Thứ Tư, 30 tháng 8, 2023

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 31 THÁNG 8 NĂM 1960!

         “Học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế”!
Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được Người viết trong “Thư gửi các cán bộ giáo dục, học sinh, sinh viên các trường và các lớp bổ túc văn hóa”, ngày 31 tháng 8 năm 1960; Báo Nhân dân đăng trên số 2360, ngày 04 tháng 9 năm 1960 trước thềm ngày khai giảng năm học mới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, đồng thời là nhà giáo dục lớn của dân tộc. Người đã để lại cho chúng ta nhiều quan điểm giáo dục có giá trị, trong đó quan điểm: “Học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế” là cơ sở khoa học, phương pháp luận biện chứng, là quy luật của sự phát triển toàn diện nhân cách con người, phát triển nền giáo dục Việt Nam hiện đại, có ý nghĩa sâu sắc trong định hướng lý luận cũng như chỉ đạo thực tiễn giáo dục, đào tạo ở các nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân hiện nay.
Kế thừa và phát triển quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục, đào tạo, Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng; đặc biệt, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, Đảng ta tiếp tục khẳng định: Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội… Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.
Học tập và làm theo lời Bác dạy, công tác huấn luyện, giáo dục - đào tạo trong quân đội được cấp uỷ, chỉ huy các cấp trong toàn quân quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện nghiêm túc, đã tạo được bước chuyển biến tích cực và tương đối toàn diện trong thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, giáo dục - đào tạo. Việc đổi mới chương trình, nội dung, hình thức tổ chức và phương pháp huấn luyện, giáo dục - đào tạo được thực hiện tích cực, bằng nhiều giải pháp khoa học, phù hợp với tổ chức biên chế, yêu cầu xây dựng quân đội và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Toàn quân đã bám sát và thực hiện nghiêm 3 quan điểm, 8 nguyên tắc, 6 mối kết hợp; chú trọng đổi mới công tác kiểm tra, phúc tra, hội thi, hội thao; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, nhất là trong huấn luyện làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật mới, hiện đại và luyện tập, diễn tập ở các cấp, góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội nhân dân đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.
Môi trường ST.

Khởi nghĩa vũ trang nổ ra muốn giành thắng lợi phải có điều kiện thời cơ

Vận dụng sáng tạo lý luận khởi nghĩa vũ trang của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời nghiên cứu và tổng kết các cuộc khởi nghĩa ở Việt nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ điều kiện và thời cơ để khởi nghĩa vũ trang nổ ra và giành được thắng lợi là:


- Điều kiện đảm bảo cho khởi nghĩa vũ trang nổ ra và giành thắng lợi.

Trong tác phẩm Con đương giải phóng Người đã chỉ rõ: "Khởi nghĩa là một điều rất quan trọng, làm đúng thì thành công, làm sai thì thất bại, khởi nghĩa có ba điều:

1) Vì một lẽ gì như các đế quốc đánh nhau, hoặc về phong trào dân chúng rất cao mà đế quốc bị bối rối lay động không đủ sức giữ vững đia vị trước nó.

2) Dân chúng vì đã quá khổ sở, qua tức giận mà hiểu rằng không chịu nổi được nữa. Thế là cũng phải đánh đế quốc và quyết chí hy sinh để ra đấu tranh cùng đế quốc.

3) Các đoàn thể cách mạng rất kiên quyết có một chính sách rất đúng được dân chúng tin cậy và đủ sức lãnh đạo dân chúng khởi nghĩa.

Có đủ ba điều kiện ấy thì cách mạng nhất định thành công"[1].

Như vậy, theo Hồ Chí Minh: Điều kiện bảo đảm cho khởi nghĩa vũ trang nổ ra và giành thắng lợi bao hàm cả điều kiện khách quan và chủ quan.

 3 điều kiện đó được khái quát như sau:

+ Lực lượng đế quốc thống trị lung lay bối rối không đủ sức giữ địa vị của chúng như trước nữa.

+ Có một cao trào cách mạng trong quảng đại quần chúng. Dân chúng đói khổ căm tức tới cực điểm quyết hy sinh nổi dậy đấu tranh với đế quốc đến cùng.

+ Có một chính đảng cách mạng lãnh đạo, chính đảng ấy lập được một đoàn thể cách mạng kiên quyết có một chính sách đúng, có một lực lượng khá để lãnh đạo dân chúng khởi nghĩa và được dân chúng tin cậy. 

- Thời cơ để khởi nghĩa vũ trang nổ ra và giành thắng lợi: Khởi nghĩa vũ trang nổ ra và giành thắng lợi phải có thời cơ.

Theo Hồ Chí Minh, thời cơ chính là sự chín muồi của các điều kiện đó. Trong tác phẩm Con đường giải phóng Hồ Chí Minh đã ví thời cơ như Vận nước, Người nói: "Đại sự muốn thành công phải nhờ vận nước và giời có muốn cũng không được. Vận nược không phải là một điều huyền bí. Vận nước tức là lòng dân, là tình thế trong nước và bên ngoài"[3].

Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam, Người đã nắm bắt được tình hình trong nước, dự đoán chính xác diễn biến của chiến tranh thế giới thứ II đang dần đến hồi kết, và Người đã chỉ rõ: "Nay vận mệnh đang đến vì nhân dân ta cực khổ dưới hai vòng xiềng xích ngày càng ngả về phe cách mạng. Tình hình thế giới dần dần thuận tiện cho ta, muốn chóng được tự do độc lập, nhân dân ta phải mau mau đoàn kết làm cách mạng. Ta chưa thấy một dân tộc nào khoanh tay chờ chết và hạnh phúc tự nhiên trên trời rơi xuống bao giờ"[4].

Đúng như Hồ Chí Minh đã nhận định.

+ Cuối năm 1944, nhân dân Cao Bắc Lạng đã sẵn sàng khởi nghĩa vũ trang. Sau khi nghiên cứu tình hình, Hồ Chí Minh ra chỉ thi hoãn cuộc khởi nghĩa Cao Bắc Lạng vì Người cho rằng điều kiện chưa chín muồi, chỉ thấy bộ phận chứ chưa thấy toàn cục. Chỉ thị đó là sáng suốt, đã tránh cho phong trào ở Cao Bắc lạng khỏi bị tổn thất

+ Đêm ngày 9/3/1945 Nhật đánh đổ Pháp, độc chiếm đông Dương làm thuộc địa. Lúc này điều kiện đã đến nhưng thời cơ chưa chín muồi, chưa tiến hành tổng khởi nghĩa được mà phải tích cực chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng đợi thời cơ đến.

+ Tháng 7/1945 Đức - Ý bại trận. Nhật khốn đốn lúc này thời cơ thuận lợi đã đến.

+ Ngày  9/8/1945 Nhật đầu hàng đồng minh vô điều kiện

Trong nước: Chính quyền tay sai hoang mang cực độ; Tầng lớp trung gian ngả hết về phe cách mạng; Đảng và quần chúng đã sẵn sàng.

=> Lúc này thời cơ đã chín muồi. Tại lán Nà Lừa, Hồ Chí Minh ốm nặng. Nhưng Người đã nói với đồng chí Võ Nguyên Giáp: “lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”[5]Chớp thời cơ đó, đêm ngày 13/9/1945 Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc ra quân lệnh số 1, tuyên bố: Giờ tổng khởi nghĩa đã đến.

Ngày 16/8/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi tổng khởi nghĩa: "Hỡi đồng bào yêu quý! Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ"[6].

