Chủ Nhật, 3 tháng 12, 2023

Việt Nam kiên định chính sách quốc phòng độc lập, tự vệ, vì hòa bình, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

 


Chính sách quốc phòng của Việt Nam hiện nay là sự nhất quán về đường lối, chủ trương và luật pháp về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc của Đảng và Nhà nước Việt Nam; là tư tưởng quốc phòng đúng đắn, được lựa chọn và xác lập phù hợp với tình hình thực tiễn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay; là sự kế thừa truyền thống, tinh hoa văn hóa dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, được nâng lên và cấu thành nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

 

Việt Nam ban hành nhiều chính sách quốc phòng, là sự thể hiện tầm cao trí tuệ, đúc kết tài thao lược quân sự, quốc phòng của Đảng, Nhà nước, quân đội, phù hợp với bối cảnh quốc tế, thực tiễn đất nước, hòa bình hoặc chiến tranh, xung đột mà Việt Nam đang phải đối diện. Nhờ đó, Việt Nam không chỉ bảo vệ được toàn vẹn chủ quyền, lãnh thổ của Tổ quốc, mà còn phá vỡ thế bao vây, cấm vận, mở đường hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới, giữ vững nền hòa bình, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

Để chuẩn bị cho đất nước bước vào thời kỳ phát triển nhanh và bền vững, thực hiện các mục tiêu chiến lược đến năm 2045, đưa Việt Nam trở thành một nước thịnh vượng, hùng cường và có nhiều đóng góp quan trọng vào giữ vững, xây đắp nền hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực và thế giới, Đảng và Nhà nước ta ban hành chính sách quốc phòng Việt Nam (1), với một số quan điểm cơ bản:  

“Bốn không”: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

“Một đồng”: Đồng thời tăng cường hợp tác quốc phòng với các nước để nâng cao khả năng bảo vệ đất nước và giải quyết các thách thức an ninh chung.

“Một tùy”: Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp.

Như vậy, “mẫu số chung” của chính sách quốc phòng Việt Nam là: “Tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế”. Điều này thể hiện một chính sách quốc phòng độc lập, tự vệ, tiến bộ và đúng đắn của Việt Nam, vừa bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, vừa tôn trọng và hài hòa với lợi ích của các quốc gia khác và cộng đồng quốc tế.  

“Không tham gia liên minh quân sự” là chính sách đầu tiên, chi phối và quyết định toàn bộ các chính sách quốc phòng khác của Việt Nam. Thực hiện chính sách quốc phòng nhất quán độc lập, tự chủ, Việt Nam xây dựng sức mạnh quốc phòng bằng nguồn lực mọi mặt của đất nước và con người Việt Nam; độc lập song không biệt lập, mà đồng thời (“một đồng”) chú trọng tăng cường quan hệ quốc phòng với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, cùng có lợi, vì hòa bình và sự tiến bộ của thế giới.

Bởi vậy, những luận điệu cổ xúy Việt Nam “chọn phe”, “liên thủ” hoặc “liên minh” quân sự với nước khác để “gia tăng sức mạnh bảo toàn chủ quyền lãnh thổ”, cũng như đi ngược lại nguyên tắc “bốn không”, bản chất là âm mưu hòng làm suy yếu nền quốc phòng của Việt Nam, phá vỡ nguyên tắc nền quốc phòng tự chủ của một quốc gia độc lập, dẫn đến sự lệ thuộc vào các lực lượng quân sự khác, gây nên những hệ lụy to lớn ảnh hưởng tới sức mạnh, chiến lược bảo vệ Tổ quốc, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Cùng với “bốn không”, “một đồng”, chính sách “một tùy” thể hiện sự khéo léo, linh hoạt, nhưng hết sức cứng rắn trong quan hệ quốc tế, quốc phòng, quân sự của Việt Nam. Trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, Việt Nam sẽ “cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp”, nhằm tăng thêm thực lực, sức mạnh quốc phòng, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu, hành động xâm hại đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Mối quan hệ biện chứng, tương hỗ, chuyển biến linh hoạt giữa “bốn không”, “một đồng”, “một tùy” trong chính sách quốc phòng Việt Nam thể hiện sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nghệ thuật quân sự của dân tộc, phù hợp với xu thế của thời đại, bảo vệ tuyệt đối chủ quyền đất nước, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc.

Lịch sử chiến tranh và quân đội trên thế giới đã chứng minh về tính chất hai mặt của liên minh quân sự. Hiện nay, thế giới đang tồn tại một số liên minh, khối quân sự tiêu biểu: 1) Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) - liên minh quân sự 30 nước do Mỹ đứng đầu; 2) Tổ chức Hiệp ước An ninh tập thể (CSTO) - liên minh chính trị quân sự 6 nước châu Âu (thuộc khối Liên Xô trước đây) do Nga dẫn đầu; 3) Tổ chức An ninh tập thể Thượng Hải gồm 5 nước Nga, Trung Quốc, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan; 4) Liên minh quân sự 3 nước Ô-xtrây-li-a, Niu Di-lân, Mỹ (ANZUS); 5) Liên minh quân sự Mỹ - Nhật Bản - Hàn Quốc; 6) Liên minh quân sự Nga - Bê-la-rút... Ngoài ra, trước sự tranh giành, mâu thuẫn và đối đầu quyết liệt về lợi ích, thế giới đã hình thành các “Bộ Tứ”, “Bộ Tam kim cương” ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, như: Mỹ - Nhật Bản - Ô-xtrây-li-a - Ấn Độ; Nga - Trung Quốc - I-ran; Nga - I-ran - Ấn Độ; quan hệ Đối tác An ninh tăng cường ba bên (AUKUS): Mỹ - Ô-xtrây-li-a - Anh…   

 

Trong tính tương đối, các liên minh, khối quân sự trên tạo ra một cục diện tương đối hòa bình, ổn định cho khu vực và thế giới trong thời gian qua; nhưng mặt khác, chính các khối liên minh quân sự này đã và đang gây ra những căng thẳng, châm ngòi cho các cuộc chiến tranh, xung đột, tranh chấp, chủ nghĩa khủng bố kéo dài dai dẳng. Mâu thuẫn về lợi ích căn bản giữa các nước lớn đã thúc đẩy những hành động quân sự, chính sách quốc phòng cực đoan. Các nước khác trong và ngoài các khối này luôn bị lôi kéo hoặc cuốn vào những cuộc xung đột, buộc phải chi phí, tiêu hao nguồn lực quốc gia cho quốc phòng, an ninh để tăng cường phòng bị và tham gia nhiều hoạt động quân sự của liên minh; hoặc liên tục bị xung đột, chiến tranh, chủ nghĩa khủng bố tàn phá... khiến cho đất nước không thể phát triển, ngày càng phụ thuộc, lệ thuộc sâu hơn vào các nước lớn. Và, một khi lợi ích quốc gia của các nước lớn hoặc các quốc gia thuộc khối quân sự lớn đạt được thì lợi ích của các đồng minh nhỏ hoặc các nước nhỏ sẽ bị gạt đi một cách phũ phàng… Sự thật đó cho thấy, việc “chọn phe” cũng có thể đồng nhất với sự đánh mất chủ quyền quốc gia - dân tộc, khi quyền căn bản nhất là độc lập về đường lối chính trị đối nội và đối ngoại, quân sự đã bị nước ngoài can thiệp. “Chọn phe” phần nào thể hiện sự lệ thuộc, sự lạc hậu về tư tưởng và hành động quốc phòng, quân sự, đi ngược lại xu thế hòa bình và hợp tác của thời đại. Các quốc gia trên thế giới dù có cùng chung ý thức hệ hoặc khác biệt ý thức hệ đều có thể tồn tại, chung sống hòa bình, thịnh vượng nếu các bên cùng tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau. Vì vậy, việc kiên trì chính sách quốc phòng “bốn không”, “một đồng”, “một tùy” là sự lựa chọn đúng đắn của Việt Nam.

