Chủ Nhật, 3 tháng 12, 2023

Đoàn viên, thanh niên cần làm gì để học tập và làm theo tấm gương Bác Hồ

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, song cuộc đời, sự nghiệp của Người luôn là tấm gương cho các thế hệ noi theo. Người luôn khẳng định đạo đức là gốc, là nền tảng của người cách mạng và rèn luyện đạo đức cách mạng là nhu cầu tự thân, đồng thời là yêu cầu tất yếu đối với mỗi người. Người không chỉ nêu ra, yêu cầu mỗi người phải rèn luyện đạo đức cách mạng, mà suốt cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương đạo đức mà “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”.

Với quan điểm đạo đức là gốc của người cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đoàn viên, thanh niên. Người thường xuyên động viên tuổi trẻ tu dưỡng đạo đức, không ngừng học tập vươn lên để xứng đáng là người chủ tương lai của nước nhà. Trong lần nói chuyện với thanh niên tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ II ngày 7-5-1958, Người nhấn mạnh: Thanh niên bây giờ là một thế hệ vẻ vang, vì vậy cho nên phải tự giác tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để  xứng đáng với nhiệm vụ của mình. Tức là thanh niên phải có đức, có tài.

Trong Di chúc thiêng liêng của mình, ngay sau phần nói về Đảng, Người đã căn dặn: Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt kỳ vọng vào thanh niên. Năm 1945, khi nước nhà vừa giành độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu.

Ngay từ tháng 1-1946, trong Thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội. Là một lãnh tụ vĩ đại, có tầm nhìn xa trông rộng, hơn ai hết, Người thấu hiểu vai trò vô cùng to lớn của lực lượng thanh niên trong sự nghiệp cách mạng, trong công cuộc bảo vệ, xây dựng, kiến thiết nước nhà. Muốn thực hiện được vai trò của mình, mỗi thanh niên cần cố gắng thực hiện tốt những điều sau:

1. Đoàn viên, thanh niên sống phải có lý tưởng, có mục tiêu phấn đấu, hoàn thành mục tiêu của bản thân là tiền đề cho việc hoàn thành mục tiêu lớn của đất nước. Đó chính là mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Xuất phát từ đó mà Lý Tự Trọng đã từng nói: “Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng và không thể là con đường nào khác!”.

2. Đoàn viên, thanh niên phải đặt quyền lợi của Đảng, của Tổ quốc lên trên hết và trước hết. Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra nguyên tắc: Lợi ích cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng. Lợi ích của mỗi bộ phận nhất định phải phục tùng lợi ích của toàn thể. Lợi ích tạm thời nhất định phải phục tùng lợi ích lâu dài.

3. Đoàn viên, thanh niên phải có đạo đức cách mạng. Đây là yêu cầu “gốc”, “nguồn” đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu. Đây cũng chính là quan điểm xuất phát, một yêu cầu có tính chất tiên quyết đối với cán bộ cách mạng. Không ít lần, Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý rằng: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài”, người cán bộ cách mạng không phải là người “làm quan cách mạng”, không phải vào Đảng, không phải làm cán bộ là để “thăng quan tiến chức”, không phải như dưới thời thực dân phong kiến “một người làm quan cả họ được nhờ”, không phải làm cán bộ để “đè đầu cưỡi cổ dân chúng như dưới thời thực dân, phong kiến”… Người đoàn viên, thanh niên phải luôn cố gắng hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình được giao, kể cả trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và kể cả khi thời bình, xây dựng đất nước; khi gặp thắng lợi thì không kiêu căng, chủ quan, tự mãn; khi gặp khó khăn, gian khổ, trở ngại thì không hoang mang, dao động.

4. Đoàn viên, thanh niên phải góp phần tổ chức thực hiện tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân. Muốn thế, phải “chuyên”. Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, quyết định của đoàn thể chỉ biến thành hiện thực trong cuộc sống, ngoài yêu cầu về việc đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định đó phải đúng đắn, còn có việc phải tổ chức thực hiện tốt. Không như thế thì đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, quyết định của đoàn thể nhân dân chỉ nằm trên giấy.

5. Đoàn viên, thanh niên phải luôn luôn học tập để nâng cao trình độ về mọi mặt, học nữa và học mãi,…đó là những điều mà Hồ Chí Minh đã luôn thực hiện trong cuộc sống của chính bản thân mình và là tấm gương giáo dục, rèn luyện cho mỗi đoàn viên, thanh niên. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhắc nhở: “Thanh niên phải chuyên tâm học hành và công tác, nhưng cũng cần có vui chơi. Vui chơi lành mạnh là một bộ phận trong sự sinh hoạt của thanh niên. Trong vui chơi cũng có giáo dục. Cần có những thú vui chơi văn hoá, thể dục có tính chất tập thể và quần chúng”.

Học tập Người, mỗi đoàn viên, thanh niên chúng ta trong giai đoạn hiện nay cần thấm nhuần khẩu hiệu: Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà phải hỏi rằng ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay nhằm xứng đáng hơn nữa với tinh thần thanh niên thế hệ Hồ Chí Minh: Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên.

Có thể thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, về khối đại đoàn kết toàn dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân... Đạo đức Hồ Chí Minh là tuyệt đối trung thành, kiên định lý tưởng cách mạng, đặt lợi ích của Đảng, của đất nước, dân tộc lên trên tất cả; hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân, tận trung với nước, tận hiếu với dân; là cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư... Phong cách Hồ Chí Minh là tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, luôn gắn chặt lý luận với thực tiễn; làm việc dân chủ, khoa học, kỹ lưỡng; là ứng xử văn hóa, tinh tế, đầy tính nhân văn; nói đi đôi với làm; là giản dị, gần gũi quần chúng... Để thực hiện được mong ước của Bác Hồ kính yêu và kỳ vọng, quan tâm, chăm lo của Đảng, nhân dân và toàn xã hội đã dành cho thanh niên, mỗi thanh niên Việt Nam phải luôn không ngừng học tập, rèn luyện và tu dưỡng đạo đức cách mạng, luôn “Dưỡng tâm trong - Rèn trí sáng - Xây hoài bão lớn”, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân giữ vững các thành quả cách mạng, thực hiện bằng được mục tiêu cao cả: Xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, nhân dân ta ngày càng hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Sưu tầm

Quy định số 132-QĐ/TW - Bước tiến mới về kiểm soát quyền lực Nhà nước, phòng chống tham nhũng, tiêu cực

Quy định số 132-QĐ/TW ngày 27/10/2023 về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án (Quy định 132) không chỉ là một bước tiến mới về kiểm soát quyền lực Nhà nước, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, mà còn được cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân tin tưởng, ủng hộ.

QUY ĐỊNH 132 ĐÁP ỨNG ĐÚNG YÊU CẦU CỦA THỰC TIỄN

Những nhiệm kỳ gần đây, việc cả hệ thống chính trị quán triệt, triển khai thực hiện nghị quyết các kỳ Đại hội của Đảng cũng như Kết luận số 10-KL/TW ngày 26/12/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; Kết luận số 12-KL/TW ngày 6/4/2022 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền; Quy định số 114-QĐ/TW ngày 11/7/2023 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ… gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng; Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; gắn với Chỉ thị số 03-CT/TW khóa XI, Chỉ thị số 05-CT/TW khóa XII và Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”… đã tạo bước tiến rõ nét trong phòng, đấu tranh chống tham nhũng và kiểm soát quyền lực Nhà nước. Từ đó, công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, kiểm soát quyền lực Nhà nước không chỉ được chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ để từng bước kiềm chế, ngăn chặn tham nhũng, mà còn góp phần giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng và chế độ.