Hưởng ứng lời kêu gọi tổng khởi nghĩa của Hồ Chí Minh, từ Bắc chí Nam, từ miền xuôi đến miền ngược, phong trào cách mạng đã dâng lên cuồn cuộn. Cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước đã thành công. Điều đó đã chứng tỏ khi có được đường lối đúng và sự chuẩn bị lực lượng chu đáo, sẵn sàng, biết nắm bắt đúng thời cơ, chớp thời cơ, phát động quần chúng đấu tranh đúng lúc thì tổng khởi nghĩa chắc chắn sẽ giành được thắng lợi.



[1] Bảo tàng HCM: Hồ sơ Hồ Chí Minh, Con đường giải phóng, tr. 25.

 

[2] Bảo tàng HCM: Hồ sơ Hồ Chí Minh, Con đường giải phóng, tr. 26.

[3] Bảo tàng HCM: Hồ sơ Hồ Chí Minh, Con đường giải phóng, tr. 14.

[4] Bảo tàng HCM: Hồ sơ Hồ Chí Minh, Con đường giải phóng, tr. 14.

[5] Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh  - Biên niên tiểu sử, Nxb. CTQG, H. 2006, t. 2, tr. 267.

[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H 2011, tập 3, tr. 596. 


Lực lượng tiến hành khởi nghĩa vũ trang là toàn dân dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân.

 

Theo Hồ Chí Minh: Lực lượng tiến hành khởi nghĩa vũ trang là toàn dân, của mọi người dân Việt Nam yêu nước. Là toàn dân nổi dậy bằng tất cả các lực lượng, lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, bằng tất cả các hình thức đấu tranh, đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự. Trong đó có 2 lực lượng cơ bản: lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang; với 2 hình thức cơ bản: đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự.


Lực lượng chính trị của quần chúng là lực lượng đông đảo nhất gồm đủ các tầng lớp sĩ, nông, công, thương, binh của tất cả các dân tộc, không phân biệt già, trẻ, trai, gái, dân tộc, tôn giáo…

Lực lượng vũ trang là lực lượng xung kích trong khởi nghĩa, trực tiếp tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch tạo điều kiện hỗ trợ đắc lực cho lực lượng chính trị và đấu tranh chính trị. Đấu tranh chính trị rất phong phú thu hút được nhiều lực lượng tham gia, và có nhiều hình thức như: mít tinh, biểu tình, bãi công, bãi khoá … Đấu tranh quân sự là sự phát triển cao của hình thức đấu tranh chính trị  và có tính chất quyết liệt hơn. Như: Vũ trang khởi nghĩa, là nhân dân nổi dậy dùng khí giới đánh đuổi quân cướp nước đoạt lấy chính quyền. 

Mỗi lực lượng, mỗi hình thức đấu tranh có vị trí, vai trò quan trọng nhất định nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, làm cơ sở điều kiện và hỗ trợ cho nhau, trong đó lực lượng chính trị là lực lượng cơ bản giữ vai trò nền tảng, quyết định đến sự thành bại của khởi nghĩa vũ trang; lực lượng vũ trang giữ vai trò quan trọng, tạo điều kiện và hỗ trợ đắc lực cho đấu tranh chính trị của quần chúng.

Toàn dân nổi dậy khởi nghĩa để giải phóng dân tộc là tinh thần cơ bản trong tác phẩm Con đường giải phóng mà Hồ Chí Minh đã chỉ đạo và biên soạn, bổ sung và chỉnh lý. Đồng thời đây cũng là quan điểm cơ bản mà hội nghị TW 8 của Đảng vận dụng sâu sắc để chỉ đạo chuyển hướng chiến lược, quyết định thành lập mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc.

Trong tác phẩm Con đưòng giải phóng, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Võ trang khởi nghĩa - nhân dân nổi dậy dùng khí giới đánh đuổi quân cướp nước, đoạt lấy chính quyền”[1]. Đó là cuộc chiến tranh to tát về chính trị và quân sự.

Lực lượng tiến hành khởi nghĩa vũ trang là toàn dân. Nhưng phải được giáo dục, giác ngộ, được tổ chức chặt chẽ và được rèn luyện trong đấu tranh cách mạng.

Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến việc thường xuyên giáo dục, giác ngộ tổ chức và rèn luyện quần chúng để chuẩn bị khởi nghĩa. Điều đó đã được Người chuẩn bị và tiến hành từ năm 1923. Trong Thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp, Người đã nói: "Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa ra đấu tranh giành tự do độc lập"[2].

Theo Hồ Chí Minh, mục đích của tuyên truyền giáo dục là để làm cho quần chúng hiểu, làm thức tỉnh tinh thần yêu nước, để đoàn kết họ lại thành phong trào rộng lớn, để đấu tranh lật đổ chính quyền của bọn thực dân phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân.



[1] Bảo tàng HCM: Hồ sơ Hồ Chí Minh, Con đường giải phóng, tr. 23.

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H 2011, tập 1, tr. 209.

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H 2011, tập 2, tr. 283.

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H 2011, tập 2, tr. 284.

[5] Bảo tàng HCM: Hồ sơ Hồ Chí Minh, Con đường giải phóng, tr. 27.



THEO HỒ CHÍ MINH: CON ĐƯỜNG GIÀNH CHÍNH QUYỀN Ở VIỆT NAM PHẢI BẰNG KHỞI NGHĨA VŨ TRANG

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về khởi nghĩa vũ trang, đó chính là sự vùng dậy của quần chúng nhân dân dùng vũ khí đánh đổ chế độ thực dân phong kiến giành chính quyền về tay nhân dân.


CÁCH MẠNG THÁNG 8/1945 - KỶ NGUYÊN MỚI CỦA DÂN TỘC

 Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của nhân dân ta từ khi có Đảng lãnh đạo, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Từ đây, đất nước, xã hội, dân tộc và con người Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.


TẠI SAO LỜI KÊU GỌI TOÀN QUỐC CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC KHÔNG CÓ TRONG SÁCH GIÁO KHOA?

 Cũng giống như Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 thì lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống Pháp 19/12/1946 và Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống Mỹ cứu nước17/7/ 1966 cũng không có trong sách giáo khoa.

Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác Hồ giống những lời HICH TƯỚNG SĨ, có sức mạnh ngàn cân, có sự gắn kết, đoàn kết toàn dân tộc. Thôi thúc lòng dân hừng hực khí thế chống giặc cứu nước.
Ấy thế mà giặc sử, giặc giáo dục lại lược bỏ, không ghi vào sách giáo khoa.
Tại sao..?

 

Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát với phong trào đòi hòa bình, tự do, dân chủ, thống nhất đất nước (1954-1975)

(LLCT) - Lịch sử cách mạng Việt Nam ghi nhận những đóng góp lớn của những trí thức yêu nước, nổi tiếng, như: luật sư Nguyễn Hữu Thọ, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, bác sĩ Phùng Văn Cung, Trần Bạch Đằng… Những trí thức yêu nước, không màng danh lợi, đi theo cách mạng, cống hiến trí tuệ cho đất nước, cho nhân dân. Trong đó, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát là một trí thức lớn, một nhà hoạt động chính trị nổi tiếngmà con người và sự nghiệp của ông luôn luôn gắn bó với vận mệnh đất nước.


Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước lâu dài, gian khổ, bi hùng, trải qua gần 21 năm (1954-1975), giành thống nhất đất nước. Trong cuộc đấu tranh của toàn dân tộc, trí thức miền Nam đã góp phần quan trọng. Hoạt động đấu tranh của trí thức phong phú về hình thức, đa dạng về quy mô và mức độ, cách thức; đóng góp trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Lịch sử cách mạng Việt Nam ghi nhận những đóng góp lớn của những trí thức yêu nước, nổi tiếng, như: luật sư Nguyễn Hữu Thọ, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, bác sĩ Phùng Văn Cung, Trần Bạch Đằng… Những trí thức yêu nước, không màng danh lợi, đi theo cách mạng, cống hiến trí tuệ cho đất nước, cho nhân dân.

Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát là một trí thức lớn, một nhà hoạt động chính trị nổi tiếng của đất nước. Con người và sự nghiệp của Huỳnh Tấn Phát luôn luôn gắn bó với vận mệnh đất nước. Tháng 3-1945, ông được kết nạp Đảng và tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền ở Sài Gòn. Ngày 9-10-1945, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát dẫn đầu Đoàn thanh niên Nam Bộ từ miền Nam ra gặp Bác Hồ và dự Đại hội Thanh niên toàn quốc tại Hà Nội. Đây là một trong những sự kiện lớn lao trong cuộc đời ông. Sau Hội nghị Giơnevơ (1954), Huỳnh Tấn Phát được Đảng phân công hoạt động ở nội thành Sài Gòn. Ông có điều kiện để làm giàu một cách chính đáng, song ông đã gác văn phòng kiến trúc sang một bên để tham gia vào cuộc đấu tranh vì hoà bình, thống nhất đất nước. Ông trở thành một trong những trí thức cách mạng có sức lôi cuốn mạnh mẽ đối với trí thức và thanh niên.

 Đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta. Dân tộc Việt Nam tiếp tục cuộc đấu tranh mới: kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Hội nghị Trung ương 15 (1959), đã xác định con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là sử dụng bạo lực cách mạng. Thắng lợi của phong trào “Đồng khởi” rộng khắp, mạnh mẽ những năm 1959-1960 đưa tới sự chuyển biến về chất của phong trào cách mạng ở cả nông thôn và đô thị miền Nam. Cách mạng miền Nam từ thế “giữ gìn lực lượng chuyển hẳn sang thế bắt đầu tiến công”. Đáp ứng yêu cầu lịch sử và nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, trong không khí sục sôi cách mạng, ngày 20-12-1960, tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành thuộc vùng giải phóng Tây Ninh, đại biểu các dân tộc, tôn giáo, các đảng phái yêu nước và các tầng lớp nhân dân đã tổ chức hội nghị và quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Ủy ban Trung ương lâm thời được cử ra, trong đó có KTS Huỳnh Tấn Phát.

Hội nghị thông qua và công bố Chương trình 10 điểm, hiệu triệu nhân dân miền Nam đứng lên chống Mỹ và tay sai, đấu tranh cho một miền Nam Việt Nam độc lập, dân chủ hoà bình, trung lập tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc.

Mục tiêu của Mặt trận là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, cơm no áo ấm cho nhân dân; vấn đề sáng tạo là chủ trương hòa bình, trung lập, phù hợp với xu hướng chung trên thế giới, đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của tầng lớp trung gian, trí thức, tư sản, nhân sĩ yêu nước. Mặt trận chú trọng tập hợp những nhân sĩ, trí thức tiêu biểu, những người có uy tín trong các thành phần nhân dân ở miền Nam.

Đại hội Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam lần thứ nhất (từ 16-2 đến 3-3-1962) đã bầu chính thức Ủy ban Trung ương, trong đó có nhiều nhân sĩ, trí thức nổi tiếng. Tổng Thư ký Đảng Dân chủ miền Nam Việt Nam Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Dân tộc giải phóng khu Sài Gòn – Gia Định - đại diện tiêu biểugiới trí thức yêu nước miền Nam, được bầu vào Đoàn Chủ tịch, giữ trọng trách Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương, Tổng thư ký trong Ban Thư ký của Ủy ban Trung ương.

Ông đã đóng góp tích cực vào hoạt động, nâng cao uy tín, vị thế của Mặt trận. Trong những dịp đi các nước, ông cùng các thành viên của Mặt trận tố cáo tội ác đế quốc Mỹ, đem tiếng nói chính nghĩa của nhân dân miền Nam tuyên truyền, gây dư luận rộng rãi và kêu gọi các nước đồng tình ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập.

Về đối ngoại, với đường lối ngoại giao hoà bình trung lập, Mặt trận thu hút sự chú ý, đồng tình của dư luận trong và ngoài nước, đem lại cho Mặt trận vị trí chính trị ngày càng cao trên trường quốc tế. Chỉ trong thời gian ngắn, Mặt trận đã có đại diện trong Ban Chấp hành của 11 tổ chức quốc tế, có quan hệ ngoại giao với 18 nước trên thế giới, có 26 tổ chức quốc tế, các chính đảng và tổ chức quần chúng ở nhiều nước công nhận. Ở châu Âu, nhiều quốc gia công khai ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam nói chung và Mặt trận Dân tộc Giải phóng nói riêng. Phong trào ủng hộ Việt Nam chống Mỹ lên cao từ đầu năm 1965, đặc biệt là sau khi có Tuyên bố 5 điểm ngày 22-3-1965 của Mặt trận Dân tộc Giải phóng.

Từ ngày 6-6 đến ngày 8-6-1969, Đại hội Đại biểu quốc dân ở miền Nam đã nhất trí thành lập Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN). Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát được bầu giữ chức Chủ tịch Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Ở vị trí đứng đầu Chính phủ cách mạng lâm thời, KTS Huỳnh Tấn Phát đã hoạt động tích cực, tiếp tục phát huy năng lực của mình, góp phần cùng các thành viên trong Chính phủ đảm đương những nhiệm vụ của một chính quyền nhà nước hợp pháp của nhân dân miền Nam.

Trong cuộc họp báo ngày 11-6-1969, Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát nêu rõ: Việc thành lập Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là một bước phát triển tất yếu của quá trình hoàn chỉnh hệ thống chính quyền cách mạng đã được xây dựng trên phần lớn đất đai ở miền Nam, đáp ứng yêu cầu lớn lao của cuộc chiến đấu là ra sức đẩy mạnh thế tiến công toàn diện trên tất cả các mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

Trong phiên họp đầu tiên, Chính phủ cách mạng lâm thời đã công bố Chương trình hành động 12điểm nhằm động viên toàn quân, toàn dân miền Nam Việt Nam đẩy mạnh sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, hòa hợp dân tộc, bảo đảm quyền tự do dân chủ cho nhân dân, khôi phục phát triển kinh tế văn hóa. Bốn ban đại diện của Chính phủ ở Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ được thành lập, đáp ứng yêu cầu quản lý vùng giải phóng liên hoàn. Uỷ ban nhân dân cách mạng được thành lập và củng cố ở 44 tỉnh, 6 thành phố, 182 huyện và hơn 1.500 xã.

Trong tháng 6-1969, 23 nước đã công nhận Chính phủ cách mạng lâm thời, trong đó 21 nước kiến lập quan hệ ngoại giao. Bên cạnh đó, Mặt trận Giải phóng và Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tiếp tục vận động sự ủng hộ của các nước XHCN và của Lào, Campuchia, góp phần hàn gắn sự rạn nứt trong phong trào cộng sản quốc tế, tăng cường tình đoàn kết quốc tế.

Ngay cuối tháng 6-1969, Đoàn đại biểu Chính phủ cách mạng lâm thời do Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát dẫn đầu đã đi thăm hữu nghị Campuchia theo lời mời của Quốc trưởng Sihanouk và Chính phủ Vương quốc Campuchia. Đến đầu năm 1972, thêm 11 nước đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ cách mạng lâm thời với tư cách là đại diện chân chính, hợp pháp duy nhất của nhân dân miền Nam. Từ tháng 6-1969 đến cuối năm 1975, đã có hơn 50 nước trên thế giới (trong đó có nhiều nước tư bản chủ nghĩa) công nhận và lập quan hệ ngoại giao.