Lịch sử và hiện tại đều chứng minh, Việt Nam có đủ sức mạnh để tự bảo vệ mình mà không cần lệ thuộc, phụ thuộc vào bất cứ khối và liên minh quân sự nào. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam chính là sức mạnh tổng hợp quốc gia, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước; của đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại... Khối đại đoàn kết toàn dân tộc của nhân dân Việt Nam đã trở thành sức mạnh vô địch mà không một kẻ địch nào có thể chiến thắng được. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Đoàn kết là sức mạnh vô địch. Ta kháng chiến thắng lợi, cũng nhờ đoàn kết. Ta xây dựng hòa bình thắng lợi, cũng nhờ đoàn kết” (2).

Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam. Quá trình xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đã khẳng định sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội vừa là nguyên tắc, vừa là quy luật trong xây dựng lực lượng vũ trang kiểu mới của giai cấp công nhân; đồng thời là nhân tố quyết định bảo đảm cho quân đội luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; xứng đáng là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Nguyên tắc bất di bất dịch đó và thực tiễn xây dựng, trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam là minh chứng hùng hồn đập tan mưu đồ của các thế lực thù địch đòi “phi chính trị hóa”, “trung lập hóa” và “dân sự hóa” quân đội, hòng làm cho quân đội nước ta mất phương hướng chính trị, xa rời lý tưởng, mục tiêu chiến đấu.

Việt Nam chủ trương phát triển kinh tế - xã hội đồng thời tăng cường khả năng quốc phòng; phối hợp chặt chẽ hoạt động quốc phòng, an ninh với hoạt động đối ngoại thành một thể thống nhất để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam thực hiện chiến lược quốc phòng dựa trên tổng thể các hoạt động chính trị, kinh tế, ngoại giao, văn hóa - xã hội và quân sự nhằm triệt tiêu các nguyên nhân dẫn đến xung đột vũ trang và chiến tranh. Quán triệt phương châm phòng thủ toàn diện, chủ động, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, quốc phòng Việt Nam sử dụng các biện pháp tổng hợp nhằm giữ vững ổn định bên trong, ngăn ngừa các nguy cơ can thiệp từ bên ngoài.

Đó còn là sức mạnh của thực lực quân sự, quốc phòng Việt Nam đã không ngừng được xây dựng, lớn mạnh cả về lực lượng, tiềm lực, thế trận, khoa học - công nghệ, nghệ thuật chỉ huy, tác chiến, sự tập trung thống nhất về lãnh đạo và quản lý quốc phòng - an ninh quốc gia, vùng, miền chiến lược, địa phương và cơ sở. Các lực lượng vũ trang, nhất là quân đội được nhanh chóng xây dựng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại... luôn trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại quốc phòng, tích cực tham gia trách nhiệm và hiệu quả vào các hoạt động gìn giữ hòa bình thế giới, góp phần nâng cao uy tín và vị thế của đất nước nói chung, của Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng trên trường quốc tế; đóng góp thiết thực vào sự nghiệp bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Rõ ràng, những thành tựu, cùng thực lực sức mạnh quân sự, quốc phòng của Việt Nam đã tạo tiền đề vững chắc cho sự lựa chọn, kiên định, thống nhất triển khai thực hiện chính sách quốc phòng độc lập, tự vệ, vì hòa bình; là điều kiện thuận lợi cho xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; đồng thời tự nó là minh chứng đanh thép đập tan những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, kêu gọi từ bỏ chính sách quốc phòng của Việt Nam hiện nay./.

          V3.

Vai trò, nhiệm vụ của các cấp ủy tổ chức cơ sở đảng và đảng viên trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch trong tình hình hiện nay

 



        Vai trò của các cấp ủy tổ chức cơ sở đảng trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới được thể hiện trên những phương diện cụ thể như sau:
        - Thứ nhất, quán triệt triển khai thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân.

           Trước hết, các cấp ủy tổ chức cơ sở đảng có vai trò quán triệt nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đến cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân trên địa bàn, cơ quan, đơn vị, giúp cho mỗi người hiểu được đường lối, chủ trương của Đảng và ý thức được trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

 Ngoài ra, các cấp ủy tổ chức cơ sở đảng còn tuyên truyền, giải thích, hướng dẫn cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phán bác các quan điểm sai trái, thù địch một cách thuận lợi, phù hợp với điều kiện của từng cơ sở.
        - Thứ hai, lãnh đạo, chỉ đạo đề ra và thực hiện các chủ trương, biện pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Căn cứ vào những yêu cầu thực tiễn đặt ra, các cấp ủy tổ chức cơ sở đảng ban hành các nghị quyết, chủ trương, biện pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Ngoài ra, các cấp ủy tổ chức cơ sở đảng có vai trò lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện các chủ trương, biện pháp thực hiện công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Điều cần lưu ý là việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ này gắn liền với nhiệm vụ chính trị và phải được tích hợp trong mọi nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị.
        - Thứ ba, xây dựng, tổ chức lực lượng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Tùy theo đặc điểm, tình hình, các cấp ủy tổ chức cơ sở đảng còn có vai trò xây dựng các lực lượng tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; vận động và tập hợp đông đảo quần chúng tham gia; đồng thời đề ra các phương án, cách thức tổ chức phù hợp để phát huy vai trò của từng lực lượng; huy động cơ sở vật chất, các phương tiện kỹ thuật, nhân lực... tham gia nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
        - Thứ tư, vận động, tổ chức để cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

 Với năng lực, trình độ và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên để trực tiếp tham gia vào nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng bằng những hình thức khác nhau như viết tin bài, chia sẻ thông tin tích cực, tuyên truyền cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân nhận diện những thông tin có nội dung xấu độc... Từ đó, tạo hiệu ứng tích cực, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu để cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân làm theo.

  - Thứ năm, kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch của cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân tại cơ sở.

Qua việc kiểm tra, giám sát đó, kịp thời phát hiện những hạn chế, khuyết điểm của các cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện nhiệm vụ; tuyên dương, nhân rộng những cách làm hay, những mô hình sáng tạo, hiệu quả.