Thực tế, quyết tâm đẩy mạnh phòng, đấu tranh chống tham nhũng nghiêm túc, hiệu quả và việc thưc thi kiểm soát quyền lực Nhà nước, thể hiện tính nghiêm minh, thượng tôn pháp luật, mà minh chứng là hàng loạt vụ án tham nhũng được phát hiện, xử lý (nhất là những vụ án được Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trực tiếp chỉ đạo điều tra, truy tố, xét xử) đã cho thấy quyết tâm lớn, nỗ lực cao và sự đồng lòng, nhất trí, ủng hộ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Những kết quả đạt được trong đấu tranh chống tham nhũng, kiểm soát quyền lực Nhà nước đã không chỉ khẳng định công tác điều tra, truy tố, xét xử được chỉ đạo quyết liệt, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, rất nghiêm khắc nhưng cũng rất nhân văn đã được chú trọng, mà còn cho thấy chất lượng hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án cũng ngày càng được nâng lên, góp phần quan trọng vào việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật; thực thi bảo vệ pháp chế và quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, xã hội, tổ chức, cá nhân.

Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận rằng, vẫn còn hiện tượng cá nhân vi phạm trong hoạt động thực thi công vụ; can thiệp, làm cản trở hoặc tác động trái quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào hoạt động tố tụng, thi hành án và các hoạt động khác có liên quan, hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán; thậm chí nhận lợi ích bằng vật chất và phi vật chất để làm trái quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng, thi hành án và các hoạt động khác. Thực tế, tình trạng lợi dụng, lạm dụng quyền lực đã và đang trở thành một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tham nhũng, tiêu cực trong công tác điều tra, tố tụng, thi hành án và các hoạt động khác. Do vậy, tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác giám sát, kiểm soát quyền lực để phòng và chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, tố tụng, thi hành án là cần thiết để cuộc đấu tranh chống tham nhũng đạt hiệu quả thiết thực. Vì thế, Quy định 132 gồm 4 chương, 14 điều, trong đó không chỉ nêu rõ nội dung, nguyên tắc, phương thức kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động tố tụng, thi hành án, mà còn đồng thời chỉ rõ trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức Đảng, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, nhất là người đứng đầu trong kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động tố tụng, thi hành án… đã ra đời. Đó là một Quy định chi tiết, đầy đủ, phù hợp với thực tế công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, kiểm soát quyền lực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hiện nay.

Theo đó, Điều 6, Quy định 132 đã liệt kê cụ thể 28 hành vi lợi dụng lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền, tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động tố tụng, thi hành án và một số các hành vi khác theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước như: “1. Lãnh đạo, chỉ đạo, tham mưu, ban hành các văn bản trái chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong hoạt động tố tụng, thi hành án và các hoạt động khác có liên quan. 2. Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy chế làm việc, quy định, quy trình nghiệp vụ, chuẩn mực đạo đức, quy tắc ứng xử, nhiệm vụ, công vụ trong hoạt động tố tụng, thi hành án và các hoạt động khác có liên quan. 3. Thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, quản lý để xảy ra hành vi vi phạm, lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền, tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động tố tụng, thi hành án và các hoạt động khác có liên quan. 4. Bao che, dung túng, tiếp tay, xử lý không đúng quy định đối với hành vi vi phạm, lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền, tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động tố tụng, thi hành án và các hoạt động khác có liên quan…”.

Những quy định tại Điều 6 này càng làm rõ hơn Điều 13, Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm như cán bộ, đảng viên không được “can thiệp, tác động vào hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, xét đặc xá, giải quyết khiếu nại, tố cáo để bao che, tiếp tay cho các hành vi vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tác động, ép buộc, mua chuộc tổ chức, cá nhân để giảm trách nhiệm, hình phạt cho người khác” và Điều 15 về không được “tặng, nhận quà dưới mọi hình thức để tác động đến tổ chức, người có trách nhiệm dẫn đến việc quyết định sai, có lợi riêng cho bản thân hoặc cá nhân, tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp”.

Không chỉ có vậy, Quy định 132 cũng cụ thể hóa trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền theo Điều 7(9 nội dung phải thực hiện); Điều 8 (7 nội dung phải thực hiện); Điều 9 (2 nội dung phải thực hiện) và Điều 10 (3 nội dung phải thực hiện); đồng thời chỉ rõ mọi quyền lực được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế, được ràng buộc bằng trách nhiệm, quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó, quyền hạn càng cao trách nhiệm càng lớn như: “5. Chịu trách nhiệm trực tiếp khi để xảy ra hành vi vi phạm, lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền, tham nhũng, tiêu cực trong đơn vị được phân công trực tiếp quản lý, phụ trách. 6. Chịu trách nhiệm với tư cách thành viên tập thể cấp uỷ, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, tổ chức và với tư cách người quản lý, phụ trách lĩnh vực về những hành vi vi phạm, lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền, tham nhũng, tiêu cực trong cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức và trong lĩnh vực được phân công quản lý, phụ trách”...

Đồng thời, tính bao quát và chi tiết của Quy định 132 còn thể hiện rõ ở những quy định về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác…. Đó chính là cơ sở pháp lý quan trọng, vững chắc để cơ quan chức năng bảo vệ người tố giác và những người khác, để họ yên tâm hơn, vững tin hơn trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng và các tệ nạn xã hội. Và đó cũng chính là minh chứng cho thấy, hoạt động tố tụng, thi hành án không chỉ nằm dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà còn được các cơ quan và đại biểu dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cơ quan hành pháp, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân giám sát; không chỉ Nhà nước, mà cả nhân dân cũng có thể tham gia giám sát các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực tố tụng, thi hành án…

 14 điều của Quy định 132 là một trong những minh chứng cho thấy quyết tâm, sự sáng suốt của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị trong trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo về phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, kiểm soát quyền lực Nhà nước nói chung, trong lĩnh vực ở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án nói riêng.

HƯỚNG ĐẾN LÀM TRONG SẠCH ĐỘI NGŨ Ở CÁC CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN

Kịp thời, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, đáp ứng yêu cải cách hành chính và xây dựng bộ máy hoạt động tố tụng trong sạch, minh bạch, có thể nói việc thực thi Quy định 132 không chỉ giúp các tổ chức và cá nhân trong công tác (tại các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án) thực hiện tốt hơn Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (trong đó có yêu cầu hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực) và Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; gắn với Quy định số 37-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm và các Quy định về nêu gương (Quy định 55, 08)… để tự soi, tự sửa và tránh mắc khuyết điểm, vi phạm Điều lệ Đảng, kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật, mà còn tạo cơ sở, điều kiện để cấp ủy, tổ chức Đảng, các cơ quan, ban, ngành chức năng và cán bộ, đảng viên, người dân tham gia giám sát các cơ quan, các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.

Từ mục đích, nội dung và ý nghĩa như thế, có thể thấy, việc lu loa trên mạng xã hội  rằng: Quy định 132 là “vô pháp, không đúng quy định pháp luật”; là “không đảm bảo tính khách quan” và Quy định này “chỉ tô đậm thêm tính chất đảng trị” và “xóa nhòa đi tính chất pháp trị” của các phần tử vong quốc, cơ hội, phản động chỉ là một trong những chiêu trò nhằm bôi đen cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam; xuyên tạc những nỗ lực, quyết sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong phòng, đấu tranh chống tham nhũng và kiểm soát quyền lực Nhà nước.

