Thứ Bảy, 23 tháng 8, 2025

BẠN CÓ BIẾT: MANG LÒNG BIẾT ƠN GIEO NIỀM TỬ TẾ!

     Chỉ khi chiến dịch ủng hộ Cuba viral trên mạng thì nhiều người trẻ mới ngỡ ngàng biết về tình cảm sâu đậm và những sự giúp đỡ không đong đếm hết được của đất nước Cuba dành cho nhân dân Việt Nam.

Một thế hệ gen Z sáng chiều trà sữa, tay lướt TikTok, FB, Insta .. liệu có biết về những mối quan hệ trong lịch sử mà chúng ta phải mang ơn suốt đời hay không ? Cái này rất cần sự truyền thông mạnh mẽ của chính phủ để thế hệ sau nuôi dưỡng lòng biết ơn ngày một sâu sắc hơn. 

Các bạn có biết ai đã từng 2 lần cứu bác Hồ khỏi tù tội gian khổ suýt bị mật thám Anh và Pháp xử kín mất mạng ở Hồng Kông trong thời gian hoạt động cách mạng không ? 

Các bạn có biết những vị lãnh đạo nào đã xóa nợ cho nhân dân Việt Nam trong những năm tháng khó khăn khi mới tái thiết kinh tế sau c.hiến tr.anh không ? Phải biết được thì mới hiểu mối thâm tình giữa VN và họ trong bao nhiêu thập kỷ. 

Trong khuôn khổ bài viết không quá dài, tôi chỉ xin tóm tắt 1 vài câu chuyện. 

Vụ án Tống Văn Sơ ( bí danh của Bác Hồ thời hoạt động Cách Mạng ở Hồng Kông ) là 1 vụ án nổi tiếng và ân nhân cứu mạng Bác Hồ là một luật sư người Anh tên là Francis Henry Loseby , chính ông là người đã 2 lần bào chữa quyết liệt giúp cho bác Hồ được thoát án và thả tự do ( từ 6/6/1931 đến 1933) khi Bác bị mật thám Anh và mật thám Pháp cấu kết nhau truy lùng và vây bắt tại Hồng Kông và âm mưu hãm hại Bác. 

Luật sư Loseby đã tự bỏ tjền án phí cùng các chi phí khác để quyết tâm bào chữa cứu Bác ra, đồng thời giúp cải trang Bác thành 1 thương gia Trung Quốc rồi đưa lên tàu rời Hồng Kông đi Hạ Môn. 

Từ Hạ Môn, Bác sinh sống vài năm rồi lên Thượng Hải và tìm đường sang Liên Xô sinh sống và học tập. Sau đó về lãnh đạo thành công cuộc Cách Mạng tháng Tám 1945, từ đó Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời . 

Để nhớ ơn ân nhân của mình, sau này Bác luôn dành sự trân trọng tới gia đình ông Loseby , hàng năm đều đặn thăm hỏi, gửi quà và mời cả gia đình sang thăm VN nhiều lần. 

Chúng ta nên biết về ông Francis Henry Loseby, cho dù công lao của Bác Hồ và những vị lãnh đạo khác là rất lớn nhưng nếu không có ông Loseby cứu Bác vào những thời khắc quan trọng thì có lẽ Bác đã bỏ mạng nơi xứ người và sẽ chẳng thể nào có 1 nước VN như ngày hôm nay. Chúng ta phải biết ơn ông ấy ! 

Chuyện thứ 2, chuyện về ông S a d dam H us s ein (viết tắt là SH) và đất nước I rắc ( Iraq ), cái tên quen thuộc với thế hệ 7x,8x. Đối với 1 nước nào đó, ông SH bị coi là tội đồ nhưng với Việt Nam, ông ấy là 1 ân nhân. 

Sau khi c.hiến t.ranh kết thúc năm 1975, VN còn rất khó khăn và đang vô cùng lo lắng về việc thiếu lương thực và thiếu dầu nên đã chủ động đặt vấn đề vay với 1 số nước. Ông SH lúc đó không ngần ngại tặng luôn VN 400 ngàn tấn dầu và cho vay 1,5 triệu tấn với lãi suất ưu đãi. Một con số khổng lồ mà chính lãnh đạo VN thời đó không tin nổi. 

20 năm sau VN vẫn còn chật vật khó khăn, chính ông SH đã chính thức xóa nợ cho chúng ta mặc dù lúc đó họ cũng đang bị cấm vận cũng khó khăn không kém. 

Thật sự, những tình cảm mà ông SH và Iraq dành cho VN là rất lớn, chúng ta không được phép quên ơn này ! 

Liên Xô (trước đây), Nga ( bây giờ) và Cu Ba thì quá rõ ràng rồi, họ là những người anh em có thể nói là quá nghĩa tình với VN. Nga ngoài việc viện trợ các khí tài trong c.hiến tr.anh cho VN thì còn giúp VN rất nhiều trong xây dựng, vận tải, … xóa nợ gần 11 tỷ $ cho VN, ơn này sao mà quên được! 

Được sống trong nền hòa bình và phát triển kinh tế như ngày hôm nay chúng ta phải biết ơn những ân nhân thầm lặng bao năm qua đã giúp đỡ VN qua những năm tháng khó khăn gian khổ nhất . Phải có lòng biết ơn thì mới nuôi dưỡng được sự tử tế của con người. Các bạn phải nhớ lấy, đừng bao giờ quên những ân nhân./.
Ảnh: Tổng thống Irac Saddam Hussein.
Yêu nước ST.

ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Khái niệm “Diễn biến hòa bình” người ta biết đến cụm từ này từ thập niên 20 của thế kỷ XX, khi chủ nghĩa đế quốc sử dụng “Diễn biến hòa bình” để chống phá các nước đối địch, nhất là nước Nga - Nhà nước Xô-viết công nông đầu tiên trên thế giới vừa ra đời từ sau Cách mạng Tháng Mười vĩ đại. Và hiện nay, “Diễn biến hòa bình” có nhiều cách gọi khác nhau, đó là “chuyển hóa hòa bình”, “biến đổi hòa bình”,“cạnh tranh hoà bình”, “vượt trên hòa bình”, “chính sách giải phóng”, “chiến thắng không cần chiến tranh”, “chiến tranh không có tiếng súng”, “phương pháp phi vũ trang”… Có thể khẳng định “Diễn biến hòa bình” là cuộc chiến tranh - cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng, thể chế chính trị. Chiến lược “diễn biến hòa bình” liên tục được điều chỉnh, bổ sung trở thành một chiến lược tổng hợp, dùng biện pháp “phi vũ trang” là chủ yếu nhằm chống phá, tiến tới lật đổ chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa.

NHẬN DIỆN CHIẾN LƯỢC "DIỄN BIẾN HÒA BÌNH" CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRONG THỜI KỲ MỚI


Chống phá cách mạng Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, các thế lực thù địch có sự điều chỉnh về thủ đoạn “diễn biến hòa bình” rất nguy hiểm. Vì vậy, chúng ta phải luôn tỉnh táo, nhận diện đúng, xem xét, phân tích, để vạch trần bản chất và có biện pháp phòng, chống hiệu quả. Tuyệt đối không được lơ là, chủ quan, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng” nhưng đầy cam go, quyết liệt này.

KHÔNG ĐỂ KẺ XẤU XUYÊN TẠC HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA


          Nhằm thực hiện âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các thế lực luôn tìm mọi cách để xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được sử dụng thường xuyên. Trong đó, việc xuyên tạc chính sách và hoạt động đối ngoại quốc phòng của Đảng và Nhà nước được sử dụng thường xuyên. Bọn chúng thường xuyên sử dụng hình ảnh và nội dung các buổi gặp mặt của lãnh đạo Bộ Quốc phòng nước ta với các nước khác để xuyên tạc, bôi nhọ. Về hình ảnh, bọn chúng có thể cắt ghép nhằm xuyên tạc các hoạt động hợp tác quốc phòng. Về nội dung, chúng bóp méo sự thật, suy diễn để đánh lừa dư luận, hướng người đọc sang nhận thức lệch lạc, không đúng với thực chất chính sách đối ngoại quốc phòng của Đảng và Nhà nước ta. Để làm thất bại âm mưu và đập tan thủ đoạn xuyên tạc hoạt động đối ngoại quốc phòng của kẻ thù, chúng ta cần nhận thức sâu sắc về hoạt động đối ngoại quốc phòng của Đảng và Nhà nước ta.

TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CHO SINH VIÊN

 

          Nhằm thực hiện âm mưu chống phá Đảng và Nhà nước ta, các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng vào những đối tượng nhạy cảm, trong đó có sinh viên để lôi kéo, kích động. Chúng ta đều thấy rõ đặc điểm của sinh viên, họ xuất thân từ các tầng lớp khác nhau trên mọi miền của Tổ quốc, với mức thu nhập, đời sống của từng gia đình rất khác nhau, họ tập trung về các trung tâm kinh tế, chính trị các thành phố và thị xã để sống và học tập. Về cơ bản họ mới tốt nghiệp trung học phổ thông, vừa ra khỏi sự quản lý của thầy giáo, cô giáo ở nhà trường và gia đình, để sống cuộc sống tập thể trong ký túc xá, hoặc trọ ở ngoài trường. Họ vừa mới có cuộc sống tự lập, tự quản và tập thể. Sinh viên thường tiếp thu các thông tin mới, cũng như những luồng tư tưởng mới trong xã hội rất nhanh nhạy, song khả năng phân tích và chọn lọc của sinh viên còn có những hạn chế. Trong thực tế, nhiều sinh viên kinh nghiệm sống còn ít, chưa hiểu sâu về chính trị, lập trường tư tưởng chưa vững vàng, nên dễ dao động, dễ bị lôi kéo, mua chuộc... Những đặc điểm trên cho thấy, sinh viên là một trong những đối tượng mà các thế lực thù địch thường xuyên nhắm tới để lôi kéo, kích động nhằm thực hiện nhiều âm mưu, thủ đoạn rất khó xác định.

BIỆN PHÁP ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TA


 

Nền tảng tư tưởng của Đảng là một bộ phận quan trọng, đồng thời cũng là nhân tố căn bản, cốt lõi, tạo cơ sở, tiền đề quyết định mọi hoạt động xây dựng, sinh hoạt và lãnh đạo của một Đảng. Với Đảng Cộng sản Việt Nam, nền tảng tư tưởng của Đảng là hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Nếu nền tảng tư tưởng thay đổi, tất yếu sẽ dẫn tới sự thay đổi về mục tiêu, lý tưởng, nguyên tắc tổ chức, phương hướng hoạt động chính trị của Đảng. Cũng chính vì vậy mà các thế lực thù địch luôn tìm cách và đang ra sức phá hoại, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, công kích nền tảng tư tưởng của Đảng ta hòng làm giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Trước tình hình đó, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch là yêu cầu tất yếu để xây dựng và phát triển Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh, là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa sống còn trong bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

BẢO VỆ, VẬN DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY


 

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta giành thắng lợi”. Tư tưởng của Người thực tế đã và đang minh chứng rõ nét, đồng thời sẽ mãi mãi tiếp tục soi sáng cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi, góp phần hiện thực hóa mong ước của Người về một đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ, phồn vinh và thịnh vượng. Nhưng quá trình đó, đòi hỏi chúng ta phải không ngừng bảo vệ, không ngừng vận dụng và tiếp tục phát triển tư tưởng của Bác trong tình hình mới.