Trên cơ sở vai trò đó, các cấp ủy tổ chức cơ sở đảng và đảng viên cần xác định nhiệm vụ của việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới là:

 - Triển khai thực hiện chủ trương của cấp ủy cấp trên về nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
        - Tổ chức quán triệt đến các tổ chức đảng trực thuộc và cán bộ, đảng viên chủ trương, kế hoạch, biện pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thủ địch.

 - Lãnh đạo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở, bảo đảm tổ chức đảng và hệ thống chính trị cơ sở trong sạch, vững mạnh.
        - Lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể thực hiện công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đầu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới tại cơ sở.

 - Thông qua vai trò của cán bộ, đảng viên, nhất là vai trò, trách nhiệm nêu gương của cấp ủy, người đứng đầu, tạo động lực và sự lan tỏa cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đầu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch tại cơ sở.

 - Kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên để nhân rộng, phát triển những cách làm hay, những mô hình tiêu biểu, đồng thời kịp thời điều chỉnh, uốn nắn những cá nhân, tổ chức, đoàn thể thực hiện chưa tốt nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái ở cơ quan, đơn vị mình.

Qua hơn 36 năm tiến hành công cuộc đổi mới, mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng đất nước ta “đã đạt được những thành tựu to lớn, có ÿ nghĩa lịch sử” “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”. Điều đó chứng minh cho tính đúng đắn của nền tảng tư tưởng của Đảng ta được thử thách, kiểm nghiệm qua thực tiễn lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam trong suốt hơn 92 năm qua và khẳng định một chân lý: Ở nước ta, không có một lực lượng chính trị nào, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.

          V3.

Tiếp tục đẩy mạnh, có hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới

 


Thời gian qua, công tác đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã đạt được những kết quả tích cực. Ban chỉ đạo 35 các cấp được thành lập, cùng với cơ quan thường trực, lực lượng nòng cốt, lực lượng chuyên sâu, lực lượng tham gia đấu tranh ở từng cấp đã hoạt động hiệu quả, góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Tuy nhiên, trước âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, nham hiểm, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

Một là, chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của các đối tượng để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở Việt Nam hiện nay cần có những nội dung, phương thức phù hợp với từng thời điểm, giai đoạn nhất định. Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức lợi dụng internet, mạng xã hội để chống phá, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, bởi vậy, ngoài hình thức đấu tranh truyền thống, cần bổ sung những hình thức đấu tranh mới, như: đấu tranh trực tiếp, trực diện trên không gian mạng, thông qua các phương tiện truyền thông xã hội; xây dựng đội ngũ thông tin viên rộng rãi, nhất là hội viên các đoàn thể nhân dân…

Hai là, tiếp tục tuyên truyền, làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần ở nước ta. Thực hiện nghiêm, có hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 9-2-2018, của Ban Bí thư khóa XII “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tăng cường công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, kịp thời luận giải những vấn đề lý luận mới, khó, còn nhiều ý kiến khác nhau, tạo sự đồng thuận trong nhận thức xã hội. Bằng các hình thức tuyên truyền phù hợp, giúp cán bộ, đảng viên, nhân dân hiểu rõ và nắm vững bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thấy rõ bản chất phản động của những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch…

Đẩy mạnh tuyên truyền, làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần ở nước ta_Ảnh: TTXVN

Ba là, kiên định, vận dụng đúng đắn và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. V.I. Lê-nin đã từng chỉ rõ: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”(6). Kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin nghĩa là phải nắm vững bản chất khoa học và cách mạng, vận dụng và phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta, để những nội dung, quan điểm của học thuyết Mác - Lê-nin có thêm sức sống mới, được hiện thực hóa, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay./.

          V3.

 

Thực trạng phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay

 


Tham nhũng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của các quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, tham nhũng được nhận diện là một quốc nạn, một trong bốn nguy cơ làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; công tác phòng, chống tham nhũng được xác định là cuộc đấu tranh lâu dài, khó khăn và phức tạp. Bài viết phân tích, đánh giá thực trạng và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong thời gian tới.

Theo số liệu do Tổ chức Minh bạch thế giới (TI) công bố, Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) của Việt Nam trong những năm gần đây đã tăng lên, thể hiện một chỉ báo tích cực đối với các nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN). Cụ thể, năm 2018, Việt Nam đạt 33/100 điểm, xếp hạng 117/180 toàn cầu. Trong năm 2018, Đảng và Nhà nước đã có nhiều nỗ lực đẩy mạnh công tác PCTN, điển hình là việc nhanh chóng, kiên quyết xử lý các vụ án tham nhũng lớn và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về PCTN. Tháng 11/2018, Quốc hội đã thông qua Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) gồm 10 chương với 96 điều. Chính phủ đã chỉ đạo tăng cường kiểm tra và tổ chức thực hiện nghiêm các biện pháp PCTN như: đề cao tính liêm chính trong khu vực công, thực hiện hiệu quả công tác kê khai và công khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức... Vì vậy, chỉ số CPI của Việt Nam năm 2019 đạt 37/100 điểm, tăng 4 điểm so với năm 2018, đứng thứ 96/180 quốc gia, vùng lãnh thổ trong bảng xếp hạng toàn cầu, tăng 21 bậc so với năm 2018. Đây là mức điểm cao nhất mà Tổ chức Minh bạch thế giới đánh giá đối với Việt Nam và là năm có mức tăng điểm cao nhất từ trước đến nay; cũng là sự khẳng định những kết quả tích cực trong công tác PCTN ở Việt Nam.

Những kết quả nêu trên thể hiện quyết tâm chính trị cùng với những hành động quyết liệt, thực hiện những giải pháp hiệu quả của Đảng và Nhà nước, của cả hệ thống chính trị từ Trung ương tới địa phương trong công tác PCTN. Cụ thể, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng được thành lập “với mong muốn đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng thêm một bước”(1). Trong nhiệm kỳ Đại hội ĐBTQ lần thứ XI, có 56.572 đảng viên bị xử lý kỷ luật, trong đó có 16.259 cấp ủy viên các cấp. Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã tiến hành kiểm tra 13 tổ chức đảng và 33 đảng viên. Qua kiểm tra, kết luận các tổ chức đảng, đảng viên đều có khuyết điểm, vi phạm, trong đó đề nghị thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách 3 tổ chức đảng, thi hành kỷ luật 13 đảng viên (khiển trách 7, cảnh cáo 6). Ủy ban kiểm tra các địa phương, đơn vị đã kiểm tra 15.898 tổ chức đảng và 55.217 đảng viên, trong đó số tổ chức đảng có vi phạm là 10.478, phải thi hành kỷ luật 791 tổ chức đảng; số đảng viên có vi phạm là 42.757, trong đó phải thi hành kỷ luật 20.344 trường hợp(2). 

Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội ĐBTQ lần thứ XII của Đảng đến cuối năm 2018, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành 45 nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và phòng, chống tham nhũng; Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua, ban hành 45 luật, pháp lệnh, 46 nghị quyết; Chính phủ đã ban hành 511 nghị định, 413 nghị quyết, 160 quyết định nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng; đã thi hành kỷ luật 53.306 đảng viên với hơn 60 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 16 Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, trong đó có cả Ủy viên Bộ Chính trị(3).

Trong năm 2019, công tác PCTN đã có bước tiến mạnh mẽ với nhiều chủ trương, giải pháp đột phá, đi vào chiều sâu, do đó tham nhũng được kiềm chế, từng bước ngăn chặn và có chiều hướng thuyên giảm, góp phần quan trọng giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao uy tín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Nổi bật là đẩy mạnh việc xây dựng, hoàn thiện thể chế trên các lĩnh vực đời sống: “Cụ thể là Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành gần 30 văn bản về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và PCTN. Quốc hội đã thông qua 18 luật, 20 nghị quyết; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 100 nghị định, 119 nghị quyết, 37 quyết định, 33 chỉ thị. Như vậy, tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội ĐBTQ lần thứ XII đến nay, đã thi hành kỷ luật hơn 90 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 21 đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng (2 Ủy viên Bộ Chính trị), 22 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang”(4). Những tháng đầu năm 2020, Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN yêu cầu tập trung đưa ra xét xử sơ thẩm 10 vụ án nghiêm trọng, phức tạp được dư luận xã hội quan tâm.

Có thể khẳng định rằng, công tác PCTN ở Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận; nạn tham nhũng đã bị ngăn chặn, đẩy lùi; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước được nâng lên. Có thể khái quát một số đặc điểm của công tác PCTN ở Việt Nam như sau: 

- Không có vùng cấm, không có đặc quyền, không có ngoại lệ, không chịu sự tác động không đúng của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào;

- Làm từng bước, rõ đến đâu xử lý đến đó; 

- Nhân dân và cả hệ thống chính trị vào cuộc; 

- Nhân văn, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; 

- Lấy phòng ngừa là chính, cơ bản, phát hiện, xử lý là quan trọng, cấp bách.

Bên cạnh kết quả đạt được, công tác PCTN ở Việt Nam vẫn còn một số hạn chế như: công tác tuyên truyền, giáo dục về PCTN hiệu quả chưa cao, hiện tượng phải hối lộ, bôi trơn hoặc tác động bằng hình thức khác để được thuận lợi hơn trong giải quyết công việc còn phổ biến; một số cơ chế, chính sách còn thiếu chặt chẽ, chưa phù hợp với thực tiễn; thực thi pháp luật có lúc, có nơi chưa nghiêm. Công tác tổ chức, cán bộ, kiểm soát tài sản, thu nhập còn nhiều hạn chế, vướng mắc; vấn đề phát hiện, xử lý tham nhũng chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là tự phát hiện, xử lý tham nhũng trong nội bộ...

V3.

 

Tự tu chỉnh, “đánh thắng kẻ địch bên trong của mỗi chúng ta"

        Biểu hiện suy thoái hàng đầu về đạo đức, lối sống đã được Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng chỉ ra là: “Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình”. Vì vậy, đấu tranh đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân là góp phần làm trong sạch hóa, lành mạnh hóa đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay.

Sáng ngời một thế hệ tự nguyện cống hiến, hy sinh

Chủ nghĩa cá nhân là căn bệnh hoàn toàn trái với phẩm chất đạo đức của người cán bộ, đảng viên. Bất cứ ai đã đi theo Đảng, theo cách mạng, nhất là những người cán bộ, đảng viên thì luôn phải tâm nguyện suốt đời hy sinh, phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng của Đảng, của Bác Hồ và nhân dân ta đã chọn là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Trung thành với mục tiêu lý tưởng cách mạng đó, nhiều thế hệ cán bộ, đảng viên đã một lòng một dạ luôn đặt lợi ích của tập thể, của đất nước lên trên hết, trước hết.

Là đảng viên cộng sản, chắc hẳn ai cũng biết phẩm chất kiên trung, ngời sáng của biết bao chiến sĩ cách mạng trong các ngục tù, mặc dù trước sự tra tấn dã man của đế quốc thực dân, hay trước khi ra pháp trường bước lên máy chém vẫn một lòng một dạ trung thành tuyệt đối với lý tưởng của Đảng, thương yêu đồng đội, hết lòng vì lợi ích chung, nên “Chết còn trút áo cho nhau/ Miếng cơm dành để người sau ấm lòng” (thơ Tố Hữu).

Trong suốt chặng đường cách mạng của đất nước ta, nhất là trong các cuộc kháng chiến giành độc lập, tự do của dân tộc đã xuất hiện hàng vạn cán bộ, đảng viên tiêu biểu về phẩm chất vì lợi ích tập thể mà quên đi lợi ích cá nhân. Phẩm chất đó là rất đáng trân trọng, là cao cả nhất, là thước đo không gì sánh nổi về tư tưởng vì nước, vì dân mà quên thân, quên lợi ích cá nhân.

Không có sách báo nào viết hết, ca ngợi hết những giá trị to lớn của hàng vạn tấm gương chủ nghĩa anh hùng cách mạng; anh hùng, liệt sĩ và biết bao cán bộ, chiến sĩ trong suốt chặng đường cách mạng hơn 93 năm qua do Đảng, Bác Hồ lãnh đạo. Tiêu biểu là từ các lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, các chiến sĩ cách mạng tiền bối như: Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Hà Huy Tập, Võ Thị Sáu, Nguyễn Thị Minh Khai, Lý Tự Trọng... đến những anh hùng sáng ngời tinh thần bất khuất như: Nguyễn Văn Trỗi, Võ Thị Thắng, Đinh Núp... Họ đã trở thành biểu tượng cao đẹp về tấm lòng trung kiên, dũng cảm, vì nước, vì dân, được muôn đời thế hệ sau ngợi ca, học tập và noi theo.

Những triệu chứng nguy hại của bệnh cá nhân chủ nghĩa thời nay

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, trên chặng đường lịch sử cách mạng, chúng ta cũng đau lòng khi một bộ phận cán bộ, đảng viên do thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thiếu bản lĩnh, bị vật chất, đồng tiền cám dỗ... đã đi ngược lại lợi ích tập thể, lợi ích của đất nước, coi lợi ích cá nhân là trên hết, từ đó làm mất thanh danh, phẩm chất người đảng viên cộng sản.

Những năm gần đây, nhiều cán bộ lãnh đạo cấp bộ, ngành, Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng bị lợi ích cá nhân chi phối, nên đã vi phạm kỷ luật "nghiêm trọng", "rất nghiêm trọng" đã bị kỷ luật và xử lý hình sự. Cũng do sa vào bệnh cá nhân chủ nghĩa, lại thiếu ý thức tu dưỡng rèn luyện, vì lợi ích tầm thường mà hàng chục cán bộ đã nhận hối lộ với số tiền lớn, rất lớn, đặc biệt lớn trong vụ án “chuyến bay giải cứu” và vụ "Việt Á" mới đây, gây bức xúc dư luận.  

