Chủ Nhật, 23 tháng 1, 2022

GIÁO SƯ CHÂU TRƯỚC NÓI: KHÔNG PHẢI TIỀN LÀ TẤT CẢ. NHƯNG GIỜ LÀM CHO TRUNG QUỐC LÀ VÌ TIỀN!

Anh Châu lúc lên mạng thì hay nói đạo lý, hóa ra lại sang bên Trung Quốc làm chuyên gia toán học lúc nào không biết. 

Toán học là toán học, nó là thế giới phẳng, nó phi giai cấp, phi lý tưởng, phi chính trị. Toán học ở thế giới tư bản Pháp, Mỹ và toán học ở thế giới Cộng sản Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên thì cũng đều chung ngôn ngữ và tiếng nói cả. Bởi thế, việc một nhà toán học đẳng cấp quốc tế làm việc ở đâu thì điều đó cũng đều tốt đẹp cho nhân loại, cho sự nghiệp cộng trừ nhân chia của loài người,... Chỉ có điều, giá như, giá như thôi, trước đó, anh bớt lập ngôn đao to búa lớn.

Giáo sư Wu Baozhu (吴宝珠) từng tuyên bố sẽ không vì tiền mà bất chấp sang Trung Quốc: "Trở thành triệu phú thích thú nỗi gì nếu để cho bạn bè, đồng nghiệp có cảm giác là mình quay lưng với đất nước?”. 

Hay như Giáo sư Wu Baozhu cũng rất nhiều lần thể hiện tinh thần "bài Tầu" một cách quyết liệt, cũng như không ít lần lớn tiếng dậy dỗ Nhà nước Việt Nam phải chống Trung Quốc ra làm sao... bla..bla... Và giờ thì Giáo sư Wu Baozhu quay xe khét mù...

- "À, mình đi Trung Quốc vì đam mê toán học thôi với lại mình đóng fb lâu rồi mình chửi Trung Quốc hồi nào?" Giáo sư Wu Baozhu said.

Thực ra, giờ thế giới phẳng, ở đâu thì cũng cống hiến cho đất nước cho nhân loại cả thôi. Cần gì phải gồng mình, cần gì phải chém gió làm gì, để đến lúc sự thật hé ra lại khó xử. Hehe!


Môi Trường ST.

Thứ Bảy, 22 tháng 1, 2022

THAY THẾ GIẤC MƠ MỸ


Cách đây vài năm, David Ignatius đã viết một bài báo trên tờ Washington Post với tiêu đề: "Thay thế giấc mơ Mỹ" trong đó ông nói về việc đi du lịch khắp thế giới với tư cách là một phóng viên nước ngoài trong thời gian 35 năm trở lại đây, và ông tin rằng nếu là một người Mỹ thì nên mang theo một lá cờ trắng, có lẽ là sự thuần khiết và ưu việt về mặt đạo đức, để có thể biểu thị rằng bản thân - một người Mỹ - là "khác biệt", và thế giới có thể chấp nhận điều đó.


Tiếp theo, ông lưu ý một cách chán nản rằng Hoa Kỳ đang từ từ băm nhỏ mảnh vải biểu tượng xác định ý nghĩa của nước Mỹ, mà người Mỹ hiện được coi là những kẻ đạo đức giả luôn tự hào về những giá trị dân chủ của mình nhưng lại cư xử bất hợp pháp và khinh miệt những người khác. Tiền đề cơ bản của Ignatius là Hoa Kỳ và người Mỹ nói chung, đã sử dụng tất cả hạt ngô của họ và bây giờ cần phải tiếp cận với thế giới và "chia sẻ các giá trị của nước Mỹ" một lần nữa.


Sau đó, ông kết thúc với một tuyên bố hy vọng về kỷ niệm ngày lễ Tạ ơn của Mỹ. Đọc từ cuốn sách lịch sử Mỹ huyền thoại của mình, ông kể lại nỗi sợ hãi hoang vắng của người hành hương khi họ rời Thế giới cũ của nước Mỹ, và kiếm tiền thưởng vô tận mà họ tìm thấy ở vùng đất mới, nơi họ "chia sẻ" với người bản địa. Đúng, bạn vừa đọc một thông tin chính xác về Lễ Tạ ơn đầu tiên, một chút ngắn về việc chia sẻ vô số tiền thưởng. Ignatius kết thúc bằng dòng chữ: "Chúng ta cần đặt sự giàu có của nước Mỹ lên bàn và chia sẻ chúng với thế giới, một cách khiêm nhường và biết ơn". 


Tôi đã viết một bài trả lời cho Ignatius, trong đó có đoạn: "Bạn nói rằng khi bạn đi khắp thế giới với tư cách là một phóng viên mang cờ Mỹ, bạn đã tin và cảm thấy mình khác với tất cả những người khác, bạn cho rằng đó là một nhận thức mà được tất cả người nước ngoài chia sẻ. Nhưng điều đó không chính xác. Điều bạn thực sự muốn nói là bạn giỏi hơn họ và họ biết điều đó. Sự tuyệt vọng của bạn ở đây không phải là vì đã xé mảnh vải sao vạch của bạn, mà là một sự hối tiếc hoài cổ rằng những người đó cuối cùng đã nhận ra bạn không tốt hơn họ, mà là tệ hơn, và họ không còn tôn trọng bạn nữa, mà là coi thường bạn".


"Bạn không muốn tiếp cận và 'chia sẻ sự giàu có của nước Mỹ'. Những gì bạn muốn là trồng lại những giá trị không tưởng sai lầm về sự ưu việt của người Mỹ trong tâm trí của tất cả những người đó, để bạn có thể một lần nữa đi khắp thế giới và tự nói với bản thân rằng bạn tốt hơn mọi người - và hy vọng một lần nữa nhìn thấy sự si mê đó trong mắt họ. Bạn nói rằng bạn muốn ngừng hành xử như thể bạn đang ở trong tình trạng chiến tranh vĩnh viễn, nhưng chính nước Mỹ của bạn luôn ở trong tình trạng chiến tranh vĩnh viễn. Đó là những gì bạn đang làm, đang tự gây ra".


"Chiến tranh xâm lược là tất cả những gì xác định hình ảnh nước Mỹ của bạn là một quốc gia. Bạn không muốn thế giới nghĩ xấu về bạn về văn hóa tra tấn, tàn sát và chiến tranh, nhưng bạn không có ý định chấm dứt chúng. Bạn tiếp tục tiêu diệt các quốc gia, lật đổ các chính phủ, thúc đẩy các cuộc chiến tranh và các cuộc 'cách mạng' khu vực, đẩy các quốc gia nhỏ vào nghèo đói và khốn cùng, nhưng bạn chỉ muốn được đánh giá bởi những giá trị không tưởng mà bạn giảng giải nhưng không bao giờ tuân theo".


"Bạn nói rằng người Mỹ đi du lịch và chia sẻ trên mạng sẽ khiến mọi thứ ổn trở lại, rằng bạn sẽ không còn bị hiểu lầm nữa. Nhưng tại sao bạn không suy nghĩ rằng Hoa Kỳ của bạn ngày nay là quốc gia bị căm ghét nhất trên thế giới? Không phải vì thế giới không hiểu bạn, mà chính vì nó hiểu bạn. Bạn bị chửi rủa như một quốc gia và một dân tộc, vì những giá trị của bạn chỉ tạo ra sự bất ổn, khủng bố, khốn khổ, nghèo đói và chết chóc".


"Bạn nói rằng bạn muốn đưa một cái gì đó trở lại thế giới. Chà, có lẽ bạn có thể bắt đầu bằng cách trả lại đất nước mà bạn đang sống, cho những người mà bạn đã đánh cắp nó của họ. Có lẽ bạn có thể trả lại Panama cho Columbia và trả lại Hawaii cho người Hawaii. Và có lẽ nên để Puerto Rico trở lại là của người Puerto Rico. Có lẽ bạn có thể trả lại Triều Tiên cho người Triều Tiên, ngừng ngăn chặn sự thống nhất mà họ mong muốn suốt 60 năm qua. Có lẽ bạn có thể ra khỏi Đài Loan và Hồng Kông. Có lẽ bạn muốn trả lại của cải mà bạn đã cướp được từ khoảng 100 quốc gia với sức mạnh của quân đội bạn".


Có lẽ bạn muốn trả lại cho Chile số đồng kim loại trị giá hàng trăm tỷ đôla mà bạn đã đánh cắp. Có lẽ bạn muốn trả lại tất cả số vàng bạn đã cướp được từ tất cả Trung, Nam Mỹ và Caribbean, khi bạn liên tục xâm chiếm các quốc gia đó, buộc họ phải mở - và sau đó rút hết - các kho tiền trong ngân hàng trung ương của họ. Có lẽ bạn muốn thuyết phục Citibank trả lại hàng tỷ đôla vàng mà nó đã đánh cắp từ các công dân Trung Quốc đã từng tin tưởng nó. Có lẽ bạn muốn trả lại cho Philippines, Nicaragua và Haiti sự bình yên và hạnh phúc mà họ có trước khi bạn xâm chiếm và tiêu diệt chúng".


"Có lẽ bạn muốn trả lại cho các bà mẹ ở Iraq 500.000 em bé mà Madeline Albright đã giết hại. Bạn nói rằng bạn muốn chia sẻ sự giàu có của nước Mỹ với thế giới, nhưng thời gian cho điều đó đã qua. Bạn không còn có bất kỳ sự giàu có nào để có thể chia sẻ với bất kỳ ai và bạn không bao giờ chia sẻ chúng ngay cả khi bạn đã từng có. Thay vào đó, bạn đã chia sẻ đạn pháo uranium của mình với người dân Iraq và Libya, những người ngày nay sinh ra các thai nhi được mô tả là 'cục thịt không xác định được'. Cũng như trước đây trong suốt một thập kỷ, bạn đã chia sẻ bom napalm và chất độc màu da cam với người dân Việt Nam, những người ngày nay, năm mươi năm sau, vẫn còn phải sinh ra hàng chục ngàn em bé dị dạng bẩm sinh".


"CIA của bạn đã chia sẻ cẩm nang tra tấn dày 1.000 trang và huấn luyện Biệt đội tử thần cho chế độ của hàng chục kẻ độc tài của bạn ở Mỹ Latinh. Bạn đã chia sẻ thương hiệu dân chủ của mình với Nam Tư, chuyển đổi nó từ một liên bang hoà bình thành một mớ hỗn độn tuyệt vọng và thảm hại, và sau đó bạn đã chia sẻ khuôn mẫu đó với hàng tá quốc gia khác, tự hào về cuộc cách mạng màu sắc của bạn, không để lại gì ngoài cái chết và đau khổ trong mỗi người". 


"Nếu bạn không phiền, chúng tôi không muốn bạn chia sẻ thêm bất cứ điều gì với chúng tôi.

Chúng tôi đã có quá đủ sự tiếp xúc với tự do, dân chủ và nhân quyền kiểu Mỹ, mà bạn đã chia sẻ với chúng tôi qua nhiều thế hệ.

Và, nói thật với bạn, nhân loại 

trên toàn thế giới đã quá ghê tởm, buồn nôn vì những thảm họa tàn bạo, vô nhân, chết chóc và khổ sở trên toàn thế giới do bạn gây ra, cũng như do chính sự khoan dung của nhân loại trước sự giả hình, dối trá của bạn.

Tất cả những gì chúng tôi muốn là chỉ cần bạn hãy về nhà, để ý đến công việc kinh doanh của riêng bạn và hãy đưa những ngón tay bẩn thỉu, đẫm máu của bạn ra khỏi hầu hết các quốc gia trên thế giới mà bạn đang khai thác. 

Ngô hạt mà bạn đề cập, đã biến mất, nhưng nó đã không được ăn. Nó chỉ mục nát".

VIỆT NAM BÁC BỎ THÔNG TIN SAI TRÁI CỦA TRUNG QUỐC VỀ DÂN QUÂN TỰ VỆ BIỂN!

     Báo Trung Quốc China Daily gần đây có bài viết cho rằng Việt Nam xây dựng lực lượng dân quân tự vệ trên biển có vũ trang và thể hiện quan ngại điều này có thể dẫn đến xung đột.

Trả lời về phản ứng của Việt Nam trước thông tin này, tại cuộc họp báo thường kỳ chiều 20-1, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng cho biết những thông tin mà China Daily đưa ra là không đúng sự thật, vì vậy Việt Nam hoàn toàn bác bỏ.

Người phát ngôn khẳng định Việt Nam kiên trì chính sách quốc phòng hòa bình và tự vệ. Hoạt động của các lực lượng chức năng Việt Nam tuyệt đối tuân theo pháp luật Việt Nam, luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS) 1982.

Cùng với đó, Việt Nam luôn nỗ lực đóng góp xây dựng khu vực Biển Đông hòa bình, an ninh, an toàn, tuân thủ luật pháp quốc tế, UNCLOS 1982.

"Chúng tôi kêu gọi các nước trong và ngoài khu vực đóng góp có trách nhiệm cho mục tiêu này", bà Thu Hằng nói.

Trước đó, một bài bình luận của tờ China Daily cho rằng Việt Nam đã và đang trang bị vũ khí cho lực lượng dân quân biển và lực lượng dân quân của Việt Nam tham gia vào các cuộc đối đầu trên biển gây mất ổn định và an toàn trên Biển Đông.

Thực tế, Trung Quốc từng nhiều lần bị lên án về hoạt động của các tàu thuộc lực lượng dân quân biển của nước này.

Cụ thể, theo Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) có trụ sở tại Mỹ, Trung Quốc thành lập dân quân biển để bảo vệ khu vực ven bờ từ những năm 1950.

Từ thập niên 1970, với các khoản trợ cấp của Chính phủ Trung Quốc, lực lượng này phát triển về quy mô và trở thành một công cụ để Bắc Kinh củng cố yêu sách chủ quyền phi lý.

"Trong suốt những năm 2000, dân quân biển Trung Quốc chuyển trọng tâm sang do thám và quấy rối hoạt động quân sự của các nước khác". Các hành động của lực lượng này bao gồm đâm va, rải vật thể trên đường đi, xịt vòi rồng và tham gia các hoạt động di chuyển nguy hiểm khác, CSIS cho biết.

Đặc biệt theo CSIS, Trung Quốc có thể triển khai 300 tàu dân quân hoạt động ở Biển Đông để né luật quốc tế và đòi yêu sách chủ quyền phi lý./.

Yêu nước ST.

BÀI PHÁT BIỂU CỦA ĐỒNG CHÍ LÊ DUẨN NĂM1979: VỀ BỌN BÀNH TRƯỚNG BÁ QUYỀN BẮC KINH!

         Chúng ta không sợ bởi vì chúng ta biết cách đánh. Nếu họ đưa 1 triệu quân, họ sẽ chỉ giành được một chỗ đứng ở miền Bắc. Đi xuống vùng trung du, vùng đồng bằng và Hà Nội và thậm chí xuống dưới sẽ khó khăn hơn nữa.

Các đồng chí, như các đồng chí biết, bọn Hitler tấn công quyết liệt theo cách này, nhưng khi họ (Đức Quốc xã) đến Leningrad, họ không thể vào được. Với thành phố, người dân và các công trình phòng thủ, không thể nào thực hiện các cuộc tấn công hiệu quả chống lại mỗi người và mọi người. Thậm chí đánh trong hai, ba hoặc bốn năm, họ vẫn không thể vào. Mỗi làng ở đó (ở miền Bắc) thì giống như thế. Đường lối của chúng ta là: mỗi huyện là một pháo đài, mỗi tỉnh là một chiến trường. Chúng ta sẽ chiến đấu và họ sẽ không thể nào vào được cả.

Tuy nhiên, không bao giờ đủ khi chỉ đánh kẻ thù ở tiền tuyến. Phải có một đội quân hậu tập trực tiếp mạnh mẽ. Sau trận đánh gần đây kết thúc, chúng tôi đánh giá rằng, trong tương lai không xa, chúng ta phải đưa thêm vài triệu người đến mặt trận phía Bắc. Nhưng kẻ thù đến từ phía bắc, hậu phương trực tiếp cho cả nước phải là Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh … Hậu phương trực tiếp bảo vệ thủ đô phải là Thanh Hóa và Nghệ Tĩnh. Chúng ta có đủ người. Chúng ta có thể đánh chúng bằng nhiều cách … Chúng ta có thể sử dụng 2-3 quân đoàn để giánh một cú mạnh vào chúng, sẽ làm cho chúng lảo đảo, trong khi chúng ta tiếp tục giữ đất của chúng ta. Để đạt được mục đích này, mỗi người lính phải là một người lính thực và mỗi đội phải là một đội hình thực sự.

- Bây giờ đã đánh xong một trận rồi, chúng ta không nên chủ quan. Chủ quan và đánh giá thấp kẻ thù là sai lầm, nhưng thiếu tự tin cũng sai. Chúng ta không chủ quan, chúng ta không đánh giá thấp kẻ thù. Nhưng chúng ta cũng tự tin và vững tin vào chiến thắng của chúng ta. Chúng ta cần phải có cả hai điều này.

- Bây giờ Trung Quốc có âm mưu đánh [chúng ta] để mở rộng xuống phía Nam. Nhưng trong thời đại hiện nay họ không thể đánh và dọn dẹp một cách dễ dàng. Trung Quốc chỉ đánh Việt Nam có vài ngày mà cả thế giới đã hét lên: “Không được đụng đến Việt Nam“! Thời đại hiện nay không giống như thời xưa. Trong những ngày này, không chỉ có chúng ta và họ (muốn nói Trung Quốc). Bây giờ cả thế giới đang gắn chặt với nhau. Loài người vẫn chưa hoàn toàn đi vào giai đoạn xã hội chủ nghĩa, nhưng đây là lúc mọi người đều muốn độc lập và tự do. [Ngay cả] trên các đảo nhỏ, người dân cũng muốn độc lập, tự do.

Cả nhân loại hiện nay như thế. Điều đó là rất khác với thời xưa. Thời đó, người dân chưa nhận thức rõ những điều này. Do đó, câu của Bác Hồ: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” là một ý tưởng của thời đại hiện nay. Đụng đến Việt Nam là đụng đến nhân loại và xâm phạm độc lập, tự do … Việt Nam là một quốc gia tượng trưng cho độc lập và tự do.

- Khi phải chiến đấu chống Mỹ, anh em chúng ta trong Bộ Chính trị đã thảo luận với nhau về vấn đề này, cân nhắc liệu chúng ta có dám đánh Mỹ hay không. Tất cả đều đồng ý đánh. Bộ Chính trị đã bày tỏ quyết tâm: để chiến đấu chống Mỹ, chúng ta không sợ Mỹ. Tất cả đều đồng tâm. Khi tất cả đã đồng ý đánh Mỹ, không sợ Mỹ, chúng ta cũng không sợ Liên Xô. Tất cả đều đồng ý. Chúng ta cũng không sợ Trung Quốc. Tất cả đều đồng ý. Nếu chúng ta không sợ ba điều này, chúng ta có thể đánh Mỹ. Đó là cách chúng tôi đã thực hiện trong Bộ Chính trị hồi đó.

Mặc dù Bộ Chính trị đã gặp và tổ chức các buổi thảo luận như thế và mọi người đồng lòng, sau này có một người đã nói với một đồng chí điều mà tôi đã nói. Đồng chí đó đặt câu hỏi cho Bộ Chính trị, hỏi lý do gì mà Anh Ba một lần nữa lại nói rằng, nếu chúng ta muốn đánh Mỹ, thì chúng ta không nên sợ Trung Quốc? Tại sao anh ấy phải nói như vậy nữa?

Lúc đó, anh Nguyễn Chí Thanh, người đã bị nghi là có cảm tình với Trung Quốc, đứng lên và nói: “Kính thưa Bộ Chính trị và kính thưa Bác Hồ, lời phát biểu của Anh Ba là đúng. Phải nói như thế (ý nói không cần phải sợ Trung Quốc), vì họ (Trung Quốc) gây rắc rối cho chúng ta nhiều điều. Họ chặn chúng ta ở chỗ này, rồi họ trói tay chúng ta ở chỗ kia. Họ không cho chúng ta đánh…“

Trong khi chúng ta đánh ở miền Nam Việt Nam, Đặng Tiểu Bình quy định rằng tôi chỉ có thể đánh ở mức trung đội trở xuống và không được đánh ở mức cao hơn. Ông ta (Đặng Tiểu Bình) nói: “Ở miền Nam, do các ông phạm sai lầm về việc đã khởi động đánh trước, các ông chỉ nên đánh ở mức trung đội trở xuống, không được đánh ở mức cao hơn“. Họ gây áp lực lên chúng ta như thế.

- Chúng ta không sợ ai cả. Chúng ta không sợ bởi vì chúng ta có lẽ phải. Chúng ta không sợ ngay cả anh trai của chúng ta. Chúng ta cũng không sợ bạn bè của chúng ta. Dĩ nhiên, chúng ta không sợ kẻ thù của chúng ta. Chúng ta đã đánh họ rồi. Chúng ta là con người, chúng ta không sợ bất cứ ai. Chúng ta độc lập. Cả thế giới biết chúng ta độc lập.

- Chúng ta phải có một quân đội mạnh mẽ, bởi vì đất nước chúng ta đang bị đe dọa và bị bắt nạt … Không thể khác được. Nếu không, thì sẽ nguy hiểm vô cùng, nhưng đất nước chúng ta nghèo.

- Chúng ta có một quân đội mạnh, điều đó không có cách nào làm nhụt chí chúng ta. Có một số chính sách của Trung Quốc đối với chúng ta: xâm lược và chiếm đóng nước ta, tìm cách làm suy yếu chúng ta về kinh tế và làm cho điều kiện sống của chúng ta khó khăn. Vì những lý do này, để chống lại Trung Quốc, trước hết, chúng ta phải, không những chiến đấu, mà còn làm cho chúng ta mạnh mẽ hơn. Để đạt được mục đích này, theo tôi, quân đội của chúng ta không nên là một lực lượng lãng phí nguồn lực của nhà nước, mà nên là một lực lượng sản xuất mạnh mẽ. Khi kẻ thù đến, họ (những người lính) cầm súng ngay lập tức. Khi không có kẻ thù, thì họ sẽ sản xuất đàng hoàng. Họ sẽ là biểu tượng tốt nhất và cao nhất trong sản xuất, sản xuất nhiều hơn bất cứ người nào khác. Dĩ nhiên, đó không phải là một câu chuyện mới …

- Hiện nay, trên vai quân đội của chúng ta đang gánh vác một nhiệm vụ lịch sử: bảo vệ độc lập và tự do của chúng ta, trong khi cùng lúc bảo vệ hòa bình và độc lập trên toàn thế giới. Nếu chính sách bành trướng của bè lũ phản động Trung Quốc không thể thực hiện được nữa, sẽ là lợi ích của cả thế giới. Việt Nam có thể làm điều này. Việt Nam có 50 triệu người rồi. Việt Nam có những người bạn Lào và Campuchia và có địa thế vững chắc. Việt Nam có phe [XHCN] và tất cả nhân loại đứng về phía ta. Rõ ràng là chúng ta có thể làm điều này.

… Các đồng chí có biết người nào trong đảng chúng ta, trong nhân dân của chúng ta, nghi chúng ta sẽ thua Trung Quốc? Dĩ nhiên là không có ai cả. Nhưng chúng ta phải duy trì các mối quan hệ bạn bè của chúng ta. Chúng ta không muốn hận thù dân tộc. Tôi lặp lại: tôi nói điều này bởi vì tôi chưa bao giờ cảm thấy căm thù Trung Quốc. Tôi không cảm thấy như thế. Đó là họ đánh chúng ta.

Hôm nay tôi cũng muốn các đồng chí biết rằng trong thế giới này, người đã bảo vệ Trung Quốc là chính tôi! Đó là sự thật. Tại sao vậy? Bởi vì trong hội nghị tháng 6 năm 1960 tại Bucharest, 60 đảng đứng lên chống lại Trung Quốc, nhưng chỉ có mình tôi là người bảo vệ Trung Quốc. Việt Nam chúng ta là thế. Tôi sẽ tiếp tục lặp lại điều này: Tuy họ cư xử tồi tệ, chúng ta biết rằng người của họ là bạn của chúng ta. Về phía chúng ta, chúng ta không cảm thấy xấu hổ với Trung Quốc. Tuy nhiên, âm mưu của một số lãnh đạo (Trung Quốc) là một vấn đề khác. Chúng ta coi họ chỉ là một bè lũ. Chúng ta không nói tới đất nước họ. Chúng ta không nói người dân Trung Quốc xấu với chúng ta. Chúng ta nói bè lũ phản động Bắc Kinh. Tôi nói lại điều này một lần nữa một cách nghiêm túc như thế.

Vì vậy, chúng ta hãy kiểm soát tình hình chặt chẽ, trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, và không bao giờ nới lỏng sự cảnh giác. Về mối quan hệ với Trung Quốc cũng vậy. Tôi tin rằng trong 50 năm, hoặc thậm chí trong 100 năm, chủ nghĩa xã hội có thể thành công, và lúc đó chúng ta sẽ không bị vấn đề này nữa. Nhưng sẽ mất một thời gian [dài] như thế. Vì vậy, chúng ta phải chuẩn bị và sẵn sàng trên mọi phương diện.

Hiện nay, chắc chắn không ai còn nghi ngờ nữa. Nhưng cách đây năm năm, tôi dám chắc rằng [không có] đồng chí nào nghi ngờ Trung Quốc có thể đánh chúng ta. Nhưng có. Đó là vì các đồng chí [này] không có kiến ​​thức về vấn đề này. Nhưng đó không phải là trường hợp của chúng tôi (Lê Duẩn và ban lãnh đạo). Chúng ta biết rằng Trung Quốc đã và đang tấn công chúng ta [cách đây] mười năm hoặc hơn. Vì vậy chúng ta không ngạc nhiên [về cuộc tấn công của Trung Quốc vào tháng 1 năm 1979]./.

Yêu nước ST.

TRONG CUỘC CHIẾN TRANH BẢO VỆ BIÊN GIỚI PHÍA BẮC CHỐNG CHỦ NGHĨA BÁ QUYỀN TRUNG QUỐC LIÊN XÔ ĐÃ GIÚP CHÚNG TA VÔ CÙNG TO LỚN!

     Trên mạng xã hội một số người có ý kiến bình luận và đặt ra câu hỏi: Năm 1979 Trung Quốc tấn công Việt Nam thì Liên Xô ở đâu sao không giúp? Tôi xin trả lời các bạn như sau:

Năm 1979 Trung Quốc tấn công Việt Nam từ Phong Thổ, Lai Châu tới Móng Cái, Quảng Ninh. Trước tình hình đó, Liên Xô chính thức đưa ra thông cáo "Liên Bang Xô Viết sẽ thực hiện những điều khoản đã ký kết trong hiệp định hợp tác và tương trợ lẫn nhau đã được ký kết với Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam".


Để biểu thị cho lời nói đó và cũng để ủng hộ cuộc phản công chính nghĩa của Việt Nam sang Campuchia, giải phóng dân Campuchia khỏi họa diệt chủng, một cuộc biểu dương lực lượng khổng lồ và cuộc tập trận thị uy lớn nhất lịch sử được Liên Xô tổ chức ngay sát vách Trung Quốc; cử các chuyên gia cố vấn quân sự lập tức sang Việt Nam; huy động không quân sang Việt Nam chuyển quân chủ lực của Việt Nam bên K về; viện trợ vũ khí, khí tài hàng loạt cho Việt Nam.


Cuộc tập trận của Liên Xô năm 1979 là cuộc tập trận hiệp đồng quân binh chủng lớn nhất trong lịch sử. Các chuyên gia thế giới thời đó nhận định đây là cuộc biểu dương lực lượng mạnh mẽ nhất ở phía Nam Liên Xô tức là phía Bắc Trung Quốc, với lực lượng huy động hơn 600 nghìn quân trực thuộc 6 quân khu, với mục đích tạo áp lực quân sự lên Bắc Kinh. Cuộc tập trận được triển khai trên cả 3 mặt trận: Trên bộ - trên không - trên biển phía đông. Trên lãnh thổ Mông Cổ của hạm đội Thái Bình Dương, huy động 29 sư đoàn bộ binh cơ giới với số lượng quân lên đến 250.000 quân, 2.600 xe tăng, 1.000 máy bay và 80 chiến hạm trong đó động viên 52.000 quân dự bị, huy động 50.000 xe máy sang phục vụ chiến đấu


Các máy bay chiến đấu từ lãnh thổ Ukraina và Belarus được điều khẩn cấp đến miền Đông Liên Xô phục vụ chiến đấu cao nhất. Trong đó có 1 sư đoàn máy bay chiến đấu được triển khai trên lãnh thổ Mông Cổ đặt trong tình trạng chiến tranh. Những cuộc di chuyển quân thần tốc của Liên Xô khiến cho giới lãnh đạo Bắc Kinh và thế giới thời đó sửng sốt với câu nói của lãnh đạo Liên Xô "Không được đụng đến Việt Nam".

Tất cả các quân khu miền Đông, Mông Cổ đều được đặt trong tình trạng chiến tranh, các hoạt động tập trận bắn đạn thật cấp sư đoàn được tổ chức và triển khai liên tục tức là Liên Xô đã sẵn sàng can thiệp quân sự đặt Bắc Kinh vào tình thế có thể phải chiến đấu ở cả 2 đầu mặt trận. Một bên là Việt Nam với quân số thiện chiến đang được chuyển khẩn cấp ra Bắc; Một bên là Liên Xô với quân số và hỏa lực bố trí 44 sư đoàn bộ binh cơ giới dày đặc áp sát toàn tuyến biên giới Trung Quốc?

Liên Xô rất tin tưởng khả năng đánh trận của Việt Nam và cũng đã hỏi ý kiến của lãnh đạo Việt Nam về khả năng can thiệp quân sự. Và Việt Nam từ chối can thiệp thay vào đó là nhận sự ủng hộ về quân sự cũng như ngoại giao ở Liên Xô và các nước XHCN.


Không có sự răn đe của Liên Xô, áp lực của Liên Xô lên bàn cờ chính trị ngoại giao thì chưa chắc Tàu nó đã cút sớm. Không chỉ viện trợ quân sự cho Việt Nam, không chỉ ủng hộ trên ngoại giao, không chỉ ủng hộ trên trường quốc tế mà máu của những chuyên gia cố vấn Hồng Quân Liên Xô đã đổ xuống ở mảnh đất này để cứu dân tộc chúng ta. Thay lời trách móc hãy cảm ơn họ!

Yêu nước ST.

CHUYỆN VỀ CHUẨN TƯỚNG QUÂN ĐỘI NGỤY QUYỀN SÀI GÒN LÀ TÌNH BÁO CỦA CÁCH MẠNG!

NGUYỄN HỮU HẠNH, VIÊN CHUẨN TƯỚNG, QUYỀN THAM MƯU TRƯỞNG QUÂN ĐỘI CỦA NGỤY QUYỀN SÀI GÒN, TÌNH BÁO NỘI TUYẾN CỦA TWC MIỀN NAM, NGƯỜI MANG BÍ DANH SAO MAI (S7)

Trong những giờ cuối cùng của chiến tranh vào ngày 30-4-1975, vị chuẩn tướng - quyền Tổng tham mưu trưởng quân đội ngụy quyền Sài Gòn luôn được nhắc đến như một nhân chứng đặc biệt, bởi ông còn là một cơ sở của Tình báo chiến lược Quân Giải phóng mang bí số S7 - Sao Mai.

Ông là chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh thời Chính quyền Sài Gòn trước ngày 30-4-1975. Ông sinh năm 1924 tại xã Phú Phong (H.Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho; nay thuộc tỉnh Tiền Giang) trong một gia đình trí thức.


NGƯỜI NỘI TUYẾN HOÀN HẢO

 Cuộc đời hoạt động gắn với những câu chuyện như huyền thoại của ông Nguyễn Hữu Hạnh: “Sống giữa muôn trùng kẻ thù, làm đến chức quyền Tổng tham mưu trưởng mà đến tận ngày hòa bình thống nhất rồi, kẻ thù mới biết ông cụ là người gắn bó với cách mạng!”.

Sở dĩ cuộc đời của nhân sĩ Nguyễn Hữu Hạnh lại gần với những huyền thoại bởi rất ít người có thể nghĩ rằng một vị Quyền Tổng tham mưu trưởng quân đội của chế độ ngụy quyền Việt Nam Cộng hòa lại là “Cơ sở nội tuyến của Trung ương cục”.

Ông Nguyễn Hữu Hạnh đã tạo cho mình một vỏ bọc rất hoàn hảo và có thể nói Trung ương cục đã “nuôi quân 10 năm để dùng trong một giờ”.

Trong nhiều lần đối mặt với lực lượng Quân Giải phóng, ông thường lệnh cho binh lính đánh ở thế giằng co mà không tiến chiếm mục tiêu. Khi Quân Giải phóng rút, ông cũng ra lệnh thu quân, không đánh tiếp. Các cố vấn Mỹ mỉa mai gọi ông là “Tư lệnh thận trọng”, “Tư lệnh không bao giờ chiếm mục tiêu”.


TƯ LỆNH KHÔNG BAO GIỜ CHIẾM MỤC TIÊU

 Năm 1945, tốt nghiệp tú tài, ông vào học Trường Võ bị địa phương Nam Việt Vũng Tàu, tốt nghiệp với cấp bậc chuẩn úy, được điều làm trung đội trưởng một đơn vị bộ binh, dưới quyền thiếu úy - Đại đội trưởng Dương Văn Minh. Mối quan hệ này trở nên thân tình giữa hai người và có nhiều ảnh hưởng về sau.

Trong nhiều lần đối mặt với lực lượng Quân Giải phóng, ông thường lệnh cho binh lính đánh ở thế giằng co mà không tiến chiếm mục tiêu. Khi Quân Giải phóng rút, ông cũng ra lệnh thu quân, không đánh tiếp. Các cố vấn Mỹ mỉa mai gọi ông là “Tư lệnh thận trọng”, “Tư lệnh không bao giờ chiếm mục tiêu”.


ĐÁM TANG ĐẶC BIỆT VÀ NGƯỜI MANG BÍ SỐ S7 - SAO MAI

Tháng 10-1963, tại xã Phú Phong (H.Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho) diễn ra một đám tang rất đặc biệt. Người quá cố là ông Nguyễn Hữu Điệt (cha ruột đại tá Tham mưu trưởng Quân đoàn IV, Vùng 4 chiến thuật Nguyễn Hữu Hạnh). Trước khi nhắm mắt, ông Điệt trăn trối ước nguyện được chôn cất ở quê, bên cạnh phần mộ tổ tiên.

Đây là điều rất khó khăn đối với ông Hạnh, vì phần mộ tổ tiên nằm trong vùng Mặt trận Giải phóng kiểm soát. Ông quyết định thương lượng với Mặt trận Giải phóng xã Phú Phong, xin được an táng cha. Chính quyền xã Phú Phong đồng ý, với điều kiện hai bên phải ngừng bắn trong 3 ngày. Đám tang diễn ra suôn sẻ, hai bên tuân thủ nghiêm ngặt lệnh ngừng bắn.

 Ba ngày sau, ông Hạnh bày tỏ nguyện vọng được đến thăm mộ cha bằng trực thăng. Lực lượng cách mạng đồng ý, với điều kiện ông đi một mình. Ông Hạnh thực hiện đúng giao ước và trở về Cần Thơ bình yên.

Ông Nguyễn Hữu Hạnh trở thành mối quan tâm số một của Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam. Nhiệm vụ tiếp cận, vận động được giao cho ông Nguyễn Tấn Thành (họ hàng với ông Hạnh). Ông Thành đã hai lần bị địch bắt, nhưng được ông Hạnh tìm cách cứu thoát. Ông Thành đã tác động, hướng ông Hạnh đứng về phía cách mạng.

Từ đây, ông Hạnh mang mật danh S7 - Sao Mai cho tới ngày 30-4-1975, không bị lộ. Từ khi hợp tác với cách mạng, không những thực hiện những yêu cầu của Trung ương Cục miền Nam, ông Hạnh còn tự giác ứng phó trong mọi tình huống, không để điều gì bất lợi xảy ra cho nhân dân, cho cách mạng.


ĐIỆP VỤ “BIG MINH”

Đầu tháng 11-1963, cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm xảy ra, Đại tá Hạnh ngấm ngầm ủng hộ bạn thân là Tướng Dương Văn Minh, hỗ trợ Đại tá Nguyễn Hữu Có chiếm vị trí chỉ huy Sư đoàn 7 Bộ binh, thuyết phục Tướng Huỳnh Văn Cao án binh bất động không cho lực lượng Quân đoàn 4 về giải cứu, góp phần làm nên thắng lợi cuộc đảo chính anh em nhà Ngô Đình Diệm.

Năm 1969, Đại tá Hạnh được điều động trở lại Miền Tây làm Phó Tư lệnh, đến năm 1970 được phong hàm Chuẩn tướng. Do là thân hữu của Tướng Minh "Lớn" nên sự nghiệp của Đại tá Hạnh vấp phải rất nhiều trở ngại, không hợp gu với Tổng thống ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu và ngụy đội VNCH Đệ nhị.

Chính vì vậy, từ chức Phó Tư lệnh Quân đoàn 2 năm 1972, ông bị chuyển ra làm Chánh Thanh tra Quân đoàn I tại Đà Nẵng. Bất ngờ vào ngày 15-5-1974, lúc đó 48 tuổi, Chuẩn tướng trẻ Nguyễn Hữu Hạnh nhận quyết định về nghỉ hưu do Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ký, viện lý do đã phục vụ trong quân đội quá thời hạn 20 năm.

Trong chính trường Sài Gòn lúc bấy giờ ai cũng biết, Tổng thống Thiệu đang tiến hành loại dần phe cánh của Tướng Dương Văn Minh và giới Quân đội thân Pháp. Đây cũng là thời gian quân đội Mỹ đã rút khỏi Miền Nam Việt Nam, chỉ còn lại đội ngũ cố vấn CIA…

Thiệu không ưa gì Mỹ, nhưng khó thoát khỏi thế kẹt của vòng kim cô nên vùng vẫy như cá mắc lưới trên trường chính trị, ngoại giao tìm lối thoát mới. Hơn nữa, tình hình chiến sự trên các chiến trường đang diễn ra rất ác liệt, thế thắng đang thuộc về Quân giải phóng Miền Nam, chính trường Sài Gòn đang rung chuyển, lung lay từng ngày.

Tuy đã tiếp cận với Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh từ những năm đầu 1960 nhưng Mặt trận giải phóng chưa hình thành và giao phó một nhiệm vụ gì cụ thể. Theo mưu lược người xưa, nuôi quân 10 năm dùng trong 1 giờ… đang lộ dần, lộ dần từ ngày khi Chuẩn tướng trẻ bị cho "về vườn".

Những ngày cuối tháng 4-1975, các cánh quân giải phóng Miền Nam đang dần xiết vòng vây tiến về giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn Miền Nam. Đồng chí Bí thư Trung ương Cục Phạm Hùng chỉ đạo bằng mọi giá phải đưa Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh trở về Sài Gòn để gặp Tổng thống Dương Văn Minh trước ngày nhậm chức Tổng thống từ tay Tổng thống Trần Văn Hương.

Mọi công việc đã được sắp đặt và bố trí chặt chẽ trước và ngay trong giờ khắc lịch sử đến. Tổng thống Dương Văn Minh phân công Chuẩn tướng Hạnh làm phụ tá cho tân Tổng Tham mưu trưởng là Trung tướng Vĩnh Lộc (1923-2009). Nguyễn Phước Vĩnh Lộc là dòng dõi hoàng tộc, anh em với vua Bảo Đại nhậm chức Tham mưu trưởng ngụy quân VNCH ngày 29-4-1975, đã tuyên bố hùng hồn kêu gọi quân đội tử thủ bảo vệ Sài Gòn bằng mọi giá. Nhưng rạng sáng ngày 30-4-1975, Trung tướng Vĩnh Lộc đã thoát ra biển bằng tàu chiến trên bến Bạch Đằng.

Lúc này, không ai khác hơn Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, thay ghế Tổng Tham mưu trưởng, là một trong hai vị tướng cuối cùng của chế độ ngụy quyền Sài Gòn đứng bên cạnh Đại tướng, Tổng thống Dương Văn Minh suốt mấy giờ lịch sử sang trang…

Chính ông đã ra lệnh cho ngụy quân Sài Gòn bỏ súng đầu hàng theo lệnh Tổng thống, tránh đổ máu vô ích trong cuộc hòa hợp dân tộc, bàn giao chính quyền. Và điều kỳ diệu đó đã diễn ra trong Dinh Độc lập vào trưa ngày 30-4-1975.

Có những thời khắc lịch sử không thể diễn tả bằng hai chữ "nếu như"… Chiều chủ nhật 29-4 phụ tá Hạnh chính thức ngồi vào ghế chỉ huy Bộ tổng Tham mưu. Thông qua bác họ Nguyễn Tấn Thành (bí danh Tám “vô tư”), Chuẩn tướng Hạnh đã có thể hình dung toàn bộ cục diện chiến trường và chính trường lúc này cần có những quyết định ra sao.

Lúc này, Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh Quân đoàn 3, đang đóng quân tại Biên Hòa còn rất hung hăng khi còn trong tay 3 Sư đoàn thiện chiến và nhiều Lữ đoàn phối hợp. Tướng Toàn từng đề nghị Tổng Tham mưu Cao Văn Viên nhờ Mỹ điều B52 ném bom chặn quân Việt cộng ngay cửa ngõ Sài Gòn. Nay, lại đề nghị chuyển Bộ Chỉ huy về căn cứ thiết giáp ở Gò Vấp, gần sân bay Tân Sơn Nhất.

Phụ tá Hạnh không chấp thuận mà lấp lửng trả lời: nếu đến chiều 29-4 tướng Lộc không trả lời thì cứ làm như thế, như thế. Sự thật, Chuẩn tướng Hạnh không hề báo cáo với tân Tổng Tham mưu Vĩnh Lộc và rạng sáng hôm sau thì ông này đã tìm đường chuồn ra biển. Tiếp đến là tối 29-4, tướng bại trận Xuân Lộc là Lê Minh Đảo xin lui về Tân Vạn, bên này sông Đồng Nai để cố thủ, Chuẩn tướng Hạnh đọc được ý đồ hèn nhát của tên này khi rút về cận Sài Gòn để tháo chạy.

Tướng bại trận còn xin phá sập cầu Đồng Nai ngăn chặn quân giải phóng, Chuẩn tướng Hạnh rùng mình, ra lệnh không được phá cầu vì lấy cớ còn cơ động, phản công. Khi nào cần có thể điều không quân ném bom chặn đường. Ông đã tìm mọi cách xé lẻ những lực lượng quân tử thủ ra thành nhiều mảnh nhỏ, để dồn ép Tổng thống Dương Văn Minh, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Văn Huyền vào thế phải đầu hàng.

Lúc này, hai cái gai nhọn là tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân đoàn 4 và Lâm Văn Phát, Tư lệnh Biệt khu Thủ đô là những kẻ hiếu chiến nhất thề sinh tử bảo vệ Sài Gòn. Nhưng tất cả đã bị vô hiệu hóa, khi Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng gần trưa 30-4. Tướng Nguyễn Khoa Nam tự sát, cùng tướng Phạm Văn Phú kẻ để mất Buôn Ma Thuột. Tư Lệnh Hải quân Diệp Quang Thủy thì ngay trong đêm ngày 29 tháng 4, ông ta đã di tản ra khơi trên Tuần dương hạm HG-601 do Hải quân Đại uý Trần Minh Chánh chỉ huy, tướng Vĩnh Lộc cũng chạy tháo thân…

Nắm được ý cua tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh là “không chống cự”, lại được chỉ đạo của Ban Binh vận nên ông Hạnh điều binh khiển tướng theo ý mình.

Thời điểm này là gần 12 năm ông Hạnh thầm lặng đợi chờ. Ông Hạnh đề nghị Dương Văn Minh:

 “Tình hình này, Tổng thống cần quyết định ngay, trì hoãn chỉ có hại. Về quân sự thì không thể làm gì được nữa rồi”. Tất cả các ý định ngăn chặn đường tiến công của Quân Giải phóng vào Sài Gòn trong ngày 29-4-1975, đều bị ông Hạnh “vô hiệu hóa” bằng lệnh “án binh bất động”.

Ông Hạnh tiếp tục tác động tinh thần và tham mưu cho Dương Văn Minh. Ngày 29-4-1975, Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh cho Giám đốc Nha cảnh sát đô thành Triệu Quốc Mạnh thả tù binh chính trị; gửi công văn yêu cầu Đại sứ Mỹ Martin cho Cơ quan Viện trợ quân sự Mỹ (DAO) rời khỏi Việt Nam trong vòng 24 tiếng để giải quyết hòa bình ở Việt Nam.

Đến 9 giờ ngày 30-4-1975, Dương Văn Minh đọc trên đài phát thanh: “Đường lối chủ trương của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải của người Việt Nam để khỏi thiệt hại xương máu của người Việt Nam. Vì lẽ đó, tôi yêu cầu tất cả anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa hãy bình tĩnh, không nổ súng và ở đâu ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Chánh phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng. Chúng tôi ở đây chờ gặp Chánh phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận lễ bàn giao chính quyền trong một trật tự, tránh đổ máu vô ích của đồng bào”.

Tướng Nguyễn Hữu Hạnh cũng thảo một Nhật lệnh yêu cầu tướng, tá và binh sĩ chế độ ngụy quyền Sài Gòn thi hành lệnh của Tổng thống ngay tức khắc. 

Rồi cũng đến 11 giờ 30 ngày 30-4-1975... Và ông Nguyễn Hữu Hạnh, bí số S7- Sao Mai đã hoàn thành nhiệm vụ.

Sau năm 1975, ông Hạnh được cử giữ chức vụ Tổng thư ký Hội Nhân dân bảo trợ nhà trường, sau được bầu làm Ủy viên Trung ương MTTQ Việt Nam với tư cách là nhân sĩ yêu nước. Ông đã sống trọn một đời không hổ thẹn với nghĩa khí và lòng yêu nước truyền thống của dòng tộc, của một người Việt Nam.


Ông mất ngày 29/9/2019 hưởng thọ 96 tuổi.

Đến viếng ông có nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, nguyên Chủ tịch UBND TPHCM Lê Hoàng Quân, Phó bí thư Thành ủy TPHCM Võ Thị Dung, gia đình nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cũng gửi vòng hoa đến viếng…

Trong sổ tang, nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang viết: “Anh Nguyễn Hữu Hạnh kính mến! Vô cùng thương tiếc Anh. Chúng tôi mãi mãi ghi nhớ những đóng góp quan trọng của Anh trong những ngày tháng sục sôi của cuộc kháng chiến giành độc lập và thống nhất Tổ quốc. Xin vĩnh biệt Anh!”./.



Yêu nước ST.

Quyền con người gắn liền với quyền của dân tộc

         Ngay trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu đậm các quyền cơ bản của con người; gắn quyền con người với quyền của dân tộc: "các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do". Những nỗ lực đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất tổ quốc trong nhiều thập kỷ của Việt Nam không nằm ngoài mục đích bảo đảm cho mọi người dân Việt Nam được thụ hưởng đầy đủ nhất quyền con người, trong đó có quyền được sống trong hòa bình, độc lập, tự do và quyền được quyết định vận mệnh, con đường phát triển của mình.

Vươn lên từ các cuộc chiến tranh, Việt Nam đã không ngừng nỗ lực để xây dựng một nhà nước của dân, do dân và vì dân, mà trước hết là xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải thiện, nâng cao hệ thống pháp luật về quyền con người. Việc thông qua Hiến pháp 2013 với một chương riêng về "Quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân" và sau đó là hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan đến quyền con người, là những nỗ lực hết sức có ý nghĩa, tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng cho việc bảo đảm trên thực tế quyền con người, quyền công dân.
Cùng với những bước tiến đó là việc không ngừng phấn đấu hoàn thiện thể chế và tạo dựng cơ sở vật chất để bảo đảm tốt hơn quyền con người. Mọi chiến lược, chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội đều được xây dựng trên cơ sở lấy người dân làm trung tâm, hướng về người dân và phục vụ người dân.

Xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển

 Thế kỷ XX đã xảy ra hai cuộc chiến tranh thế giới mà hậu quả vô cùng thảm khốc. Còn hiện nay, nếu chiến tranh thế giới, chiến tranh giữa các nước lớn xảy ra sẽ dẫn tới nguy cơ phá vỡ toàn bộ hạ tầng kinh tế của nhiều nước và nếu trở thành cuộc chiến tranh hạt nhân thì tất cả sẽ bị hủy diệt. Vậy nên hòa bình và ổn định là nhu cầu và khát vọng của toàn nhân loại. Phải có hòa bình mới có hợp tác, phát triển và ngược lại, nếu thế giới bình yên, hợp tác và phát triển được đẩy mạnh sẽ củng cố được hòa bình của thế giới. Chính sự hợp tác, hội nhập quốc tế, tùy thuộc lẫn nhau, đan xen lợi ích giữa các quốc gia khiến mọi bất ổn, biến động sẽ được giải quyết một cách thỏa đáng.

Hòa bình, hợp tác và phát triển đã và đang là một trong những xu thế khách quan, hết sức quan trọng và tối cần thiết trong quan hệ quốc tế hiện nay nhưng đang đứng trước nhiều thách thức. Đây là xu thế và là ước mong của toàn nhân loại, bởi xu thế là vậy nhưng trên thực tế, ở nhiều nơi trên thế giới chưa có hòa bình, bởi vẫn có bạo lực, cường quyền áp đặt thay cho hợp tác và vẫn có những nguy cơ kiềm chế sự phát triển.

Từ những phân tích trên đây, chúng ta càng thống nhất với nhận định rằng, mặc dù tình hình thế giới trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới có nhiều chuyển biến lớn lao, có khi là thay đổi khôn lường nhưng bản chất của thời đại không thay đổi. Tình hình cụ thể trong từng thời kỳ của thế giới có những biến động nhưng điều đó không làm thay đổi nội dung của thời đại; loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Trong xu hướng chung như vậy, Việt Nam vững bước đi lên theo nhịp bước thời đại, kiên định con đường đã chọn, nhất định thực hiện trọn vẹn mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Xu thế phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ

 Thế giới đang chứng kiến chưa bao giờ cách mạng khoa học - công nghệ lại phát triển mạnh mẽ như hiện nay. Cách mạng khoa học - công nghệ chính là sự thay đổi căn bản trong các lĩnh vực khoa học - công nghệ cũng như mối quan hệ và chức năng kinh tế, xã hội của chúng, tác động lớn đến cơ cấu và động thái phát triển của sức sản xuất xã hội. Quan trọng nhất của cách mạng khoa học - công nghệ là nổi lên vai trò hàng đầu của yếu tố con người trong hệ thống lực lượng sản xuất dựa trên việc vận dụng đồng bộ và hữu hiệu các ngành công nghệ có hàm lượng trí tuệ cao. Cách mạng khoa học - công nghệ làm biến đổi tận gốc lực lượng sản xuất xã hội, thực hiện vai trò dẫn đường và kết nối trong toàn bộ chu trình công nghệ - sản xuất - con người - xã hội - môi trường.

Cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra rất mạnh mẽ, trở thành một trong những xu thế phát triển mới của đời sống nhân loại trong giai đoạn hiện nay của thời đại. Đặc trưng của cuộc cách mạng này là sự hợp nhất, không ranh giới giữa các lĩnh vực công nghệ, vật lý, kỹ thuật và sinh học. Đó là xu hướng kết hợp giữa các hệ thống ảo và thực, vạn vật kết nối. Cuộc cách mạng này làm cho thế giới "phẳng" hơn, thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế có những bước tiến mới mạnh mẽ hơn, làm cho các nước có cơ hội mới và cũng đứng trước những thách thức mới. Với tốc độ phát triển cao, thay đổi nhanh chóng và sự kết hợp nhiều công nghệ khác nhau, loài người đứng trước sự thay đổi lớn và khả năng phát triển chưa từng có.

Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục phát triển cả về trình độ và tính chất

Toàn cầu hóa, xét về bản chất, là quá trình gia tăng và lan tỏa những mối liên hệ ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, phụ thuộc vào nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên toàn thế giới. Toàn cầu hóa là xu thế và kết quả tất yếu của quá trình phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại, thúc đẩy quá trình mở rộng quan hệ nhiều mặt ra khỏi phạm vi quốc gia, tăng cường mối liên hệ, hợp tác cùng có lợi. Các nước vừa có cơ hội, vừa không thể cưỡng lại sức lôi cuốn của quá trình toàn cầu hóa.

Toàn cầu hóa trở thành quá trình tất yếu không ngừng phát triển, kéo theo cả thế giới vào cuộc chơi hội nhập cùng phát triển, hợp tác và đấu tranh vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Hội nhập quốc tế hiện nay cũng trở thành một lẽ đương nhiên mà không nước nào có thể bỏ qua được. Hội nhập quốc tế là tiến trình mỗi quốc gia theo đuổi lợi ích, mục tiêu của mình thông qua việc tự giác hợp tác liên kết với các quốc gia khác và các tổ chức quốc tế trên nhiều lĩnh vực (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng…) dựa trên sự chia sẻ về nhận thức, lợi ích, giá trị, nguồn lực, quyền lực và chủ động chấp nhận, tiếp thu tham gia xây dựng các luật chơi chung, chuẩn mực chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế. Quá trình hội nhập quốc tế bắt đầu từ thập niên 50 của thế kỷ trước và bùng nổ từ thập niên 1990 đến nay. Hàng loạt các tổ chức khu vực đã ra đời như việc hội nhập toàn diện của Liên minh châu Âu (EU) đã đạt đến mức độ cao, biến tổ chức này trở thành một thực thể mạnh siêu quốc gia. Các nước trong Cộng đồng các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) cũng dang mở rộng và làm sâu sắc tiến trình hội nhập khu vực một cách toàn diện hơn dựa trên ba trụ cột: Cộng đồng chính trị - an ninh, Cộng đồng kinh tế và Cộng đồng văn hóa xã hội. Ở cấp độ toàn cầu, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Liên hợp quốc và các tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc đã ra đời, ngày càng phát triển với số lượng thành viên bao quát hầu hết các nước trên thế giới.

Chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản cùng tồn tại, vừa hợp tác, vừa đấu tranh

 Thế giới hiện nay là thế giới toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế; là cả một không gian mở, đan xen lợi ích, tùy thuộc lẫn nhau. Một khi khủng hoảng kinh tế ở một khu vực hoặc một nước lớn kéo theo khủng hoảng toàn cầu; một khi giá dầu mỏ lên xuống thất thường và đột biến đủ làm cho kinh tế thế giới bị ảnh hưởng. Nhìn vấn đề toàn cầu, nhất là một số vấn đề an ninh phi truyền thống buộc cả cộng đồng quốc tế phải chung tay giải quyết. Sự biến đổi khí hậu khác thường, thiên tai nghiệt ngã đang diễn ra rất đáng lo ngại. Sự phát triển không thể ngăn cản của các loại vũ khí giết người khủng khiếp cũng là yếu tố làm cho bất kỳ giới cầm quyền nào, cho dù là nước xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa cũng phải tính toán kỹ vấn đề chiến tranh hay hòa bình. Như vậy, cùng với việc đổi mới nhận thức của toàn nhân loại, đặc biệt là của giới lãnh đạo các nước về trách nhiệm chung đối với sự phát triển thế giới, những nhân tố khách quan nêu trên vừa thúc đẩy, đòi hỏi, vừa tạo điều kiện cho việc cùng tồn tại và hợp tác cùng phát triển đối với tất cả các nước.

Trong khi nhận rõ sự hợp tác giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản hiện nay là khá toàn diện, thì không thể quên rằng những mâu thuẫn giữa hai chiều hướng phát triển này vẫn chứa đựng mâu thuẫn vốn có. Các thế lực hiếu chiến và thù địch chưa bao giờ từ bỏ dã tâm muốn xóa sổ chủ nghĩa xã hội. "Diễn biến hòa bình" là một trong những chiến lược tổng thể của chủ nghĩa đế quốc nhằm thực hiện mục tiêu đó. Đây là cuộc chiến tranh không khói súng nhưng thực sự là kế sách nham hiểm phá vỡ thành lũy của chủ nghĩa xã hội từ bên trong, là chiến thuật "mối xây nhà" nhằm làm thoái hóa về tư tưởng, mục ruỗng cơ cấu kinh tế - chính trị - xã hội của các nước xã hội chủ nghĩa. Tất cả những thủ đoạn mà các thế lực đế quốc đã và đang sử dụng đối với các nước xã hội chủ nghĩa, cũng như đối với giai cấp những người lao động trên toàn thế giới cho thấy, cuộc đấu tranh giai cấp hiện nay không kém phần gay gắt, quyết liệt và phức tạp. Bởi vậy, trong điều kiện mở cửa, hội nhập với thế giới, thu hút vốn đầu tư, công nghệ và hợp tác giao lưu với các nước tư bản, các nước xã hội chủ nghĩa phải luôn kiên định bảo vệ nền tảng tư tưởng và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, hợp tác cùng phát triển nhưng luôn cảnh giác và sẵn sàng đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc và mục tiêu lý tưởng của mình.

2.3. Các vấn đề toàn cầu và an ninh phi truyền thống ngày càng nghiêm trọng

Ngày nay tất cả các quốc gia trên thế giới đều chịu tác động của vấn đề toàn cầu như khủng bố quốc tế, tội phạm xuyên quốc gia, phổ biến vũ khí hủy diệt, thảm họa thiên tai, thảm họa môi trường sinh thái, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, an ninh mạng, nghèo đói và dịch bệnh. Cả thế giới giới đã chứng kiến đại dịch Covid-19, trở thành thảm họa toàn cầu khiến hàng triệu người mắc bệnh, hàng trăm ngàn người chết, khiến tâm trạng xã hội rối loại, kinh tế toàn cầu khủng hoảng, hoạt động xã hội ngưng trệ, đảo lộn. Trong những vấn đề gay cấn và là những thách thức to lớn đó, cạn kiệt tài nguyên, nhất là năng lượng và nguồn nước đang là vấn đề nổi trội, tác động tới an ninh và phát triển của nhiều nước, nhiều khu vực. Nhu cầu về tài nguyên của các nền kinh tế, đặc biệt là các nền kinh tế mới nổi và các nền kinh tế của các nước đang phát triển sẽ tăng vọt dẫn tới việc cạnh tranh các nguồn tài nguyên vốn đã gay gắt sẽ trở nên nghiêm trọng hơn.

Trong một bài phát biểu của mình, nguyên Tổng Thư ký Liên hợp quốc Bakimun đã nhận xét: "chân trời có vẻ tối đi". Thế giới đang ở trong thời kỳ có nhiều xáo động. Chủ nghĩa dân tộc nổi lên rất mạnh, chủ nghĩa phân hóa cũng đang phát triển và những tư tưởng cũng như hành vi cường quyền, cực đoan đang trỗi dậy. Trong khi các cuộc "Cách mạng màu" đã làm tan hoang một số nước tại Trung Đông, Bắc Phi; thì chủ nghĩa dân tộc cực đoan, khủng bố quốc tế chưa bao giờ phức tạp như bây giờ. Chủ nghĩa khủng bổ, điển hình là IS vẫn đang duy trì hoạt động tại Irắc, Xyri và ở một số nước khác, đã không chỉ gây ra những bất ổn và biến động chính trị, quốc phòng, an ninh tại nhiều nước mà còn lôi cuốn nhiều quốc gia trong và ngoài khu vực vào "chảo lửa" này. Nguy hiểm hơn, các tổ chức khủng bố đang mở rộng địa bàn hoạt động sang châu Âu, châu Á gây mất an ninh, an toàn xã hội. Những vụ tấn công nhằm vào Pháp, Bỉ, Anh, Nga, lan sang một số nước Đông Nam Á như Philippin, Indonexia cho thấy tất cả những điều đó không thể giải quyết trong một sớm, một chiều, mà sẽ kéo dài, vô cùng phức tạp.

Các mâu thuẫn cơ bản trong giai đoạn hiện nay của thời đại

 Sự vận động không ngừng của thế giới đương đại và giai đoạn hiện nay của thời đại với những diễn biến phức tạp và hàm chứa nhiều mâu thuẫn. Những mâu thuẫn cơ bản nổi bật hiện nay là:

Thứ nhất, mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản diễn ra gay gắt. Đây là cách diễn đạt mới vì trước đây thường nói mâu thuẫn giữa "phe xã hội chủ nghĩa và phe đế quốc chủ nghĩa". Sở dĩ có cách diễn đạt mới này không chỉ vì không còn hai phe như trước, mà còn vì cách đề cập trước đây chỉ bó hẹp trong phạm vi mâu thuẫn giữa hai phe, chưa bao quát được cuộc chiến tranh giữa hai chiều hướng phát triển ngay trong lòng mỗi quốc gia cũng như trên phạm vi toàn thế giới. Đây là mâu thuẫn cơ bản nhất, bởi sự vận động của mâu thuẫn này sẽ tác động nhiều mặt đến các mâu thuẫn khác.

Thứ hai, mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng xã hội với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng sâu sắc. Chính từ mâu thuẫn này đã dẫn tới mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân rộng rãi với giai cấp tư sản và mâu thuẫn giữa các tập đoàn tư bản độc quyền, các công ty xuyên quốc gia, các Trung tâm tư bản tiếp tục phát triển. Hai mâu thuẫn này phản ánh chân thực, mô tả khách quan bức tranh toàn cảnh ở các nước tư bản phát triển khi nhiều tầng lớp nhân dân tham gia đấu tranh vì dân sinh, dân chủ; các tập đoàn tư bản độc quyền, các công ty xuyên quốc gia, các trung tâm tư bản lớn luôn giành giật nhau gay gắt, nhiều khi gây ra các xung đột, chiến tranh kinh tế, thương mại khốc liệt.

Thứ ba, mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển. Các nước tư bản phát triển thống nhất với nhau về bản chất chế độ và lợi ích giai cấp nhưng giữa các nước đó cũng có những mâu thuẫn khó khoan nhượng về lợi ích quốc gia, lợi ích của mỗi tập đoàn tư bản. Các nước tư bản phát triển đang bị cuốn vào cuộc cạnh tranh sống còn nhằm chiếm đoạt tài nguyên, năng lượng, nhân lực chất lượng cao và chiếm lĩnh các thị trường béo bở trên khắp các châu lục, khai thác mọi tiềm năng của các nước khác để tích lũy và xuất khẩu tư bản, gia tăng nhiều tối đa trên quy mô toàn cầu.

Thứ tư, mâu thuẫn giữa các thế lực cường quyền, hiếu chiến muốn thống trị thế giới với với nhân dân thế giới đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, công bằng, dân chủ và tiến bộ xã hội. Thế giới đang diễn ra quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh, xâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau vô cùng phức tạp để thiết lập một trật tự thế giới mới. Trong bối cảnh đó, các thế lực hiếu chiến, cường quyền luôn thực hiện các chính sách áp đặt, gây ra các xung đột cục bộ, xung đột khu vực, xung đột biên giới, biển đảo. Mâu thuẫn giữa các nước lớn cũng thường được giải quyết thông qua các cuộc chiến tranh "mượn tay người" ở các điểm nóng; các cuộc chiến giành giật tài nguyên, chiến tranh thương mại. Tình hình đó làm cho nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới hết sức lo lắng và đề cao cảnh giác.

Thứ năm, mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển của loài người càng tăng với tình trạng tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt. Sự gia tăng dân số và phát triển kinh tế - xã hội luôn có mối quan hệ khăng khít với môi trường và điều kiện thiên nhiên. Tài nguyên thiên nhiên và môi trường là cơ sở và nhân tố quan trọng cho sự phát triển. Nếu biết sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên và các yếu tố địa lợi, kinh tế - xã hội sẽ tăng trưởng mạnh mẽ và phát triển bền vững. Vậy nhưng hiện nay vấn đề sử dụng quá mức và thiếu trách nhiệm đã gây ra vấn nạn cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng.

Nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về thời đại

Đảng ta luôn xác định nhận thức rõ bản chất, nội dung của thời đại cũng như cục diện và tình hình thế giới là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Trong khi khẳng định thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta nhận rõ tình hình phức tạp, quanh co và rất lâu dài của quá trình chuyển biến xã hội nên đã hướng vào đánh giá trực tiếp những động thái, đặc trưng, xu hướng và tính chất trong giai đoạn hiện nay của thời đại. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng năm 1991 đã nêu rõ: "Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc gay go, phức tạp của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chủ nghĩa xã hội hiện đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hòa của lịch sử"[1]. Tiếp đó, "Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011)" lại nêu rõ: "Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với các chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội"[2].

Quan điểm của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế về thời đại

 

Trong Tuyên bố tại Hội nghị đại biểu tại Mátxcơva năm 1957 và năm 1960, các đảng cộng sản và công nhân các nước xã hội chủ nghĩa đã đưa ra quan niệm về thời đại ngày nay, thể hiện bước phát triển mới trong quá trình nhận thức về nội dung, tính chất của thời đại.

Nội dung cơ bản của thời đại chúng ta là sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga. (Tuyên bố tại Hội nghị đại biểu các đảng cộng sản và công nhân các nước xã hội chủ nghĩa tháng 11-1957)

Thời đại chúng ta mà nội dung chủ yếu là sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, là thời đại đấu tranh giữa hai hệ thống xã hội đối lập, là thời đại cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng giải phóng dân tộc, là thời đại chủ nghĩa đế quốc bị sụp đổ và hệ thống thuộc địa bị thủ tiêu, là thời đại ngày càng có thêm nhiều dân tộc tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa, là thời đại thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới,… Đặc điểm chủ yếu của thời đại chúng ta là hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới trở thành nhân tố quyết định sự phát triển xã hội loài người. (Nhận định tại Hội nghị đại biểu các đảng cộng sản và công nhân thế giới, tháng 1 năm 1960)

Thực tế cho thấy, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi và Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên ra đời năm 1917 đã đánh dấu chấm hết thời đại độc tôn của chủ nghĩa tư bản, mở ra thời đại mới, thời đại của sự quá độ lớn lao nhất trong lịch sử loài người, tiến tới một xã hội hiện thực không còn người bóc lột người, không còn nô dịch giữa người và người. Chế độ xã hội chủ nghĩa non trẻ đã vượt qua hàng loạt thử thách khắc nghiệt nhất của lịch sử, hiện diện cả ở châu Âu, châu Á, châu Mỹ, phát triển mạnh mẽ với nhiều ưu việt kinh tế - xã hội.

Nhận thức về thời đại


Trong sách báo, trên các phương tiện thông tin đại chúng, hai chữ "thời đại" được dùng khá phổ biến. Với ý nghĩa thông thường nó thường được đồng nhất với các khái niệm "giai đoạn", "thời kỳ"... Trong các lĩnh vực khoa học khác nhau, "thời đại" cũng được dùng để chỉ các giai đoạn, thời kỳ khác nhau trong lĩnh vực đó. Trong các tác phẩm về lịch sử và kinh tế, thường thấy các khái niệm như "thời đại đồ đá", "thời đại đồ đồng", "thời đại đồ sắt", "thời đại hơi nước", "thời đại kinh tế hái lượm và săn bắt", "thời đại kinh tế nông nghiệp", "thời đại kinh tế công nghiệp", "thời đại kinh tế tri thức"… Khái niệm thời đại còn được sử dụng trong các cụm từ như: thời đại phong kiến, thời đại tư bản, thời đại chủ nghĩa đế quốc, thời đại cách mạng vô sản… Trong quân sự, thời đại lại được sử dụng để mô tả các thời kỳ quân sự khác nhau, như: thời đại binh khí lạnh, thời đại binh khí nóng, thời đại hạt nhân, v.v..

Thực ra, "thời đại" là một khái niệm rất linh hoạt. Cách diễn đạt tương ứng trong tiếng Anh là "Epoch", vừa chỉ một khoảng thời gian có đặc trưng nhất định, vừa chỉ thời điểm có một vài đặc điểm nổi bật. Từ điển tiếng Anh đương đại Longman xuất bản năm 1987 xác định: "Thời đại là một thời kỳ lâu dài của trái đất hay lịch sử xã hội loài người".

Trong tiếng Hán, định nghĩa "thời đại" lại nghiêng về nhấn mạnh tính tiếp tục của thời gian. Ví dụ: "Từ điển Hán ngữ hiện đại" (bản bổ sung năm 2002) quy nạp hàm ý của thời đại thành hai loại: (1) chỉ một thời kỳ trong lịch sử được phân chia dựa theo tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa...; (2) chỉ một thời kỳ trong cuộc đời một con người.

 Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, thời đại là "thời kỳ lịch sử tương đối dài với xu thế và nội dung phát triển riêng biệt xét về mặt phát triển kinh tế xã hội hoặc về mặt văn hóa, coi như là một chặng đường không lặp lại trên quá trình tiến bộ xã hội". Thời đại lịch sử có thể là toàn bộ thời kỳ phát triển của một hình thái kinh tế - xã hội hoặc những giai đoạn chủ yếu trong hình thái ấy.

Từ điển Tiếng Việt lại xác định: thời đại là "khoảng thời gian lịch sử dài được phân chia ra theo những sự kiện có đặc trưng giống nhau". Theo định nghĩa này, khái niệm thời đại có tiêu chí "thời gian lịch sử dài" và "những sự kiện có đặc trưng giống nhau". Nhưng định nghĩa đó cũng chưa thật rõ ràng vì bao nhiêu thời gian thì được coi là dài và sự kiện có đặc trưng giống nhau có phải là những công cụ đặc trưng về phát triển lực lượng sản xuất ứng với mỗi thời đại không? Ngoài ra thuật ngữ "thời đại" còn dùng để nói lên một đặc trưng nổi bật của sự phát triển trong một thời gian nhất định của lịch sử, tất nhiên là không ngắn hạn: thời đại đế quốc chủ nghĩa, thời đại cách mạng vô sản, thời đại khoa học kỹ thuật, thời đại toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế,…

Từ những cách thể hiện như trên, có thể hiểu thời đại theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, thời đại là khái niệm về thời gian để chỉ sự phân kỳ lịch sử xã hội và để phân biệt những nấc thang phát triển xã hội mà theo đó nấc thang cao hơn, tiến bộ hơn phủ định nấc thang cũ, lạc hậu để mở đường cho sự phát triển một thời đại mới. Còn thời đại theo nghĩa hẹp là khái niệm về thời gian để chỉ xu thế và nội dung phát triển riêng biệt xét trên phương diện kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, công nghệ...

WB dự báo năm 2022 tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt 5,5%

 Chiều 13/1 tại Hà Nội, Ngân hàng Thế giới tổ chức buổi họp báo trực tuyến, công bố báo cáo "Điểm lại cập nhật tình hình kinh tế Việt Nam ấn bản tháng 1/2022". Theo đó, dự báo, kinh tế Việt Nam sẽ tăng tốc trong năm 2022 với mức tăng trưởng GDP đạt mức 5,5%.

 

 

Báo cáo có tiêu đề: "Không còn thời gian để lãng phí: Những thách thức và cơ hội đối với phát triển thương mại xanh tại Việt Nam”. Theo đó, báo cáo khuyến nghị, Việt Nam cần ưu tiên xanh hóa ngành thương mại. Bởi, thương mại là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong 2 thập kỷ qua, nhưng cũng là ngành có cường độ phát thải carbon cao, gây nhiều ô nhiễm vì chiếm một phần ba tổng lượng phát thải khí nhà kính của cả nước.

Việt Nam đã bắt đầu thực hiện giảm phát thải carbon trong các hoạt động liên quan đến thương mại. Tuy nhiên, cần hành động quyết liệt hơn nữa để ứng phó với áp lực gia tăng từ các thị trường xuất khẩu chính, khách hàng và công ty đa quốc gia với yêu cầu những sản phẩm và dịch vụ phải xanh và sạch hơn.

Bà Carolyn Turk, Giám đốc Quốc gia của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam nhấn mạnh, thương mại sẽ là hợp phần chính trong chương trình hành động vì khí hậu của Việt Nam trong những năm tới. Thúc đẩy thương mại xanh không chỉ giúp Việt Nam thực hiện cam kết đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 mà còn giữ được lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế và đảm bảo thương mại tiếp tục là nguồn tạo thu nhập và việc làm quan trọng.

Báo cáo khuyến nghị, Chính phủ hành động trên 3 lĩnh vực: tạo thuận lợi cho thương mại hàng hóa và dịch vụ xanh, khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài xanh, và phát triển các khu công nghiệp có khả năng chống chịu tốt hơn và không phát thải carbon.

Nội dung của báo cáo cũng đặt ra giả thuyết, dịch COVID-19 sẽ được kiểm soát trong và ngoài nước thì khu vực dịch vụ của Việt Nam sẽ dần phục hồi khi người tiêu dùng và nhà đầu tư lấy lại được niềm tin. Song song đó, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo sẽ được hưởng lợi nhờ nhu cầu ổn định từ Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU) và Trung Quốc. Thâm hụt ngân sách và nợ công của Việt Nam cũng được kỳ vọng sẽ giữ vững, với tỷ lệ nợ trên GDP dự kiến là 58,8%, thấp hơn nhiều so với mức trần theo quy định.

Tuy nhiên, cũng theo báo cáo của WB, triển vọng này vẫn ẩn chứa nhiều rủi ro vì diễn biến của đại dịch vẫn chưa rõ ràng. Sự bùng phát của các biến thể mới có thể dẫn đến việc phải tái áp đặt các biện pháp giãn cách xã hội, ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế. Nhu cầu trong nước yếu hơn kỳ vọng có thể ảnh hưởng đến quá trình phục hồi của Việt Nam.

Ngoài ra, nhiều đối tác thương mại của Việt Nam cũng đang phải đối mặt với dư địa tài khoá và tiền tệ bị thu hẹp, có thể sẽ hạn chế khả năng tiếp tục hỗ trợ nền kinh tế của các nước này nếu cuộc khủng hoảng kéo dài. Điều này có thể làm chậm sự phục hồi toàn cầu và làm suy yếu nhu cầu đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.

Các chuyên gia phân tích thuộc WB cũng lập luận, các chính sách ứng phó cẩn trọng có thể giảm thiểu những rủi ro nói trên. Các biện pháp về chính sách tài khóa có thể hỗ trợ tổng cầu trong nước; trong đó, tạm thời có chính sách giảm thuế suất thuế giá trị gia tăng (VAT) và tăng chi cho ngành y tế và giáo dục.

Đại diện WB khuyến nghị, các hỗ trợ dành cho doanh nghiệp và người dân bị ảnh hưởng cần có quy mô lớn hơn và tập trung hơn. Các chương trình an sinh xã hội cần xác định đúng các nhóm đối tượng cần trợ giúp và triển khai hiệu quả hơn để giải quyết những hậu quả xã hội nặng nề và không đồng đều của cuộc khủng hoảng. Rủi ro đang gia tăng trong khu vực tài chính cần được giám sát chặt chẽ và chủ động giải quyết.