Sự phát triển quan hệ ngoại giao giữa Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam với nhiều quốc gia và tổ chức trên thế giới càng góp phần thúc đẩy xu hướng chống Mỹ và chủ nghĩa thực dân mới, phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, tiếp tục tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến quá trình đàm phán tại Pari.

Tháng 8-1972, Hội nghị ngoại trưởng các nước không liên kết họp tại Guyanna long trọng công nhận địa vị hợp pháp của Chính phủ cách mạng lâm thời trong khối 59 nước Không liên kết.

Chính phủ cách mạng lâm thời, đứng đầu là Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát, coi những bước đệm tự do, dân chủ, cải thiện dân sinh, hòa bình trung lập là những mục tiêu phù hợp để thu hút các tầng lớp trí thức, học sinh, sinh viên, tín đồ các tôn giáo, ngoại kiều, tư sản dân tộc và quan chức  lớp dưới trong bộ máy ngụy quyền, ngụy quân… vào cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập, dân chủ bằng phương pháp hòa bình. Chính phủ cách mạng lâm thời không chỉ tập hợp lực lượng chống Mỹ và tay sai vào các tổ chức của mình mà còn có các hình thức “ngoài Mặt trận”, “ngoài Chính phủ” như Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam, các hội (nhóm) độc lập của những người có cảm tình với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, thậm chí cả những phần tử thân Pháp, phần tử không chống Mỹ triệt để nhưng có khuynh hướng chủ hòa. Chính phủ cách mạng lâm thời trên thực tế là người đại diện chính thức của nhân dân miền Nam.

Chính phủ cách mạng lâm thời thành lập là một thắng lợi trong quá trình hoàn chỉnh hệ thống chính quyền cách mạng ở miền Nam Việt Nam, một chính quyền thực sự dân tộc và dân chủ. Là cơ quan quyền lực cao nhất đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân miền Nam, có nhiệm vụ điều hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đi đến thắng lợi cuối cùng.

Vị thế của nhân dân miền Nam nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung, được thể hiện qua những phát biểu và hoạt động của Đoàn đại biểu Chính phủ cách mạng lâm thời trong Hội nghị Pari.

Ngày 27-1-1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được chính thức ký kết tại Pari giữa bốn bên tham gia hội nghị.

Trong Lời kêu gọi ngày 28-1-1973, sau khi Hiệp định Pari được ký kết, Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam nêu rõ: một giai đoạn mới, cục diện mới thuận lợi cho sự nghiệp cách mạng đã mở ra. Song cuộc đấu tranh chưa hết phức tạp, khó khăn. Những thế lực phản động, lệ thuộc nước ngoài âm mưu phá hoại hòa bình, chống độc lập, dân chủ và hòa hợp dân tộc. “Nhiệm vụ hiện nay của nhân dân ta là: trong tinh thần hòa hợp dân tộc, ra sức đoàn kết toàn dân, kiên quyết giữ vững hòa bình, độc lập và chủ quyền thật sự, thực hiện các quyền tự do dân chủ, cải thiện dân sinh, xây dựng một miền Nam Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, phồn vinh, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc”.

“Mặt trận dân tộc giải phóng và Chánh phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam long trọng tuyên bố sẽ tự mình thi hành nghiêm chỉnh, triệt để và kiên trì đấu tranh đòi thực hiện đầy đủ mọi điều khoản của Hiệp định đã được ký kết. Một cuộc sống hòa bình, độc lập, dân chủ, ấm no là nguyện vọng sâu xa, yêu cầu bức thiết của mọi tầng lớp đồng bào. Sức mạnh không gì ngăn cản nổi của nhân dân ta là đại đoàn kết toàn dân trong tinh thần hòa hợp dân tộc”.

Lời kêu gọi nêu rõ: “Chánh phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam mong chánh quyền Sài gòn đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên hết, đáp ứng đòi hỏi của mọi tầng lớp đồng bào, qua hiệp thương thành thật, nhanh chóng thành lập Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau ở tất cả các cấp, sớm đi đến tổ chức tổng tuyển cử tự do và dân chủ thật sự, để nhân dân miền Nam tự do quyết định chế độ chánh trị của mình. Hai bên hãy cùng nhau thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định, thực hiện đầy đủ mọi quyền tự do dân chủ của nhân dân, hàn gắn những vết thương chiến trnah, chăm lo cho đời sống đồng bào ta mau được ấm no hạnh phúc; sớm xây dựng quan hệ bình thường về các mặt với miền Bắc, xúc tiến thương lượng với Chánh phủ Việt Nam dân chủ cộng hào để tiến tời hòa bình thống nhất Tổ quốc”.

Với những hoạt động, đấu tranh vì hoà bình, dân chủ, thống nhất đất nước, KTS Huỳnh Tấn Phátđã đóng góp phần quan trọng trong hoạt động của Mặt trận, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, cống hiến cuộc đời cho cách mạng, cho đất nước.

                                                         

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Thị Bình và tập thể tác giả: Mặt trận dân tộc Giải phóng Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị Pari về Việt Nam (Hồi ức), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.

2. Chung một bóng cờ(Về Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr.141.

3. Ban Chỉ đạo biên soạn Lịch sử Chính phủ Việt Nam: Lịch sử Chính phủ Việt Nam tập 2 1955-1976, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, Tr.417.

4. Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến: Những vấn đề chính yếu trong Lịch sử Nam Bộ kháng chiến 1945-1975, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.

5. Ủy ban Trung ương mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Biên niên sự kiện lịch sử Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, tập II (1954-1975), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.245.

6. Hà Minh Hồng – Trần Nam Tiến: Mặt trận Dân tộc Giải phòng miền Nam Việt Nam (1960-1977), Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2010, tr.46.

7. Sức mạnh chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Viện Sử học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985, tr.133.

8. Báo Nhân dân tháng 12-1960, tháng 6-1969.

9. Thắng lợi lịch sử vĩ đại của nhân dân miền Nam anh hùng, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1973

Nguồn:  PGS,TS Trịnh Thị Hồng Hạnh

                                               Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

 


Hội nghị Trung ương 12 khóa III khẳng định quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược

(LLCT) - Hơn 85 năm xây dựng, trưởng thành và lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã thể hiện trên thực tế trí tuệ và bản lĩnh chính trị của Đảng ta. Một trong những thí dụ tuyệt vời về bản lĩnh và trí tuệ đó là Hội nghị Trung ương 12 khóa III, Hội nghị quyết tâm đánh thắng Mỹ xâm lược, từ đó đi đến những chiến thắng vang dội sau này mà đỉnh cao là Chiến thắng 30-4-1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.



Từ ngày 21 tới ngày 27-12-1965, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khóa III họp Hội nghị lần thứ 12. Nghị quyết Hội nghị khẳng định: “Toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta ở cả hai miền phải giữ vững và nêu cao quyết tâm đẩy mạnh cuộc chiến tranh nhân dân chống Mỹ, cứu nước, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất kỳ tình huống nào, kiên quyết chiến đấu cho đến thắng lợi cuối cùng”(1). Để đi tới quyết định chính trị sắt đá này, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có quá trình chuẩn bị công phu và kiên quyết trong một thời gian khá dài về công tác tư tưởng, tổ chức, cán bộ và chỉ đạo thực tiễn ở chiến trường.

 

Phát biểu trong phiên họp bế mạc Hội nghị, chiều 27-12-1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “...Qua những ý kiến của các đồng chí đã phát biểu ở hội nghị, thấy nổi bật hai điểm quan trọng:

- Ta quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ
xâm lược;

- Ta nhất định thắng.

