Thứ Hai, 4 tháng 12, 2023

Tự giác nêu gương của cán bộ, đảng viên

 Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Người chiến sĩ gương mẫu thì không bao giờ tự mãn tự túc, mà cố gắng tiến bộ mãi”[3]. Đảng viên tự giác nêu gương không chỉ là một yêu cầu đối với vai trò và phương thức lãnh đạo của Đảng, mà còn được đặt ra như là một chuẩn mực đạo đức - “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Tự giác nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu chính là để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu của Đảng, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy phong trào cách mạng tiến lên. Cán bộ, đảng viên chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, bởi vì họ là những người nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Vì thế, hơn ai hết, cán bộ, đảng viên phải đi trước, lo trước nhân dân và vui sau nhân dân để dẫn dắt quần chúng, tạo ra phong trào cách mạng rộng lớn.

Trong cuộc sống hằng ngày, cán bộ, đảng viên phải tự giác nêu gương toàn diện, không chỉ về tư tưởng chính trị mà còn về đạo đức, lối sống; không chỉ trong lời nói mà trong cả việc làm trên mọi lĩnh vực, trong mọi hoàn cảnh, cả trong tổ chức, xã hội và ở gia đình một cách tự giác. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Người đảng viên - dù công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp - ở đâu cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng… Mà muốn cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo”[4]. Như vậy, nếu cán bộ, đảng viên không có uy tín ở khu dân cư thì không thể nói họ gương mẫu được…

Để cán bộ, đảng viên tự giác nêu gương, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần phải tích cực tổ chức tuyên truyền học tập lý luận chính trị, có như vậy mới nâng cao được chất lượng giáo dục, rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên. Các nhà kinh điển mác-xít khẳng định lý luận cách mạng là điều kiện tiên quyết để hình thành và thúc đẩy phong trào cách mạng. Theo V.I.Lê-nin: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng và chỉ có một đảng có lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có thể làm tròn được vai trò chiến sĩ tiền phong”, và khi nhận thức (lý luận) đã thâm nhập vào quần chúng thì biến thành sức mạnh vật chất to lớn. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, có học tập lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững được lập trường, nâng cao sự hiểu biết và trình độ chính trị, mới làm tốt công tác mà Đảng giao phó cho mình. Người chỉ rõ: “Vì kém lý luận, cho nên gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo. Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý mình nghĩ thế nào làm thế ấy. Kết quả thường thất bại”[5].

Do đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và cán bộ, đảng viên cần tự giác nêu gương về học tập lý luận chính trị. Trước hết từ trong nhận thức, mỗi cán bộ, đảng viên cần phát huy tính tích cực, chủ động trong tự học tập, tự nghiên cứu lý luận chính trị. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp cả về phẩm chất chính trị và năng lực chuyên môn sư phạm, đến thực hiện nghiêm quy định, chế độ học tập lý luận chính trị; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá; lấy kết quả học tập lý luận chính trị là một trong những tiêu chí đánh giá, xếp loại cán bộ, đảng viên hằng năm.

Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 01-KL/TW về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Ban Tuyên giáo Trung ương đã xây dựng Chuyên đề toàn khóa về “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Trên cơ sở đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần cụ thể hóa việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng những việc làm cụ thể hàng ngày, gắn với nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, từ đó sẽ nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, trách nhiệm của mình trong hệ thống chính trị, tự giác nêu gương về mọi mặt, tạo sự lan tỏa trong xã hội. Vì vậy, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, đảng viên học tập, rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ mọi mặt; quan tâm giúp đỡ, động viên cán bộ, đảng viên tự rèn luyện, tạo điều kiện để mỗi cán bộ, đảng viên xây dựng kế hoạch tự phấn đấu vươn lên, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.

Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần tự giác tu dưỡng, rèn luyện để nâng cao tính tiên phong, gương mẫu trong thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố”[6]. Cán bộ, đảng viên không chỉ tự học qua sách báo, qua các phương tiện thông tin đại chúng, mà phải tự học tập lẫn nhau và thông qua hoạt động thực tiễn để thâm nhập vào phong trào cách mạng của quần chúng, làm cho phong trào đó phát triển đúng định hướng chính trị và qua đó tự rèn luyện mình. Qua hoạt động thực tiễn sẽ cung cấp nhiều loại thông tin đa dạng hơn, đồng thời kiểm định lý luận và càng nâng cao tầm hiểu biết, có thêm nghị lực để lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ đạt hiệu quả cao hơn và thời gian ngắn hơn. Do đó, cán bộ, đảng viên phải thực sự sâu sát với quần chúng, quý trọng nhân dân, gương mẫu về mọi mặt, có như vậy mới tổ chức, tuyên truyền và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước đạt hiệu quả cao.

Quan điểm về “nêu gương”

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nhấn mạnh “mỗi cán bộ phải làm gương mẫu”[1] mà còn chỉ ra nội hàm của gương mẫu, cụ thể là: “Người đảng viên ở bất kỳ đâu, bất kỳ làm việc gì, bất kỳ địa vị nào và hoàn cảnh nào, cũng phải luôn luôn: Đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết… Phải gần gũi dân chúng, thương yêu, giúp đỡ dân chúng, tổ chức và lãnh đạo dân chúng. Phải giữ vững đạo đức cách mệnh, là chí công vô tư”[2]. Đảng ta cũng chỉ rõ, Đảng lãnh đạo bằng hành động gương mẫu của đảng viên, coi đó là một nội dung quan trọng trong phương thức lãnh đạo của Đảng.

Hiện nay, việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của một số cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên còn hạn chế. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược thiếu gương mẫu trong học tập, tu dưỡng, rèn luyện, suy thoái về đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, thậm chí vi phạm nghiêm trọng kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, gây dư luận xấu trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trước thực trạng này, Đảng ta đã kịp thời đề ra những chủ trương, nghị quyết, quy định về trách nhiệm nêu gương của người cán bộ, đảng viên.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định: “Thực hiện nghiêm các quy định của Ðảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu. Ðảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiền phong, gương mẫu, tạo sự lan toả, thúc đẩy các phong trào cách mạng. Nêu gương là trách nhiệm, bổn phận và là đạo lý của người đảng viên của Ðảng trước Nhân dân; trách nhiệm nêu gương đó phải được thể hiện từ trong tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tự phê bình và phê bình đến trong quan hệ với quần chúng, trách nhiệm trong công tác, ý thức tổ chức kỷ luật, đoàn kết nội bộ”.

Tự giác nêu gương của cán bộ, đảng viên không tự nhiên mà có, mà phải thông qua quá trình tự phấn đấu, tự tu dưỡng, rèn luyện hằng ngày. Vì vậy, các cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của Đảng: Quy định số 101-QÐ/TW ngày 7-6-2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”; Quy định số 55-QĐ/TW ngày 19-12-2016 của Bộ Chính trị “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018 của BCH Trung ương “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên BCH Trung ương”; Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 9-3-2021 của Bộ Chính trị “Về việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”.

Trên cơ sở quy định của Đảng, cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền các cấp cần quán triệt, cụ thể hóa, xây dựng thành những quy định cụ thể về “tự giác nêu gương” phù hợp với chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên.

Quan tâm tuyên truyền về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị

 Sự vững mạnh và bền vững của một quốc gia không chỉ phụ thuộc vào những yếu tố kinh tế, xã hội mà còn liên quan mật thiết đến hệ thống chính trị của quốc gia và sự đoàn kết trong Đảng. Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta không thể bỏ qua vai trò quan trọng của năm 2023, một năm được xác định là quan trọng trong việc thúc đẩy công tác xây dựng Đảng và củng cố hệ thống chính trị tại Việt Nam.

Năm 2023 đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc thúc đẩy tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Chúng ta không chỉ đang thực hiện một phần trong chiến lược tổng quát của Đảng, mà còn đang đối mặt với cơ hội quan trọng để đảm bảo tính lãnh đạo đúng đắn trong tương lai và đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước.