Ở mỗi cương vị và trên từng lĩnh vực, căn bệnh cá nhân chủ nghĩa nó diễn ra khác nhau, kể cả về tính chất và quy mô. Nhưng thông thường, biểu hiện cá nhân chủ nghĩa thường bộc lộ ở một số cán bộ, đảng viên đảm nhiệm cương vị chủ chốt cơ quan, đơn vị, địa phương, đó là:

Thứ nhất, làm việc gì của cơ quan, đơn vị, địa phương cũng tính đến “được cái gì” mang về cho bản thân.

Thứ hai, củng cố địa vị, bố trí những vị trí chủ chốt cán bộ, đảng viên thuộc quyền lãnh đạo, quản lý của mình là những người thân cận để bảo đảm sự thăng tiến cho cá nhân mình được thuận lợi.

Thứ ba, xây dựng những cán bộ nguồn nằm trong quy hoạch là những người thân tín hoặc những người “cánh hẩu” với mình để được ban ơn về sau hoặc tiếp tục có điều kiện cất nhắc, giúp đỡ con cháu mình sau này.

Thứ tư, chỉ đạo cơ quan, đơn vị, địa phương mình xây dựng “chính sách nội bộ” về một việc gì đó mà “lách luật” được để mang lại lợi ích cho một nhóm người. Ví như xây biệt thự liền kề, nhà ở... để bán giá cao nhưng thực chất chênh lệch hàng chục lần so với giá thị trường cho những cán bộ “có nhiều cống hiến”, trong đó có bản thân mình.

Thứ năm, luôn ích kỷ, so bì, tính toán thiệt hơn; thấy đồng đội học hành, công tác thành đạt thì khó chịu, kèn cựa, nói xấu sau lưng, tìm cách hạ uy tín những cán bộ, đảng viên không thuộc “gu” của mình, gây mất đoàn kết nội bộ hoặc dùng các mánh khóe để vô hiệu hóa đồng đội, cấp dưới của mình.

Kiên quyết phòng ngừa, đấu tranh đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân 

Phê phán tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, hay chủ nghĩa cá nhân, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều bài nói và viết về căn bệnh nguy hiểm này. Người cho rằng, chủ nghĩa cá nhân như một thứ vi trùng độc hại, tồn tại dai dẳng trong mỗi người cán bộ, đảng viên, luôn chờ cơ hội để trỗi dậy; là nguy cơ làm suy yếu Đảng, giảm lòng tin của quần chúng đối với Đảng. Người coi chủ nghĩa cá nhân là giặc nội xâm, kẻ thù của những người cách mạng. Bác Hồ nói: “Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá từ trong phá ra”, do vậy, theo Bác: “Muốn đánh thắng kẻ địch bên ngoài thì trước hết phải đánh thắng kẻ địch bên trong của mỗi chúng ta là chủ nghĩa cá nhân”.

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra đối với cán bộ, đảng viên, chủ nghĩa cá nhân biểu hiện ở chỗ sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, hám quyền lực, tham nhũng, tiêu cực; bè phái, cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của dân. Từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, cơ hội, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân, chúng ta cần nhận thức đúng đắn rằng “Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Bởi vì, theo Bác, “Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu”. Vấn đề là ở chỗ, như Bác Hồ đã chỉ ra: “Lợi ích của cá nhân gắn liền với lợi ích của tập thể. Nếu lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể”.

Việc cần làm hiện nay là các cấp ủy, tổ chức đảng chú trọng tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên về tự phòng, chống bệnh cá nhân chủ nghĩa. Đặc biệt đối với cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải nhận thức và xác định đấu tranh phòng, chống chủ nghĩa cá nhân là nhiệm vụ không nghỉ, là lương tâm, trách nhiệm và ý thức tự giác của mình trước Đảng, Tổ quốc và nhân dân; dù trong điều kiện nào cũng đặt lợi ích tập thể lên trên hết, thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư”. Nếu cán bộ, đảng viên ở cương vị chủ chốt các cấp thực hiện đúng lời dạy của Bác, chắc chắn sẽ giáo dục, cảm hóa, thuyết phục được mọi thành viên trong cơ quan, đơn vị cũng đề cao trách nhiệm tự phê phán, đấu tranh chống tư tưởng cá nhân chủ nghĩa. 

Một giải pháp quan trọng nữa là các cấp ủy, tổ chức đảng và các tổ chức trong cơ quan, đơn vị thường xuyên theo định kỳ sinh hoạt tự phê bình và phê bình, trong đó chú trọng xem xét đến từng cá nhân, tập thể có biểu hiện cá nhân chủ nghĩa không? Nếu có thì phải giáo dục, ngăn chặn, đấu tranh nghiêm túc để loại bỏ ngay từ khi còn manh nha, nhen nhóm.

Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn, quy định về công tác xây dựng Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XIII) về “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; thực hiện nghiêm túc Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm; các quy định về phòng, chống tham nhũng, lãng phí...

Qua đó làm cho mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức rõ hơn về trách nhiệm rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu của mình, luôn công tâm vì lợi ích tập thể, lợi ích của đất nước, trong đó có lợi ích chính đáng của mình. Không gì hơn là mỗi cán bộ, đảng viên phải tự tu chỉnh, tự vượt qua và chiến thắng chính mình trước những cám dỗ để không sa vào chủ nghĩa cá nhân. 

Vấn đề có tính lâu dài đòi hỏi chúng ta phải làm tốt công tác giáo dục thế hệ trẻ ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường sớm có tư tưởng lành mạnh, trong sáng, không vụ lợi, lấy mục đích lợi ích tập thể, lợi ích đất nước, lợi ích của nhân dân để xác định động cơ phấn đấu, rèn luyện, phục vụ khi trở thành người cán bộ, đảng viên của Đảng.

Sưu tầm

Thực chất của quan điểm “dân sự hóa” Quân đội

 


Một số học giả nước ngoài đang ra sức tuyên truyền cho quan điểm “siêu giai cấp” của Quân đội, “dân sự hóa” Quân đội và đi đến kết luận: Quân đội là công cụ của toàn xã hội. Họ cho rằng, "sự tồn tại của Quân đội là cần thiết để bảo đảm cho hoạt động bình thường của bất kỳ hệ thống xã hội nào. Vì vậy, Quân đội là tổ chức đứng ngoài xã hội và không có bản chất giai cấp; là lực lượng vũ trang “trung lập về chính trị” và phải được “dân sự hóa” triệt để”. Thực chất của quan điểm trên nhằm thực hiện mưu đồ “vô hiệu hóa” quân đội ở các nước xã hội chủ nghĩa dẫn đến dao động về tư tưởng, mất phương hướng chính trị, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, hướng tới xóa bỏ quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam. Đây là một thủ đoạn nham hiểm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động.

Bên cạnh đó, một số người còn viện dẫn vào học thuyết “Tam quyền phân lập”, ở một số nhà nước tư sản đã ban hành luật thể hiện “dân sự quản lý quân sự”, quân đội tách ra khỏi sự ảnh hưởng, chi phối của đảng phái. Điều này là hoàn toàn không đúng trong thực tế.