Thực chất, Quy định 132 được ban hành trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng gắn với công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, với kiểm soát quyền lực Nhà nước là rất phù hợp với thực tiễn; là đáp ứng đúng yêu cầu của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hiện tại. Hơn nữa, Quy định 132 cho thấy việc kiểm soát quyền lực Nhà nước ngay từ gốc rễ không chỉ là biện pháp hữu hiệu, có tác dụng ngăn ngừa, cảnh tỉnh những người có ý định tham nhũng, tiêu cực, mà còn mở rộng phạm vi, vươn tầm đến nhiều lĩnh vực khác trong đời sống chính trị, xã hội, pháp lý như giải quyết kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo; tương trợ tư pháp và hợp tác quốc tế; bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác hay khuyến khích cán bộ lãnh đạo có sai phạm nghỉ việc (thể hiện tính nhân văn của Đảng, Nhà nước)…

 Vì Quy định 132 hướng đến mục tiêu xây dựng bộ máy tố tụng trong sạch, minh bạch; đồng thời cũng chỉ rõ quyền lực luôn đi kèm nghĩa vụ và trách nhiệm, cho nên,  mọi hành vi lạm quyền, vượt quyền, vi phạm quyền lực Nhà nước của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong quá trình thực thi công vụ đều sẽ bị xử lý nghiêm minh. Và cũng vì thế, việc thực thi Quy định này sẽ góp phần hạn chế được vấn nạn tham nhũng, tiêu cực, giúp củng cố, tăng cường lòng tin của nhân dân đối với công tác điều tra, xét xử, thi hành án; đồng thời, từng bước loại bỏ những hành vi lợi dụng, lạm dụng, sử dụng chức vụ, quyền hạn để tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, tố tụng, thi hành án.

Vì đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn và là minh chứng hiệu quả trong phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực và kiểm soát quyền lực Nhà nước của Đảng, nên Quy định 132 được cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân tin tưởng, đồng tình ủng hộ./.

Sưu tầm

Những đòi hỏi phi lý, không thể chấp nhận

Không phải ngẫu nhiên, các tổ chức thiếu thiện chí lại tích cực soạn thảo và công bố “các báo cáo nhân quyền”. Trên nhiều diễn đàn, họ đã cho biết mục đích chính của mình là hối thúc Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, các tổ chức nhân quyền quốc tế và một số chính phủ tạo áp lực cho Việt Nam trước thềm diễn ra kỳ Kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) lần thứ tư diễn ra vào tháng 4/2024.

Thời gian qua, các cơ quan chức năng của Việt Nam đã triển khai nhiều biện pháp, xử lý nghiêm một số cá nhân lợi dụng quyền tự do ngôn luận để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội.

Sự cương quyết của cơ quan chức năng đã thể hiện tinh thần thượng tôn pháp luật, nhận được sự đồng tình, ủng hộ của xã hội, người dân, sự tâm phục, khẩu phục của những đối tượng vi phạm. Tuy nhiên, bất chấp thực tế này, một số tổ chức, cá nhân phản động, cực đoan, thiếu thiện chí vẫn tìm mọi cách xuyên tạc, vu khống và bóp méo bản chất sự việc bằng những cách thức tinh vi, xảo quyệt nhằm mục đích chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Bản hiến pháp đầu tiên của nước ta năm 1946 đã khẳng định tự do ngôn luận là một trong các quyền cơ bản của công dân. Từ đó đến nay Đảng và Nhà nước nỗ lực hoàn thiện hệ thống luật pháp để bảo vệ quyền tự do ngôn luận không bị xâm phạm, lợi dụng, với tinh thần được quy định tại Điều 25, Hiến pháp năm 2013, đó là “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin…”.

Theo đó, trong lĩnh vực báo chí, xuất bản, công dân có quyền sáng tạo tác phẩm báo chí; cung cấp thông tin cho báo chí; phản hồi thông tin trên báo chí; tiếp cận thông tin báo chí (Điều 10, Luật Báo chí năm 2016). Công dân cũng có quyền phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với cá nhân, tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp có hành vi trái pháp luật (Điều 11, Luật Báo chí năm 2016).

Trong hoạt động xuất bản, nhà nước bảo đảm quyền phổ biến tác phẩm, bảo hộ quyền tác giả và không kiểm duyệt tác phẩm trước khi xuất bản (khoản 2 Điều 5, Luật Xuất bản năm 2012). Đồng thời, nhằm phát huy quyền tự do, dân chủ, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, giảm bức xúc trong nhân dân, Nhà nước đã ban hành Luật Khiếu nại năm 2011 và Luật Tố cáo năm 2018. Bên cạnh những nội dung quan trọng về quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, tố cáo, luật pháp của Việt Nam cũng đưa ra những quy định chặt chẽ nhằm ngăn chặn các hành vi cản trở, gây phiền hà, đe dọa, trả thù, trù dập người thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo.

Những quy định pháp luật này đã nhanh chóng đi vào đời sống, trở thành công cụ quan trọng để người dân thực hiện các quyền tự do dân chủ nói chung, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí nói riêng. Tính đến tháng 5/2023, cả nước có 808 cơ quan báo chí, 57 nhà xuất bản, 1.952 trang thông tin điện tử tổng hợp và 935 mạng xã hội trong nước đã được cấp phép hoạt động với khoảng 130 triệu tài khoản đăng ký.

Đây là các diễn đàn rộng mở cho người dân tự do tham gia đóng góp ý kiến, quan điểm, phản biện xã hội. Song trên thực tế, một số người đã vượt quá giới hạn, lợi dụng quyền tự do ngôn luận để đưa ra những phát ngôn, đăng tải, chia sẻ thông tin xâm phạm nghiêm trọng lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Cá biệt, có đối tượng còn soạn thảo nhiều bài viết, dựng video để tuyên truyền những nội dung xuyên tạc, phỉ báng, nói xấu chính quyền nhân dân; thông tin sai sự thật gây hoang mang dư luận như kêu gọi tẩy chay việc tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội; kêu gọi đa nguyên, đa đảng; xúc phạm danh dự, uy tín của các lãnh đạo Đảng, Nhà nước; xuyên tạc hoạt động của cơ quan thực thi pháp luật…

Thời gian qua, cơ quan chức năng đã tiến hành biện pháp giáo dục, nhắc nhở, xử phạt hành chính đối với các hành vi lợi dụng tự do ngôn luận, làm tổn hại đến uy tín, lợi ích của cá nhân, tổ chức. Tuy nhiên vẫn có cá nhân tái diễn vi phạm đến mức phải xử lý hình sự.

Để tránh oan sai và không bỏ lọt tội phạm, cơ quan chức năng đã khởi tố, điều tra, thu thập nhân chứng, chứng cứ một cách minh bạch, theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật. Vì lẽ đó, khi khai nhận trước cơ quan điều tra và tại tòa án nhân dân, các đối tượng đều thừa nhận hành vi đã thực hiện. Phần lớn những người này đã nhận ra sai phạm, lỗi lầm của mình và mong muốn cải tạo tốt để sớm được hoàn lương, trở về với gia đình.

Các bản án đều nhận được sự đồng thuận cao của những đương sự trong vụ án và đông đảo quần chúng nhân dân. Tiêu biểu có thể kể đến vụ án Hoàng Văn Luân bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Kỳ Anh khởi tố bị can, ra lệnh bắt tạm giam vào ngày 23/8/2023 về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo Điều 331, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Trước đó, trong giai đoạn 2019-2023, Luân đã tổ chức, tập hợp những người bị ảnh hưởng bởi hai dự án cao tốc Bắc-Nam và cấp nước cho Khu kinh tế Vũng Áng đi khiếu nại vượt cấp với nhiều nội dung sai sự thật gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và uy tín của huyện Kỳ Anh và tỉnh Hà Tĩnh.

