày càng chuyên nghiệp, có tác phong quy củ, chuẩn mực.
Đồng thời, các cấp ủy Đảng, cơ quan, đơn vị, tổ chức nên xây dựng quy chế, quy định về trách nhiệm cụ thể đối với cán bộ, công chức khi tham gia hội họp gắn với công tác chấm điểm, đánh giá cán bộ. Hiện nay, một số địa phương như tại quận Long Biên đã đưa vào áp dụng bộ tiêu chí đánh giá sự chuyên nghiệp của cán bộ, công chức, trong đó có những nội dung liên quan đến trách nhiệm trong tham gia hội họp. Đây là mô hình hoàn toàn có thể nghiên cứu, nhân rộng.
Xét cho cùng, hội họp là một hình thức rất quan trọng trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy tổ chức Đảng. Muốn nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, các cấp ủy tổ chức Đảng nhất định phải đổi mới nâng cao chất lượng hội họp; mà một trong những điểm mấu chốt là khắc phục bằng được những tật xấu liên quan, trong đó có tệ lan man, lấp liếm./.
Báo Nhân dân

KINH TẾ KẾT HỢP QUỐC PHÒNG: NGUỒN NỘI LỰC QUAN TRỌNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

 Quân đội làm gì, làm như thế nào để tham gia lao động sản xuất kết hợp với quốc phòng? Đó là những vấn đề được đặt ra tại Hội thảo Đề án Quân đội tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng trong tình hình mới do Bộ Quốc phòng tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh mới đây.

