Thứ Ba, 1 tháng 4, 2025

Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam


Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, khẳng định: Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn, là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng[1].

Trong điều kiện hiện nay, nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam được cụ thể hóa trên các nội dung chủ yếu sau:

Về kinh tế, giai cấp công nhân là lực lượng tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đại hội XIII khẳng định: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn tới là tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng của tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Điều chỉnh, bổ sung, nâng cao chất lượng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển nền kinh tế, các ngành, lĩnh vực, các vùng phù hợp với thực tiễn đất nước và trình độ phát triển khoa học, công nghệ hiện đại trên thế giới. Đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng, phát triển, làm chủ công nghệ hiện đại; phát triển một số sản phẩm chủ lực có thương hiệu mạnh, có uy tín trong khu vực và trên thế giới.”[2]

Ba lĩnh vực mà quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần tập trung là: Xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương cơ cấu lại nông nghiệp, phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới theo hướng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh… Phát triển mạnh khu vực dịch vụ dựa trên nền tảng ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, nhất là các dịch vụ có giá trị gia tăng cao[3].

Về chính trị - xã hội, để tiếp tục hoàn thành sứ mệnh là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản, là giai cấp tiên phong trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và là lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp, đại đoàn kết toàn dân tộc, cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: 

Cùng với nhiệm vụ giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng thì  nhiệm vụ “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy bản chất giai cấp công nhân của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng” và “xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiệt với nhân dân”[4] là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến thành công của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, nhà ở, phúc lợi xã hội cho công nhân; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân[5].

Về văn hóa, tư tưởng, giai cấp công nhân là lực lượng quan trọng trong xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; chuyển dần từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Quá trình phát triển giai cấp công nhân Việt Nam là quá trình xây dựng hệ tư tưởng của giai cấp công nhân hiện đại, cách mạng và sáng tạo ngày càng giữ vai trò chủ đạo vững chắc. Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc có nội dung cốt lõi là xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, giáo dục đạo đức cách mạng, rèn luyện lối sống, tác phong công nghiệp, văn minh, hiện đại, xây dựng và hoàn thiện hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị và nhân cách con người Việt Nam. Giai cấp công nhân còn tham gia vào cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng lý luận để bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chống lại những quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, kiên định lý tưởng, mục tiêu và con đường cách mạng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Để thực hiên được sứ mệnh lịch sử này, giai cấp công nhân Việt Nam phải thường xuyên được giáo dục về ý thức giai cấp, bản lĩnh chính trị, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế, củng cố mối liên hệ mật thiết giữa giai cấp công nhân với dân tộc, đoàn kết giai cấp gắn liền với đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế. Đó chính là sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong thời đại hiện nay.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 28/01/2008 Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khóa X về “tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2008, tr. 1.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 122-123.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 123-125.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 111.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166. 

Phẩm chất và khả năng cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam

 


Phẩm chất của giai cấp công nhân Việt Nam

Giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp có trí tuệ, bản lĩnh, ý thức tổ chức kỷ luật cao. Giai cấp công nhân Việt Nam được trang bị lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong đấu tranh giành chính quyền, mặc dù bị kẻ thù tìm mọi cách đàn áp, thủ tiêu những người cộng sản vẫn giữ được bản lĩnh vững vàng, lãnh đạo cách mạng giành thắng lợi. Sau khi giành được chính quyền, Đảng phải chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành thắng lợi trước hai đế quốc lớn là Pháp và Mỹ, đánh bại âm mưu, hành động xâm lược ở biên giới phía Bắc và biên giới Tây Nam.

Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô, Đảng vẫn kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, tiến hành sự nghiệp đổi mới đất nước và đạt được thành tựu to lớn. Hiện nay, giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng đi đầu, xung kích trong sự nghiệp đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phấn đấu đến 2025 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp, đến năm 2030 trở thành nước công nghiệp hiện đại.

Giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để. Dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp có lợi ích đối kháng trực tiếp với giai cấp bóc lột cùng bè lũ tay sai và bị bóc lột nặng nề. Ngay từ khi ra đời giai cấp công nhân Việt Nam đã không ngừng đấu tranh chống giai cấp bóc lột và sớm tổ chức ra chính đảng của mình để lãnh đạo cách mạng, thực hiện sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Khả năng của giai cấp công nhân Việt Nam

Giai cấp công nhân Việt Nam có khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là mốc lịch sử đánh dấu bước phát triển mới về chất của giai cấp công nhân Việt Nam từ tự phát lên tự giác. Từ đây, giai cấp công nhân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng vươn lên và phát triển mọi mặt, từng bước giác ngộ và hiện thực hoá sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình. Cũng từ đây, giai cấp công nhân Việt Nam - thông qua đội tiên phong của mình là Đảng Cộng sản Việt Nam - bước lên vũ đài chính trị nắm quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Giai cấp công nhân Việt Nam có khả năng đoàn kết, tập hợp rộng rãi các giai tầng trong xã hội, xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Từ khi ra đời cho đến nay, lợi ích của giai cấp công nhân luôn gắn bó với lợi ích của toàn thể nhân dân lao động và toàn dân tộc. Làm cho sự nghiệp giải phóng của giai cấp công nhân gắn bó hữu cơ với sự nghiệp giải phóng dân tộc. Mối quan hệ giai cấp và dân tộc là điều kiện thuận lợi để giai cấp công nhân tập hợp được rộng rãi các giai cấp và tầng lớp nhân dân lao động khác của cả dân tộc, xây dựng nên khối liên minh công nông và khối đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp cách mạng của mình.

Đặc điểm giai cấp công nhân Việt Nam

 


Tại Hội nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, xác định: “Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp”[1]. Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời, phát triển gắn liền với chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Ngoài những đặc điểm chung của giai cấp công nhân thế giới, giai cấp công nhân Việt Nam còn có những đặc điểm riêng: Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời muộn hơn giai cấp công nhân quốc tế.