Tại cơ quan điều tra, Hoàng Văn Luân đã thành khẩn khai nhận: “Bị can rất hối hận về những hành vi vi phạm của mình. Qua đây bị can cũng muốn nhắn gửi đến bà con là những người đang bị ảnh hưởng bởi các dự án nếu thực hiện việc khiếu nại phải đúng quy trình, quy định của pháp luật, không khiếu nại vượt cấp gây mất an ninh trật tự và ảnh hưởng xấu đến uy tín của địa phương. Đồng thời, phải tin tưởng vào cấp ủy, chính quyền địa phương, đồng hành cùng chính quyền trong việc giải quyết quyền lợi của bản thân”.

Tương tự, ngày 21/9/2023, trong phiên xét xử Nguyễn Phương Hằng và đồng phạm về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” tại Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh, bị cáo Hằng đã bày tỏ sự hối hận: “Sau khi bị bắt, bị cáo biết có Luật An ninh mạng, bị cáo mới biết mình sai. Nhưng do bị cáo không kiềm chế được cảm xúc, bị kích động”.

Mặc dù vậy, các thế lực thù địch và tổ chức thiếu thiện chí vẫn không ngừng bôi đen sự thật về tình hình tự do, dân chủ, tự do ngôn luận tại Việt Nam, vu cáo cơ quan chức năng “đàn áp báo chí”, “hạn chế quyền tiếp cận thông tin”. Nổi lên trong thời gian gần đây, ngày 2/11, ba tổ chức Ủy ban Bảo vệ Ký giả (CPJ), FreedomHouse và Quỹ Nhân quyền Robert F. Kennedy (RFK) đã gửi “Báo cáo chung về tự do báo chí” đến Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc với nhiều nội dung không đúng sự thật về Việt Nam.

Tương tự, ngày 18/11, Mạng lưới nhân quyền Việt Nam công bố “Giải thưởng Nhân quyền Việt Nam 2023” và “Báo cáo Nhân quyền tại Việt Nam 2022-2023”. Thực tế, mục đích của việc trao giải cũng như nội dung của những báo cáo này không có gì mới khi chỉ dẫn lại những cáo buộc vô căn cứ đã bị Việt Nam nhiều lần bác bỏ bằng các thông tin chính thống, số liệu cụ thể tại các buổi họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao và trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng.

Không phải ngẫu nhiên, các tổ chức thiếu thiện chí lại tích cực soạn thảo và công bố “các báo cáo nhân quyền”. Trên nhiều diễn đàn, họ đã cho biết mục đích chính của mình là hối thúc Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, các tổ chức nhân quyền quốc tế và một số chính phủ tạo áp lực cho Việt Nam trước thềm diễn ra kỳ Kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) lần thứ tư diễn ra vào tháng 4/2024.

Bằng cách này, các tổ chức âm mưu can thiệp vào tình hình nội bộ của Việt Nam, ra yêu sách đòi xóa bỏ một số quy định trong Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật An ninh mạng, Luật Tôn giáo và Tín ngưỡng hiện hành, trả tự do cho một số đối tượng đang chấp hành án phạt tù vì tuyên truyền chống Nhà nước. Đây là những đòi hỏi phi lý, không thể chấp nhận.

Năm 2023, Việt Nam đã có nhiều hoạt động thực chất và hiệu quả tại các diễn đàn khu vực và thế giới để thúc đẩy và bảo vệ quyền con người cũng như mong muốn cộng đồng quốc tế hiểu rõ hơn về các thành tựu đã đạt được của Việt Nam trong lĩnh vực nhân quyền.

Ngày 20/6, phát biểu tại phiên đối thoại với Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc về Báo cáo về tình hình nhân quyền hằng năm, đại sứ Lê Thị Tuyết Mai, Trưởng Phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc tại Geneva nhấn mạnh cam kết thúc đẩy đối thoại thực chất và hợp tác hiệu quả với tất cả các quốc gia thành viên và các cơ chế nhân quyền của Liên hợp quốc; ủng hộ các nguyên tắc cơ bản về phổ quát, công bằng, khách quan, không chọn lựa và không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia; đối thoại và hợp tác thực chất cũng như tuân thủ các nguyên tắc nêu trên là cách thức hiệu quả nhất để thúc đẩy và bảo vệ quyền con người.

Ngày 8/11, tại buổi tiếp Báo cáo viên đặc biệt của Liên hợp quốc về Quyền Phát triển, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đỗ Hùng Việt chia sẻ cách tiếp cận của Việt Nam là tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người; khẳng định Việt Nam luôn đặt con người ở vị trí trung tâm, là chủ thể và động lực của quá trình phát triển.

Về phần mình, Báo cáo viên đặc biệt Surya Deva đã đánh giá cao các dấu ấn, sáng kiến của Việt Nam trên cương vị thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 và sự tham gia trách nhiệm, tích cực trong Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát về quyền con người. Thực tế cho thấy những kết quả đáng ghi nhận của Việt Nam trong lĩnh vực lập pháp, tạo dựng các diễn đàn và không gian cho quyền tự do ngôn luận, hợp tác quốc tế về bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền trong nhiều năm qua là minh chứng rõ ràng nhất cho thấy Nhà nước ta đã có những nỗ lực không ngừng nghỉ trong việc bảo vệ quyền con người./

Sưu tầm

Khắc phục những biểu hiện lệch lạc trong học tập, nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh

Quán triệt và triển khai thực hiện chủ trương của Đảng, việc học tập, nghiên cứu và vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền nếp trong tổ chức thực hiện và đạt nhiều kết quả quan trọng, là cơ sở để thực hiện có hiệu quả công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

Tuy nhiên, trong quá trình học tập, nghiên cứu và vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn một số biểu hiện nhận thức lệch lạc, thiếu đúng đắn về vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt này. Nguyên nhân là do một bộ phận cán bộ, đảng viên ngại học, lười học, lười nghiên cứu; trong nghiên cứu không có phương pháp khoa học, hoặc không nghiên cứu thấu đáo, nghiên cứu lý luận thiếu tính thực tiễn, minh họa đường lối, quan điểm nhưng chưa cắt nghĩa đủ độ sâu sắc với vấn đề thực tiễn đặt ra, dẫn tới hiểu và vận dụng không đúng tư tưởng Hồ Chí Minh. Loại ý kiến này-hoặc vô tình hay hữu ý-đều có thể tiếp tay cho các quan điểm thù địch, sai trái, cơ hội chính trị lợi dụng nhằm chống phá Đảng.

Để học tập, nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn cách mạng, thích ứng với tình hình mới và đạt hiệu quả thiết thực, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, cần khắc phục những sai lệch sau:

Thứ nhất, khắc phục tình trạng ngại học, lười học lý luận chính trị nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng; xem nhẹ lý luận, tuyệt đối hóa vai trò của kinh nghiệm.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những biểu hiện của bệnh ngại học, lười học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên, đó là: “Chỉ biết vùi đầu suốt ngày vào công tác sự vụ, không nhận thấy sự quan trọng của lý luận, cho nên còn có hiện tượng xem thường học tập hoặc là không kiên quyết tìm biện pháp để điều hòa công tác và học tập. Hoặc là sau một thời kỳ học tập tại chức có cán bộ phàn nàn trước những khó khăn của việc đọc tài liệu, khó khăn đào sâu suy nghĩ”.