Làm rõ vai trò của quân đội trong kết hợp kinh tế và quốc phòng
Thượng tướng Vũ Hải Sản, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng BCĐ xây dựng đề án cho biết, từ khi thành lập, cùng với nhiệm vụ chiến đấu huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu, toàn quân sẵn sàng tham gia lao động sản xuất phù hợp với điều kiện từng địa phương đơn vị, góp phần xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân vững chắc; là nguồn lực quan trọng trong phát triển đất nước, tạo tiền đề vững chắc xây dựng quân đội tinh nhuệ, hiện đại.
Đến nay, nhiều chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế chưa được thể chế hóa đầy đủ, đồng bộ để quân đội tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế; nên việc triển khai thực hiện gặp khó khăn, bất cập cả về môi trường pháp lý, cơ chế quản lý và phương thức kết hợp; nhiều tiềm năng, thế mạnh của quân đội chưa được khai thác và phát huy hiệu quả, gây lãng phí.
Trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, rất cần có nhận thức đúng đắn, thống nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị với nhiệm vụ quân đội tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế. Vì vậy, cần phải làm rõ nội dung quân đội làm gì, làm như thế nào để tham gia lao động sản xuất kết hợp với quốc phòng trong tình hình mới.
Đề án “Quân đội tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng trong tình hình mới” với mục tiêu định hướng rõ các nhiệm vụ, giải pháp tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng của quân đội. Cùng với đó, nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước và các chiến lược quân sự, quốc phòng. Ngoài ra, củng cố, tăng cường nền quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc trên các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên cơ sở bố trí lực lượng sản xuất theo cơ cấu ngành, vùng lãnh thổ.
Dự thảo đề án có 5 phần chính, đã tiếp thu tối đa các ý kiến đóng góp và đạt được sự đồng thuận cao cả về bố cục, nội dung...; một số ý kiến khác được cơ quan soạn thảo tiếp thu, giải trình, làm rõ để xây dựng, hoàn thiện đề án.
Tổ chức các doanh nghiệp quân đội theo hướng “lưỡng dụng” tinh
Tham luận tại Hội thảo, TS Trần Du Lịch, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia khẳng định vai trò quan trọng của quân đội trong tham gia vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bởi quá trình này góp phần thay đổi vận mệnh của cả dân tộc.
Ông Lịch mong muốn quân đội đầu tư vào lĩnh vực đóng tàu phục vụ cả về quân sự lẫn dân sự vì lợi ích quốc gia, dựa trên những lợi thế đại dương. Ngành công nghiệp quốc phòng và ngành công nghiệp đóng tàu phải là lĩnh vực mà quân đội cần tham gia. “Quân đội tập trung nguồn lực để làm và cần tránh thất bại như trường hợp của Vinashin”, ông Lịch lưu ý.
Ngoài ra, quân đội cũng cần tập trung phát triển các doanh nghiệp quốc phòng có năng lực cao, đủ năng lực sản xuất các loại vũ khí, thiết bị hiện đại, sản phẩm lưỡng dụng có sức cạnh tranh quốc tế và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, dẫn dắt nền kinh tế đất nước trên một số lĩnh vực; đầu tư mạnh lĩnh vực công nghệ cao, các mô hình nhà máy thông minh, tự động hóa; robot, tr.í t.uệ nh.ân t.ạo, in 3D…
Khẳng định vai trò của quân đội trong tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng, Trung tướng Nguyễn Anh Tuấn, Phó Giám đốc Học viện Quốc phòng nhấn mạnh, sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã tham mưu đề xuất với Đảng, Nhà nước về chủ trương và tổ chức thực hiện điều chuyển gần 280.000 quân sang lao động sản xuất, xây dựng kinh tế.
Quân đội đã tham gia xây dựng hầu hết những công trình lớn của quốc gia như: Tuyến đường sắt thống nhất Bắc - Nam, Nhà máy thủy điện Hòa Bình... Cùng với đó, các đoàn kinh tế quốc phòng làm nòng cốt trong xóa đói, giảm nghèo, từng bước phát triển thành vùng kinh tế, thành lập các khu dân cư với những mô hình phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp; xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, xây dựng các công trình quân sự, quốc phòng trọng yếu, các công trình ở các địa bàn khó khăn mà các doanh nghiệp dân sự khó thực hiện.
Cũng theo ông Tuấn, tình hình mới đặt ra cho quân đội tổ chức các doanh nghiệp quân đội, tập đoàn công nghiệp quốc phòng mạnh. Qua đó, tập trung vào các ngành công nghiệp mũi nhọn, hiện đại, trên các địa bàn chiến lược trọng điểm quốc phòng, an ninh. Đồng thời, tổ chức các doanh nghiệp quân đội, tập đoàn công nghiệp theo hướng “lưỡng dụng” tinh, gọn, mạnh, hoạt động hiệu quả, thực sự có năng lực về công nghệ và quản trị, đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp trong và ngoài nước…
Theo Phó Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh Dương Anh Đức, trên địa bàn TP có 14 khu công nghiệp, 3 khu chế xuất, 1 khu công nghệ cao, 1 khu nông nghiệp công nghệ cao; có gần 500.000 doanh nghiệp với số vốn hơn 9,2 triệu tỷ đồng. TP đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp lồng ghép giữa các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường xây dựng, hoạt động khu vực phòng thủ. Trong đó, hình thành nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp có tính lưỡng dụng, sẵn sàng huy động, chuyển giao công nghệ phục vụ sản xuất quốc phòng. Các công trình quốc phòng, hệ thống giao thông… được quy hoạch, quản lý chặt chẽ, hình thành thế trận liên hoàn, bảo đảm sẵn sàng chuyển địa phương từ thời bình sang thời chiến.
Đồng tình với các ý kiến trên, Thượng tướng Trần Đơn, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng cho rằng, đề án là một nội dung rất quan trọng, cấp bách trong giai đoạn hiện nay. Thực hiện đề án là cơ sở để quân đội tiếp tục phát huy truyền thống hoàn thành thắng lợi chức năng, nhiệm vụ là “đội quân lao động sản xuất” chủ động tạo nguồn lực vững chắc, bảo đảm cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”./.
Báo Pháp luật Việt Nam

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, BẢO VỆ THÀNH QUẢ CÁCH MẠNG THÁNG 8/1945 LÀ TRÁCH NHIỆM CỦA MỖI CÔNG DÂN

