Thứ Năm, 13 tháng 2, 2020

Chủ tịch Hà Nội: Không được kỳ thị với sinh viên đến từ Vĩnh Phúc, người đến từ vùng dịch


Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung chỉ đạo Sở Y tế cần phối hợp, thẩm định chất lượng 600.000 chiếc khẩu trang bị quản lý thị trường tịch thu để có thể phát miễn phí cho học sinh.
Chiều 12/2, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung đã chủ trì họp Ban chỉ đạo chống dịch Covid19 (nCoV).
Báo cáo tại cuộc họp, Chủ tịch UBND quận Bắc Từ Liêm Trần Thế Cương cho biết, hiện quận gặp nhiều khó khăn trong công tác phòng, chống dịch do có nhiều trường ĐH, CĐ trên địa bàn với hơn 120.000 sinh viên.
Số lượng sinh viên đến từ Vĩnh Phúc tạm trú trên địa bàn nhiều và có trường hợp đến từ các nơi đang có người nhiễm virus Corona (Covid19) ở huyện Bình Xuyên.
"Chúng tôi đề xuất trường cho các sinh viên này nghỉ học, cách ly sinh viên đang tạm trú trên địa bàn", ông Cương nói.
Ông Cương đề xuất, cần thống nhất chủ trương cho nghỉ học với học sinh, sinh viên, vì nhiều trường ĐH vẫn cho sinh viên theo học, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh dịch.
Chủ tịch UBND quận Bắc Từ Liêm cũng nêu một khó khăn về việc cách ly sinh viên trên địa bàn, dù địa phương đã có các tổ công tác gồm công an, tình nguyện viên, tổ trưởng dân phố, đo thân nhiệt 2 lần/ngày.
"Sinh viên thường thuê trọ một mình, việc ăn ở, sinh hoạt rất khó khăn. Chúng tôi phải xuống vận động chủ nhà trọ đứng ra mua giúp đồ cho các sinh viên cách ly ở đây", ông Cương nêu.
Liên quan đến vật tư, trang thiết bị, ông Cương cho biết, hiện nay, việc mua hóa chất cloramin B rất khó và nếu nhập về giá cao hơn so với trước đây.
Còn đại diện quận Nam Từ Liêm cho hay, hiện trên địa bàn còn phải giám sát, theo dõi 79 người, trong đó có cả người Trung Quốc và người Việt Nam.
Trên địa bàn quận có khoảng 40 sinh viên là người Trung Quốc, tới đây sẽ sang tiếp tục học tập. Đại diện quận này cũng đề xuất có hướng dẫn, quan tâm tới sinh viên đến từ vùng có dịch bệnh như Vĩnh Phúc, các tỉnh biên giới phía Bắc.
Trong khi đó, đại diện UBND Chương Mỹ cho biết, đã kết thúc cách ly 49 trường hợp, hiện còn theo dõi một số trường hợp khác. Tuy nhiên, có trường hợp không chấp hành cách ly tại gia đình.



ĐỘI LỐT "THEO DÕI NHÂN QUYỀN" CAN THIỆP VÀO CÔNG VIỆC NỘI BỘ CỦA VIỆT NAM LÀ TRÁI CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ

Nhân quyền là giá trị thiêng liêng mà toàn thế giới hướng tới. Thế nhưng đây cũng là chủ đề nhạy cảm mà các thế lực thù địch và một số tổ chức phi chính phủ được sự bợ đỡ của phương Tây luôn tìm cách lợi dụng nhằm thực hiện những động cơ đen tối, trong đó có Tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch-HRW)-đặt trụ sở tại New York, Hoa Kỳ.

"Con rối" đội lốt nhân quyền

Tổ chức HRW được thành lập năm 1988 trên cơ sở hợp nhất tổ chức Helsinki Watch (do Robert L.Bernstein thành lập năm 1978 với mục đích "giám sát" Liên Xô bằng cách thu thập tư liệu liên quan tới việc Liên Xô thực hiện quy ước của Tổ chức an ninh và hợp tác châu Âu (OSCE), hỗ trợ các nhóm "bảo vệ" nhân quyền tại nước này) với một số tổ chức quốc tế khác có cùng tôn chỉ, mục đích nghiên cứu và cổ vũ cho phát triển nhân quyền. Nói là chuyên nghiên cứu và cổ vũ cho nhân quyền, nhưng nhìn vào những hoạt động của HRW người ta không khó để nhận ra tổ chức này đã và đang “lời nói không đi đôi với việc làm”, ngày càng xa rời, thậm chí đi ngược tôn chỉ, mục đích.

Tổ chức này thường xuyên lợi dụng nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước. Nhiều quốc gia trên thế giới đã cáo buộc HRW chịu quá nhiều chi phối từ chính phủ Hoa Kỳ, hoạt động không đúng tôn chỉ, mục đích. Chẳng hạn Liên bang Nga đã nhiều lần chỉ trích HRW về những động thái tuyên truyền, xuyên tạc, kích động tạo cớ can thiệp vào những vấn đề nội bộ của nước này. Tương tự, do có những hành động vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế và các quy tắc cơ bản của quan hệ quốc tế, cũng như can thiệp vào các vấn đề nội bộ của Trung Quốc nên chính phủ nước này đã áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với HRW. Không phải ngẫu nhiên mà trang web của HRW lại bị cấm hoạt động tại Thái Lan. Chính phủ nước này buộc phải làm điều ấy là vì thông qua trang web này tổ chức HRW thường xuyên đội lốt "theo dõi nhân quyền" để tuyên truyền xuyên tạc, tán phát những nội dung thông tin sai lệch, kích động, vi phạm các quy định về an ninh quốc gia của họ. Ngoài ra HRW còn bị nhiều quốc gia, như: Đức, Cuba, Sri Lanka, Triều Tiên, Ethiopia, Syria... chỉ trích, phản đối với những nội dung và mức độ khác nhau vì đã can thiệp làm phức tạp tình hình, gây khó khăn cho việc bảo đảm nhân quyền ở các nước này.

Không là ngoại lệ, HRW đã nhiều lần đưa ra những thông tin thiếu khách quan, không chính xác, mang tính xuyên tạc, phủ nhận thành quả, bôi nhọ bức tranh nhân quyền Việt Nam. Những việc làm mang dụng ý xấu của HRW ít nhiều khiến cộng đồng quốc tế hiểu chưa đúng về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Có thể thấy HRW đã lộ nguyên hình là "con rối" đội lốt "thúc đẩy nhân quyền" phục vụ cho mục tiêu chính trị của một thế lực đen tối.

HRW đã vi phạm nghiêm trọng công ước và nguyên tắc quốc tế

Hành động của HRW vi phạm nghiêm trọng công ước và nguyên tắc quốc tế về cấm can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác. Quy định về cấm can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác được đề cập trong các điều ước quốc tế. Đặc biệt trong Hiến chương Liên hợp quốc (LHQ) năm 1945, lần đầu tiên đã quy định về nguyên tắc cấm can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác ở Điều 2. Sau đó tại Nghị quyết 2625 năm 1970 của Đại hội đồng LHQ, nguyên tắc cấm can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác tiếp tục được ghi nhận cụ thể và rõ ràng hơn.

Nền tảng pháp lý của nguyên tắc này là các nước, các tổ chức quốc tế có nghĩa vụ tôn trọng chủ quyền lãnh thổ và toàn vẹn chính trị của một quốc gia. Nội dung chính của nguyên tắc theo Nghị quyết 2625 là: Không quốc gia nào hay nhóm quốc gia nào có quyền can thiệp, trực tiếp hay gián tiếp, vì bất kỳ lý do gì vào công việc đối nội và đối ngoại của bất kỳ quốc gia nào khác. Theo đó: Can thiệp vũ trang và tất cả các hình thức can thiệp hay đe dọa chống lại tư cách của quốc gia hay chống lại các đặc trưng chính trị, kinh tế và văn hóa của quốc gia đó, đều là vi phạm luật pháp quốc tế; không quốc gia nào có thể sử dụng hay khuyến khích sử dụng các biện pháp cưỡng ép bằng kinh tế, chính trị hay các hình thức khác nhằm buộc quốc gia khác phải phụ thuộc mình khi thực hiện các quyền chủ quyền và nhằm bảo đảm các lợi thế ở bất kỳ hình thức nào. Ngoài ra Nghị quyết 2625 còn quy định: Không quốc gia nào được tổ chức, hỗ trợ, khuyến khích, tài trợ, kích động hay dung thứ cho hành vi lật đổ, khủng bố hay các hoạt động vũ trang trực tiếp nhằm lật đổ bằng bạo lực thể chế của quốc gia khác, hoặc can thiệp vào các cuộc bạo động dân sự ở quốc gia khác;... Theo Nghị quyết 2625, việc sử dụng bất cứ hình thức nào nhằm ngăn cản các dân tộc có bản sắc quốc gia cấu thành hành vi vi phạm các quyền không thể tách rời của các dân tộc đó và vi phạm nguyên tắc không can thiệp...

Đối với Việt Nam, trong nhiều văn bản pháp luật Nhà nước Việt Nam cũng quy định rõ các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự nước ngoài, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam và thành viên của những cơ quan đó phải: Tôn trọng pháp luật và phong tục, tập quán của Việt Nam; không can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam;... Thế nhưng HRW đã phớt lờ những quy định và nguyên tắc ấy. Điều này càng lộ rõ thông qua những việc làm và phát ngôn của một số nhân vật đại diện cho HRW thời gian gần đây.

Xuyên tạc nhân quyền Việt Nam là bản chất của HRW

Ngày 14-1-2020, HRW đã ra cái gọi là “Báo cáo Thế giới 2020” điểm lại bức tranh nhân quyền của khoảng 100 quốc gia... Phần nói về Việt Nam, báo cáo này viết: “Năm 2019 là một năm tàn bạo đối với các quyền tự do căn bản ở Việt Nam khi chính quyền kết án tù ít nhất 30 nhà hoạt động và bất đồng chính kiến”;... Trước khi đưa ra bản báo cáo này, HRW đã không ít lần đòi trả tự do cho một số đối tượng mà họ khoác lên chiếc áo “nhà dân chủ”; “nhà hoạt động nhân quyền”;... đang thụ án do vi phạm pháp luật Việt Nam.
Những việc làm và giọng điệu trên thêm một lần nữa chứng minh, mang danh là tổ chức nhân quyền nhưng hoạt động của HRW không phục vụ cho sự phát triển nhân quyền ở các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Không quá lời khi nói rằng: Xuyên tạc về nhân quyền ở Việt Nam đã trở thành bản chất của HRW. Cần khẳng định rằng: “Báo cáo Thế giới 2020” mà HRW đưa ra đã dựa trên những thông tin xuyên tạc, bịa đặt và không có cơ sở, không phản ánh đúng bức tranh nhân quyền của Việt Nam.

Sau gần 35 năm đổi mới, bằng sự nỗ lực vượt bậc, Việt Nam đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ của LHQ. Theo đánh giá của cộng đồng quốc tế, trong hơn 30 năm đổi mới nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng trung bình gần 7%/năm, tỷ lệ hộ đói nghèo giảm trung bình hằng năm 5%... Việt Nam ngày càng nổi lên như một nền kinh tế có thu nhập trung bình và là nước xuất khẩu đang phát triển mạnh. Năm 2019, Việt Nam lần đầu tiên xuất hiện trong nhóm 60 nền kinh tế sáng tạo nhất thế giới. Ông Justin Wood, Giám đốc khu vực châu Á của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), nhận định: "Những năm gần đây kinh tế Việt Nam đang phục hồi trở lại và tăng trưởng rất nhanh. Lạm phát và nợ công được giữ ở mức ổn định, xuất-nhập khẩu tăng mạnh; các vấn đề cũ liên tục được Chính phủ khắc phục; đầu tư nước ngoài đang gia tăng mạnh mẽ... Có thể thấy bức tranh kinh tế Việt Nam đang sáng sủa hơn rất nhiều nhờ những nỗ lực cải tổ nền kinh tế của Chính phủ..."

