Thứ Năm, 9 tháng 5, 2024

Giải pháp hoàn thiện chính sách xã hội trong bảo đảm, bảo vệ quyền con người, thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội và thực hiện hội nhập quốc tế ở Việt Nam thời gian tới

 Một là, quán triệt và thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vai trò, tầm quan trọng của chính sách xã hội trong bảo đảm, bảo vệ quyền con người.

Chủ trương của Đảng ta khẳng định, không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trái lại, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi CSXH phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc người có công, người có hoàn cảnh khó khăn. Chính vì vậy, cần đẩy mạnh tuyên truyền để cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức đầy đủ quan điểm của Đảng về CSXH, thực hiện CSXH bảo đảm, bảo vệ quyền con người. Bảo đảm mối quan hệ không thể tách rời giữa con người với tư cách là cá nhân với con người trong cộng đồng, nhóm, tập thể: Mỗi cá nhân con người phải được bảo đảm tốt nhất các quyền và lợi ích của họ; phải coi mỗi cá nhân, công dân là chủ thể, là động lực trung tâm của CSXH. Thực hiện mục tiêu tổng quát được đặt ra trong Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 24-11-2023, Hội nghị Trung ương 8 khóa VIII, “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới”, theo đó, “Xây dựng hệ thống chính sách xã hội theo hướng bền vững, tiến bộ và công bằng, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân, góp phần cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hoàn thiện chính sách an sinh xã hội đa dạng, đa tầng, toàn diện, hiện đại, bao trùm, bền vững; tạo cơ hội cho Nhân dân, nhất là người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn, người sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, đặc biệt là về y tế, giáo dục, nhà ở, thông tin. Phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiệu quả, hội nhập quốc tế gắn với việc làm bền vững; nâng cao chất lượng quản lý phát triển xã hội gắn với bảo đảm quyền con người, quyền công dân”(2).

Bác sĩ hướng dẫn chăm sóc trẻ sơ sinh tại nhà cho đồng bào dân tộc ở xã Hố Quáng Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang_Ảnh: TTXVN

Hai là, vận dụng tiếp cận quyền con người trong hoàn thiện thể chế, chính sách xã hội thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay.

Vận dụng tiếp cận quyền con người với quan điểm phát triển bao trùm trong xây dựng và thực hiện CSXH chính là để bảo đảm tính thống nhất, liên hệ, phụ thuộc lẫn nhau của các quyền con người, để người dân được thụ hưởng các quyền của mình trong quá trình phát triển. Đồng thời khẳng định, người dân là chủ thể của quyền con người, được quyền hưởng thành quả của quá trình phát triển do chính họ tạo ra. Từ cách tiếp cận này, Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu(3). Thực hiện quan điểm này, quá trình hoạch định CSXH phải hướng trọng tâm, lấy quyền và lợi ích chính đáng của chủ thể hưởng quyền - đó là người dân, trong đó cần chú trọng chủ thể hưởng quyền ở các địa bàn chiến lược, trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người làm cơ sở.

Trong thời gian tới, cần tiếp tục điều chỉnh, bổ sung hệ thống CSXH theo hướng hiệu quả, bao trùm, toàn diện, bền vững. Cụ thể, cần nghiên cứu, sửa đổi Luật Việc làm, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Bảo hiểm xã hội, Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng phù hợp với định hướng phát triển đất nước trong bối cảnh mới. Đồng thời, Chính phủ cần tiếp tục ban hành và thực hiện tốt các chương trình, kế hoạch hành động quốc gia gắn với từng nhóm đối tượng xã hội cụ thể.

Ba là, gắn kết bảo đảm các quyền dân sinh, dân chủ của người dân trong công cuộc đổi mới, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.                                     

Thứ nhất, tiếp tục thực hiện cách tiếp cận quyền con người. Từng chủ trương, chính sách, pháp luật cần: 1- Xuất phát và hướng đến đúng thành phần thụ hưởng; 2- Phân rõ chủ thể được bảo đảm quyền lợi và chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm thực hiện quyền lợi; 3- Lôi cuốn và huy động được sự tham gia chủ động, tích cực, đông đảo của người dân vào thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật đó; 4- Bảo đảm sự công khai, minh bạch trong triển khai, thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật.

Thứ hai, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; lấy phục vụ nhân dân làm mục tiêu cao nhất khi thiết kế nền hành chính nhà nước. Cán bộ, công chức, viên chức phải thấm nhuần tinh thần nền hành chính phục vụ nhân dân, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân làm trung tâm, xóa bỏ quan hệ “lợi ích nhóm” và tính bao cấp,  tư tưởng ban phát, ban ơn.

Thứ ba, tiếp tục thể chế hóa việc mở rộng cơ chế bảo đảm dân chủ. Tuyên truyền, quán triệt các cấp, các ngành và mọi người dân về tầm quan trọng của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở; nghiên cứu xây dựng dự luật minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động công vụ.

Thứ tư, bảo đảm quyền ASXH gắn với an ninh con người, an ninh quốc gia. Kinh nghiệm từ xử lý khủng hoảng trong đại dịch COVID-19 vừa qua cho thấy, phải tăng cường triển khai, thực thi trên thực tế các giải pháp quan trọng về bảo đảm, bảo vệ các quyền con người, trước tiên là các quyền về sức khỏe, việc làm, thu nhập, BHXH, giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững...