... Chúng ta phải biến nghị quyết của Trung ương thành sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân. Muốn vậy, phải làm cho mọi người tin là ta nhất định thắng, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai nhất định thua; phải làm cho mọi người phát huy mạnh mẽ tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, không sợ gian khổ, đem hết sức mình để làm tốt nhiệm vụ vừa sản xuất, vừa chiến đấu, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”(2).

Xây dựng và củng cố niềm tin “ta nhất định thắng” trong cuộc chiến đấu không cân sức với đế quốc đầu xỏ nhất thế giới trong bối cảnh quốc tế và trong nước phức tạp là một nhiệm vụ chính trị vô cùng khó khăn vào đầu những năm 60. Quan điểm thi đua hòa bình, ngại Mỹ, sợ Mỹ vẫn tiếp tục tác động vào nội bộ ta. Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 9 khóa III (12-1963) đã chỉ rõ: “Những năm gần đây, khi xảy ra cuộc đấu tranh tư tưởng gay gắt trong phong trào cộng sản quốc tế, một số ít cán bộ đã tán thành quan điểm và chủ trương sai lầm của chủ nghĩa xét lại... Về những vấn đề quốc tế, nhận thức mơ hồ về bản chất của chủ nghĩa đế quốc, cũng như về các vấn đề chiến tranh và hòa bình, vai trò của vũ khí hạt nhân, chung sống hòa bình, thi đua kinh tế, quá độ hòa bình, v.v..; có tư tưởng hòa bình chủ nghĩa, mất cảnh giác đối với âm mưu và hành động của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai và làm nhụt ý chí chiến đấu...”(3).

Ở Nam Bộ, sau khi được phổ biến Nghị quyết Trung ương 15 khóa II vào tháng 11-1959, dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Nam Bộ đứng đầu là Bí thư Nguyễn Văn Linh, đã dấy lên phong trào Đồng khởi, phá vỡ từng mảng lớn hệ thống kìm kẹp của Mỹ - Diệm, tạo ra bước ngoặt cho phong trào cách mạng miền Nam. Trong 2.627 xã trên toàn miền Nam, nhân dân ta đã lập chính quyền tự quản ở 1.383 xã: ở Nam Bộ có 984 xã, Khu V có 379 xã. Chính sách “cải cách điền địa” của chính quyền Diệm bị phá sản, 2/3 ruộng đất (khoảng 17 vạn ha bị Mỹ-Diệm cướp) đã được trao lại cho nông dân(4). “Những cuộc Đồng khởi nổ ra trong thời gian này, đồng chí Lê Duẩn khẳng định, đánh dấu một bước nhảy vọt quan trọng, chuyển cách mạng miền Nam sang thế tiến công, phát triển cao trào cách mạng ra khắp miền với sự kết hợp cả hai hình thức đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự”(5). Tình hình mới của cách mạng miền Nam đòi hỏi phải có những tổ chức phù hợp để lãnh đạo và tập hợp lực lượng rộng rãi cả ở trong nước và trên thế giới.

Ngày 20-12-1960, Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam được tiến hành tại Rùm Đuông, xã Tân Lập, huyện Châu Thành - một địa điểm nằm sâu trong vùng căn cứ Bắc Tây Ninh. Đại hội đã quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam nhằm tập hợp mọi tầng lớp nhân dân, không phân biệt giai cấp, đảng phái, tôn giáo, xu hướng chính trị cùng đấu tranh chống xâm lược Mỹ và đánh đổ ách thống trị của tay sai phản động, thực hiện độc lập dân tộc, dân chủ, hòa bình, trung lập, tiến tới thống nhất Tổ quốc. Tháng 1-1961, Hội nghị Trung ương 3 khóa III quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam để thống nhất lãnh đạo trực tiếp cách mạng miền Nam trong tình hình mới. Cũng trong tháng 1-1961, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập. Tháng 2-1961, Bộ Chính trị quyết định thống nhất hệ thống chỉ đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam(6).

Trước làn sóng triều dâng của phong trào Đồng khởi, Mỹ - ngụy buộc phải điều chỉnh chiến lược từ “Tố cộng” sang “Chiến tranh đặc biệt” nhằm hoàn thành việc bình định miền Nam trong vòng 18 tháng, vào cuối năm 1962.

Trong Thư “Gửi anh Mười Cúc và Trung ương Cục miền Nam” tháng 7-1962, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nhấn mạnh: cách mạng miền Nam “phản ánh cuộc tranh chấp gay go nhất, phức tạp nhất trên thế giới hiện nay, tuy chiến tranh chỉ diễn ra trong phạm vi tương đối nhỏ”(7).

Trong tình thế khó khăn và phức tạp cả ở trong nước và phe XHCN khi đó, quân và dân miền Nam dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Cục miền Nam và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam, đã tăng cường đoàn kết, kiên định lập trường, tiếp tục phát huy khí thế Đồng khởi, quyết tâm đánh thắng chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - ngụy. Chiến thắng Ấp Bắc của quân và dân Mỹ Tho ngày 2-1-1963 đã thực sự đánh bại ưu thế áp đảo của địch về “trực thăng vận”, “thiết xa vận” và “bủa lưới phóng lao” cùng quỷ kế của cố vấn Mỹ; đồng thời khẳng định: ta hoàn toàn có thể làm phá sản “Chiến tranh đặc biệt” bằng nghệ thuật kết hợp ba mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận) và kết hợp ba thứ quân (chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích) trong phản công các cuộc hành quân càn quét lớn của địch.

Trước những diễn biến mới trong chính quyền ngụy (chính quyền Ngô Đình Diệm bị Mỹ lật đổ ngày 1-11-1963) và âm mưu mới của Mỹ (gây ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ ngày 5-8-1964 và có khả năng đưa quân vào miền Nam để mở rộng chiến tranh), trong hai ngày 25 và
26-9-1964, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị đã họp nhằm phân tích tình hình cách mạng miền Nam và đề ra chủ trương quyết tâm đẩy mạnh phong trào cách mạng, giành những thắng lợi quyết định trong thời gian tới. Tại Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ quyết tâm: “Ta phải đánh lâu dài 10 năm đến 20 năm, phải đề phòng địch có hành động điên cuồng dù chúng bị cô lập, phải có kế hoạch phòng khi đột biến. Miền Nam phải mở rộng chiến tranh du kích, xây dựng chủ lực thành quả đấm mạnh, gọn, nhanh. Hai năm qua chưa tăng cường Ủy viên Bộ Chính trị cho miền Nam, nay tình hình cấp bách không đi không được”(8).

Ngay sau đó, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương vào làm Bí thư Trung ương Cục miền Nam và Chính ủy Quân giải phóng miền Nam. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký quyết định phong quân hàm Đại tướng ngày 31-8-1959, ba tháng sau khi có Nghị quyết 15. Cùng vào chiến trường miền Nam với Đại tướng Nguyễn Chí Thanh có một số cán bộ cao cấp quân đội có quyết tâm chiến lược và kinh nghiệm chỉ huy là các đồng chí Lê Trọng Tấn, Trần Độ, Nguyễn Hòa, Hoàng Cầm, Trần Văn Phác v.v..  Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và đoàn cán bộ trước khi lên đường vào Nam công tác (10-1964): “Đánh Pháp đã khó, đánh Mỹ còn khó hơn. Đảng và Chính phủ giao cho các chú vào trong đó cùng với đồng bào miền Nam đánh Mỹ cho kỳ được thắng lợi. Gặp đồng bào thì nói: Bác Hồ luôn luôn nghĩ đến đồng bào miền Nam”(9).