Mục tiêu cao nhất của quá trình phát triển ở Việt Nam không ngoài ý nghĩa vì con người, cho con người. Sự phát triển, nhất là về kinh tế những năm qua là tiền đề, là nhân tố trước hết để Việt Nam bảo đảm quyền con người. Trên thực tiễn Việt Nam liên tục đạt được những tiến bộ vượt bậc trong việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người. Sự nỗ lực cố gắng của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người những năm qua, đặc biệt trong năm 2019 được bạn bè quốc tế ghi nhận. Không phải ngẫu nhiên mà Việt Nam được chọn là nơi tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-Triều lần hai. Sự kiện này đã chứng tỏ sự tin tưởng của cộng đồng quốc tế về vai trò của Việt Nam trong vấn đề bảo đảm an ninh, an toàn, giữ gìn hòa bình trong khu vực và thế giới. Việt Nam lần thứ 3 đăng cai tổ chức thành công Đại lễ Phật đản LHQ Vesak 2019. Đây là bằng chứng sinh động khẳng định chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đại đoàn kết tôn giáo và đoàn kết dân tộc ở Việt Nam. Với việc trúng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ nhiệm kỳ 2020-2021, Việt Nam đang góp phần tích cực cho hòa bình và an ninh quốc tế, trong đó có việc thúc đẩy nhân quyền. Việt Nam là khách mời của Hội nghị thượng đỉnh nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20) chứng tỏ sự ghi nhận của quốc tế về những nỗ lực của Việt Nam trong công cuộc phát triển KT-XH... Rõ ràng năm 2019, Việt Nam tiếp tục trở thành tâm điểm của thế giới với những thành tựu đối nội, đối ngoại nổi bật. Thực tiễn sinh động ấy đã bác bỏ hoàn toàn những nhận định hồ đồ, vô căn cứ về Việt Nam mà HRW bịa đặt trong “Báo cáo Thế giới 2020”.

Hệ thống pháp luật Việt Nam được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, đặc biệt là Hiến chương LHQ và các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia; lịch sử văn hóa truyền thống và điều kiện hoàn cảnh cụ thể của đất nước. Mục tiêu cao nhất mà hệ thống pháp luật Việt Nam hướng tới là bảo đảm cho người dân được thụ hưởng quyền con người một cách tốt nhất. Mọi công dân sống, làm việc trên lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt tuổi tác, giới tính, địa vị xã hội, thành phần dân tộc hay trình độ đều bình đẳng trước pháp luật. Những trường hợp mà HRW gọi là "nhà hoạt động và bất đồng chính kiến" đã và đang bị chính quyền Việt Nam kết án tù, thực chất đó là những công dân đã vi phạm pháp luật Việt Nam và họ phải chịu những hình phạt của luật pháp là hoàn toàn chính xác. Đòi trả tự do cho những công dân Việt Nam vi phạm pháp luật của HRW là hành động trắng trợn can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng công ước và nguyên tắc quốc tế.

Thực tế khẳng định, bảo đảm cho mọi người dân được hưởng các quyền của mình và có cơ hội phát triển toàn diện, làm cho cuộc sống của người dân ngày càng được nâng cao, bảo đảm an sinh xã hội… là mục tiêu mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn nỗ lực hướng tới. Việt Nam kiên quyết phản đối, bác bỏ những cái nhìn phiến diện, những luận điệu vô căn cứ của HRW. Những chiêu trò của HRW dù có tinh vi, xảo quyệt tới đâu đi chăng nữa cũng không thể đánh lừa được dư luận và càng không thể phủ nhận hoặc làm lu mờ những thành tựu nhân quyền của Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận.

QĐND
NGHỊ VIỆN CHÂU ÂU THÔNG QUA EVFTA VÀ IPA

Mặc cho các thế lực thiếu thiện chí với Việt Nam lu loa vu cáo chúng ta vi phạm nhân quyền, tôn giáo... cản trở hợp tác giữa hai bên. Ngày 12 tháng 2 năm 2020 Nghị viện Châu Âu vẫn kiên bỏ phiếu quyết thông qua Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Châu Âu (EVFTA) và Hiệp định bảo hộ đầu tư (IPA). Đây là hai Hiệp định được EU gọi là "thỏa thuận tham vọng, chi tiết, hiện đại nhất mà EU từng ký với một nước đang phát triển".
Hiệp định EVFTA được khởi động và kết thúc đàm phán trong bối cảnh quan hệ song phương Việt Nam-EU ngày càng phát triển tốt đẹp, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế-thương mại. EU hiện đang là một trong những đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam với kim ngạch hai chiều năm 2019 đạt 56,45 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 41,5 tỷ USD, nhập khẩu từ EU đạt 14,9 tỷ USD. EVFTA là một Hiệp định toàn diện, chất lượng cao và đảm bảo cân bằng lợi ích cho cả Việt Nam và EU, trong đó cũng đã lưu ý đến chênh lệch về trình độ phát triển giữa hai bên.

Khi được đưa vào thực thi, EVFTA sẽ là cú hích rất lớn cho xuất khẩu của Việt Nam, giúp đa dạng hóa thị trường và mặt hàng xuất khẩu, đặc biệt là các mặt hàng nông, thủy sản cũng như những mặt hàng Việt Nam vốn có nhiều lợi thế cạnh tranh. Những cam kết dành đối xử công bằng, bình đẳng, bảo hộ an toàn và đầy đủ cho các khoản đầu tư và nhà đầu tư của nhau trong Hiệp định IPA cũng sẽ góp phần tích cực vào việc xây dựng môi trường pháp lý và đầu tư minh bạch, từ đó Việt Nam sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư hơn đến từ EU và các nước khác.  Đồng thời mở ra cơ hội đầu tư cho các doanh nghiệp Châu Âu tiếp cận đến thị trường Việt Nam, một thị trường có môi trường ổn định, đầy tiềm năng, đang phát triển mạnh mẽ.

Việc Châu Âu thông qua EVFTA và IPA gửi đi một thông điệp tích cực về quyết tâm của cả Châu Âu và Việt Nam trong việc thúc đẩy hợp tâc, hội nhập, cùng có lợi, khẳng định sự tin cậy của cộng đồng quốc tế với đường đường lối hội nhập của Đảng, Nhà nước.
Một vị thế mới của Việt Nam trong con đường hội nhập quốc tế đã được hình thành./.

tich cực phòng chống dịch covid 19

phòng chống dịch như chống giặc

Thứ Tư, 12 tháng 2, 2020

ÂM MƯU THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO ĐỂ CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM


Về âm mưu
Chống phá cách mạng Việt Nam là âm mưu không bao giờ thay đổi của các thế lực thù địch. Hiện nay, chủ nghĩa đế quốc đang đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình” chống Việt Nam với phương châm lấy chống phá về chính trị, tư tưởng làm hàng đầu, kinh tế là mũi nhọn, ngoại giao làm hậu thuẫn, tôn giáo, dân tộc làm ngòi nổ, kết hợp với bạo loạn lật đổ, uy hiếp, răn đe, gây sức ép về quân sự.
Như vậy, vấn đề dân tộc, tôn giáo là một trong những lĩnh vực trọng yếu mà các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá cách mạngcùng với việc lợi dụng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng để chuyển hoá chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; xoá vai trò lãnh đạo của Đảng với toàn xã hội, thực hiện âm mưu “không đánh mà thắng”.
Để thực hiện âm mưu chủ đạo đó, chúng lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo nhằm các mục tiêu cụ thể sau:
Trực tiếp phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ dân tộc đa số với dân tộc thiểu số và giữa các dân tộc thiểu số với nhau, chia rẽ đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, hòng làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc.
Kích động các dân tộc thiểu số, tín đồ chức sắc các tôn giáo chống lại chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước; đối lập các dân tộc, các tôn giáo với sự lãnh đạo của Đảng nhằm xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam; vô hiệu hoá sự quản lí của Nhà nước đối với các lĩnh vực đời sống xã hội, gây mất ổn định chính trị - xã hội, nhất là vùng dân tộc, tôn giáo. Coi tôn giáo là lực lượng đối trọng với Đảng, nhà nước ta, nên chúng thường xuyên hậu thuẫn, hỗ trợ về vật chất, tinh thần để các phần tử chống đối trong các dân tộc, tôn giáo chống đối Đảng, Nhà nước, chuyển hoá chế độ chính trị ở Việt Nam.
Chúng tạo dựng các tổ chức phản động trong các dân tộc thiểu số, các tôn giáo như Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, Hội thánh Tin Lành Đề Ga, Nhà nước Đề Ga độc lập, Mặt trận giải phóng Khơme Crôm, Mặt trận Chămpa để tiếp tục chống phá cách mạng Việt Nam.
Về thủ đoạn
Thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch rất thâm độc, tinh vi, xảo trá, đê tiện dễ làm cho người ta tin và làm theo. Chúng thường sử dụng chiêu bài “nhân quyền”, “dân chủ”, “tự do” ; những vấn đề lịch sử để lại ; những đặc điểm văn hoá, tâm lí của đồng bào các dân tộc, các tôn giáo ; những khó khăn trong đời sống vật chất, tinh thần của các dân tộc, các tôn giáo ; những thiếu sót trong thực hiện chính sách kinh tế - xã hội, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta để chống phá cách mạng Việt Nam.
Thủ đoạn đó được biểu hiện cụ thể ở các dạng sau :
Một là, chúng tìm mọi cách xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta, mà trực tiếp là quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Chúng lợi dụng những thiếu sót, sai lầm trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo để gây mâu thuẫn, tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.
Hai là, chúng lợi dụng những vấn đề dân tộc, tôn giáo để kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, li khai; kích động, chia rẽ quan hệ lương - giáo và giữa các tôn giáo hòng làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Ba là, chúng tập trung phá hoại các cơ sở kinh tế xã hội ; mua chuộc, lôi kéo, ép buộc đồng bào các dân tộc, tôn giáo chống đối chính quyền, vượt biên trái phép, gây mất ổn chính trị - xã hội, bạo loạn, tạo các điểm nóng để vu khống Việt Nam đàn áp các dân tộc, các tôn giáo vi phạm dân chủ, nhân quyền để cô lập, làm suy yếu cách mạng Việt Nam.
Bốn là, chúng tìm mọi cách để xây dựng, nuôi dưỡng các tổ chức phản động người Việt Nam ở nước ngoài; tập hợp, tài trợ, chỉ đạo lực lượng phản động trong các dân tộc, các tôn giáo ở trong nước hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam như: truyền đạo trái phép để “tôn giáo hoá” các vùng dân tộc, lôi kéo, tranh giành đồng bào dân tộc, gây đối trọng với Đảng, chính quyền. Điển hình là các vụ bạo loạn ở Tây Nguyên năm 2001, 2004, việc truyền đạo Tin Lành trái phép vào các vùng dân tộc thiểu số Tây Bắc, Tây Nguyên.
Âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch rất nham hiểm. Tuy nhiên, âm mưu thủ đoạn đó của chúng có thực hiện được hay không chủ yếu còn phụ thuộc vào tinh thần cảnh giác, khả năng ngăn chặn, sự chủ động tiến công của chúng ta./.

Hành động phản cảm của thế lực thù địch chống lại nỗ lực dập tắt dịch bệnh Corona của Quân đội.