 Thành quả của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không chỉ được Đảng, Nhân dân ta nỗ lực phấn đấu để có được mà còn được bạn bè và cộng đồng quốc tế ghi nhận. Thế nhưng, đây đó vẫn có những luận điệu lạc lõng của một số kẻ xấu, cơ hội chính trị với ý đồ xuyên tạc sự thật lịch sử.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của Nhân dân ta từ khi có Đảng lãnh đạo, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Từ đây, đất nước, xã hội, dân tộc và con người Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Tuy nhiên, dịp kỷ niệm các sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước, của dân tộc cũng là dịp các thế lực xấu, thù địch, phần tử cơ hội chính trị điên cuồng chống phá. Xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Tám, các thế lực thù địch tung lên internet, mạng xã hội nhiều bài viết với giọng điệu rằng: “Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sai lầm lịch sử”, “không có gì thay đổi chế độ xã hội ở Việt Nam, chẳng qua chỉ là thay từ chế độ “vua trị” sang chế độ “đảng trị””(!)... Chúng còn cho rằng những thắng lợi mà Đảng ta, Nhân dân ta đã đổ xương máu để giành được “đó là sự ăn may, vì Nhật thua trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chứ Đảng Cộng sản Việt Nam chẳng có tài cán gì”; rằng “do khoảng trống quyền lực, nên Việt Nam dễ giành được kết quả nhanh chóng”(!).
Một số lại cho rằng, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 “là nguyên nhân dẫn đến hai cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam”; “nếu không có Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước ta đã giàu mạnh từ lâu và không mất dân chủ như bây giờ”...
Từ cách nhìn ấu trĩ và giản đơn, chúng đưa ra lập luận Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công không phải là do sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, không phải là kết tinh sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc, mà thành công đó là một sự “may mắn” do điều kiện lịch sử tạo ra. Đây chính là những luận điệu sai trái, phi thực tế, phản khoa học, hoàn toàn bịa đặt nhằm hạ thấp ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Thực tế lịch sử đã chứng minh, để Cách mạng Tháng Tám giành thắng lợi trong mùa thu lịch sử năm 1945, bằng trí thông minh, tinh thần cách mạng triệt để, nghệ thuật lãnh đạo và phương pháp cách mạng khoa học, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo Nhân dân ta trải qua 3 cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc vô cùng gian khổ, khốc liệt, với ba cao trào cách mạng: Cao trào cách mạng 1930 - 1931, với đỉnh cao là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, Cao trào cách mạng đòi dân sinh, dân chủ (1936 - 1939) và Cao trào cách mạng giải phóng dân tộc (1939 - 1945). Trong thời khắc quyết định của lịch sử dân tộc, Người đã ra lời kêu gọi tổng khởi nghĩa: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta...”.
Để giành thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, ngay từ năm 1939, Đảng ta đã trực tiếp chuẩn bị cả về đường lối, căn cứ địa và lực lượng cách mạng để tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến. Đảng ta xác định phải xây dựng căn cứ địa cách mạng vững chắc ở Bắc Sơn, Cao Bằng, với các tên gọi khác nhau. Đặc biệt, chúng ta đã xây dựng Việt Bắc thành căn cứ địa hoàn chỉnh; là “hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam”; trong đó, Tuyên Quang được xác định là “Thủ đô kháng chiến”. Việc xây dựng căn cứ địa vững chắc nhằm “tạo thế” quan trọng để Tổng khởi nghĩa đi đến thắng lợi sau này.
Hoàn cảnh lịch sử thời điểm tháng 8/1945 đã tạo ra thời cơ vàng để cả dân tộc đứng lên làm một cuộc cách mạng giành độc lập, tự do. Đây là thời điểm mà quân Nhật đã thất bại tuyên bố đầu hàng Đồng minh vào ngày 15/8/1945. Thời khắc này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đây là một thời cơ quý và hiếm nếu bỏ qua thì không bao giờ có nữa”, đồng thời Người nhấn mạnh: “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập dân tộc”. Mặc dù thời điểm này tạo điều kiện khách quan chín muồi, khi quân Nhật hoảng loạn, quân Pháp chưa đủ sức quay lại, chính quyền tay sai hoang mang cực độ. Tuy nhiên, nếu không có sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, đã lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam, triệu người như một, đồng lòng theo Đảng đứng lên bẻ gãy gông xiềng lệ thuộc, tự giải phóng mình, thì làm sao có được cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã khẳng định tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta, trước hết và chủ yếu là do đường lối chiến lược và sách lược của Đảng đúng đắn ngay từ đầu, bảo đảm thông suốt và quán triệt đường lối đó trong thực tiễn chuẩn bị khởi nghĩa và khởi nghĩa, làm cho Đảng ngày càng vững mạnh và ăn sâu bám rễ trong quần chúng, gắn sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại theo lời kêu gọi Tổng khởi nghĩa Tháng Tám của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì có đoàn kết mới có lực lượng, có lực lượng mới giành được độc lập, tự do”.
Thắng lợi này đã khơi nguồn để Đảng ta khởi xướng công cuộc đổi mới đất nước đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đời sống Nhân dân được được nâng lên, vị thế, uy tín của đất nước ngày càng nâng cao trên trường quốc tế. Đặc biệt, qua 36 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 31 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống Nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.
Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử kết tinh sức sáng tạo của Đảng và Nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Những thành tựu trên đã bác bỏ sự vu cáo, bịa đặt hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, cố tình phủ nhận những thành quả cách mạng mà Đảng và Nhân dân ta đã đạt được. Đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, bảo vệ thành quả cách mạng tháng 8/1945 là trách nhiệm của mỗi công dân./.