Cùng với chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam, giai cấp công nhân Việt Nam đã ra đời từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Nhưng do giai cấp công nhân Việt Nam được sinh ra ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, dưới ách thống trị của thực dân Pháp nên giai cấp công nhân phát triển chậm cả về số lượng và chất lượng. Mặc dù sinh trưởng ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, từ một nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, đa số là nông dân, nhưng lại được hình thành phát triển sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, được sự giúp đỡ của Quốc tế cộng sản, giai cấp công nhân Việt Nam sớm có chính Đảng của mình, luôn giữ vững được truyền thống, bản chất cách mạng, thống nhất về tư tưởng và tổ chức trong phạm vi cả nước.

Giai cấp công nhân Việt Nam sinh ra trong lòng một dân tộc có truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm.

Ra đời, tồn tại và phát triển trong cuộc đấu tranh chống tư bản thực dân đế quốc và phong kiến, trực tiếp đối kháng với tư bản thực dân Pháp để giành độc lập, chủ quyền, xóa bỏ ách áp bức bóc lột và thống trị thực dân, giai cấp công nhân Việt Nam đã từng bước thể hiện là lực lượng chính trị tiên phong để lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải quyết mâu thuẫn cơ bản giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc thực dân và phong kiến, mở đường cho sự phát triển của dân tộc trong thời đại cách mạng vô sản. Phẩm chất chính trị nổi bật của giai cấp công nhân Việt Nam không chỉ thể hiện ở ý thức giai cấp và lập trường chính trị mà còn thể hiện tinh thần dân tộc, gắn bó mật thiết với nhân dân, với dân tộc, có truyền thống yêu nước, đoàn kết và bất khuất chống xâm lược.

Giai cấp công nhân Việt Nam xuất thân chủ yếu từ nông dân.

Thành phần xuất thân của giai cấp công nhân chủ yếu từ giai cấp nông dân, nên có mối quan hệ tự nhiên mật thiết với giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác, cơ sở thuận lợi để xây dựng khối liên minh công – nông - trí thức. Từ khi ra đời đến nay lợi ích của giai cấp công nhân luôn gắn bó với lợi ích của nhân dân lao động và toàn thể dân tộc, làm cho sự nghiệp giải phóng của giai cấp công nhân gắn bó hữu cơ với sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, quá trình trí thức hóa giai cấp công nhân diễn ra mạnh mẽ, từng bước hình thành giai cấp công nhân trí thức Việt Nam.

Qua hơn 35 năm đổi mới, đẩy mạnh cộng nghiệp hóa, hiên đại hóa đất nước, giai cấp công nhân Việt Nam đã tăng nhanh về số lượng và chất lượng. Công nhân trí thức, nắm vững khoa học - công nghệ tiên tiến, công nhân trẻ được đào tạo nghệ theo chuẩn nghệ nghiệp, học vấn, văn hóa, được rèn luyện trong thực tiến sản xuất và thực tiễn xã hội. Trong môi trường kinh tế - xã hội đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng, trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, giai cấp công nhân Việt Nam đứng trước thời cơ phát triển và cả những nguy cơ, thách thức trong phát triển.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 28/01/2008 Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khóa X về “tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2008, tr. 1.

Vai trò của Đảng Cộng sản trong thực hiện sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân

 


Trong lịch sử xã hội có giai cấp, không một giai cấp nào giữ vai trò lãnh đạo xã hội mà lại không thông qua chính đảng của mình. Giai cấp công nhân phải có một đảng chính trị thật sự vững vàng, kiên định và sáng suốt, có đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn thể hiện lợi ích của giai cấp và toàn thể dân tộc mới có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử. Đảng Cộng sản là nhân tố giữ vai trò quyết định đối với việc thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân.

Đảng Cộng sản là lãnh tụ chính trị, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân.

Vai trò này của Đảng được quy định từ mối quan hệ khách quan vốn có giữa Đảng Cộng sản với giai cấp công nhân, trong đó giai cấp công nhân là cơ sở xã hội - giai cấp của Đảng Cộng sản, nơi xuất phát hình thành ra đội tiền phong của giai cấp và là nguồn bổ sung lực lượng bảo đảm cho Đảng Cộng sản tồn tại và phát triển về mọi mặt. Đảng Cộng sản giữ vai trò là hạt nhân lãnh đạo của giai cấp, là lãnh tụ chính trị, bộ tham mưu dẫn dắt, tập hợp và tổ chức giai cấp thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Đảng có trình độ lý luận và tổ chức cao hơn bộ phận còn lại của giai cấp để lãnh đạo giai cấp và dân tộc; là lực lượng đi đầu nắm bắt, tiếp thu những tinh hoa, trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân để định ra cương lĩnh, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đồng thời Đảng Cộng sản còn là một tổ chức thống nhất về ý chí, hành động, kỷ luật và đoàn kết để làm tròn vai trò của lãnh tụ chính trị, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân.

Đảng cộng sản ra đời làm chuyển biến phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân từ tự phát lên tự giác.

Có Đảng Cộng sản lãnh đạo, tổ chức, tuyên truyền và giáo dục giai cấp công nhân mới đạt tới trình độ tự giác bằng việc tiếp thu lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, làm cho phong trào của giai cấp công nhân vươn tới trình độ nhận thức lý luận và trở thành một phong trào chính trị. Trình độ lý luận được Đảng cộng sản trang bị cho giai cấp là nguồn định hướng, dẫn dắt toàn bộ giai cấp công nhân trong quá trình đấu tranh cách mạng, cho phép giai cấp công nhân nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò của mình trong xã hội. Qua đó, làm cho phong trào công nhân ngày càng phát triển với sự tăng thêm của sức mạnh đoàn kết giai cấp, đoàn kết dân tộc, nhận rõ mục tiêu, con đường và biện pháp đúng đắn để giải phóng giai cấp, dân tộc, xã hội và nhân loại.

Đảng Cộng sản tuyên truyền, vận động, thu hút tập hợp, tổ chức các giai tầng xã hội khác, tạo nên sức mạnh tổng hợp để giai cấp công nhân thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình.

Để thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân phải tập hợp, đoàn kết các giai tầng xã hội khác, nhất là giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức. Liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, do giai cấp công nhân lãnh đạo là một tất yếu, một vấn đề có tính quy luật của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Liên minh giai cấp này được thực hiện bằng đường lối và chính sách đoàn kết. Đó là phương thức tập hợp lực lượng cách mạng và phát huy vai trò tiên phong của giai cấp công nhân, phát huy ảnh hưởng của Đảng Cộng sản trong xã hội để thực hiện sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân.