Nhận thấy những nguy hại của căn bệnh lười học, ngại học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên, Đảng ta cũng đã chỉ rõ, lười học tập, lười suy nghĩ, không thường xuyên tiếp nhận những thông tin mới cũng là biểu hiện của sự suy thoái. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng đã chỉ ra một trong 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay, đó là: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Vì vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh, phải “khắc phục tình trạng lười học, ngại học lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên”.

Thứ hai, khắc phục biểu hiện tách rời lý luận với thực tiễn; không thấy sự thống nhất giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin. 

Nghiên cứu lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta thấy rõ tư tưởng của Người có nguồn gốc lý luận chủ yếu từ Chủ nghĩa Mác-Lênin. Ngày 12-7-1946, trả lời phóng viên trong cuộc họp báo tại biệt thự Roayan Môngxô, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác”. Hồ Chí Minh không bao giờ đối lập hoặc “tách mình” ra khỏi quan điểm, lập trường tư tưởng C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin để đưa ra các quan điểm riêng, đúng như Người đã nói: “Cố gắng vận dụng những nguyên lý phổ biến của Chủ nghĩa Mác-Lênin trong hoàn cảnh cụ thể của nước mình”.

Chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc lý luận chủ yếu của sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, bởi vì Chủ nghĩa Mác-Lênin đã cung cấp cho Hồ Chí Minh thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học, cách mạng, đặc biệt là những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời, đặt nền tảng vững chắc cho những vấn đề có tính nguyên tắc về lập trường quan điểm và phương pháp chỉ đạo cách mạng. Những phạm trù cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh nằm trong những phạm trù cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Trên cơ sở nắm vững và quán triệt sâu sắc lập trường, quan điểm và phương pháp biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã tiếp thu những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây để hình thành tư tưởng của mình.

Bản chất của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là khoa học và cách mạng, “tuy hai mà một, tuy một mà hai”. Vì thế, những quan điểm tách rời Chủ nghĩa Mác-Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, không nhận thức được sự thống nhất giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin, hoặc đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh mà phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin đều sai trái, có dụng ý xấu.

Thứ ba, khắc phục khuynh hướng cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh “không phải là một hệ thống” mà chỉ là những quan điểm chỉ đạo thực tiễn của Người.

Cần phải khẳng định rằng “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam”,  nghĩa là bao quát nhiều lĩnh vực, nhưng không phải tất cả mọi vấn đề đều gắn với tư tưởng Hồ Chí Minh. Ở đây cần hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh như là những tư tưởng chính trị theo nghĩa rộng, gồm tư tưởng về mục tiêu cách mạng: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; về mục đích cách mạng: Giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về lực lượng cách mạng: Toàn dân tộc lấy công-nông làm gốc; về tổ chức cách mạng: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận đoàn kết toàn dân; về phương pháp cách mạng: Động viên toàn dân, tổ chức toàn dân... Do đó, yêu cầu phương pháp luận khi nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trên bình diện tổng thể hay từng bộ phận là phải luôn luôn quán triệt mối liên hệ chặt chẽ giữa các yếu tố, các bộ phận khác nhau trong sự gắn kết tất yếu của hệ thống tư tưởng đó quanh hạt nhân cốt lõi là tư tưởng độc lập, tự do.

Nhận thức như vậy trong nghiên cứu và vận dụng sẽ tránh được các khuynh hướng sai lầm và xuyên tạc cho rằng không có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh mà chỉ một vài phát biểu ngắn gọn hoặc quan điểm chỉ đạo thực tiễn của Người; hoặc cái gì cũng quy về tư tưởng Hồ Chí Minh mà không hiểu tư tưởng của Người chỉ gắn với những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam.

Thứ tư, khắc phục khuynh hướng đơn giản hóa, tầm thường hóa hoặc đi sâu vào tầm chương trích cú, xa rời thực tiễn cách mạng. 

Hồ Chí Minh là một nhà văn hóa lớn đạt đến sự hòa quyện nhuần nhuyễn lý trí với tình cảm, sự gắn kết rất tự nhiên giữa tâm hồn nhạy cảm của một nhà thơ, với bản lĩnh tinh nhạy của một chính khách và sự khoan hòa nhân ái của một lãnh tụ nhân dân. Trong ứng xử cũng như trong cách viết, cách trả lời nhà báo nước ngoài, cách diễn đạt những mệnh đề lý luận của Hồ Chí Minh có sự tinh tế nhuần nhuyễn của những đường nét triết lý phương Đông và văn hóa phương Tây, vừa dân tộc, vừa quốc tế. Đặc điểm nổi bật ấy tạo ra phong thái rất độc đáo của Hồ Chí Minh không trộn lẫn vào đâu được. Nhờ vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh đến với mọi tầng lớp nhân dân một cách dễ dàng vì nó gần gũi với cách cảm, cách nghĩ của họ, vừa rất truyền thống, vừa rất hiện đại.

Khi nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh thì vấn đề quan trọng là ở chỗ nhận ra đâu là nét đích thực của tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện qua việc làm, qua cách sống, qua lời nói, qua bài viết, qua sự nghiệp cách mạng của Người. Đừng cố tìm và không nên tìm ở Hồ Chí Minh cái gì cũng đều có sẵn, vì như vậy cũng vô hình trung là xuyên tạc, hạ thấp tư tưởng Hồ Chí Minh. 

Thứ năm, đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa giáo điều; đồng thời bảo vệ, phát triển và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Sức sống mãnh liệt của Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng như tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ ở những nguyên lý, những quan điểm do các lãnh tụ nêu lên mà còn ở sự vận dụng sáng tạo, bảo vệ và phát triển của các thế hệ tiếp theo. Chính sự vận dụng sáng tạo, bảo vệ và phát triển đó làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trường tồn và ngày càng có sức mạnh to lớn.

Có thể thấy rằng, Hồ Chí Minh là một nhà lý luận-thực tiễn. Người xây dựng lý luận, vạch cương lĩnh, đường lối, chủ trương cách mạng và trực tiếp tổ chức, lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Và từ thực tiễn lãnh đạo cách mạng, Người tổng kết, bổ sung để hoàn chỉnh và phát triển, cho nên tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh luôn sáng tạo, không lạc hậu, giáo điều. Nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ căn cứ vào các tác phẩm, bài viết mà cần coi trọng hoạt động thực tiễn của Người, thực tiễn cách mạng dưới sự tổ chức và lãnh đạo của Đảng do Người đứng đầu.

Hơn nữa, Hồ Chí Minh có một phong cách nói và viết rất ngắn gọn không theo lối viết kiểu hàn lâm. Vì vậy, chỉ căn cứ vào bài viết, bài nói, tác phẩm của Người là chưa đầy đủ, mà phải thông qua quá trình hoạt động thực tiễn của Người. Vấn đề đặt ra là để phù hợp với chính những lời nói và việc làm của C.Mác, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh, trong nghiên cứu khoa học cũng như vận dụng vào hoạt động thực tiễn, chúng ta cần chú trọng giải quyết đúng đắn các mối quan hệ: Tuyệt đối trung thành, vận dụng sáng tạo, bảo vệ, phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội và xét lại, chủ nghĩa giáo điều.