THỦ TƯỚNG: KHÔNG GIAN MẠNG ĐÃ TRỞ THÀNH KHÔNG GIAN CHIẾN LƯỢC

 Thủ tướng nêu rõ, an toàn, an ninh mạng phải là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, lâu dài nhằm duy trì môi trường lành mạnh, tin cậy cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân, song hành với phát triển kinh tế-xã hội.

Chiều 25/8, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo an toàn, an ninh mạng quốc gia đã chủ trì phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo.
Tại phiên họp, Thủ tướng nêu rõ, không gian mạng đã trở thành không gian chiến lược; phải chủ động ứng phó với các thách thức từ không gian mạng, không để bị động, bất ngờ. Đồng thời, phải có sự tham gia, vào cuộc của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp, người dân; trong đó Ban Chỉ đạo, Văn phòng Ban Chỉ đạo, các Tiểu ban An toàn, An ninh mạng, các lực lượng bảo đảm an toàn, an ninh mạng là nòng cốt, là trực tiếp.
Theo Thủ tướng, chúng ta đang đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng nền kinh tế số, xã hội số và công dân số, trong đó có nhiệm vụ triển khai Đề án 06 về phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia. Do đó, an toàn, an ninh mạng phải là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, lâu dài nhằm duy trì môi trường mạng an toàn, lành mạnh, tin cậy cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân, song hành với phát triển kinh tế-xã hội.
Để thực hiện công tác bảo đảm an toàn, an ninh mạng quốc gia có hiệu quả trong thời gian tới, Thủ tướng nhấn mạnh, nhiệm vụ bảo vệ an toàn, an ninh mạng cho Đảng, Nhà nước, cho nhân dân, cho doanh nghiệp là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng trong điều kiện, bối cảnh hiện nay.
Công tác bảo đảm an toàn, an ninh mạng phải thực hiện một cách thường xuyên, liên tục, cả về nâng cao nhận thức, cả về ý thức trách nhiệm, cả về tổ chức thực hiện một cách hiệu lực, hiệu quả, đầu tư thỏa đáng các hạ tầng thiết yếu. Cùng với đó, xây dựng các cơ chế chính sách đặc thù, đặc biệt trong thu hút nguồn lực, cơ sở vật chất, hạ tầng và đẩy mạnh hợp tác công tư; tự chủ, tự lực, tự cường trong bảo vệ an toàn, an ninh, chủ quyền trên không gian mạng.
Thủ tướng cũng lưu ý, cần có chiến lược quốc gia về an ninh dữ liệu; đồng thời, phải có kế hoạch tích hợp, khai thác, chia sẻ, phân tích, xử lý thông tin, dữ liệu phục vụ công tác phát triển kinh tế, xã hội. Tăng cường triển khai các giải pháp bảo đảm an ninh mạng và đấu tranh phòng, chống tội phạm trên không gian mạng; đấu tranh ngăn chặn sớm hoạt động tấn công mạng, âm mưu, hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước trên không gian mạng. Tổ chức tốt diễn tập về phòng, chống tấn công mạng cấp quốc gia.
Ngay sau phiên họp này, Thủ tướng đề nghị các thành viên tiếp tục tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, để công tác bảo đảm an toàn, an ninh mạng chuyển biến mạnh mẽ hơn, thực chất hơn, hiệu quả hơn./.
Báo Tiền Phong