Chung tay cùng các Bộ, Ban ngành, đặc biệt là Bộ Y tế, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng đã tổ chức ba địa điểm của làm nơi tiếp nhận, cách ly công dân Việt Nam trở về từ bên kia biên giới Việt – Trung. Theo văn bản do Thượng tướng Trần Đơn, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng ký ban hành, nhằm tổ chức cách ly đối với công dân Việt Nam và các quốc gia khác có dịch trở về trong 14 ngày; phát hiện sớm trường hợp nghi nhiễm đường hô hấp cấp do nCoV để xử lý kịp thời; không để dịch lây lan, hạn chế mức thấp nhất tỉ lệ mắc và tử vong. Văn bản cho biết khả năng tiếp nhận hiện tại là 31.940 người.
Theo các luồng giao thông trở về từ Trung quốc, đường bộ, 5 cửa khẩu đón người dân gồm Hữu Nghị (Lạng Sơn), Móng Cái (Quảng Ninh), Tà Lùng (Cao Bằng), Thanh Thủy (Hà Giang) và Cửa khẩu Quốc tế đường bộ số 1 (Lào Cai). Đường hàng không gồm các sân bay Vân Đồn (Quảng Ninh), Cát Bi (Hải Phòng), Nội Bài (Hà Nội), sân bay Đà Nẵng, Cam Ranh (Khánh Hoà), Tân Sơn Nhất (TPHCM) và sân bay Cần Thơ. Đường biển, duy nhất cảng Vũng Áng (Hà Tĩnh) được đón tàu đưa công dân từ vùng dịch trở về cập bến. Tại các tuyến cửa khẩu, Bộ quốc phòng phối hợp với lực lượng y tế địa phương, kiểm dịch quốc tế, hải quan, công an tiếp nhận công dân và hướng dẫn kê khai y tế, kiểm tra thân nhiệt toàn bộ công dân trở về; tổ chức phân loại, bàn giao cho các lực lượng vận chuyển về các địa điểm cách ly, điều trị. Khi phát hiện trường hợp có sốt, cơ quan chức năng sẽ bàn giao cho ngành y tế địa phương để chuyển ngay công dân vào bệnh viện dân y gần nhẩt để cách ly, khám xác định bệnh và điều trị kịp thời. Những người không sốt thì đưa về khu cách ly (do quân đội cùng chính quyền địa phương bố trí trên địa bàn), theo dõi 14 ngày.
Bên trong khu cách ly phòng dịch corona của quân đội sát biên giới Việt - Trung - Ảnh 7.
Cán bộ Quân y thăm khám cho người dân trong khu vực cách ly do Bộ Quốc phòng tổ chức.
Bên cạnh theo dõi sức khoẻ, những người bị cách ly trong doanh trại quân đội sẽ được Bộ Quốc phòng đảm bảo các điều kiện ăn ở, sinh hoạt tối thiểu. Tiêu chuẩn tiền ăn đối với mỗi công dân trước mắt áp dụng bằng mức cơ bản bộ binh là 57.000 đồng mỗi người trong một ngày.
Đây là chủ trương và hoạt động được người dân nhiệt liệt hoan nghênh, hợp tác và tin tưởng trong nỗ lực dập tắt bệnh viêm phổi cấp do virus corona mới đang hoành hành hết sức nguy hiểm trên thế giới, đặc biệt ở trung tâm dịch thành phố Hồ Bắc, tỉnh Vũ Hán thuộc Trung quốc.
Tuy vậy, lợi dụng mạng xã hội, các thế lực chống phá đang tung tin, xuyên tạc về công tác cách ly của Bộ Quốc phòng, chúng đưa ra luận điệu là chúng ta tiếp nhận nhân dân từ nước ngoài về không khác trại tị nạn, đối xử kỳ thị với người dân từ nước ngoài về. Một số người dân nhận thức còn hạn chế, dẫn đến có trường hợp trốn, bỏ về không hợp tác, đây là hành động hết sức nguy hiểm do vấn đề nhận thức. Chúng ta cần nhận thức, tuyên truyền để thấy rõ trách nhiệm quân đội nói riêng và nỗ lực của chính phủ nói chung là hành động hết sức cần thiết, kịp thời, để hợp tác và đập tan âm mưu lợi dụng vấn đề này để chống phá, làm giảm niềm tin của nhân dân về quân đội, nhất là trong giai đoạn chuẩn bị đại hội đảng các cấp, tiến tới đại hội Đảng toàn quốc lần thứXIII, sự kiện chính trị quan trọng được toàn dân mong chờ để xây dựng và phát triển đất nước./.


Đưa cán bộ đến gần dân, sát dân

Đưa cán bộ đến gần dân, sát dân

Thứ Năm, 13/02/2020, 02:05:00
Khắc phục tình trạng quan liêu, xa dân của đội ngũ cán bộ cơ sở, từ năm 2018, tỉnh Bắc Kạn giải thể chi bộ các cơ quan xã, phường, thị trấn, đưa đảng viên về sinh hoạt ở thôn, bản, tổ dân phố. Từ chủ trương này, cán bộ đã hòa mình với quần chúng nhân dân, góp phần tăng hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao chất lượng sinh hoạt và vai trò giám sát của chi bộ trực thuộc.
Đưa cán bộ đến gần dân, sát dân
Đảng viên là công chức xã Rã Bản, huyện Chợ Đồn tham gia sinh hoạt tại Chi bộ thôn Pác Giả vận động người dân chăm sóc cây cam, quýt.
Với đặc thù tỉnh miền núi, địa hình chia cắt mạnh, phần lớn thôn, bản cách xa trung tâm xã, cho nên ở Bắc Kạn, đội ngũ đảng viên các cơ quan, cán bộ cơ sở xã, phường, thị trấn khó xuống cơ sở thường xuyên. Do vậy, ở nhiều xã, còn có hiện tượng cán bộ xa dân, quan liêu, nhiều vụ việc bức xúc không được phát hiện, xử lý kịp thời. Thí dụ tại xã Vũ Muộn, huyện Bạch Thông, đảng viên, công chức được phân công phụ trách các thôn không sâu sát, ít xuống cơ sở dẫn tới tháng 6-2019, 15 đối tượng ở thôn Đâng Bun tham gia phá rừng, đốn hạ 41 cây gỗ nghiến nhóm IIa. Điều đáng nói là trong đó có ba người là đảng viên, hai đối tượng là con của bí thư chi bộ thôn. Đồng chí Ma Doãn Kháng, Trưởng Ban Tổ chức Huyện ủy Chợ Đồn cho biết, nhiều chi bộ cơ quan ban hành nghị quyết hằng năm còn lấn sang cả nhiệm vụ của Ban Chấp hành Đảng bộ, nhầm lẫn trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo.
Theo Ban Tổ chức Tỉnh ủy Bắc Kạn, việc thành lập chi bộ cơ quan xã, phường, thị trấn làm giảm số lượng, chất lượng đảng viên của chi bộ thôn, tổ, ảnh hưởng đến việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, làm giảm sút năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các chi bộ này. Công tác tự phê bình và phê bình tại các chi bộ cơ quan xã còn hạn chế, còn nể nang, né tránh, ngại phê bình đảng viên là lãnh đạo chủ chốt cấp xã và đảng viên lớn tuổi. Công tác quản lý đảng viên ở một số chi bộ còn có dấu hiệu lỏng lẻo, chưa nắm chắc tình hình của đảng viên nơi cư trú, một số đảng viên là cán bộ, công chức vi phạm pháp luật, thậm chí mắc các tệ nạn xã hội nhưng chưa được kiểm điểm, phê bình thẳng thắn. Do vậy, việc giải thể các chi bộ này là phù hợp thực tiễn, góp phần tinh gọn bộ máy, nâng cao chất lượng sinh hoạt của chi bộ, củng cố chất lượng công tác xây dựng Đảng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.
Chợ Đồn là một trong những huyện đầu tiên của Bắc Kạn giải thể các chi bộ cơ quan xã trước khi có chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Kết luận số 38-KL/TW ngày 13-11-2018 về tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đồng chí Triệu Văn Nguyên, Chủ tịch UBND xã Rã Bản cho biết, thực tiễn tại địa phương, hầu hết các thôn ít hộ, nhiều chi bộ ít đảng viên, sức chiến đấu giảm, không phát huy được vai trò lãnh đạo, chỉ đạo.
Việc đưa đảng viên ở cơ quan xã về sinh hoạt tại thôn, bản, góp phần giải quyết những yếu kém nêu trên. Tại chi bộ thôn Pác Giả, có thời điểm, tổng số đảng viên chỉ còn ba đồng chí, vai trò lãnh đạo không được thể hiện. Trước tình hình đó, Đảng bộ xã phân công, đưa ba đồng chí đảng viên từ chi bộ cơ quan xã, gồm: đồng chí chủ tịch UBND xã, công chức kế toán văn phòng và tư pháp về sinh hoạt. Số đảng viên tăng, đóng góp nhiều ý kiến đã phát huy vai trò của chi bộ. Bí thư Chi bộ thôn Pác Giả Nông Thị Tân cho biết, sinh hoạt của chi bộ đã đi vào nền nếp; đảng viên là công chức, cán bộ xã đóng góp nhiều ý kiến đúng, trúng, như: tập trung phát triển cây cam, quýt, kêu gọi làm đường liên thôn, nhờ vậy, Pác Giả giảm tỷ lệ hộ nghèo, sớm đạt các tiêu chí về nông thôn mới.
Từ tháng 3-2019, Đảng ủy xã Quảng Chu, huyện Chợ Mới giải thể chi bộ cơ quan xã, phân công 19 đảng viên về sinh hoạt ở các thôn theo phương châm, đảng viên cư trú thôn nào về sinh hoạt thôn đó, lãnh đạo xã sinh hoạt tại các thôn khó khăn nhất. Dù thời gian thực hiện chưa đầy một năm nhưng hiệu quả đã được cấp ủy, chi bộ ghi nhận. Theo phân công, đồng chí Hoàng Chu Tần, cán bộ nông, lâm xã về sinh hoạt tại chi bộ thôn Con Kiến, thôn khó khăn do ít đất ruộng, chủ yếu đồi núi, còn tới 10 hộ nghèo trên tổng số 50 hộ trong thôn. Là cán bộ nông, lâm, có trình độ đại học nông nghiệp, trong các buổi sinh hoạt chi bộ, đồng chí Tần đã nhận nhiệm vụ, tham mưu, đề xuất, góp ý chi bộ đẩy mạnh chăn nuôi thủy sản. Đến nay, thôn đã phát triển, mở rộng được hơn 4 ha ao nuôi cá, cho thu nhập ổn định.
Mỗi xã ở Bắc Kạn lại có những cách lựa chọn tiêu chí phân công đảng viên về sinh hoạt riêng gắn với thực tế tại địa phương, giải quyết được nhiều việc khó của các chi bộ thôn. Tại xã Cao Thượng, huyện Ba Bể, tháng 6-2018, 21 đảng viên được chia về sinh hoạt tại 15 thôn, bản với tiêu chí, cán bộ lãnh đạo về sinh hoạt ở những thôn khó khăn, nhiều năm không phát triển được đảng viên mới. Sau hơn một năm, chất lượng sinh hoạt các chi bộ đã có nhiều chuyển biến, Đảng bộ xã kết nạp được 11 đảng viên mới. Số đảng viên tăng, sinh hoạt nền nếp, các chi bộ phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế. Tại thôn Khuổi Hao, chi bộ đã có nhiều ý kiến đóng góp mới, như: vận động người dân phát triển kinh tế, sử dụng các nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước hợp lý; tuyên truyền, định hướng người dân giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội. Từ đó, Khuổi Hao đã phát triển đàn đại gia súc của thôn lên hơn 220 con, trung bình mỗi gia đình có ba con, chủ động khai phá ruộng trồng lúa nước, trồng ngô, đỗ tương. Từ một thôn có 100% số hộ nghèo, đến hết năm 2018, Khuổi Hao đã có năm hộ thoát nghèo, năm hộ thuộc diện cận nghèo.
Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Bình Văn (huyện Chợ Mới) Ma Phúc Quyên cho biết, có đảng viên là cán bộ, công chức, các chi bộ thôn đã phát huy được vai trò giám sát. Thí dụ, khi làm đường nông thôn mới, đảng viên là cán bộ, công chức vận động nhân dân hiểu chủ trương: Nhà nước hỗ trợ 70%, dân đóng góp 30%; tham gia Ban Thanh tra nhân dân giám sát chặt chẽ việc thi công. Do vậy, tiến độ xây dựng nhanh, hoàn thành sớm 16 km đường, giúp Bình Văn đạt chuẩn nông thôn mới mà không có sai phạm trong huy động sức dân, sử dụng ngân sách nhà nước.
Sau hơn một năm triển khai, Bắc Kạn đã giải thể gần 100 chi bộ cơ quan xã, phường, thị trấn, đưa hàng nghìn đảng viên về sinh hoạt ở các thôn, tổ, góp phần tinh gọn bộ máy, tăng hiệu lực, hiệu quả, xóa bỏ tình trạng sinh hoạt hời hợt, làm cho xong. Tuy vậy, thực tiễn cũng cho thấy còn có những bất cập, như: cán bộ xã này nhưng cư trú ở xã khác, sáng đi, tối về nhà, có khi đi lại mất 20 km cho nên việc dự sinh hoạt chi bộ cũng có lúc khó khăn. Ngoài ra, mỗi chi bộ còn lúng túng khi đánh giá, phân loại chất lượng đảng viên là cán bộ, công chức xã khi không nắm rõ được việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của các đảng viên này ra sao.
Bí thư Tỉnh ủy Bắc Kạn Nguyễn Văn Du cho biết, đưa đảng viên về sinh hoạt ở thôn, tổ là cách để cán bộ gần dân, sát dân, hiểu dân, nắm bắt thông tin kịp thời để cùng chi bộ giải quyết vấn đề ngay từ cơ sở rất hiệu quả. Đồng thời, cán bộ, công chức là đảng viên cũng trở thành những tuyên truyền viên giúp phổ biến kịp thời chủ trương, chính sách của Đảng, của tỉnh, huyện, xã tới với cơ sở nhanh nhất, hiệu quả nhất. Thời gian tới, Tỉnh ủy tiếp tục chỉ đạo các xã, phường, thị trấn thực hiện nghiêm túc, chất lượng việc phân loại, đánh giá cán bộ, công chức hằng năm để chi bộ thôn, tổ có căn cứ chính xác đánh giá hiệu quả việc thực hiện nhiệm vụ của đảng viên.