Tư tưởng Hồ Chí Minh đã và đang soi đường cho Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trên con đường xây dựng đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Vì vậy, học tập, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh để nâng cao trình độ tư duy lý luận, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao đạo đức cách mạng, năng lực công tác, thực hiện tốt các nhiệm vụ cách mạng của Đảng và Nhà nước ta trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng. Điều đó đặt ra yêu cầu mới là tăng cường nghiên cứu, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh nhất thiết phải nắm vững bản chất khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho tư tưởng đó phù hợp, gắn bó sống động với công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước trong tình hình mới./.

Theo qdnd.vn

Bác bỏ luận điệu “đường lối của Đảng chỉ là ý chí chủ quan của một bộ phận tinh hoa cầm quyền”

 


      Những năm gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều luận điệu xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta với nhiều loại và giọng điệu khác nhau. Chỉ ở khía cạnh công kích đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ chỗ phủ nhận thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội, “Việt Nam đi theo con đường xã hội chủ nghĩa chỉ là ảo tưởng, viển vông”, các thế lực thù địch, phản động còn xuyên tạc rằng “đường lối của Đảng chỉ là ý chí chủ quan của một bộ phận tinh hoa cầm quyền, không đi theo xu thế chung của thời đại khiến đất nước không phát triển được”. Luận điệu trên là hoàn toàn sai trái, phi lý, phản động, bởi nó không dựa trên cơ sở khoa học, căn cứ thực tiễn nào, mà chỉ là ý đồ đen tối nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.

       Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định: Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng và nhân dân ta; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Tiếp nối Cương lĩnh năm 1930 và Cương lĩnh năm 1991, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng xác định: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”. Có thể nói đây là những đường hướng lớn “vạch thời đại” vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, con người và xã hội Việt Nam.

Từ những đường hướng lớn trên đây, Đại hội XIII của Đảng cụ thể hóa tầm nhìn và định hướng phát triển đất nước trong những mốc lịch sử quan trọng: Một là, đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, Việt Nam phấn đấu trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Hai là, đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Ba là, đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Có thể khẳng định, thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là thắng lợi của đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những thành công có được ngày hôm nay là kết quả khởi phát từ đường lối chiến lược đúng đắn của Đảng ta về sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.Với những luận cứ, luận chứng khoa học trên là bằng chứng xác đáng, thuyết phục để bác bỏ hoàn toàn các luận điệu xuyên tạc “đường lối của Đảng chỉ là ý chí chủ quan của một bộ phận tinh hoa cầm quyền” của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị.

 

Lại giở trò lố “Giải thưởng nhân quyền Việt Nam 2023”

 


Ngày 18/11 vừa qua, tổ chức Mạng lưới nhân quyền Việt Nam có trụ sở tại bang California (Mỹ) công bố “Báo cáo nhân quyền 2022-2023”, tiếp tục đưa ra những nội dung xuyên tạc về tình hình nhân quyền ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ, trong đó có Việt Nam.

Đồng thời, tổ chức này còn đưa ra cái gọi là “Giải thưởng nhân quyền Việt Nam 2023” để “tôn vinh” các đối tượng Trần Văn Bang, Y Wô Niê, Lê Trọng Hùng – những kẻ đang phải chấp hành án phạt tù về các hoạt động chống phá đất nước. Mạng lưới nhân quyền Việt Nam (tiếng Anh: Vietnam Human Rights Network – VHRN) là một tổ chức tự xưng có trụ sở tại bang California (Mỹ), được biết đến là một tổ chức ngoại vi của Việt Tân, tập hợp thành viên chân rết của tổ chức này để tiến hành các hoạt động chống phá. Tháng 11/1997, một nhóm người Việt sinh sống ở Mỹ do Nguyễn Thanh Trang, Lê Minh Nguyễn, Nguyễn Ngọc Quỳnh, Nguyễn Thị Hồng Liên… đã tổ chức “hội nghị quốc tế” tại TP Santa Ana, thuộc quận Orange County, bang California, Mỹ và công bố thành lập tổ chức với tên gọi Mạng lưới nhân quyền Việt Nam. Để thu hút sự quan tâm của dư luận, đánh bóng, gây thanh thế trong cộng đồng hải ngoại, Mạng lưới nhân quyền Việt Nam đã đưa ra mục tiêu hoạt động “gia tăng có hiệu quả các hoạt động dân chủ, nhân quyền trên thế giới để thúc đẩy tiến trình cải tiến dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam”. Để thực hiện được mục tiêu trên, tổ chức này đã thiết lập các trang mạng xã hội, website để đăng tải, chia sẻ nhiều bài viết, video, hình ảnh nhằm tuyên truyền, xuyên tạc về vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Cùng với đó, Mạng lưới nhân quyền Việt Nam còn quan hệ, móc nối, vận động sự bảo trợ của một số nghị sĩ của Mỹ có quan điểm thiếu thiện chí với Việt Nam và tăng cường móc nối, quan hệ với các tổ chức thường xuyên có hoạt động vu cáo, xuyên tạc chống phá Nhà nước Việt Nam về vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc như Đài Á Châu Tự Do – RFA; tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch – HRW), tổ chức Nhà báo không biên giới (Reporters Sán Frontieres – RSF), tổ chức Ủy ban bảo vệ ký giả (Committee to Protect Journalists – CPJ), tổ chức Ân xá quốc tế ( Amnesty International – AI), Ủy ban Tự do tôn giáo cho Việt Nam, tập hợp Thanh niên dân chủ…

Từ khi thành lập đến nay, Mạng lưới nhân quyền Việt Nam thường xuyên công bố báo cáo nhân quyền, nội dung lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc ở Việt Nam để xuyên tạc sự thật, phục vụ cho mục đích bôi lem, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam trên trường quốc tế và khu vực. “Báo cáo nhân quyền Việt Nam 2022-2023” mà tổ chức này đưa ra cũng không nằm ngoài chiêu bài trên khi họ tập hợp, đánh giá với hàng trăm trang nhưng tất cả đều là cách nhìn phiến diện, sai sự thật về thực tiễn tình hình tự do dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, dân tộc ở Việt Nam. Trong đó, họ đã cố tình xuyên tạc rằng “Chính phủ Việt Nam ngược đãi, kỳ thị người dân tộc thiểu số Tây Nguyên một cách có hệ thống”; đưa ra những thông tin, tình hình sai lệch về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, đồng bào Khmer ở Tây Nam Bộ… Đồng thời, để cổ vũ cho những kẻ lợi dụng quyền tự do dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc tiến hành các hoạt động vi phạm pháp luật, chống phá đất nước, hằng năm, mạng lưới này còn tổ chức họp, bình chọn, công bố, “vinh danh” cái gọi là “Giải thưởng nhân quyền Việt Nam” để “tuyên dương thành tích tranh đấu bất bạo động cho lý tưởng nhân quyền tại Việt Nam”.

Còng lưng trả nợ vì nghe theo kẻ “tâm thần chính trị”

 


Đó là câu chuyện của Quách Thế Hùng (SN 1948), một đối tượng cốt cán từng chống cộng quyết liệt. Hùng mang quốc tịch Mỹ, là bác sĩ, đi du học ở Mỹ năm 1974. Đối tượng từng tham gia lễ kỷ niệm “Ngày thành lập quân lực Việt Nam cộng hoà” tại “Tụ nghĩa đường” Mỹ nhằm “Tưởng niệm quân đội Việt Nam cộng hoà đã hy sinh vì lý tưởng tự do”.