NHẬN DIỆN ÂM MƯU CHỐNG PHÁ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 


Thời đại công nghệ số 4.0 làm thay đổi tư duy, nhận thức, tư tưởng, tình cảm của con người với thế giới chung quanh. Con người tiếp cận với tri thức nhanh chóng hơn, mở ra khả năng tương tác; phương thức tác động của chính quyền với người dân đa dạng hơn, nhất là thông qua mạng xã hội. Từ những tiến bộ về khoa học và công nghệ sẽ xuất hiện nhiều hơn một số xu thế mang tính phổ quát bên cạnh những giá trị chung, truyền thống trong quan hệ xã hội ở các quốc gia nói chung với nhiều mức độ, đặc điểm khác nhau. Cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái thù địch hiện nay đối diện nhiều khó khăn, phức tạp do việc các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị triệt để lợi dụng công nghệ số để xuyên tạc, hướng lái, lan toả thông tin xấu độc với các thủ đoạn nguy hiểm. Những âm mưu, thủ đoạn phá hoại trong thời đại số

          Đó là xu thế dân chủ hóa đi đôi với cá thể hóa; xu thế đổi mới quản lý, quản trị quốc gia và trách nhiệm giải trình (chuyển đổi hệ thống hành chính mạnh mẽ sang chính phủ điện tử; phân cấp, phân quyền, minh bạch hóa thông tin; tăng cường nguồn lực cho bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả); xu thế tăng cường vai trò giám sát của người dân đối với hoạt động của bộ máy công quyền. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, các hoạt động phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn công nghệ số được các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị triệt để lợi dụng, thực hiện tinh vi và xảo quyệt, nguy hiểm hơn.

Tình hình mới đan xen giữa thời cơ và nguy cơ đòi hỏi phải có nhận thức mới có tính biện chứng, sâu sắc và khách quan. Nhận thức mới sẽ đưa đến những nhiệm vụ mới, lý luận mới, phương pháp đầy sức sáng tạo trong sự nghiệp bảo vệ ANQG nhằm tận dụng, khai thác những yếu tố thuận lợi và hạn chế những khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch, cơ quan tình báo nước ngoài đã triệt để lợi dụng bối cảnh tình hình và chính sách mở cửa, hội nhập sâu rộng của Việt Nam để tiến hành các hoạt động xâm phạm lợi ích, an ninh quốc gia của ta. 

Trong xu thế hội nhập, Việt Nam tham gia ngày càng sâu trong các kênh hợp tác song phương và đa phương trên nhiều lĩnh vực, làm nảy sinh nhu cầu của các thế lực thù địch, cơ quan tình báo nước ngoài thu thập thông tin tình báo nhằm phục vụ thực hiện ý đồ chính trị với nước ta. Đồng thời cũng tạo ra môi trường mới, trong đó đối tác, đối tượng đan xen; đối phương nhiều điều kiện lợi dụng vỏ bọc “đối tác” để tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Điển hình như thông qua các hình thức hợp tác trong lĩnh vực kinh tế - thương mại, sử dụng các tổ chức bình phong để hoạt động tình báo; thông qua các hình thức hợp tác văn hóa, giáo dục, du lịch, nghiên cứu khoa học... để lôi kéo, tác động, hướng lái hoặc thu thập thông tin bí mật.

Bên cạnh đó, việc tăng cường hội nhập quốc tế còn kéo theo số lượng, quy mô các cơ quan, tổ chức và người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam, người Việt Nam ra nước ngoài tăng nhanh. Điều này cũng tạo ra điều kiện hết sức thuận lợi cho cơ quan tình báo nước ngoài trong việc đưa nhân viên tình báo, mạng lưới cơ sở, trang thiết bị kỹ thuật xâm nhập vào nội địa ta; cũng như có cơ sở xã hội, nguồn tuyển lựa cơ sở phong phú, rộng rãi trong số người Việt Nam đã và đang ra nước ngoài công tác, học tập, lao động...

Đổi mới hình thức đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Tình hình trên cho thấy, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái thù địch trong thời đại công nghệ số hiện nay là rất khó khăn, phức tạp. Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” được hình thành trên cơ sở tổng kết thực tiễn gần 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Nghị quyết số 35-NQ/TW nêu rõ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp, của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu.

Đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị là một trong những nội dung trong 12 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 được Đảng ta xác định trong Văn kiện Đại hội XIII. Việc tăng cường, đẩy mạnh các biện pháp đấu tranh chống các luận điệu sai trái, xuyên tạc không chỉ nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ và sự ổn định của đất nước mà còn nhằm bảo vệ uy tín, hình ảnh Việt Nam trong bối cảnh hội nhập. Những âm mưu thủ đoạn đó thường được nhận diện như sau:
Thứ nhất, âm mưu, thủ đoạn hòng phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hiện nay, lợi dụng sự phát triển mạnh mẽ của Internet và các trang mạng xã hội, các thế lực thù địch đã đưa ra những thông tin xấu, độc nhằm kích thích sự nghi ngờ, phủ định sạch trơn những giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với những luận điệu xuyên tạc như: chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã lạc hậu, lỗi thời không còn phù hợp với thời đại hiện nay nữa và một đảng lấy tư tưởng, lý luận đã “lạc hậu, lỗi thời” thì không thể có cơ sở để lãnh đạo đất nước phát triển khi thực tế khách quan đã thay đổi
Các tin, bài viết chủ yếu tác động vào mặt tâm lý, kích động những nhóm đối tượng thiếu hiểu biết hoặc hiểu biết chưa đầy đủ để tạo sức mạnh chống phá. Chúng còn tập trung móc nối, lôi kéo mọi giai tầng xã hội, nhất là số thanh niên, cán bộ, đảng viên có dấu hiệu “tự chuyển hóa” và gần đây chúng có xu hướng móc nối vào số đối tượng có tiền án, nghiện hút, giang hồ mạng... để truyền bá "lối sống phương Tây", công kích, xuyên tạc về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
          Thứ hai, âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc phủ định các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
Với mục đích nhằm hạ thấp uy tín, kích động, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trên tất cả các lĩnh vực: từ con đường đi lên XHCN, về vai trò lãnh đạo của Đảng, về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN hay các chính sách đối ngoại, an ninh quốc phòng… đều bị chúng âm mưu xuyên tạc, bóp méo.
Những luận điệu ngày càng tinh vi như: nền kinh tế thị trường là đi theo chủ nghĩa tư bản, định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ ngăn cản thị trường và xâm phạm tới các quy luật của thị trường làm cho nền kinh tế không thể phát triển hay chúng cho rằng quân đội và công an chỉ làm nhiệm vụ bảo vệ đất nước và an ninh, trật tự xã hội, không nên bị chi phối bởi chính trị, vì vậy cần phải “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang" hay liên tục đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội xhủ nghĩa Việt Nam. Thực chất, mục đích cuối cùng của chúng là phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối về mọi mặt của Đảng, phủ nhận những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà Đảng và nhân dân ta đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ đó làm cho nhân dân mất niềm tin vào Đảng và nhà nước, cuối cùng là tiến tới lật đổ chế độ ở nước ta.

Thứ ba, âm mưu, thủ đoạn phủ định giá trị lịch sử của dân tộc và những thành quả cách mạng, Với âm mưu này, chúng thường tập trung lấy một số thực tế lịch sử của một số nước khác áp đặt vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam, chúng cho rằng một số nước vẫn giành được độc lập, chủ quyền và phát triển mà không cần đến chiến tranh và lên án các cuộc chiến tranh ở Việt Nam là nội chiến, là làm cho người Việt Nam đánh người Việt Nam, đánh đồng những chiến sỹ cách mạng hy sinh vì chính nghĩa với những kẻ làm tay sai, bán nước. Xuyên tạc quan điểm hòa hợp dân tộc của Đảng ta.
Trong thời kỳ đổi mới, không ít thông tin phủ nhận thành quả công cuộc đổi mới, chỉ nhìn vào những hạn chế mà không thấy những giá trị, những thành quả mà Đảng và nhân dân ta đã nỗ lực phấn đấu đạt được trong hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới. Mặt khác, chúng lấy những thành công của một số nước để so sánh, chê bai, phủ nhận thành quả, phê phán những hạn chế, yếu kém của Việt Nam mà không đề cập những khó khăn của đất nước để cùng nhau nỗ lực và xây dựng. Để thực hiện âm mưu đó, các tổ chức phản động... tiếp tục tìm chọn, móc nối, lôi kéo công dân tham gia các tổ chức phản động và thực hiện các hoạt động chống phá ở trong và ngoài nước.