Thứ Sáu, 22 tháng 8, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN ' BÁC SĨ TÔN THẤT TÙNG - CHA ĐẺ PHƯƠNG PHÁP MỔ GAN SIÊU NHANH CỦA THẾ GIỚI.

     Bác sĩ Tôn Thất Tùng phẫu tích hơn 200 lá gan tử thi để tìm hiểu cấu trúc mạch máu và phát minh phương pháp "cắt gan khô" được thế giới vinh danh "phương pháp Tôn Thất Tùng".

Giáo sư Tôn Thất Tùng sinh năm 1912, mất năm 1982 ở tuổi 70, nổi tiếng thế giới là nhà phẫu thuật trong lĩnh vực gan. Luận án tốt nghiệp bác sĩ y khoa Cách phân chia mạch máu của gan được bác sĩ Tùng bảo vệ thành công năm 1939 tại Pháp. Phương pháp này, còn gọi là phương pháp cắt gan khô, được Đại học Tổng hợp Paris trao huy chương bạc nhưng bị Viện Hàn lâm Phẫu thuật Paris cùng các giáo sư đầu ngành công kích dữ dội bởi ý tưởng quá mới.

Nhớ lại y học thế giới giai đoạn này, học trò Giáo sư Tùng là Giáo sư Đặng Hanh Đệ, hiện 89 tuổi, nguyên chủ nhiệm phẫu thuật Khoa Tim mạch, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, nói rằng phương pháp của thầy Tùng bị phản đối do những năm 39-40 phương pháp mổ cắt gan từ cuống được coi là kinh điển.

"Cắt gan từ cuống là kỹ thuật mổ kéo dài 3-6 giờ, bệnh nhân mất máu nhiều, trong khi phương pháp của thầy Tùng cắt từ ngoài vào thẳng cuống gan nên thời gian mổ ngắn chỉ 4-8 phút, hiệu quả cao nhưng đòi hỏi phẫu thuật viên phải nắm rất vững cấu trúc giải phẫu bên trong gan", Giáo sư Đệ giải thích, hôm 18/8.

Do nhược điểm của mổ cắt gan từ cuống như vậy nên vấn đề được bác sĩ Tùng đặt ra khi ấy là "đường nào mổ gan nhanh mà ít máu". Một lần, phát hiện gan của một bệnh nhân Việt Nam có giun chui vào đường mật, bác sĩ Tùng nảy ra ý tưởng nghiên cứu cơ cấu lá gan. Trong 5 năm từ 1935 đến 1939, bằng con dao cạo thô sơ, ông phẫu tích hơn 200 lá gan trên tử thi để nghiên cứu các mạch máu và vẽ lại thành sơ đồ đối chiếu, từ đó rút ra bài học. Cuối cùng, ông thuộc lòng sự phân chia của các mạch máu trong gan, quan hệ của các mạch này so với bề mặt ngoài gan, tạo ra phương pháp cho phép cắt gan chỉ mất 4-8 phút, bệnh nhân giảm chảy máu và ít tổn thương.

Mãi đến năm 1952, tại hội nghị phẫu thuật quốc tế ở Copenhaghen (Đan Mạch), phương pháp cắt gan của bác sĩ Tùng mới được giới y khoa thế giới thừa nhận, còn gọi là phương pháp cắt gan khô hoặc phương pháp Tôn Thất Tùng. Giới y khoa quốc tế gọi Tôn Thất Tùng là "người cha của cắt gan có quy phạm", nhiều bác sĩ nước ngoài sang Việt Nam trực tiếp xem phẫu thuật và học hỏi.

Cây đại thụ y khoa Việt Nam

Giáo sư Tôn Thất Tùng được xem là cây đại thụ của y khoa Việt Nam, có nhiều cống hiến cho ngành y trên cương vị Chủ nhiệm Bộ môn Ngoại khoa (Đại học Y Hà Nội), Giám đốc Bệnh viện Việt - Đức, Thứ trưởng Y tế nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông là người thầy đào tạo nhiều thế hệ bác sĩ tài năng cho nước nhà, được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, Viện sĩ Viện hàn lâm Y học Liên Xô, Viện sĩ Viện hàn lâm Phẫu thuật Paris, hội viên Hội các nhà phẫu thuật Lyon (Pháp).

Mang dòng họ hoàng tộc thời Nguyễn song ông không theo nghiệp làm quan mà năm 1931 ra Hà Nội học trường Trung học Bảo hộ (tức trường Bưởi - trường Chu Văn An ngày nay) rồi trường Y - Dược của Đại học Đông Dương. Ba năm sau, ông được tuyển cùng 10 sinh viên khác làm ngoại trú tại Bệnh viện Phủ Doãn, sau đó là người duy nhất được nhận vào làm việc tại khoa ngoại trường Y - Dược, tức Bệnh viện Việt - Đức ngày nay.

Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập. Nền y tế Việt Nam thuở ấy quá sơ sài. Cả nước có 130 bác sĩ, chỉ khám chữa được những bệnh thông thường như sốt, tiêu chảy, còn chuyên sâu gần như không có. Điều khó khăn nhất là suốt nhiều năm chiến tranh và thuộc địa, Việt Nam bị cô lập với thế giới, không sách vở, không biết y học thế giới phát triển ra sao.

Trong bối cảnh này, năm 1947 bác sĩ Tùng nhận chức Thứ trưởng Bộ Y tế với trọng trách xây dựng và phát triển nền y tế Việt Nam trở thành một mặt trận kháng chiến lớn mạnh về sau. Năm 1954, Tôn Thất Tùng mới có cơ hội tiếp xúc với nền y tế Liên Xô, Trung Quốc, trực tiếp mời chuyên gia về hướng dẫn, từ đó phát triển các chuyên ngành như tiêu hóa, thần kinh, xương khớp, tiết niệu. Tim mạch là chuyên khoa cuối cùng, đến năm 1960 mới hình thành.

Bác sĩ Tùng đến nay được ghi danh là bác sĩ Việt Nam đầu tiên mổ tim bệnh nhân. Theo Giáo sư Đệ, "mổ tim hở ở Việt Nam thời ấy là cả một công trình, khi điều kiện vật chất thiếu thốn vô cùng". Giáo sư Đệ khi ấy là sinh viên y khoa đi theo thầy Tùng học nghề.

Ca phẫu thuật tim đầu tiên của bác sĩ Tùng diễn ra năm 1958, sau khi ông sang Ấn Độ học kỹ thuật này. Ông dùng máy tim phổi nhân tạo lắp vào bệnh nhân để hoạt động thay thế chức năng trái tim, rồi mở trái tim người bệnh ra sửa chữa. Cuộc mổ thuận lợi, không một trục trặc nào. Bác sĩ Gibbon (Mỹ) - người mở đầu cho ngành mổ tim hở với máy tim phổi trên thế giới - đã gửi thư chúc mừng bác sĩ Tùng.

"Mỹ lần đầu mổ tim hở năm 1954, Việt Nam mổ tim năm 1965, khoảng cách 11 năm. Ở hoàn cảnh chiến tranh, đó là thành tựu to lớn của ngành y", bác sĩ Tùng về sau từng nói.

Sau hoàn thành nhiệm vụ phát triển y tế chuyên sâu, bác sĩ Tùng về công tác tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức, phát triển khoa Sọ não và Ngoại Nhi. Thời ấy không ai hình dung được mổ sọ não sẽ như thế nào, theo Giáo sư Đệ. Muốn mổ sọ não thì phải có khoa Gây mê, mà khi ấy cũng chưa ai hình dung được gây mê như thế nào. Bác sĩ Tùng xác định cần phải có khoa Gây mê thì các chuyên khoa khác mới phát triển được, bởi Gây mê bao trùm lên tất cả chuyên khoa, phụ trách hồi sức, phục hồi sức khỏe người bệnh.

"Gây mê như thế nào để bệnh nhân không đau". Để giải quyết vấn đề này, bác sĩ Tùng cùng các cộng sự tận dụng một số cách thô sơ theo điều kiện vật chất hiện có, như nhỏ thuốc mê vào mũi bệnh nhân, hay gây mê nội khí quản bằng cách cho một chiếc ống vào họng bệnh nhân, đưa thuốc vào quả bóng và bóp cho phổi nở lên xẹp xuống. Khoa Gây mê đầu tiên Việt Nam cứ như vậy ra đời.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Giáo sư Tôn Thất Tùng tổ chức, xây dựng Trường đại học Y khoa, đào tạo nhiều thầy thuốc quân và dân y cho đến ngày thống nhất đất nước. Về sau ông tập trung cho công việc chuyên môn là Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức và Chủ nhiệm bộ môn Ngoại của Trường Đại học Y Hà Nội.

Hồi ức của Giáo sư Đệ, "thầy Tùng rất nóng tính, gay gắt nhưng tất cả đều phụng sự nguyên tắc 'làm nghề là không làm gì có hại cho người bệnh'". Giáo sư Đệ nhớ có những ca mổ khi các phụ tá không thực hiện quy trình đúng, thầy Tùng không ngần ngại la mắng, vứt dụng cụ phẫu thuật. Kể cả ông Đệ, trong vai trò phụ mổ cho thầy Tùng cũng không ít lần bị thầy mắng do thao tác không đúng.

"Một hôm, một bác sĩ Bệnh viện Lao phổi mang hồ sơ bệnh nhân vào, tôi nhìn tấm phim chụp nhận xét 'bệnh nhân có lẽ đã bị lao phổi', nhưng thầy Tùng lập tức phản bác "'không thể suy nghĩ theo kiểu đó được, phải nghĩ là ung thư phổi'", giáo sư Đệ nhớ lại. Lý do là nếu nghĩ bệnh nhân bị lao phổi, bác sĩ sẽ đi theo hướng điều trị lao phổi. Tuy nhiên, về sau phát hiện bệnh nhân thực sự bị ung thư thì điều trị đã muộn. "Bác sĩ không được chủ quan, phải dự phòng và nghĩ tới phương án xấu nhất, tìm tất cả dấu hiệu chẩn đoán cho đúng, không được đại khái", thầy Tùng dạy học trò của mình.

Giáo sư Đệ, trong suốt sự nghiệp làm bác sĩ của mình, luôn nhớ thầy Tùng dạy "ngày mai mổ cái gì thì tối nay hãy nhớ lại dấu hiệu của người bệnh để chuẩn bị". Khi mổ, trong đầu phải luôn có kế hoạch, không được lúng túng, bị động. Ví dụ, trước khi mổ cho một bệnh nhân có khối u trong bụng, bác sĩ phải nghĩ đến trường hợp xấu nhất.

"Làm việc với thầy Tùng hơn 20 năm, tôi học được nhiều kinh nghiệm xương máu mà suốt đời không bao giờ quên", Giáo sư Đệ nói, chia sẻ thêm rằng ông là một trong số ít ỏi học trò của Giáo sư Tôn Thất Tùng còn sống hiện nay.

Con trai Giáo sư Tùng - Phó giáo sư Tôn Thất Bách, về sau cũng là bác sĩ mổ tim và gan mật trình độ cao, cứu sống nhiều bệnh nhân. Giáo sư Bách có hơn 25 năm cống hiến cho ngành y tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, mất năm 2004.