Động lực mới thúc đẩy quan hệ kinh tế - thương mại - đầu tư giữa Việt Nam và EU

  Ngay sau khi Nghị viện châu Âu (EP) bỏ phiếu phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư (EVIPA) giữa Liên minh châu Âu (EU) và Việt Nam vào chiều tối 12-2 (theo giờ Việt Nam), Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn đã trả lời phỏng vấn báo chí về sự kiện quan trọng này.

Phóng viên (PV): Ngày 12-2-2020, EP vừa bỏ phiếu phê chuẩn EVFTA và EVIPA giữa EU và Việt Nam. Xin Thứ trưởng đánh giá về ý nghĩa của quyết định này?
Thứ trưởng Bùi Thanh Sơn: EP vừa thông qua các quyết định hết sức quan trọng cả về chiến lược và kinh tế trong quan hệ Việt Nam và EU, mở ra cơ hội hợp tác ngày càng sâu rộng, toàn diện và hiệu quả hơn giữa hai bên sau đúng 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1990-2020).
Được ký ngày 30-6-2019 tại Hà Nội, EVFTA sẽ có hiệu lực khi được Quốc hội Việt Nam và EP phê chuẩn, trong khi EVIPA cần được Quốc hội Việt Nam, EP và nghị viện các nước thành viên EU phê chuẩn. Quyết định của EP đã “bật đèn xanh” cho việc thực thi EVFTA và tạo tiền đề để các nghị viện quốc gia thành viên EU xem xét, phê chuẩn EVIPA thời gian tới.
Trước hết, quyết định phê chuẩn EVFTA và EVIPA thể hiện sự coi trọng, đánh giá cao của các nghị sĩ và các quốc gia thành viên EU về vai trò, vị thế của Việt Nam và quan hệ đối tác hợp tác toàn diện Việt Nam-EU. Hai hiệp định sẽ tạo dựng các khuôn khổ hợp tác song phương lâu dài theo hướng đối tác bình đẳng, cùng có lợi, đóng góp vào xu thế chung về thúc đẩy liên kết kinh tế quốc tế và phát triển bền vững.
Thứ hai, việc phê chuẩn các hiệp định cũng khẳng định chính sách của EU tiếp tục tăng cường gắn kết với châu Á-Thái Bình Dương nói chung và ASEAN nói riêng. Trên cương vị Chủ tịch ASEAN 2020, chúng ta sẵn sàng phối hợp thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa EU và ASEAN.
Thứ ba, việc EP bỏ phiếu thuận phê chuẩn hai hiệp định ngay đầu nhiệm kỳ mới cũng cho thấy lợi ích kinh tế to lớn mà EVFTA và EVIPA mang lại cho cả hai bên. EVFTA sẽ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp EU tiếp cận thị trường gần 100 triệu dân của Việt Nam, qua đó tiếp cận sâu hơn thị trường ASEAN và khu vực; GDP của EU dự kiến sẽ tăng thêm 30 tỷ USD và xuất khẩu tăng thêm 29% vào năm 2035. Đối với Việt Nam, EU là thị trường lớn thứ hai cho hàng xuất khẩu Việt Nam; việc thực hiện EVFTA dự kiến giúp GDP của ta tăng 4,6% và xuất khẩu sang EU tăng gần 42,7% vào năm 2025. Do vậy, quyết định của EP đã nhận được sự hoan nghênh rất lớn từ cộng đồng doanh nghiệp hai bên.
Thứ tư, tuy quan điểm giữa các nghị sĩ EP còn khác biệt, song việc ủng hộ thông qua FTA chất lượng cao đầu tiên của EU với một quốc gia đang phát triển cho thấy quyết tâm của EU tiếp tục thúc đẩy tự do hóa thương mại, đầu tư dựa trên luật lệ. Quyết định của EP sẽ tạo thêm niềm tin, củng cố xu thế liên kết kinh tế quốc tế và thương mại mở, tự do. Điều này rất quan trọng trong bối cảnh chủ nghĩa bảo hộ gia tăng đang đe dọa tăng trưởng của kinh tế thế giới, của nhiều khu vực và quốc gia.
Chúng ta tin tưởng các hiệp định này sau khi hoàn tất quá trình phê chuẩn và đi vào triển khai trong năm 2020 sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho quan hệ Việt Nam-EU, tạo những dấu mốc mới trong phát triển kinh tế-xã hội và tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam.
PV: Thứ trưởng có thể chia sẻ những khó khăn, phức tạp và nỗ lực của hai bên để đạt kết quả quan trọng này?
Thứ trưởng Bùi Thanh Sơn: EVFTA và EVIPA là các hiệp định có mức độ cam kết sâu rộng nhất của EU với một thành viên đang phát triển. Do đó, quá trình phê chuẩn cần tuân thủ các quy định chặt chẽ của EP và của nghị viện các quốc gia thành viên. Việc xem xét phê chuẩn phải đi đôi với bảo đảm hiệu quả thực thi. Bên cạnh đó, xu hướng bảo hộ gia tăng, những biến động trong chính trị nội bộ của EU, đặc biệt tiến trình Brexit, quan điểm và lợi ích khác biệt trong nội bộ EP, sự khác nhau về trình độ phát triển, thể chế chính trị-xã hội giữa hai bên... cũng đặt ra nhiều thách thức trong quá trình xem xét, phê chuẩn hai hiệp định.
Kết quả bỏ phiếu tại EP cho thấy, phần lớn các nghị sĩ ủng hộ EVFTA và EVIPA, song cũng có một bộ phận chưa thể hiện quan điểm tích cực. Có những đảng trong EP kiên quyết theo đuổi chính sách bảo hộ thị trường nội địa, không ủng hộ các thỏa thuận thương mại tự do (FTA), mặc dù ủng hộ thúc đẩy quan hệ với Việt Nam và đánh giá cao vai trò ngày càng quan trọng của Việt Nam. Nhiều nhóm nghị sĩ lại đặc biệt quan tâm những vấn đề về phát triển bền vững, chống đánh bắt cá trái phép, việc thực thi các tiêu chuẩn cao về lao động, vấn đề quyền con người, lao động trẻ em, các cơ chế bảo đảm hiệu quả thực thi... Do vậy, quá trình chúng ta trực tiếp trao đổi, cung cấp thông tin, giúp các nước thành viên EU và hơn 700 nghị sĩ EP hiểu về thực tế khách quan ở Việt Nam, nỗ lực cải cách và hội nhập của Việt Nam, phối hợp giải quyết những vấn đề cùng quan tâm là hết sức kịp thời và hiệu quả, được bạn đánh giá rất cao. Hai ngày trước khi diễn ra bỏ phiếu về EVFTA và EVIPA như đã được thống nhất, EP còn buộc phải tiến hành bỏ phiếu về việc có hoãn lại cuộc bỏ phiếu thông qua hai hiệp định hay không do sức ép và yêu cầu quyết liệt của một vài đảng và ủy ban của EP.
Có thể nói, mặc dù chia sẻ ý nghĩa chiến lược và lợi ích kinh tế của các hiệp định, song việc chúng ta đạt sự ủng hộ đa số tại EP là kết quả từ những nỗ lực rất lớn của Chính phủ, Quốc hội và nhiều bộ, ban, ngành liên quan. Điều quan trọng là lãnh đạo cấp cao và lãnh đạo các cấp của cả Việt Nam và EU đều ủng hộ, coi trọng việc ký kết và phê chuẩn hai hiệp định. Trong các cuộc tiếp xúc và trao đổi thường xuyên thời gian qua giữa lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, lãnh đạo nhiều bộ, ban, ngành của ta với lãnh đạo cấp cao EP và các quốc gia thành viên, lãnh đạo các ủy ban EP, các ủy ban và cơ quan của EU, hai bên đều quyết tâm thúc đẩy phê chuẩn EVFTA và EVIPA trong thời gian sớm nhất. Từ đó, lãnh đạo cấp cao hai bên đã chỉ đạo sát sao các cơ quan phối hợp chặt chẽ thúc đẩy tiến trình này.
Các cơ quan liên quan của Việt Nam, nhất là Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Công an, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban Đối ngoại và các cơ quan của Quốc hội đã phối hợp thường xuyên, hiệu quả với các cơ quan của EP để tiến hành các thủ tục phê chuẩn, xây dựng các kế hoạch và lộ trình cụ thể để thông tin cho EP, nhất là lộ trình thực thi các cam kết EVFTA về lao động, phát triển bền vững, hình thành nhóm tư vấn trong nước, cơ chế phối hợp giữa hai Quốc hội trong quá trình thực thi... trên cơ sở bảo đảm các lợi ích của ta. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ cử đoàn đặc phái viên do Bộ Ngoại giao chủ trì với sự tham gia của các bộ, ngành liên quan đi Brussels (Bỉ) và Strasbourg (Pháp) ngay trước và trong thời điểm bỏ phiếu giúp cung cấp thông tin kịp thời và thúc đẩy sự ủng hộ của các nghị sĩ. Phái đoàn ta tại Bỉ và EU và các đại sứ quán ta tại các nước thành viên cũng tích cực trao đổi, vận động các nghị sĩ và các đối tác sở tại thúc đẩy tiến trình phê chuẩn hai hiệp định.
PV: Là những hiệp định thương mại và đầu tư toàn diện, chất lượng cao chúng ta ký kết với một đối tác kinh tế, thương mại hàng đầu, EVFTA và EVIPA sẽ mang lại những lợi ích gì cho nền kinh tế và các doanh nghiệp Việt Nam, thưa Thứ trưởng?
Thứ trưởng Bùi Thanh Sơn: EVFTA và EVIPA sẽ tạo động lực mới thúc đẩy mạnh mẽ và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ kinh tế-thương mại-đầu tư giữa Việt Nam và EU, tương xứng với kỳ vọng và tiềm năng của hai bên.
Với mức độ cam kết sâu rộng, toàn diện và do tính bổ trợ giữa hai nền kinh tế, EVFTA sẽ đem lại lợi ích lớn cho hai bên. Ngay khi EVFTA có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với gần 86% số dòng thuế từ Việt Nam và nâng lên 99% dòng thuế sau 7 năm; trong khi Việt Nam xóa bỏ ngay 48,5% số dòng thuế cho hàng hóa EU trong năm đầu tiên và nâng lên 91,8% số dòng thuế sau 7 năm. Nếu tận dụng tốt cơ hội, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có thêm nhiều lợi thế cạnh tranh tại thị trường EU để gia tăng đáng kể kim ngạch xuất khẩu, nhất là trong các lĩnh vực ta có thế mạnh và được ưu đãi thuế quan, như: Dệt may, da giày, nông-thủy sản… Trong bối cảnh căng thẳng thương mại giữa các nước hết sức phức tạp, EVFTA sẽ giúp các doanh nghiệp chúng ta đẩy mạnh đa dạng hóa thị trường và đối tác, tạo chỗ đứng vững chắc hơn tại thị trường rất lớn EU. Người dân Việt Nam cũng tiếp cận với hàng hóa, thiết bị mà Việt Nam không có.
EVFTA và EVIPA cũng sẽ góp phần thúc đẩy hơn nữa dòng vốn đầu tư chất lượng cao từ EU, đi kèm với công nghệ, tri thức quản lý tiên tiến hàng đầu và những lĩnh vực mới của kinh tế số.
Bên cạnh các cam kết về kinh tế, EVFTA cũng bao quát nhiều cam kết mới về phát triển bền vững, ứng phó với biển đổi khí hậu, quản trị rừng bền vững, các tiêu chuẩn cao về lao động, môi trường... Sự hợp tác hiệu quả giữa hai bên trong thực thi các cam kết này sẽ góp phần tiếp tục thúc đẩy cải cách, tăng trưởng bền vững, nâng cao tiêu chuẩn lao động và đời sống của nhân dân.
Để EVFTA sớm được triển khai, các cơ quan liên quan cần hoàn thành các thủ tục cần thiết để trình Quốc hội sớm xem xét phê chuẩn hai hiệp định. Chúng ta cũng cần tích cực thúc đẩy nghị viện các quốc gia thành viên EU sớm phê chuẩn EVIPA. Các bộ, ban, ngành, các địa phương và doanh nghiệp cần khẩn trương xây dựng kế hoạch triển khai hiệp định, tuyên truyền, phổ biến các cam kết, nắm chắc các quy định mới để có thể tận dụng tốt các cơ hội, đồng thời ứng phó với những thách thức có thể phát sinh khi thực thi các hiệp định.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, với nỗ lực chung của Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ban, ngành, các địa phương, doanh nghiệp và người dân, chúng ta tin tưởng việc thực thi EVFTA và sắp tới là EVIPA sẽ thực sự mang lại lợi ích lớn cho nền kinh tế Việt Nam, đóng góp quan trọng vào thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện và nâng cao vị thế đất nước sẽ được thông qua tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII.

Việt Nam là đối tác đáng tin cậy và cởi mở

Nghị sĩ Nghị viện châu Âu (EP) Geert Bourgeois, báo cáo viên Ủy ban Thương mại quốc tế về Hiệp định thương mại tự do (EVFTA) và Hiệp định bảo hộ đầu tư (EVIPA) giữa Liên minh châu Âu (EU) và Việt Nam, bày tỏ sự vui mừng với kết quả bỏ phiếu tại phiên toàn thể của EP.

 Tận dụng tốt cơ hội từ EVFTA

Ông Bourgeois nhấn mạnh rằng đây là hiệp định thương mại tự do thế hệ mới “đầy đủ nhất và tham vọng nhất” mà lần đầu tiên Liên minh châu Âu (EU) ký kết với một nước đang phát triển. Mô hình này dựa trên các cuộc đàm phán giữa các đối tác bình đẳng, cùng có chung mục tiêu và các giá trị chung, nhằm khuyến khích phát triển kinh tế và tạo việc làm, nâng cao sức cạnh tranh, chống đói nghèo và đẩy mạnh cải cách thể chế. Ông Geert Bourgeois khẳng định hiệp định này “hướng đến một quan hệ đối tác cùng có lợi”.
Nghị sĩ đánh giá Việt Nam là một nền kinh tế phát triển nhanh và có sức cạnh tranh, với tầng lớp trung lưu đang tăng lên nhanh chóng cùng lực lượng lao động trẻ và năng động. “Đây là một trong những nền kinh tế mở cửa nhất và tự do thương mại nhất trong khu vực ASEAN”, ông khẳng định. Hiệp định là một bước quan trọng để EU tiến đến mục tiêu cuối cùng là thiết lập khu vực thương mại tự do giữa EU và ASEAN. Theo ông, cùng với các hiệp định tương tự đã ký kết với Nhật Bản và Singapore, EVFTA thắt chặt liên kết giữa EU và châu Á trong bối cảnh các quan hệ thương mại đa phương dựa trên các nguyên tắc đang bị lung lay.
Sau khi có hiệu lực, EVFTA và EVIPA sẽ góp phần tăng cường trao đổi thương mại và đầu tư, mang lại lợi ích cho cả hai phía EU và Việt Nam. Dự kiến xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU và chiều ngược lại sẽ tăng thêm hàng chục tỷ euro. Nghị sĩ trên nhấn mạnh “mỗi tỷ euro xuất khẩu sẽ tạo thêm hàng nghìn việc làm”. Bên cạnh đó, hiệp định cam kết bảo vệ quyền cơ bản của người lao động và môi trường. Hiệp định sẽ trở thành một phương thức khuyến khích sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam, vì lợi ích của nhân dân.

Lựa chọn người tài đức - chủ trương nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam

    Cứ đến dịp chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp, các thế lực thù địch lại rêu rao, xuyên tạc rằng: Việc lựa chọn, bầu vào các vị trí quan trọng trong Đảng, Nhà nước chỉ mang tính hình thức; chỉ người nhà các lãnh đạo mới được lựa chọn. Đại hội thực chất chỉ là việc củng cố, thâu tóm quyền lực của một số lãnh đạo... Đây là luận điệu xuyên tạc về công tác tổ chức cán bộ, nhằm làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước ta.

Trọng dụng người có đức, có tài-truyền thống và bài học lịch sử   
Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh, thu hút và trọng dụng người tài đức trở thành quốc sách, thành đạo đức và thấm sâu vào quan niệm sống của nhân dân ta. Kế thừa truyền thống tốt đẹp đó của dân tộc, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đặc biệt đến công tác cán bộ và thu hút người tài đức để xây dựng, kiến thiết đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, “Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển”. Trong tuyển chọn, bố trí cán bộ, Người nhấn mạnh, không được thiên tư, thiên vị, không phân biệt là người trong hay ngoài Đảng mà lựa chọn những người thật sự có đức, có tài, hết mình phấn đấu cho cách mạng. Hồ Chí Minh yêu cầu người lãnh đạo, quản lý phải biết chăm lo phát hiện người tài đức, phải biết đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng họ hợp lý và phải làm thường xuyên, liên tục, như: “Người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu”. Người cũng khẳng định: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà”, đó chính là cuộc vận động chính trị quan trọng nhằm phát huy vai trò làm chủ thật sự của nhân dân trong xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Người căn dặn: “khéo dùng cán bộ là phải khéo nâng cao chỗ tốt, khéo sửa chữa chỗ xấu cho họ”,“dụng nhân như dụng mộc”, “phải dùng người đúng chỗ, đúng việc”, biết dùng đúng năng lực sở trường của họ, bảo đảm tính kế thừa và phát triển, chú ý tạo nguồn và bồi dưỡng cán bộ kế cận cho đời sau. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt phê bình nghiêm khắc việc dùng cán bộ là người thân, anh em quen biết hay dùng những kẻ khéo nịnh dẫn đến hiện tượng ô dù, công thần, kéo bè cánh. Người yêu cầu phải tuyệt đối tránh hiện tượng địa phương cục bộ trong công tác cán bộ; phải xử lý nghiêm bệnh địa phương trong công tác này.
Lựa chọn người tài đức - chủ trương nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dùng người tài không đúng, công việc sẽ không chạy, làm thui chột nhân tài và có hại cho Đảng. Trong ảnh: Bác Hồ trò chuyện với các trí thức / Ảnh tư liệu.
Ngày càng hoàn thiện chính sách về công tác cán bộ
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm với nhiệm vụ, coi đó chính là khâu "then chốt của nhiệm vụ then chốt". Vì vậy, trong từng giai đoạn cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản quan trọng chỉ đạo công tác này. Không chỉ các hội nghị Trung ương, mà ngay trong văn kiện đại hội, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng thể hiện rõ những chủ trương, giải pháp quan tâm, chăm lo đến nhiệm vụ xây dựng, bồi dưỡng cán bộ, như: Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 18-6-1997 của Bộ Chính trị khóa VIII về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”; Văn kiện Đại hội X khẳng định: “Phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng người có đức, có tài; tạo bước chuyển căn bản trong việc phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nhân tài; xây dựng chiến lược quốc gia về nhân tài; coi đó là giải pháp quan trọng trong thực hiện chiến lược cán bộ”, “lựa chọn những người thực sự có đức, có tài giữ các vị trí lãnh đạo, đặc biệt là người đứng đầu”(1). Đặc biệt, Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI về xây dựng Đảng đã khẳng định một chủ trương rất mới và tích cực trong việc lựa chọn, bố trí người tài, đức vào các vị trí lãnh đạo: “Thí điểm chế độ tiến cử, chế độ tập sự lãnh đạo quản lý”; Văn kiện Đại hội XII tiếp tục nhấn mạnh: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”; Bộ Chính trị khóa XII cũng ban hành Quy định số 89-QĐ/TW ngày 4-8-2017 về “Khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”, Nghị quyết Trung ương 6, khóa XII về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Nghị quyết Trung ương 7, khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; Quy định số 90-QĐ/TW ngày 4-8-2017 về “Tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý”; Quy định số 105-QĐ/TW ngày 19-12-2017 của Bộ Chính trị quy định về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử; Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19-5-2018 của Bộ Chính trị về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”; Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng...
Trong đó, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19-5-2018 là nghị quyết rất quan trọng và cấp thiết trong xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế và phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Việc ban hành hệ thống các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý về công tác cán bộ thể hiện quyết tâm chính trị to lớn của Đảng, Nhà nước nhằm siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong công tác cán bộ; góp phần ngăn chặn, đẩy lùi những tiêu cực, hạn chế trong công tác này ngay từ khâu đánh giá, lựa chọn cán bộ và thu hút người có đức, tài vào hệ thống chính trị của nước ta.
Đại hội không phải là nơi chạy chức, chạy quyền
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong những năm qua, đội ngũ cán bộ chiến lược các cấp đã trưởng thành mọi mặt, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Việc lựa chọn, bầu vào các vị trí quan trọng của hệ thống chính trị đã được đổi mới, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, công tâm, khách quan, có sự tham gia rộng rãi của toàn xã hội. Trong công tác cán bộ, việc chuẩn hóa, siết chặt kỷ luật, kỷ cương luôn đi đôi với tạo cơ chế, môi trường, điều kiện để khuyến khích đổi mới, sáng tạo của cán bộ và tăng cường kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền, kịp thời ngăn chặn và đẩy lùi các tiêu cực.
Thời gian qua, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc trong đấu tranh chống tham nhũng, xử lý nghiêm minh trước pháp luật những cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất, vi phạm pháp luật, kể cả đương chức hoặc đã nghỉ hưu theo tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”; kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy nhà nước những cán bộ yếu kém, không đủ phẩm chất, năng lực, quan liêu, sách nhiễu nhân dân đã củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Công tác chuẩn bị và tổ chức đại hội đảng bộ các cấp của Đảng được thực hiện trên cơ sở phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương; coi trọng chất lượng, hiệu quả, đề cao trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, trước hết là người đứng đầu. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đại hội là dịp để ta sàng lọc cán bộ chứ không chỉ bàn phương hướng. Ai xứng đáng thì làm, không thì thôi, không sợ thiếu cán bộ”(2). Công tác nhân sự được thực hiện đúng điều lệ, quy chế, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; đặc biệt coi trọng chất lượng, có số lượng và cơ cấu hợp lý; cán bộ phải tiêu biểu về trí tuệ, phẩm chất, uy tín, thật sự trong sạch, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Việc bầu ra cơ quan lãnh đạo các cấp được thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ nhằm tạo môi trường thực sự dân chủ trong quá trình chuẩn bị nhân sự và trong bầu cử tại đại hội... chứ không thể để gia tăng tình trạng  “con vua thì lại làm vua” hay là việc “củng cố hay thâu tóm quyền lực” như các thế lực thù địch đã rêu rao, xuyên tạc.
Tuy nhiên, cũng phải nghiêm túc nhìn nhận, vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định trong công tác cán bộ thời gian qua. Đảng, Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt công tác cải cách hành chính, đổi mới công tác đánh giá, thi tuyển, bổ nhiệm cán bộ, nhưng kết quả chưa đạt yêu cầu đặt ra. Công tác quy hoạch, luân chuyển cán bộ đạt được nhiều kết quả tốt, nhưng trên thực tế có nhiều cán bộ có đức, có tài, có triển vọng chưa được đưa vào quy hoạch. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chậm đổi mới, chưa kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, chưa gắn quy hoạch theo chức danh. Việc sắp xếp, bố trí giới thiệu cán bộ ứng cử vẫn còn tình trạng đúng quy trình nhưng chưa đúng người, đúng việc hoặc bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người thân, họ hàng của lãnh đạo còn diễn ra ở một số bộ, ngành, địa phương. Công tác giám sát của các cơ quan chức năng và nhân dân đối với cán bộ, đảng viên ở một số nơi còn lỏng lẻo nên vẫn còn có cán bộ lãnh đạo, quản lý thoái hóa, biến chất, tham nhũng, hách dịch với nhân dân chưa được xử lý kịp thời. 
Thực tế đó đòi hỏi các cơ quan chức năng cần tiếp tục xây dựng được đội ngũ cán bộ chiến lược “vừa hồng, vừa chuyên”, có đủ tâm, đủ tầm, đủ tài để lãnh đạo thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ của cách mạng. Để đạt được mục tiêu này, cần tiếp tục thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước trong công tác cán bộ. Cần xây dựng bộ khung tiêu chuẩn cho tất cả chức danh trong bộ máy hành chính nhà nước, cấp nào ràng buộc tiêu chuẩn chức danh ấy. Trong đánh giá cán bộ, phải lấy hiệu quả công tác thực tế và sự tín nhiệm của nhân dân đối với cán bộ làm thước đo chủ yếu. Cần tiếp tục thực hiện cơ chế thi tuyển các chức danh bổ nhiệm bảo đảm tính công khai, minh bạch, dân chủ, công bằng và cạnh tranh lành mạnh, có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ của nhiều cơ quan chức năng và nhân dân để lựa chọn những cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, năng động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm giữ các vị trí lãnh đạo. Có cơ chế tranh cử đối với các chức danh bầu cử bằng cương lĩnh, chương trình hành động thuyết phục. Kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực như "chạy chức", "chạy quyền" hoặc hình thức, chiếu lệ trong lựa chọn, bố trí cán bộ. Việc lựa chọn, bố trí, sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ phải đúng nguyên tắc, dân chủ, minh bạch, công khai, công tâm, khách quan. Tiếp tục sắp xếp, kiện toàn, tinh gọn các tổ chức, cơ quan trong hệ thống chính trị bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo, cải tiến chế độ tiền lương và chính sách đãi ngộ hợp lý bảo đảm cho cán bộ, đảng viên sống tốt bằng thu nhập chính đáng của mình. Nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhất là cán bộ cốt cán theo hướng hiện đại, chuẩn hóa chuyên sâu; coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành; gắn đào tạo cơ bản tại trường và bồi dưỡng, rèn luyện trong thực tiễn để đánh giá, tuyển chọn, tạo nguồn nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ đủ năng lực, phẩm chất đạo đức để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Cần gắn kết chặt chẽ đào tạo với sử dụng đúng chuyên môn được đào tạo. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động quản lý, sử dụng cán bộ, qua đó kịp thời xử lý tiêu cực, đồng thời phát hiện, thay thế cán bộ yếu kém bằng những người có đức, có tài, có đủ phẩm chất, năng lực.

Thanh lap Dang

Đảng Cộng sản Việt Nam và quyết tâm chính trị trong phòng, chống tham nhũng

QĐND - Lợi dụng tình hình dư luận xã hội đang bức xúc về tệ nạn tham nhũng và công tác quản lý kinh tế; công tác xây dựng Đảng, ngăn chặn đẩy lùi tham nhũng của Đảng còn những mặt hạn chế, khuyết điểm, một số người đã tung ra luận điểm: “Đảng Cộng sản Việt Nam độc tôn lãnh đạo không thể đấu tranh chống tham nhũng thành công”.

Nhưng sự thật từ hiệu quả và sự chuyển biến mạnh mẽ trong cuộc chiến chống “giặc nội xâm” ở Việt Nam thời gian qua, điển hình là vụ án AVG cùng nhiều vụ án trọng điểm do Trung ương chỉ đạo vừa qua là dẫn chứng sinh động bác bỏ luận điệu sai trái đó.
Tham nhũng không phải là “căn bệnh kinh niên" của chế độ một đảng lãnh đạo
Họ cho rằng: Tham nhũng là căn bệnh kinh niên của chế độ độc đảng cầm quyền vì “Đảng vừa đá bóng, vừa thổi còi”; vì xã hội thiếu dân chủ nên không thể chống tham nhũng thành công; đã nhiều lần phát động chống tham nhũng, nhưng đều không thành công, tệ nạn lại càng gia tăng... Từ đó, họ kết luận cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng (PCTN) của Đảng Cộng sản Việt Nam không thể thành công.
Cần phải khẳng định rằng, những luận điệu trên không có cơ sở khoa học và hoàn toàn sai lầm về mặt lý luận và thực tiễn. Lịch sử Việt Nam và thế giới cho thấy, bất kỳ quốc gia, dân tộc nào muốn tồn tại, phát triển đều phải có chính đảng của mình hoặc phải chọn lấy chính đảng thích hợp với mình. Sự lựa chọn ấy chỉ được coi là đúng đắn, khi một mặt phải bắt nguồn sâu xa từ thực tiễn đất nước, từ truyền thống của dân tộc, từ ước vọng tha thiết của nhân dân; mặt khác, phải phù hợp với quy luật phát triển khách quan của xã hội, với xu thế vận động tất yếu của nhân loại tiến bộ. Theo đó, rõ ràng tệ tham nhũng không phải là những hiện tượng phản ảnh bản chất của chế độ. Nó cũng không phải là những căn bệnh nảy sinh do chế độ một đảng lãnh đạo dẫn đến mất dân chủ như một số người vẫn thường rêu rao.
Quốc gia dân tộc nào cũng vậy, trong từng thời điểm đều do một đảng cầm quyền. Khi đảng nào cầm quyền thì người đứng đầu và các chức vụ quan trọng của chính quyền nhà nước đều là người của đảng đó; đường lối, chủ trương của đảng cầm quyền sẽ chi phối đường lối, chính sách của quốc gia. Dù là chế độ một đảng cầm quyền hay đa đảng thay nhau cầm quyền thì nạn tham nhũng, suy thoái vẫn xảy ra, kể cả các nước phát triển có hệ thống pháp luật khá hoàn chỉnh, có trình độ quản lý kinh tế, xã hội cao.
Đảng Cộng sản Việt Nam và quyết tâm chính trị trong phòng, chống tham nhũng
Ảnh minh họa. Nguồn: tuyengiao.vn.
Đảng Cộng sản Việt Nam, từ khi ra đời, lãnh đạo cuộc đấu tranh giành chính quyền, cán bộ, đảng viên của Đảng tuyệt đại đa số đều là những nhà cách mạng tự nguyện từ bỏ lợi ích bản thân, xả thân chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Nhiều tấm gương hy sinh oanh liệt của các nhà lãnh đạo, các cán bộ, đảng viên, mãi mãi lưu danh trong lịch sử vẻ vang của Đảng và dân tộc. Tuy nhiên, ngay từ đó, trong cuộc đấu tranh một sống, một chết dưới ách thống trị tàn bạo của chính quyền thực dân phong kiến, cũng đã có những người không chịu nổi thử thách gian nguy, tự rời bỏ hàng ngũ cách mạng, thậm chí đầu hàng địch, phản bội cách mạng. Những người thiếu kiên trung với cách mạng, có biểu hiện dao động, cầu an, Đảng đã thải loại họ. Nhưng đó chỉ là những trường hợp hết sức cá biệt. Đảng không vì thế mà yếu đi. Đảng càng trong sạch và ngày càng phát triển vững mạnh, được các tầng lớp nhân dân tin tưởng, tôn vinh vai trò lãnh đạo và tình nguyện chiến đấu dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng.
Ở Việt Nam, thời kỳ kháng chiến chống thực dân, đế quốc đã xuất hiện và phủ định đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập như một tất yếu khách quan. Năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện đã lãnh đạo nhân dân đứng lên khởi nghĩa, giành chính quyền, thiết lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đảng đặt quyền lợi quốc gia, dân tộc lên trên hết, nên trong những ngày đầu gìn giữ chính quyền và độc lập dân tộc, Đảng đã tuyên bố tự giải tán, mở rộng Chính phủ dân tộc với sự tham gia của nhiều đảng phái đối lập, như: Việt Quốc (Việt Nam Quốc dân đảng); Việt Cách (Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội)… Nhưng, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, các tổ chức đảng phái hoặc phản động “bán nước, cầu vinh”, hoặc không đưa ra được đường lối đúng đắn, không vì lợi ích của quốc gia, dân tộc nên lần lượt bị chính nhân dân loại bỏ.  Khi quân Tưởng Giới Thạch rút khỏi Việt Nam, hai đảng này cũng cuốn gói chạy theo. Được sự tiếp tay của đế quốc Mỹ, nhiều đảng phái đã được chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm thành lập ở miền Nam Việt Nam. Song, do mục đích chính trị của những đảng phái này là phá hoại tổng tuyển cử, thống nhất nước nhà, đi ngược lại lợi ích của nhân dân lao động nên nhân dân Việt Nam đã đoàn kết đấu tranh loại bỏ những đảng phái chính trị đó. Cũng có một thời kỳ khá dài, bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam đã tồn tại hai đảng khác là Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, cả hai đảng này chưa bao giờ đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, mà đều ủng hộ, thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sau này hoàn toàn tự nguyện giải tán.  
Có một thực tế, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN), biết bao cán bộ, đảng viên ngày đêm ở nơi xa xôi biển đảo, biên cương canh giữ chủ quyền đất nước; nhiều cán bộ, đảng viên dũng cảm chiến đấu trên mặt trận thầm lặng, giữ gìn an ninh chính trị và cuộc sống yên bình cho nhân dân; những cán bộ, đảng viên trực tiếp sản xuất vất vả trong nhà máy, trên đồng ruộng; những cán bộ, đảng viên lao động trí óc ngày đêm miệt mài nghiên cứu, sáng tạo... đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp chung, không tính toán thiệt hơn, không đòi hỏi sự ưu ái cho riêng mình.
Chống tham nhũng-quyết liệt, kiên trì và hiệu quả
Thời gian qua, công tác đấu tranh PCTN, suy thoái ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đạt những kết quả bước đầu quan trọng cả trong nhận thức và hành động. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, thể chế quản lý kinh tế-xã hội và PCTN tiếp tục được xây dựng, hoàn thiện và thực hiện tương đối đồng bộ, toàn diện. Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị về công tác đấu tranh PCTN; đồng thời Quốc hội, Chính phủ cụ thể hóa nghị quyết, chỉ thị của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần đấu tranh đẩy lùi tình trạng tham nhũng, suy thoái. Công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục về PCTN được quan tâm, vai trò của báo chí trong PCTN bước đầu được phát huy, tạo sự chuyển biến về nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và nhân dân. Vai trò, trách nhiệm, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong PCTN được nâng lên.
Việc xây dựng và tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách về công tác tổ chức, cán bộ để PCTN được quan tâm. Cải cách hành chính công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và đạt những kết quả tích cực. Việc minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, đảng viên đã được coi trọng thực hiện. Công tác kiểm tra, giám sát, phát hiện, xử lý các hành vi tham nhũng, lãng phí, suy thoái được đẩy mạnh, tạo chuyển biến rõ nét. Tổ chức và hoạt động của cơ quan, đơn vị chuyên trách về PCTN từng bước được kiện toàn, phát huy hiệu quả.
Nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện, xử lý nghiêm minh, nhất là những vụ án nghiêm trọng được Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN chỉ đạo điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh; bước đầu khắc phục tình trạng án treo về tội phạm tham nhũng; từng bước chú trọng công tác thu hồi tài sản tham nhũng. Tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay, với 11 hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã diễn ra, trong đó có đến 5 Hội nghị Trung ương (6, 7, 8, 9 và 11) có nội dung xử lý, kỷ luật cán bộ sai phạm, gần 60.000 cán bộ, đảng viên đã bị xử lý kỷ luật. Trong số 70 cán bộ cao cấp thuộc diện Trung ương quản lý bị xử lý kỷ luật có cả Ủy viên Bộ Chính trị; Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng; nguyên Phó thủ tướng; bộ trưởng và nguyên bộ trưởng; bí thư tỉnh ủy; nguyên bí thư tỉnh ủy...
“Nhổ cỏ”-cuộc chiến lâu dài
Đảng Cộng sản Việt Nam, một chính đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã và đang không ngừng xây dựng và phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân trên thực tế trong nền chính trị nhất nguyên. Nền chính trị nhất nguyên ở Việt Nam là do nhân dân Việt Nam lựa chọn từ chính thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc và sự nghiệp xây dựng CNXH. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam đã đem lại những quyền cơ bản nhất cho quốc gia, dân tộc và toàn thể nhân dân lao động Việt Nam. Đó là độc lập, tự do cho dân tộc; là quyền tự quyết dân tộc, quyền bình đẳng với mọi quốc gia khác trong việc lựa chọn con đường phát triển của mình; là quyền tự do lập hiến và lập pháp, lựa chọn và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; là quyền bình đẳng giữa các dân tộc, giữa các thành phần kinh tế; quyền tự do làm giàu theo pháp luật, phát huy dân chủ gắn liền với giữ vững kỷ cương xã hội; là sự tiến bộ trong giáo dục, văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ nhằm mục tiêu vì sự tiến bộ và phát triển toàn diện của con người… Những thành tựu không thể phủ nhận đó đã khẳng định và ngày càng củng cố vững chắc hơn vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Như thế, luận chứng vì xã hội Việt Nam thiếu dân chủ do Đảng Cộng sản Việt Nam độc tôn lãnh đạo nên không thể chống tham nhũng thành công là thiếu căn cứ, không thuyết phục. Cần có cách đánh giá khách quan cả mặt làm được và mặt chưa làm được của cuộc đấu tranh chống tham nhũng những năm vừa qua, kể từ Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI đến nay. Rõ ràng, mấy năm gần đây, tệ nạn tham nhũng chưa bị đẩy lùi, nhưng đã ngăn chặn được sự lây lan. Điều đó nói lên, cuộc đấu tranh PCTN vừa qua tuy chuyển biến chậm, chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra, nhưng đã có kết quả buớc đầu. Đó là điều không thể phủ nhận. Viện dẫn một luận chứng không đúng sự thật để kết luận rằng, cuộc đấu tranh PCTN hiện nay của Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện đảng cầm quyền, độc tôn lãnh đạo cách mạng Việt Nam không thể thành công là điều phi lý.
Cũng cần khách quan khẳng định rằng, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng có lúc phạm phải sai lầm, khuyết điểm; nhưng với bản chất của một đảng chân chính, một đảng cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục và rèn luyện, Đảng đã sớm nhận ra khuyết điểm và chủ động đưa ra các chủ trương, giải pháp khắc phục hiệu quả. Hiện nay, trong đấu tranh PCTN, Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đã nhận diện rất cụ thể những biểu hiện suy thoái, xác định mục tiêu, quan điểm, các nhóm giải pháp và việc tổ chức thực hiện. Qua đó thể hiện Đảng xác định quyết tâm chính trị, cả xã hội có sự chuyển mình, cả hệ thống chính trị cùng toàn dân, toàn quân quyết tâm vào cuộc đấu tranh PCTN.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Còn những việc làm, mà chưa làm được thì xin đồng bào nguyên lượng. Vì nếu có nấu cơm cũng 15 phút mới chín, huống chi là sửa chữa cả một nước đã 80 năm nô lệ, người tốt có, người xấu có, một đám ruộng có lúa lại có cỏ, muốn nhổ cỏ thì cũng vài ba giờ mới xong”(1). Theo đó, cuộc đấu tranh PCTN của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như việc “nhổ cỏ” đòi hỏi phải có thời gian, không thể một sớm, một chiều có thể khắc phục triệt để tệ tham nhũng. Với quyết tâm chính trị cao của Đảng và hệ thống chính trị, cùng sự đồng lòng, đoàn kết, đồng thuận của nhân dân, cuộc chiến chống tham nhũng, lãng phí dù còn nhiều khó khăn, vất vả, nhưng chúng ta tin rằng sự nghiệp ấy sẽ ngày càng thành công!