Sau thắng lợi to lớn của quân và dân ta trong chiến dịch Bình Giã (Bà Rịa ngày 2-12-1964) - đánh dấu sự thất bại của “Chiến tranh đặc biệt” của địch, với tầm nhìn chiến lược và từ sự phân tích sâu sắc thực tiễn chiến tranh nhân dân, tương quan lực lượng, mặt mạnh và mặt yếu của cả ta và địch, trong bài “Đấu tranh cho nền độc lập, hòa bình, dân chủ và trung lập” viết ngày 17-12-1964, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã phân tích: “Cách đây bốn năm, khi Mỹ phát động chiến tranh chống lại nhân dân miền Nam nước ta, chắc có người yếu bóng vía đã cho rằng Mỹ nhất định thắng và sẽ thắng như trở bàn tay. Với tâm lý đớn hèn, họ cũng có một phần nào có lý lẽ, khi họ chỉ thấy sức mạnh của Mỹ chứ không còn thấy một tí nào sức mạnh vô địch của nhân dân miền Nam Việt Nam.

Sự thực ngày nay là thế nào? Với hơn 50 vạn quân tay sai dưới cờ 48 sao, với tiền bạc trút ra như nước, với bom, đạn, máy bay, đại bác... nhiều, tối tân và rất mực hiện đại. Với hàng trăm cố vấn hùng và hàng trăm tướng tá dũng?...

Người Mỹ với cái kéo ấy tưởng dễ đi cắt tóc người ta, nhưng chính hắn đang bị trọc đầu. Hoan hô!

Vì vậy, Mỹ không phải là một kẻ bất khả chiến thắng. Đánh Mỹ được, thắng Mỹ được, không còn nghi ngờ gì nữa”(10).

Những thắng lợi của quân và dân ta ở miền Nam trong cuộc chiến đấu chống “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - ngụy đã khẳng định tính đúng đắn của sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược kịp thời của Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Cục miền Nam trên chiến trường. Trong “Bài nói trong buổi chiêu đãi mừng Quân đội ta 20 tuổi” ngày 22-12-1964, Người đã nhắc nhở: “Cán bộ và chiến sỹ phải luôn luôn khiêm tốn, luôn luôn cố gắng hơn nữa. Phải phát huy bản chất và truyền thống cách mạng. Phải học tập tinh thần quyết chiến quyết thắng của quân và dân miền Nam anh dũng trong cuộc kháng chiến cứu nước chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai”(11). Trong “Bài nói tại Hội nghị bồi dưỡng chỉnh huấn do Trung ương triệu tập” từ ngày 23 đến 26-1-1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Muốn đánh thắng kẻ thù là chủ nghĩa đế quốc, muốn xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội, thì trước hết phải chiến thắng kẻ thù bên trong của mỗi chúng ta là chủ nghĩa cá nhân... Chính vì vậy mà cuộc chỉnh huấn lần này của Đảng ta nhằm mục đích tẩy rửa chủ nghĩa cá nhân và nâng cao đạo đức cách mạng của giai cấp vô sản”(12).

Quán triệt quan điểm chỉ đạo của Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng trong tháng 1-1965, Hội nghị lần thứ ba Trung ương Cục miền Nam dưới sự chủ trì của Bí thư Nguyễn Chí Thanh đã dự báo tình hình, khẳng định lập trường tư tưởng và xác định quyết tâm chiến đấu: “Địch có thể đưa thêm 130.000 quân vào miền Nam, nên cần chuẩn bị tư tưởng thật vững vàng trong tình thế quyết thắng giặc Mỹ. Chống các loại tư tưởng ngán Mỹ, sợ Mỹ và sợ lâu dài ác liệt, ảo tưởng hòa bình”(13)

Tháng 2-1965, tại Hội nghị Bộ Chính trị bàn về phong trào cách mạng miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã động viên và nhắc nhở đồng bào và chiến sỹ miền Nam năm vấn đề quan trọng, trong đó có yêu cầu xây dựng quyết tâm đánh Mỹ:

“- Phong trào cách mạng miền Nam có những đặc điểm riêng biệt, nhưng cũng như bất cứ cuộc cách mạng nào khác phải xây dựng được quyết tâm, lực lượng và nắm được thời cơ.

- Đề phòng quân Mỹ nhảy vào, không sợ địch, nhưng cũng không chủ quan khinh địch”(14).

Ngày 8-3-1965, Lữ đoàn 9 Sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ là đơn vị quân chiến đấu đầu tiên của Mỹ và đồng minh đổ bộ vào Đà Nẵng. Khi Mỹ vừa tăng quân ồ ạt vào miền Nam, noi gương liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi, các chiến sĩ đặc công và biệt động Sài Gòn vừa thành lập, đã dũng cảm tiến công nhiều mục tiêu nằm sâu trong hậu phương địch như các trận đánh vào khách sạn Caraven, Brink, rạp Kinh Đô, sân Dạ Cầu (Bộ Tổng tham mưu ngụy), trận đánh chìm tàu Cadơ ở cảng Sài Gòn, tập kích sân bay Tân Sơn Nhất, đánh kho xăng Nhà Bè. Đặc biệt, các chiến sĩ biệt động Sài Gòn đã dũng cảm, mưu trí, tiến công tòa Đại sứ Mỹ, tiêu diệt 168 tên, làm bị thương 49 tên, phá hủy 20 xe(15). Những chiến thắng bước đầu này của quân và dân miền Nam trong tháng 3-1965 là căn cứ thực tiễn quan trọng để Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra chủ trương mới.

Từ 25 tới 27-3-1965, Hội nghị Trung ương 11 (đặc biệt) về tình hình và nhiệm vụ cấp bách trước mắt, xác định quyết tâm đánh Mỹ. Nghị quyết Hội nghị nêu rõ: “chuẩn bị sẵn sàng đối phó và quyết thắng cuộc chiến tranh cục bộ ở miền Nam nếu địch gây ra;... chống tư tưởng sợ Mỹ, đánh giá địch quá cao, hoặc chủ quan khinh địch, tư tưởng hoang mang dao động, cầu an, tư tưởng muốn đàm phán khi chưa có điều kiện có lợi, muốn kết thúc chiến tranh với bất cứ giá nào, tư tưởng ỷ lại vào sự giúp đỡ của nước ngoài và không tin vào sức mình...”(16).

Quán triệt và cụ thể hóa Nghị quyết Trung ương 11, cuối tháng 3-1965, Trung ương Cục ra Nghị quyết về công tác chính trị tư tưởng, xác định quyết tâm đánh thắng chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ. Khẩu hiệu “tìm Mỹ mà đánh, lùng ngụy mà diệt” đã được phổ biến khắp các địa phương miền Nam(17).

Trong bài nói chuyện tại Đại hội Anh hùng, chiến sỹ thi đua các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam lần thứ nhất (từ ngày 2 tới 6-4-1965), Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã khẳng định: “Tư tưởng lớn của thời đại là không sợ Mỹ, dám đánh Mỹ, quyết đánh Mỹ vì độc lập, dân chủ, hòa bình và tiến bộ xã hội... Đánh một kẻ thù như đế quốc Mỹ không phải dễ dàng, không phải chỉ đem gan góc ra mà phải có đường lối chiến lược, chiến thuật giỏi”(18). Để có đường lối chiến lược và chiến thuật giỏi, cần phải thấu triệt và vận dụng sáng tạo các quan điểm cơ bản của Đảng về chiến tranh nhân dân ở miền Nam trong cuộc đọ sức với đế quốc Mỹ, mà trước hết là quan điểm thực tiễn. Theo Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, “Chúng ta nghiên cứu, tìm hiểu đế quốc Mỹ không phải chỉ qua sách vở, điều lệnh chiến đấu của chúng mà chủ yếu phải qua hành động thực tiễn của chúng trên chiến trường... Nếu tính toán đầu người, đầu súng, mật độ hỏa lực pháo binh, máy bay, cơ giới... của địch một cách máy móc, sách vở thì không thể tìm ra đáp án số đúng cho các kế hoạch tác chiến của ta”(19).