Giáo sư Tôn Thất Tùng mất ngày 7/5/1982 tại Hà Nội. Ngày 10/5/2022, nhân kỷ niệm 110 năm ngày sinh của ông, Google thay đổi ảnh đại diện logo trên trang chủ là hình ảnh Giáo sư Tôn Thất Tùng nhằm tôn vinh những thành tựu y khoa mà ông đạt được./.


Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HÀNH TRÌNH 80 NĂM - NHỮNG DẤU ẤN LỊCH SỬ!

     80 năm kể từ khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời đến nay là một chặng đường oanh liệt ken dày các sự kiện trọng đại ghi dấu ấn lịch sử của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những thành tựu lịch sử ấy kết đọng lại thành vốn liếng, làm hành trang để dân tộc ta tiến bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

Dựng xây chế độ chính trị mới

Mục tiêu phát triển của dân tộc Việt Nam sau bao phen trải nghiệm tìm tòi, cuối cùng được Bác Hồ, được Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân ta xác định là: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH).

Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2-9-1945, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, khởi nguồn sinh lực cho chế độ chính trị mới, chế độ dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình; xác tín rằng dân tộc Việt Nam đã, đang và tiếp tục đứng vào hàng ngũ các dân tộc tiên phong trên thế giới đấu tranh vì sự tiến bộ xã hội, đã đứng về phe Đồng minh chống chủ nghĩa phát xít, kiên quyết và kiên trì tranh đấu loại bỏ chủ nghĩa thực dân trong lịch sử nhân loại.

Cũng từ ngày đó, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng cầm quyền, sau 15 năm “trồng cây uy đức” (1930-1945), được nhân dân tín nhiệm, tin tưởng trao cho quyền lãnh đạo đưa dân tộc phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN).

“Vạn sự khởi đầu nan”. Sự mở đầu của chế độ chính trị mới đầy khó khăn, thử thách. Nhưng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã kiên trì vượt qua mọi trở ngại để giữ vững chế độ chính trị tốt đẹp ấy. Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn, quan điểm đó của V.I.Lênin được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta thực hiện một cách tích cực nhất với tài trí của lãnh tụ Hồ Chí Minh và của Đảng, với sức mạnh tổng hợp vô biên trong đó có khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Một hệ thống chính quyền cách mạng được thiết lập từ Trung ương đến cơ sở; các giai tầng bắt tay vào công cuộc dựng xây phục hưng quê hương, đất nước.

Với bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ năm 1945, tên đất nước “Việt Nam” được tái hiện trên bản đồ thế giới, nhưng với cái chất hoàn toàn mới: Một nước độc lập, tự do và có một tương lai tươi sáng. Cái mốc lớn này đã xô đổ mọi kỷ lục về gian khó và quang vinh trong lịch sử tranh đấu dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam từ thời Hùng Vương trở đi.

Đánh thắng các thế lực xâm lược và tay sai

Sau khi giành được chính quyền, nhân dân Việt Nam phải liên tục chiến đấu chống giặc ngoại xâm và các thế lực tay sai để bảo vệ Tổ quốc. Nổi rõ nhất là giành thắng lợi của 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954); toàn thắng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 21 năm (1954-1975) và bảo vệ vững chắc biên giới phía Tây Nam, biên giới phía Bắc.

Nhân dân Việt Nam yêu hòa bình và công lý, hiểu rõ hơn ai hết giá trị của độc lập, tự do, của thái bình, hòa hiếu, hữu nghị, hợp tác, thân thiện trong đối nội và trong mối bang giao quốc tế. Trong huyết quản của người Việt Nam yêu nước, bao giờ cũng thấm đặc tinh thần bất khuất, không cam chịu để ngoại bang xâm lược, tự nguyện dấn thân, chịu trăm bề hy sinh, mất mát, kể cả tính mạng của mình, cho Tổ quốc được độc lập, cho nhân dân được yên vui, được thực sự hưởng tự do, ấm no, hạnh phúc.

Nhìn lại 80 năm qua, có lẽ trên thế giới không có một dân tộc nào như dân tộc Việt Nam đã làm nên kỳ tích có một không hai ấy. Đó là với Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7-5-1954 “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu”, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược, báo hiệu cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn cầu. Thắng lợi của cuộc kháng chiến trường kỳ chống Mỹ, cứu nước với đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975) đã thúc đẩy cho sự tan rã không gì cứu vãn nổi của chủ nghĩa thực dân mới trên toàn thế giới. Việt Nam đã “cắm cây thập tự” lên ách bạo tàn thực dân thế kỷ 20 đầy bi hùng, thế kỷ phi thực dân hóa trên toàn cầu.

Các cuộc kháng chiến giành lại độc lập, tự do, bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay đã nói lên một điều rằng: Không có bất cứ một thế lực nào, dù cường mạnh, xảo quyệt, tráo trở đến mấy, có thể làm nhụt chí được tinh thần bất khuất, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước ta.

Thành tựu trong công cuộc đổi mới đất nước

Về thời gian, nếu tính từ Đại hội VI của Đảng tháng 12-1986, công cuộc đổi mới đất nước của nhân dân Việt Nam đã trải qua gần 40 năm, tức là chiếm gần một nửa trong chặng đường 80 năm của chế độ chính trị mới.

Đất nước đã tiến những bước dài trên con đường xây dựng theo mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, hay nói theo nghị quyết của Đảng, đó là mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, hoặc nữa là theo “điều mong muốn cuối cùng” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong bản “Di chúc”: “Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Công cuộc đổi mới đất nước trong gần 40 năm qua cho chúng ta thấy rõ ít nhất 3 điều:

Một là, đất nước giữ được thế ổn định chính trị, không hề suy xuyển mục tiêu và con đường phát triển. Trong khi hệ thống XHCN trên thế giới bị sụp đổ cuối thế kỷ 20, Việt Nam vẫn kiên định phát triển theo mục tiêu XHCN. Và thực tế chúng ta tìm thấy nhiều phương sách phù hợp, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh mới, hoàn cảnh của kinh tế thị trường, của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế.

Hai là, trong gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã tạo được cho mình một sức mạnh tổng hợp lớn: Có nền kinh tế phát triển vượt bậc so với trước đây; có văn hóa, xã hội phát triển vượt bậc, đầy tính ưu việt, nhân đạo, nhân văn; có nền quốc phòng, an ninh, đối ngoại vững chắc; nhân dân có cuộc sống vật chất và tinh thần ngày càng được nâng cao; có sức mạnh của cả hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam làm hạt nhân lãnh đạo lấy mục tiêu mà dân giao phó: Đưa nước nhà tiến lên CNXH, làm cho đất nước hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu, thỏa lòng mong muốn của Bác Hồ, thỏa khát vọng cháy bỏng của con dân đất Việt không muốn chịu đứng dưới lằn ranh của nghèo nàn, lạc hậu. Hệ thống chính trị ấy đã chuyển mình trong sắp xếp bộ máy tổ chức. Chỉ vỏn vẹn mấy tháng thôi, chính quyền địa phương hai cấp và việc sắp xếp lại một số đơn vị cấp tỉnh, bỏ cấp quận, huyện đi vào hoạt động.

Ba là, gần 40 năm đổi mới, Việt Nam nâng tầm quan hệ đối ngoại lên một trình độ mới. Mấy năm đầu của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, nước ta chưa được nước nào công nhận. Nhưng từ đầu thập niên 1950 trở đi, các nước XHCN lần lượt thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, cả về Đảng, Nhà nước. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước và các cộng đồng trên thế giới, nhất là thiết lập đối tác chiến lược toàn diện với các nước lớn. Việt Nam đã thành công trong việc thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về quảng giao để phát triển, sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước, hợp tác, hữu nghị có trách nhiệm trên tinh thần các bên cùng có lợi, tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhau, đúng như nhận định của Đại hội XIII của Đảng: Việt Nam chưa bao giờ có được uy tín quốc tế như hiện nay.

Nói một cách toàn diện, cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập, Việt Nam đang có một không gian môi trường xã hội thuận lợi và đang phát huy điều đó trong việc đóng góp tích cực thúc đẩy quan hệ quốc tế vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển.

Vẫn còn nhiều, rất nhiều thử thách và những vật cản trên con đường phát triển mà Việt Nam không chủ quan, tự mãn, trong đó có cả những điểm nghẽn, đặc biệt là điểm nghẽn về thể chế được coi là “điểm nghẽn của nghẽn” mà hiện nay Đảng và hệ thống chính trị đang ra sức tháo gỡ. Nhưng, vốn liếng cho những bước đi mạnh hơn đã có do tích lũy được ở cả chiều dài cũng như chiều sâu 80 năm độc lập, tự do. Nhân dân Việt Nam đón chào 80 năm Quốc khánh trong tinh thần, khí thế của những người tràn đầy nghị lực tiến bước./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: KHẨN TRƯƠNG RÀ SOÁT, BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH NGHỈ VIỆC THEO NGHỊ ĐỊNH 178 TRƯỚC 31/8!

     Bộ Nội vụ đề nghị các Bộ, ngành, địa phương giải quyết dứt điểm chi trả chính sách, chế độ theo Nghị định số 178/2024/NĐ-CP, thời điểm nghỉ việc muộn nhất là 1/9, sau thời điểm này sẽ kết thúc.

Bộ Nội vụ vừa có Công văn số 6383/BNV-TCBC gửi các cơ quan Trung ương và địa phương về việc thực hiện Kết luận số 183-KL/TW của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Công văn nêu rõ căn cứ Kết luận số 183-KL/TW ngày 1/8/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tích cực triển khai vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, chuyển mạnh cấp cơ sở sang chủ động nắm, điều hành kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh và Công văn số 322-CV/ĐU ngày 3/8/2025 của Đảng ủy Chính phủ về việc triển khai kết luận số 183-KL/TW, sau khi trao đổi ý kiến với Văn phòng Trung ương và Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Nội vụ có ý kiến về một số nội dung.

Bộ Nội vụ đề nghị các Bộ, Ban, ngành và địa phương thực hiện nghiêm ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư tại Kết luận số 183-KL/TW và ý kiến Đảng ủy Chính phủ tại công văn số 322-CV/ĐU.

Các Bộ, Ban, ngành và địa phương tập trung rà soát, sàng lọc các đối tượng chịu sự tác động của việc sắp xếp tổ chức bộ máy, lập danh sách và ban hành quyết định nghỉ việc đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và lực lượng vũ trang thuộc thẩm quyền quản lý theo Nghị định số 178/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 67/2025/NĐ-CP) trước ngày 31/8/2025, thời điểm nghỉ việc để hưởng chính sách, chế độ muộn nhất là ngày 01/9/2025; sau thời điểm này sẽ kết thúc.

Đối với các trường hợp đã được cấp có thẩm quyền ban hành quyết định (quyết định nghỉ hưu trước tuổi, quyết định nghỉ thôi việc) trước ngày 1/8/2025 để xác định các đối tượng nghỉ việc theo lộ trình đến hết ngày 31/12/2025 thì tiếp tục được hưởng chính sách, chế độ theo quy định.

Bộ Nội vụ đề nghị các Bộ, Ban, ngành, địa phương bố trí kịp thời kinh phí, giải quyết dứt điểm việc chi trả chính sách, chế độ cho các đối tượng, bảo đảm hoàn thành trước ngày 31/8/2025.