Một trong những mục tiêu cụ thể của năm 2023 là tăng cường giáo dục và nhận thức về tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Việc tiếp tục tuyên truyền về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị không chỉ thể hiện sự quan tâm và sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, mà còn đẩy mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo sự vững mạnh và bền vững của nền chính trị. Công tác xây dựng Đảng được đẩy mạnh là cơ hội để đảm bảo tính nhất quán và sức mạnh của lãnh đạo chính trị. Tuyên truyền về công tác xây dựng Đảng không chỉ giúp những đảng viên hiểu rõ về giá trị của mình mà còn khuyến khích họ tham gia tích cực và đóng góp vào sự phát triển của Đảng và đất nước. Đồng thời, việc đảm bảo sự đoàn kết là điều cần thiết để thúc đẩy sự phát triển bền vững, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi thành viên trong xã hội tham gia và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

Trong quá trình xây dựng và phát triển, Đảng và hệ thống chính trị không thể tránh khỏi những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống của một số cán bộ, đảng viên. Tuyên truyền về việc ngăn chặn và xử lý nghiêm những trường hợp này đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì tính nhất quán của Đảng và tính minh bạch của hệ thống chính trị. Hệ thống chính trị chắp cánh cho quyền tự quyết của nhân dân. Tuyên truyền về hệ thống chính trị là cơ hội để tạo ra nhận thức về tính dân chủ trong xã hội. Cải cách cách thức hoạt động của các cơ quan đảng, cơ quan nhà nước là những điểm mấu chốt để tạo ra môi trường dân chủ, khuyến khích sự tham gia của nhân dân góp ý xây dựng Đảng. 

Bên cạnh đó, sự lãng phí và tham nhũng đã và đang là những thách thức lớn đối với xã hội và hệ thống chính trị. Công tác tuyên truyền về việc chống tham nhũng và lãng phí không chỉ tạo ra một môi trường lành mạnh, tránh những hành vi tiêu cực, mà còn góp phần bảo vệ tính trong sạch của chính trị, duy trì lòng tin của nhân dân.

Năm 2023 không chỉ đánh dấu một năm quan trọng trong việc thúc đẩy công tác xây dựng Đảng và củng cố hệ thống chính trị, mà còn là một cơ hội để xây dựng một tương lai tốt hơn. Việc tiếp tục tuyên truyền về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, đặc biệt trong bối cảnh môi trường chính trị và xã hội ngày càng phức tạp là cách thể hiện cam kết của chúng ta đối với sự vững mạnh và bền vững của quốc gia để hướng đến một Việt Nam đoàn kết, phồn thịnh.

 

 ĐỘI DỰ BỊ TIN CẬY CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Đoàn viên, thanh niên là lực lượng đông đảo, đóng vai trò nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vị trí, vai trò quan trọng của Đoàn Thanh niên đã được Đảng, Nhà nước và Nhân dân ghi nhận và thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam chứng minh. Trong thời kỳ cách mạng 4.0 hiện nay, các thế lực thù địch trong và ngoài nước luôn tìm mọi cách tác động vào giới trẻ để gây ra sự mơ hồ, mất phương hướng cho lực lượng thanh niên và mục đích chúng hướng đến là xóa bỏ tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

Trong bài viết của Trà My với tựa đề “Sự mất phương hướng nguy hiểm trong hoạt động của Đoàn Thanh niên Cộng sản” được đăng trên “Thời báo”. Trà My trên cơ sở “dẫn chứng” sự việc diễn ra tại hội trại trên địa bàn thành phố Quảng Ninh, đồng thời lồng ghép thông tin, bình luận, ngụy biện nhằm phủ nhận vai trò của tổ chức Đoàn đối với thanh niên, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng với Đoàn thanh niên nói riêng và với đất nước nói chung. Qua đó, hòng tác động tiệu cực đối với một số bộ phận thanh niên ít rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, không đủ kiến thức và sự tỉnh táo để nhận diện âm mưu thâm độc của chúng và tạo nên sự “chuyển hóa về tư tưởng” dần dần của lớp trẻ, hòng tạo ra một thế hệ trẻ sống theo chủ nghĩa thực dụng, thiếu hiểu biết, thiếu kiến thức, thích ăn chơi, vụ lợi, vị kỷ, dễ dàng bị kích động, sẵn sàng xét lại quá khứ… Đây cũng là một âm mưu thâm độc mà các thế lực thù địch đã sử dụng, tấn công vào thanh niên các nước xã hội chủ nghĩa trước kia, nhằm “phá hủy lực lượng cộng sản tiềm năng không thể coi thường ở các nước xã hội chủ nghĩa”.

Thực tế tại Liên Xô (trước đây), vào thời điểm những năm 90 của thế kỷ trước, do những biến động về chính trị, Đảng Cộng sản đã dần đánh mất vai trò lãnh đạo đất nước, lãnh đạo Đoàn Thanh niên Cộng sản, cùng sự chống phá của các thế lực ở trong và ngoài nước nên thời điểm trước khi Liên Xô sụp đổ, Đoàn Thanh niên Cộng sản Côm-xô-môn đã không còn là tổ chức chính trị, đội hậu bị của Đảng Cộng sản Liên Xô; dần phát triển thành hiệp hội của các doanh nghiệp và sớm bị suy thoái, chuyển hóa về tư tưởng chính trị, tiếp đó chính thức biến mất khỏi vũ đài chính trị của đất nước. Đội thiếu niên và nhi đồng cũng cùng chung số phận; thanh thiếu niên bị mất phương hướng, “phi chính trị hóa” theo đúng kịch bản và âm mưu của các thế lực thù địch. Bài học đó vẫn còn nguyên giá trị, đòi hỏi Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cần nhận diện đúng thực trạng, xác định nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại để tìm giải pháp khắc phục, tránh để tình trạng “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị”, dẫn đến dễ bị các thế lực phản động lôi kéo, lợi dụng.

Lịch sử không thể phủ nhận, dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng, tiếp nối truyền thống cách mạng hào hùng của dân tộc, lớp lớp thế hệ thanh niên Việt Nam luôn nêu cao lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Nhìn lại lịch sử gần một thế kỷ xây dựng và trưởng thành của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, chúng ta nhớ đến những cái tên đã trở thành bất tử, thành tượng đài của các thế hệ thanh niên Việt Nam về tinh thần yêu nước, xả thân vì nghĩa lớn. “Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, chứ không thể có con đường nào khác”- câu nói bất hủ của anh hùng liệt sĩ Lý Tự Trọng, người đoàn viên đầu tiên của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã trở thành lý tưởng sống và vũ khí chiến đấu, “kim chỉ nam” cho hành động của thanh niên Việt Nam trong mọi thời kỳ cách mạng.

Trong thử thách khắc nghiệt của chiến tranh, trên mọi mặt trận đã có hàng vạn dũng sĩ và chiến sĩ thi đua, chiến sĩ quyết thắng, hàng triệu đoàn viên thanh niên ưu tú tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu, anh dũng hy sinh, cống hiến trọn vẹn tuổi thanh xuân cho sự nghiệp cách mạng. Đến thời kỳ kiến thiết đất nước, thanh niên luôn là lực lượng quan trọng với tinh thần xung kích, tình nguyện, ra sức học tập, lao động, rèn luyện để xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng.