Thông qua đó, Hùng và các đối tượng đã tuyên truyền, khuyếch trương về hoạt động của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”; kêu gọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước tham gia chương trình “Trưng cầu dân ý” đợt 2 bầu Quân về nước làm Tổng thống “Đệ tam Việt Nam cộng hoà” nhằm “giải thể” Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Hùng còn tham gia tuyên truyền cái gọi là “Thi đua truyền thống quốc tế” với nội dung gồm thuyết trình các phim, ảnh, tư liệu về tiểu sử Quân; xây dựng các bài viết ca ngợi tinh thần “đấu tranh” của các thành viên trong nước; biên soạn tài liệu, sách, báo giới thiệu về “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”…

Không dừng lại ở đó, Hùng còn cùng đồng bọn xây dựng tượng đài Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ tại “Tụ nghĩa đường”; xuyên tạc chính quyền Việt Nam “hèn nhát” không dám đề cập đến sự kiện lịch sử liên quan đến các cuộc xâm lược của Trung Quốc; ủng hộ Quân và “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” về Việt Nam tiếp quản chính quyền, lật đổ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Hùng cùng các đối tượng cốt cán đẩy mạnh công tác tuyên truyền; phá hoại tư tưởng. Đối tượng còn triệt để lợi dụng việc trong nước tiến hành Đại hội Đảng lần thứ XIII; bầu cử quốc hội khoá XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp để tán phát hàng nghìn tài liệu, bài viết, video nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tuyên truyền, xuyên tạc tình hình bầu cử, tình hình chống dịch tại Việt Nam; kêu gọi nhân dân tẩy chay bầu cử, tẩy chay việc tiêm vaccine của Trung Quốc. Song đến thời điểm này, Hùng đã không tham gia tổ chức. Từng là những đối tượng hoạt động tích cực; tham gia với vai trò điều hành, cốt cán, vì sao các đối tượng cầm đầu tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” lại từ bỏ tổ chức”?

 

Lật tẩy bản chất của tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”

 


Với các hoạt động chống phá nhằm lật đổ chính quyền, phá hoại sự ổn định phát triển của đất nước bằng bạo động, vũ trang, tháng 1/2018, Bộ Công an đã thông báo “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” là một tổ chức khủng bố.

Cùng với công tác đấu tranh, xử lý, các đơn vị nghiệp vụ của Bộ Công an phối hợp với Công an các đơn vị, địa phương đã tuyên truyền, giải thích để người dân hiểu được bản chất của tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”. Đến thời điểm này, nhiều đối tượng từng là thành viên cốt cán của tổ chức và một số người từng bị lôi kéo đã từ bỏ, không tham gia vào tổ chức.Trong khoảng 4 năm (từ năm 2015-2019) những người theo dõi tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” chắc hẳn đều biết các đối tượng cốt cán, đứng sau Đào Minh Quân là những cái tên như Quách Thế Hùng; Kelly Triệu (Triệu Thanh Hoa) và Nguyễn Đức Thắng… Song đến thời điểm này, các đối tượng này đều đã từ bỏ tổ chức. Một trong số đó là Kelly Triệu hay Kelly Triệu Thanh Hoa. Kelly Triệu còn có tên là Nguyễn Thị Ngọc Huỳnh (SN 1968, sống tại Westminster, California, Mỹ). Sau một thời gian hoạt động, đến thời điểm này, Huỳnh đã từ bỏ tổ chức, tìm đến cửa Phật như một sự giải thoát!. Vì sao một đối tượng cầm đầu, cốt cán của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” lại tự rời bỏ nếu tổ chức này có “thực lực” như những lời Đào Minh Quân vẫn ra rả tuyên truyền trên mạng xã hội. Để lý giải cho vấn đề này, trước hết phải lật ngược lại thời gian khi Huỳnh tham gia vào tổ chức. Khoảng tháng 2/2012, trong quá trình làm từ thiện tại một số thành phố ở bang California, Huỳnh quen biết và được Sloan Trương, đại biểu của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” tại Garden Grove, kiêm phụ trách cái gọi là “Ban tài chính” tuyên truyền, giới thiệu, lôi kéo tham gia vào tổ chức. Trước đó, bố Huỳnh từng là đại uý cảnh sát của chế độ Việt Nam cộng hoà nên khi nhận thấy tôn chỉ, mục đích hoạt động của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” là lật đổ chế độ cộng sản ở Việt Nam, khôi phục chế độ Việt Nam Cộng hoà, phù hợp với mong muốn và nguyện vọng của Huỳnh nên bà ta đã đồng ý tham gia tổ chức này. Sau đó, Huỳnh được Nguyễn Đức Thắng (SN 1951, sống tại Mỹ), đối tượng được phong là Thiếu tướng, Tổng Cục trưởng Tổng cục tiếp vận của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, nguyên Chánh văn phòng “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” hướng dẫn cách viết đơn và hoàn tất các thủ tục gia nhập tổ chức, với bí danh “Kelly Triệu Thanh Hoa”; phân công làm “Đại biểu của Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” tại Westminter. Tháng 7/2016, Huỳnh được “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” phong cấp hàm chuẩn tướng, phân công nhiệm vụ phụ trách thanh niên. Không lâu sau đó, đối tượng được bổ nhiệm giữ chức vụ Giám đốc Nha nhân viên – Bộ Quốc phòng. Dưới sự chỉ đạo của Đào Minh Quân, Huỳnh đã thực hiện hàng loạt các hoạt động chống phá quyết liệt. Cụ thể, đối tượng sử dụng mạng xã hội, móc nối, lôi kéo hơn 30 người tham gia vào tổ chức này; đồng thời thường xuyên sử dụng 2 tài khoản Facebook “Kelly Trieu” và “Thanh Hoa Trieu” để đăng tải, chia sẻ các bài viết, vi deo, hình ảnh có nội dung tuyên truyền về đường lối hoạt động của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”; ca ngợi, suy tôn hình ảnh Đào Minh Quân; kêu gọi người dân đăng ký tham gia “Trưng cầu dân ý”; bầu Đào Minh Quân làm “Tổng thống Đệ tam Việt Nam cộng hoà”. Chìm đắm trong “giấc mộng” do Quân và một số đối tượng dựng lên trong khoảng 10 năm, khoảng năm 2018, Huỳnh phát hiện Quân và số cốt cán của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” lập các công ty giả để kêu gọi thành viên đóng góp cổ phần chỉ nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản. Cùng với đó là những bức xúc, bất mãn âm ỉ đã dồn góp lâu ngày do đã đóng góp nhiều tiền, công sức cho hoạt động của tổ chức nhưng không được ghi nhận công trạng nên đối tượng đã chủ động chấm dứt liên hệ, gặp gỡ với các thành viên của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” và xuất gia, đi tu. Năm 2022, dưới tên được “cha sinh, mẹ đẻ” đặt là Huỳnh, đối tượng tìm về quê hương, đất nước. Gần đây nhất, vào ngày 29/8, Huỳnh tiếp tục về Việt Nam để tham dự lễ ” Tự tứ kế khoá an cư kiết hạ” (lễ ra hạ/làm từ thiện tại TP Hồ Chí Minh). Để tránh bị liên luỵ do Bộ Công an đã công bố tên Kelly Triệu là thành viên tổ chức khủng bố “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” trên cổng thông tin điện tử; đồng thời cũng muốn quên đi quá khứ, đối tượng đã sử dụng tên là Huỳnh làm thủ tục nhập cảnh về nước.

.