Trường hợp có khó khăn, vướng mắc liên quan đến nguồn kinh phí, Bộ Nội vụ đề nghị các Bộ, Ban, ngành và địa phương có ý kiến với Bộ Tài chính để được hướng dẫn hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Trước đó, tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7/2025, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà cho biết Bộ Nội vụ cũng đã thống nhất với Bộ Tài chính nếu đến hạn 31/8, đơn vị, địa phương nào chưa hoàn tất việc chi trả thì Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính sẽ báo cáo cấp có thẩm quyền để xem xét trách nhiệm người đứng đầu.

Bộ trưởng Bộ Nội vụ cũng đề nghị các địa phương phải “làm nhanh, làm dứt điểm” công tác chi trả chế độ. Các đơn vị, địa phương khi đã có quyết định cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nghỉ việc do tác động từ việc sắp xếp tổ chức bộ máy, thì cần khẩn trương thực hiện việc thanh toán chế độ chính sách theo đúng quy định để bảo đảm khi đã có quyết định nghỉ thì phải chi trả ngay./.
Yêu nước ST.

ĐÁNH VOI, ĐÁNH CẢ ĐỨA GIẮT VOI.

    Tháng Tư đã qua rồi mà trong lòng lão có khi cười khi khóc. Lão cười vì đất nước đang trên con đường đi lên của sự ấm no và hạnh phúc. Lão khóc vì thỉnh thoảng có người lại tìm thấy một chiếc lọ thủy tinh, trong đó có một mảnh giấy ghi tên người nằm dưới đất. Đó là một anh giải phóng quân đã có 50 năm nằm dưới đất lạnh lẽo; một bà mẹ và người cha suốt 50 năm ngóng tin con; một đơn vị từng là đồng độ của anh đã có 50 năm nhớ nhung và tìm kiếm.

Còn chúng ta, chúng ta đã trải qua 50 năm sống trong hòa bình, yên ổn sống, yên ổn làm giàu, có người trở thành người giàu “nứt đố đổ vách”. Năm mươi năm của một cuộc cạnh tranh giữa con người với con người, giữa quốc gia với quốc gia, giữa con người với thiên nhiên và tiến bộ khoa học kỹ thuật. 

Cũng trong năm mươi năm ấy, có những con người vẫn nuôi một ảo tưởng làm một việc gì đó để lại có được như những ngày với vai trò kẻ “rước voi về dày mả tổ” đồng thời với vai trò là kẻ chăn voi. Những kẻ rước voi về dày mả tổ, đã có từ thời xa xưa như Trần Ích Tắc phản bội nhà Trần (thế kỷ 13), cho đến thế kỷ 19 (1884) nhà Nguyễn chính thức công nhận quyền cai trị của Pháp; tiếp đến là giữa thế kỷ 20 như Ngô Đình Diệm, trở thành tổng thống bù nhìn của cái VNCH.

Đến hôm nay, đã 50 năm qua đi rồi, những kẻ từng rước voi đã phải bỏ nước để sống nhờ nơi đất khách quê người. Dẫu biết rằng “phục quốc” chỉ là mộng tưởng, chẳng bao giờ trở thành hiện thực, song chúng vẫn tự huyễn hoặc, huyễn hoặc từ đời mình đến đời con cháu mình. Nếu vào tháng Tư năm 1975 ấy, Việt Cộng không có lòng nhân từ để mở cho một hành lang an toàn thì liệu có chiếc máy bay nào an toàn để bay ra hạm đội 7, rồi đến hôm nay, sau 50 năm vẫn còn mộng tưởng “phục quốc”? 

Này, lão bảo cho mà biết, to lớn như con voi, dân Việt còn đánh cho đến nỗi voi phải cụp tai cuộn vòi mà chạy, chứ những kẻ giắt voi, chăn voi thì chả là cái đinh gỉ gì! Cứ ăn bám người ta rồi đến tháng Tư hàng năm lại giở trò hề “phục quốc”. Thử hỏi, suốt 50 năm qua, đã về “phục quốc” được mấy lần? Lần duy nhất, có vẻ “hoành tráng” lắm, nhưng rồi quân tướng, đứa thì rủ nhau vào trại giam của “Việt Cộng”, đứa thì theo sự chỉ huy của Hoàng Cơ Minh, nằm úp mặt trên đất Lào để cho mối nó xông. Kể từ đó, bọn rước voi và chăn voi có còn dám vác mặt về?

Ngày nay, một số nước từng là kẻ thù của Việt Nam đã trở thành “đối tác chiến lược toàn diện” rồi thì còn đâu chỗ dựa mà “phục quốc”. Thôi, an phận tay sai, an phận chư hầu, an phận kẻ tôi tớ chăn voi đi thôi, hãy nuốt hết miếng phó-mát thừa mà sống những ngày còn lại trên đất người.

Đụng vào Việt Nam thì voi cũng chết chứ đám rước voi và chăn voi thì có nghĩa lý gì!./.

Hình trong bài: Vào thời điểm này có ai còn nhớ vì sao những chuyến bay di tản vẫn được an toàn và còn nghĩ đến chuyện “phục quốc”?
Yêu nước ST.

HỌC LỊCH SỬ ĐỂ HIỂU THÊM LỊCH SỬ!

     Lời nhắc của Tổng Bí thư Lâm “học lịch sử để hiểu thêm lịch sử” thực sự là một gợi mở cần thiết. Nhìn lại giai đoạn thế giới rơi vào vòng xoáy Chiến tranh thế giới thứ hai, ta thấy rõ quy luật khắc nghiệt của thời cuộc: ai nắm bắt được cơ hội, đi đúng nước cờ thì mới giữ được sự tồn vong dân tộc.

Ở châu Âu, phe Trục với trụ cột là Đức quốc xã dưới quyền Hitler đã bùng phát sức mạnh quân sự, lấy danh nghĩa phục hưng dân tộc để chinh phạt cả lục địa. Ở châu Á, phát xít Nhật với sức mạnh quân sự hùng hậu đã đánh tan sự thống trị của thực dân phương Tây tại nhiều thuộc địa. Tại Việt Nam, tháng 3-1945, Nhật đảo chính Pháp, dựng chính phủ Trần Trọng Kim tồn tại vỏn vẹn 5 tháng, rồi cũng nhanh chóng sụp đổ.

Trong bối cảnh ấy, lực lượng Việt Minh dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên trì bám trụ ở chiến khu Tân Trào, vừa chuẩn bị lực lượng, vừa chờ thời cơ. Nhật tuy đánh đuổi Pháp nhưng lại áp bức nhân dân Việt Nam vô cùng tàn bạo. Vì thế, Việt Minh xác định chỉ có con đường độc lập, tự chủ, chứ không thể dựa vào bất kỳ thế lực nào.

Điểm đáng chú ý là sự kiện “Con Nai” – nhóm sĩ quan Mỹ được cử nhảy dù xuống Tân Trào, hỗ trợ Việt Minh huấn luyện, trang bị vũ khí và đặc biệt là cứu chữa khi Bác Hồ lâm bệnh nặng. Nhờ đó, Người qua cơn hiểm nghèo. Đây cũng là minh chứng cho mối quan hệ phức tạp của thời cuộc: ngay cả những quốc gia sau này trở thành đối địch, thì trong khoảnh khắc lịch sử ấy, họ lại có chung lợi ích chống phát xít.

Tháng 8-1945, Nhật đầu hàng sau hai quả bom nguyên tử. Thời cơ cách mạng xuất hiện. Việt Minh đã phát động Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền và ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, trích dẫn những giá trị phổ quát trong Tuyên ngôn của Mỹ và Pháp, khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.

Tuy nhiên, tình thế vẫn vô cùng phức tạp. Ở miền Bắc, quân Tưởng Giới Thạch tràn vào với mưu đồ đàn áp cách mạng, còn Pháp lại tìm cách quay trở lại. Để hóa giải thế gọng kìm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định tạm thời giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương, thành lập “Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Mác – Lênin”, đồng thời chủ động ký Hiệp định sơ bộ với Pháp, dùng “Pháp để đuổi Tưởng”. Đó là một nước cờ chiến lược, đầy bản lĩnh và sáng suốt.

Nhưng thực dân Pháp không từ bỏ dã tâm. Chỉ một năm sau, chiến sự bùng nổ trở lại, mở đầu toàn quốc kháng chiến (1946). Sau 9 năm gian khổ, quân dân ta đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng năm 1954, buộc Pháp rút khỏi miền Bắc, đặt nền móng cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Từ góc nhìn lịch sử, có thể thấy bạn – thù nhiều khi chỉ là tương đối, phụ thuộc vào lợi ích chiến lược của từng giai đoạn. Nhưng bài học cốt lõi vẫn không thay đổi: chỉ khi dựa vào sức mạnh dân tộc, biết vận dụng thời cơ, kiên định mục tiêu độc lập thì mới có thể đi qua những bước ngoặt hiểm nghèo của lịch sử./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐOÀN ĐẠI BIỂU CẤP CAO 6 NƯỚC SẼ DỰ LỄ KỶ NIỆM 80 NĂM QUỐC KHÁNH 2/9!

     Đoàn đại biểu cấp cao các nước: Belarus, Campuchia, Cuba, Lào, Nga và Trung Quốc sẽ tham dự Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945-19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945-2/9/2025).

Thông tin trên được Thứ trưởng Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng đưa ra trong buổi họp báo về Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9 tại Trung tâm Hội chợ Triển lãm quốc gia (Đông Anh, Hà Nội) chiều 22/8.

Thứ trưởng cho biết, để chuẩn bị cho Lễ kỷ niệm, Bộ Ngoại giao đã tham mưu cho cấp có thẩm quyền mời khách quốc tế tham dự. Đến thời điểm hiện tại, có 6 đoàn cấp cao, gồm Belarus, Campuchia, Cuba, Lào, Nga và Trung Quốc đã xác nhận sẽ đến dự lễ. Trong đó, một số đoàn sẽ tiến hành các hoạt động song phương.

Cùng với đó, đã có sự khẳng định của hơn 20 đoàn chính đảng, 8 đoàn Bộ Quốc phòng của các nước về việc tham dự Lễ kỷ niệm của Việt Nam.

Cũng theo Thứ trưởng Lê Thị Thu Hằng, Bộ Ngoại giao sẽ mời một số phóng viên quốc tế đến dự, tác nghiệp về Lễ kỷ niệm cũng như các hoạt động liên quan đến đại lễ. Đây sẽ là dịp để phóng viên nước ngoài tận mắt chứng kiến thành tựu của nhân dân ta và thông tin đến cộng đồng quốc tế.

Thứ trưởng cho biết đây là lần đầu tiên có Khối kiều bào tham gia diễu hành tại Lễ kỷ niệm. “Chúng tôi đã đến buổi tập luyện để thăm hỏi, động viên các kiều bào tham gia diễu hành. 50 kiều bào đều chia sẻ rất vui mừng, tự hào khi được tham gia diễu hành trong ngày lễ trọng đại của đất nước. Đồng thời, thể hiện trách nhiệm là người dân Việt Nam dù đang sống xa Tổ quốc” - Thứ trưởng Ngoại giao cho hay.

Ngoài ra, trong dịp đại lễ này, Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị Việt Nam cũng mời khoảng 100 đại biểu là bạn bè quốc tế ủng hộ Việt Nam trong suốt 80 năm qua đến tham dự.

6 lực lượng tham gia diễu binh, diễu hành.