Những năm gần đây, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh các cấp có nhiều đổi mới, đột phá về nội dung và phương thức hoạt động. Công tác Đoàn và phong trào thanh niên ngày càng phù hợp, sát với thực tế và đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của đoàn viên thanh niên. Điển hình như các phong trào: “Thanh niên tình nguyện”, “Tuổi trẻ sáng tạo”, “Tuổi trẻ xung kích bảo vệ Tổ quốc”; các chương trình: “Đồng hành với thanh niên trong học tập”; “Đồng hành với thanh niên khởi nghiệp, lập nghiệp”; “Đồng hành với thanh niên rèn luyện và phát triển kỹ năng trong cuộc sống, nâng cao thể chất, đời sống văn hóa tinh thần”… Qua đây, nhiều tấm gương tuổi trẻ lập thân, lập nghiệp thành công; nhiều thanh thiếu niên mang vinh quang về cho Tổ quốc trong các lĩnh vực khác nhau. Họ là điểm sáng hình thành một thế hệ thanh niên có nhận thức chính trị, lý tưởng rõ ràng, dám đương đầu với thử thách, khó khăn để lập thân, lập nghiệp, góp phần xây dựng Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh và hùng cường. Minh chứng sinh động là trong nhiệm kỳ 2017 – 2022 Ban Chấp hành Trung ương Đoàn trao tặng 210 Huy hiệu “Tuổi trẻ dũng cảm” và hàng trăm nghìn phần thưởng vinh danh những điển hình tiêu biểu của tuổi trẻ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Thực tiễn một bộ phận thanh niên có lối sống lệch lạc chỉ là vết chấm nhỏ trầm mặc trong bức tranh tổng thể rực sáng tinh thần tận hiến của tuổi trẻ. Phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2017-2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ trách nhiệm của Đoàn trong định hướng giáo dục thanh niên: Tránh “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị”. Trong suốt nhiệm kỳ Đại hội XI, lời huấn thị đó của Tổng Bí thư được tổ chức đoàn các cấp quán triệt sâu sắc, cụ thể hóa bằng nhiều hoạt động, phong trào cụ thể. Phát biểu tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XII, nhiệm kỳ 2022-2027, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ghi nhận: “Thanh niên thực sự đã và đang phát huy được thế mạnh của sức trẻ, tinh thần xung kích, sáng tạo, tình nguyện của mình ở những nơi khó khăn, gian khổ, những việc mới, việc khó, góp sức vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Thực tế đó đòi hỏi tổ chức đoàn nói chung, mỗi đoàn viên, thanh niên nói riêng phải tỉnh táo để tránh rơi vào “bẫy suy thoái” được giăng sẵn bởi các phần tử cơ hội, cũng như có các luận cứ để phản bác lại các quan điểm sai trái, thù địch nói trên./.

 

Sự xuyên tạc của Hoàng Lan Mộc Châu


Trái ngược với việc Đảng, Nhà nước Việt Nam đang quyết liệt hành động đề ngăn ngừa, khắc phục những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, chế độ, trên trang “Vietnamthoibao”, Hoàng Lan Mộc Châu đã đăng tải bài viết: “Nguyễn Tất Thành ông tổ tự chuyển hóa, tự diễn biến” với mục đích xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời xuyên tạc chủ trương phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của Đảng Cộng sản Việt Nam, nên cần vạch trần và đấu tranh bác bỏ.

 

Hoàng Lan Mộc Châu đã đánh tráo khái niệm khi mô tả quá trình đi tìm được cứu nước và hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” một cách thuần túy, “tự nhiên”. Y cho rằng: “Người tự diễn biến, tự chuyển hóa đầu tiên, nhiều nhất và tích cực nhất là Nguyễn Tất Thành”, nhưng để minh chứng cho luận điệu này, xuyên suốt trong bài viết của Y chỉ là những lý lẽ đơn giản như “Nguyễn Tất Thành (NTT) tự chuyển biến, tự thay tên đổi họ rất nhiều lần” hoặc “NTT liên tục thay đổi, tự diễn biến, tự chuyển hóa, mang nhiều bộ mặt khác nhau” và “chuyển biến liên tục, từ nơi này qua nơi khác”. Sự mô tả này, rõ ràng là những chuyển biến, chuyển hóa mang tính cơ học, Hoàng Lan Mộc Châu đã cố tình lấp liếm sự chuyển hóa về chất của Hồ Chí Minh trong quá trình tìm đường cứu nước, hoạt động cách mạng. Nghiêm trọng hơn, Y dựa vào những công việc mà Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh đã làm như phụ bếp, cào tuyết để nói xấu, bôi nhọ hình ảnh của Người, nhất là các hoạt động cách mạng của Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh tại nước Pháp, nước Anh với những lời lẽ miệt thị, xuyên tạc. Đây là điều không thể chấp nhận được!

 

Bởi vì, quá trình đi tìm đường cứu nước, cứu dân, giải phóng dân tộc và hoạt động cách mạng của Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh là quá trình chuyển biến, chuyển hóa về chất từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản, từ một thanh niên thành người chiến sĩ cách mạng. Điều này, đã được chứng minh qua thực tiễn hoạt động của Hồ Chí Minh và được tái hiện ở cuốn sách “Hành trình theo chân Bác” của tác giả Trần Đức Tuấn được Nhà xuất bản Trẻ tái bản năm 2016 và “Bản đồ Hành trình 30 năm tìm đường cứu nước của Bác Hồ” được kế thừa từ chính tác phẩm trên. Bên cạnh đó, nhân dịp kỷ niệm 110 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911/5-6-2021) còn có nhiều tác phẩm, ấn phẩm bàn về cuộc đời, sự nghiệp, cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó, nổi bật là cuốn sách ảnh “Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh: Hành trình cứu nước” của Đỗ Hoàng Linh chủ biên, do Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông phối hợp với Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch tổ chức xuất bản bằng 4 thứ tiếng Việt, Anh, Nga, Trung Quốc. Những tác phẩm, ấn phẩm trên đều được bạn đọc Việt Nam và bạn đọc quốc tế ghi nhận với hàng trăm bức ảnh tư liệu, tài liệu, bút tích quý giá tái hiện lại quá trình hoạt động của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Đây là những bằng chứng thép ghi lại quá trình chuyển hóa về chất thành người chiến sĩ cộng sản của Hồ Chí Minh.

 

Như vậy, quá trình tìm đường cứu nước và hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bởi, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà Đảng Cộng sản Việt Nam đề cập được hiểu là quá trình tự biến đổi về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo chiều hướng tiêu cực, dẫn tới những hành động đi ngược lại, thậm chí chống lại quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Nguy hiểm hơn, hành động đó, dẫn đến phủ định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó, việc phòng, chống những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã được Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII nêu rõ trong Nghị quyết số 04-NQ/TW ban hành ngày 30 tháng 10 năm 2016. Mỗi người dân Việt Nam cần nêu cao cảnh giác trước những luận điệu lợi dụng ngôn ngữ để suy diễn, xuyên tạc hạ thấp, bôi nhọ uy tín, hình ảnh của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước nói chung, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói riêng như Hoàng Lan Mộc Châu và những kẻ như Y trên không gian mạng./.

 

CHẾ ĐỘ MỘT ĐẢNG CẦM QUYỀN KHÔNG PHẢI LÀ MÔI TRƯỜNG CHO THAM NHŨNG 

Phủ nhận sự lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng Cộng sản Việt Nam, trên trang “rfavietnam”, RFA đã đăng tải bài viết: “Chế độ một đảng cầm quyền là “môi trường thuận lợi cho tham nhũng phát triển””. Nội dung của bài viết chứa đựng những luận điểm hỗn tạp với dẫn chứng cho rằng “độc đảng” là môi trường thuận lợi cho tham nhũng và muốn chống được tham nhũng thì cần phải có “chế độ dân chủ đa đảng”. Những luận điểm của RFA là không đúng! Cần đấu tranh và khẳng định một số vấn đề như sau:

Thứ nhất, tham nhũng là căn bệnh bẩm sinh của quyền lực, có ở mọi quốc gia, mọi chế độ chính trị. Lịch sử nhân loại đã cho thấy ở thời đại nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có tham nhũng và không thể xóa ngay tận gốc tham nhũng trong một thời gian ngắn. Nó gây nguy hại cho sự phát triển của mỗi quốc gia, ảnh hưởng đến sự tồn vong của mỗi đảng phái, mỗi chế độ chính trị. Chính vì vậy các quốc gia trên thế giới, mọi đảng phái đều ra sức phòng, chống. Mỗi quốc gia, đảng phái đều có cách chống tham nhũng khác nhau. Một số quốc gia như Anh, Mỹ, Đức, Singapore, Indonesia, Hàn Quốc đã thành lập các cơ quan chuyên trách chống tham nhũng trực thuộc Tổng thống hoặc Thủ tướng. Tháng 12 năm 2003, tại Mexico đã thông qua Công ước chống tham nhũng của Liên hiệp quốc. Liên hợp quốc đã thống nhất lấy ngày 9 tháng 12 hàng năm làm Ngày Quốc tế chống tham nhũng.