 

TĂNG CƯỜNG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

 Nghị quyết 35 ngày 22/10/2018 của Bộ chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới khẳng định: bảo vệ vững chắc nền tảng của Đảng, củng cố và tăng cường niềm tin khoa học vào chủ nghĩa Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận xã hội và niềm tin của nhân dân với Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hoá trong nội bộ, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động trong tình hình mới, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc Tổ Quốc, giữ vững môi trường hoà bình ổn định, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Âm mưu, hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước ta hòng lật đổ chế độ cộng sản tại Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động không thay đổi; trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và thời gian vừa qua, trong nước diễn ra nhiều sự kiện chính trị quan trọng, dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp thậm chí tinh vi, nguy hiểm hơn. Hiện nay, phát hiện các tổ chức phản động lưu vong, số đối tượng chống đối trong nước ráo riết triển khai hàng chục “kế hoạch”, “chiến lược”, “kịch bản” với phương thức, thủ đoạn hết sức tinh vi, nguy hiểm chống phá Đại hội lần thứ XIII của Đảng, bầu cử Quốc hội, Hội động nhân dân các cấp. Các đối tượng triệt để sử dụng mạng Internet, soạn thảo tán phát tài liệu, phát động tuyên truyền, xuyên tạc phá hoại tư tưởng nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, kích động tư tưởng bất mãn, phản kháng chính quyền.

Đáng chú ý, âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động nhằm thành lập “công đoàn độc lập”, “nghiệp đoàn độc lập”, ý đồ tập hợp lực lượng phá rối an ninh, bạo loạn, mục tiêu cao nhất là lật đổ chính quyền thông qua cam kết cho phép thành lập tổ chức đại diện người lao động tại các doanh nghiệp khi tham gia Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương rất đáng lo ngại. Đây sẽ là vấn đề an ninh tiềm tàng trong thời gian tới, nếu không chủ động các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn.

Thứ nhất, các thế lực thù địch, phản động tấn công trực diện vào nền tảng tư tưởng của Đảng nhằm bác bỏ, phủ nhận chủ nghĩa Mác  - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng. Thủ đoạn mới của chúng là chuyển từ bôi nhọ bằng luận điệu “du nhập ngoại lai”, “nhập khẩu lý luận” sang đánh tráo, thay thế các khái niệm, thổi phồng cái gọi là “chủ thuyết phát triển mới”, đối lập chủ nghĩa Mác với chủ nghĩa Lê-nin, kêu gọi dùng “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế chủ nghĩa Mác  - Lê-nin mà cố tình lờ đi một sự thật hiển nhiên, rõ ràng rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn cụ thể của Việt Nam. Chúng trích dẫn một cách cắt xén, nửa vời những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đan cài gài bẫy bằng những quan điểm giả danh mác-xít, làm cho người đọc mất phương hướng, lẫn lộn, không phân biệt được đúng - sai. Chúng rêu rao rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam, giới lý luận và các nhà khoa học của ta đã dịch sai, hiểu sai quan điểm của C.  Mác, Ph.  Ăng-ghen; đồng thời, chúng diễn giải lại theo cách hiểu xuyên tạc, méo mó, hòng làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hoang mang, dao động, suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Cùng với việc công kích trực tiếp vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng còn đẩy mạnh tuyên truyền, cổ xúy du nhập các trào lưu tư tưởng cực đoanchủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân tộc cực đoan từ bên ngoài, kết hợp với kích động chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa bè phái, chủ nghĩa hưởng lạc từ bên trong, nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong hệ thống chính trị và xã hội.

Thứ hai, các thế lực thù địch, phản động phủ nhận, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng và thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa bằng các luận điệu xuyên tạc như: Đảng tự cho mình đứng trên tất cả; Đảng cầm quyền phi chính danh, không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Chúng xuyên tạc các sự kiện lịch sử của cách mạng Việt Nam; cổ xúy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, đòi từ bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang; phủ nhận kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi tách biệt, đối lập “kinh tế thị trường” với “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Chúng còn cho rằng chế độ hiện nay mắc “lỗi hệ thống”, đòi cải cách thể chế chính trị theo hướng đa nguyên, đa đảng, thực hiện “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự” theo tiêu chí phương Tây, với âm mưu không gì khác ngoài việc chống phá sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta.

Thứ ba, các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc tình hình đất nước, rêu rao cái gọi là “khủng hoảng toàn diện”, “tình thế hiểm nghèo”, khoét sâu các vấn đề xã hội, tôn giáo, dân tộc, nhân quyền, đất đai,... nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các thủ đoạn thường được chúng sử dụng là: kích động đòi đất, đòi nơi thờ tự vô lối, đòi thực hành tôn giáo trái pháp luật; kích động giáo dân, đồng bào dân tộc thiểu số tụ tập biểu tình. Chúng kích động, “hà hơi tiếp sức” cho những kẻ nhân danh “lòng yêu nước” để biểu tình gây rối trật tự, trị an. Đặc biệt, trong thời gian qua, các đối tượng chống đối triệt để lợi dụng các vụ án phức tạp, nhạy cảm để kích động, xuyên tạc, quy kết, vu cáo Đảng, Nhà nước yếu kém, đả kích các cơ quan tư pháp, kích động “bất tuân dân sự” trong xã hội.