Đảng Cộng sản triệt để đấu tranh, loại trừ chủ nghĩa cơ hội, xét lại và các khuynh hướng sai trái dưới mọi hình thức trong phong trào công nhân.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế vừa phải tập trung đấu tranh chống lại giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản để thực hiện mục tiêu cuối cùng giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, vừa phải tiến hành cuộc đấu tranh quyết liệt, phức tạp và lâu dài chống chủ nghĩa chống cộng, chủ nghĩa cơ hội, xét lại và các khuynh hướng sai trái dưới mọi hình thức trong phong trào công nhân, bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin - nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là khách quan, nhưng vô cùng khó khăn, phức tạp và lâu dài, với những nhiệm vụ nặng nề và phải trải qua nhiều giai đoạn cách mạng mới hoàn thành. Chỉ dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản với đường lối chiến lược, sách lược, với những phương hướng, biện pháp đúng đắn trong từng giai đoạn cụ thể, mới dẫn dắt giai cấp công nhân đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, làm cho sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trở thành hiện thực.

Xu thế các nước xã hội chủ nghĩa, các đảng cộng sản và công nhân, các lực lượng cách mạng, tiến bộ kiên trì đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

 


Phong trào cộng sản quốc tế có những dấu hiệu phục hồi rõ nét và vẫn là một lực lượng chính trị to lớn trong thời đại ngày nay. Các đảng cộng sản cầm quyền đã vượt qua được những thử thách khắc nghiệt nhất, tiếp tục lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cải cách và đổi mới. Các đảng cộng sản chưa cầm quyền có những điều chỉnh đường lối chiến lược và sách lược, đấu tranh bằng nhiều hình thức đa dạng, đổi mới tập hợp lực lượng, cải thiện vai trò, vị trí trong đời sống chính trị đất nước.

Sự củng cố, lớn mạnh của các đảng cộng sản cầm quyền và sự phục hồi nhất định của các đảng cộng sản ở các nước tư bản phát triển và các nước đang phát triển, đặc biệt là sự phát triển của trào lưu cánh tả Mỹ Latinh đang mở ra triển vọng mới cho phong trào cộng sản, công nhân quốc tế trong thế kỷ XXI. Mặc dù chủ nghĩa xã hội đang gặp khó khăn rất lớn do sự chống phá của các thế lực thù địch, nhưng các nước xã hội chủ nghĩa, các đảng cộng sản và công nhân quốc tế vẫn là lực lượng đi đầu, là nòng cốt trong cuộc đấu tranh chống lại những thế lực gây chiến, bảo vệ hòa bình thế giới cũng như sự phát triển và tiến bộ của nhân loại.

Các dân tộc nâng cao ý thức độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường.

 


Đối với các nước đang phát triển, do sự phụ thuộc vào các nước tư bản phát triển về khoa học, công nghệ và vốn, nên họ đang đứng trước những thách thức lớn. Việc nâng cao ý thức độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, đấu tranh chống sự áp đặt và can thiệp của nước ngoài là một xu thế tất yếu trong bối cảnh quốc tế hiện nay. Cùng với việc khắc phục khó khăn để phát triển kinh tế - xã hội, nhiều nước đang cố gắng giữ ổn định về chính trị, tạo môi trường hoà bình, thực hiện chính sách hoà giải, hoà hợp dân tộc, chủ động hội nhập quốc tế, góp phần xây dựng một trật tự kinh tế quốc tế công bằng, bình đẳng và hợp lý.

Các dân tộc ngày càng hiểu rõ giá trị của độc lập, tự chủ, tự cường. Bài học thực tiễn sâu sắc là mất độc lập, tự chủ, đất nước thường rơi vào cảnh đói nghèo, bất công, vị thế trên trường quốc tế giảm sút. Đồng thời, những tấm gương về một dân tộc nhỏ bé đã chủ động, sáng tạo đấu tranh giành độc lập, tự chủ và phát triển đang cổ vũ cho các dân tộc khác noi theo. Hiện nay, các dân tộc đang tích cực đấu tranh đòi độc lập, tự chủ chống lại mưu đồ áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Tuy gặp nhiều khó khăn, song các nước khác vẫn quyết tâm chống lại các hình thức can thiệp, áp đặt của các nước tư bản, đòi thiết lập trật tự thế giới mới công bằng, bình đẳng, giữ gìn độc lập tự chủ.

Tính tất yếu ra đời của Đảng Cộng sản

 


Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là khách quan, song để biến khả năng khách quan đó thành hiện thực phải thông qua nhân tố chủ quan, trong đó, việc tổ chức ra một chính Đảng mác xít chân chính, trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân là nhân tố quyết định nhất.

Nền sản xuất đại công nghiệp ngày càng phát triển hiện đại, thì năng lực lao động trí tuệ và trình độ mọi mặt của giai cấp công nhân càng được nâng cao. Trong xu thế phát triển khách quan ấy đã quy định giai cấp công nhân là lực lượng xã hội có đủ khả năng để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, đại biểu cho xu hướng phát triển của lịch sử vượt qua giới hạn của chủ nghĩa tư bản để tiến lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới. Với tư cách là chủ thể của sứ mệnh lịch sử, giai cấp công nhân cần phải đạt tới trình độ giác ngộ cao về chính trị. Phẩm chất này được thể hiện trước hết ở trình độ giác ngộ về giai cấp. Giai cấp công nhân phải hiểu biết ở tầm lý luận về “mình là gì và cần phải làm gì với lịch sử” được tập trung trong nhận thức về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Sự phát triển của phong trào công nhân phụ thuộc vào sự truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin trong phong trào công nhân. Nó sẽ đạt tới trình độ tự giác chỉ khi phong trào công nhân thực sự là một phong trào chính trị có mục tiêu đấu tranh thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, việc giai cấp công nhân tổ chức được một chính đảng của mình là dấu hiệu đã trở thành giai cấp tự giác và trưởng thành về chính trị, tư tưởng và tổ chức để thực hiện sứ mệnh lịch sử. Về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên. Về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản[1].