Bởi lẽ, phía sau chính phủ vẫn là một chính đảng đảng cầm quyền (hoặc chi phối chính sách của chính phủ). Các đảng cầm quyền vẫn can thiệp vào quản lý nhà nước về quốc phòng. Với tính cách là một hiện tượng chính trị-xã hội, bất cứ quân đội nào trong lịch sử cũng mang bản chất giai cấp sâu sắc. Sự quyết định bản chất giai cấp của một quân đội là ở chỗ: Quân đội đó là chỗ dựa của chế độ chính trị-xã hội nào; hoạt động của quân đội đó bảo vệ lợi ích cho giai cấp nào và bản chất giai cấp của nó phụ thuộc một cách trực tiếp vào bản chất giai cấp của nhà nước đã tổ chức ra quân đội đó. Bản chất giai cấp của quân đội còn được thể hiện trong quá trình xây dựng và tổ chức quân đội. Giai cấp thống trị bảo đảm sự vững mạnh về chính trị của quân đội, bảo đảm phương hướng phát triển và hoạt động của quân đội phù hợp với lợi ích của giai cấp đó. Để giữ vững phương hướng chính trị và tăng cường bản chất giai cấp cho quân đội, giai cấp thống trị tiến hành truyền bá hệ tư tưởng của nó cho quân đội bằng hệ thống giáo dục có tính chất áp đặt về tư tưởng cho binh lính; thực hiện triệt để đường lối tổ chức, phương hướng hoạt động và kiểm soát mọi hoạt động của quân đội. Điều này đã được ghi nhận theo điều lệnh quân đội Mỹ, sĩ quan chỉ huy chịu trách nhiệm về giáo dục tư tưởng và tinh thần binh sĩ. Quân đội Mỹ duy trì cả một bộ máy tuyên truyền gọi là “cơ quan thông tin và giáo dục quân đội” để tiến hành công tác tư tưởng. Trong các quân chủng của quân đội Mỹ đều có cơ quan thông tin. Bên cạnh việc lãnh đạo công tác tuyên truyền, cổ động, cơ quan này còn chuẩn bị và xuất bản những sách giáo khoa về tư tưởng, những tài liệu phát thanh, báo chí, phát hành những phim ảnh ca tụng chủ nghĩa tư bản.

Như vậy, sự ra đời, tồn tại và phát triển của quân đội luôn gắn với vai trò của giai cấp và nhà nước. Thực tế cho thấy, giai cấp và nhà nước luôn giữ vai trò quyết định đối với quân đội về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Về chính trị, giai cấp và nhà nước quyết định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và các chức năng, nhiệm vụ cơ bản của quân đội. Đồng thời, hệ tư tưởng của giai cấp đó luôn giữ vai trò thống trị đối với quân đội, chi phối đến đời sống tinh thần của quân đội. Về tổ chức, giai cấp và nhà nước quyết định đường lối, nguyên tắc tổ chức xây dựng quân đội; quyết định cơ chế lãnh đạo, thành phần chỉ huy và binh lính tham gia trong quân đội.

Bên cạnh đó, hoạt động của quân đội phụ thuộc vào chế độ chính trị-xã hội, chịu sự quy định của giai cấp và nhà nước tổ chức ra nó. Là một bộ phận của chỉnh thể xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng, quá trình phát triển của quân đội tất yếu chịu sự chi phối, tác động của các quy luật xã hội nói chung.

Trong các yếu tố ảnh hưởng đến bản chất giai cấp của quân đội, yếu tố giai cấp luôn tác động trực tiếp, mạnh mẽ và quyết định nhất. Quân đội nào cũng do nhà nước tổ chức ra và chịu sự chi phối bởi đường lối chính trị của một giai cấp. Bài học xương máu của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cho thấy, khi đảng cộng sản mất vai trò lãnh đạo, sự biến chất của nhà nước là không tránh khỏi và hậu quả tất yếu của nó là làm cho quân đội mất phương hướng chính trị. Mặc dù năm 1991, Hồng quân Liên Xô có quân số hơn 3 triệu người nhưng đã không bảo vệ được chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ. Đó là bi kịch lớn của lịch sử!

          V3.

SỰ PHỐI HỢP GIỮA CÁC CƠ QUAN, ĐƠN VỊ LÀM CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG VÀ CÁC TỔ CHỨC QUỐC TẾ NGÀY CÀNG HIỆU QUẢ

 


Thời gian qua, ở cấp Trung ương, cùng với sự ra đời của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng là sự thành lập Ban Nội chính Trung ương - cơ quan thường trực về phòng, chống tham nhũng. Từ sau Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII, nhiều tỉnh trên cả nước cũng áp dụng mô hình này của Trung ương là thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng và Ban Nội chính cấp tỉnh. Việc kiện toàn tổ chức bộ máy từ Trung ương đến cấp tỉnh đã làm cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành được tiến hành bài bản, đồng bộ theo đúng phương châm “dọc ngang thông suốt”, khắc phục đáng kể tình trạng “trên nóng dưới lạnh”. Điều này xuất phát từ nhu cầu tất yếu của thực tiễn bởi tham nhũng là hiện tượng tiêu cực không chỉ xảy ra ở các cơ quan, bộ ngành Trung ương mà cũng diễn ra ở các địa phương, trở thành vấn đề nổi cậm gây bức xúc trong dư luận xã hội.

Sau khi kiện toàn tổ chức bộ máy, các cơ quan chuyên trách về phòng, chống tham nhũng đã phối hợp thường xuyên, đồng bộ với các cơ quan thi hành pháp luật như công an, tòa án, kiểm sát để điều tra, truy tố, xét xử những cán bộ, đảng viên có hành vi tham nhũng. Do đó, các vụ án đã nhanh chóng được điều tra, xét xử, hạn chế đáng kể tình trạng án kéo dài, đọng án gây bức xúc trong dư luận. Nhiều vụ án lớn được đưa ra xét xử trong thời gian gần đây đã thể hiện rõ tính chuyên nghiệp, bài bản, đúng trình tự của quá trình xử lý sai phạm. Đó là kết quả của công tác phối hợp có hiệu quả giữa các cơ quan, đơn vị chức năng trong công tác phòng, chống tham nhũng, nhất là sự phối hợp giữa các cơ quan kiểm tra, giám sát, nội chính của Đảng với cơ quan thanh tra, kiểm toán, điều tra; giữa cơ quan thanh tra, kiểm toán với cơ quan điều tra; giữa các cơ quan tiến hành tố tụng Trung ương, địa phương và các bộ, ngành chức năng.

Ngoài ra, hoạt động hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng cũng đã được tăng cường. Nhiều vụ án tham nhũng có dấu hiệu tẩu tán tài sản hay đối tượng trốn chạy ra nước ngoài đã được các tổ chức pháp luật quốc tế phối hợp, giúp đỡ để truy tố, xử lý vừa theo đúng quy định quốc tế, vừa phù hợp với quy định pháp luật của Việt Nam. Công tác phòng, chống tham nhũng cũng từng bước được mở rộng ra cả khu vực ngoài nhà nước, thể hiện rõ quyết tâm của Đảng trong việc chỉ đạo xử lý những sai phạm của cán bộ ở tất cả các thành phần kinh tế.