Thứ năm, bảo đảm quyền con người gắn với phát triển bao trùm. Về nhận thức: phát triển bao trùm “để không ai bị bỏ lại ở phía sau” cần được quán triệt trong tất cả hoạt động từ khâu sản xuất, dịch vụ, phân phối, tiêu dùng; trong hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của các thành phần, khu vực kinh tế khác nhau; trong hoạt động của Nhà nước; gắn kết chặt chẽ giữa bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân với phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và bảo vệ môi trường; giữa các khía cạnh liên hệ, phụ thuộc lẫn nhau của các quyền con người; bảo đảm tốt các quyền về dân sự, chính trị là cơ sở thực hiện các quyền về kinh tế, xã hội, văn hóa, và ngược lại... Về triển khai thực hiện: kịp thời phát hiện và giải quyết thỏa đáng những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình phát triển nhanh, bền vững gắn với phát triển theo chuỗi, phát triển bao trùm, với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư... Thời gian tới, chú trọng tìm kiếm cách thức bảo đảm, bảo vệ quyền con người, nhất là quyền của các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trước tác động của biến đổi khí hậu, tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư..., như vấn đề quyền con người và trí tuệ nhân tạo; quyền con người và chuyển đổi số, quyền con người và quyền làm việc...

Thứ sáu, ứng dụng công nghệ thông tin trong triển khai thực hiện CSXH. Cần triển khai thực hiện hiệu quả Đề án xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội, ứng dụng công nghệ thông tin vào giải quyết chính sách an sinh xã hội đến năm 2020 và định hướng phát triển đến năm 2030; đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đổi mới về tổ chức và đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực ASXH, góp phần phát triển Chính phủ điện tử; đẩy nhanh hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu hộ gia đình, mã số cá nhân và bộ chỉ số ASXH để nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát, đánh giá việc thực hiện chính sách ASXH. Cần quan tâm đến các đối tượng đang ở khoảng giữa của BHXH và trợ cấp xã hội (những người có mức sống dưới trung bình, không có BHXH, song chưa được xếp vào diện nghèo nên không được nhận trợ cấp xã hội); người lao động khu vực phi chính thức, đối tượng dễ bị tổn thương...

Thứ bảy, thực hiện nhất quán CSXH gắn với chính sách tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Quan điểm nhất quán, xuyên suốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam là vì con người, lấy con người là trung tâm; tôn trọng, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, tiếp tục triển khai và thực hiện đồng bộ, hiệu quả các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên.

Cần xây dựng kế hoạch, chương trình hành động quốc gia về quyền con người; đánh giá tác động đối với đối tượng bị tác động trực tiếp của dự luật trước khi thông qua; đưa nội dung cách tiếp cận quyền con người vào quản lý phát triển xã hội; việc hoạch định và thực thi các chính sách, chương trình, kế hoạch, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội phải sử dụng hiệu quả cách tiếp cận quyền con người; bảo đảm thực hiện tốt quyền con người, quyền công dân đã được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận và các cam kết quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia./.

LHQ-ST

Thực tiễn thực hiện chính sách xã hội trong bảo đảm, bảo vệ quyền con người, thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội và hội nhập quốc tế ở Việt Nam

 Thành tựu thực hiện chính sách xã hội trong bảo đảm, bảo vệ quyền con người.

Thứ nhất, thể chế CSXH trong bảo đảm, bảo vệ quyền con người ngày càng được hoàn thiện với việc xây dựng hệ thống pháp luật và chính sách về an sinh xã hội (ASXH) mang tính kịp thời, đồng bộ và khả thi cao. Trong hoạt động lập pháp, việc ban hành Hiến pháp năm 2013 và các bộ luật, luật, như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH), Luật Bảo hiểm y tế, Luật Trẻ em, Luật Người khuyết tật, Luật Người cao tuổi, Luật Giáo dục, Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Việc làm... có ý nghĩa quan trọng, tạo cơ sở pháp lý vững chắc giúp cụ thể hóa các quyền ASXH, nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững. Trong hoạt động lập quỹ, trọng tâm được đặt vào việc bảo đảm ASXH cho người dân, trợ giúp kịp thời và hiệu quả các nhóm đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, chịu nhiều thiệt thòi, qua đó thực thi nhất quán chủ trương “không để ai bị bỏ lại phía sau” của Đảng và Nhà nước. Các chính sách cụ thể, như bảo trợ xã hội, giảm nghèo đa chiều, phát triển bền vững, bao trùm, hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt..., đã từng bước góp phần nâng cao phúc lợi cho các đối tượng CSXH có liên quan, bảo đảm và đáp ứng tốt các nhu cầu tối thiểu của họ, giúp phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro, mang lại cơ hội bình đẳng thực chất cho các nhóm yếu thế để giúp họ vươn lên, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước.

Đặc biệt, trong đại dịch COVID-19 vừa qua, Chính phủ đã ban hành những chính sách chưa có tiền lệ để thực hiện CSXH(1). Đây là những quyết sách quan trọng, kịp thời hỗ trợ người dân vượt qua khó khăn trong đại dịch bằng những gói phúc lợi hàng chục nghìn tỷ đồng, bảo đảm các quyền con người cơ bản, đồng thời gia tăng năng lực hoạt động cho hệ thống ASXH để ứng phó hiệu quả với những thách thức mang tính toàn cầu cũng như thiết lập những bảo đảm cần thiết cho sự phát triển bền vững với tầm nhìn trung hạn và dài hạn.

Thứ hai, hệ thống ASXH đã được phát triển thành lưới ASXH, không ngừng mở rộng diện bao phủ các đối tượng và ngày càng đáp ứng tốt nhu cầu của các đối tượng ASXH. Điều này phản ánh rõ nét qua những chuyển biến tích cực trên các phương diện: 1- Hệ thống BHXH được thiết kế, tổ chức và hoạt động đồng bộ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương, là “phao cứu sinh” cho người dân khi đối mặt với những rủi ro khó lường (như ốm đau, thiên tai, dịch bệnh, mất việc làm do tai nạn lao động...), giúp họ bảo đảm nguồn thu nhập, bảo đảm sinh kế và ổn định cuộc sống; 2- Hệ thống hỗ trợ giải quyết việc làm đã và đang góp phần tạo việc làm đa dạng, đáp ứng nhu cầu của phần lớn lực lượng lao động; góp phần đào tạo nghề, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; giúp kết nối người thất nghiệp với doanh nghiệp; giúp người lao động cải thiện thu nhập, bảo đảm quyền có việc làm của người dân, qua đó góp phần giảm nghèo hiệu quả; 3- Hệ thống trợ giúp xã hội giúp người dân khắc phục rủi ro, biến cố thông qua các khoản trợ cấp trực tiếp bằng tiền hoặc hiện vật với kinh phí trích từ ngân sách nhà nước; 4- Hệ thống chính sách ưu đãi người có công, các nhóm xã hội dễ bị tổn thương, chịu nhiều thiệt thòi đã và đang mang lại những lợi ích đáng kể cho các nhóm đối tượng này, góp phần thực hiện công bằng xã hội hiệu quả trên phạm vi cả nước; 5- Hệ thống bảo đảm tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (như giáo dục, y tế, nhà ở, thông tin, nước sạch...,) ngày càng được cải thiện về chất lượng cũng như quy mô dịch vụ, đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của đại bộ phận người dân, đặc biệt là nhóm dân cư vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo, địa bàn đặc biệt khó khăn.

Thứ ba, đời sống của đại bộ phận người dân ngày càng được cải thiện trên các khía cạnh kinh tế, văn hóa, xã hội, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Có thể thấy rõ điều này trong sự liên tục cải thiện các chỉ số quan trọng liên quan đến con người, như chỉ số phát triển con người (HDI), chỉ số bình đẳng giới (GEI), tuổi thọ bình quân đầu người, thu nhập bình quân đầu người... Đây là những thành tựu quan trọng, nhất là trong bối cảnh các chỉ số này của nhiều quốc gia trên thế giới có xu hướng chững lại, thậm chí bị đảo ngược do những khó khăn về kinh tế, bất ổn chính trị, do những thách thức của an ninh phi truyền thống... Việt Nam cũng là một trong những quốc gia hoàn thành sớm Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc, đây là tiền đề giúp Việt Nam hướng đến thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc (SDGs). Theo xếp hạng của Liên hợp quốc năm 2020 về thực hiện SDGs, Việt Nam xếp thứ 51/193 quốc gia thành viên của Liên hợp quốc, đạt thành tích cao hơn so với nhiều nước trong khu vực.

Một số hạn chế trong thực hiện chính sách xã hội trong bảo đảm, bảo vệ quyền con người.

Bên cạnh những kết quả nói trên, thực hiện CSXH trong bảo đảm, bảo vệ quyền con người vẫn bộc lộ một số hạn chế nhất định.

Thứ nhất, một số chính sách ASXH được triển khai, nhưng chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Chính sách BHXH được triển khai mạnh mẽ, nhưng diện bao phủ còn hẹp, tỷ lệ người lao động tham gia BHXH, nhất là trong khu vực kinh tế phi chính thức vẫn còn thấp. Chính sách giảm nghèo đã giúp Việt Nam đạt được thành tích giảm nghèo đa chiều ấn tượng, song tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo lại có xu hướng tăng lên. Trong khi đó, mức hỗ trợ an sinh xã hội cho các đối tượng liên quan vẫn còn thấp, chưa bảo đảm mức sống tối thiểu của một bộ phận dân cư, kể cả tại các thành phố lớn cũng như các địa phương ở vùng sâu, vùng xa...

Bên cạnh đó, vấn đề an ninh con người, mặc dù đã được đề cập nhiều trong Văn kiện Đại hội XII và XIII của Đảng, nhưng đến nay, việc thể chế hóa và thực thi các giải pháp chưa đồng bộ, còn nhiều bất cập.

Thứ hai, chưa thực sự thu hút sự tham gia tích cực của chủ thể quyền vào quá trình xây dựng pháp luật, nhất là CSXH có liên quan đến quyền con người. Tính công khai, minh bạch trong hoạt động cung ứng dịch vụ công của một số cơ quan nhà nước; việc một bộ phận cán bộ lợi dụng chức quyền, “che giấu” thông tin chính sách vì động cơ cá nhân hoặc lợi ích nhóm đã ít nhiều cản trở quyền lợi chính đáng của người dân, khiến cho các đối tượng ASXH gặp không ít trở ngại trong việc tiếp cận các nguồn hỗ trợ của Nhà nước, từ đó làm giảm hiệu quả của chính sách ASXH và thậm chí, làm giảm niềm tin của người dân vào hoạt động của bộ máy nhà nước.

Thứ ba, đội ngũ cán bộ, công chức tham gia triển khai các chính sách ASXH còn yếu, thiếu kỹ năng chuyên môn và quản lý, tính chuyên nghiệp chưa cao, chưa ứng dụng hiệu quả công nghệ số vào hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, nhận thức chưa đúng mức về thực hiện quyền con người... Trong khi đó, một bộ phận đối tượng thụ hưởng ASXH lại có tâm lý trông chờ, ỷ lại vào sự trợ giúp của Nhà nước. Hơn nữa, chất lượng của các dịch vụ ASXH cũng chưa cao, các loại hình dịch vụ chưa đa dạng, thiếu sáng tạo, đổi mới mà nguyên nhân chủ yếu bắt nguồn từ sự hạn chế nguồn lực vật chất, kỹ thuật trong bối cảnh trình độ khoa học - kỹ thuật, công nghệ còn nhiều hạn chế. Điều này khiến cho việc thực thi chính sách ASXH gặp nhiều khó khăn, thách thức, làm giảm diện bao phủ của chính sách ASXH, giảm hiệu quả bảo đảm quyền con người nói chung, quyền ASXH nói riêng của người dân. 

Thứ tư, việc vận dụng tiếp cận quyền con người trong hoạch định CSXH chưa được như mong muốn. Trên thực tế, trong quá trình hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở cả Trung ương cũng như địa phương hầu như chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa bảo đảm các quyền của người dân.

LHQ-ST

đặc điểm và vai trò của chính sách xã hội trong bảo đảm, bảo vệ quyền con người, thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội

 Hiện nay có nhiều cách hiểu và tiếp cận khác nhau về chính sách xã hội (CSXH). Có quan điểm coi CSXH  một tập hợp con của chính sách công; hay CSXH là một môn học liên ngành và ứng dụng liên quan đến việc phân tích các phản ứng của xã hội đối với nhu cầu xã hội; hay CSXH là chính sách công và thực hành trong các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, dịch vụ con người, tư pháp hình sự, bất bình đẳng, giáo dục và lao động... Dù tiếp cận dưới góc độ nào, CSXH bao giờ cũng là hệ thống nguyên tắc, hướng dẫn được thể hiện dưới dạng văn bản (tùy thuộc vào thể chế chính trị, pháp luật của mỗi quốc gia) mà  tên gọi khác nhau, như nghị quyết, quyết định, chỉ thị, thông tư, sắc lệnh, nghị định, luật, hay kế hoạch, chương trình hành động thể hiện đường lối chính trị của đảng cầm quyền và chính phủ hướng tới giải quyết một vấn đề gì đó thuộc về quốc kế dân sinh, giải quyết những vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội. Từ cách hiểu này, CSXH luôn là bộ phận cấu thành chính sách chung của Đảng, Nhà nước trong việc giải quyết và quản lý các vấn đề xã hội bên cạnh các vấn đề chính trị, kinh tế. Vì là chính sách chung, chính sách công, nên CSXH có phạm vi rất rộng, liên quan tới các đối tượng, giai tầng, các lĩnh vực xã hội, từ y tế, giáo dục, bảo hiểm, lao động, việc làm, nhập cư, phúc lợi xã hội...

Ở Việt Nam hiện nay, CSXH đã và đang được nghiên cứu, nhìn nhận ở hai cấp độ: Ở phạm vi hẹp, CSXH thường được hiểu là áp dụng cho những nhóm lao động xã hội gọi là “đối tượng chính sách”, bao gồm chính sách với người có công; chính sách việc làm; chính sách thu nhập; chính sách giảm nghèo trên cả nước; chính sách BHXH; chính sách trợ giúp người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; chính sách bảo đảm các dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân... và các đối tượng thuộc diện CSXH, thường tập trung vào hộ gia đình nghèo, hộ đặc biệt khó khăn, hộ gia đình dân tộc thiểu số, gia đình có công, thương binh, bệnh binh, gia đình có người bị ảnh hưởng bởi chất độc màu da cam... Ở phạm vi rộng, CSXH bao hàm cả chính sách đối với các tầng lớp nhân dân, như chính sách đối với công nhân, nông dân, thanh niên, trí thức,...

Chính sách xã hội có đặc điểm chung:

Thứ nhất, CSXH lấy con người, quyền và lợi ích của các nhóm người trong cộng đồng làm đối tượng để điều hòa lợi ích xã hội, phát triển con người toàn diện.

Thứ hai, CSXH là thước đo đánh giá trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của một quốc gia, phản ánh mức sống, thu nhập và thể hiện bản chất chế độ, xã hội vì con người, nên CSXH mang tính nhân văn và nhân đạo sâu sắc.

Thứ ba, CSXH là công cụ để điều hòa lợi ích, thu nhập, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của các nhóm người, nhất là nhóm đối tượng xã hội vì mục tiêu thực hiện quyền con người.

Thứ tư, CSXH có tính trách nhiệm xã hội cao, quan tâm và tạo điều kiện, cơ hội thuận lợi để mọi người phát triển, thúc đẩy tiến bộ và công bằng xã hội.

Chính sách xã hội có vai trò quan trọng trong bảo đảm, bảo vệ quyền con người, thúc đẩy tiến bộ và công bằng xã hội.

Thứ nhất, CSXH là công cụ, biện pháp để Nhà nước thực hiện mục tiêu phát triển con người toàn diện. Chính sách xã hội phát huy tiềm năng, nguồn lực con người với tư cách con người cá nhân và con người trong cộng đồng, nhóm; khơi dậy tính tích cực, kích thích kinh tế, góp phần điều tiết các quan hệ xã hội nhằm bảo đảm và thiết lập xã hội công bằng, văn minh, để con người với tư cách là con người cá nhân và con người tập thể đều được chăm lo phát triển toàn diện, thúc đẩy tiến bộ và công bằng xã hội.

Thứ hai, CSXH là công cụ để điều tiết quan hệ xã hội, giảm thiểu phân hóa, mâu thuẫn và khác biệt xã hội, chống bất công, bất bình đẳng xã hội. Trong xã hội, mỗi giai tầng, mỗi nhóm người có sự khác nhau về quan điểm, trình độ, địa vị, điều kiện, hoàn cảnh..., vì thế chính sách cần dựa trên đặc điểm riêng của các nhóm xã hội, nhất là trong những thời điểm có thiên tai, dịch bệnh, như năm 2020 - 2021, cả thế giới phải đối mặt với đại dịch COVID-19..., do đó cần điều chỉnh bằng công cụ CSXH để giải quyết các vấn đề xã hội, bảo đảm cho xã hội phát triển ổn định.

Thứ ba, CSXH tạo tính tích cực, năng động xã hội vì mục tiêu phát triển bao trùm, phát triển bền vững “không ai bị bỏ lại phía sau”. Muốn xã hội phát triển bền vững, quan trọng là phải bảo đảm công bằng xã hội, là giải quyết lợi ích giữa các đối tượng có thể có chênh lệch ở mức chấp nhận được. Nếu không có CSXH phù hợp, không giải quyết đúng đắn vấn đề mấu chốt này thì có thể sẽ làm triệt tiêu các động lực phát triển xã hội, dẫn tới sự trì trệ và khủng hoảng xã hội, do phân hóa giàu, nghèo, bất bình đẳng xã hội gia tăng.

LHQ-ST

Sự kế thừa và tư duy mới của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay

 Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, chính sự tha hóa quyền lực là nguyên nhân căn bản dẫn đến tham nhũng. Cũng từ đó, Tổng Bí thư cho rằng, giải pháp căn cốt nhất để phòng, chống tham nhũng là kiểm soát quyền lực bằng việc hoàn thiện thể chế.

Một là, cũng như V. I. Lê-nin, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng “tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực và là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ; thời đại nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có, không thể xóa bỏ tận gốc tham nhũng trong một thời gian ngắn”(3). Bên cạnh việc khẳng định căn nguyên của tham nhũng và sự khó khăn, phức tạp, lâu dài của công tác phòng, chống tham nhũng, Tổng Bí thư còn bổ sung diễn đạt mới đầy tính biện chứng, đó là khi nhấn mạnh “yếu tố cơ bản, nền tảng, có tác dụng ngăn chặn từ gốc hành vi tham nhũng là phải “nhốt” quyền lực trong “lồng” thể chế”(4). Để thực hiện điều này, Tổng Bí thư cho rằng, “phải từng bước hoàn thiện cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để bảo đảm “không thể”, “không dám”, “không muốn”, “không cần” tham nhũng”(5).

Nhằm hiện thực hóa thể chế “bốn không” đó, giai đoạn 2012 - 2022, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cơ quan tham mưu của Đảng đã ban hành hơn 250 văn bản về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và phòng, chống tham nhũng; Quốc hội ban hành hơn 300 luật, pháp lệnh, nghị quyết; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành hơn 2.600 nghị định, quyết định, chỉ thị; cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương ban hành hơn 45.000 văn bản; các bộ, ngành, địa phương ban hành gần 100.000 văn bản để cụ thể hóa, hướng dẫn thi hành, tổ chức thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực(6). Bên cạnh việc nhấn mạnh hoàn thiện, đồng bộ thể chế, Tổng Bí thư cũng chỉ đạo cần nâng cao văn hóa công vụ, bảo đảm tính chuyên nghiệp, công khai, minh bạch, hiệu quả và trách nhiệm giải trình trong thực thi nhiệm vụ theo xu hướng quản trị nhà nước hiện đại và trách nhiệm giải trình ngày càng trở thành nguyên tắc phổ quát trong tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước. Khi đó, người dân là trung tâm, có vai trò chủ động và quan trọng trong tất cả các quá trình quản trị, từ ban hành, quyết định thực thi chính sách, pháp luật và chi tiêu công(7). Có thể thấy rằng, đây là một cách diễn đạt hiện đại của tư tưởng dân là gốc đã được đồng chí Tổng Bí thư kế thừa và thường xuyên nhắc đến.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với các đại biểu dự Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm hoạt động của ban chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương_Ảnh: TTXVN

Hai là, trước những biểu hiện phức tạp, khó lường, với sự cấu kết của nhiều đối tượng ở nhiều cấp độ, phạm vi trong hành vi tham nhũng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã chỉ đạo cần “chú trọng kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động và sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chức năng phòng, chống tham nhũng; tích cực hợp tác quốc tế và từng bước mở rộng hoạt động phòng, chống tham nhũng ra khu vực ngoài nhà nước”(8). Biểu hiện sinh động cho quan điểm này là: (i) Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã được kiện toàn về tổ chức, nâng cấp về quyền hạn và mở rộng phạm vi hoạt động, thay đổi từ “chống tham nhũng, lãng phí” thành “chống tham nhũng, tiêu cực” để xử lý những vấn đề rộng hơn, căn cốt hơn, nhất là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; (ii) Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã được thành lập và đi vào hoạt động, bước đầu đạt nhiều kết quả tích cực; (iii) Ban Nội chính Trung ương và ban nội chính các tỉnh ủy, thành ủy được tái lập đã bước đầu có nhiều nỗ lực, cố gắng, nâng cao hiệu quả tham mưu về công tác phòng, chống tham nhũng; (iv) Sự phối hợp giữa các cơ quan kiểm tra, giám sát, nội chính của Đảng với cơ quan thanh tra, kiểm toán, điều tra; giữa cơ quan thanh tra, kiểm toán với cơ quan điều tra; giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trung ương, địa phương và các bộ, ngành chức năng ngày càng chặt chẽ, kịp thời, hiệu quả, hầu như không còn tình trạng “quyền anh, quyền tôi”, “cua cậy càng, cá cậy vây”(9).

Ba là, trên cơ sở nhận định tham nhũng trên nhiều lĩnh vực còn nghiêm trọng, phức tạp, với biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, trong công tác phòng, chống tham nhũng cần quán triệt tư tưởng “nói đi đôi với làm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”(10). Trong quá trình ấy, “cần xử lý dứt điểm các vụ án tham nhũng lớn; ngăn chặn có hiệu quả tệ “tham nhũng vặt”, “gợi ý”, “lót tay”; hạn chế sự tác động tiêu cực của “nhóm lợi ích”, “sân sau”, “tư duy nhiệm kỳ”; nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng. Đặc biệt, phải phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngay trong các cơ quan phòng, chống tham nhũng, tiêu cực”(11). Đáng nói hơn, nó không chỉ dừng lại ở nguyên tắc lý luận mà còn trở thành phương châm hành động trên thực tiễn, trong giai đoạn 2012 - 2022, các cơ quan tố tụng trên cả nước đã khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm gần 16.000 vụ án tham nhũng, chức vụ, kinh tế với hơn 30.300 bị cáo. Riêng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã đưa vào diện theo dõi, chỉ đạo 313 vụ án, vụ việc tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm, đã đưa ra xét xử sơ thẩm 120 vụ án, 1.083 bị cáo, trong đó có 37 cán bộ diện Trung ương quản lý, bị xử lý hình sự(12).

Bốn là, một điểm mới hết sức quan trọng trong quan điểm phòng, chống tham nhũng của Tổng Bí thư là đã xác lập quy trình xử lý tham nhũng, theo đó, kỷ luật Đảng đi trước, tạo tiền đề, mở đường cho thanh tra, điều tra, xử lý hành chính và hình sự theo pháp luật. Quy trình này đã được áp dụng nghiêm túc và hiệu quả khi điều tra, xử lý các đại án tham nhũng ở các lĩnh vực y tế, kinh tế trong thời gian qua. Hơn nữa, khi trực tiếp chỉ đạo xử lý các vụ án tham nhũng nổi bật gần đây, Tổng Bí thư đã trực tiếp đề cập đến hiện tượng tham nhũng mới phát sinh, đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm, đang ra sức lũng đoạn kinh tế - xã hội, đó là “nhóm lợi ích”- sự cấu kết, móc ngoặc của những người có quyền lực với nhau hoặc người có quyền lực với doanh nghiệp bất liêm nhằm mưu cầu, giành giật, chiếm đoạt lợi ích vật chất, danh tiếng, quyền lực cho bản thân và phe nhóm mình, tác động đến quá trình hoạch định và thực thi chính sách. Dẫn lại lời của C. Mác, Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Khi mà tư bản đầu sỏ tài chính cấu kết với quyền lực chính trị thì nó chi phối xã hội ghê gớm lắm!”(13).

Năm là, nét sáng tạo riêng có và thể hiện đầy đủ tính toàn diện trong quan điểm phòng, chống tham nhũng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là đã nhận diện đầy đủ, rõ ràng những hệ lụy từ nhận thức tiêu cực, không đúng bản chất của công cuộc phòng, chống tham nhũng hiện nay. Những quan điểm này không chỉ phản bác luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch, mà còn góp phần ổn định tư tưởng của cán bộ, đảng viên, điều hòa tâm lý xã hội. Tổng Bí thư nhấn mạnh, cần nhận thức một cách mạnh mẽ, toàn diện rằng: “Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng và xây dựng, chỉnh đốn Đảng chỉ làm “chùn bước” những ai có động cơ không trong sáng, đã trót “nhúng chàm” và những người không nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, thiếu kiến thức, kinh nghiệm và bản lĩnh(14) và chính nhờ làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại”

LHQ-ST

Những chỉ dẫn của V.I. Lê-nin về phòng, chống tham nhũng

 Trong các bài viết và phát biểu của mình, V.I. Lê-nin cho rằng tham nhũng là những hành vi lợi dụng chức quyền, vị trí công tác để tư lợi cá nhân, làm suy giảm quyền lực tổ chức. Bằng cách tiếp cận này, V.I. Lê-nin đã chỉ ra căn nguyên của tham nhũng là quyền lực và quyền lực bị tha hóa. Từ đó, V.I. Lê-nin đặc biệt chú ý đến những tác hại của tham nhũng đối với quyền lực lãnh đạo của Đảng và quyền lực quản lý của nhà nước. V.I. Lê-nin gọi tham nhũng, hối lộ là “kẻ thù” bởi nó làm suy yếu Đảng, làm suy giảm quyền lực nhà nước, gây ảnh hưởng đến uy thế, thanh danh của Đảng và Nhà nước, dễ tạo ra nguy cơ biến bộ máy chính quyền và các tổ chức đảng trở thành bộ máy quan liêu mới, xa rời lợi ích của Đảng, của nhân dân. “Tệ quan liêu, tham nhũng khiến nhiều cán bộ, đảng viên bị tha hóa, trở thành những kẻ chuyên quyền, độc đoán, thậm chí nó có thể phá hủy một chính đảng, làm tiêu vong một chế độ”(1).

Vẫn trên cơ sở nhận diện nguồn gốc của tham nhũng đến từ quyền lực bị tha hóa, V.I. Lê-nin cho rằng, quan liêu và tham nhũng gắn với quyền lực bị tha hóa, chúng đều có chung bản chất là lợi dụng chức quyền, vị trí công tác để tư lợi cá nhân, sống ích kỷ, ăn bám, trên sức lao động của người khác(2). Ông nhấn mạnh, vẫn có thể xóa sạch được tham nhũng nhưng đó là cuộc đấu tranh phức tạp, lâu dài, khó khăn và cần phải có thái độ dứt khoát, kiên quyết và không có vùng cấm trong cuộc chiến này.

Để phòng, chống tham nhũng, trong nhận thức và chỉ đạo thực tiễn, V.I. Lê-nin đã đưa ra nhiều giải pháp khác nhau, trong đó nổi bật là những giải pháp về thể chế kiểm soát quyền lực:

Thứ nhất, cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trong đảng để ngăn ngừa vi phạm, tăng cường kỷ luật trong đảng, thực hiện kỷ luật đảng viên nghiêm khắc trong điều kiện đảng cầm quyền.

Thứ hai, xem trọng vai trò của quần chúng nhân dân, phát huy, thực hành dân chủ rộng rãi, cuốn hút, lôi cuốn nhân dân tham gia vào các công việc của đảng, nhà nước, bởi nhân dân là chủ thể của quyền lực.

Thứ ba, cần tăng cường kiểm soát bộ máy nhà nước, giảm bớt sự cồng kềnh, chồng chéo trong bộ máy, đồng thời nâng cao chất lượng, phẩm chất, năng lực cán bộ, đảng viên, thiết lập chế độ trách nhiệm cá nhân, thường xuyên kiểm tra việc thực hiện trách nhiệm cá nhân một cách nghiêm ngặt, gắn quyền lợi với trách nhiệm, nghĩa vụ; xây dựng cơ chế phát hiện và thải loại những cán bộ, đảng viên, công chức thoái hóa, biến chất.

LHQ-ST

Về quan điểm thực hiện định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ

 Các bài viết in trong cuốn sách, đặc biệt là bài “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh một số quan điểm thực hiện định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội:

Thứ nhất, thực hiện “Quan hệ phân phối bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển”(11) trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cụ thể, Nhà nước phải “thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội”(12). Phương thức phân phối này kết hợp được các hình thức phân phối theo cơ chế thị trường, theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác. Đồng thời, kết hợp phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Phân phối theo cơ chế thị trường sẽ tạo động lực cho phát triển kinh tế, còn theo hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội sẽ tạo ra sự công bằng xã hội. Thực hiện phương thức phân phối này sẽ góp phần củng cố những giá trị cốt lõi của chủ nghĩa xã hội mà đồng chí Tổng Bí thư khẳng định: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé”, vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường. Và, chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có”(13)Trên cơ sở này, chúng ta mới thực hiện được định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ.

Chăm sóc trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Thứ hai, quan điểm “gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển”(14)Đây vừa là quan điểm, vừa là “một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở Việt Nam”(15)Có nghĩa là, để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta cần phải thực hiện tốt quan điểm này. Chính vì vậy, ngay từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới, Đảng ta đã xác định rõ “cần thể hiện đầy đủ trên thực tế quan điểm của Đảng và Nhà nước về sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội, khắc phục thái độ coi nhẹ chính sách xã hội, tức là coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”(16). Đồng thời, quan điểm “tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển. Công bằng xã hội phải thể hiện cả ở khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình”(17) được Đảng ta quán triệt trong suốt quá trình đổi mới. Quan điểm gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển được đồng chí Tổng Bí thư giải thích rất rõ ràng trong bài viết của mình: “Điều đó có nghĩa là: không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần”(18). Đồng chí Tổng Bí thư yêu cầu “mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn”(19)Quan điểm này được đồng chí Tổng Bí thư coi “là một yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(20).

Thứ ba, quan điểm “xác định phát triển văn hóa đồng bộ, hài hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”(21). Do vậy, văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn là sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tất nhiên, đó là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những thành tựu, tinh hoa văn hóa nhân loại”(22). Nền văn hóa ấy tham gia phấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực, lối sống và thẩm mỹ ngày càng cao. Nền văn hóa ấy góp phần xây dựng, phát triển con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới.

Thứ tư, thực hiện quan điểm “xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người”(23). Quan điểm này góp phần xây dựng xã hội đồng thuận thay vì đối lập hay đối kháng xã hội. Sự đồng thuận xã hội được xây dựng trên cơ sở hài hòa lợi ích cá nhân - tập thể - xã hội và “mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(24). Quan điểm này hoàn toàn thống nhất với mục tiêu và cũng là đặc trưng thứ nhất của chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta xây dựng. Đó là mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Thứ năm, khẳng định và quán triệt quan điểm “sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa”(25). Từ tổng kết thực tiễn cách mạng Việt Nam, kết hợp với nghiên cứu lý luận, Tổng Bí thư khẳng định và nhấn mạnh: “Thực tiễn đó khẳng định một chân lý: Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”(26), trong đó có bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của sự phát triển.

Thực hiện tốt các quan điểm trên, chúng ta mới thực hiện được trên thực tiễn định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Điều cần lưu ý là, các quan điểm phát triển trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và các quan điểm thực hiện định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ có mối liên hệ khăng khít với nhau. Bởi lẽ, phát triển trong xây dựng chủ nghĩa xã hội phải bảo đảm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngược lại, để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa phải thành công trong xây dựng và phát triển chủ nghĩa xã hội. Do vậy, các quan điểm này phải được nhận thức, quán triệt đồng bộ cả về lý luận và thực tiễn.

LHQ- ST

Về quan điểm phát triển trong xây dựng chủ nghĩa xã hội

 Các bài viết in trong cuốn sách, nhất là bài “Vng bước đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và ước vọng của toàn dân tộc”, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú trọng đã chỉ rõ các quan điểm phát triển trong xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ ở nước ta và đã được Đại hội XIII của Đảng thông qua, gồm các quan điểm:

Thứ nhất, “tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”(1). Đây là quan điểm đầu tiên quan trọng nhất bao gồm “năm kiên định”.

Kiên định thứ nhất là kiên định và vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Kiên định ở đây là vững vàng, không dao động, không thay đổi lập trường, không nhụt chí, không nản lòng, vững tin có căn cứ, có cơ sở vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Điều này khẳng định, kiên định không phải là bảo thủ, trì trệ, cố chấp mà trên cơ sở hiểu biết đúng đắn về bản chất khoa học, cách mạng, linh hồn sống của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng kiên định mà không biết vận dụng, phát triển sáng tạo sẽ trở thành bảo thủ, cố chấp, trì trệ. Ngược lại, vận dụng, phát triển mà không trên cơ sở kiên định sẽ dễ trở thành xét lại, cơ hội. Cả hai xu hướng này đều là sai và sẽ phải trả giá đắt.

Kiên định thứ hai là kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Bởi lẽ, như chính đồng chí Tổng Bí thứ đã khẳng định: “Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc”(2). Thực tiễn lịch sử thế giới đương đại đã “chứng minh tính không bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái của chủ nghĩa tư bản”(3). Chính vì vậy, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Kiên định thứ ba là kiên định đường lối đổi mới của Đảng. Thực tiễn gần 38 năm đổi mới đã chứng tỏ “đường lối đổi mới đã đem lại những chuyển biến rõ rệt, hết sức sâu sắc và tích cực ở Việt Nam: Kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố”(4).

Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai chúc tết công nhân môi trường tại thành phố Đà Lạt_Ảnh: TTXVN

Kiên định thứ tư là kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng. Bởi lẽ, thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ “sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa”(5). Do vậy, chúng ta phải đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhưng phải kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ.

Kiên định thứ năm là bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Có thể nói, “năm kiên định” này liên hệ, bổ sung, tác động lẫn nhau, cùng nhau tạo nên quan điểm mang tính nguyên tắc mà theo đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động.

Thứ hai, “chiến lược phát triển tổng thể của đất nước ta là đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và bền vững đất nước; bảo đảm gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó: Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”(6). Quan điểm này yêu cầu đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và bền vững đất nước; xác định các nhiệm vụ một cách toàn diện nhưng không dàn đều, bình quân, mà có trọng tâm, trọng điểm. Mục tiêu của chúng ta là phát triển nhanh nhưng phải bền vững, do vậy phải có bước đi, lộ trình, giải pháp cho từng lĩnh vực phù hợp thực tiễn.

Thứ ba, “động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và nền văn hóa, con người Việt Nam; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất”(7). Đây là quan điểm phát triển hết sức đúng đắn, bởi lẽ Đảng ta xuất phát từ vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nếu chúng ta khơi dậy được sức mạnh con người Việt Nam với tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và sức mạnh văn hóa Việt Nam kết hợp với sức mạnh thời đại, chúng ta sẽ thực hiện được chiến lược phát triển nhanh và bền vững. Bởi lẽ, phát triển dựa vào tài nguyên thiên nhiên có giới hạn, nhưng phát huy nguồn lực sáng tạo con người, nguồn lực văn hóa, tinh thần sẽ tạo ra nguồn lực phát triển vô hạn.

Thứ tư, “nhân tố có ý nghĩa quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc là tiếp tục tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện, xây dựng Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”(8). Quan điểm này xuất phát từ thực tế sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, “chính trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta được tôi luyện, thử thách và không ngừng trưởng thành, dày dạn kinh nghiệm để ngày càng xứng đáng với vai trò và sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân. Thực tế gần một thế kỷ qua cho thấy, ở Việt Nam không có một lực lượng chính trị nào khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách cam go để đưa dân tộc đến bến bờ vinh quang, giành được hết thắng lợi này đến thành công khác”(9). Vai trò, vị thế, tầm quan trọng của Đảng là kết quả rèn luyện, phấn đấu gian khổ của từng đảng viên và toàn Đảng. Do vậy, phải tiếp tục tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện.

Thứ năm, “trong nhiệm kỳ 2021 - 2025 và những năm tiếp theo, mục tiêu phát triển tổng quát của chúng ta là: Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(10). Quan điểm này xác định đích đến của nước ta đến giữa thế kỷ XXI, để chúng ta phấn đấu, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng.

Năm quan điểm này thống nhất với nhau, bổ sung cho nhau, cùng nhau tạo ra hệ quan điểm phát triển trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Do vậy, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội cần quán triệt đồng bộ các quan điểm này.

LHQ-ST

Tiếp tục hoàn thiện lý luận về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quan điểm của Tổng Bí thư

 Trong tác phẩm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”(14). Để đạt được mục tiêu đó, cần phải phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN - “một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới”(15). Trong đó, Tổng Bí thư tập trung luận giải, nhấn mạnh một số vấn đề cơ bản sau:

Về quan hệ sở hữu. Tương ứng với quá trình vận động, phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất nước ta từng bước được xây dựng phù hợp, tiến bộ, với nhiều hình thức sở hữu, đa thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật và đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố và phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

Về tổ chức, quản lý. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất để định hướng, điều tiết, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Về quan hệ phân phối. Bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh, phúc lợi xã hội.

Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng XHCN trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Nói cách khác, kinh tế thị trường và tính định hướng XHCN có mối quan hệ chặt chẽ, không mâu thuẫn với nhau. Phát triển kinh tế thị trường để thực hiện mục tiêu XHCN và định hướng XHCN có vai trò định hướng cho nền kinh tế thị trường. Đây là điểm đặc sắc trong mô hình kinh tế thị trường ở Việt Nam, Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xoá đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn”(16); đây là “yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(17). Đồng thời, mô hình kinh tế này cũng hướng đến giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa nhà nước - thị trường - xã hội, cụ thể:

Một là, Nhà nước đóng vai trò bảo đảm thị trường và xã hội thực hiện đúng chức năng của nó. Nhà nước không “làm thay” mà sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của mình để định hướng và điều tiết nền kinh tế không làm méo mó thị trường, thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh và bảo vệ môi trường.

Hai là, thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất. Kinh tế thị trường không phải vốn dĩ là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản, mà là kết quả của tiến trình phát triển văn minh nhân loại. Alvin Toffler - nhà tương lai học người Mỹ - khẳng định: Thị trường là một mạng lưới trao đổi được ví như một tổng đài, mà ở đó, hàng hóa, dịch vụ (cũng như tin tức) sẽ tìm tới nơi có nhu cầu. Do đó, nó không chỉ thuộc về tư bản, mà thiết yếu cho cả xã hội công nghiệp xã hội chủ nghĩa, cũng như bất kỳ đâu có hệ thống công nghiệp quy mô lớn gắn với động cơ lợi nhuận(18).

Ba là, xã hội là điểm nổi bật trong mục tiêu phát triển của Việt Nam, do đó Đảng Cộng sản chủ trương kết hợp chặt chẽ các mục tiêu, chính sách kinh tế với các mục tiêu, chính sách xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững. Các vấn đề xã hội không phải đi sau kinh tế, mà giải quyết tốt các vấn đề xã hội cũng chính là tạo điều kiện, động lực cho tăng trưởng.

Bên cạnh đó, trong cuốn sách, Tổng Bí thư còn có những bài viết quan trọng về phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, như: xây dựng giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp thanh niên, lực lượng công an, quân đội lớn mạnh…, đồng thời nhấn mạnh cần phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam; trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam”; khơi dậy khát vọng hùng cường, thịnh vượng Việt Nam… để có thể xây dựng, phát triển thành công mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam./.

LHQ-ST