Quá trình ra đời của Đảng Cộng sản là quá trình thâm nhập chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân, làm cho một bộ phận công nhân tiên tiến nắm được lý luận, giác ngộ sứ mệnh lịch sử của giai cấp, dẫn tới sự hình thành chính Đảng cách mạng - lãnh tụ chính trị, bộ tham mưu chiến đấu, đội tiên phong của giai cấp công nhân. C.Mác đã nhấn mạnh: “Trong cuộc đấu tranh của mình chống lại quyền lực liên hợp của giai cấp hữu sản, giai cấp vô sản chỉ khi nào tự tổ chức được thành một chính đảng độc lập để đối lập với tất cả mọi chính đảng cũ do các giai cấp hữu sản lập ra, thì mới có thể hành động với tư cách giai cấp được”[2]. V. Lênin cũng đã chỉ ra rằng, Đảng Cộng sản là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân. Đó là quy luật chung, phổ biến cho sự ra đời Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân trên thế giới. Tuy nhiên, con đường kết hợp này lại phụ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể của từng nước. Theo V.Lênin, trong tất cả các nước, đã có thời kỳ phong trào công nhân và chủ nghĩa xã hội tồn tại biệt lập với nhau, mỗi bên đi theo con đường riêng biệt của mình và trong tất cả nước, sự biệt lập ấy đã làm yếu cả chủ nghĩa xã hội lẫn phong trào công nhân. Trong tất cả nước, chỉ có sự kết hợp chủ nghĩa xã hội với phong trào công nhân đem lại cơ sở vững vàng cho cả hai bên. Nhưng ở mỗi nước, sự kết hợp chủ nghĩa xã hội với phong trào công nhân đã được diễn ra với tính chất lịch sử, theo con đường riêng biệt, phụ thuộc vào những điều kiện địa phương và thời gian. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, ở Việt Nam “Chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương vào đầu năm 1930”[3].



[1] C.Mác và Ph.Ăng ghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 614-615.

[2] C.Mác và Ph.Ăng ghen, Toàn tập, tập 18, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 203.

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 406.

Thực tiễn lịch sử chứng minh sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân


Ngay từ khi ra đời, giai cấp công nhân đã không ngừng đấu tranh chống lại giai cấp tư sản, chủ nghĩa tư bản. Từ ba cuộc đấu tranh độc lập đầu tiên của  công nhân ở Liông Pháp (1831, 1834), Xilêdi Đức (1844), phong trào Hiến chương ở Anh (1835-1848), đến Công xã Pari 1871. Đặc biệt, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917 thành công đã chứng minh lý luận về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là đúng đắn.

Hiện nay, các thế lực thù địch và cơ hội cho rằng, các nước tư bản phát triển, giai cấp công nhân đã trung lưu hóa, không còn bị bóc lột như trước nữa, cho nên giai cấp công nhân không còn sứ mệnh lịch sử toàn thế giới. Thực tế cho thấy, ở những nước tư bản phát triển, đời sống của một bộ phận giai cấp công nhân đã được cải thiện. Song, điều đó không có nghĩa giai cấp công nhân ở các nước tư bản không còn bị bóc lột hoặc bị bóc lột không đáng kể. Tình trạng công nhân thất nghiệp, thiếu nhà ở, nghèo khổ, mù chữ vẫn là một thực tế mà chủ nghĩa tư bản không thể nào khắc phục nổi. Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân vẫn diễn ra với nhiều nội dung, hình thức phong phú khác nhau.

Trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đến mọi mặt của đời sống xã hội, không ít kẻ cơ hội hoặc chống cộng đã công khai cho rằng, thời đại ngày nay là thời đại của “văn minh trí tuệ”, của “kinh tế tri thức”, do đó trí thức chứ không phải giai cấp công nhân mới là lực lượng tiên phong có vai trò lãnh đạo cách mạng trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới. Đó là những quan điểm sai lầm cả về lý luận và thực tiễn. Chúng ta luôn khẳng định trí thức có vai trò rất quan trọng trong mọi thời đại, là lực lượng xã hội đi đầu trong việc phát hiện các lý thuyết khoa học và công nghệ; nâng cao trình độ dân trí trong xã hội, chuyển giao khoa học công nghệ mới. Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, trí thức có vai trò rất quan trọng, song trí thức không thể đóng vai trò lãnh đạo thay thế giai cấp công nhân. Bởi vì, trí thức chưa bao giờ là một giai cấp, mà chỉ là một tầng lớp xã hội đặc biệt và không thuần nhất về nhiều mặt. Họ không đại biểu cho một phương thức sản xuất mới, không phải là lực lượng kinh tế, chính trị độc lập trong xã hội. Trí thức luôn chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng của giai cấp đã đào tạo và nuôi dưỡng. Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, trí thức không có lợi ích đối kháng trực tiếp với giai cấp tư sản. Mặc dù trong chủ nghĩa tư bản họ là tầng lớp lao động làm thuê, nhưng là tầng lớp làm thuê đặc biệt, được giai cấp tư sản nuôi dưỡng sử dụng, trong đó có bộ phận được chế độ tư bản chủ nghĩa ưu đãi, nên lợi ích của tầng lớp trí thức gắn liền với giai cấp tư sản. Trong thực tiễn cách mạng trên thế giới, chưa bao giờ trí thức lãnh đạo thành công một cuộc cách mạng xã hội nào. Họ có đấu tranh chống bọn tư sản, nhưng cuộc đấu tranh đó cũng không vượt khỏi khuôn khổ hiến pháp, pháp luật của nhà nước tư bản. Vì vậy, những cuộc đấu tranh của họ không bao giờ đi đến mục tiêu cuối cùng là giải phóng toàn thể nhân dân lao động trên thế giới.

  

Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam

 


Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam phù hợp với lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về hình thức quá độ bỏ qua.

Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chứng minh rằng, loài người nhất thiết phải trải qua năm hình thái kinh tế - xã hội. Nhưng do những điều kiện khách quan, chủ quan, bên trong và bên ngoài chi phối, có những nước có thể bỏ qua một hoặc vài hình thái kinh tế - xã hội trong tiến trình phát triển. V.I.Lênin đã chỉ ra: “Với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến, các nước lạc hậu có thể tiến tới chế độ Xô viết và qua những giai đoạn phát triển nhất định tiến tới chủ nghĩa cộng sản không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”3. Do đó, Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là phù hợp với lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về hình thức quá độ bỏ qua.

Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam phù hợp với xu thế phát triển của thời đại hiện nay.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng khẳng định đưa đất nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội và nhấn mạnh: “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội1. Thời đại mà chúng ta đang sống là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới mở đầu bằng Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga vĩ đại; sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại với những thời cơ và thách thức lớn đang được triển khai trên toàn thế giới. Sự giúp đỡ có hiệu quả cả về vật chất lẫn tinh thần của những nước xã hội chủ nghĩa anh em cũng như sự cổ vũ của phong trào đấu tranh của nhân dân tiến bộ trên thế giới… mang lại cho chúng ta không ít những thuận lợi cho sự phát triển của đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Quá độ lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Nguyễn Ái Quốc, sau thời gian bôn ba tìm đường cứu nước; từ thực tiễn cách mạng thế giới và tiếp cận chủ nghĩa Mác - Lênin, đã khẳng định: con đường cách mạng Việt Nam là con đường cách mạng vô sản. Đi theo con đường cách mạng vô sản, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta tổ chức thành công Cách mạng Tháng Tám, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đưa miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội từ năm 1954 và cả nước sau năm 1975. Kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng vô sản đã động viên được sức mạnh to lớn của toàn dân ; tranh thủ được sự ủng hộ quốc tế đưa dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Nhất là sau hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng ta khẳng định: “Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử là kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt nam và xu thế phát triển của thời đại”2.

Quá độ lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện, khả năng của Việt Nam.

Mặc dù từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến, với lực lượng sản xuất thấp kém, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề; nhưng Việt Nam có đủ khả năng và điều kiện để thực hiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Về điều kiện, khả năng bên trong, chúng ta có Đảng với đường lối, phương pháp cách mạng đúng đắn; có sự quản lý của Nhà nước của dân, do dân, vì dân; nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc được củng cố, phát triển; nhân dân thực sự làm chủ xã hội, khối đại đoàn kết trên nền tảng liên minh công - nông - trí thức được tăng cường; đất nước hoà bình, ổn định... đó là nguồn nội lực có ý nghĩa quyết định. Bên cạnh đó, những điều kiện, khả năng bên ngoài, như sự phục hồi và tạo bước tiến mới của chủ nghĩa xã hội hiện thực; sự phát triển của khoa học và công nghệ hiện đại; xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển, xu thế toàn cầu hóa kinh tế. Những điều kiện, khả năng đó, thông qua mở rộng hợp tác quốc tế, chúng ta có thể tận dụng để phát triển đất nước, thực hiện thành công quá độ lên chủ nghĩa xã hội.



3 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 41, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 295.

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 69.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia -  Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 104.

Chủ nghĩa cộng sản (giai đoạn cao)

 


Xã hội cộng sản chủ nghĩa có đặc trưng cơ bản:Thực hiện sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất.Chủ nghĩa xã hội được xây dựng thành công, đưa lại sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất; theo đó, các hình thức sở hữu tư nhân, tập thể... không còn phù hợp. Cùng với đó là tính tự giác, năng lực tổ chức quản lý, khai thác tư liệu sản xuất của con người đạt trình độ cao. Vì vậy, quan hệ sản xuất chỉ có duy nhất hình thức sở hữu toàn dân, tức là toàn bộ tư liệu sản xuất đều là của chung của toàn xã hội. Thực hiện nguyên tắc: làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu. Dưới chủ nghĩa cộng sản, trình độ khoa học - kỹ thuật phát triển rất cao, xã hội được tổ chức chặt chẽ, người lao động có trình độ, năng lực và hoàn toàn tự giác, vì lợi ích chung của cộng đồng, lao động trở thành không những là một phương tiện để sinh sống mà bản thân nó còn là một nhu cầu bậc nhất của đời sống. Do đó, của cải được làm ra vô cùng dồi dào, đáp ứng mọi nhu cầu của nhân dân: Khi đó người ta mới có thể vượt hẳn ra khỏi giới hạn chật hẹp của pháp quyền tư sản và xã hội mới có thể ghi trên lá cờ của mình: làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu. Tự quản xã hội thay cho nhà nước, xã hội không còn phân chia giai cấp, không có sự đối lập giữa lao động trí óc và chân tay.

Xã hội cộng sản chủ nghĩa, không còn sự phân chia giai cấp; nhà nước tự tiêu vong, trở thành một cơ quan chuyên lo việc tổ chức đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Người dân đều có ý thức thức tự giác, trách nhiệm cao, không cần tới sự quản lý, can thiệp của nhà nước, tự quản xã hội thay cho nhà nước, như V.I.Lênin đã chỉ ra: “Người ta sẽ dần dần quen với việc tôn trọng các quy tắc sơ thiểu của đời sống chung trong xã hội”1. Cùng với đó, trình độ tri thức của con người phát triển, phương pháp làm việc khoa học... theo đó sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc và lao động chân tay, sự chênh lệch về đời sống vật chất và văn hóa giữa các dân tộc đều được xóa bỏ.

 Con người được giải phóng và phát triển toàn diện.Xã hội cộng sản chủ nghĩa, kết hợp hài hòa giữa phát triển chung của toàn xã hội với việc chăm lo nâng cao khả năng sáng tạo, khơi dậy tư tưởng, tâm hồn cao đẹp của từng cá nhân. Khi đó con người được giải phóng hoàn toàn và được phát triển toàn diện “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”2; nhân loại chuyển từ “vương quốc của tất yếu sang vương quốc của tự do”; trí tuệ, năng lực và những đức tính tốt đẹp của con người được nảy nở, con người có điều kiện phát triển toàn diện về phẩm chất, năng lực, luôn sẵn sàng mang hết tài năng, trí tuệ cống hiến cho xã hội.



1 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 110.

2 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2002, tr. 286.