Có thể khẳng định, chưa bao giờ công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực lại được thực hiện một cách mạnh mẽ, đồng bộ, quyết liệt, bài bản và hiệu quả như thời gian gần đây; để lại dấu ấn nổi bật, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội và củng cố, tăng cường niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Những thành quả đó là một bằng chứng thuyết phục để phản bác những hoài nghi, mọi sự xuyên tạc của các phần tử phản động, cơ hội chính trị về công tác phòng, chống tham nhũng của Việt Nam.

Thời gian qua, trên một số trang mạng xã hội, có ý kiến cho công tác phòng, chống tham nhũng của Việt Nam chỉ là “trò đánh trống khua chiêng nhằm che mắt thế gian”, thực chất là “đấu đá nội bộ”, “thanh trừng phe phái”(4); hay đó chỉ là những cách Đảng “che mắt thế gian theo kiểu đánh ai và ai đánh?”, “ta đánh mình, mình đánh ta”, “cộng sản chỉ nói chứ không dám làm”, hay “chỉ dám đánh con tôm, con tép”(5) … Cũng có những người do nhận thức mơ hồ hoặc có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nên cho rằng nếu quá tập trung vào chống tham nhũng sẽ làm “nhụt chí”, “chùn bước” những người dám nghĩ, dám làm, làm “chậm” sự phát triển đất nước.

Thực tiễn cho thấy, những kết quả không thể phủ nhận trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam thời gian qua đã góp phần làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh; giúp cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nhất là những người có chức, có quyền “tự soi”, “tự sửa”, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện cả về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống. Điều đó cũng làm cho các tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị ngày càng vững mạnh, hoạt động hiệu quả. Do đó, những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận công tác phòng, chống tham nhũng của Việt Nam thời gian qua thể hiện rõ dã tâm chính trị muốn hạ thấp vai trò, uy tín lãnh đạo của Đảng; chia rẽ mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Đồng chí Tổng Bí thư đã khẳng định: “Chính nhờ làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại, đặc biệt là góp phần lấy lại và củng cố niềm tin của nhân dân, bác bỏ luận điệu sai trái của các thế lực xấu, thù địch, chống đối cho rằng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên sai phạm là “đấu đá nội bộ”, “phe cánh”(6).

Những bước tiến mới trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Việt Nam thời gian qua là kết quả của sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ của Đảng; sự vào cuộc đồng bộ, có trách nhiệm của các cơ quan, ban ngành, địa phương; sự tham gia tích cực của các tổ chức chính trị - xã hội và sự ủng hộ của đông đảo quần chúng nhân dân. Những kết quả đó chính là điều kiện, tiền đề để đất nước ta tiếp tục vượt qua những khó khăn, thử thách, từng bước thực hiện thành công những mục tiêu Đại hội Đảng XIII đã đề ra và xa hơn nữa là thực hiện thành công khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

V3.

 

Đấu tranh loại bỏ thái độ “cầu an” trong phân tích, đánh giá đảng viên và tổ chức Đảng

            Trong Cương lĩnh, Điều lệ và Nghị quyết qua các nhiệm kỳ Đại hội, Đảng ta đều khẳng định: “Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức Đảng và đảng viên”. Vì vậy, việc phân tích, đánh giá, xếp loại tổ chức Đảng, đảng viên cuối năm là một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng cũng như chất lượng đội ngũ đảng viên; góp phần thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ chính trị ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị tốt hơn, khắc phục được những hạn chế, yếu kém trong lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy. Tuy nhiên, do chưa loại bỏ được tình trạng né tránh, nể nang, ngại va chạm “cầu an” của một số cấp ủy, tổ chức Đảng, đảng viên, khiến cho việc đánh giá không chất lượng, hiệu quả, rơi vào tẻ nhạt, hình thức.

            Hậu quả copy “di truyền” cả điểm mạnh lẫn điểm yếu

            Để đáp ứng yêu cầu giải quyết tốt những vấn đề phức tạp, mau lẹ của thực tiễn đặt ra, thì đòi hỏi nhiệm vụ chính trị trọng tâm của mỗi tổ chức Đảng phải luôn có sự điều chỉnh thay đổi kịp thời thì mới đảm bảo lãnh đạo hoàn thành thắng lợi nội dung, chỉ tiêu mà nghị quyết đã xác định. Vậy nên, đối với cấp chi bộ, ngoài nghị quyết của nhiệm kỳ Đại hội, hằng năm đều có nghị quyết lãnh đạo nhiệm vụ năm, cùng với đó là ra nghị quyết từng tháng và nghị quyết lãnh đạo nhiệm vụ 6 tháng để lãnh đạo từng nhiệm vụ, từng giai đoạn cụ thể. 

            Trong quá trình thực hiện nghị quyết, tổ chức Đảng và đảng viên sẽ bộc lộ rõ những vấn đề cơ bản rút ra trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện, đó là: Ưu điểm; khuyết điểm và nguyên nhân. Do đó, việc kiểm điểm, đánh giá phân loại tổ chức Đảng, đảng viên một cách khách quan, thực chất sẽ giúp tổ chức Đảng và mỗi đảng viên có ý thức “tự soi, tự sửa”, phát huy được ưu điểm, tìm rõ nguyên nhân và có biện pháp khắc phục khuyết điểm, phấn đấu rèn luyện, tu dưỡng và thực hiện nhiệm vụ tốt hơn. Tuy nhiên, do mắc phải căn bệnh hình thức, “cầu an”, nên vẫn còn một số cấp ủy, tổ chức Đảng, đảng viên không coi trọng công tác này, nên kiểm điểm, phân loại đảng viên còn mang tính hình thức “dĩ hòa vi quý” để “cả làng cùng vui”.

            Cụ thể, đối với kiểm điểm tập thể cấp ủy, trong xây dựng báo cáo còn chung chung hoặc chủ yếu nêu thành tích, chưa xác định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân đối với những khuyết điểm, hạn chế, chưa chủ động phát hiện, nhận diện những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. 

            Không thực hiện đánh giá liên tục, đa chiều, theo tiêu chí, bằng sản phẩm cụ thể, so sánh gắn trách nhiệm của cá nhân với tập thể, gắn kết quả của người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo, quản lý với kết quả đạt được của địa phương, tổ chức, cơ quan, đơn vị, chưa lấy kết quả kiểm điểm của tập thể làm cơ sở để kiểm điểm cá nhân, lấy kết quả kiểm điểm của cá nhân để bổ sung, hoàn chỉnh kiểm điểm của tập thể. Nhiều nội dung chỉ tập trung kiểm điểm việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, mà chưa quan tâm đến kiểm điểm tư tưởng, phẩm chất đạo đức, lối sống nên việc phát hiện, ngăn chặn những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chưa được kịp thời. 