Từ vụ việc Ông Bob Menendez tạm thời rời khỏi vị trí người đứng đầu Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ từ hôm 22/9/2023 sau khi bị tòa án khu vực phía Nam New York truy tố về một loạt tội danh tham nhũng, hối lộ, có thể thấy: Phòng, chống tham nhũng còn là cuộc đấu tranh ở mọi quốc gia không phân biệt đa đảng hay một đảng, bởi nguyên nhân sâu sa nảy sinh tham nhũng liên quan đến lợi ích, tiền tài, chức vụ, danh vọng, uy tín của tổ chức, cá nhân. Càng không thể khẳng định chế độ một đảng cầm quyền là “môi trường thuận lợi cho tham nhũng phát triển” như RFA đã đăng tải, vì chính RFA cũng viết: “Chế độ độc đảng không phải là cha đẻ của tham nhũng”.

Thứ hai, Việt Nam đã giải quyết tốt tham nhũng. Với tư tưởng, phương châm chỉ đạo xuyên suốt là kiên quyết, kiên trì, liên tục; chủ động, tích cực phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực là việc làm tất yếu, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả rõ rệt, cụ thể như ngày 30/6/2009, Chủ tịch nước ký Quyết định số 950/2009/QĐ-CTN, “Về việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng” theo đó, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Công ước kể từ ngày 19/8/2009; nhiều vụ án lớn đã được xét xử công khai, điển hình là: Vụ án Trịnh Xuân Thanh và đồng phạm, vụ án Nguyễn Đức Chung, vụ án xảy ra tại Tổng Công ty Viễn thông Mobifone… tạo hiệu ứng tích cực, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao, được quốc tế ghi nhận. Theo kết quả điều tra dư luận xã hội do Ban Tuyên giáo Trung ương tiến hành mới đây, tuyệt đại đa số ý kiến người dân (93%) bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Điều này, chứng tỏ luận điệu “chỉ có những vụ việc tham nhũng “cộm cán” thì giới lãnh đạo đảng cầm quyền mới bật đèn xanh để đem ra xét xử” của RFA là trái với sự thật phòng chống tham nhũng ở Việt Nam.

Kết quả phát hiện và xử lý tham nhũng trong thời gian qua càng chứng tỏ công tác phòng chống tham nhũng của Đảng Cộng sản Việt Nam được tiến hành kiên quyết, triệt để, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai! Mọi người dân Việt Nam cần tỉnh táo nhận diện, tích cực đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc, bẻ cong sự thật, chống phá của những kẻ như RFA! Đồng thời, mọi người, mọi tổ chức xã hội đoàn kết, nâng cao trách nhiệm trong đấu tranh phòng chống tham nhũng và chung tay cùng Đảng, Nhà nước xây dựng “văn hóa phi tham nhũng” ở Việt Nam.

 

Tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tôn giáo

Để thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình”, các thế lực thù địch thường xuyên phát tán lên các trang mạng xã hội những thông tin sai lệch, xuyên tạc quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam. Điển hình, trên trang “Vietquoc”, bút danh Việt Nam Quốc dân Đảng có bài viết: “Việt Nam áp dụng mô hình đàn áp tôn giáo theo kiểu Trung Cộng”, cho rằng Việt Nam đang đàn áp tự do tôn giáo. Song thực tế, tình hình tôn giáo ở Việt Nam đã bác bỏ luận điệu sai trái này.

 

1. Đảng, Nhà nước Việt Nam khẳng định, tín ngưỡng, tôn giáo là một nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân đã, đang và sẽ đồng hành cùng dân tộc. Đồng bào các tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào của nhân dân. Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 của Việt Nam, khẳng định: Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo;…. Đồng thời, quy định nghiêm cấm phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo;…; lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi.

 

2. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn tạo điều kiện hỗ trợ giúp đỡ các tôn giáo hoạt động và phát triển trong khuôn khổ pháp luật. Trong lịch sử dân tộc, chưa bao giờ các tôn giáo có điều kiện phát triển như hiện nay, chức sắc và tín đồ các tôn giáo đều được tự do sinh hoạt, tự do thực hành các lễ nghi tôn giáo, biểu hiện đức tin, được tạo điều kiện cho mở mang cơ sở vật chất, tu sửa nơi thờ tự, được mở các trường đào tạo những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp, đáp ứng nhu cầu phát triển của giáo hội phù hợp với trình độ phát triển của xã hội; được Nhà nước tạo điều kiện cho mở rộng, phát triển các quan hệ giao lưu quốc tế, v.v. Ở Việt Nam, không có chuyện kỳ thị, phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo hay vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

 

3. Báo cáo tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo giai đoạn 2012 – 2022 của Ban Tôn giáo Chính phủ Việt Nam khẳng định: cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp hàng chục nghìn m2 đất để xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo, như: Thành phố Hồ Chí Minh cấp 7.500 m2, Đắk Lắk cấp 11.000 m2; Đà Nẵng cấp 9.000 m2. Tính đến hết năm 2022 chính quyền đã công nhận 43 tổ chức, thuộc 16 tôn giáo khác nhau, với trên 26,7 triệu tín đồ, trên 55 nghìn chức sắc, khoảng 135 nghìn chức việc. Riêng trên địa bàn Tây Nguyên, năm 1975 chỉ có 50.000 người/200 thôn, làng theo đạo Tin lành, đến nay, đã là hơn 500.000 người/18.000 thôn, làng. Bên cạnh đó, việc học tập, đào tạo của các tôn giáo cũng được phát triển nhanh. Từ chỗ chỉ có 22 trường cao đẳng, trung cấp Phật học (năm 1993), đến nay, cả nước đã có 4 học viện Phật giáo và 49 trường cao đẳng, trung cấp, sơ cấp Phật học; Giáo hội Công giáo có 6 Đại Chủng viện với hàng nghìn chủng sinh,… không những thế, Nhà nước còn tạo điều kiện cho hàng trăm tu sĩ đi học tập, hội thảo nâng cao trình độ ở nước ngoài và nhiều người đã trở thành tiến sĩ Phật học. Việc in ấn, xuất bản kinh sách được Nhà nước quan tâm, hầu hết các tổ chức tôn giáo đều có báo, tạp chí, bản tin, đáp ứng yêu cầu hoạt động của các tôn giáo. Chỉ tính riêng Nhà xuất bản Tôn giáo, mỗi năm đã cấp phép xuất bản hơn 1.000 ấn phẩm liên quan đến tôn giáo. Hằng năm, có khoảng trên 8.000 nghìn lễ hội về tín ngưỡng, tôn giáo với hàng vạn tín đồ tham gia lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo được tổ chức ở các quy mô khác nhau trên phạm vi cả nước; trong đó, các sự kiện trọng đại của các tôn giáo đều được chính quyền các cấp tạo điều kiện tổ chức, hỗ trợ đảm bảo an toàn giao thông, an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ,… để nhân dân được tự do hành lễ, thoả mãn nhu cầu đời sống tâm linh và được lãnh đạo Đảng, Nhà nước, địa phương quan tâm, động viên, chúc mừng. Chẳng hạn như Đại lễ Vesak của Phật giáo thế giới đã được tổ chức 3 lần ở Việt Nam với 1000 đại biểu quốc tế đến từ 120 quốc gia. Đối với công giáo, Hội nghị toàn thể lần thứ X Liên hội đồng Giám mục Á Châu đã được tổ chức tại Việt Nam. Ngoài ra, quan hệ đối ngoại của các tôn giáo cũng được Nhà nước tạo điều kiện và ngày càng mở rộng, nhất là quan hệ với các tổ chức tôn giáo ở khu vực Đông Nam Á, Tây Âu và Tòa thánh Va-ti-căng, góp phần hiện thực hoá chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng tốt hơn.

 

Ngày 11/10/2022, với 145 phiếu ủng hộ, Việt Nam là một trong 14 thành viên trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Đây là lần thứ hai Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Điều này, khẳng định uy tín và vị thế của Việt Nam trong thực hiện quyền tự do tôn giáo được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Đây cũng là minh chứng mà kẻ chống phá lấy bút danh Việt Nam Quốc dân Đảng và các thế lực thù địch không thể phủ nhận, xuyên tạc.

 

Ngày nhà giáo Việt Nam 20/11 điều không thể quên


Những ngày qua, trong khi cả nước ta tổ chức nhiều hoạt động nhằm tri ân thầy cô giáo nhân dịp kỷ niệm 41 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, thì vẫn còn những tiếng nói lạc điệu cố tình xuyên tạc, phủ nhận ý nghĩa của ngày lễ này. Trong bài viết “20/11 phải là ngày nhà giáo Việt Nam… đấu tranh”, với cái nhìn phiến diện, định kiến, Mạc Văn Trang chỉ chăm chú vào một số hạn chế của ngành giáo dục Việt Nam trong thời gian qua, rồi di đến phủ nhận những nỗ lực và thành tựu mà giáo dục nước ta đã đạt được, phủ nhận ý nghĩa của ngày 20/11, cho rằng, “VN lấy ngày 20/11 làm NGÀY NHÀ GIÁO VN, biến thành lễ lạt, quà cáp, liên hoan… hoàn toàn xóa đi bản chất của ngày này” và đòi xóa bỏ ngày này bằng cách tổ chức trưng cầu dân ý. Đây là những luận điệu sai trái, xuyên tạc, phủ nhận thành tựu của giáo dục Việt Nam và ý nghĩa của Ngày Nhà giáo Việt Nam.

Thứ nhất, tổ chức ngày 20/11 là nhằm tri ân các thầy cô giáo.

Dân tộc Việt Nam có truyền thống hiếu học, tôn sư trong đạo; người thầy có vai trò đặc biệt quan trọng trong “dạy chữ, dạy người”, luôn được xã hội tôn vinh với sự kính trọng và tin tưởng. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của các thầy giáo, cô giáo đối với xã hội. Người nhấn mạnh “nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục… không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế văn hóa”. Điều này, vừa khẳng định vị trí, vai trò quyết định của người thầy đối với chất lượng giáo dục, sự phát triển đất nước, vừa nói lên trọng trách mà xã hội đặt trọn lên vai nhà giáo. Vai trò của người thầy đã được xã hội thừa nhận từ thời xa xưa “trọng thầy mới được làm thầy”, “không thầy đố mày làm nên”. Người thầy ngoài việc truyền đạt kiến thức, còn định hướng đạo đức, lối sống cho người học. Người thầy cũng được ví như “mẹ hiền”, “người cha thứ hai”, gắn liền với hình ảnh người lái đò trên dòng sông tri thức; người thầy cũng được ví như người ươm những mầm xanh, gieo những hạt giống tốt cho đời.

Vì vậy, ngày 20/11 ra đời, nhằm duy trì truyền thống tôn sự trong đạo có từ bao đời nay của người dân Việt Nam. Đây là dịp để các thế hệ học trò và các bậc phụ huynh học sinh thể hiện tình cảm, lời cảm ơn sâu sắc và lòng biết ơn chân thành đến thầy cô giáo…. Đồng thời, ngày 20/11 diễn ra với ý nghĩa động viên, khích lệ tinh thần để các thầy cố giáo thêm tự hào về công việc mình đang làm, “nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý”, từ đó vượt qua mọi khó khăn, thử thách để chèo lái những chuyến đò cập bến tri thức tương lai. Thấm nhuần đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây”, Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 trở thành ngày hội “tôn vinh người thầy” của toàn dân. Việc tổ chức các hoạt động chào mừng, kỷ niệm ngày lễ trọng đại này cũng là thể hiện sự coi trọng sự nghiệp giáo dục – quốc sách hàng đầu, chứ không phải “biến thành lễ lạt, quà cáp, liên hoan… hoàn toàn xóa đi bản chất của ngày này” như sự xuyên tạc của Mạc Văn Trang… và không thể xóa bỏ ngày Lễ này được.

Thứ hai, ngày 20/11 hằng năm cũng là dịp để nhìn nhận đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo và đề ra phương hướng nâng cao chất lượng giáo dục trong thời gian tới.

Ngay từ khi quyết định lấy ngày 20/11 hằng năm là Ngày Nhà giáo Việt Nam, Quyết định 167-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã xác định: hàng năm từ tháng 10 các cấp chính quyền và đoàn thể cần họp để xem xét tình hình công tác và hoạt động của đội ngũ giáo viên ở địa phương mình, kiểm điểm những việc đã làm và đề ra những việc cần tiếp tục làm, động viên đội ngũ phát huy truyền thống tốt đẹp của giáo giới Việt Nam, rèn luyện phẩm chất và năng lực, làm gương sáng cho học sinh noi theo. Vì vậy, Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, bên cạnh là dịp để tri ân và tôn vinh những đóng góp to lớn của các thầy cô giáo đối với sự nghiệp trồng người, phát triển đất nước, thì đây cũng là dịp để các cấp, các ngành nhìn lại và đánh giá kết quả, chất lượng giáo dục trong năm qua và đề ra phương hướng, nội dung, biện pháp khắc phục những hạn chế bất cập và đổi mới căn bản, toàn diện, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Với quan điểm nhìn thắng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, cùng với việc khẳng định “giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ tiếp tục được đổi mới và có bước phát triển”, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng chỉ ra những hạn chế, bất cập trong giáo dục và đào đạo “chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo chưa cao”. Từ đó, đề ra nhiệm vụ giải pháp đổi mới toàn diện, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Như vậy, ngày 20/11 hằng năm, bên cạnh có ý nghĩa là dịp để tôn vinh, tri ân các thầy giáo, cô giáo và đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, thì còn là dịp để đánh giá kết quả giáo dục và dào tạo trong năm qua, trong đó có cả đánh giá về hạn chế, bất cập, chứ không phải chỉ là “ngày lễ hội, “báo cáo thành tích” và “tuyên dương” lễ lạt” như sự bịa đặt của Mạc Văn Trang.

Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, chúng ta gửi gắm niềm tin yêu và hy vọng vào đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục các cấp nói riêng và hệ thống giáo dục quốc gia nói chung, luôn nêu cao vai trò, nỗ lực phấn đấu cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân góp sức tích cực và có hiệu quả vào mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển con người phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Bên cạnh đó, cần nêu cao tinh thần cảnh giác, kiên quyết đấu tranh với những luận điệu sai trái, xuyên tạc về nền giáo dục nước ta và ý nghĩa của Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11./.

 

 

Ý đồ thâm độc của Nguyễn Đình Cống


Giáo dục và đào tạo là lĩnh vực đặc biệt, có vai trò quyết định đến tiến trình phát triển lâu dài của đất nước, Đảng ta xác định “giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu”, là động lực phát triển kinh tế – xã hội, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho con người, đầu tư cho phát triển. Tuy nhiên, lợi dụng một số hạn chế, yếu kém ở một số địa phương trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, các thế lực thù địch, phản động đã quy chụp, thổi phồng, xuyên tạc, bôi đen, bóp méo sự thật nhằm phủ nhận những thành tựu về giáo dục của Việt Nam. Từ đó, hướng lái dư luận, nhằm làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

 

Nằm trong âm mưu, thủ đoạn đó, mới đây Nguyễn Đình Cống đã đưa ra luận điệu “Ai phải chịu trách nhiệm chính về sự suy thoái của giáo dục”! trên trang “Baotiengdan”. Y kêu gào, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước về giáo dục; phủ nhận giá trị khoa học, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác – Lênin và truyền thống dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, những thành tựu của giáo dục Việt Nam trong những năm qua là những “quả đấm thép” đập tan mọi sự xuyên tạc của Nguyễn Đình Cống.

 

1. Nguyễn Đình Cống lộ rõ ý đồ thâm độc

 

Lợi dụng triệt để những tồn tại, hạn chế của một số cơ sở, địa phương trong quản lý, điều hành, thực hiện nhiệm vụ giáo dục và đào tạo, Nguyễn Đình Cống đã đưa ra những luận điệu thổi phồng hiện tượng này là tiêu cực, yếu kém trong giáo dục và đào tạo của nền giáo dục Việt Nam. Y cho rằng nguyên nhân của mọi nguyên nhân là do “sai lầm trong đường lối của Đảng, sự quản lý yếu kém của Nhà nước”!. Từ đó, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Y ra sức tuyên truyền, quảng bá, tô vẽ, khuếch trương nền giáo dục phương Tây, coi đó là “điểm đến lý tưởng”, là “con đường duy nhất” để làm “rạng rỡ tương lai, mở mang tiền đồ của đất nước”. Thâm độc và nguy hại hơn, y đã xuyên tạc rằng: nguyên nhân cơ bản của những hạn chế trong lĩnh vực giáo dục là “do sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lênin và truyền thống dân tộc”!. Rõ ràng, đây là sự xuyên tạc rất trắng trợn, vô nhân đạo, phản nhân văn, phi nhân tính, đi ngược lại với truyền thống dân tộc và xu thế phát triển tất yếu của nhân loại.

 

Bởi vì, truyền thống yêu nước, bất khuất, anh hùng trong dựng nước và giữ nước; hiếu học, tôn sư trọng đạo, trọng dụng hiền tài; uống nước nhớ nguồn, đoàn kết, nhân hậu, thủy chung, bao dung, cần cù, lao động sáng tạo; hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình của dân tộc Việt Nam là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Vượt lên trên mọi giới hạn về không gian và thời gian chủ nghĩa Mác – Lênin tiếp tục là “chìa khóa” giải đáp những vấn đề tư tưởng, có giá trị bền vững và tính thời đại; là một học thuyết phát triển và nhân văn, luôn hướng tới sự tiến bộ của xã hội, vì con người, do con người và cho con người. Chính vì vậy, kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lênin và truyền thống dân tộc là kết hợp giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh của thời đại, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự kết hợp đó trở thành sức mạnh vĩ đại nhấn chìm bè lũ bán nước và quân cướp nước, khơi dậy và phát huy mạnh mẽ khát vọng cống hiến, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Đồng thời, cũng là nền tảng vững chắc để nền giáo dục Việt Nam đạt được những thành tựu toàn diện, vững chắc, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.

 

2. Thực tiễn giáo dục Việt Nam đã đập tan ý đồ thâm độc của Nguyễn Đình Cống

 

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định tầm quan trọng của sự nghiệp giáo dục, vạch ra con đường phát triển của đất nước: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”[1]. Câu nói này dường như in sâu vào trong tâm khảm của mỗi người con đất Việt. Chúng ta đang tích cực tiến hành một “cuộc cách mạng” về giáo dục với việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo tinh thần Nghị quyết 29-NQ/TW, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI), bảo đảm cho giáo dục Việt Nam phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Một trong những thành tựu trong 37 năm đổi mới được cộng đồng quốc tế ghi nhận là nền giáo dục Việt Nam có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng. Nước ta đã xây dựng được hệ thống giáo dục – đào tạo tương đối hoàn chỉnh từ mầm non đến đại học. Cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục – đào tạo được cải thiện rõ rệt và từng bước hiện đại hóa. Số lượng học sinh, sinh viên tăng nhanh, nhất là ở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp. Chất lượng giáo dục và đào tạo có nhiều tiến bộ. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phát triển cả về số lượng và chất lượng, với cơ cấu ngày càng hợp lý. Chi ngân sách cho giáo dục – đào tạo ngày càng tăng. Đã hoàn thành sớm mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG). Đảng, Nhà nước ta đã thực hiện nhiều chính sách công bằng trong giáo dục; hệ thống các trường phổ thông nội trú và bán trú được củng cố và mở rộng. Các trường đã và đang phấn đấu đạt chuẩn quốc gia về hạ tầng cơ sở đảm bảo cho việc dạy và học có chất lượng tương đương với các nước trong khu vực và trên thế giới.

 

Mới đây, Tạp chí The Economist của Anh có bài viết đáng chú ý với tựa đề “Tại sao hệ thống giáo dục Việt Nam quá tốt?” khẳng định: mặc dù GDP bình quân đầu người của Việt Nam chỉ ở mức 3.760 USD, thấp hơn so với các nước trong khu vực, tuy nhiên con cái của các gia đình ở Việt Nam được thụ hưởng “một trong những hệ thống giáo dục tốt nhất trên thế giới”; các trường học ở Việt Nam luôn phát triển qua thời gian. Một nghiên cứu được công bố vào năm 2022 bởi các nhà nghiên cứu tại Trung tâm Phát triển toàn cầu (Mỹ) cho thấy ở 56/87 quốc gia đang phát triển, chất lượng giáo dục đã suy giảm kể từ những năm 1960. Tuy nhiên, Việt Nam là một trong số ít các nước mà các trường học liên tục đi ngược lại xu hướng trên, tiếp tục cơ những bước phát triển vững chắc, toàn diện.

 

Những kết quả đã đạt được là minh chứng sinh động về thành tựu to lớn của nền giáo dục Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Kết quả đó góp phần quan trọng để “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đồng thời, đập tan mọi sự xuyên tạc của Nguyễn Đình Cống và đồng bọn đối với nền giáo dục Việt Nam./.

 

[1] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 11, Nxb CTQGST, Hà Nội, 2011, tr. 528.

 

PH.ĂNGGHEN – LÃNH TỤ THIÊN TÀI CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VÀ NHÂN DÂN LAO ĐỘNG TOÀN THẾ GIỚI


Năm 2023 những người cộng sản và công nhân quốc tế kỷ niệm lần thứ 203 năm Ngày sinh của Phơ-ri-đơ-rích Ăng-ghen (28/11/1820 – 28/11/2023), lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của giai cấp công nhân, người đã cùng với C.Mác xây dựng hệ thống lý luận khoa học, cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động nhằm giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Ông là nhà bác học và người thầy, lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới.

Xuất thân từ một gia đình tư sản, nhưng Ph.Ăngghen đã hiến dâng toàn bộ cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân. Ông là người bạn, người đồng chí gần gũi nhất của C.Mác, đã cùng C.Mác xây dựng hệ thống lý luận cách mạng, khoa học của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, nghiên cứu lý luận, Ph. Ăngghen luôn tích nghiên cứu, tiếp thu, kế thừa những tinh hoa tư tưởng của nhân loại. Đồng thời luôn gắn chặt với thực tiễn phong phú, sinh động của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân. Ông được coi là người đầu tiên phát hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh giải phóng người lao động, xây dựng xã hội mới không có áp bức, bóc lột.

Bước ngoặt vĩ đại nhất của Ph. Ăngghen trong hoạt động lý luận là cùng với C.Mác phát hiện, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử “đã tống cổ chủ nghĩa duy tâm ra khỏi hầm trú ẩn cuối cùng của nó”; phát hiện ra những quy luật khách quan của sự phát triển xã hội và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; xây dựng lý luận giá trị thặng dư chỉ ra các quy luật chi phối sự vận động, phát triển và diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản. Trong đó, khẳng định sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản “là tất yếu như nhau”.

Quá trình hoạt động lý luận bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác, bên cạnh những tác phẩm viết riêng của mình, Ph.Ăngghen đã cùng C.Mác viết chung rất nhiều tác phẩm nhằm củng cố, bổ sung, phát triển những nguyên lý của chủ nghĩa Mác và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, duy tâm, phản động của giai cấp tư sản. Bên cạnh đó, Ph.Ăngghen cũng đã bổ sung, phát triển những ý tưởng của C.Mác và tiếp tục hoàn thiện những công việc, những tác phẩm mà C.Mác chưa thực hiện xong. Ông đi sâu nghiên cứu các môn khoa học tự nhiên, quân sự, chính sách quốc tế; viết nhiều bài tổng kết kinh nghiệm các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân. Đặc biệt, Ph.Ăngghen cùng với C.Mác đã soạn thảo Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848). Đây là một văn kiện có tính chất cương lĩnh, là vũ khí lý luận, tư tưởng sắc bén của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh lật đổ sự thống trị xã hội của giai cấp tư sản, xây dựng một chế độ xã hội mới tốt đẹp hơn.

Ph. Ăngghen luôn gần gũi đi sâu tìm hiểu thực tế đời sống của các tầng lớp nhân dân và phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân trong xã hội tư bản đương thời. Trong những ngày tháng khó khăn của cách mạng, ông vẫn luôn giữ vững liên lạc với những người lãnh đạo và xây dựng các tổ chức cách mạng của giai cấp công nhân, trở thành lãnh tụ của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân các nước châu Âu ở nửa cuối thế kỷ XIX. Khi tham gia Quốc tế thứ nhất, ông cùng C.Mác đấu tranh không khoan nhượng với các trào lưu tư tưởng phi vô sản, cải lương, cơ hội.

Sau khi C.Mác qua đời, Ph.Ăngghen đã tập trung thời gian, công sức để hoàn thành những công việc mà Mác thực hiện còn giang dở. Ông đảm nhiệm vai trò lãnh đạo tổ chức những người theo chủ nghĩa xã hội ở châu Âu; dành nhiều thời gian, công sức truyền bá tư tưởng, lý luận cách mạng và khoa học của C.Mác, xây dựng các tổ chức cách mạng của giai cấp công nhân. Đồng thời, tiếp tục tuyên truyền, đấu tranh bảo vệ tư tưởng của C.Mác trước sự tấn công, xuyên tạc của các lực lượng thù địch. Bên cạnh đó, ông cũng xem xét lại cả những quan điểm lý luận của chính mình khi thời cuộc thay đổi và cuộc sống đặt ra những vấn đề mới. Đây thật sự là quan điểm biện chứng và phong cách của một nhà khoa học, một nhà cách mạng chân chính.

Trong hệ thống tác phẩm đồ sộ của mình, với tình cảm mãnh liệt, trí tuệ sáng suốt, tầm hiểu biết sâu rộng và sự lăn lộn trong thực tiễn phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản, Ph.Ăngghen vừa thể hiện phẩm chất của một lãnh tụ, người thầy vĩ đại của giai cấp vô sản, người chiến sĩ trung thành, tận tụy chiến đấu cho sự tiến bộ xã hội; vừa là một nhà bác học bách khoa, nhà lý luận quân sự thiên tài của giai cấp vô sản và loài người tiến bộ. Ông xứng đáng là “cây vĩ cầm thứ hai” bên cạnh C.Mác. Những tư tưởng vĩ đại của Ph.Ăngghen là khoa học thực sự và cách mạng triệt để, có giá trị bền vững và sức sống mạnh liệt trước mọi thử thách, đã và đang soi sáng cho giai cấp vô sản, nhân loại tiến bộ tiến lên phía trước, hướng tới một tương lai tốt đẹp. Đó là những tư tưởng có ý nghĩa thời đại rất to lớn

Ngày nay, mặc dù thực tiễn có nhiều biến đổi, nhưng tư tưởng của Ph.Ăngghen về chủ nghĩa xã hội khoa học, vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp, công tác xây dựng Đảng vẫn còn nguyên giá trị. Chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn là nền tảng tư tưởng và hành động cho các Đảng Cộng sản và phong trào công nhân quốc tế. Kiên định, vận dung và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn bám sát thực tiễn, đề ra đường lối lãnh đạo phù hợp với điều kiện của từng giai đoạn cách mạng và giành được những thành tựu có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Hơn 90 năm ra đời và phát triển, Ðảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta, đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, đưa cách mạng Việt Nam hòa vào phong trào cách mạng của thế giới; tập hợp, đoàn kết, phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, kết hợp với sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được những thắng lợi vĩ đại có ý nghĩa lịch sử. Đó là bằng chứng hùng hồn, sinh động khẳng định sự đúng đắn, vai trò và ý nghĩa to lớn của chủ nghĩa Mác – Lênin, mà Ph.Ăngghen là một trong những lãnh tụ sáng lập.

Đánh giá về Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã viết: Ph.Ăngghen là nhà bác học và người thầy lỗi lạc nhất của giai cấp vô sản hiện đại trong toàn thế giới văn minh. Kỷ niệm 203 năm ngày sinh Ph.Ăngghen, mỗi chúng ta mãi trân trọng tất cả những gì Ông đã cống hiến cho khoa học, cho cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản vì lương tri và phẩm giá con người, vì sự bình đẳng và tiến bộ xã hội của các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Đồng thời, cũng hết sức trân trọng và học tập ở Ông tấm gương sáng ngời về nhân cách của người chiến sĩ cộng sản, đức khiêm tốn, sống có nghĩa, có tình, trong sáng, thủy chung với người bạn, người đồng chí của mình là C.Mác. Cùng với giai cấp công nhân và những người cộng sản trên toàn thế giới, giai cấp công nhân và những người cộng sản Việt Nam tự hào và biết ơn vô hạn đối với Ph.Ăngghen, nhà tư tưởng, lãnh tụ vĩ đại của mình.

 

Luật An ninh mạng của Việt Nam sự kiện quan trọng 

Việc Quốc hội Việt Nam ban hành Luật An ninh mạng có ý nghĩa rất quan trọng, là cơ sở pháp lý để bảo vệ an ninh quốc gia; giữ gìn trật tự an toàn xã hội, xử phạt đối với những hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân trên không gian mạng. Ấy vậy mà các lực lượng phản động lại ra sức xuyên tạc, vu cáo rằng Luật An ninh mạng quá khắt khe, nội dung của luật là vi phạm nhân quyền… Trong bài “Chủ quyền không gian mạng đang bị người cộng sản độc quyền”, với lối suy nghĩ lệch lạc, Hoài Nguyễn cố tình vu cáo Luật An ninh mạng của Việt Nam “là quá khắt khe”, “hạn chế quyền con người”, do đó “không cần tới Luật An ninh mạng”… Đây là những luận điệu sai trái hòng cản trở quá trình thực hiện Luật, chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thứ nhất, sự ra đời của Luật An ninh mạng là rất cần thiết.

Những năm gần đây, khoa học công nghệ, đặc biệt là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư đang phát triển mạnh mẽ, không gian mạng trở thành bộ phận không thể thiếu và đóng vai trò quan trọng trong xây dựng xã hội thông tin và phát triển kinh tế tri thức. Ở Việt Nam, ứng dụng và phát triển mạnh mẽ công nghệ thông tin trong các lĩnh vực của đời sống xã hội đã góp phần to lớn thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao chất lượng y tế, giáo dục, phát huy sức sáng tạo và quyền làm chủ của nhân dân, giữ vững quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Do đó, việc bảo đảm an ninh mạng phục vụ cho quá trình phát triển đất nước và bảo đảm lợi ích chính đáng cho các tổ chức, cá nhân trên không gian mạng, cần phải có luật để bảo đảm cơ sở pháp lý, xử lý những vi phạm. Bên cạnh đó, các đối tượng xấu, lợi dụng internet, mạng xã hội để phát tán thông tin thất thiệt nhằm mục đích câu view, câu like, hoặc lừa đảo chiếm đoạt tài sản, khủng bố tinh thần, tổ chức đánh bạc phi pháp, hoặc tụ tập những phần tử bất hảo để làm việc phi pháp (vụ các đối tượng trong nhóm “những người vỡ nợ muốn làm liều” tụ tập cướp ngân hàng ở huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh và đã bị bắt ngày 27/10/2023 là một trong những ví dụ điển hình)… Nguy hiểm hơn là các thế lực thù địch, phản động sử dụng internet, mạng xã hội để lôi kéo, mua chuộc, kích động người dân tụ tập đông người, biểu tình, gây rối làm mất trật tự an toàn xã hội, mất ổn định chính trị nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ.

Thực tế, thời gian qua, mỗi năm hệ thống thông tin nước ta phải hứng chịu hàng chục nghìn cuộc tấn công, thiệt hại lên đến gần 1 tỷ USD. Không gian mạng trở thành nơi “trù ẩn” của tội phạm và vi phạm pháp luật; tình trạng nhiễu loạn thông tin trên không gian mạng, thông tin xuyên tạc, bôi nhọ, vu khống, xúc phạm nhân phẩm, vi phạm thuần phong mỹ tục diễn ra tràn lan…

Việc ban hành Luật An ninh mạng đã tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ an ninh quốc gia; xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật; bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; phòng, chống tấn công mạng. Sau hơn 4 năm thực hiện Luật An ninh mạng công tác bảo đảm an toàn, an ninh mạng đạt được nhiều kết quả tích cực, nhất là bảo đảm an toàn, an ninh mạng đối với hệ thống mạng thông tin trọng yếu của quốc gia; đấu tranh có hiệu quả với vi phạm pháp luật về an toàn, an ninh mạng. Bảo vệ uy tín và vai trò lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của tổ chức, cá nhân trên không gian mạng. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về an ninh mạng. Như vậy, sự ra đời của Luật An ninh mạng là rất cần thiết, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc chứ không phải “không cần thiết” như sự xảo biện của Hoài Nguyễn.