Khả năng cách mạng quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

 


Trong xã hội, giai cấp công nhân có lợi ích cơ bản phù hợp và thống nhất với lợi ích của quần chúng nhân dân lao động và các giai tầng xã hội khác. Chỉ có họ mới có khả năng đại biểu cho quyền lợi, bảo vệ lợi ích chính đáng của toàn bộ quần chúng lao động; có khả năng đoàn kết thống nhất giai cấp, giác ngộ về địa vị sứ mệnh lịch sử của mình và lôi cuốn, tập hợp, tổ chức quần chúng tham gia vào cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản. Có khả năng lãnh đạo và đi tiên phong trong các cuộc đấu tranh của quần chúng lao động và toàn dân tộc chống áp bức, bóc lột cũng như trong sự nghiệp cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Khả năng đoàn kết thống nhất toàn thể giai công nhân các nước và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới trên tinh thần chủ nghĩa quốc tế vô sản thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng.

Đặc điểm quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

 


Giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến nhất. Giai cấp công nhân là sản phẩm của nền đại công nghiệp, đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến, cho phương thức sản xuất tiến bộ quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội. Trong cuộc đấu tranh giải phóng mình và giải phóng xã hội khỏi mọi áp bức, bóc lột, xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, giai cấp công nhân có hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin soi đường dẫn lối. Vì vậy, họ ngày càng trưởng thành về ý thức chính trị, nhận thức sâu sắc vai trò và trọng trách của giai cấp mình đối với lịch sử. Đội tiên phong của giai cấp công nhân - đảng mác xít chân chính là tổ chức tập hợp những đại biểu ưu tú, tiêu biểu nhất, giác ngộ cách mạng nhất của giai cấp để lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi hoàn toàn.

Giai cấp công nhân có tinh thần cách mạng triệt để nhất, có ý thức tổ chức kỷ luật cao nhất. Dưới chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân bị giai cấp tư sản bóc lột nặng nề, nên có lợi ích đối kháng trực tiếp với giai cấp tư sản. Xét về bản chất, giai cấp công nhân có tinh thần cách mạng triệt để, tiến hành đến cùng cuộc đấu tranh chống lại chế độ tư bản chủ nghĩa. Bên cạnh đó, giai cấp công nhân là con đẻ của nền đại công nghiệp, được đại công nghiệp rèn luyện những phẩm chất đặc biệt về tính tổ chức, tính kỷ luật, tinh thần hợp tác và tâm lý lao động công nghiệp, đồng thời tổ chức họ thành một lực lượng xã hội to lớn.

Giai cấp công nhân có tinh thần đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế rộng rãi nhất. Sự thống nhất cơ bản về lợi ích của giai cấp công nhân với lợi ích của nhân dân lao động tạo ra điều kiện để hiện thực hóa đặc điểm này. Trong xã hội hiện đại, giai cấp công nhân cũng là đại biểu cho lợi ích chân chính của dân tộc. Phấn đấu “trở thành giai cấp dân tộc” vươn lên lãnh đạo và cùng với dân tộc để giải quyết những nhiệm vụ lịch sử trong quá trình phát triển của quốc gia dân tộc. Những phẩm chất đó của giai cấp công nhân ngày càng được tôi luyện, củng cố, phát triển cùng với sự phát triển của nền sản xuất đại công nghiệp và cuộc đấu tranh của họ chống chế độ tư bản chủ nghĩa.

Nội dung chính trị của cách mạng xã hội chủ nghĩa

 


Đây là nội dung có vị trí quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân. Bởi vì, cách mạng về chính trị là cơ sở và tiền đề cho việc thực hiện các nội dung cách mạng về kinh tế, tư tưởng và văn hóa. Chính quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội, là công cụ thống trị xã hội, duy trì quyền lực của giai cấp thống trị để cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới: “Vấn đề chính quyền là vấn đề người ta không thể lẩn tránh được, cũng không thể gác lại, vì chính đó là vấn đề cơ bản, vấn đề quyết định tất cả mọi cái trong sự phát triển của cách mạng[1].

Nội dung cách mạng xã hội chủ nghĩa về chính trị là lật đổ quyền thống trị của giai cấp tư sản, giành quyền lãnh đạo xã hội về giai cấp công nhân, giải phóng nhân dân lao động khỏi địa vị bị áp bức, bóc lột lên địa vị làm chủ nhà nước, làm chủ xã hội. Sau khi giành được chính quyền nhà nước, giai cấp công nhân không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt cho nhân dân lao động, bảo đảm cho họ thực hiện quyền làm chủ xã hội, thực hiện các quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Nhà nước chuyên chính vô sản phải thường xuyên được củng cố vững chắc, không chia sẻ quyền lực chính trị của giai cấp công nhân cho bất kỳ một lực lượng nào, từng bước xây dựng chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa.



[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 34, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 268.

Tính chất của cách mạng xã hội chủ nghĩa

 


Tính chất toàn diện, triệt để, gay go, quyết liệt, phức tạp và lâu dài. Cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự phản ánh khách quan tính chất cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. Về nội dung, cách mạng xã hội chủ nghĩa diễn ra trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và tư tưởng của đời sống xã hội. Về phương thức, cách mạng xã hội chủ nghĩa mang tính tổng hợp cả về chính trị, vũ trang, hòa bình, bạo lực. Nếu như các cuộc cách mạng xã hội trước đây chỉ là sự thay thế chế độ áp bức, bóc lột này bằng chế độ áp bức, bóc lột khác tinh vi hơn, thì cách mạng xã hội chủ nghĩa đoạn tuyệt triệt để chế độ tư hữu, loại trừ tận gốc mọi áp bức, bóc lột, bất công. Cách mạng xã hội chủ nghĩa phản ánh tính chất gay go, quyết liệt, phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản cùng các thế lực thù địch, thậm chí có lúc có những bước thụt lùi tạm thời. Đây là cuộc đấu tranh giai cấp nhằm giải quyết vấn đề “ai thắng ai” giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội. Cách mạng xã hội chủ nghĩa chỉ hoàn thành khi tạo lập được đầy đủ, vững chắc các yếu tố bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội có thể tự phát triển trên cơ sở của chính nó.