Đêm 26-5-1965, một đại đội bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam đã tiến công một đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ ở Núi Thành, diệt gần hết đại đội này, được Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam tặng cờ “Lập công đầu diệt gọn đơn vị Mỹ”. Trong trận đánh ngày 18 và 19-8-1965, quân dân Vạn Tường (Quảng Ngãi) đã đánh bại cuộc hành quân “tìm diệt” đầu tiên của quân Mỹ, tiêu diệt 900 quân địch, bắn rơi 13 máy bay, phá hủy 22 xe bọc thép(20). Đánh giá ý nghĩa chiến lược của chiến thắng giặc Mỹ trong trận Vạn Tường, đồng chí Lê Duẩn chỉ rõ: “Nếu trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của Liên Xô, trận Xtalingrat là một bước ngoặt chứng tỏ rằng quân phát xít Hítle không phải là không thể đánh bại được, thì chúng ta có thể coi trận Vạn Tường là bước ngoặt, chứng minh một cách hùng hồn rằng Quân giải phóng miền Nam hoàn toàn có khả năng đánh bại được quân đội Mỹ trong điều kiện chúng có mọi ưu thế tuyệt đối về binh khí, hỏa lực so với Quân giải phóng”(21).

Sau chiến thắng Vạn Tường, quân và dân miền Nam tiếp tục tiến lên giành được những thắng lợi mới ở Đất Cuốc, Plâyme, Bàu Bàng v.v.. Năm 1964, ta tiêu diệt được 1.584 tên Mỹ, thì từ đầu năm tới tháng 11-1965, quân và dân miền Nam đã tiêu diệt được 13 nghìn quân địch (gấp 9 lần năm 1964). Nếu như ở trận Núi Thành ta chỉ mới tiêu diệt được gần đại đội Mỹ, ở trận Vạn Tường ta đã tiêu diệt được gần tiểu đoàn Mỹ, thì ở trận Đất Cuốc ta đã tiêu diệt được cả tiểu đoàn Mỹ và tới trận Plâyme và Bầu Bàng: 2 sư đoàn cơ động của Mỹ đã bị đánh thiệt hại nặng(22). Những chiến thắng này đã khẳng định tính đúng đắn và sáng tạo của những chủ trương và biện pháp kịp thời của Trung ương Cục miền Nam và tư tưởng quân sự độc đáo “Nắm thắt lưng địch mà đánh” của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh(23).

Trong bức “Điện mừng nhân dịp kỷ niệm lần thứ năm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam”, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Những chiến thắng vẻ vang gần đây ở Vạn Tường, Pơlâyme, Đà Nẵng, Chu Lai, Bầu Bàng, Dầu Tiếng, Sài Gòn, v.v.. càng chứng tỏ quân và dân ta ở miền Nam có đủ khả năng đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ dù chúng đưa thêm vào miền Nam mấy chục vạn quân nữa”(24). Những thắng lợi to lớn của quân và dân miền Nam trong cuộc chiến không cân sức với giặc Mỹ xâm lược trong năm 1965 là cơ sở thực tiễn quyết định để Ban Chấp hành Trung ương họp Hội nghị Trung ương 12 (12-1965) thông qua chủ trương, quyết tâm đánh Mỹ và kiên quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Tất nhiên, để đi tới Nghị quyết Trung ương 12, trước đó Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên trì thuyết phục và kiên quyết đấu tranh nội bộ để thông qua Nghị quyết 9 (12-1963) và Nghị quyết Trung ương 11 (đặc biệt) (3-1965) cùng những quyết định quan trọng liên quan tới công tác tổ chức và cán bộ.

Theo Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, “Vấn đề gốc, vấn đề cơ bản của Nghị quyết Trung ương 12 là lập trường kiên quyết đánh Mỹ, do đó công tác chính trị phải làm sáng tỏ và quán triệt tinh thần đó. Muốn nói gì thì nói nhưng muốn thi hành tốt Nghị quyết Trung ương 12 phải có lập trường kiên quyết đánh Mỹ, nếu kém cái đó thì coi như không có kết quả. Nói đến lập trường Mác - Lênin không phải là đống sách, mà ta phải có gan đánh Mỹ. Lập trường đánh Mỹ tương đối phức tạp, yêu cầu rất cao và có cái rất tế nhị. Hỏi tại sao phải đánh Mỹ thì không có gì phức tạp lắm, ai cũng có thể xác định được nó là kẻ thù xâm lược... nhưng đánh Mỹ ở đâu, đánh như thế nào, ai đi đánh, có những cái phức tạp, tế nhị của nó”(25).

Quán triệt sâu sắc tinh thần của Nghị quyết Trung ương 12 và quan điểm chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Cục miền Nam và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam đã lãnh đạo quân và dân miền Nam tiếp tục tiến lên giành những thắng lợi mới, tạo tiền đề cơ bản tiến tới cuộc Tổng tiến công và nổi dậy chiến lược Tết Mậu Thân 1968 và từ đó mở ra cục diện vừa đánh, vừa đàm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

____________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 1-2015

(1), (2), (16) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.26, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.635, 652-653, 109 và 114.

(3) xem Sđd, t.24, tr.779 và 782.

(4), (5), (21) Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: Những mốc son lịch sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr.47, 53, 82.

(6), (8), (9), (13), (14), (15), (17), (20): Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.280-284, 561, 562, 589, 596, 606-607, 605-606, 615.

(7) Lê Duẩn: Thư vào Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.30.

(10), (18), (19), (22), (23), (25) Tổng tập Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, tập 1, quyển 2, Nxb Thời Đại, Hà Nội, 2013, tr.337, 476, 652, 332, 180.

(11), (12), (24) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.350, 374-375, 562.

 

Nguồn: TS Lê Trung Nguyệt

 

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng

(LLCT)  Ngày 28-1-2016, tại phiên bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, các đại biểu đã biểu quyết thông qua Nghị quyết Đại hội. Tạp chí Lý luận chính trị trân trọng giới thiệu toàn văn Nghị quyết:



ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XII

*

 

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
_________________________

Hà Nội, ngày 28 tháng 01 năm 2016

 

NGHỊ QUYẾT

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XII
_________

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII Đảng Cộng sản Việt Nam họp từ ngày 20-01-2016 đến ngày 28-01-2016, tại Thủ đô Hà Nội, sau khi thảo luận các văn kiện do Ban Chấp hành Trung ương khoá XI trình,

QUYẾT NGHỊ

I- Tán thành những nội dung cơ bản về đánh giá tình hình 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XI (2011 - 2015) và phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 2016 - 2020 nêu trong Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế - xã hội của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI trình Đại hội :

1- Đánh giá tổng quát kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XI và nhìn lại 30 năm đổi mới

Năm năm qua (2011 - 2015), bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến rất phức tạp; kinh tế thế giới phục hồi chậm; khủng hoảng chính trị ở nhiều nơi, nhiều nước; cạnh tranh về nhiều mặt ngày càng quyết liệt giữa các nước lớn tại khu vực; diễn biến phức tạp trên Biển Đông,... đã tác động bất lợi đến nước ta. Trong nước, ngay từ đầu nhiệm kỳ, cùng với những ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, những hạn chế, khiếm khuyết vốn có của nền kinh tế, những hạn chế, yếu kém trong lãnh đạo, quản lý và những vấn đề mới phát sinh đã làm cho lạm phát tăng cao, ảnh hưởng nghiêm trọng đến ổn định kinh tế vĩ mô, tốc độ tăng trưởng và đời sống nhân dân. Thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu gây thiệt hại nặng nề. Nhu cầu bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội ngày càng cao. Đồng thời, chúng ta phải dành nhiều nguồn lực để bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền đất nước trước những diễn biến mới, phức tạp của tình hình khu vực và quốc tế. Trong bối cảnh đó, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nỗ lực phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng và đạt được những thành quả quan trọng.