Thứ hai, nội dung của Luật An ninh mạng không phải quá khắt khe.

Nội dung của Luật An ninh mạng quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm theo từng nhóm, lĩnh vực cụ thể, bao gồm các hành vi sử dụng không gian mạng chống phá Nhà nước; tung tin, tuyên truyền, hoang báo thông tin sai sự thật, bôi nhọ, xúc phạm danh dự nhân phẩm, làm nhục, vu khống gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; xúi giục, đe dọa, lôi kéo tụ tập đông người gây rối, chống người thi hành công vụ, gây mất ổn định về an ninh, trật tự; đưa ra những thông tin sai trái trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ…; thực hiện tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng, chống lại hoặc cản trở hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng.

Thế nhưng Hoài Nguyễn lại cố tình vu cáo, xuyên tạc rằng Luật An ninh mạng Việt Nam là “quá khắt khe”, “hạn chế các quyền con người”… Đây là luận điêu hết sức sai trái. Bởi Luật được ban hành như “tấm khiên” pháp lý cần thiết bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trên không gian mạng. Luật An ninh mạng đã quy định rõ chỉ khi có xảy ra tội phạm hay cần điều tra hoạt động vi phạm pháp luật, cơ quan chức năng mới có quyền yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thông tin về tội phạm đó. Nên, nếu cá nhân, tổ chức chấp hành nghiêm pháp luật, thì không cần lo việc bị cơ quan chức năng kiểm soát thông tin của mình trên mạng internet. Các quyền con người được quy định trong Hiến pháp và các luật khác đều không bị hạn chế. Như vậy, mọi công dân có thể tự do sử dụng mạng xã hội và bày tỏ quan điểm cá nhân trên không gian mạng nếu không vi phạm vào các điều cấm của pháp luật.

Sự ra đời của Luật An ninh mạng là cần thiết, phù hợp với yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và thực tiễn trên thế giới. Luật đã đi vào cuộc sống được hơn 4 năm và đạt được những kết quả tích cực, được đông đảo nhân dân và cộng đồng quốc tế đồng tình, ủng hộ. Do vậy, những kẻ e ngại và phản đối Luật này là đang vi phạm pháp luật hoặc cố tình tiếp tay cho cái xấu, cái ác, cần phải cảnh giác và đấu tranh loại bỏ./.

 

Cảnh giác với luận điệu xuyên tạc quyền tự do báo chí ở Việt Nam


Ý Nhi – cái tên không còn xa lạ trên diễn đàn “Thoibao”, mới đây lại phát tán bài viết“Các tổ chức quốc tế kêu gọi Việt Nam chấm dứt đàn áp báo chí”. Vẫn chiêu trò “bình mới, rượu cũ” lợi dụng vấn đề “tự do báo chí” để xuyên tạc, bịa đặt, phủ nhận quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam.

Tự do báo chí là một trong những quyền cơ bản của người dân Việt Nam. Đó là quyền được thông tin, quyền được trao đổi, giao tiếp, thể hiện ý chí, nguyện vọng của mỗi cá nhân và tổ chức qua các phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên quyền tự do báo chí phải được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Với việc viện dẫn trường hợp những nhà báo, những người bị xử lý do vi phạm pháp luật, đạo đức nghề nghiệp để tuyên truyền rằng “chính quyền độc đảng ở Việt Nam không dung thứ bất đồng đối với những người thực hiện quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí”. Thực chất Ý Nhi đang tìm mọi cách hướng lái dư luận theo hướng ủng hộ và cổ xúy cho  “đồng bọn” và xuyên tạc trắng trợn về quyền tự do báo chí ở Việt Nam.

Phải khẳng định rõ, ở Việt Nam không ai bị kết án, bỏ tù chỉ vì thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Những trường hợp xử lý hình sự đều là những kẻ có hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng quyền, lợi ích của Nhà nước, các tổ chức, cá nhân. Thực tế trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho tự do báo chí ở Việt Nam. Đó là những sự thật không thể phủ nhận, quyền tự do báo chí cũng đã được quy định rất rõ ràng tại Điều 25, Hiến pháp năm 2013 của Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Cũng như ở mọi lĩnh vực, mọi quốc gia, tự do báo chí phải trong khuôn khổ chứ không phải là thứ tự do vô giới hạn, vô chính phủ, đứng ngoài pháp luật. Luật Báo chí 2016 quy định: “Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân” (Điều 13). Trách nhiệm của nhà báo và công dân trong thực hành tự do báo chí nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mọi tổ chức, cá nhân, góp phần xây dựng đất nước phát triển giàu mạnh (Điều 9)”[1].

Không chỉ riêng tại Việt Nam, ở tất cả các quốc gia khác trên thế giới đều có quy định tương tự. Nước Mỹ được một số người coi là “hình mẫu của tự do”, nhưng tại Điều 2385 Chương 115-Bộ luật Hình sự Mỹ đã có quy định nghiêm cấm mọi hành vi “in ấn, xuất bản, biên tập, phát thanh, truyền bá, buôn bán, phân phối hoặc trưng bày công khai bất kỳ tài liệu viết hoặc in nào có nội dung vận động, xúi giục hoặc giảng giải về trách nhiệm, sự cần thiết tham vọng hoặc tính đúng đắn của hành vi lật đổ hoặc tiêu diệt bất kỳ chính quyền cấp nào tại Mỹ bằng vũ lực hoặc bạo lực”[2].

Do đó, đằng sau những luận điệu xuyên tạc Việt Nam không có tự do báo chí là ý đồ sâu xa cố tình phê phán thể chế chính trị, vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và hệ thống chính trị trong đời sống xã hội ở Việt Nam. Thực tế cho thấy, suốt 78 năm qua, kể từ ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để người dân có thể được thụ hưởng. Số liệu thống kê đến cuối năm 2022 cho thấy, Việt Nam có 127 cơ quan báo, 670 cơ quan tạp chí (trong đó có 327 tạp chí lý luận chính trị, khoa học và 72 tạp chí văn học nghệ thuật); 72 cơ quan đài phát thanh, truyền hình. Số người đang làm việc trong lĩnh vực báo chí là 41.000 người, với 19.356 người đã3 được cấp thẻ nhà báo[3].

Cùng với các cơ quan báo chí trong nước, nhiều hãng truyền thông, thông tấn quốc tế đã có mặt tại Việt Nam, như: CNN, Reuters, AP, AFP, Kyodo; Hãng thông tấn Asia, Nhật báo kinh tế Aju (Hàn Quốc) và Rossiya Segodnya (Nga), v.v. Các nhà báo quốc tế được Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi để tác nghiệp. Nhiều nhà báo Việt Nam được Nhà nước tạo điều kiện đi học tập, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn, tác nghiệp báo chí tại nhiều quốc gia trên thế giới. Với lực lượng làm báo hùng hậu như trên, đời sống báo chí ở Việt Nam diễn ra hết sức nhộn nhịp, phản ánh mọi mặt của đời sống xã hội. Sự phát triển nhanh chóng của hệ thống báo chí là một minh chứng cụ thể cho quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của người dân ở Việt Nam luôn được bảo đảm. Như vậy, với cơ sở chính trị, pháp lý đã khẳng định và thực tiễn đã chứng minh quyền tự do báo chí ở Việt Nam luôn được tôn trọng, bảo đảm. Điều này đã bác bỏ, phủ nhận những luận điệu xuyên tạc, sai trái của của Ý Nhi. Quyền tự do báo chí của người dân Việt Nam luôn luôn được bảo đảm. Đó là sự thật không thể xuyên tạc./.