Tại họp báo, Thiếu tướng Tống Văn Thanh, Phó Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam đã thông tin về chương trình diễu binh, diễu hành trong Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9 sắp tới.

Theo đó, về tổ chức lực lượng, có 6 lực lượng tham gia diễu binh, diễu hành, gồm: Lực lượng rước đuốc Truyền thống và Tiêu binh Đài lửa; Lực lượng Pháo lễ; Lực lượng Không quân bay chào mừng; Lực lượng diễu binh, diễu hành; Lực lượng đứng làm nền và Lực lượng xếp hình, xếp chữ.

Lực lượng diễu binh, diễu hành gồm 4 khối Nghi trượng; 43 khối đại diện lực lượng vũ trang nhân dân (26 khối Quân đội, 17 khối Công an); các khối quân đội nước ngoài (dự kiến 4 khối), gồm: Trung Quốc, Nga, Lào, Campuchia; Lực lượng xe, pháo quân sự, xe đặc chủng Công an; Lực lượng diễu binh trên biển; 12 khối diễu hành quần chúng; 1 khối Văn hóa, Thể thao.

Lực lượng đứng làm nền gồm Tiêu binh Lễ đài và 29 khối đứng (18 khối lực lượng vũ trang và 11 khối quần chúng). Lực lượng xếp hình, xếp chữ có sự tham gia của 4.600 người.

Chương trình diễu binh, diễu hành bắt đầu bằng màn rước đuốc truyền thống, bắn Pháo lễ, Không quân bay chào mừng. Tiếp đó là lễ diễu binh, diễu hành các khối theo thứ tự lần lượt là: khối Nghi trượng; khối đi bộ; khối xe, pháo quân sự, xe đặc chủng Công an; lực lượng vũ trang trên biển (truyền hình ảnh về Ba Đình); các khối quần chúng; khối Văn hóa, Thể thao.

Thiếu tướng Tống Văn Thanh cho biết, từ đầu tháng 5, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an đã chỉ đạo tổ chức huấn luyện các lực lượng tham gia A80, tổ chức hợp luyện 4 buổi, tổng hợp luyện 5 buổi (17/7, 5/8, 13/8, 16/8 tại TB4 và 21/8). Buổi Tổng hợp luyện tối 21/8 tại Quảng trường Ba Đình có chất lượng tốt, với sự tham gia của toàn bộ các khối, lực lượng (trừ khối Không quân, Pháo lễ) và 3 khối Quân đội các nước: Nga, Lào, Campuchia.

"Nhìn chung đến nay các khối, các lực lượng đều hoàn thành tốt chương trình huấn luyện, 100% cán bộ, chiến sĩ có nhận thức tốt, quyết tâm cao, phấn khởi thực hiện nhiệm vụ”, Thiếu tướng Tống Văn Thanh cho hay.

Cũng theo lãnh đạo Cục Tuyên huấn, buổi tổng hợp luyện lực lượng vũ trang lần thứ hai sẽ diễn ra từ 20 giờ ngày 24/8; sơ duyệt cấp Nhà nước từ 20 giờ ngày 27/8 và tổng duyệt cấp Nhà nước từ 6 giờ 30 phút ngày 30/8/2025 (thứ Bảy). Lễ chính thức diễn ra từ 6 giờ 30 phút ngày 2/9 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử./.

Yêu nước ST.

THẾ GIỚI - VIỆT NAM: VIỆT NAM KHÔNG BAO GIỜ QUÊN SỰ GIÚP ĐỠ CỦA LIÊN XÔ NÓI CHUNG VÀ UKRAINA NÓI RIÊNG NHÉ RFA!

     Việt Nam có quên sự giúp đỡ của Liên Xô nói chung và các quốc gia thuộc Liên Xô cũ nói riêng đối với Việt Nam trong kháng chiến và hậu chiến không? Chắc chắn là không và thực tế vẫn luôn là như vậy. Đến nay, mặc dù đã hơn 30 năm sau khi Liên Xô tan rã, Việt Nam vẫn duy trì quan hệ tốt đẹp với hầu hết các quốc gia thuộc Liên Xô cũ trong đó có cả Nga và Ukraina. 

Riêng đối với Ukraine, câu hỏi đặt ra là Việt Nam có hoạt động ủng hộ gì đối với Ukraine hay không? Câu trả lời là có, chứ không phải như anh em RFA hết gạo cắn xằng. Gần đây nhất, hồi năm 2022 khi xảy ra xung đột giữa Nga với Ukraine khi Nga tiến hành "chiến dịch quân sự đặc biệt" vào lãnh thổ Ukraine, Việt Nam khi đó đã thực hiện viện trợ nhân đạo đối với Nhân dân Ukraine số tiền 500.000 USD và nhiều thuốc men, lương thực, thực phẩm. Hehe, cái này báo chí và trang truyền thông của Đại sứ quán Ukraine tại Hà Nội đều có đưa tin công khai chứ có giấu giếm đâu nhể!

Vậy tại sao Việt Nam lại chưa bao giờ phát động quyên góp ủng hộ Ukraine như làm đối với Cuba? Hehe, đéo ai lại đi quyên góp ủng hộ một cường quốc cả, phỏng ạ? Mặc dù trong nhiều năm qua kinh tế Ukraine có suy giảm so với trước nhưng trên thực tế Ukraine vẫn là một cường quốc cả về kinh tế và quân sự. Kể cả khi xảy ra xung đột và ảnh hưởng do "chiến dịch quân sự đặc biệt" của Nga khiến sản xuất và xuất khẩu của Ukraine sụt giảm nhưng từ năm 2022 đến nay mỗi năm Ukraine vẫn xuất khẩu hàng chục triệu tấn ngũ cốc ra thị trường thế giới. Chưa kể, trong cuộc chiến vũ trang với Nga, Ukraine đã và đang tiếp tục nhận được sự hỗ trợ/viện trợ vô cùng lớn của Mỹ và phương tây. 

Còn Cuba thì sao? Hơn 60 năm chịu sự kìm kẹp của Mỹ và phương tây, đất nước và đời sống nhân dân Cuba trở nên kiệt quệ bởi lệnh cấm vận toàn diện từ năm 1962. Theo tính toán của Liên hợp quốc, chỉ riêng từ năm 2021 đến nay thiệt hại do lệnh cấm vận đối với Cuba đã lên đến 150 tỷ USD. Nếu tính từ năm 1962 đến nay thì con số thiệt hại trực tiếp phải lên đến hàng chục nghìn tỷ USD. Đất nước và đời sống nhân dân Cuba vô cùng thiếu thốn về mọi mặt. 

Rõ ràng tình trạng của nhân dân Cuba nên được ưu tiên ủng hộ hơn bất cứ quốc gia nào chứ không riêng so với Ukraine. Tuy vậy, tôi tin rằng, nếu khi nhân dân Ukraina cũng gặp hoàn cảnh khốn khó và bị cấm vận như nhân dân Cuba thì Nhà nước và Nhân dân Việt Nam cũng sẽ sẵn sàng có những hình thức ủng hộ phù hợp, xứng đáng với những tình cảm mà nhân dân Ukraine đã dành cho Việt Nam trong lịch sử và hiện tại. Mặc dù thế, việc đem Ukraina ra để so sánh với Cuba về việc tại ủng hộ Cuba mà không ủng hộ Ukraina là một thể hiện của đầu óc ngu dốt hoặc nhân cách khốn nạn. 

Nhân thể kẻ già này xin hỏi: anh em RFA bị Mỹ cắt viện trợ rồi thì đã nhận được ủng hộ của ai chưa?
Khuyết danh ST.

VIỆT NAM - THẾ GIỚI: BABETTE - NGƯỜI CON GÁI NUÔI CỦA BÁC HỒ VÀ KÝ ỨC VỀ VIỆT NAM!

     Gần 80 năm sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau, người con gái nuôi của Người - bà Elisabeth Helfer Aubrac, tên thân mật là Babette - chuẩn bị trở lại Việt Nam dịp Quốc khánh 2/9 năm nay, khi đất nước kỷ niệm 80 năm ngày thành lập. Với bà, đó không chỉ là chuyến đi, mà là cuộc trở về nơi có một phần ký ức tuổi thơ, gắn bó với vị cha đỡ đầu kính yêu.

Mối gắn kết đặc biệt giữa cô bé Elisabeth và vị lãnh tụ Việt Nam

Trong căn hộ nhỏ ở quận 9 Paris, bà Elisabeth Helfer Aubrac nâng niu, gìn giữ nhiều kỷ vật về Việt Nam. Người phụ nữ Pháp đôn hậu sinh năm 1946 - đúng năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Pháp với tư cách thượng khách. Chính tình bạn giữa cha bà - ông Raymond Aubrac, nhà cách mạng nổi tiếng, người bạn thân thiết của Bác Hồ - đã mở ra mối gắn kết đặc biệt giữa cô bé Elisabeth và vị lãnh tụ Việt Nam.

Trao đổi với báo chí Việt Nam, bà kể: "Năm 1946, khi sang Pháp tham dự hội nghị Fontainebleau, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp cha tôi, cựu nghị sỹ Quốc hội Pháp. Cha tôi ngỏ ý mời Người đến thăm gia đình mình và nhận lời mời của cha tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chuyển về ở trong căn nhà và khu vườn của chúng tôi từ đầu tháng 8 đến giữa tháng 9/1946. Ngày 15/8 năm đó, mẹ tôi đã sinh tôi, đặt tên là Elisabeth. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến nhà hộ sinh Port - Royal ở Paris thăm hai mẹ con, tặng quà và nhận làm cha đỡ đầu của tôi. Người gọi tôi theo cái tên thân mật Babette".

Từ ấy, mỗi dịp sinh nhật, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều gửi quà, thư tay hoặc ảnh kèm dòng nhắn gửi thân thương. Cô bé Babette cũng thường vẽ tranh, viết thư hồi âm cho cha nuôi. Dù bận trăm công việc, Người vẫn dành tình cảm cho cô con gái nuôi nhỏ bé nơi Paris xa xôi.

Một trong những kỷ vật mà bà trân trọng nhất là tấm lụa vàng Bác Hồ gửi tặng năm 1967, kèm lời nhắn để may áo cưới khi lập gia đình. Suốt mấy chục năm, tấm lụa vẫn giữ nguyên sắc vàng, mềm mại, bên trong kẹp mẩu giấy nhỏ ghi rõ "Làng lụa Vạn Phúc, Hà Đông, Hà Nội". Bà còn giữ nhiều món quà khác: quả cầu nhỏ, đồng xu, bức ảnh có chữ ký của Người… "Ngay cả quả cầu ấy, tôi vẫn coi là biểu tượng cho trí tuệ, sự may mắn và niềm tin vào một tương lai tươi sáng", bà nói đầy tự hào.

Tiếp nối tình bạn Việt - Pháp

Elisabeth Babette lớn lên trong tình yêu thương của cha mẹ và sự nâng đỡ tinh thần từ người cha nuôi đặc biệt. Bà nói: "Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự vĩ đại của cách sống thấm đẫm nhân văn, với những điều giản dị. Người có sự gần gũi và thuyết phục được mọi người đối diện. Không giống phong cách của một nhà lãnh đạo hay chính trị gia hay nhà ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh gần gũi với mọi tầng lớp từ người công nhân hay người nông dân. Tôi luôn nhớ về Người mỗi ngày và tôi cảm thấy có sợi dây liên lạc gần gũi với nhân dân và đất nước của vị cha đỡ đầu đáng kính của tôi".

Tình bạn giữa Raymond Aubrac và Hồ Chí Minh cũng để lại dấu ấn sâu đậm. Ông Aubrac luôn sát cánh cùng nhân dân Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến, có nhiều đóng góp tích cực vào sự nghiệp đổi mới của Việt Nam và việc vun đắp tình hữu nghị và hợp tác Việt - Pháp. Ông là người đã giúp đỡ ký kết Bản thỏa thuận thương mại đầu tiên giữa Việt Nam và Pháp (năm 1955); trao đổi thông điệp giữa Hà Nội và Washington để xác định chấm dứt vô điều kiện việc Mỹ ném bom xuống Việt Nam (1967); kêu gọi chấm dứt việc ném bom xuống các đê sông Hồng (1972); đại diện Tổng Thư ký Liên hợp quốc thực hiện chương trình trợ giúp của Liên hợp quốc cho Việt Nam thống nhất (1976); yêu cầu McNamara chấp thuận chuyển giao cho Việt Nam sơ đồ các bãi mìn ở vĩ tuyến 17 (1979) và thực hiện nhiều chương trình hợp tác kỹ thuật giúp Việt Nam của Liên hợp quốc, FAO và Pháp từ 1976… Năm 2012, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã truy tặng ông Huân chương Hồ Chí Minh - phần thưởng cao quý mà bà Elisabeth thay mặt gia đình nhận tại Hà Nội.

Không chỉ giữ gìn kỷ niệm gia đình, bà Elisabeth cùng chồng còn nhiều lần sang Việt Nam giảng dạy tại Trung tâm Pháp - Việt về quản lý. Mỗi chuyến trở lại, bà đều xúc động trước những đổi thay trên dải đất hình chữ S, điều mà theo bà, là giấc mơ Bác Hồ luôn ấp ủ.

Trở lại Việt Nam lần này, Elisabeth mang theo ký ức về Bác Hồ và tình bạn Việt - Pháp, để một lần nữa sống lại trên mảnh đất bà coi là quê hương thứ hai./.

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NGÀY 22/8/1945: SÓNG CÁCH MẠNG CUỒN CUỘN, NHIỀU TỈNH ĐỒNG LOẠT GIÀNH CHÍNH QUYỀN!

     Tại Yên Bái, Ban Cán sự Đảng tỉnh Yên Bái tổ chức cuộc mít-tinh quần chúng ở sân Căng thị xã Yên Bái thu hút gần một vạn người tham dự. Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Yên Bái làm lễ ra mắt nhân dân; đồng chí Ngô Minh Loan là Chủ tịch, đồng chí Nguyễn Phúc là Phó Chủ tịch.

Đồng chí Nguyễn Phúc thay mặt Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh tuyên bố xóa bỏ chế độ thực dân phong kiến, công bố chính sách của Mặt trận Việt Minh, kêu gọi nhân dân các dân tộc trong tỉnh đoàn kết ủng hộ, giúp đỡ chính quyền cách mạng sẵn sàng đập tan mọi âm mưu của đế quốc và các thế lực phản động, vượt qua mọi khó khăn gian khổ quyết tâm bảo vệ thành quả cách mạng, từng bước xây dựng cuộc sống mới.

Tại Cao Bằng, buổi sáng, Ủy ban nhân dân lâm thời tỉnh và thị xã tổ chức cuộc tuần hành trên đường phố để biểu dương lực lượng cách mạng, sau đó họp mít-tinh tại chùa Phố Cũ tuyên bố xóa bỏ chính quyền của Nhật và bọn tay sai, thành lập Ủy ban nhân dân lâm thời thị xã.

Nhân dân thị xã Cao Bằng nhiệt liệt chào đón chính quyền cách mạng và Ủy ban nhân dân lâm thời của tỉnh, thị xã ra mắt toàn dân. Đồng thời, ta cử một đoàn đại biểu thay mặt Ủy ban nhân dân lâm thời tỉnh giao thiệp với quân đội Tưởng theo quy chế Đồng minh, nhằm bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ nền độc lập tự do mà nhân dân ta vừa giành được.

Tại Hưng Yên, hàng vạn quần chúng được vũ trang súng, dao, mác, gậy mang theo cờ và biểu ngữ, rầm rập tiến vào tỉnh lỵ trong khí thế hừng hực của cách mạng, địch không dám chống cự, ngụy quyền nhanh chóng tan rã…

Đoàn người khổng lồ diễu hành qua dinh tỉnh trưởng rồi tiến vào sân vận động thị xã Hưng Yên tổ chức mít-tinh lớn, tuyên bố xóa bỏ chính quyền địch, thành lập chính quyền cách mạng.

Tại Huế, bừng bừng khí thế, sắc đỏ cách mạng phủ khắp các cơ xưởng hỏa xa, Sở Công chánh… công nhân đồng loạt đứng lên giành quyền làm chủ, xóa bỏ ách thống trị thực dân, phát-xít.

Dưới sự lãnh đạo của Ủy ban khởi nghĩa, nhân dân đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình thị uy. Tối hôm đó, Ủy ban khởi nghĩa gửi tối hậu thư buộc Bảo Đại thoái vị, trao chính quyền cho nhân dân và bảo đảm an toàn cho Hoàng tộc.

Trước tình thế không thể đảo ngược, Bảo Đại triệu tập “Nội các lâm thời” thông qua dự thảo thoái vị và tuyên bố giải tán. Đúng 18 giờ, trên Đài phát thanh Huế vang lên lời tuyên bố của Bảo Đại.

Đêm 22/8/1945, thành phố ngập tràn khí thế cách mạng; các đội tự vệ truy bắt Việt gian, bao vây bọn phản động, nhân dân náo nức chờ giờ vùng dậy.

Tại Khánh Hòa, mờ sáng, đồng bào Kinh và đồng bào các dân tộc trang bị giáo mác, gậy gộc, tên, ná, từ Cà Rôm, Hiệp Mỹ, Hiệp Thạnh, Trại Cá, Trà Long, Khánh Cam, Hòa Do, Mỹ Ca, Cồn Ké, theo đường số 1 đổ về Đá Bạc.

Đồng bào làm nghề biển Cam Ranh, Thịnh Xương, Cồn Sung, Bình Ba, Bình Hưng trên hàng chục chiếc thuyền lớn nhỏ giương cờ đỏ sao vàng cùng tiến về Đá Bạc, bao vây chiếm Nha đại diện hành chính và các công sở ngụy quyền.

Viên kiểm lý Tôn Thất Ẩn giao nộp ấn tín, hồ sơ cho cách mạng. Các tên Việt gian phản động đều bị tự vệ bắt giữ. Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện do đồng chí Nguyễn Xuân Cúc làm Chủ tịch ra mắt quần chúng, tuyên bố xóa bỏ chính quyền bù nhìn, công bố 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh.

Tại Tân An, cuộc khởi nghĩa nhanh chóng giành thắng lợi. Buổi sáng, 4.000 quần chúng với tầm vông, giáo mác, khẩu hiệu, cờ đỏ sao vàng từ các quận Châu Thành, Thủ Thừa, tiến về sân đá bóng thị xã, trước dinh Tỉnh trưởng, tham gia cuộc mít-tinh chào mừng cách mạng. Trước đông đảo quần chúng, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời ra mắt nhân dân.

Tại Sài Gòn, Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Trọng và Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Lê Minh Xuân trực tiếp chỉ huy lực lượng đến tước vũ khí của lính bảo an tỉnh, thu hơn 140 súng. Thanh niên Tiền phong thiết lập trật tự chung toàn thị xã. Tên tỉnh trưởng Thạch trên đường từ Sài Gòn về bị ta đón lõng và bắt giam./.
Ảnh 1: Thanh niên Tiền phong tại Sài Gòn biểu dương lực lượng trong những ngày Cách mạng Tháng Tám 1945. 
Ảnh 2: Tranh sơn dầu tái hiện buổi mít-tinh mừng chiến thắng vào chiều 22/8/1945 của Tỉnh ủy và nhân dân Tân An (trưng bày tại Di tích Nhà Tổng Thận (tỉnh Long An cũ).

Yêu nước ST.

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: SAO KHÔNG BẮN?!!!

     Vụ thông chốt kinh hoàng ở Hà Nội để lại nhiều bình luận đại ý “Sao chiến sĩ CSCĐ không nổ súng?”.

Phải nói thẳng “Không thể bắn và không được bắn”.

Cảnh sát làm việc có nguyên tắc, không phải lúc nào cũng rút súng ra được.

Và khi nhiều người dân đang đứng chờ xem tổng duyệt, việc nổ súng là rất rủi ro. Các chiến sĩ CSCĐ không rút súng ra là ĐÚNG.

CSGT, CSCĐ hay các lực lượng vũ trang khác mặc quân phục là để thể hiện vai trò đại diện của luật pháp. Luật pháp nghiêm minh, nên bộ quân phục cũng mang tính trấn áp bằng hình ảnh bên ngoài. Tính trấn áp ấy để ngăn chặn manh động gây hậu quả lớn hơn. Kỳ vọng của trấn áp này là để tội phạm biết sợ mà dừng tay. Nhưng bọn tội phạm không biết sợ thì sao? Thì rủi ro dồn hết về lực lượng Cảnh sát.

Việc chiến sĩ CSCĐ bị tông trúng, không thể đặt câu hỏi kiểu “Tại sao không làm thế này, không làm thế kia?”. Đơn giản, các chiến sĩ đang làm nhiệm vụ theo phân công, chỉ đạo, phải đứng theo vị trí, theo đội hình. Và khi đứng giữa tội phạm với nhân dân, mặc định các chiến sĩ cảnh sát phải lựa chọn lao vào tội phạm để tránh thương vong cho dân. Hai đứa manh động cố ý thông chốt là đồng nghĩa cố ý đâm thẳng vào đội hình. Do đó, hành vi này không thể xem là tai nạn, mà là tội ác có chủ đích.

Như vậy, nếu không tông phải chiến sĩ CSCĐ này, chúng cũng tông người khác.

Qua sự việc này, cho thấy phải trấn áp mạnh tay với đua xe, thông chốt và… ma tuý./.
Khuyết danh ST.

Thứ Năm, 21 tháng 8, 2025

VIỆT NAM - THẾ GIỚI: TÌNH YÊU VỚI BÁC HỒ VỚI VIỆT NAM!

     Mặc áo cờ đỏ sao vàng, tay ôm 5 điều Bác Hồ dạy, du khách Hàn Quốc bật khóc nức nở khi được trải nghiệm khoảnh khắc "gặp" Bác trên Quảng trường Ba Đình năm 1945!

Trong khán phòng của trải nghiệm VR, nơi hàng trăm người Việt Nam đang lặng im lắng nghe giọng Bác Hồ cất lên, tiếng khóc nức nở bỗng vang thành tiếng. Cả khán phòng quay lại. Người bật khóc không phải một cụ già nhớ về ký ức cũ, cũng không phải một thanh niên lần đầu được “chạm” vào lịch sử, mà là một du khách ngoại quốc.

Anh mặc chiếc áo đỏ rực, in ngôi sao vàng năm cánh. Trên tay anh, một tấm bảng gỗ khắc dòng chữ giản dị bằng tiếng Việt: “5 điều Bác Hồ dạy”. Anh ôm chặt như báu vật.

Khi giọng Bác vang lên trầm hùng: “Hỡi đồng bào cả nước…”, đôi vai anh run rẩy, khóc nấc lên như một đứa trẻ. Nước mắt chảy dài, ướt đẫm khuôn mặt. Không kìm được, anh úp mặt vào tấm bảng, để nước mắt thấm xuống từng thớ gỗ.

Có cụ bà run run rút khăn lau nước mắt theo, có em nhỏ ngơ ngác siết chặt lá cờ trong tay, còn những người trẻ tuổi lặng lẽ cúi đầu để mặc cho cảm xúc dâng lên cùng tiếng khóc ấy.

Người đàn ông ấy xưng tên là Dragon Kim, một du khách Hàn Quốc có tình yêu đặc biệt dành cho Việt Nam. Anh kể, sau 8 năm sống tại Việt Nam, học tiếng Việt và tìm hiểu văn hóa Việt Nam, anh đã đặt khắc tấm bảng gỗ ấy.

“Tôi khắc để mỗi ngày đều nhớ. 5 điều Bác Hồ dạy không chỉ cho thiếu nhi Việt Nam, mà còn cho tất cả chúng ta. Tôi muốn sống đúng như vậy", Dragon Kim nói trước khi bắt đầu phần trải nghiệm./.

Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA ĐẠI TƯỚNG NGUYỄN CHÍ THANH!

     Đây là hồi ức của bác sĩ Nguyễn Thị Bảo về những giây phút cuối cùng của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Sự ra đi của ông đột ngột nhưng giản đơn đúng phong cách của con người chiến trận. Trích từ "Đại tướng Nguyễn Chí Thanh – Nhà lãnh đạo lỗi lạc, một danh tướng thời đại Hồ Chí Minh", Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.344-347.

Chúng tôi là những người được sống và công tác cùng anh Thanh tới khi anh mất. Hàng năm cứ mỗi lần đến viếng mộ và thắp hương bàn thờ anh thì niềm thương, nỗi nhớ cứ dâng trào trong chúng tôi. Anh Thanh – một vị tướng thao lược, nhưng rất giản dị, gần gũi với những người cộng sự. Từ các đồng chí bí thư, bảo vệ, lái xe, bác sĩ đến đồng chí nấu ăn, ai ai cũng thương quý anh như người ruột thịt trong một gia đình. Năm nay, càng gần tới ngày giỗ lần thứ 30 của anh (6/7/1967 - 6/7/1997) trong mỗi chúng tôi càng gợi lại bao kỷ niệm sâu sắc, bao bài học về anh mà trong đó kỷ niệm về những ngày trước và sau giây phút anh ra đi tại Viện Quân y 108 cứ đọng lại mãi trong ký ức chúng tôi rõ mồn một. 

Hồi đó, tôi là bác sĩ thuộc Ban quân y thủ trưởng, phụ trách sức khỏe các gia đình có cán bộ đi B. Trưa ngày 5 tháng 7 năm 1967, tôi đến nhà chị Cúc (vợ anh Nguyễn Chí Thanh), thấy chị ngồi ăn cơm một mình, tôi hỏi nhỏ:
 - Sao chị không chờ anh về ăn cùng?
 - Anh đi ăn cơm khách – chị khẽ trả lời và kéo tôi ngồi xuống ăn cơm cùng. (Từ thời kỳ chống Pháp đến kháng chiến chống Mỹ, gia đình anh chị và chúng tôi gắn bó như anh chị em ruột thịt, gặp bữa cơm nếu chưa ăn là ngồi vào ăn luôn). Chị em tôi ăn sắp xong thì anh Thanh ở ngoài bước vào trong bộ lễ phục trắng, quân hàm Đại tướng với dáng đường bệ và vui vẻ. Nhìn thấy tôi, anh khen: “Cô Bảo ở nhà chăm sóc sức khỏe chị và các cháu tốt anh mừng”. Rồi anh ngồi xuống cạnh chị Cúc, anh nói khẽ: “Chiều nay, Cúc đi ăn cơm khách với anh nhé!”. Với nét mặt hơi buồn, chị không trả lời thành tiếng, đầu chị nghiêng nghiêng không ra vẻ gật, cũng không ra vẻ lắc từ chối, đôi mắt chị nhìn anh trìu mến. Tôi thầm đoán là anh lại sắp vào B mà chuyến này đi với bao gian nguy trọng trách nên chị buồn lo. AnhThanh đứng dậy và nói: “Hai chị em tiếp tục ăn đi, anh lên nhà nghỉ trưa một tí đã”. Tôi nhìn theo bước chân nhanh nhẹn của anh đang đi trên cầu thang mà lòng mừng vui về sức khỏe của anh không hề suy suyển sau chuyến đi B dài vừa qua. 
Anh Nguyễn Chí Thanh đi B từ 1964, cuối tháng 6 năm 1967 anh được Trung ương và Bác Hồ triệu tập ra hội nghị để báo cáo tình hình miền Nam và nhận thêm chỉ thị mới. Còn một ngày trước khi lên đường mà bao nhiêu công việc dồn dập: trưa 5/7/1967, ăn cơm chia tay với Bác Hồ, nghe Bác dặn dò thêm; chiều đồng chí Võ Nguyên Giáp mời ăn cơm và trao đổi thêm nhiệm vụ. Sau bữa cơm về nhà muộn, anh còn làm việc với đồng chí Song Hào, Lê Quang Đạo, Phạm Ngọc Mậu, rồi đồng chí Vũ Tuân bên Văn phòng Trung ương sang gặp làm việc thêm. Khoảng hơn 11 giờ đêm anh mới được nghỉ và bắt đầu nói chuyện với chị Cúc, dặn dò các con trước khi đi xa. Anh Thanh còn nhắn bác Diệp nấu ăn lên dặn: chị chuẩn bị hai cốc cà phê vào lúc 4 giờ sáng (6/7/1967), một cốc cho anh và một cốc cho bác sĩ Thuận đi theo anh vào B. 
Gần 1 giờ sáng anh mới đi ngủ. Khoảng 3 giờ sáng anh Chắt bảo vệ đến nhà dưới đánh thức bác sĩ Thuận – người phụ trách sức khỏe riêng của anh Thanh, thấy anh Thanh kêu đau tức ngực và nóng ran trong bụng như có cào xé, bác sĩ Thuận đo huyết áp: 140/80; mạch 80 và khuyên anh nằm yên để mời kíp cấp cứu Viện Quân y 108 đến nhà. Anh bảo bác sĩ Thuận đi gọi điện báo cáo Trung ương tình trạng anh bị ốm bất ngờ. Bác sĩ Thuận đưa anh lên xe ô tô. Trên xe với tư thế nằm, anh vẫn nói chuyện với anh Chắt bảo vệ và anh Thuận. Xe đến phòng cấp cứu Viện Quân y 108, bác sĩ Thuận đề nghị đưa cáng ra khiêng anh vào giường. Anh Thanh đùa: “Chú Thuận chúa hình thức, quan trọng hóa”, rồi anh ngồi dậy đi thẳng vào buồng cấp cứu. Ở đó đã có Viện trưởng Nguyễn Thế Khánh và bác sĩ Phạm Tử Dương ra đón ngay. Anh Thanh vừa ngồi xuống giường, rồi nằm xuống, tự nhiên anh phát ra một tiếng “ặc”, mặt và toàn thân tím ngắt. Các bác sĩ xoa bóp ngoài lồng ngực, tiêm các thuốc trợ tim, điều trị cấp cứu tích cực, nhưng không kết quả. 
Thế là các nhà chuyên môn phải chuyển anh lên phòng mổ can thiệp ngoại khoa mổ lồng ngực, kích thích trực tiếp vào tim do Giáo sư Phạm Gia Triệu và bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Toản thực hiện nhiệm vụ này. Ngay sau đó, các đồng chí Vũ Văn Cẩn, Cục trưởng Cục Quân y, đồng chí Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch, giáo sư Tôn Thất Tùng và bao nhiêu chuyên gia tim mạch trong và ngoài quân đội đến đầy đủ để tham dự cấp cứu anh. Nhưng tim anh vẫn chỉ co bóp rời rạc. 
Đến 9 giờ sáng ngày 6/7/1967 tim anh ngừng đập và anh đã tắt thở hoàn toàn, với chẩn đoán cuối cùng: nhồi máu cơ tim (gây cơn đau ngực, lan xuống động mạch chủ bụng) gây chết đột ngột (mort subite). Đúng 9 giờ sáng ngày hôm đó, xe đón chị Cúc có tôi đi cùng xuống Viện Quân Y 108, chúng tôi nhập vào đoàn y tế vừa cấp cứu anh xong, cùng các bạn bè thân thiết, các đồng chí tổ chức Trung ương chuyển linh cữu anh Nguyễn Chí Thanh đến đặt tại Hội trường Viện Quân y 108. 
Hôm sau, 7 tháng 7 năm 1967, linh cữu anh được chuyển về hội trường Câu lạc bộ quân nhân Hoàng Diệu để tổ chức lễ viếng và truy điệu. Hồi đó, đang thời kỳ máy bay giặc Mỹ leo thang ra miền Bắc, nên không có truyền tin rộng rãi, chỉ có một bài xã luận báo Nhân Dân ca tụng về tài năng, đạo đức, công lao đồng chí Nguyễn Chí Thanh. Lễ tang anh, người đến viếng rất đông, ai ai mắt cũng đỏ hoe vì quá thương tiếc anh. Đặc biệt, khi Bác Hồ đến viếng, Bác lau nước mắt thì nhiều người khóc nấc lên. Để tránh bom đạn giặc Mỹ, lễ đưa tang anh Nguyễn Chí Thanh rất muộn, đến nghĩa trang Mai Dịch thì trời tối hẳn. Đêm 7 tháng 7 năm 1967, tức là đêm 30 tháng 5 Đinh Mùi không có trăng, chỉ có ánh sao lờ mờ, nên tang lễ anh càng đượm buồn. Sau lễ an táng anh, mọi người ra về với lòng tiếc thương vô hạn, thầm hứa noi gương học tập ý chí quyết chiến, quyết thắng, tinh thần cách mạng triệt để của anh, tiếp tục hoàn thành sự nghiệp anh đang tiến hành dang dở. 
Nguyễn Thị Bảo.
Đại tá, bác sĩ, nguyên Phó Chủ nhiệm Khoa A3 Viện Quân Y 108./.
Yêu nước ST.

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC KHÔNG LÊN ÁN NGA CỦA MỸ?

     Phải chăng gió đã đổi chiều: Chính quyền của Tổng thống Mỹ Donald Trump hai lần không bỏ phiếu ủng hộ dự thảo Nghị quyết và Tuyên bố chung của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc “lên án Nga xâm lược”.

Lần thứ nhất trong tháng 2/2025, Mỹ không bỏ phiếu ủng hộ dự thảo Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc do Ukraina và một số nước đệ trình “lên án Nga xâm lược Ukraina”. Mỹ đệ trình bản dự thảo nghị quyết khác chỉ yêu cầu “nhanh chống chấm dứt cuộc chiến Ukraina”.