Nền kinh tế vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, quy mô và tiềm lực được nâng lên; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát; tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức hợp lý, từ năm 2013 dần phục hồi, năm sau cao hơn năm trước. Đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế và thực hiện ba đột phá chiến lược được tập trung thực hiện, bước đầu đạt kết quả tích cực. Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hoá, xã hội, y tế có bước phát triển. An sinh xã hội được quan tâm nhiều hơn và cơ bản được bảo đảm, đời sống của nhân dân tiếp tục được cải thiện. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững hoà bình, ổn định. Quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, hiệu quả. Vị thế, uy tín quốc tế của nước ta tiếp tục được nâng cao. Dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được phát huy. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị được chú trọng và đạt kết quả quan trọng.

Tuy nhiên, đổi mới chưa đồng bộ và toàn diện. Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chưa đạt kế hoạch; nhiều chỉ tiêu, tiêu chí trong mục tiêu phấn đấu để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa đạt được. Nhiều hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hoá, xã hội, y tế chậm được khắc phục. Đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi. Một số mặt công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị chuyển biến chậm.

Ba mươi năm đổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Đổi mới mang tầm vóc và ý nghĩa cách mạng, là quá trình cải biến sâu sắc, toàn diện, triệt để, là sự nghiệp cách mạng to lớn của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

Nhìn tổng thể, qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; đồng thời cũng còn nhiều vấn đề lớn, phức tạp, nhiều hạn chế, yếu kém cần phải tập trung giải quyết, khắc phục để tiếp tục đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững hơn.

Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử qua 30 năm đổi mới khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử. Thành tựu và những kinh nghiệm bài học đúc kết từ thực tiễn đã tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để đất nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới.

2- Mục tiêu tổng quát, các chỉ tiêu quan trọng và nhiệm vụ trọng tâm trong 5 năm 2016 - 2020

Năm năm tới, tình hình thế giới và khu vực sẽ còn nhiều diễn biến rất phức tạp, tác động trực tiếp đến nước ta, tạo ra cả thời cơ và thách thức. Hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn. Toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế, cách mạng khoa học - công nghệ, kinh tế tri thức tiếp tục được đẩy mạnh. Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông Nam Á đã trở thành một cộng đồng, tiếp tục là trung tâm phát triển năng động, có vị trí địa - kinh tế - chính trị chiến lược ngày càng quan trọng; đồng thời, đây cũng là khu vực cạnh tranh chiến lược giữa một số nước lớn, có nhiều nhân tố bất ổn; tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo trong khu vực và trên Biển Đông còn diễn ra gay gắt.

Ở trong nước, thế và lực, sức mạnh tổng hợp của đất nước tăng lên, uy tín quốc tế của đất nước ngày càng được nâng cao. Nước ta sẽ thực hiện đầy đủ các cam kết trong cộng đồng ASEAN và WTO, tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, hội nhập quốc tế với tầm mức sâu rộng hơn nhiều so với giai đoạn trước. Thời cơ, vận hội phát triển mở ra rộng lớn. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức. Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn tồn tại, nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới; nguy cơ "diễn biến hoà bình" của thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; sự tồn tại và những diễn biến phức tạp của tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí,...

Để tận dụng, phát huy tốt nhất thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần đoàn kết một lòng, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu, các chỉ tiêu và nhiệm vụ sau :

Mục tiêu tổng quát :

Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ gìn hoà bình, ổn định, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để phát triển đất nước; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

Các chỉ tiêu quan trọng :

- Về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 6,5 - 7%/năm. Đến năm 2020, GDP bình quân đầu người khoảng 3.200 - 3.500 USD; tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP khoảng 85%; tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân 5 năm bằng khoảng 32 - 34% GDP; bội chi ngân sách nhà nước còn khoảng 4% GDP. Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng khoảng 30 - 35%; năng suất lao động xã hội bình quân tăng khoảng 5%/năm; tiêu hao năng lượng tính trên GDP bình quân giảm 1 - 1,5%/năm. Tỉ lệ đô thị hoá đến năm 2020 đạt 38 - 40%.

- Về xã hội : Đến năm 2020, tỉ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội khoảng 40%; tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 65 - 70%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt 25%; tỉ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%; có 9 - 10 bác sĩ và trên 26,5 giường bệnh trên 1 vạn dân; tỉ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 80% dân số; tỉ lệ hộ nghèo giảm bình quân khoảng 1,0 - 1,5%/năm.

- Về môi trường : Đến năm 2020, 95% dân cư thành thị, 90% dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh và 85% chất thải nguy hại, 95 - 100% chất thải y tế được xử lý; tỉ lệ che phủ rừng đạt 42%.

Các nhiệm vụ trọng tâm :

Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, trên cơ sở quán triệt và lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện việc thực hiện các quan điểm, nhiệm vụ trên tất cả các lĩnh vực đã nêu trong Báo cáo chính trị và Báo cáo kinh tế - xã hội, cần đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát huy mọi nguồn lực và động lực để phát triển đất nước nhanh, bền vững; đặc biệt chú trọng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có kết quả các nhiệm vụ trọng tâm sau :

(1) Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

(2) Xây dựng tổ chức bộ máy của toàn hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.

(3) Tập trung thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lược (hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ), cơ cấu lại tổng thể và đồng bộ nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chú trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Chú trọng giải quyết tốt vấn đề cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, cơ cấu lại ngân sách nhà nước, xử lý nợ xấu và bảo đảm an toàn nợ công.

(4) Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước; bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Mở rộng và đưa vào chiều sâu các quan hệ đối ngoại; tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện hiệu quả hội nhập quốc tế trong điều kiện mới, tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế.

(5) Thu hút, phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực và sức sáng tạo của nhân dân. Chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, giải quyết tốt những vấn đề bức thiết; tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và giảm nghèo bền vững. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

(6) Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh.

II- Thông qua Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI trình Đại hội XII.

Giao Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII tiếp thu ý kiến của Đại hội, phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong nhiệm kỳ tới.

III- Thông qua Báo cáo tổng kết việc thi hành Điều lệ Đảng khoá XI; đồng ý không sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng hiện hành.

Giao Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII hướng dẫn, quy định cụ thể và tăng cường kiểm tra, giám sát, bảo đảm thi hành nghiêm, thống nhất Điều lệ trong toàn Đảng.

IV- Thông qua Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay". Giao Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII kiên quyết, kiên trì với quyết tâm chính trị cao lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục thực hiện toàn diện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" gắn với việc thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

V- Thông qua kết quả bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII gồm 200 đồng chí, trong đó 180 đồng chí Uỷ viên Trung ương chính thức, 20 đồng chí Uỷ viên Trung ương dự khuyết.

VI- Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII và các cấp uỷ, tổ chức đảng lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể hoá và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối và những chủ trương nêu trong các văn kiện Đại hội XII.

Đại hội kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đồng bào ta ở nước ngoài phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, ra sức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội, mở ra thời kỳ phát triển mới, vẻ vang, tốt đẹp của đất nước, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

(Nguồn: daihoi12.dvn/angcongsan.)