Tính chất nhân dân. Cách mạng xã hội chủ nghĩa huy động được đông đảo quần chúng tham gia không chỉ trong giành chính quyền mà cả trong cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới, thông qua vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân. Đồng thời, đem lại lợi ích chính đáng cho đại đa số quần chúng nhân dân lao động, đáp ứng nguyện vọng giải phóng nhân dân lao động khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất công của chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa: “Tất cả những phong trào lịch sử, từ trước đến nay, đều là do thiểu số thực hiện, hoặc là mưu lợi ích cho thiểu số. Phong trào vô sản là phong trào độc lập của khối đại đa số, mưu lợi ích cho khối đại đa số[1]. Điều đó xuất phát từ bản chất, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và sự thống nhất về lợi ích của giai cấp công nhân với đông đảo nhân dân lao động.

Tính chất quốc tế. Cách mạng xã hội chủ nghĩa do giai cấp công nhân lãnh đạo khi giành được thắng lợi sẽ ảnh hưởng to lớn đến xu hướng vận động, phát triển của nhân loại tiến bộ. Nó sẽ thu hẹp phạm vi tồn tại thực tế của chủ nghĩa tư bản, từng bước hoàn thành sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân là xoá bỏ chủ nghĩa tư bản và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới. Đồng thời, sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở mỗi nước muốn giành được thắng lợi phải có sự giúp đỡ của giai cấp công nhân, nhân dân lao động tiến bộ trên thế giới cả về vật chất và tinh thần: “Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc”[2]. Cách mạng mỗi nước là một bộ phận của cách mạng thế giới, kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp vô sản: “Tư bản là một lực lượng quốc tế. Muốn thắng nó, cần phải có sự liên minh quốc tế, tình anh em quốc tế của công nhân”[3].



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 611.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 611.

[3] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 40, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 49.

Địa vị kinh tế - xã hội quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

 


Địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp công nhân gắn liền với lực lượng sản xuất tiên tiến dưới chủ nghĩa tư bản. Giai cấp công nhân là “sản phẩm của nền đại công nghiệp”[1] và là chủ thể của quá trình sản xuất vật chất hiện đại. Khi nền đại công nghiệp càng phát triển thì giai cấp công nhân cũng phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Lực lượng sản xuất càng phát triển, mang tính xã hội hoá cao càng mâu thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Mâu thuẫn đó được biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản, tất yếu dẫn đến cuộc cách mạng xã hội do giai cấp công nhân tiến hành để xoá bỏ sự thống trị của giai cấp tư sản và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định: “… cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, chính cái nền tảng trên đó giai cấp tư sản đã sản xuất và chiếm hữu sản phẩm của nó, đã bị phá sập dưới chân giai cấp tư sản. Trước hết, giai cấp tư sản sản sinh ra những người đào huyệt chôn chính nó. Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều tất yếu như nhau”[2].

Trong chủ nghĩa tư bản, xét từ địa vị chính trị, giai cấp công nhân là đối tượng bị bóc lột trực tiếp và nặng nề nhất nên họ có lợi ích đối kháng với giai cấp tư sản. C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng”[3]. Giai cấp công nhân là giai cấp cách mạng triệt để nhất trong tất cả các giai cấp đối lập với giai cấp tư sản, họ có tinh thần và ý chí quyết tâm chiến đấu đến cùng cho sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại khỏi mọi áp bức, bất công xã hội.

Sau khi giành được chính quyền, giai cấp công nhân đại biểu cho phương thức sản xuất mới, là lực lượng xã hội duy nhất có khả năng lãnh đạo và tổ chức các giai cấp và tầng lớp nhân dân lao động xây dựng xã hội mới, phát triển lực lượng sản xuất, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Tạo ra một phương thức sản xuất mới cao hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa cả về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất cũng như sự thống nhất biện chứng của hai lĩnh vực ấy trong phương thức sản xuất tiến bộ nhất trong lịch sử nhân loại.

Hiện nay, trước những tác động của các nhân tố thời đại, sự điều chỉnh, thích nghi của chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân vẫn là lực lượng có lợi ích căn bản đối lập với lợi ích giai cấp tư sản, lợi ích giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích dân tộc và nhân dân lao động tiến bộ. Chính địa vị kinh tế - xã hội trên đây làm cho giai cấp công nhân có đầy đủ những đặc điểm và khả năng để trở thành giai cấp lãnh đạo cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa giành thắng lợi.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 610.

[2] C.Mác và Ph.Ăng ghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 613.

[3] C.Mác và Ph.Ăng ghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 610.

 

Mâu thuẫn giữa các nước đang phát triển và chậm phát triển với các nước tư bản phát triển trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc, ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội.

 


Mâu thuẫn này hình thành và phát triển bắt đầu từ khi chủ nghĩa tư bản chuyển thành chủ nghĩa đế quốc, tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa. Lúc đầu là mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với các nước đế quốc thực hiện chính sách thực dân. Sau khi phong trào giải phóng dân tộc làm tan rã chủ nghĩa thực dân kiểu cũ, các nước giành được độc lập dân tộc về chính trị thì mâu thuẫn này phát triển thành mâu thuẫn giữa chủ nghĩa thực dân mới với nền độc lập dân tộc thực sự và nhu cầu bình đẳng và phát triển của các nước. Hiện nay, hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ bị xoá bỏ, nhưng sự độc lập về chính trị của các nước này chưa mang lại ngay phát triển phồn vinh và bình đẳng trong quan hệ quốc tế. Nhiều quốc gia độc lập đi lên từ một nền kinh tế thấp kém, xã hội nghèo nàn, lạc hậu nên vẫn chịu cảnh lệ thuộc vào các nước tư bản phát triển về vốn, khoa học, công nghệ.

Mâu thuẫn giữa các nước đang phát triển và các nước tư bản phát triển ngày càng gay gắt hơn. Vì đang chiếm ưu thế vượt trội trong cuộc cạnh tranh kinh tế gay gắt, nên các nước tư bản phát triển thu được nhiều lợi nhuận; còn các nước đang phát triển và chậm phát triển bị thua thiệt, khoảng cách giàu nghèo giữa các nước phát triển và chậm phát triển càng lớn. Thông qua chính sách đầu tư chọn lọc, trao đổi không bình đẳng, chuyển giao công nghệ, viện trợ làm cho các nước đang phát triển và chậm phát triển từ lệ thuộc về kinh tế, dẫn đến lệ thuộc về chính trị; trở thành con nợ, thành “bãi thải” công nghiệp của các nước tư bản phát triển.