Dien bien hoa binh

     Nhân quyền là giá trị thiêng liêng mà toàn thế giới hướng tới. Thế nhưng đây cũng là chủ đề nhạy cảm mà các thế lực thù địch và một số tổ chức phi chính phủ được sự bợ đỡ của phương Tây luôn tìm cách lợi dụng nhằm thực hiện những động cơ đen tối, trong đó có Tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch-HRW)-đặt trụ sở tại New York, Hoa Kỳ.

"Con rối" đội lốt nhân quyền
      Tổ chức HRW được thành lập năm 1988 trên cơ sở hợp nhất tổ chức Helsinki Watch (do Robert L.Bernstein thành lập năm 1978 với mục đích "giám sát" Liên Xô bằng cách thu thập tư liệu liên quan tới việc Liên Xô thực hiện quy ước của Tổ chức an ninh và hợp tác châu Âu (OSCE), hỗ trợ các nhóm "bảo vệ" nhân quyền tại nước này) với một số tổ chức quốc tế khác có cùng tôn chỉ, mục đích nghiên cứu và cổ vũ cho phát triển nhân quyền. Nói là chuyên nghiên cứu và cổ vũ cho nhân quyền, nhưng nhìn vào những hoạt động của HRW người ta không khó để nhận ra tổ chức này đã và đang “lời nói không đi đôi với việc làm”, ngày càng xa rời, thậm chí đi ngược tôn chỉ, mục đích.
      Tổ chức này thường xuyên lợi dụng nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước. Nhiều quốc gia trên thế giới đã cáo buộc HRW chịu quá nhiều chi phối từ chính phủ Hoa Kỳ, hoạt động không đúng tôn chỉ, mục đích. Chẳng hạn Liên bang Nga đã nhiều lần chỉ trích HRW về những động thái tuyên truyền, xuyên tạc, kích động tạo cớ can thiệp vào những vấn đề nội bộ của nước này.     Tương tự, do có những hành động vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế và các quy tắc cơ bản của quan hệ quốc tế, cũng như can thiệp vào các vấn đề nội bộ của Trung Quốc nên chính phủ nước này đã áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với HRW. Không phải ngẫu nhiên mà trang web của HRW lại bị cấm hoạt động tại Thái Lan. Chính phủ nước này buộc phải làm điều ấy là vì thông qua trang web này tổ chức HRW thường xuyên đội lốt "theo dõi nhân quyền" để tuyên truyền xuyên tạc, tán phát những nội dung thông tin sai lệch, kích động, vi phạm các quy định về an ninh quốc gia của họ. Ngoài ra HRW còn bị nhiều quốc gia, như: Đức, Cuba, Sri Lanka, Triều Tiên, Ethiopia, Syria... chỉ trích, phản đối với những nội dung và mức độ khác nhau vì đã can thiệp làm phức tạp tình hình, gây khó khăn cho việc bảo đảm nhân quyền ở các nước này.
Đội lốt “theo dõi nhân quyền” can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam là trái công ước quốc tế
Bảo đảm cho mọi người dân được hưởng các quyền của mình và có cơ hội phát triển toàn diện, làm cho cuộc sống của người dân ngày càng được nâng cao, bảo đảm an sinh xã hội… là mục tiêu mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Ảnh minh họa. Nguồn: TTXVN
          Không là ngoại lệ, HRW đã nhiều lần đưa ra những thông tin thiếu khách quan, không chính xác, mang tính xuyên tạc, phủ nhận thành quả, bôi nhọ bức tranh nhân quyền Việt Nam. Những việc làm mang dụng ý xấu của HRW ít nhiều khiến cộng đồng quốc tế hiểu chưa đúng về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Có thể thấy HRW đã lộ nguyên hình là "con rối" đội lốt "thúc đẩy nhân quyền" phục vụ cho mục tiêu chính trị của một thế lực đen tối.
HRW đã vi phạm nghiêm trọng công ước và nguyên tắc quốc tế
       Hành động của HRW vi phạm nghiêm trọng công ước và nguyên tắc quốc tế về cấm can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác. Quy định về cấm can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác được đề cập trong các điều ước quốc tế. Đặc biệt trong Hiến chương Liên hợp quốc (LHQ) năm 1945, lần đầu tiên đã quy định về nguyên tắc cấm can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác ở Điều 2. Sau đó tại Nghị quyết 2625 năm 1970 của Đại hội đồng LHQ, nguyên tắc cấm can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác tiếp tục được ghi nhận cụ thể và rõ ràng hơn.
      Nền tảng pháp lý của nguyên tắc này là các nước, các tổ chức quốc tế có nghĩa vụ tôn trọng chủ quyền lãnh thổ và toàn vẹn chính trị của một quốc gia. Nội dung chính của nguyên tắc theo Nghị quyết 2625 là: Không quốc gia nào hay nhóm quốc gia nào có quyền can thiệp, trực tiếp hay gián tiếp, vì bất kỳ lý do gì vào công việc đối nội và đối ngoại của bất kỳ quốc gia nào khác. Theo đó: Can thiệp vũ trang và tất cả các hình thức can thiệp hay đe dọa chống lại tư cách của quốc gia hay chống lại các đặc trưng chính trị, kinh tế và văn hóa của quốc gia đó, đều là vi phạm luật pháp quốc tế; không quốc gia nào có thể sử dụng hay khuyến khích sử dụng các biện pháp cưỡng ép bằng kinh tế, chính trị hay các hình thức khác nhằm buộc quốc gia khác phải phụ thuộc mình khi thực hiện các quyền chủ quyền và nhằm bảo đảm các lợi thế ở bất kỳ hình thức nào.   Ngoài ra Nghị quyết 2625 còn quy định: Không quốc gia nào được tổ chức, hỗ trợ, khuyến khích, tài trợ, kích động hay dung thứ cho hành vi lật đổ, khủng bố hay các hoạt động vũ trang trực tiếp nhằm lật đổ bằng bạo lực thể chế của quốc gia khác, hoặc can thiệp vào các cuộc bạo động dân sự ở quốc gia khác;... Theo Nghị quyết 2625, việc sử dụng bất cứ hình thức nào nhằm ngăn cản các dân tộc có bản sắc quốc gia cấu thành hành vi vi phạm các quyền không thể tách rời của các dân tộc đó và vi phạm nguyên tắc không can thiệp...
       Đối với Việt Nam, trong nhiều văn bản pháp luật Nhà nước Việt Nam cũng quy định rõ các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự nước ngoài, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam và thành viên của những cơ quan đó phải: Tôn trọng pháp luật và phong tục, tập quán của Việt Nam; không can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam;... Thế nhưng HRW đã phớt lờ những quy định và nguyên tắc ấy. Điều này càng lộ rõ thông qua những việc làm và phát ngôn của một số nhân vật đại diện cho HRW thời gian gần đây.
Xuyên tạc nhân quyền Việt Nam là bản chất của HRW
        Ngày 14-1-2020, HRW đã ra cái gọi là “Báo cáo Thế giới 2020” điểm lại bức tranh nhân quyền của khoảng 100 quốc gia... Phần nói về Việt Nam, báo cáo này viết: “Năm 2019 là một năm tàn bạo đối với các quyền tự do căn bản ở Việt Nam khi chính quyền kết án tù ít nhất 30 nhà hoạt động và bất đồng chính kiến”;... Trước khi đưa ra bản báo cáo này, HRW đã không ít lần đòi trả tự do cho một số đối tượng mà họ khoác lên chiếc áo “nhà dân chủ”; “nhà hoạt động nhân quyền”;... đang thụ án do vi phạm pháp luật Việt Nam.
Những việc làm và giọng điệu trên thêm một lần nữa chứng minh, mang danh là tổ chức nhân quyền nhưng hoạt động của HRW không phục vụ cho sự phát triển nhân quyền ở các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Không quá lời khi nói rằng: Xuyên tạc về nhân quyền ở Việt Nam đã trở thành bản chất của HRW. Cần khẳng định rằng: “Báo cáo Thế giới 2020” mà HRW đưa ra đã dựa trên những thông tin xuyên tạc, bịa đặt và không có cơ sở, không phản ánh đúng bức tranh nhân quyền của Việt Nam.
       Sau gần 35 năm đổi mới, bằng sự nỗ lực vượt bậc, Việt Nam đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ của LHQ. Theo đánh giá của cộng đồng quốc tế, trong hơn 30 năm đổi mới nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng trung bình gần 7%/năm, tỷ lệ hộ đói nghèo giảm trung bình hằng năm 5%... Việt Nam ngày càng nổi lên như một nền kinh tế có thu nhập trung bình và là nước xuất khẩu đang phát triển mạnh. Năm 2019, Việt Nam lần đầu tiên xuất hiện trong nhóm 60 nền kinh tế sáng tạo nhất thế giới. Ông Justin Wood, Giám đốc khu vực châu Á của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), nhận định: "Những năm gần đây kinh tế Việt Nam đang phục hồi trở lại và tăng trưởng rất nhanh. Lạm phát và nợ công được giữ ở mức ổn định, xuất-nhập khẩu tăng mạnh; các vấn đề cũ liên tục được Chính phủ khắc phục; đầu tư nước ngoài đang gia tăng mạnh mẽ... Có thể thấy bức tranh kinh tế Việt Nam đang sáng sủa hơn rất nhiều nhờ những nỗ lực cải tổ nền kinh tế của Chính phủ..."
       Mục tiêu cao nhất của quá trình phát triển ở Việt Nam không ngoài ý nghĩa vì con người, cho con người. Sự phát triển, nhất là về kinh tế những năm qua là tiền đề, là nhân tố trước hết để Việt Nam bảo đảm quyền con người. Trên thực tiễn Việt Nam liên tục đạt được những tiến bộ vượt bậc trong việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người. Sự nỗ lực cố gắng của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người những năm qua, đặc biệt trong năm 2019 được bạn bè quốc tế ghi nhận. Không phải ngẫu nhiên mà Việt Nam được chọn là nơi tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-Triều lần hai. Sự kiện này đã chứng tỏ sự tin tưởng của cộng đồng quốc tế về vai trò của Việt Nam trong vấn đề bảo đảm an ninh, an toàn, giữ gìn hòa bình trong khu vực và thế giới. Việt Nam lần thứ 3 đăng cai tổ chức thành công Đại lễ Phật đản LHQ Vesak 2019. Đây là bằng chứng sinh động khẳng định chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đại đoàn kết tôn giáo và đoàn kết dân tộc ở Việt Nam. Với việc trúng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ nhiệm kỳ 2020-2021, Việt Nam đang góp phần tích cực cho hòa bình và an ninh quốc tế, trong đó có việc thúc đẩy nhân quyền. Việt Nam là khách mời của Hội nghị thượng đỉnh nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20) chứng tỏ sự ghi nhận của quốc tế về những nỗ lực của Việt Nam trong công cuộc phát triển KT-XH... Rõ ràng năm 2019, Việt Nam tiếp tục trở thành tâm điểm của thế giới với những thành tựu đối nội, đối ngoại nổi bật. Thực tiễn sinh động ấy đã bác bỏ hoàn toàn những nhận định hồ đồ, vô căn cứ về Việt Nam mà HRW bịa đặt trong “Báo cáo Thế giới 2020”.
      Hệ thống pháp luật Việt Nam được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, đặc biệt là Hiến chương LHQ và các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia; lịch sử văn hóa truyền thống và điều kiện hoàn cảnh cụ thể của đất nước. Mục tiêu cao nhất mà hệ thống pháp luật Việt Nam hướng tới là bảo đảm cho người dân được thụ hưởng quyền con người một cách tốt nhất. Mọi công dân sống, làm việc trên lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt tuổi tác, giới tính, địa vị xã hội, thành phần dân tộc hay trình độ đều bình đẳng trước pháp luật. Những trường hợp mà HRW gọi là "nhà hoạt động và bất đồng chính kiến" đã và đang bị chính quyền Việt Nam kết án tù, thực chất đó là những công dân đã vi phạm pháp luật Việt Nam và họ phải chịu những hình phạt của luật pháp là hoàn toàn chính xác. Đòi trả tự do cho những công dân Việt Nam vi phạm pháp luật của HRW là hành động trắng trợn can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng công ước và nguyên tắc quốc tế.
      Thực tế khẳng định, bảo đảm cho mọi người dân được hưởng các quyền của mình và có cơ hội phát triển toàn diện, làm cho cuộc sống của người dân ngày càng được nâng cao, bảo đảm an sinh xã hội… là mục tiêu mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn nỗ lực hướng tới. Việt Nam kiên quyết phản đối, bác bỏ những cái nhìn phiến diện, những luận điệu vô căn cứ của HRW. Những chiêu trò của HRW dù có tinh vi, xảo quyệt tới đâu đi chăng nữa cũng không thể đánh lừa được dư luận và càng không thể phủ nhận hoặc làm lu mờ những thành tựu nhân quyền của Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận.

Chong dich benh treen nhieu phuong dien

     Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các tổ chức quốc tế đều đánh giá kinh tế thế giới năm 2020 tiếp tục xu hướng giảm, cộng với tác động từ dịch sẽ làm suy giảm nhanh hơn, đặc biệt tình trạng khi bệnh dịch kéo dài. Kinh tế Trung Quốc và toàn cầu sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, thiệt hại có thể lớn gấp 3 đến 4 lần so với dịch SARS, lên tới 160 tỷ USD.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc: Phải chống cả “virus trì trệ”
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì phiên họp. Ảnh: TTXVN.
     Dịch đã ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu, gây gián đoạn chuỗi cung ứng nhiều sản phẩm hàng hóa của thế giới, đình trệ trong sản xuất kinh doanh; suy giảm nhu cầu tạm thời từ Trung Quốc đối với các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, ảnh hưởng tới tăng trưởng của khu vực và toàn cầu. Việt Nam có độ mở của nền kinh tế lớn và có  đường biên giới dài với Trung Quốc, chắc chắn sẽ chịu những ảnh hưởng không nhỏ.
     Bộ Kế hoạch và Đầu tư dự báo, trong trường hợp khống chế được dịch trong quý I/2020 thì tăng trưởng của nước ta dự báo là 6,25%, giảm 0,55 điểm % so với Nghị quyết 01/NQ-CP của Chính phủ. Trường hợp dịch được khống chế trong quý II/2020 thì tăng trưởng của ta dự báo là 5,96% giảm 0,84 điểm % so với Nghị quyết 01/NQ-CP của Chính phủ và giảm 0,29  điểm % so với kịch bản khống chế được dịch trong quý I/2020.
     Phát biểu tại buổi làm việc, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhắc lại chủ trương hy sinh một phần tăng trưởng kinh tế để bảo vệ sức khỏe và tính mạng của người dân. Thủ tướng nêu rõ, nhiều tấm gương của tổ chức, cá nhân trong phòng chống dịch đáng được biểu dương. Chính những điều đó đã góp phần giúp việc kiểm soát dịch hiệu quả.
    Tuy vậy, Thủ tướng đặt vấn đề, không thể chỉ chống dịch mà lơ là nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội với nhiều chỉ tiêu Quốc hội giao. Do đó, Thủ tướng yêu cầu tiếp tục thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội để thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, nhân dân giao với tinh thần cao nhất.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc: Phải chống cả “virus trì trệ”
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc với các đại biểu dự phiên họp. Ảnh: TTXVN
       “Chúng ta phải chống cả hai loại virus, một là nCoV và một loại nữa là “virus trì trệ”, không chịu làm việc, lấy lý do là có dịch bệnh nên không hành động, làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh tế xã hội của đất nước" - Thủ tướng nhấn mạnh và yêu cầu không được đổ lỗi cho khách quan, không chịu triển khai các giải pháp mới, không chịu tái cơ cấu lại ngành, lĩnh vực, sản phẩm do ảnh hưởng của Covid-19 gây ra, làm ảnh hưởng đến đời sống, việc làm, thu nhập của người dân và đặc biệt là hệ thống doanh nghiệp.
       Thủ tướng đặt yêu cầu phải tìm ra giải pháp để tiếp tục ổn định và phát triển đất nước thông qua sản xuất kinh doanh và dịch vụ, tái cơ cấu nền kinh tế, giảm chi phí, chính sách để thúc đẩy phát triển, kể cả kích cầu phát triển, giải ngân vốn, giảm phí, lệ phí một số dịch vụ, trong đó có dịch vụ logistic, hỗ trợ cho các nhà đầu tư...
“Chống dịch bệnh lây lan bằng các biện pháp quyết liệt, không mất cảnh giác, không hoang mang, nhưng đồng thời với đó, những giải pháp thúc đẩy phát triển trong lúc này hơn lúc nào hết cần phải đề ra mạnh mẽ, toàn diện hơn. Đây là một thử thách phải vượt qua để hoàn thành nhiệm vụ năm nay. Bởi nếu cách làm bình thường thì tăng trưởng sẽ sụt giảm và ảnh hưởng đến nhiều chỉ tiêu khác”- Thủ tướng nói.
           Trong phát biểu kết luận cuộc họp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, chưa thay đổi mục tiêu tăng trưởng trong bối cảnh hiện nay; đồng thời yêu cầu các ngành phải có đề án riêng để đảm bảo tăng trưởng và thực hiện các mục tiêu; không chỉ có biện pháp về kinh tế mà cả biện pháp về thể chế, chính sách để tạo điều kiện cho phát triển.
Thủ tướng chỉ đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư hoàn thiện các phương án để có mức phấn đấu cụ thể nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng 6,8% cả năm; theo đó, từng quý còn lại phải giữ tăng trưởng ở mức nào, đề xuất các chính sách tiền tệ, đầu tư...cụ thể.
         Đề nghị các cấp, các ngành nêu cao trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước và nhân dân, Thủ tướng yêu cầu đội ngũ cán bộ công chức cả nước “không được vô cảm” trước tình hình đầy khó khăn, “lửa thử vàng, gian nan thử sức”, cần bình tĩnh nhưng quyết tâm cao.
         Nhắc lại yêu cầu chống 2 loại virus là Covid-19 và “virus trì trệ”, Thủ tướng cho rằng, có giải quyết 2 virus này thì xã hội, đất nước phát triển.  Kiểm soát dịch bệnh mạnh mẽ nhưng bình tĩnh, kiên quyết, không bao giờ được quên nhiệm vụ bảo đảm an toàn cho người dân.
        Đi liền với đó, bảo đảm sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ổn định, ổn định tâm lý tiêu dùng và tâm lý doanh nghiệp, thị trường.
Chỉ đạo tiếp tục đón khách tham quan các danh lam, thắng cảnh, Thủ tướng cho biết có nhận được bức thư của Hội đồng tư vấn du lịch quốc gia cho rằng, vào thời điểm này, dựa trên nghiên cứu của Hội đồng, các thị trường du lịch đường dài vẫn mở ra nhiều cơ hội kinh doanh. Hội đồng đánh giá cao quyết định của Thủ tướng về việc tiếp tục mở cửa các điểm danh lam, thắng cảnh du lịch để không làm tê liệt thị trường du lịch quốc tế. Hội đồng kiến nghị biện pháp trước mắt nên được xem xét để làm tăng lượng du khách đến từ các thị trường là miễn visa du lịch thời hạn 30 ngày cho một số thị trường.
       Tại buổi làm việc, Thủ tướng cũng nêu rõ một số biện pháp giảm chi phí thuộc thẩm quyền của Chính phủ như lệ phí visa, chi phí logistics. Cùng với đó là không tăng giá dịch vụ như điện, y tế, giáo dục và các dịch vụ khác. Đẩy mạnh đầu tư công và các công trình trọng điểm, đẩy mạnh giải ngân ODA, FDI, đầu tư xã hội.
      Nhấn mạnh không đặt vấn đề thắt chặt tiền tệ để kiểm soát lạm phát vào thời điểm này, Thủ tướng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan chức năng theo dõi sát thị trường và có giải pháp để điều hành hợp lý, nhất là kiểm soát chặt chẽ tỉ giá. Lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương, tập đoàn, doanh nghiệp đi sát thực tiễn, thường xuyên tháo gỡ vướng mắc với tinh thần trách nhiệm cao nhất để phát triển sản xuất./.