 

Bệnh nan y của Việt Tân

 


       Việt Tân – một tổ chức khủng bố tinh vi và đầy rẫy âm mưu đen tối, thủ đoạn bỉ ổi, chúng luôn tìm cách luồn lách, tấn công vào các sai phạm, khuyết điểm cũng như suy nghĩ thiếu hiểu biết của người dân. Chúng còn lợi dụng các đối tượng thù địch, phản động ở hải ngoại và những phần tử bất mãn, cơ hội ở trong nước như một công cụ tay sai đắc lực nhằm thực hiện các âm mưu chính trị. Nguy hiểm và thâm độc hơn, bằng thủ đoạn ngụy biện vô cùng xảo quyệt, chúng thường xuyên cắt ghép rồi nhào nặn những thông tin từ báo chí trong nước với mục đích hướng lái dư luận tư duy theo ý đồ bẩn thỉu. Và từ lâu nay, thủ đoạn xuyên tạc, bẻ lái đã trở thành chứng bệnh nan y vô phương cứu chữa của tổ chức lưu vong này với những kẻ có dã tâm đen tối, thủ đoạn dù có tinh vi, xảo trá đến mấy thì những việc làm và tư duy của chúng lại càng lộ rõ sự thiển cận của những kẻ đầu to nhưng não lại quá nhỏ. Qua đó, dư luận cũng như cộng đồng mạng xã hội ở trong và ngoài nước ngày càng biết rõ hơn về bản chất tồi tệ và bẩn thỉu của chúng.

 

 

Xây dựng Đảng vững mạnh là điều kiện tiên quyết phòng, chống tham nhũng, chống “diễn biến hòa bình”

        Công cuộc “Đổi mới” đất nước do Đảng ta lãnh đạo nhiều năm qua đã đạt những thành tựu to lớn không thể phủ nhận, được nhân dân tin tưởng, bè bạn quốc tế thừa nhận và đánh giá rất cao. Tuy nhiên, với tâm địa đen tối, cái nhìn hằn học, các thế lực thù địch vẫn đang ra sức xuyên tạc cho rằng: Đảng, Nhà nước đấu tranh phòng, chống tham nhũng “thực chất chỉ là cuộc đấu đá nội bộ, tranh giành quyền lực”. Rằng: “... việc xây dựng Đảng chỉ là kiểu “giật gấu vá vai”. Tình trạng này tất yếu sẽ khiến Đảng đổ vỡ và tan rã”... Đây là những luận điệu bịa đặt, xuyên tạc hết sức nguy hiểm hòng chia rẽ Đảng với nhân dân, làm suy yếu, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

1. Từ các bài học thực tiễn trong các cuộc đấu tranh cách mạng từ khi thành lập Đảng đến nay, Đảng ta quyết tâm “Đổi mới” với phương châm xây dựng kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt. Công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng và cấp bách, có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng và có ý nghĩa sống còn với chế độ ta. Việc xử lý cán bộ trong bộ máy Đảng, Nhà nước vi phạm pháp luật là một công việc bình thường trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Vậy mà, trong thời gian qua, mỗi khi Đảng ta kỷ luật cán bộ cao cấp vi phạm pháp luật, một số hãng thông tấn, báo chí nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam và các trang mạng xã hội phản động, nhất là tổ chức Việt Tân luôn xuyên tạc rằng, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam là “thanh trừng phe phái” hay “tính hiệu quả không thể cao khi người dân đứng ngoài cuộc chiến chống suy thoái”. Họ cho rằng việc xử lý cán bộ vi phạm để “tăng cường quyền lực cho khối nội chính, tuyệt đối hóa quyền lực của Đảng”... Khi Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII diễn ra, họ lại có động thái bôi lem, vấy bẩn danh dự của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tiến tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Còn nhớ, ngày 19-8-1989, khi chúng ta đã bước vào công cuộc “Đổi mới”, nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày Bác Hồ kính yêu qua đời và chuẩn bị kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Bác, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Thông báo số 151-TB/TW do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh ký, thông báo đến toàn Đảng, toàn dân một số vấn đề liên quan đến Di chúc của Bác và ngày Bác qua đời. Khi đọc lại một số đoạn Di chúc Bác viết thêm năm 1968 về những việc cần làm sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giành được thắng lợi hoàn toàn mà trước đây chưa công bố, chúng ta càng thêm kính yêu, khâm phục tầm nhìn sâu rộng và trí tuệ mẫn tiệp của Người và thấy như có lỗi với Bác vì “chưa thực hiện thật tốt” những điều Người căn dặn. Bác viết: “Ngay sau khi cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi... Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”.

2. Để thực hiện những điều căn dặn của Bác về xây dựng Đảng viết trong Di chúc “việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”, Đảng ta đã xác định xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt trong mỗi giai đoạn cách mạng. Đảng ta luôn luôn ý thức tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng nhằm tăng cường sức mạnh và tính chiến đấu của Đảng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việc đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng đã được đặt ra trong nhiều nghị quyết của Đảng, từ nghị quyết của các Đại hội đại biểu toàn quốc đến nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII về “Một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”...

Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đánh giá: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc...”. Tình trạng này “làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ”. Từ đó, Trung ương yêu cầu phải “kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Đảng”.

Đại hội XIII của Đảng tiếp tục đánh giá: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Có thể thấy, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là nguy cơ liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, những hành vi tham nhũng, tiêu cực không còn là một khái niệm trừu tượng mà đã biểu hiện rất cụ thể trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả những người giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, cấp cao. Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Đảng cũng nhấn mạnh: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói chưa đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật”.

Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII của Đảng tiếp tục chỉ rõ: Một số cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu chưa nhận diện đầy đủ mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tại địa phương, cơ quan, đơn vị mình; chưa quyết tâm và có biện pháp chỉ đạo đủ mạnh, còn thụ động, trông chờ vào sự chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên; không thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, chưa gương mẫu, mất đoàn kết nội bộ, chưa thẳng thắn đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thậm chí còn cục bộ, lợi ích nhóm, bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất, thờ ơ, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân.

3. Vậy, vì sao tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống vẫn tiếp tục diễn biến nghiêm trọng, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi? Thực tế cho thấy, sở dĩ có tình trạng đó xảy ra là do một bộ phận cán bộ, đảng viên không tích cực học tập, nghiên cứu lý luận chính trị, về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Họ đã phai nhạt về lý tưởng, dao động mục tiêu và con đường phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội của dân tộc, phủ nhận các thành quả cách mạng và giá trị truyền thống của dân tộc. Từ đó phát ngôn và hành động không theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không chấp hành nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Từ đó lơ là, mất cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, đồng thời không kiên quyết phê phán, đấu tranh với những quan điểm sai trái, những luận điệu xuyên tạc lịch sử, thực tế đất nước, bôi nhọ Đảng, chế độ, chia rẽ niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước.

Thực hiện lời căn dặn của Bác: “Ngay sau khi cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi... Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”, các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương trong suốt mấy chục năm qua về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã đề ra những chủ trương và giải pháp quan trọng nhằm củng cố, kiện toàn và làm trong sạch bộ máy nhà nước. Trong đó coi trọng công tác tự phê bình và phê bình trong toàn Đảng, củng cố sự đoàn kết thống nhất nhằm xây dựng Đảng ta vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; khắc phục những yếu kém trong bộ máy của Đảng và Nhà nước. Dân chủ trong Đảng và trong xã hội được mở rộng góp phần thúc đẩy kinh tế, văn hóa và xã hội phát triển.

Đại hội XIII của Đảng khẳng định: Tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện; tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng; đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; làm tốt công tác tư tưởng, lý luận; chú trọng công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng và công tác dân vận của Đảng. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân là điều kiện tiên quyết phòng, chống tham nhũng, diễn biến hòa bình vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Sưu tầm