Đối với kiểm điểm của cá nhân, xuất phát từ việc xem nhẹ mục đích, ý nghĩa của việc kiểm điểm, đánh giá chất lượng cuối năm của tổ chức Đảng, nên thậm chí có đảng viên coppy nguyên si bản tự kiểm điểm của năm cũ. Làm cho những ưu điểm, hạn chế của cả một năm được lặp lại thông qua “di truyền” từ năm nọ sang năm kia. Và như thế phần giải pháp khắc phục hạn chế cũng được “bê” từ năm này sang năm khác, cách khắc phục vẫn là “bài ca muôn thủa” chỉ dừng lại ở việc “rút kinh nghiệm”, sáo rỗng, lối mòn xưa cũ. 

            Trong tổ chức sinh hoạt phân loại, đánh giá thì mang tư tưởng phê bình “nặng tập thể, nhẹ cá nhân”, đóng góp cho tập thể thì hội nghị giơ tay phát biểu sôi nổi, nhiều tiếng nói mạnh dạn, “nặng ký”, phân tích, phê phán rất quyết liệt, chẳng khác nào võ sĩ đấm vào không khí. 

            Còn khi góp ý cho từng cá nhân, nhất là người đứng đầu, thủ trưởng cơ quan, thì e dè, im lặng, sợ đụng chạm, có đóng góp, phê bình thì nhẹ như bấc, những khuyết điểm tồn tại tìm cách đổ lỗi cho khách quan, lý giải dẫn dắt nhiều yếu tố tác động không phải theo ý chủ quan cá nhân, ví như “Đây là việc mới, việc khó, chúng ta ai làm cũng khó tránh khỏi, phải thông cảm cho đồng chí ấy”,  nhưng đến khi phê bình cụ thể vào lập trường tư tưởng, đạo đức lối sống, thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao, thì chỉ được một câu “tính tình đồng chí đôi lúc còn nóng nảy”, mà chẳng thấy bóng dáng liên quan gì đến ưu, khuyết điểm, hạn chế, nguyên nhân. Khiến cho người được kiểm điểm không nhìn thấy khuyết điểm, không rút ra được bài học gì quý giá cho bản thân. 

            Chính từ thái độ “cầu an” này, nên có nơi báo cáo kết quả kiểm điểm “rất chất lượng”, nội bộ đoàn kết thống nhất cao, nhưng chỉ một thời gian sau, cấp trên nhận được rất nhiều đơn, thư tố cáo về các vụ tham nhũng, tiêu cực, hay tình trạng mất dân chủ, mất đoàn kết nội bộ.

             Phải nêu cao tính đấu tranh phê bình trong sinh hoạt

          Để việc kiểm điểm, đánh giá phân loại tổ chức Đảng, đảng viên bảo đảm chất lượng, trong sinh hoạt các đảng viên phải thể hiện được tính chiến đấu, đó là thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình; đối với bản thân thì thẳng thắn tự phê bình, dám thừa nhận các thiếu sót, sai lầm, mạnh dạn sửa chữa các khuyết điểm, hạn chế; đối với đồng chí thì dũng cảm và có trách nhiệm trong việc phê bình, chỉ ra hạn chế và giải pháp khắc phục. 

            Phải thực sự tránh thái độ “cầu an”, “dĩ hòa vi quý”, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh. Do đó, để kịp thời khắc phục những hạn chế nêu trên, ngày 4/10/2023, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Quy định số 124-QĐ/TW về kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị. Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội có Kế hoạch số 187-KH/TU về kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với tổ chức Đảng, đảng viên và tập thể, cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó yêu cầu  nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức Đảng, tập thể lãnh đạo, tổ chức, cơ quan, đơn vị, nhất là người đứng đầu tổ chức Đảng, chính quyền, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội và cá nhân cán bộ, đảng viên đối với việc kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm.

           Cho nên, để thực hiện bảo đảm nghiêm túc, trung thực, công tâm, khách quan, toàn diện, đạt được kết quả thực chất. Các cấp ủy, tổ chức Đảng phải quán triệt và thực hiện nghiêm tính đấu tranh tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt, xem “Tự phê bình là thang thuốc cứu mình, phê bình là thang thuốc cứu đồng chí mình”, đó là mục đích cao nhất của công tác đánh giá, phân loại đảng viên như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn. Và thực tiễn cho thấy, chi bộ mạnh là do từng đảng viên ra sức làm tròn nhiệm vụ, muốn biết đảng viên có làm tròn nhiệm vụ hay không, chất lượng đến đâu thì phải thông qua tự phê bình kiểm điểm và đánh giá của tập thể chi bộ. 

            Vì vậy, để đảng viên kiểm điểm không bỏ sót chức trách, nhiệm vụ của mình, cấp ủy, chi bộ phải lãnh đạo, chỉ đạo đảng viên sát sao, quyết liệt, đề cao trách nhiệm, tự giác, trung thực, nghiêm túc trong viết bản tự kiểm điểm. Khắc phục triệt để viết bản kiểm điểm theo kiểu chung chung không trúng đâu, hoặc coppy, hay chỉ liệt kê thành tích, né tránh khuyết điểm. 

           Nội dung kiểm điểm phải toàn diện, nhưng quan trọng nhất là phải dũng cảm dám nói hết, nói rõ và có thái độ cầu thị đối với những tồn tại, hạn chế của bản thân. Từ đó tự đề ra giải pháp, lộ trình phấn đấu khắc phục, sửa chữa phù hợp với từng cá nhân. Muốn khắc phục được tình trạng này, cấp ủy, bí thư chi bộ phải đề cao tính chiến đấu, tính Đảng, gương mẫu, tiên phong trong thực hiện tự phê bình mình và phê bình.

         Cùng với đó, khi đánh giá, phân tích chất lượng đảng viên phải dựa trên nhiều kênh thông tin, từ chính bản thân đảng viên, từ các cấp quản lý đảng viên, từ đảng viên trong chi bộ, từ quần chúng và tổ chức Đảng nơi đảng viên cư trú; đồng thời mở rộng dân chủ, khuyến khích đảng viên đấu tranh theo tinh thần “phê bình việc chứ không phê bình người”; có thái độ thẳng thắn, nghiêm khắc phê phán những đảng viên “cầu an”, thấy đúng không ủng hộ, thấy sai không đấu tranh. 

Bên cạnh đó, cấp ủy cấp trên trực tiếp cần phải theo dõi, chỉ đạo, kiểm tra giám sát cụ thể, để đảm bảo tính giáo dục, tính chiến đấu và tính Đảng. Nếu thấy kết quả phân loại đảng viên có dấu hiệu bất thường thì cần tổ chức kiểm tra ngay. Nếu thực hiện sai quy định thì kiên quyết hủy kết quả, xử lý những tổ chức, cá nhân vi phạm một cách nghiêm minh. Có như vậy, việc kiểm điểm, đánh giá phân loại tổ chức Đảng, đảng viên mới khách quan, thực chất.