Lần thứ hai Mỹ ủng hộ Tuyên bố chung của một số thành viên Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc án “Nga xâm lược Georgia” trong cuộc chiến tranh 5 ngày đầu tháng 8 năm 2008. Ủng hộ Tuyên bố chung này có đại diện của 5 thành viên Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc gồm Đan Mạch, Pháp, Hy Lạp, Anh và Slovenia cùng với Latvia (quốc gia sẽ bắt đầu nhiệm kỳ thành viên HĐBA vào năm sau). 

Khách quan mà xét, việc Mỹ phản đối Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc “lên án Nga xâm lược Ukraina” hay Mỹ không ủng hộ Tuyên bố chung của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc “lên án Nga xâm lược Gruzia” là hoàn toàn đúng bản chất của hai cuộc chiến này.

Về cuộc chiến Ukraina, chính Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio khẳng định đó là cuộc chiến tranh uỷ nhiệm giữa hai siêu cường hạt nhân, trong đó Mỹ viện trợ quân sự cho Ukraina để tiến hành cuộc chiến tranh uỷ nhiệm chống Nga. Cuộc chiến này do chính quyền của Đảng Dân chủ châm ngòi dưới thời Tổng thống Joe Biden. 

Còn cuộc chiến Nga-Gruzia khởi đầu bằng hành động của Gruzia được chính quyền của Tổng thống Mỹ Barack Obama- cũng là người của Đảng Dân chủ “chống lưng” tấn công lực lượng gìn giữ hoà bình của Nga ở Nam Osechia, buộc Nga phải đáp trả./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BỐN NGÀY CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VIẾT TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP!

     Đêm thu trong căn gác vừa là phòng ăn vừa là nơi tiếp khách ở 48 Hàng Ngang, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi trước máy đánh chữ soạn thảo Tuyên ngôn độc lập.

Sau khi Hà Nội giành được chính quyền từ quân Nhật trong Tổng khởi nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng từ chiến khu Tân Trào đi bộ về Hà Nội. Những cán bộ cốt cán của Trung ương Đảng tạm trú tại nhà 48 Hàng Ngang, là nhà của ông bà Trịnh Văn Bô, một tư sản yêu nước có đóng góp nhiệt thành cho cách mạng. Chủ nhà dành riêng cho khách tầng gác hai, tầng ba dành cho Bác làm việc. Không thích một mình nên Bác chọn ở cùng với cộng sự.

Tầng gác hai vốn là phòng ăn và nơi tiếp khách, không có bàn viết. Chiếc máy chữ đặt ở bàn vuông nhỏ kê góc buồng. Hết giờ làm việc, mỗi người kiếm một góc nghỉ ngơi, người nằm đi văng, người ngủ trên mấy chiếc ghế ghép, Bác nằm trên chiếc ghế xếp bằng vải vẫn dựng góc buồng.

Căn gác là nơi Thường vụ Trung ương Đảng họp bàn việc sớm công bố danh sách Chính phủ lâm thời và ra mắt nhân dân - những việc phải làm ngay trước khi quân Tưởng Giới Thạch kéo vào giải giáp quân Nhật. Thường vụ quyết định ngày ra mắt Chính phủ lâm thời cũng là ngày nước Việt Nam chính thức công bố giành quyền độc lập và thiết lập chính thể dân chủ cộng hòa. Ngoài đường lối, chính sách của Chính phủ, cần chuẩn bị cả lời thề trước nhân dân. Việc hệ trọng cần làm ngay là soạn thảo Tuyên ngôn độc lập.

Ngày 28/8/1945, trong căn buồng thiếu ánh sáng, Hồ Chủ tịch cặm cụi viết, lúc thì đánh máy. Ngoài chủ nhà, những người giúp việc không ai biết ông cụ là ai, vẫn tưởng "ông với các bác ở quê ra chơi". Đến anh lái xe hôm đi đón đoàn ở làng Gạ ven đô về 48 Hàng Ngang tới hôm 2/9 mới biết Chủ tịch nước là ông cụ mấy ngày trước mình đón về.
Chủ tịch Hồ Chí Minh tập trung viết Tuyên ngôn độc lập những ngày cuối tháng 8 giữa Thủ đô. Nhưng từ giữa tháng 5 khi còn ở Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang, Bác đã nói với trung úy John, báo vụ của Cơ quan tình báo chiến lược Mỹ OSS điện về Côn Minh, Trung Quốc, đề nghị thả dù cho một cuốn Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ.

Thời gian này để phối hợp với quân Đồng minh, Việt Minh tiếp nhận một số binh sĩ Mỹ đến khu giải phóng hợp tác chống Nhật, chủ yếu là kỹ thuật viên hỗ trợ thông tin liên lạc bằng vô tuyến điện. Đầu tháng 8, tại nơi được chọn làm sân bay ở xóm Lũng Cò, xã Minh Thanh, Tuyên Quang, một bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ được máy bay của Không đoàn 14 thả xuống.

10h30 ngày 29/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thiếu tá tình báo Archimedes L.A. Patti - Trưởng ban Đông Dương của OSS tại 48 Hàng Ngang. Patti đến Hà Nội để làm nhiệm vụ giải cứu tù binh và chuẩn bị cho việc giải giáp quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra. Cùng tiếp có ông Trường Chinh.

Trong cuốn Tại sao Việt Nam - Khúc dạo đầu của chim hải âu Mỹ, Patti kể cụ Hồ hôm ấy "khỏe mạnh, sôi nổi", trao đổi một số kế hoạch sắp tới, trong đó có tổ chức ngày lễ Độc lập 2/9. Nhưng một trong những lý do ông muốn gặp Patti liên quan đến bản Tuyên ngôn độc lập đang soạn thảo sẽ được công bố vài ngày nữa.

Bản thảo được đưa tới, Patti nhận ra đó là tài liệu đánh máy bằng Tiếng Việt. Nhiều chữ bị xóa đi, được viết đè lên bằng bút mực với ghi chú bên lề. Nghe phiên dịch, thiếu tá tình báo "vô cùng ngạc nhiên" khi Hồ Chủ tịch đã đưa vào một số câu trong Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ, nhưng đã đảo trật tự và thay thế một số từ, đem lại một ý nghĩa mới.

Trong mấy câu đầu, người phiên dịch nói lên một số danh từ "rất quen thuộc và giống lạ lùng như Tuyên ngôn của nước Mỹ". Nghe tiếp câu sau "Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ", Patti chặn người phiên dịch, kinh ngạc quay sang hỏi cụ Hồ liệu "thực có ý định sử dụng câu đó trong bản Tuyên ngôn" của Việt Nam không?

Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi dựa vào ghế, hai tay úp vào nhau, như đang suy tưởng rồi cười nhã nhặn hỏi lại thiếu tá Mỹ: "Tôi không thể dùng được câu ấy à?".

Patti bình tĩnh lại, nhờ người phiên dịch đọc lại đoạn đó một lần nữa. "Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng. Họ đã được tạo hóa trao cho những quyền không thể chuyển nhượng lại được, trong đó có quyền tự do, quyền sống và được hưởng hạnh phúc". Patti cố nhớ lại, mới nhận ra các danh từ đã được chuyển vị trí, trật tự quyền tự do (liberty) và quyền sống (life) đã thay đổi.

"Đúng! Không thể có tự do mà không có quyền sống, cũng như không thể có hạnh phúc mà không có tự do", Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời.

Hồ Chủ tịch mời Patti dự lễ Độc lập 2/9, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Phía bên kia nhận lời, nhưng cũng tỏ ý có thể không đến dự được vì một vài lý do tế nhị. Thiếu tá tình báo Mỹ trở thành người nước ngoài đầu tiên được nghe bản thảo Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sáng 30/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh và ông Trường Chinh mời ông Võ Nguyên Giáp cùng một số người đến trao đổi, góp ý cho dự thảo Tuyên ngôn độc lập. Tuyên ngôn thảo xong, Bác đọc để tập thể thông qua.

Tướng Giáp sau này vẫn hoài niệm sáng ấy thấy "niềm vui rạng rỡ trên khuôn mặt còn võ vàng", nhưng là "những giờ phút sảng khoái nhất" của Chủ tịch Hồ Chí Minh. 26 năm trước tại Hội nghị Versailles, Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã tới và nêu lên những bức thiết về dân sinh dân chủ cho người dân thuộc địa, nhưng những yêu cầu tối thiểu đã không được chấp nhận. Người thanh niên ấy nhận rõ không thể trông chờ vào tư bản mà phải tự trông cậy vào dân tộc mình. Và giờ phút ấy là thành quả của 80 năm đấu tranh.

Ngày 31/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh bổ sung một số điểm vào bản thảo Tuyên ngôn độc lập và hỏi tình hình chuẩn bị tổ chức cuộc mít tinh ngày 2/9/1945 tại Ba Đình, Hà Nội. Ông cụ xem sơ đồ địa điểm tổ chức, nhắc ban tổ chức đôi điều chú ý, trong đó có nơi vệ sinh cho đồng bào, dặn nếu trời mưa thì kết thúc sớm hơn, tránh cho người dân nhất là các cụ già, cháu nhỏ bị ướt.

Giữa những ngày bộn bề cuối tháng 8, khi đã ấn định được Lễ Độc lập diễn ra ngày 2/9/1945, anh em cán bộ mới sực nhớ ra cần tìm cho mỗi người một bộ quần áo thật tươm tất lúc ra mắt trên lễ đài, đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cán bộ từ chiến khu trở về, kể cả Bác đều mặc đồ đã cũ sờn, có nhiều miếng vá.

Là hiệu buôn, bấy giờ trong tủ ông bà Trịnh Văn Bô - Hoàng Thị Minh Hồ có nhiều vải vóc. Bà Minh Hồ đã lựa mấy xúc vải kaki để may quần áo cho cán bộ, đồng thời lấy cả chục bộ đồ mới cho anh em mặc tạm trong lúc chờ đồ may. Ai mặc vừa bộ nào thì lấy bộ đó. Riêng cụ Hồ vừa ốm sốt nhiều ngày lại đi bộ từ chiến khu về nên sút cân, không hợp bộ nào trong số quần áo may sẵn.

Sát ngày đại lễ, ông bà mang vài loại vải đã chọn riêng tới, nhưng Bác nói chỉ cần mặc tươm tất, không cần len dạ đắt tiền, không cà vạt cổ cồn. Cuối cùng, ông chủ hiệu may Phú Thịnh có tiếng ở Thủ đô nhận may riêng cho Bác hai bộ, kiểu áo bốn túi, mặc kín cổ khi có việc quan trọng, lúc thường có thể mở khuy cho thoải mái, đi giày dép đều được. Bác mặc thử, liền ưng.

Ngày 2/9/1945, trên lễ đài ở quảng trường Ba Đình, trước 500.000 đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: "Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được trong những quyền sống, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc...".

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong hồi ký Những năm tháng không thể nào quên, vẫn nhớ rõ "cụ già hôm ấy gầy gò, trán cao, mắt sáng, đội chiếc mũ đã cũ". Bộ quần áo vải kaki mà 24 năm làm Chủ tịch nước, trong những ngày lễ lớn của dân tộc, những chuyến viếng thăm nước ngoài, Bác đều mặc, "trên ngực không một tấm huy chương, y như ngày ra mắt đồng bào"./.
--------------------
Tư liệu lược trích:
- Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Những năm tháng không thể nào quên, trong Tổng tập Hồi ký, NXB Quân đội nhân dân 2018
- Sách Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn độc lập, NXB Văn hóa thông tin, lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Việt Nam./.
Yêu nước ST.