Các nước chậm phát triển và đang phát triển đang tiến hành cuộc đấu tranh khó khăn, phức tạp để chống lại các nước tư bản phát triển, đòi độc lập và bình đẳng thực sự, chống can thiệp, xâm lược. Dưới tác động của cách mạng khoa học và công nghệ, mâu thuẫn này phát triển gay gắt giữa chính sách cường quyền, áp đặt, gây sức ép của chủ nghĩa đế quốc mà đại diện là các tập đoàn tư bản độc quyền, các công ty xuyên quốc gia, các trung tâm kinh tế tư bản chủ nghĩa với yêu cầu độc lập về kinh tế, độc lập thực sự và nhu cầu giải quyết các vấn đề nóng bỏng của các dân tộc như dân chủ, nhân quyền, hòa bình, ổn định, khắc phục nghèo đói, bệnh tật và đặc biệt là sự tụt hậu xa hơn về kinh tế, vấn đề lựa chọn con đường phát triển phù hợp với điều kiện của từng nước

Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong thời đại hiện nay. Đây là mâu thuẫn giữa hai giai cấp có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau nhưng đối lập nhau về lợi ích. Đó là mâu thuẫn giữa bóc lột và bị bóc lột. Giai cấp tư sản luôn tìm mọi cách để tối đa hóa lợi nhuận bằng cách bóc lột giá trị thặng dư do giai cấp công nhân tạo ra. Ngược lại, giai cấp công nhân tìm mọi cách để đấu tranh chống lại giai cấp tư sản. Sự phát triển của mâu thuẫn này là biểu hiện về mặt xã hội của mâu thuẫn trong lĩnh vực kinh tế, đó là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất có tính chất và trình độ xã hội hóa ngày càng cao với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về những tư liệu sản xuất chủ yếu. Mâu thuẫn này biểu hiện đa dạng và phức tạp ở nhiều nước khác nhau. Ở các nước tư bản chủ nghĩa, đó là mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản. Ở các nước đang phát triển khác, đó là mâu thuẫn giữa các nhà tư bản với người lao động trong các thành phần kinh tế tư bản tư nhân, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Ở các nước tư bản chủ nghĩa, mục tiêu đấu tranh của giai cấp công nhân là vươn lên lật đổ sự thống trị về chính trị của giai cấp tư sản. Ở các nước đang quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân sử dụng quyền làm chủ của mình, thông qua hệ thống chính trị để điều chỉnh quan hệ lợi ích giữa tư bản và lao động trong các thành phần kinh tế tư bản tư nhân. Để xoa dịu mâu thuẫn, giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản đã có sự điều chỉnh, thích nghi trên nhiều phương diện, khiến cho một bộ phận giai cấp công nhân lãng quên mục tiêu cách mạng bằng những lợi ích kinh tế trước mắt. Điều đó khiến cho mâu thuẫn giữa tư bản và lao động trở nên rất phức tạp, nó không mất đi, nhưng cũng chưa đủ điều kiện để có thể phát triển đến chín muồi và bùng nổ cách mạng xã hội như lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định. Về bản chất, sự điều chỉnh của giai cấp tư sản thực chất là thủ đoạn lừa bịp giai cấp công nhân. Mâu thuẫn giữa lao động và tư bản vẫn là mâu thuẫn cơ bản tồn tại trong giai đoạn hiện nay khi tư bản độc quyền xuyên quốc gia, các nước tư bản phát triển đang áp đặt, khống chế đối với giai cấp công nhân và nhân dân lao động các nước.

Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong thời đại hiện nay.

Đây là mâu thuẫn giữa hai giai cấp có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau nhưng đối lập nhau về lợi ích. Đó là mâu thuẫn giữa bóc lột và bị bóc lột. Giai cấp tư sản luôn tìm mọi cách để tối đa hóa lợi nhuận bằng cách bóc lột giá trị thặng dư do giai cấp công nhân tạo ra. Ngược lại, giai cấp công nhân tìm mọi cách để đấu tranh chống lại giai cấp tư sản. Sự phát triển của mâu thuẫn này là biểu hiện về mặt xã hội của mâu thuẫn trong lĩnh vực kinh tế, đó là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất có tính chất và trình độ xã hội hóa ngày càng cao với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về những tư liệu sản xuất chủ yếu.

Mâu thuẫn này biểu hiện đa dạng và phức tạp ở nhiều nước khác nhau. Ở các nước tư bản chủ nghĩa, đó là mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản. Ở các nước đang phát triển khác, đó là mâu thuẫn giữa các nhà tư bản với người lao động trong các thành phần kinh tế tư bản tư nhân, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Ở các nước tư bản chủ nghĩa, mục tiêu đấu tranh của giai cấp công nhân là vươn lên lật đổ sự thống trị về chính trị của giai cấp tư sản. Ở các nước đang quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân sử dụng quyền làm chủ của mình, thông qua hệ thống chính trị để điều chỉnh quan hệ lợi ích giữa tư bản và lao động trong các thành phần kinh tế tư bản tư nhân.

Để xoa dịu mâu thuẫn, giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản đã có sự điều chỉnh, thích nghi trên nhiều phương diện, khiến cho một bộ phận giai cấp công nhân lãng quên mục tiêu cách mạng bằng những lợi ích kinh tế trước mắt. Điều đó khiến cho mâu thuẫn giữa tư bản và lao động trở nên rất phức tạp, nó không mất đi, nhưng cũng chưa đủ điều kiện để có thể phát triển đến chín muồi và bùng nổ cách mạng xã hội như lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định. Về bản chất, sự điều chỉnh của giai cấp tư sản thực chất là thủ đoạn lừa bịp giai cấp công nhân. Mâu thuẫn giữa lao động và tư bản vẫn là mâu thuẫn cơ bản tồn tại trong giai đoạn hiện nay khi tư bản độc quyền xuyên quốc gia, các nước tư bản phát triển đang áp đặt, khống chế đối với giai cấp công nhân và nhân dân lao động các nước.