 

 

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: BỌN VINH DANH GIẶC, CHÍNH CHÚNG LÀ GIẶC!

CÔNG VÀ TỘI:
I). Công trạng của Hoàng đế QUANG TRUNG với giang sơn và dân tộc: 
1. Đánh tan và đuổi quân Xiêm về nước do Nguyễn Ánh và Lê Văn Duyệt quỳ lạy vua Xiêm xin cầu viện.
2. Đánh tan 29 vạn quân Thanh thống nhất giang sơn, đất nước sạch bóng quân thù.
3. Xóa bỏ tình trạng xứ quân đang nổi lên khắp đất nước.
II) "Công trạng" của tả quân LÊ VĂN DUYỆT với cá nhân NGUYỄN ÁNH:
1. Cùng NGUYỄN ÁNH quỳ lạy vua XIÊM cứu viện đánh nhà Tây Sơn.
2. Cầy mồ cuốc mả lăng mộ và tiêu hủy di cốt Vua QUANG TRUNG.
3. Hèn nhát không chống lại quân PHÁP, mở đường cho PHÁP xâm lược và áp đặt chế độ thuộc địa ở Nam bộ và toàn bộ đất nước rồi cả cõi Đông Dương.
     Tóm lại: Hoàng đế QUANG TRUNG có công to lớn với giang sơn và dân tộc Việt Nam. 
Tả quân LÊ VĂN DUYỆT có "công" với triều Nguyễn bán nước và cá nhân NGUYỄN ÁNH. LÊ VĂN DUYỆT là một tên tội đồ của dân tộc.
"Công" của LÊ VĂN DUYỆT là tội tày đình với dân tộc Việt Nam! 
Kẻ nào vinh danh hắn cũng là giặc!

Yêu nước ST.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẤU TRANH KẺ ĐỊCH LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO


Đại hội XIII của Đảng: Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời, đẹp đạo”, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo quy định pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước. Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể phối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng làm tốt công tác tuyên truyền sâu rộng các chủ trương, chính sách, quy định của Đảng, Nhà nước về công tác tôn giáo. Tăng cường công tác vận động quần chúng, vận động chức sắc, tín đồ sống “tốt đời, đẹp đạo”, thu hút động viên đông đảo quần chúng có đạo vào các đoàn thể; thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ công dân, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, phát triển kinh tế - xã hội, phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc và thực hiện tốt cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh”; thực hiện có hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở. Làm tốt công tác bồi dưỡng, phát triển đảng viên, đoàn viên, hội viên là người có đạo.

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã mở rộng chủ thể thụ hưởng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho “mọi người”, điều mà trước đây chỉ là “công dân”, có nghĩa là những người bị bắt tạm giữ, tạm giam, người đang bị phạt tù, cơ sở giáo dục bắt buộc,... đều có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tôn giáo, đồng thời, Luật tín ngưỡng, tôn giáo cũng bảo đảm cho những người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam có nhu cầu được sinh hoạt và hoạt động tôn giáo.

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo cũng quy định hạn chế can thiệp hành chính nhà nước vào công việc nội bộ của tổ chức tôn giáo. Chuyển đổi cơ chế quản lý từ kiểm soát sang giám sát và hướng dẫn. Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo; đồng thời thực hiện phân cấp thẩm quyền quản lý ở Trung ương và địa phương về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo theo hướng chuyên môn hóa, phù hợp với tính chất, mức độ, chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể quản lý và thống nhất với các quy định của pháp luật. Cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:

Ra sức tuyên truyền, quán triệt quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của đảng, Nhà

- Tăng cường xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, giữ vững ổn định chính trị - xã hội.

-Thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước, thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, các tôn giáo.

- Chăm lo nâng cao đời sống vật chất tinh thần của đồng bào các dân tộc, tôn giáo.

- Phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị; của những người có uy tín trong các dân tộc, tôn giáo tham gia vào phong trào chống sự lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng

- Chủ động đấu tranh trên mặt trận tư tưởng làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng.