Thứ Bảy, 22 tháng 1, 2022

Tiếp tục nỗ lực vì xã hội bình đẳng, tiến bộ

 Bên cạnh những thành tựu đạt được, phụ nữ và trẻ em gái vẫn là những đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương trước các nguy cơ cũng như cần có thêm nhiều hơn nữa các cơ hội bình đẳng. Vẫn còn tồn tại vấn nạn ngược đãi phụ nữ, nhất là ở những vùng dân trí chưa cao, định kiến về giới vẫn còn tồn tại và gây nhiều thiệt hại không chỉ cho đối tượng yếu thế mà còn ảnh hưởng đến toàn xã hội.

Bất bình đẳng giới cũng được coi là một trong những nguyên nhân chủ yếu của nạn bạo lực gia đình. Báo cáo Điều tra quốc gia về Bạo lực đối với phụ nữ ở Việt Nam năm 2019 do Tổng cục Thống kê phối hợp với Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội cho thấy, cứ 3 phụ nữ thì có gần 2 phụ nữ (gần 63%) bị một hoặc hơn một hình thức bạo lực thể xác, tình dục, tinh thần và bạo lực kinh tế cũng như kiểm soát hành vi do chồng gây ra trong cuộc đời và gần 32% phụ nữ bị bạo lực hiện thời. Điều này có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho phát triển kinh tế và sức khỏe thể chất, tinh thần người phụ nữ, thậm chí tác động không tốt đến hành vi, tinh thần của trẻ em trong gia đình có phụ nữ bị bạo hành. Báo cáo cũng ước tính, bạo lực đối với phụ nữ đang gây thiệt hại về kinh tế cho Việt Nam ước khoảng 1,8% GDP năm 2018.
Về kinh tế, trên thị trường lao động, tỷ lệ lao động nữ phải làm công việc dễ bị tổn thương lên tới 59,6%, cao hơn nhiều so với với mức 31,8% của lao động nam. Theo Tổng cục Dạy nghề (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội) mức lương bình quân hàng tháng khi làm cùng một công việc của lao động nữ đạt khoảng 4,58 triệu đồng, thấp hơn mức bình quân 5,19 triệu đồng của lao động nam.
Đáng lo ngại, đại dịch COVID-19 đã khiến cho tình trạng bất bình đẳng giới có xu hướng gia tăng. Theo báo cáo “Tổng quan về Bình đẳng giới ở Việt Nam năm 2021”, đại dịch COVID-19 đã tác động nặng nề hơn tới phụ nữ ở Việt Nam, làm trầm trọng thêm khoảng cách về giới vốn đã tồn tại dai dẳng trên thị trường lao động. Chẳng hạn, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của phụ nữ giảm sâu hơn so với nam giới, khiến chênh lệch theo giới tăng nhẹ lên 10,8%. Trước đại dịch, không có sự khác biệt trong tỷ lệ thất nghiệp của nam giới và nữ giới, nhưng khoảng cách chênh lệch này đã xuất hiện kể từ quý III/2020.
Phát biểu tại Lễ công bố Báo cáo trên (ngày 26/10/2021), bà Nguyễn Hồng Hà, đại diện lâm thời Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Việt Nam, nhấn mạnh, nhiều bà mẹ có con nhỏ không còn lựa chọn nào khác là phải hy sinh sự nghiệp hay rời khỏi thị trường lao động để chăm con khi trường học đóng cửa. Phụ nữ Việt Nam đang phải mang “gánh nặng kép” giữa công việc được trả lương và công việc chăm sóc không được trả lương. Ngay cả trước khi đại dịch COVID-19 bùng phát, phụ nữ đã phải đảm nhận công việc chăm sóc trong gia đình nhiều gấp đôi so với nam giới, mà đây là rào cản hàng đầu ngăn cản phụ nữ tham gia, duy trì và thăng tiến trong lực lượng lao động. Đại dịch đã làm gia tăng sự phân chia công việc không công bằng này.
Những phân tích của báo cáo đã chỉ ra rằng bình đẳng giới không phải là vấn đề bên lề, mà là cốt lõi đối với chất lượng, sự lâu dài và những tiến bộ thu được từ sự phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam. Vì vậy, để đạt được các Mục tiêu phát triển bền vững, cần đẩy nhanh tiến độ thực hiện bình đẳng giới, hành động ngay lập tức và báo cáo đã đưa ra định hướng rõ ràng thông qua những khuyến nghị cụ thể.
Trước đó, ngày 3/3/2021, Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030 ban hành cùng Nghị quyết số 28/NQ-CP. Theo đó, trên cơ sở kế thừa Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2021, tiếp tục thực hiện sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, góp phần đạt được các Mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030.
Đảng và Nhà nước luôn kiên định mục tiêu tiếp tục thu hẹp khoảng cách giới, tạo điều kiện, cơ hội để phụ nữ và nam giới tham gia, thụ hưởng bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước. Cụ thể trong lĩnh vực chính trị, mục tiêu đặt ra đến năm 2025 đạt 60% và đến năm 2030 đạt 75% các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ. Trong lĩnh vực kinh tế, lao động, phấn đấu tăng tỷ lệ lao động nữ làm công hưởng lương và giảm tỷ trọng lao động nữ làm việc trong khu vực nông nghiệp trong tổng số lao động nữ có việc làm lần lượt là 50%, dưới 30% vào năm 2025, và khoảng 60%, dưới 25% năm 2030; Tỷ lệ lãnh đạo, chủ doanh nghiệp, hợp tác xã là nữ đạt ít nhất 27% năm 2025 và 30% năm 2030.
Trong đời sống gia đình và phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới, ngoài việc giảm số giờ trung bình làm công việc nội trợ và chăm sóc trong gia đình được trả công của phụ nữ, các chỉ tiêu đặt ra yêu cầu đến năm 2025, có 80% số người bị bạo lực gia đình, bạo lực trên cơ sở giới được phát hiện, được tiếp cận ít nhất một trong các dịch vụ hỗ trợ cơ bản và 50% người gây bạo lực gia đình, bạo lực trên cơ sở giới được phát hiện ở mức chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự được tư vấn, tham vấn. Con số này phấn đấu đến năm 2030 lần lượt là 90% và 70%. Bên cạnh đó, còn nhiều chỉ tiêu cần phấn đấu nâng cao hơn nữa nhằm thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới trong các lĩnh vực như y tế, giáo dục đào tạo, thông tin và truyền thông./.

Việt Nam đạt được nhiều thành tựu về bình đẳng giới

  Bình đẳng giới là một trong những mục tiêu phấn đấu của các quốc gia trên thế giới nhằm hướng đến một xã hội tiến bộ, bình đẳng và phát triển bền vững. Thực tế cho thấy, cả nam giới và nữ giới đều chịu những tác động từ bất bình đẳng giới, nhưng phụ nữ và trẻ em gái vẫn là nhóm đối tượng chịu nhiều thiệt thòi hơn.

Tại Việt Nam, các mục tiêu bình đẳng giới luôn nhận được sự quan tâm sát sao của Đảng, Chính phủ, các cơ quan cũng như các tổ chức cả trong và ngoài nước. Hệ thống chính sách, pháp luật của nhà nước không ngừng được hoàn thiện, công tác tổ chức được triển khai đồng bộ, quyết liệt cùng với sự tăng cường hợp tác với các đối tác phát triển và các tổ chức của Liên hợp quốc như Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), Ủy ban Địa vị Phụ nữ Liên hợp quốc… để giải quyết các vấn đề xoay quanh bình đẳng giới.
Mục tiêu đặt ra để giải quyết vấn đề ở các khía cạnh: đảm bảo bình đẳng thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Đây cũng chính là những mục tiêu được đề ra trong Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 24/12/2010.
Đến nay, sau 10 năm thực hiện Chiến lược, Việt Nam đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ, góp phần thu hẹp khoảng cách giới trong các lĩnh vực, đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Điều đó thể hiện trước hết ở việc tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị. Báo cáo số 362/BC-CP ngày 18/8/2020 của Chính phủ về việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2019 và giai đoạn 2011-2020 cho thấy, tỷ lệ nữ giới tham gia các cấp ủy Đảng khóa sau đã tăng hơn khóa trước. Cụ thể: Tỷ lệ nữ giới tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI là 8,62%, các Đảng bộ trực thuộc Trung ương là 11,4%, cấp huyện là 14% và cấp cơ sở là 18,1%; tới khóa XII, các tỷ lệ tương ứng đạt lần lượt là 10%, 13,3%, 14,3% và 19,07%. Việt Nam nằm trong nhóm 1/3 các nước đứng đầu về tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, khóa XIII đạt 24,2%, khóa XIV đạt 27,31%.
Kết quả bình đẳng giới còn được thể hiện ở khía cạnh giảm khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm; nâng cao quyền năng kinh tế cho phụ nữ, tăng cường sự tiếp cận của phụ nữ nghèo ở nông thôn, phụ nữ người dân tộc thiểu số đối với các nguồn lực kinh tế, thị trường lao động; chú trọng phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao. Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 của Tổng cục Thống kê cho thấy, nữ giới chiếm đến 47,3% lực lượng lao động chính của cả nước. Tính đến tháng 10/2019, có khoảng trên 285,6 nghìn doanh nghiệp do nữ doanh nhân đứng đầu, chiếm 24% tổng số doanh nghiệp cả nước. Tỷ lệ nữ giới biết chữ trong độ tuổi từ 15-60 đạt 97,33%, tỷ lệ nữ thạc sỹ đạt 54,25%, tỷ lệ tiến sĩ đạt 30,8%.
Cùng với đó, đảm bảo bình đẳng giới trong tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và đời sống gia đình cũng gặt hái được nhiều thành tựu. Theo kết quả của Tổng điều tra, tỷ số giới tính khi sinh (SRB) của Việt Nam đã được khống chế ở mức ổn định nhiều nhờ nỗ lực đưa SRB về mức cân bằng tự nhiên với mức 111,5 bé trai/100 bé gái sinh ra sống. Nhờ tính hiệu quả của hệ thống y tế trong việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ trước, trong và sau sinh, tỷ số tử vong của bà mẹ đã giảm từ 69 ca trên 100 nghìn ca sinh sống năm 2009 xuống còn 46 ca trên 100 nghìn ca sinh sống năm 2019. Những nỗ lực giải quyết vấn đề bình đẳng giới còn được lồng ghép trong lĩnh vực văn hóa và thông tin thông qua việc đẩy mạnh các hoạt động truyền thông, nâng cao nhận thức về giới và bình đẳng giới.
Ngoài ra, để nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bình đẳng giới, từ năm 2011 đến khoảng giữa năm 2020, Việt Nam liên tục bổ sung, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý làm cơ sở giải quyết các vấn đề về bình đẳng giới. Cụ thể: Quốc hội đã ban hành Hiến pháp năm 2013, 7 bộ luật, 161 luật; Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành 15 pháp lệnh, trong đó có khoảng 45 bộ luật, luật có liên quan đến vấn đề bình đẳng giới; Chính phủ ban hành 1.413 nghị định và đều được xem xét lồng ghép vấn đề bình đẳng giới theo quy định của Luật Bình đẳng giới và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Đặc biệt, hai năm qua, trong các chính sách hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp gặp khó khăn do tác động của đại dịch COVID-19, phụ nữ, trẻ em luôn được xác định là đối tượng được ưu tiên và có nhiều hỗ trợ cao hơn, đặc biệt là phụ nữ mang thai, phụ nữ bị nhiễm COVID-19, trẻ em mồ côi do bố mẹ bị tử vong do COVID-19... điều này đã góp phần giúp phụ nữ, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn ổn định cuộc sống, giảm bớt áp lực và nguy cơ bị bạo lực, xâm hại. Và việc lựa chọn chủ đề “Đảm bảo an sinh xã hội, tăng quyền năng và tạo cơ hội cho phụ nữ và trẻ em gái nhằm thực hiện bình đẳng giới và xóa bỏ bạo lực với phụ nữ và trẻ em gái” cho Tháng hành động năm nay một lần nữa khẳng định những ưu tiên và cam kết của Việt Nam trong việc thúc đẩy bình đẳng giới thực chất.

Nhận thức và tư duy mới về bảo vệ an ninh quốc gia

 Theo quan niệm truyền thống, an ninh quốc gia mang nội hàm đồng nghĩa với sử dụng sức mạnh để chống xâm lược, bảo vệ sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia. Ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, khái niệm an ninh quốc gia cần được hiểu một cách toàn diện hơn, không chỉ có các vấn đề an ninh chính trị, quân sự truyền thống, mà còn bao quát cả những vấn đề an ninh phi truyền thống như an ninh kinh tế, an ninh thông tin, an ninh tài chính – tiền tệ, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh dân số, an ninh môi trường… Đó là những vấn đề an ninh nổi lên bắt nguồn từ những nguy cơ mới, tác động đa chiều của quá trình phát triển; bổ sung cho các vấn đề an ninh chính trị, quân sự vốn là những vấn đề trung tâm của thời kỳ chiến tranh lạnh và nay đang có xu hướng giảm đi trong tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.

 

 Theo đó, an ninh quốc gia bao gồm: An ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh quân sự, an ninh đối ngoại, an ninh tư tưởng – văn hóa, an ninh xã hội, an ninh thông tin, an ninh tài chính – tiền tệ, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh dân số, an ninh môi trường… Trong đó, an ninh kinh tế là nền tảng (trung tâm), an ninh chính trị là cốt lõi, xuyên suốt và cùng với an ninh tư tưởng – văn hóa, an ninh quân sự trở thành 4 trụ cột của Chiến lược An ninh quốc gia trong thế kỷ 21.

 

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) đã tác động sâu sắc đến tư duy về sức mạnh, nguồn lực đảm bảo an ninh quốc gia, nhất là sức mạnh tổng hợp quốc gia, gồm 9 yếu tố cấu thành: Vị trí địa lý; nguồn tài nguyên thiên nhiên; khả năng sản xuất công nghiệp; dân số; lực lượng vũ trang; chí khí dân tộc; khả năng ngoại giao; năng lực và hiệu quả quản lý, điều hành của chính phủ. Vì thế, chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia phải được xem như một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển quốc gia. Và tư duy về bảo vệ an ninh quốc gia không chỉ giới hạn trong phạm vi biên giới hành chính quốc gia, mà cần được mở rộng nhằm bảo vệ lợi ích của Việt Nam ở nước ngoài và sự phát triển của đất nước trong tương lai. Phải chuyển từ tư duy thụ động, bó hẹp, khép kín, biệt lập sang tư duy chủ động, hợp tác và phát triển.

 

Bảo vệ an ninh quốc gia là tổng thể các hoạt động đối nội, đối ngoại của hệ thống chính trị và của cả dân tộc để tạo nên sức mạnh tổng hợp nhằm ngăn chặn, loại trừ các nguy cơ đe dọa đến an ninh quốc gia. Nói cách khác, bảo vệ an ninh quốc gia chính là việc sử dụng mọi lực lượng, bằng mọi hình thức, mọi biện pháp, để xây dựng, củng cố tiềm lực an ninh quốc gia và thường xuyên phát hiện, hạn chế, loại bỏ những nhân tố đe dọa nhằm giữ vững an ninh quốc gia. Từ khái niệm trên, rút ra 6 đặc điểm nổi bật của công tác bảo vệ an ninh quốc gia là:

 

(1)  Bảo vệ an ninh quốc gia là bảo vệ những lợi ích cực kỳ quan trọng của quốc gia, của dân tộc; những lợi ích này quan hệ trực tiếp đến vận mệnh của đất nước, đến bản chất và sự tồn tại của chế độ chính trị; là điều kiện trước hết và có ý nghĩa quyết định để xây dựng và phát triển đất nước về mọi mặt; vì vậy, bảo vệ an ninh quốc gia mang “tính phòng ngừa” rất cao.

 

(2) Quá trình ngăn chặn, loại trừ các nguy cơ đe dọa để bảo vệ an ninh quốc gia, thể hiện tập trung tính chất gay go, quyết liệt, phức tạp và lâu dài của đấu tranh giai cấp, đấu tranh vì lợi ích dân tộc. Bảo vệ an ninh quốc gia thể hiện “tính chiến đấu” thường xuyên, liên tục trong mọi hoàn cảnh (thời chiến và thời bình) nhằm chống lại những âm mưu, họat động phá hoại của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc ta.

 

(3) Các hoạt động của quá trình bảo vệ an ninh quốc gia thường không có giới hạn “phạm vi không gian” cố định, mà nó diễn ra trên các lĩnh vực của đời sống xã hội (chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, đối ngoại…), diễn ra trong từng tổ chức, từng địa phương, trong cả nước và có khi ở cả phạm vi quốc tế.

 

(4) Thực chất là cuộc đấu tranh cùng lúc với nhiều kẻ thù, nhiều loại đối tượng khác nhau ở cả trong nước và ngoài nước; các loại kẻ thù này hoạt động vừa bí mật vừa công khai trắng trợn, bằng nhiều thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt để thực hiện ý đồ phá hoại và che đậy bản chất. Vì vậy, để vạch trần bản chất và chiến thắng chúng phải bằng nhiều hình thức, nhiều biện pháp cần thiết và sức mạnh to lớn.

 

(5) Bảo vệ an ninh quốc gia chịu sự tác động, chi phối trực tiếp của diễn biến tình hình quốc tế, tác động của nhiều yếu tố về kinh tế, xã hội, trong đó có nhiều diễn biến khó lường; vì vậy, phải luôn chủ động nắm chắc tình hình, dự báo những tình huống phức tạp nhất có thể xảy ra để chủ động đối phó.

 

(6)Trong thế giới toàn cầu hóa, bảo vệ an ninh quốc gia đã và đang có xu hướng mở rộng cả trong không gian thuộc quyền quản lý của quốc gia, không gian mạng. Bảo vệ an ninh quốc gia không chỉ giới hạn trong phạm vi biên giới hành chính quốc gia mà còn được mở rộng trong không gian chiến lược nhằm bảo vệ lợi ích của của đất nước.

Ngoại giao văn hóa Việt Nam - nâng cao vị thế, củng cố sức mạnh mềm của đất nước

Ngày nay, trong quan hệ quốc tế, bên cạnh sức mạnh cứng, các nước đều quan tâm củng cố và phát huy sức mạnh mềm, qua đó tạo sức mạnh tổng hợp của quốc gia mình. Đối với nhiều nước, đây còn là ưu tiên chiến lược với phương thức thực hiện là ngoại giao công chúng, ngoại giao văn hóa.

Có thể thấy rằng Việt Nam có nguồn sức mạnh văn hóa to lớn, là nền tảng vững vàng để triển khai ngoại giao văn hóa, nâng cao vị thế, củng cố sức mạnh mềm của đất nước.
Trong suốt chiều dài hàng nghìn năm giữ gìn độc lập, thống nhất và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước, ông cha ta đã vận dụng ngoại giao văn hóa một cách linh hoạt, nhuần nhuyễn thông qua chiến lược "ngoại giao tâm công" và các biện pháp ngoại giao hòa hiếu.
Ngày nay, ngoại giao văn hóa được xác định là một trụ cột, cùng với ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế và công tác về người Việt Nam ở nước ngoài, tạo nên nền ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại. Ngoại giao văn hóa được coi là một lĩnh vực quan trọng trong chính sách đối ngoại, được triển khai sâu rộng ở nhiều cấp độ và địa bàn trong cả nước. Từ mục tiêu góp phần xây dựng lòng tin và củng cố quan hệ của Việt Nam với các nước trên thế giới nhằm nâng cao vị thế quốc gia, đến nay, ngoại giao văn hóa đã đạt được những thành tựu rất đáng tự hào, đóng góp tích cực đối với sự phát triển của đất nước.
Trong hơn 10 năm qua, ngoại giao văn hóa được triển khai bài bản, rộng rãi cả trong nước và ngoài nước với sự tham gia đông đảo của các bộ, ban, ngành, địa phương, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, các cá nhân, tổ chức.
Thông qua ngoại giao văn hóa, thông tin, hình ảnh về đất nước, văn hóa, lịch sử, con người, chính sách của Việt Nam được quảng bá, phổ biến và lan tỏa rộng rãi, giúp nhân dân thế giới hiểu biết, thiện cảm, yêu mến, từ đó dẫn tới quyết định lựa chọn Việt Nam là điểm đến để hợp tác, đầu tư, du lịch, sử dụng những sản phẩm, dịch vụ mang thương hiệu Việt Nam… hay cao hơn là ủng hộ các quan điểm, đường lối, chính sách của Việt Nam.
Các hoạt động ngoại giao văn hóa đã và đang góp phần xóa mờ đi hình ảnh một Việt Nam nghèo đói, lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá để thay bằng hình ảnh đất nước hiện đại nhưng vẫn giữ giá trị truyền thống, cởi mở, thân thiện, thủy chung với bạn bè, tôn trọng đối tác, trách nhiệm với công việc chung của thế giới.
Phát biểu tại Lễ kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 3/2/2020, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đánh giá: "Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như hiện nay".
Để đạt được thành công đó là kết quả của sự kết hợp hài hòa, hiệu quả giữa chính sách đối nội và đối ngoại, là sự đóng góp tích cực của tất cả các binh chủng thuộc các lĩnh vực an ninh, quốc phòng, ngoại giao, kinh tế-thương mại, văn hóa-xã hội, giáo dục-khoa học... và nhất là sự nỗ lực của mỗi người dân Việt Nam ở cả trong và ngoài nước.
Nếu như những thành tựu về duy trì tốc độ phát triển kinh tế, tăng dự trữ ngân sách, tăng thu nhập đầu người, hiện đại hóa quốc phòng... là những chỉ số "cứng" tạo nên "cơ đồ, tiềm lực" cho quốc gia thì những giá trị văn hóa, truyền thống, tư tưởng, triết lý của người Việt Nam được lan tỏa rộng rãi, sự yêu mến của người dân thế giới... là những chỉ số "mềm" góp phần xây dựng hình ảnh, tạo nên "uy tín, vị thế" của đất nước./.

Chuyển đổi số tạo ra những thay đổi lớn trong mọi lĩnh vực để Việt Nam đi nhanh hơn trên hành trình chuyển đổi số quốc gia

  

Khái niệm chuyển đổi số (Digital Transformation) xuất hiện tại Việt Nam từ năm 2018, đến nay đã trở thành một từ khóa phổ biến, một vấn đề nóng từ trong các chương trình nghị sự cấp cao đến những câu chuyện thường ngày của người dân.
Việt Nam có nhiều lợi thế trong phát triển kinh tế và chuyển đổi số, nổi bật là: nền kinh tế tăng trưởng nhanh, có độ mở cao, đã ký 17 hiệp định thương mại tự do với hơn 60 nước, gồm các thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, ASEAN…; khả năng thích ứng và đón nhận các xu thế phát triển lớn trên thế giới, bao gồm công nghệ số, chuyển đổi số là rất rõ rệt...
Thời gian qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định về chuyển đổi số. Theo đó, các chủ trương, thể chế, chính sách về chuyển đổi số là tương đối đầy đủ, các văn bản pháp lý cơ bản đã được ban hành. Đáng chú ý, các ứng dụng công nghệ số được xây dựng nhanh chóng (góp phần cùng cả nước tham gia phòng chống dịch COVID-19); các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, người dân đã tích cực sử dụng và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi mặt đời sống, kinh tế-xã hội, nhất là dịch vụ công trực tuyến.
Cùng với đó, an toàn, an ninh mạng, ngày càng được chú trọng, thứ hạng an toàn, an ninh mạng Việt Nam được cải thiện vượt bậc, năm 2020, Việt Nam xếp hạng thứ 25 trong 194 quốc gia và vùng lãnh thổ, tăng 25 bậc so với năm 2019; xếp hạng chỉ số phát triển Chính phủ điện tử của Việt Nam tăng 3 bậc so với năm 2016 (theo Báo cáo khảo sát xếp hạng mức độ phát triển Chính phủ điện tử năm 2020 của Liên hợp quốc). Đóng góp của kinh tế số vào nền kinh tế Việt Nam đang tăng nhanh. Việt Nam đặt mục tiêu kinh tế số chiếm 20% GDP vào năm 2025 và 30% vào năm 2030.
Công an và ngân hàng là hai ngành có những ngành có bước chuyển đổi số mạnh mẽ. Bộ Công an đã hoàn thành hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và sản xuất, cấp căn cước công dân. Đây là 2 dự án quan trọng, là dữ liệu gốc cho quá trình phát triển chuyển đổi số, kinh tế số, xã hội số. Qua số liệu thống kê của 10 ngân hàng thương mại lớn, mức đầu tư cho chuyển đổi số ước tính 15.000 tỷ đồng mỗi năm (chiếm từ 20-30% tổng chi phí đầu tư hoạt động). Nhiều ngân hàng, 90% giao dịch thực hiện trên nền tảng số.
Đối với ngành nông nghiệp - trụ đỡ của nền kinh tế, trước đây, cơ bản dựa trên “trông trời, trông đất, trông mưa, trông nắng”, đến nay đã dần chuyển qua "trông" vào dữ liệu đám mây, vào các thiết bị kết nối thông minh; từ dựa vào thủy lợi hóa, cơ giới hóa, điện khí hóa, chuyển sang tích hợp thêm tự động hóa, thương mại hóa và số hóa.
Phát biểu khai mạc Diễn đàn cấp cao Chuyển đổi số Việt Nam 2021, Chủ tịch Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ công nghệ thông tin Việt Nam (VINASA) Nguyễn Văn Khoa đánh giá, năm chuyển đổi số Quốc gia 2020 đã đánh dấu sự khởi động đầy tích cực ở mọi cấp, mọi ngành, mọi lĩnh vực, mọi địa phương và toàn xã hội trong cuộc đua chuyển đổi số. Chuyển đổi số đang tạo ra những sự thay đổi chưa từng có trong mọi lĩnh vực của sống kinh tế xã hội đất nước.
Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Huy Dũng nhìn nhận, năm 2021 là năm bắt đầu của kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 5 năm 2021-2025, cũng là năm Việt Nam phải đối mặt với vô vàn khó khăn, thách thức do đại dịch COVID-19 gây ra. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số đã trở thành xu thế tất yếu và là một động lực mới để thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, góp phần đẩy lùi dịch bệnh và phục hồi kinh tế.
Bên cạnh chất xúc tác đáng kể là đại dịch COVID-19, sự chuyển biến mạnh và tích cực này có được là nhờ rất nhiều chương trình xúc tiến, thúc đẩy của các cơ quan nhà nước từ cấp cao nhất, của các tổ chức chuyên môn và nỗ lực không ngừng của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp công nghệ - lực lượng tiên phong của quá trình chuyển đổi số toàn diện quốc gia.

Nhận diện quan điểm sai trái, thù địch về chính sách quốc phòng "Bốn không" của Đảng, Nhà nước Việt Nam

 

(1) "Chỉ có liên minh quân sự với một cường quốc thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền, bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc"

Họ cho rằng chính sách "không liên minh quân sự" không chỉ dẫn đến mất lãnh thổ và quyền chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông vào tay Trung Quốc mà còn đe dọa an ninh tổng thể của Việt Nam trong trường hợp chiến tranh xâm lược năm 1979 được lặp lại. Họ lý giải rằng, Việt Nam thực hiện chính sách "bốn không" là nguy cấp, vì sức mạnh quân sự Việt Nam hiện nay là "quá yếu", "lạc hậu". Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam cần liên minh quân sự với một nước lớn có thực lực quân sự, quốc phòng mạnh, như: Mỹ, Nga hay Nhật,… thì sẽ được hỗ trợ tối đa về mặt quân sự, kể cả đưa vũ khí trang bị, lực lượng quân đội đến trợ giúp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển, đảo quốc gia. Chúng kết luận, chính sách "không liên minh quân sự" chẳng những không giữ được nước trước xâm lược Trung Quốc mà cũng không giữ nổi chế độ cộng sản, nó còn làm Đảng ta "mất cả chì lẫn chài" (ám chỉ Đảng ta sẽ mất cả quyền lãnh đạo). Thậm chí, chúng không ngại chỉ ra rằng: "Việt Nam liên minh quân sự với Mỹ sớm ngày nào thì nguy cơ tiếp tục mất đảo, mất quyền chủ quyền trên Biển Đông vào tay Trung Quốc cũng như nguy cơ hứng chịu một cuộc chiến tranh trên biển lẫn đất liền bị đẩy lùi ngày ấy" (!?).

 

(2) "Không liên minh với nước nào nhằm chống nước thứ ba là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi"

Với quan điểm "Không liên minh với nước này để chống nước kia" trong sách trắng quốc phòng, họ cho rằng, "Một khi đã tuyên bố rõ ràng như vậy, chúng ta sẽ khó kiếm được đồng minh" và "làm mất đi con bài mặc cả quan trọng của Việt Nam với cả Mỹ và Trung Quốc''. Theo chúng, không liên minh quân sự là lỗi thời, lạc hậu; là "đường lối sai lầm", "đối sách nhu nhược", là "hành động tự trói", không phù hợp với xu thế của thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cần phải thay đổi. Đảng, Nhà nước ta nên liên minh quân sự, phải liên kết với nước này thì mới kiềm chế, đối phó được với nước kia để bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Thực chất đây là thủ đoạn thâm độc nhằm chống phá đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng độc lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước ta, làm cho chúng ta dao động và ngả sang một bên nào đấy để chống lại bên kia.

 

(3) "Đảng, Nhà nước ta vẫn kiên định chính sách "bốn không" là sẽ không có bạn chí cốt nên dễ bị cô lập trước những tình huống nguy hiểm"

Họ cho rằng việc Đảng, Nhà nước ta thực hiện chính sách quốc phòng "bốn không" sẽ cản trở hoặc làm mất đi cơ hội để Việt Nam kết bạn với các nước, thậm chí sẽ làm mất đi những người bạn chí cốt đã từng keo sơn gắn bó với Việt Nam trước đây. Từ đó suy diễn rằng chúng ta "dễ bị cô lập trước những tình huống nguy hiểm" (!).

Đẩy mạnh hơn nữa công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

 

Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (gọi tắt là Ban Chỉ đạo) đã họp Phiên thứ 21, kiểm điểm, đánh giá kết quả hoạt động năm 2021 và cho ý kiến về Chương trình công tác năm 2022 của Ban Chỉ đạo.Về nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2022, Ban Chỉ đạo yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chức năng không được chủ quan, thỏa mãn, bằng lòng với những kết quả đạt được; phải kiên quyết, kiên trì đẩy mạnh hơn nữa công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xử lý nghiêm, đồng bộ giữa kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính và xử lý hình sự đối với những trường hợp vi phạm, bất kể người đó là ai; kịp thời biểu dương, khen thưởng, động viên các tổ chức, cá nhân có thành tích trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện thể chế để “không thể tham nhũng”. Trọng tâm là hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực; cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập, đảm bảo thực chất, hiệu quả; rà soát, khắc phục những sơ hở, bất cập trong cơ chế, chính sách, pháp luật liên quan đấu thầu, đấu giá, quản lý, sử dụng đất đai, tài chính, tài sản công,…; sửa đổi, bổ sung Luật Thanh tra, Luật Đất đai, Luật Thực hành dân chủ ở xã, phường, thị trấn và các dự án luật liên quan trực tiếp đến phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ, tiếp tục chỉ đạo tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, tập trung vào những lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng; thực hiện nghiêm chỉ đạo về cơ chế phát hiện, xử lý sai phạm trong quá trình kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Kiểm tra, xử lý nghiêm các tổ chức đảng, đảng viên có sai phạm liên quan các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị, tập trung chỉ đạo kết thúc điều tra 16 vụ án, kết thúc xác minh, xử lý 40 vụ việc; truy tố 20 vụ án; xét xử sơ thẩm 22 vụ án, xét xử phúc thẩm 1 vụ án theo kế hoạch của Ban Chỉ đạo.

Nhất là, tập trung chỉ đạo xử lý vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á và các vụ việc, vụ án liên quan đến lĩnh vực y tế; các vụ việc, vụ án xảy ra tại Khánh Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, An Giang…

Xét xử sơ thẩm đối với 10 vụ án trọng điểm, gồm: Vụ án “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” xảy ra tại Tổng công ty Sản xuất - Xuất nhập khẩu Bình Dương.

Vụ án “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; Buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh” xảy ra tại Cục Quản lý Dược - Bộ Y tế và các cơ quan, đơn vị có liên quan.

Vụ án “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” xảy ra tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Đầu tư và xây dựng Tân Thuận.

Vụ án “Buôn lậu; sản xuất, buôn bán hàng giả; đưa hối lộ; nhận hối lộ…” xảy ra tại Đồng Nai và một số địa phương.

Vụ án “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; nhận hối lộ” xảy ra tại một số đơn vị thuộc Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam và Bộ đội biên phòng.

 Vụ án “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ” xảy ra tại Liên hiệp Hợp tác xã thương mại Thành phố Hồ Chí Minh (Saigon Co.op).

Vụ án “Vi phạm các quy định về quản lý đất đai” xảy ra tại Dự án sinh thái tâm linh Cửu Long Sơn Tự và Dự án Biệt thự sông núi Vĩnh Trung tại khu vực núi Chín Khúc, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

Vụ án “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” xảy ra tại Bệnh viện Bạch Mai và một số cơ quan, đơn vị.

Vụ án “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Bệnh viện Tim Hà Nội và các đơn vị có liên quan.

Vụ án “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng; đưa hối lộ; nhận hối lộ; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công” xảy ra tại Công ty Việt Á và một số cơ quan, địa phương.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu, tập trung tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, xử lý nghiêm các sai phạm, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, đột phá hơn nữa trong công tác giám định, định giá và thu hồi tài sản tham nhũng.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo, đẩy mạnh, nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục liêm chính, xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, trước hết trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là người đứng đầu. Phát huy hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên, báo chí và nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; chỉ đạo khẩn trương hoàn thành tổng kết Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 và Kế hoạch thực hiện Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC); đề án thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh và các đề án, chuyên đề khác theo kế hoạch của Ban Chỉ đạo.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết, Ban Chỉ đạo đã thảo luận, thống nhất Kế hoạch triển khai thực hiện công tác phòng, chống tiêu cực theo Quy định số 32-QĐ/TW, ngày 16/9/2021 của Bộ Chính trị và Kế hoạch số 03-KH/TW, ngày 01/12/2021 của Bộ Chính trị thực hiện Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, với 19 nhóm nhiệm vụ; phân công cụ thể cho các cấp ủy, tổ chức đảng và các thành viên Ban Chỉ đạo; xác định rõ lộ trình, thời gian thực hiện, trong đó nhấn mạnh công tác hoàn thiện thể chế về kiểm soát quyền lực để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Cũng tại Phiên họp, Ban Chỉ đạo đã thảo luận, cho ý kiến để hoàn thiện dự thảo Chương trình công tác năm 2022; kết thúc chỉ đạo xử lý đối với 9 vụ án, 4 vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo do đã kết thúc việc giải quyết theo quy định của pháp luật.

ĐÔI ĐIỀU TÂM SỰ VỚI NHÀ BÁO LƯU TRỌNG VĂN!

         Sáng nay, ngồi uống cafe với một người bạn, anh cho tôi đọc một bài viết ngắn với cái tite “Nền kinh tế yếu kém vì thiếu vắng tầng lớp Tư sản dân tộc” của Lưu Trọng Văn, viết trên mạng xã hội quanh câu chuyện bức “tâm thư” của tỷ phú Đỗ Anh Dũng, Chủ tịch Tập đoàn Tân Hoàng Minh và tỷ phú Trịnh Văn Quyết, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Tập đoàn FLC k vừa “bán chui” 74,8 triệu cổ phiếu FLC. Tôi cũng được đọc toàn văn bức “tâm thư” xin chấm dứt hợp đồng mua lô đất đấu giá mang ký hiệu 3-12 thuộc Khu đô thị mới Thủ Thiêm của ông Đỗ Anh Dũng, Chủ tịch Tập đoàn Tân Hoàng Minh, khá bất ngờ với lời lẽ trong bức “tâm thư” về việc xin tự nguyện đơn phương chấm dứt hợp đồng mua bán, đấu giá tài sản lô đất này. Có cần thiết phải gửi “tâm thư” đến các đồng chí lãnh đạo Đảng và nhà nước như vậy không? Bức tâm thư liệu có giá trị pháp lý gì không? Có thay thế được văn bản gửi Trung tâm Phát triển quỹ đất và Trung tâm Đấu giá tài sản nhà nước TP Hồ Chí Minh? Quan điểm của cá nhân tôi, khi sự việc chưa sáng tỏ, ta không nên đánh giá phẩm chất, năng lực “Biết nhục vẫn làm; Lợi ích trên danh dự; vấn đề phẩm chất của nhà kinh doanh” như lối viện dẫn của Lưu Trọng Văn. Liên quan vụ việc này, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm C03- Bộ Công an đang đề nghị UBND thành phố Hà Nội, các sở, ban ngành cung cấp toàn bộ hồ sơ tài liệu liên quan đến việc chấp thuận chủ trương đầu tư, quy hoạch, cấp phép xây dựng, kế hoạch sử dụng đất, giao đất; nghĩa vụ tài chính 11 dự án của Tập đoàn Tân Hoàng Minh tại Hà Nội.


Vụ việc tỷ phú Trịnh Văn Quyết, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Tập đoàn FLC bán chui cổ phiếu thì vào tối 11/01/2022, Sở giao dịch chứng khoánTP Hồ Chí Minh (HOSE) hủy bỏ giao dịch bán 74,8 triệu cổ phiếu FLC hôm 10/01/2022 của ông Trịnh Văn Quyết với lý do là Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn FLC không báo cáo, không công bố thông tin trước khi giao dịch. Tài khoản của ông Trịnh Văn Quyết đã bị phong tỏa và giao dịch này đã bị Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh thông báo hủy bỏ từ ngày 11/01/2022. Ông Trịnh Văn Quyết bán chui cổ phiếu FLC với số lượng khủng bị phanh phui làm nhiều nhà đầu tư chứng khoán nắm giữ các cổ phiếu liên quan hoảng loạn, bán tống bán tháo, khiến các mã này rớt sàn nhiều phiên liên tiếp và chưa có dấu hiệu dừng lại ảnh hưởng đến chỉ số thị trường chung. Hành vi của ông Trịnh Văn Quyết làm xói mòn lòng tin của giới đầu tư vào tính minh bạch, công bằng của môi trường kinh doanh tại Việt Nam.


Lưu Trọng Văn muốn mượn hai nhân vật “tỷ phú đô la Việt Nam” trong số những người giàu có của Việt Nam hiện tại, để nói về phẩm chất của nhà kinh doanh và hoài niệm một thời đã qua về “tầng lớp tư sản dân tộc”. Ngay cụm từ “tư sản dân tộc” chỉ những người nếu còn sống thì cũng đã thuộc lớp người xưa nay hiếm. Những năm thập kỷ 50 của thế kỷ trước, khi khai sơ yếu lý lịch thì mới thấy, thành phần gia đình quan trọng như thế nào? Lúc đó mấy cụm từ giai cấp tư sản, tư sản mại bản, tư sản dân tộc, địa chủ cường hào, địa chủ kháng chiến… Chỉ sau này, học lên mới thấu hiểu hết. Thế hệ trẻ ngày nay họ không cần quan tâm đến vấn đề này, trừ một số ít phải học tập, nghiên cứu phục vụ cho chuyên ngành kinh tế mà mình đang theo đuổi. Tôi rất ngưỡng mộ các nhà tư sản dân tộc của Việt Nam như Bạch Thái Bưởi, Trịnh Văn Bô… nhưng nếu khẳng định “Nền kinh tế yếu kém vì thiếu vắng tầng lớp Tư sản dân tộc” thì không thỏa đáng. Giai cấp tư sản là tập hợp những người làm chủ những tư liệu sản xuất chính trong xã hội, đặc trưng cơ bản của họ là bóc lột sức lao động của công nhân, của những người làm thuê. Giai cấp tư sản phân ra “tư sản mại bản” và “tư sản dân tộc”. Tư sản mại bản là những người hoặc một nhóm người làm trung gian với các thế lực nước ngoài buôn bán tài nguyên, quyền lợi của quốc gia, nói nôm na đó là những người thay mặt cho đế quốc, đứng ra kinh doanh, buôn bán kiếm lời. Tư sản dân tộc là một bộ phận của giai cấp tư sản ở các nước kém phát triển, đang hoặc đã từng là thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, họ có tinh thần dân tộc, quan tâm đến sự phát triển độc lập về kinh tế và chính trị của đất nước. Tôi cũng bày tỏ với Lưu Trọng Văn, ghi nhận và đánh giá cao vai trò của “tư sản dân tộc” trong việc phát triển kinh tế của một quốc gia trong giai đoạn cách mạng dân tộc, dân chủ. Chúng ta cũng đã mắc sai lầm trong cải cách ruộng đất, trong cải tạo công thương nghiệp tư bản, tư doanh. Cải tạo kinh tế miền Bắc năm 1954 và các tỉnh phía Nam sau 30/4/1975 với mục tiêu “xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ bóc lột tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ giai cấp tư sản”. Ở miền Bắc, sau cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản, tư doanh 1954, thì không còn giai cấp tư sản, nhà nước quản lý nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa, tập trung quan liêu bao cấp. Do hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, bị kẻ thù xâm lược, tất cả vì mục tiêu giải phóng dân tộc, huy động tối đa sức lực của toàn dân. Chiến sĩ an tâm chiến đấu ngoài mặt trận, hậu phương đã có nhà nước bao cấp, tuy không nhiều. Ở miền Nam, tuy đã hình thành một bộ phận tư sản dân tộc vì sống dưới chế độ Mỹ Ngụy, nhưng sau giải phóng miền Nam và cải tạo công thương nghiệp tư bản, tư doanh cũng bị đi cải tạo và triệt tiêu. Từ Đại hội V (3/1982) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định dứt khoát xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, thực hiện hạch toán kinh tế và kinh doanh XHCN. Bước ngoặt lịch sử tại Đại hội VI (tháng 12/1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã mở ra quan điểm kinh tế và đường lối kinh tế để 12 năm sau mới có quan niệm “cơ chế thị trường định hướng XHCN” vào năm 2001. Thực tiễn 35 năm đổi mới, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đúc kết trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”trong đó có viết: “Đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới…Đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường…Đây không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đầy đủ”.


Đảng và Nhà nước Việt Nam khuyến khích việc kinh doanh làm giàu, ích nước, lợi nhà vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Tất nhiên làm giàu phải chính đáng, minh bạch, có lợi cho quốc gia và dân tộc. Những doanh nhân thành đạt nhất Việt Nam trong giai đoạn vừa qua, họ sở hữu khối tài sản khổng lồ, có tầm ảnh hưởng lớn đối với nền kinh tế-xã hội và sự phát triển của Việt Nam và được thế giới vinh danh, ghi nhận như: Phạm Nhật Vượng, Đoàn Nguyên Đức, Trần Đình Long, Bùi Thành Nhơn, Đặng Lê Nguyên Vũ, Mai Kiều Liên, Nguyễn Thi Phương Thảo, Johnathan Hạnh Nguyễn… Còn những kẻ làm giàu bất chính như lũng đoạn thị trường, làm ăn phi pháp vi phạm pháp luật, hoặc do tham nhũng… từ đó hình thành tầng lớp tư bản thân hữu, có lợi ích mật thiết với một bộ phận tha hóa, biến chất trong chính quyền, lợi ích nhóm tiêu cực, làm cho đất nước bị tổn thất nguồn lực, giảm uy tín, kìm hãm không thể phát triển nhanh và bền vững, không sớm thì muộn bọn chúng cũng sẽ bị lộ diện và nghiêm trị theo pháp luật hiện hành. Tôi cũng cho rằng rất cần khách quan khi đưa ra những nhận định về vấn đề này ông Lưu Trọng Văn ạ, đừng quy chụp hoặc cố ý thông tin một cách chủ quan làm cho người đọc thấy mình như đang hướng lái dư luận theo góc nhìn hạn hẹp cá nhân như thông tin trong bài viết của mình, làm như vậy không nên Lưu Trọng Văn nhé./.

Yêu nước ST.

HIỂM HỌA TỪ PHÒ TÁ,THAM MƯU RỞM

 

Một trong những nguyên nhân gây ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ tổ chức đảng và trong nhân dân là do không ít quyết sách, chỉ thị, quy định, lời phát ngôn... của cán bộ hoặc cơ quan có thẩm quyền không phù hợp với thực tiễn, không “xứng tầm”, thậm chí là vô lý, gây cười.


Nguy hiểm hơn, khá nhiều người giữ cương vị lãnh đạo bị xử lý kỷ luật, thành tội phạm vì ký những văn bản có nội dung trái pháp luật. Dư luận thường chỉ phê phán, “ném đá” những cán bộ lãnh đạo này. Nhưng thực tế cũng có những sai sót, vi phạm do cán bộ, nhân viên làm công tác tham mưu, giúp việc trực tiếp gây ra mà người lãnh đạo không thể kiểm soát hết và phải chịu trách nhiệm.


Những năm qua, đặc biệt trong thời gian cao điểm, cấp bách phòng, chống dịch Covid-19, dư luận rất bức xúc trước việc một số địa phương, bộ, ngành thi thoảng lại ban hành các quy định “trên trời” vì không khoa học, kém hiệu quả, thiếu tính khả thi, thậm chí trái với văn bản của cấp trên...

Tình trạng các văn bản “đá nhau”, “sáng ban hành, chiều bãi bỏ” không chỉ làm mất uy tín của người ký ban hành và cơ quan ban hành, mà còn ảnh hưởng không nhỏ tới uy tín của Đảng, Nhà nước; trở thành cái cớ, cơ hội để các thế lực thù địch lợi dụng thổi phồng, kích động nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chống phá cách mạng nước ta.

 

Bên cạnh đó là một số cán bộ lãnh đạo có lời phát biểu hoặc bài viết đăng trên sách, báo, tạp chí chưa thực sự “xứng tầm”, thậm chí có chỗ copy nguyên xi của người khác, nói hớ, viết sơ hở. Một vài cán bộ đã giải thích “lỗi từ nhân viên đánh máy”, nhưng càng khiến dư luận bức xúc vì cho rằng, cán bộ đổ lỗi cho nhân viên để trốn tránh trách nhiệm.

Tuy nhiên, thực tế đúng là có tình trạng cán bộ, nhân viên làm công tác tham mưu, giúp thủ trưởng soạn văn bản, chuẩn bị dự thảo văn bản, bài viết, bài phát biểu thiếu chặt chẽ, không đủ tầm để chuẩn bị tốt nội dung; thủ trưởng thì không đủ thời gian hoặc không thể hiểu sâu về tất cả lĩnh vực nghiệp vụ để phát hiện, chỉnh sửa hết những chỗ sai sót.

Đó là chưa kể còn có hiện tượng một số trợ lý được thủ trưởng giao góp ý dự thảo bài viết, bài phát biểu do cơ quan chuyên môn chuẩn bị nhưng lại không đọc kỹ, không hiểu sâu mà lại "thích chỉnh sửa để thể hiện mình giỏi", dẫn đến sửa không phù hợp, đúng thành sai, làm hỏng cả bài viết mà thủ trưởng cũng không thể kiểm soát hết được. Ngôn từ phát ra thì người ta chỉ khen-chê người đăng đàn phát biểu, người đứng tên tác giả, đâu cần biết ai là người giúp chuẩn bị, chỉnh sửa nội dung! 


Bên cạnh một số cán bộ, nhân viên làm công tác tham mưu, giúp việc do hạn chế về trình độ, năng lực dẫn đến sai sót khi soạn thảo văn bản, chuẩn bị bài viết, bài phát biểu cho thủ trưởng, thì còn có hiện tượng tham mưu nhưng “mưu ít, tham nhiều”, rỉ rả ngày này qua ngày khác hướng lái thủ trưởng nhận thức thiếu chuẩn mực về một số vấn đề xã hội hoặc ngay chính công việc, con người mình phụ trách.

Người phò tá, tham mưu phẩm chất không trong sáng, vụ lợi thường dễ bị mua chuộc, lôi kéo, cố tình gài lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm vào các văn bản liên quan đến chế độ, chính sách, quyết định các vấn đề về tài chính, ngân sách như mua bán tài sản công, đấu thầu...


Đây là vấn đề nhức nhối, rất đáng báo động. Bởi thực tế không nhiều thủ trưởng, người chủ tài khoản nắm chắc, hiểu sâu về quản lý kinh tế, ngân sách, nhất là các nguyên tắc, thủ tục, danh mục thu-chi tài chính (do không được đào tạo chuyên sâu). Ngay cả những thủ trưởng nắm chắc nội dung này thì cũng không đủ thời gian để nghiên cứu kỹ hàng chục, hàng trăm văn bản dày cộp mỗi ngày bởi còn phải làm rất nhiều việc khác. Nên có tình trạng cán bộ, cơ quan tham mưu, trợ lý trình gì thì thủ trưởng chỉ xem lướt rồi tin tưởng ký vào, trừ những văn bản quan trọng. 

Lại cũng có không ít trợ lý, người giúp việc mượn danh, núp bóng thủ trưởng để gạ gẫm cơ sở và cán bộ, nhân viên cấp dưới. Thường những người này trước thủ trưởng thì "đi nhẹ, nói khẽ, cười duyên", tỏ ra ngoan ngoãn, lễ phép, nhưng sau lưng thủ trưởng thì ngược lại. Dù thủ trưởng không chỉ đạo gì nhưng có trợ lý, người giúp việc lại cố tình “gây khó để có phong bì”, mượn uy thủ trưởng để vụ lợi, sách nhiễu. Kiểu “cáo mượn oai hùm” này vô cùng nguy hại vì nó làm cho cấp cơ sở và quần chúng nhân dân mất niềm tin vào cán bộ lãnh đạo, sâu xa hơn là mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước vì nhiều người tưởng các thủ trưởng chỉ đạo làm như vậy!


Theo từ điển tiếng Việt, tham mưu nghĩa là hiến kế, kiến nghị, đề xuất, đưa ra các ý tưởng độc đáo, sáng tạo, có cơ sở khoa học, các sáng kiến, các phương án tối ưu, những chiến lược, sách lược và các giải pháp hữu hiệu cho thủ trưởng trong việc đặt ra và tổ chức thực hiện kế hoạch công tác của cơ quan, đơn vị nhằm đạt kết quả cao nhất; còn trợ lý là người giúp việc trực tiếp cho một người ở chức vụ cao hoặc trong một lĩnh vực chuyên môn nào đó.

Như vậy, vai trò của cán bộ, nhân viên làm công tác tham mưu, trợ lý giúp việc là vô cùng quan trọng, không thể thiếu trong hoạt động lãnh đạo, quản lý và điều hành công việc của tất cả các tổ chức. Những người làm nhiệm vụ này rất gần gũi với thủ trưởng và được thủ trưởng tin cậy, giao cho các công việc quan trọng, liên quan tới cả tổ chức, nhiều người.

Cổ nhân đã đúc rút “Thần thiêng nhờ bộ hạ”, nghĩa là đội ngũ làm công tác tham mưu, giúp việc vừa giỏi vừa tâm đức là nhân tố rất quan trọng, quyết định đến thành công của người lãnh đạo. Bất kể thủ trưởng nào, dù tài giỏi đến mấy cũng không thể hiểu sâu kỹ được tất cả lĩnh vực, không thể tự làm hết được mọi công việc.

Do đó, mỗi cơ quan, đơn vị muốn thành công, ngoài tâm và tầm của người lãnh đạo thì phải có đội ngũ làm công tác tham mưu, giúp việc đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ, giúp người lãnh đạo đưa ra những chủ trương, quyết định đúng đắn, hạn chế tối đa sai sót, khuyết điểm. Chính vì vậy, việc lựa chọn, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, nhân viên làm công tác tham mưu, giúp việc là đặc biệt quan trọng.


Song, đáng tiếc là vẫn có những thủ trưởng và cơ quan, đơn vị chưa thực sự coi trọng việc này, vẫn còn tình trạng ưu tiên người thân quen, chọn người cùng phe nhóm, “cánh hẩu”, biết chiều ý thủ trưởng theo kiểu tuyệt đối phục tùng, sẵn sàng cung phụng, phục vụ mọi nhu cầu cá nhân mà không cần biết đúng-sai. Chính vì thế mới dẫn đến những hậu quả vô cùng tai hại. "Thần suy cũng vì bộ hạ" và sử sách đã "bêu gương" không ít bậc vua chúa vì chọn dùng gian thần mà thân bại, danh liệt.


Cần nhận thức đúng đắn rằng, cán bộ, nhân viên làm công tác tham mưu, giúp việc cũng là phục vụ thủ trưởng, nhưng là dùng tri thức, chất xám và toàn tâm toàn ý phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành của thủ trưởng, hoàn toàn khác với việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt thường ngày; do đó, phải chú trọng lựa chọn những người có đủ tâm và tầm, nhất là người dám nói, dám phản biện như Đảng ta đang khuyến khích. Nhất là, trong thời đại công nghệ số, thế giới “phẳng” như hiện nay, chỉ cần một sai lầm, sơ hở nhỏ của tổ chức, của người lãnh đạo cũng sẽ lan nhanh khắp nơi, làm ảnh hưởng lớn tới uy tín của tổ chức, cá nhân mắc sai lầm, khuyết điểm.


Thiết nghĩ, việc tuyển chọn và sử dụng người phò tá, tham mưu rất cần ghi nhớ bài học của người xưa "Quân tử chi giao đạm nhược thủy. Tiểu nhân chi giao cam như di", với ý nghĩa là: Người quân tử đối đãi với nhau như nước trắng, không mặn, không ngọt; rất thật lòng, không vì yêu mà nói thành tốt, không vì ghét mà nói thành xấu, không nói những lời bạn thích nghe mà phải nói những lời bạn cần nghe. Kẻ tiểu nhân đối xử lúc nào cũng ngọt ngào như rượu nồng. Nước tuy nhạt nhưng cần thiết để sống bền vững; còn rượu ngọt uống sẽ say, dễ lầm đường lạc lối, dẫn tới tuyệt giao, tai họa…

TẠI SAO CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN KHÔNG THỂ LỖI THỜI?

     Thời gian gần đây, một số nhà nghiên cứu phương Tây và một bộ phận cán bộ, đảng viên trong nước cho rằng, trong thời đại ngày nay, chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, bởi vậy chúng ta không thể xây dựng được một xã hội mới tốt đẹp, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh trên nền tảng của học thuyết lỗi thời đó (!).

Câu hỏi đặt ra là, chủ nghĩa Mác - Lênin có thật là đã lỗi thời không khi xem xét dưới mọi bình diện, từ ý nghĩa khoa học, mục tiêu xã hội đến ý nghĩa thực tiễn? Nếu nó là lỗi thời thì nguyên nhân và cơ sở nào quy định, ngược lại, nếu không lỗi thời thì tại sao và do đâu?

Trước hết, những người phủ nhận cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời thường dựa chủ yếu vào 4 lý do sau đây. Thứ nhất, chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời từ những điều kiện kinh tế - xã hội của thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX nên không còn phù hợp với thực tiễn hiện nay. Thứ hai, chủ nghĩa xã hội hiện thực được xây dựng theo học thuyết của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã bị sụp đổ. Hiện thực sụp đổ có nghĩa là lý thuyết sai lầm. Thứ ba, điều kiện kinh tế và xã hội ở các nước tư bản phát triển được cải thiện rất nhiều so với ở các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, chứng tỏ chủ nghĩa tư bản là ưu việt. Và thứ tư, một loạt sai lầm, khuyết điểm mà các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, trong đó có nước ta, đã và đang mắc phải, chứng tỏ lý luận về chủ nghĩa xã hội là sai lầm và lỗi thời.

Về lý do thứ nhất, đúng là học thuyết của C.Mác và Ph.Ăngghen ra đời từ giữa thế kỷ XIX, trong điều kiện những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản đã trở nên gay gắt, phơi bày tất cả bản chất giai cấp của nó cùng với sự bóc lột người lao động đến cùng cực. C.Mác và Ph.Ăngghen kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, tiếp thu có chọn lọc toàn bộ những giá trị tinh hoa của quá trình phát triển tư tưởng của nhân loại, đặc biệt là kinh tế - chính trị cổ điển Anh, triết học cổ điển Đức và chủ nghĩa xã hội không tưởng Anh. Những học thuyết về giá trị lao động của Adam Smith và David Ricardo, phương pháp biện chứng của G.W.F.Hegel, chủ nghĩa duy vật nhân bản của L.A.Feuerbach, những tư tưởng tiến bộ về xã hội của các nhà tư tưởng Pháp như H.D.Sain Simon, C.Fourier cũng đóng góp những cơ sở nhận thức quan trọng vào quá trình hình thành học thuyết của C.Mác và Ph.Ăngghen. Cũng cần phải nói rằng, lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng nhân loại, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát hiện ra tính quy luật trong sự vận động của xã hội loài người, trong đó nhân tố quyết định là mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất. Đây chính là cơ sở để C.Mác và Ph.Ăngghen dự báo về tất yếu loài người sẽ tiến tới chủ nghĩa cộng sản qua một giai đoạn quá độ là chủ nghĩa xã hội.

V.I.Lênin là người tiếp tục phát triển những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen vào thời kỳ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, trong điều kiện mới khi chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. V.I.Lênin có nhiều đóng góp vào phát triển các tư tưởng triết học, kinh tế - chính trị của C.Mác và Ph.Ăngghen. Đặc biệt, V.I.Lênin đã phát triển tư tưởng về khả năng thắng lợi của cách mạng vô sản ở một nước tư bản riêng biệt; xây dựng học thuyết về một chính đảng mácxít kiểu mới; tổ chức cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa thắng lợi và vận dụng học thuyết của C.Mác để phân tích, giải quyết hàng loạt vấn đề trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga và Liên bang Xôviết.

Đến giữa thế kỷ XX, Hồ Chí Minh là người vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin một cách sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam để giải quyết những nhiệm vụ to lớn của cách mạng Việt Nam, đánh đổ những đế quốc lớn, những kẻ thù hung bạo để giành độc lập, tự do cho dân tộc, bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Điều hiển nhiên và không thể chối cãi là, dù được hiểu theo nghĩa nào, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là khoa học về những quy luật chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy; quy luật về sự phát triển của sản xuất xã hội, về cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và nhân dân lao động chống lại áp bức, bóc lột, mưu cầu tự do, hạnh phúc; quy luật về cách mạng xã hội chủ nghĩa và con đường xây dựng, phát triển đi tới chủ nghĩa cộng sản. Vào thời điểm ra đời của học thuyết này, những tác giả của chủ nghĩa Mác - Lênin đã phê phán chủ nghĩa tư bản, chỉ ra bản chất bóc lột, tính quy luật trong sự tồn tại và phát triển của nó. Sự phê phán đó là sâu sắc và phản ánh đúng bản chất của thực tiễn xã hội đương thời. Đó là điều đã được thực tế kiểm nghiệm, được hầu hết các nhà nghiên cứu xã hội thừa nhận cho dù họ theo xu hướng chính trị nào. Từ sự phê phán chủ nghĩa tư bản đương thời, từ phát hiện tính quy luật của lịch sử xã hội loài người và từ cả thái độ nhân văn trước hiện thực tăm tối về sự thống khổ của người lao động dưới ách áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản, C.Mác, Ph.Ăngghen dự báo về một xã hội tương lai như một tất yếu lịch sử sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản.

Cần nói rằng, những gì chủ nghĩa tư bản hiện đại đang thể hiện vẫn không ra ngoài tính quy luật mà chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra, càng minh chứng cho tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin. Sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, một mặt tăng thêm tiềm lực cho chủ nghĩa tư bản; mặt khác càng thúc đẩy nhanh hơn quá trình xã hội hóa của lực lượng sản xuất, dẫn đến những thay đổi chóng mặt về quy mô, tính chất của quan hệ sở hữu, quản lý, điều hành sản xuất và phân phối của cải xã hội. Quá trình toàn cầu hóa xuất phát trước tiên từ nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, nói cho cùng cũng như cái "áo" trong khung khổ từng quốc gia đã quá chật hẹp, buộc phải nới ra trên phạm vi toàn thế giới. Sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản theo đó cũng mở rộng mạnh mẽ ra ngoài chính quốc. Sự bóc lột ấy, về bản chất, chẳng khác gì hành vi xâm lược thuộc địa của các đế quốc - tư bản chủ nghĩa trước đây, chỉ có điều nó được che đậy dưới lớp vỏ hào nhoáng, mỹ miều hơn, nó đi vào các quốc gia nghèo khó bằng cửa chính và bóc lột người lao động bằng những lề luật văn minh, sạch sẽ hơn.

Càng giàu mạnh, các thế lực tư bản càng hung hăng, tìm mọi cách để chiếm đoạt các nguồn tài nguyên, của cải của thế giới, quy phục các quốc gia nghèo khó, yếu thế nhằm phục vụ cho lợi ích của mình. Cuộc chiến tranh Irắc đã đẩy một quốc gia hòa bình vào cuộc chiến đẫm máu, huynh đệ tương tàn suốt hơn một thập niên, đến nay vẫn chưa thấy lối ra. Lý do để phát động cuộc chiến tranh chống lại một dân tộc có chủ quyền, độc lập, cách xa nước Mỹ hàng vạn cây số là tàng trữ "vũ khí giết người hàng loạt", nhưng từ sau chiến dịch Bão táp sa mạc đến giờ người ta đã đào bới, xới lộn cả nước Irắc mà không tìm thấy cái gì là "vũ khí giết người hàng loạt". Nhưng thực tế thì chính nước Mỹ đang tàng trữ lượng vũ khí hạt nhân đủ phá hủy nhiều lần cuộc sống của nhân loại trên toàn cầu. Đất nước Libi hòa bình cũng trở thành hỗn loạn sau khi Mỹ và các đồng minh phương Tây can thiệp lật đổ chính quyền dân cử Muhammad al-Gaddafi. Cho dù Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh đã xin lỗi, nhưng điều ấy có nghĩa gì khi đất nước Irắc và Libi đã tan hoang, hàng vạn người dân lành đã chết, hàng triệu người dân đang sống trong những điều kiện tồi tệ nhất1. Ngay với nước Mỹ, hàng nghìn thanh niên đã bỏ xác ở Irắc, ở Trung Đông một cách vô nghĩa. Chắc chắn trong số những thanh niên Mỹ đã chết vô ích ấy không và không thể có con cái các nhà tư bản, các ông chủ ngân hàng. Vậy, lý do cuộc chiến Irắc là gì nếu không phải là dầu mỏ và lợi ích của những ông chủ, các nhà tư bản Mỹ? Một loạt cuộc cách mạng màu do bàn tay Mỹ và các nước phương Tây phát động ở Libi, Xyri, Ai Cập... đều có chung một hình thái bên ngoài, mục đích ẩn giấu bên trong và hậu quả tồi tệ không khác gì với cuộc chiến ở Irắc.


1. Ngày 10-4-2016, khi trả lời phỏng vân Hãng tin Fox News, Tổng thống Mỹ, Barack Obama đã thừa nhận rằng, sai lầm tồi tệ nhất trong nhiệm kỳ tổng thống của ông là đã không chuẩn bị một kế hoạch lâu dài cho Libi sau khi lật đổ Tổng thống Muhammad al-Gaddafi, đế gây nên tình ữạng hỗn loạn ở nước này. Năm 2015, cựu Thủ tướng Anh Tony Blair cũng đã thừa nhận sai lầm và xin lỗi về việc đưa quân đội Anh tham gia cuộc chiến ở Irắc. 

Mặt khác, nếu nhìn nhận từ góc độ nhân văn thì chủ nghĩa xã hội là ước vọng ngàn đời của tất cả những người dân lao động, của những con người có lương tâm cùng tình thương nhân loại, muốn sống trong hòa bình, nhân ái. C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát triển chủ nghĩa xã hội từ không tưởng trở thành khoa học khi nhìn nhận nó từ quy luật vận động của lịch sử, như sự vận động tất yếu từ những cơ sở xã hội, những yếu tố kinh tế, vật chất vốn đã được hình thành ngay trong lòng chủ nghĩa tư bản. Như vậy, chủ nghĩa xã hội là phù hợp và hợp lý cả về phương pháp luận khoa học và tính mục đích nhân văn.

Với tính chât là một học thuyết khoa học, những người khai sinh ra chủ nghĩa Mác - Lênin chưa bao giờ muốn và chưa có bất cứ một mệnh đề phán đoán nào để quy các luận điểm trong học thuyết của mình về cách mạng xã hội hay về xã hội xã hội chủ nghĩa tương lai thành những tín điều siêu hình, cứng nhắc. Trong tác phẩm Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản, Ph.Ăngghen đã trả lời hàng loạt vấn đề lý luận liên quan trực tiếp đến chủ nghĩa xã hội khoa học như: Thế nào là giai cấp công nhân và đảng cộng sản; Quan hệ giữa giai cấp công nhân với đảng cộng sản; Hiếu thế nào là xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa và xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất; Mối quan hệ ra sao giữa giai cấp công nhân, dân tộc và quốc tế; Các giải pháp cần thiết để tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa...

Trong rất nhiều tác phẩm, C.Mác và Ph.Ăngghen đều nhấn mạnh tầm quan trọng của nhận thức, đánh giá, tổng kết thực tiễn để thường xuyên bổ sung, phát triển lý luận, nhất là lý luận về con đường hiện thực hóa chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Trong Lời tựa viết cho bản tiếng Đức “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" xuất bản năm 1872, C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết rằng: "Chính ngay "Tuyên ngôn" cũng đã giải thích rõ rằng bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, việc áp dụng những nguyên lý đó cũng phải tùy theo hoàn cảnh lịch sử đương thời, và do đấy, không nên quá câu nệ vào những biện pháp cách mạng nêu ra ở cuối chương II" . Quan điểm lịch sử - cụ thể và quan điểm phát triển cũng luôn được V.I.Lênin quán triệt vận dụng trong nhiều nhận thức thực tiễn giải quyết mối quan hệ gắn bó giữa lý luận với thực tiễn. Chính sách Kinh tế mới chính là một dẫn chứng thực tế sáng rõ về quan điểm đó. Chính V.I.Lênin đã có một định nghĩa đầy tính thực tiễn về chủ nghĩa xã hội mà lâu nay đôi khi những người hậu thế đã bỏ quên hoặc bảo thủ với những định kiến mà không nhìn nhận một cách đúng đắn và nghiêm túc.

Vậy thì tại sao có thể nói, chủ nghĩa Mác - Lênin là lỗi thời. Chủ nghĩa Mác - Lênin không thể lỗi thời mà chính những người cố tình phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin mới là những người nhầm lẫn, sai lầm, cố tình không nhìn thấy bản chất khoa học và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin. Hoặc giả, họ đã cố tình xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin vì một lý do chính trị, vì muốn xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin để bảo vệ cho chủ nghĩa tư bản và quyền lợi của một nhóm người tư bản, hoặc được hưởng lợi không chính đáng từ guồng máy của chủ nghĩa tư bản. Nếu có lỗi thời, thì chính là lỗi thời ở cách mà chúng ta chưa nghiên cứu đủ sâu sắc, chưa vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin một cách đúng đắn vào thực tiễn để giải quyết các vân đề trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuyệt nhiên không thể là sự lỗi thời của chủ nghĩa Mác - Lênin!

Về lý do thứ hai, sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu phải chăng như một bằng chứng hiển nhiên của sự sai lầm, lỗi thời của chủ nghĩa Mác - Lênin và cùng với nó là con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội? Phải chăng có một lôgíc thực tế là chủ nghĩa xã hội hiện thực sụp đổ là do lý thuyết về chủ nghĩa xã hội là sai lầm?

Trước hết, cần phải nói rằng, mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thực tế đã mang lại sự thay đổi rung trời chuyển đất, tạo ra một mảng sáng không thế phủ nhận ở Liên Xô, Đông Âu và một loạt nước trên thế giới. Nó đã mang lại cuộc sống tốt đẹp cho một phần to lớn của nhân loại. Nó đã tạo nên một sức mạnh mà trước đó không thể tưởng tượng về nguồn lực vật chất và tinh thần, đủ sức để động viên sức người, sức của, tạo thành lực lượng chủ yếu đánh thắng cả những lực lượng to lớn của liên minh các thế lực tư bản trong Chiến tranh thế giới thứ nhất cũng như đội quân phát xít tàn bạo của trục ma quỷ trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Bằng thực tế sinh động tốt đẹp trên các đất nước xây dựng chủ nghĩa xã hội, nó đã động viên, thúc đẩy cuộc đấu tranh vì tự do, dân chủ, hòa bình, giải phóng dân tộc trên toàn trái đất. Hàng loạt dân tộc bị áp bức đã giành được độc lập, tự do dưới ảnh hưởng và sự giúp đỡ vô tư của các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô dẫn đầu. Chính chủ nghĩa xã hội và cuộc đấu tranh rộng lớn, mạnh mẽ của nhân dân lao động trên toàn thế giới đã là động lực thúc đẩy, buộc các thế lực tư bản, đế quốc phải thừa nhận quyền tự do, độc lập của các dân tộc trong hệ thống thuộc địa rộng lớn của chủ nghĩa tư bản thực dân, đế quốc; mặt khác, tạo thành sức ép, buộc các thế lực tư bản có những cải cách xã hội, cải thiện đời sống của nhân dân lao động ở chính quốc. Chủ nghĩa xã hội đã là một hiện thực hùng mạnh đủ để những chiến lược gia, các nhà lý luận tư sản phải run sợ, đã đưa ra những dự báo về sự thất bại, kết thúc không thể đảo ngược của chủ nghĩa tư bản. Những thừa nhận đắng cay của Henry Kissinger, Brêginxki thời kỳ những năm 60, 70 của thế kỷ XX vẫn còn nguyên đó trong các cuốn sách, bài báo của họ.

Tất nhiên, sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu đã là một bài học đau đớn không chỉ cho những người cộng sản, mà còn cho cả nhân loại tiến bộ. Đó là kết quả của sự bảo thủ, không nhìn thẳng vào thực tế, chậm đổi mới nhận thức và đổi mới các chính sách cũng như những giải pháp cần thiết để giải quyết những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn, những mâu thuẫn tất yếu nảy sinh trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Đó cũng chính là sự sai lầm của những người cộng sản ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây mắc phải do không nhận thức đúng đắn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về tính biện chứng và quan điểm lịch sử - cụ thể trong quá trình lãnh đạo cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đã cố chấp và thiên kiến mà bỏ qua bài học phương pháp luận quý báu của V.I.Lênin, không "dùng cả hai tay mà lấy những cái tốt nhất của nước ngoài" để xây dựng, phát triển chế độ xã hội chủ nghĩa.

Mặt khác, sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu chỉ là sự sụp đổ của một mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội cụ thể. Tuyệt nhiên đó không phải là sự sụp đổ của một học thuyết khoa học, càng không thể là sự sụp đổ về một tương lai tốt đẹp mà nhân loại tiến bộ đang hướng tới. Điều ấy không chỉ được minh chứng bằng việc ngay ở thời điểm hiện nay, một loạt nước ở tây bán cầu cận kề nước Mỹ đang tìm tòi con đường và cách thức để xây dựng chủ nghĩa xã hội theo một mô hình mới. Nó cũng được minh chứng bởi một loạt quốc gia ở chính châu Âu, nhất là Bắc Âu đã và đang lấy chủ nghĩa xã hội làm mục đích và cảm hứng để xây dựng, phát triển đất nước mình. Không phải không có lý do, khi họ tự gọi mình là mô hình chủ nghĩa xã hội phúc lợi. Đương nhiên còn một minh chứng hiện hữu là một số nước kiên trì đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam, đã đạt được những thành tựu có tính lịch sử trong xây dựng, phát triển.

Từ tất cả thực tế ấy, không thể nói rằng mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước khác sụp đổ trong những năm cuối thế kỷ XX có nghĩa là học thuyết Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội là sai lầm và lỗi thời và ngược lại, sẽ là ảo tưởng khi nghĩ rằng chủ nghĩa tư bản đang thắng thế. Thực tế đang chỉ ra rằng, chính chủ nghĩa tư bản đang đứng trước những thách thức đầy nguy hiểm. Chính sự mâu thuẫn lợi ích, căn bệnh bản chất của chủ nghĩa tư bản đang làm nảy sinh sự chia rẽ khó tránh khỏi trong các liên minh tưởng chừng bền vững của họ. Hiện tượng Brexit của nước Anh chỉ là một dấu hiệu đầu tiên và tất yếu của sự chia rẽ từ chính trong lòng của nó khi chủ nghĩa tư bản ở Tây Âu mất đi đối trọng là khối các nước xã hội chủ nghĩa. Khi không còn phải đối mặt với nguy cơ từ bên ngoài thì những mâu thuẫn không thể tránh khỏi về lợi ích sẽ hiện nguyên hình, phá vỡ mối liên kết yếu ớt của các thế lực tư bản chủ nghĩa. Mặt khác, những cuộc khủng bố đã hiện diện ngay trung tâm của châu Âu, không chỉ đe dọa an ninh mà còn tạo nên sự bất ổn sống còn của chế độ tư bản chủ nghĩa. Vụ khủng bố ở thành phố Nice giữa đêm Quốc khánh nước Pháp làm hơn 80 người chết và vụ khủng bố bằng phương thức như thế được lặp lại ở Berlin, thủ đô nước Đức ngày 18-12-2016 làm 12 người chết, gần 50 người bị thương, không chỉ báo hiệu mối nguy lớn về an ninh của châu Âu mà còn là hệ quả tất yếu cho chính sách sai lầm, vụ lợi của chủ nghĩa tư bản trong cách hành xử với các nước nghèo, các quốc gia Bắc Phi và Trung Đông.

Về lý do thứ ba, sự hơn hẳn về điều kiện vật chất, trình độ phát triển về kinh tế, khoa học - công nghệ và một số lĩnh vực khác của các nước tư bản phát triển so với các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa hiện nay phải chăng đã minh chứng cho tính ưu việt của chủ nghĩa tư bản? Đúng là không ai có thể phủ nhận một thực tế là các nước tư bản chủ nghĩa phát triển đã có được những thành tựu phát triển về kinh tế, khoa học - công nghệ kéo theo những cải thiện nhất định về điều kiện sống của người dân. Nhưng đó mới chỉ là cách nhìn thực tại, phiến diện, không thấy đằng sau và phía trước của sự phát triển ấy là gì?

Trước hết, cần phải nhìn cho rõ những thành tựu đó do đâu mà có. Chủ nghĩa tư bản đã có nhiều trăm năm phát triển. Trên con đường phát triển của chủ nghĩa tư bản, bánh xe vận hành của nó đã lăn đi trong ngập ngụa máu và nước mắt của nhân loại cần lao, thống khổ trên khắp các lục địa. "Những nước tư bản hiện đại là kết quả của một lịch sử nô dịch, diệt chủng, bạo lực và bóc lột một cách ghê tởm"', đó là lời tự thú có tính chất phản tỉnh của Terry Eagleton - một học giả người Anh. Chỉ cần giở lại các trang lịch sử của nước Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha... sẽ thấy ngay những gì mà chế độ tư bản đã hành xử với đồng loại của mình. Những kẻ thực dân từ cựu lục địa châu Âu đã phá vỡ cuộc sống bình yên hàng nghìn năm của các bộ tộc người da đỏ, chiếm đoạt đất đai của họ bằng gươm, súng và cả sự tra tấn dã man, rùng rợn ngoài trí tưởng tượng, bằng cách lột da đầu. Trong cuốn sách Sự tàn sát khủng khiếp cuối thờỉ Victoria (Late Victorian Holocausts), học giả người Anh đã viết rằng, hàng chục triệu người Ấn Độ, châu Phi, Trung Quốc, Braxin, Triều Tiên, Nga và nhiều nước khác đã chết do đói, hạn hán và dịch bệnh vào cuốì thế kỷ XIX dưới chế độ thực dân xâm lược. Và ngay ở chính các nước tư bản giàu có hiện nay, có ai dám chắc mọi người dân đều có cuộc sống tốt đẹp. Hàng chục triệu người dân Mỹ không có bảo hiểm y tế chỉ có cách chờ tử thần khi mắc bệnh. Ở bang California, quá nửa nam giới người da đen có ít nhất một lần trong đời phải đi tù...

Là người Việt Nam không ai có thể quên được nỗi thống khổ của nhân dân ta trong đêm trường nô lệ hơn 80 năm dưới ách đô hộ của chủ nghĩa tư bản thực dân Pháp. Bao nhiêu người dân Việt Nam đã chết trong các xưởng máy, hầm lò, trên các cung đường, các bến tàu. Những cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Yên Bái, Xôviết Nghệ Tĩnh... bị dìm trong bể máu. Hơn hai triệu người chết đói năm 1945. Thực dân Pháp bóc lột người dân thuộc địa Việt Nam đến tận xương tủy, vơ vét từ vàng, than, sắt, đồng cho đến cả phân bắc để mang về làm giàu cho chính quốc. Gần 20 năm, đế quốc Mỹ thay chân thực dân Pháp thiết lập nền thống trị, giày xéo đất nước ta. Những nhà tù địa ngục trần gian ở Côn Đảo, Phú Quốc..., những vụ tàn sát ở Thái Bình (Bình Định) năm 1966, Bình Hòa (Quảng Ngãi) năm 1966, Mỹ Lai (Quảng Ngãi) năm 1968..., vụ ném bom B52 rải thảm khu phố Khâm Thiên, Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), phải chăng đó không phải là tội ác thấu trời của chế độ tư bản Mỹ? Ngỡ tưởng, không phải nhìn đâu xa, chính những trang lịch sử khắc nghiệt và đau thương ấy đã đủ để cho các thế hệ chúng ta và con cháu chúng ta hiểu được bản chất của chủ nghĩa tư bản! Vậy mà lạ lùng thay, vẫn có người bước ra khỏi biên giới đã hết lời khen hay, khen đẹp cho các nước tư bản, cho các thành phố hào hoa Tây Âu. Họ có biết đâu hoặc cố tình không biết rằng, những thành phố đó đã trải qua mấy trăm năm xây dựng bằng sức lao động của bao thế hệ người lao động và cả của cải bóc lột từ các thuộc địa mang về.

Việc xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa là công việc rất khó, mang tính khoa học, có tính quy luật, đòi hỏi thời gian, nguồn lực, sự lãnh đạo chính trị đúng đắn và các điều kiện cần thiết khác. Theo C.Mác, chủ nghĩa xã hội chỉ có thể thành công ở một loạt nước tư bản phát triển ở trình độ cao. Nó như là tất yếu thay đổi quan hệ sản xuất xã hội khi lực lượng sản xuất dưới chế độ tư bản chủ nghĩa đã phát triển, xã hội hóa cao độ, không thể tiếp tục tồn tại trong khuôn khổ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Đối với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, tất cả đều có điểm xuất phát là các nước tư bản có trình độ phát triển thấp hoặc trung bình. Thời gian xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa hầu như còn rất ngắn. 

1. Terry Eagleton: Tại sao Mác đúng? Nxb. Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2012, tr.40. 

Liên bang Xôviết (Liên Xô) được thành lập và bắt tay xây dựng chủ nghĩa xã hội năm 1921, khi vừa ra khỏi cuộc nội chiến. Mới chỉ có chưa đầy 20 năm hòa bình xây dựng, Liên Xô đã phải trải qua cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại với sự tàn phá vô cùng nặng nề sức người và sức của. Hơn 20 triệu người chết, hàng loạt thành phố, làng mạc từ biên giới với Ba Lan cho đến phía tây Mátxcơva bị san phẳng. Từ sau năm 1945, Liên Xô chỉ có hơn 30 năm xây dựng trong hòa bình, đồng thời phải đối mặt với cuộc chạy đua vũ trang do Mỹ và phe đế quốc khởi xướng. Tương tự như vậy, các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu cũng chỉ có xấp xỉ 30 năm xây dựng, nhưng những thành tựu mà các nước này đạt được là vô cùng to lớn, thậm chí có lĩnh vực vượt qua cả Mỹ và các nước tư bản Tây Âu. Ngoài việc thiết lập cuộc sống công bằng, cải thiện nhanh chóng về nhà ở, giáo dục, văn hóa cho nhân dân, Liên Xô còn đi đầu thế giới về khoa học - công nghệ vũ trụ. Vào thời kỳ phát triển nhất, Cộng hòa dân chủ Đức là quốc gia bảo đảm điều kiện sống cho trẻ em tốt nhất thế giới. Một yếu tố không thể không nhắc tới là Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã trở thành đối thủ chính trị không đội trời chung của chủ nghĩa tư bản ở các nước phương Tây. Người dân các nước phương Tây và các dân tộc thuộc địa nhìn vào các nước xã hội chủ nghĩa như tấm gương, niềm hy vọng cho cuộc đấu tranh giành tự do, độc lập, đòi dân chủ, dân sinh. Các thế lực tư bản chủ nghĩa nhìn vào đó như mục tiêu phá hoại phải loại bỏ bằng được. Cho đến hôm nay, khi Chiến tranh lạnh đã lùi xa hơn 25 năm, nhưng hầu như cách ứng xử trước đây vẫn còn nguyên trong những trừng phạt kinh tế mà các nước tư bản phương Tây nhằm vào nước Nga.

Đối với Việt Nam, chúng ta bắt tay vào xây dựng đất nước thống nhất theo con đường xã hội chủ nghĩa sau một cuộc chiến tranh tàn khốc kéo dài suốt 30 năm. Ngay sau đó, chúng ta lại phải đối mặt với cuộc xung đột biên giới Tây Nam và cuộc xung đột biên giới phía Bắc. Trên thực tế, đất nước chỉ ra khỏi cuộc chiến từ năm 1989. Chúng ta bắt tay vào xây dựng đất nước từ con số 0 khi tất cả những gì có được sau mấy năm hòa bình xây dựng ngắn ngủi đã bị tàn phá hoàn toàn. Hơn thế, hậu quả chiến tranh vô cùng nặng nề. Hàng vạn thương, bệnh binh, người già, trẻ em không nơi nương tựa. Đồng ruộng đầy bom, đạn, mìn còn lại. Những gì chúng ta có được hôm nay sau 30 năm xây dựng là đáng trân trọng, đáng tự hào, mặc dù chưa phải đã được như mong đợi. Đương nhiên là không thể so sánh với các nước tư bản đã có mấy trăm năm phát triển mà không cần quan tâm đến sự thống khổ, hy sinh của lớp lớp người lao động thuộc địa và ở chính quốc. Tuy nhiên, công việc xây dựng một xã hội mới chưa từng có tiền lệ, không bao giờ là dễ dàng, có tính quy luật của nó, không thể xong trong thời gian ngày một, ngày hai, không thể đốt cháy giai đoạn.

Như vậy, rõ ràng là sai lầm khi chỉ nhìn vào bề ngoài những gì đang có ở các nước tư bản phát triển để so sánh đánh giá tính ưu việt của chế độ tư bản chủ nghĩa so với chế độ xã hội chủ nghĩa. Chỉ có bằng sự phân tích sâu sắc, toàn diện, bằng cách nhìn công bằng, lịch sử mới thấy được nguồn gốc, bản chất của sự giàu có của các nước tư bản phát triển, từ đó mới thấy hết được những thành công và đóng góp to lớn của chủ nghĩa xã hội cho sự phát triển của nhân loại và tiến bộ xã hội.

Về lý do thứ tư, phải chăng sự bảo thủ, trì trệ trong nhận thức, những sai lầm, hạn chế và khó khăn trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa là bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác - Lênin?

Trước hết, chúng ta không hề giấu giếm những sai lầm, hạn chế và khó khăn trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng trình bày tại Đại hội XII chỉ rõ: "Tăng trưởng kinh tế thấp hơn 5 năm trước, không đạt mục tiêu đề ra; năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp... Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi... Dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chưa được phát huy đầy đủ; kỷ cương, kỷ luật chưa nghiêm...”1.


1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật Hà Nội, 2016, tr.60-61.

Đảng cũng nghiêm khắc thừa nhận rõ rằng, tình trạng trên có những nguyên nhân khách quan nhưng "trực tiếp và quyết định nhất là nguyên nhân chủ quan". Đó là những hạn chê trong đánh giá, dự báo tình hình, trong nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, trong công tác lãnh đạo, quản lý của các cấp ủy, chính quyền,..

Việc có những sai lầm, khuyết điểm, khó khăn, hạn chế trong quá trình xây dựng đất nước âu cũng là khó tránh khỏi. Xây dựng chủ nghĩa xã hội là công việc vô cùng khó khăn, phức tạp, có tính khoa học, đòi hỏi thời gian, nguồn lực to lớn và nhiều điều kiện khác. Chúng ta bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bị tàn phá nặng nề sau cuộc chiến tranh khốc liệt kéo dài suốt 30 năm. Khó khăn lớn nhất trước hết không phải từ sự thiếu thốn về của cải, vật chất mà đa phần chính ở quan điểm, tác phong mang nặng tính chất của nền văn hóa nông nghiệp. Không có kinh nghiệm tiền lệ, không có sự hỗ trợ của phe xã hội chủ nghĩa như trước đây, nhiều thế lực đang nhòm ngó, chống phá, trong điều kiện ấy, những thành tựu mà công cuộc đổi mới đạt được là đặc biệt quan trọng. Chúng ta đã duy trì tốc độ tăng trưởng GDP cao trên 6,5%/năm trong suốt 30 năm thực hiện chính sách đổi mới. Từ GDP bình quân đầu người chỉ 80 USD đã tăng lên mức trên 2.100 USD. Đời sống nhân dân đã được cải thiện một bước cơ bản. Những điều đó là không thể phủ nhận và mặc nhiên đã được nhiều tổ chức, cá nhân trên thế giới, trong đó có nhiều học giả phương Tây thừa nhận.

Để có được những thành tựu to lớn đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có những bước đi dũng cảm về nhận thức, sự đổi mói mạnh mẽ về chính sách kinh tế - xã hội. Từ một nền kinh tế bao cấp hoàn toàn dựa trên sở hữu công cộng, chuyển sang xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, rồi chuyển hẳn sang nền kinh tế thị trường định hướng 

xã hội chủ nghĩa; từ một nhà nước xây dựng theo mô hình nền chuyên chính vô sản chuyển sang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; từ chỗ bị bao vây cấm vận, chỉ có quan hệ với các nước khối xã hội chủ nghĩa là chủ yếu chúng ta đã mở cửa, hội nhập quốc tế, thiết lập quan hệ ngoại giao với 185 quốc gia và vùng lãnh thổ trên tổng số 193 thành viên Liên hợp quốc, trong đó có 2 đối tác toàn diện đặc biệt, 15 đối tác chiến lược, 11 đối tác toàn diện, 2 đối tác chiến lược theo từng lĩnh vực.

Từ thực tế ấy, không thể có lý gì để nói rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam bảo thủ, cố chấp hay định kiến mà không đổi mới nhận thức, đổi mới chính sách về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội, cũng như không thể đổ cho học thuyết Mác - Lênin có lỗi trong những khó khăn, hạn chế, sai lầm của quá trình xây dựng, phát triển đất nước.

Tóm lại, sự sai lầm của những người phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin thể hiện ngay trong chính những cơ sở, lý do để họ phản bác chủ nghĩa Mác - Lênin. Ở đây, hoặc là có sự hiểu nhầm về tính chất của học thuyết - chủ nghĩa Mác - Lênin, hoặc là biết nhưng vẫn cố tình xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin với định kiến và mục đích chính trị là thay đổi nền tảng tư tưởng, đường lối, mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng một lý thuyết khác, bằng một mô hình xã hội khác. Mục đích ấy đơn thuần để phục vụ cho lợi ích của một nhóm người nào đó, hoàn toàn không phải vì lợi ích của tuyệt đại đa số nhân dân, không phải vì lợi ích chung của dân tộc.

Song, việc nghiên cứu, chỉ ra những sai lầm, xuyên tạc đối với chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ đơn thuần là để bảo vệ sự trong sáng, tính khoa học, nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin mà còn là sự cảnh báo, là lý do để những người cộng sản cảnh giác với nhận thức của mình về chủ nghĩa Mác - Lênin, để tìm hiểu rõ hơn, quán triệt sâu sắc, thường xuyên hơn quan điểm thực tiễn, quan điểm lịch sử - cụ thể khi vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào việc đề ra đường lối, hoạch định chính sách xây dựng, phát triển đất nước./.

Yêu nước ST.

TRINITY HỒNG THUẬN LÀ AI? CÓ VỊ TRÍ NÀO TRONG TỔ CHỨC VIỆT TÂN?

     Hồng Thuận là ai, và là người như thế nào, và tại sao lại được tổ chức phản động Việt Tân xem như là “Ngọn cờ ” trong tiến hành các hoạt động chống lại Đảng và Nhà nước, sau đây là những thông tin về hoạt động của Trinity Hồng Thuận:

Khi các bạn xem những hình ảnh về Trinity Hồng Thuận, điều đầu tiên các bạn nhìn thấy là một người trẻ trung, xinh đẹp và rất bắt mắt. Và lại còn cuốn hút hơn khi thấy những hình ảnh gợi cảm có phần khoe hàng của Hồng Thuận. Đó là một nhan sắc biết bao nhiêu người ao ước có được, và muốn sở hữu nó, nhờ có vẻ đẹp đó mà Hồng Thuận đã có nhiều thuận lợi trong các công việc cá nhân, cũng như các mục đích khác. Điều này cho thấy vẻ đẹp có lợi thế trong khi giải quyết các công việc. Tuy nhiên, người ta thường nói “Cái đẹp nó đè bẹp cái nết” câu nói này đúng hoàn toàn với Hồng Thuận khi nhan sắc thì có nhưng Hồng Thuận lại có những hành động với quê hương, đất nước, với nhân dân không hề có một chút nết nào cả.

Vậy Hồng Thuận là ai, và là người như thế nào, và tại sao lại được tổ chức phản động Việt Tân xem như là “Ngọn cờ ” trong tiến hành các hoạt động chống lại Đảng và Nhà nước, sau đây là những thông tin về hoạt động của Trinity Hồng Thuận:


Họ tên: Phạm Trinnity Hồng Thuận Đắc, tên gọi khác là Phạm Hồng Thuận, Phạm Trinity, tên đảng trong tổ chức Việt Tân: Lý Như Tâm; Sinh ngày: 15/01/1988, quê gốc trước khi bỏ trốn khỏi Việt Nam tại tỉnh Khánh Hòa, hiện nay Hồng Thuận là Bí thư chi bộ tổ chức khủng bố Việt Tân, Facebook: Trinity Hồng Thuận; Bloger Hồng Thuận

 

  Phạm Hồng Thuận tham gia chống đối từ rất sớm. Năm 2005 khi mới 17 tuổi Trinity Hồng Thuận đã tham gia biểu tình phản đối chuyến thăm Mỹ của Thủ tướng Phan Văn Khải. Trinity Hồng Thuận được biết đến và nổi lên từ đó, được bọn phản động để ý và có các hành động cổ vũ. Hai năm sau, năm 2007 Phạm Hồng Thuận gia nhập và được tổ chức phản động Việt Tân kết nạp, ngay sau đó Phạm Hồng Thuận liền có hành động chống đối khi đọc “Bản tuyên bố phản đối Việt Nam trở thành thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc” tại buổi sinh hoạt Cộng đồng người Việt tại Nam California. Phạm Hồng Thuận còn đại diện cho Cộng đồng người Việt tại Nam California tiếp xúc với Đại sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc vu cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ, nhân quyền”, vi phạm tự do tôn giáo.

Sau những hành động đó, Phạm Hồng Thuận được biết đến nhiều hơn dần dần được tổ chức phản động Việt Tân giao cho nhiều trọng trách tiến hành các hoạt động chống đối không chỉ ngoài nước mà còn tìm cách núp bóng các tổ chức Phi Chính phủ vào nước ta để hoạt động phản động, cụ thể:

Trinity Hồng Thuận được giao phụ trách chương trình “thế kỷ của chúng ta” của đài “Chân trời mới” một cơ quan ngôn luận của tổ chức phản động Việt Tân, là thành viên “Đoàn thanh niên Phan Bội Châu” và “Mạng lưới tuổi trẻ Việt Nam lên đường” (tổ chức ngoại vi của “Việt tân”). Cùng với đó còn tích cực tham gia vào các cuộc biểu tình trái pháp luật đòi trả tự do cho Nguyễn Quốc Quân, phản đối Trung Quốc chiếm Hoàng Sa - Trường Sa

Năm 2009 Trinity Hồng Thuận nhập cảnh Việt Nam cùng với số sinh viên trường ĐH Hà Nội tổ chức các hoạt động xã hội tại thôn Dy, huyện Ba Vì, Tp. Hà Nội và lôi kéo số sinh viên trên thành lập “Liên hội sinh viên chống tệ nạn buôn người” trái phép hoạt động như một tổ chức NGO để thông qua đó chúng có thể tập hợp, lôi kéo lực lượng vào tổ chức phản động của chúng. Điển hình đó là việc nghệ sĩ Thành Lộc một nghệ sĩ khá nổi tiếng của Việt Nam đã có những dính lứu liên quan đến hoạt động củaTrinity Hồng Thuận và tổ chức Việt Tân. Gần đây nhất trên trang Facebook cá nhân của mình Trinity Hồng Thuận luôn đăng những tin bài có nội dung bênh vực cho những kẻ phạm pháp như: Trần Thị Nga, Nguyễn Văn Đài, Vũ Quang Thuận, Nguyễn Văn Điền....

 Tại sao Trinity Hồng Thuận lại được tổ chức phản động Việt Tân giao nhiểu hoạt động chống đối như vậy ???

Cùng với Hà Đông Xuyến là hai thành viên nữ nổi bật nhất của tổ chức khủng bố Việt Tân, Trinity Hồng Thuận ngày càng được những nhân vật cốt cán của tổ chức này ưu ái và tín nhiệm. Có lẽ do ngoại hình khá bắt mắt, Trinity Hồng Thuận luôn được có mặt trong những buổi họp báo, tiệc tùng với các thành viên Trung ương của Việt Tân và một số nhân vật trong chính giới Mỹ./.




Yêu nước ST.