Điểm lại tình hình và đánh giá triển vọng phục hồi kinh tế trong ngắn hạn, đại diện WB cho rằng, năm 2021, Việt Nam đã phải đối mặt với rất nhiều khó khăn. Mặc dù có khởi đầu thuận lợi vào quý I/2021 nhưng đợt bùng phát dịch COVID-19 kéo dài từ tháng 4 vừa qua đã làm chệch quá trình phục hồi và để lại hậu quả nghiêm trọng về con người và kinh tế. GDP của Việt Nam ước chỉ tăng trưởng 2,58% trong năm 2021.

Năm 2022, kinh tế sẽ khởi sắc hơn, tăng trưởng GDP được dự báo ở mức 5,5% và nếu đại dịch cơ bản được kiểm soát thì kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi một phần nhờ vào việc nới lỏng hơn chính sách tài khóa ít nhất là trong nửa đầu năm 2022.

Về trung hạn, WB cũng dự báo nền kinh tế Việt Nam cũng sẽ chỉ bắt đầu quay về lộ trình tăng trưởng vào năm 2023, khi nhu cầu trong nước phục hồi đầy đủ và không có các cú sốc mới.

 

Phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

 Ngày 4/1, Ban Chỉ đạo Trung ương tổng kết thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức Hội thảo “Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa giai đoạn 2021 - 2030, định hướng đến năm 2045”.

Khai mạc hội thảo, Phó Trưởng ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Duy Hưng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo tổng kết Nghị quyết 26-NQ/TW nêu rõ: Sau hơn 13 năm triển khai Nghị quyết 26-NQ/TW, kết quả đạt được khá toàn diện, đã tái cơ cấu nền nông nghiệp mạnh mẽ. Nông nghiệp là trụ đỡ của nền kinh tế trong lúc khó khăn. Năm 2021, mặc dù kinh tế - xã hội khó khăn do dịch bệnh nhưng giá trị toàn ngành nông nghiệp ước tính tăng 2,9%; số xã chuẩn nông thôn mới đạt 68,2%; kim ngạch xuất khẩu đạt 48,6 tỷ USD. Bộ mặt nông thôn thay đổi rõ rệt, người nông dân ngày càng thể hiện rõ vai trò chủ thể trong các mối quan hệ.

Tuy nhiên, Phó Trưởng ban Kinh tế Trung ương cho rằng, sản xuất nông nghiệp còn nhiều khó khăn. Nhiệm vụ nông thôn mới nhiều nơi chưa về đích. Thu nhập của người dân nông thôn về cơ bản có tiến bộ nhưng so với khu vực thành thị còn khoảng cách khá xa. Trong bối cảnh thế giới diễn biến khó lường, các vấn đề xã hội nảy sinh tác động mạnh mẽ, cần đánh giá những điều đã làm được qua hơn 13 năm thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW, chỉ ra những hạn chế, tồn tại; đề xuất các giải pháp mới trong giai đoạn 2021- 2030, định hướng đến năm 2045.

Các tham luận và ý kiến tại hội thảo nhấn mạnh, để xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, nông thôn văn minh, nông dân giàu có trong bối cảnh mới ở nước ta thì cần thực hiện nhiều giải pháp trọng tâm. Theo đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền để thống nhất nhận thức từ cán bộ đến người dân về vai trò chiến lược của nông nghiệp, nông thôn trong phát triển kinh tế, xã hội và ổn định chính trị. Các ngành chức năng cần làm rõ phát triển kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới phải nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, thay đổi tư duy, nếp sống, thói quen sản xuất của người dân nông thôn, chuyển từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang làm kinh tế nông nghiệp, gắn sản xuất với thị trường, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Đây là công việc của cả hệ thống chính trị và người dân, cần hỗ trợ để người dân thực sự là chủ thể của quá trình đổi mới này.

Bên cạnh đó, Nhà nước cần có chính sách cụ thể để hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ nhằm nâng cao năng suất và chất lượng cũng như hiệu quả cạnh tranh của hàng nông sản. Để xây dựng được nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn, Nhà nước cần có các chính sách cụ thể hơn về tiếp cận đất đai, nguồn lực tài chính và khoa học công nghệ để khuyến khích phát triển kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác và kinh tế trang trại quy mô lớn ở nông thôn.

Một số ý kiến lưu ý việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn gắn với phát triển đô thị, trong đó ưu tiên đầu tư hình thành và phát triển hệ thống thu mua, kết nối, cung ứng nông sản hiện đại, cơ sở hạ tầng thương mại gắn với vùng sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn; thúc đẩy các mô hình liên kết, hợp tác trong sản xuất và kinh doanh nông nghiệp… Đồng thời, có chính sách khuyến khích phát triển các liên kết ba nhà (nhà nông dân - nhà doanh nghiệp - nhà khoa học) bền vững ở tất cả các khâu sản xuất, chế biến và kinh doanh sản phẩm nông nghiệp…

Kết luận hội thảo, Phó Trưởng ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Duy Hưng nhấn mạnh, nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị. Nông nghiệp phải gắn liền với ứng dụng công nghệ cao và chuyển đổi số; tạo việc làm và sinh kế cho người dân. Bên cạnh đó, cần quan tâm đến yếu tố khác như di cư, di dân, môi trường, khoa học công nghệ, văn hóa nông thôn, liên kết chuỗi, nguồn nhân lực… trong thời gian tới./.

"Pin đại dương" - giải pháp hữu hiệu lưu trữ năng lượng tái tạo

 Một chiếc turbine gió ngừng quay trong một ngày lặng gió hoặc quay tít mù khi nhu cầu điện năng đã đủ… đây chính là vấn đề đặt ra đối với năng lượng tái tạo và là một trong những điều mà các nhà nghiên cứu cho rằng có thể giải quyết được ngay dưới lòng biển.

Một trong các giải pháp là các “trang trại gió” ở ngoài khơi có thể dùng nước biển để lưu trữ năng lượng cho đến khi cần, giúp con người từ bỏ năng lượng hóa thạch. Công ty khởi nghiệp Hà Lan Ocean Grazer đã trình diễn hệ thống này tại Triển lãm công nghệ CES tại Las Vegas (Mỹ). Giám đốc điều hành (CEO) của Ocean Grazer, ông Frits Bliek cho biết: “Chúng tôi đã có giải pháp được gọi là pin đại dương”.

Giới chuyên gia cho rằng trong nỗ lực từ bỏ các nguồn năng lượng gây biến đổi khí hậu, như than đá, việc lưu trữ năng lượng xanh đóng vai trò chìa khóa. Bởi vì thiên nhiên không phải lúc nào cũng cho gió – hoặc nắng – vào đúng lúc chúng ta cần điện nhất.

“Pin đại dương” của ông Bliek dựa vào những chiếc túi mềm khổng lồ dưới lòng biển, được chứa đầy nước biển nhờ trang trại gió. Khi cần điện, sức ép của đại dương sẽ đẩy nước thông qua hệ thống dưới đáy biển, bao gồm các turbine, và kết quả là phát ra điện.

Điều quan trọng phải tính đến trong giải pháp này là chi phí. Hệ thống lưu trữ dạng pin có thể không đắt lắm nhưng tiềm ẩn nguy cơ rò rỉ hoặc gây nhiễm độc môi trường đại dương. Các hệ thống này dựa trên sức ép, từng sử dụng để vận hành đập thủy điện, để bơm nước vào giếng bên dưới đập khi nhu cầu điện giảm, lưu trữ hiệu quả để có thể trở lại qua các turbine của nhà máy.

Ocean Grazer không phải công ty duy nhất ứng dụng công nghệ này. Đại học Malta cũng đã nghiên cứu một hệ thống sử dụng điện tái tạo bằng cách bơm nước vào một bể chứa ép khí, sau có thể chuyển ra một turbine thủy lực để phát điện.

Một sáng kiến khác gọi là StEnSea (cất giữ năng lượng trong lòng biển) sử dụng một quả cầu rỗng bằng bê tông có ép khí đặt dưới lòng biển và đã thử nghiệm tại một lòng hồ ở Đức năm 2016.

Ông Bliek cho biết các hệ thống dưới biển có lợi thế là sức ép tự nhiên của nước biển, giúp tạo ra hệ thống hiệu quả tới 80% trong việc lưu trữ năng lượng.

Theo các chuyên gia, năng lượng tái tạo là nguồn năng lượng đang phát triển nhanh nhất ở Mỹ, tăng 42% từ năm 2010-2020. Có thể cần nhiều năm nữa việc triển khai các hệ thống như “pin đại dương” trên quy mô lớn mới góp phần vào mạng lưới điện. Ông Bliek cho biết công ty của ông đặt mục tiêu có một hệ thống ngoài khơi hoạt động vào năm 2025

Mỹ phản bác yêu sách không cơ sở pháp lý của Trung Quốc ở Biển Đông

 

Ngày 12/1, Cục Các vấn đề đại dương, môi trường và khoa học quốc tế thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ đã công bố một tài liệu nghiên cứu với nội dung phản bác "các yêu sách trái pháp luật” của Trung Quốc ở Biển Đông, trong đó bác bỏ các cơ sở địa lý và lịch sử của Bắc Kinh.

 

Theo hãng tin AFP, tài liệu nghiên cứu dài 47 trang nêu rõ các yêu sách của Trung Quốc tại Biển Đông là không có cơ sở theo luật pháp quốc tế. Tài liệu khẳng định những yêu sách này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiều quy định của luật pháp quốc tế được ghi nhận trong Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982.

 

Bộ Ngoại giao Mỹ kêu gọi Trung Quốc “ngừng các hoạt động trái pháp luật và gây sức ép ở Biển Đông” đồng thời khẳng định những yêu sách mà Trung Quốc gọi là “dựa trên lịch sử” không có cơ sở pháp lý.

 

Biển Đông có nhiều mỏ dầu khí cũng như các tuyến vận tải biển quan trọng. Cộng đồng quốc tế bày tỏ quan ngại về việc Trung Quốc tìm cách mở rộng các yêu sách chủ quyền trái phép tại vùng biển này./.

Microsoft cảnh báo mức độ nghiêm trọng của vụ tấn công mạng nhằm vào Ukraine

  Ngày 16/1, hãng công nghệ Microsoft (Mỹ) cảnh báo vụ tấn công mạng nhằm vào các hệ thống chủ chốt trong Chính phủ Ukraine xảy ra cách đây 2 ngày có thể mang tính hủy diệt và ảnh hưởng đến nhiều cơ quan hơn so với quan ngại ban đầu.


Trước đó, ngày 14/1, Ukraine thông báo đã xảy ra một cuộc tấn công mạng quy mô lớn khiến một số trang web của nhiều cơ quan chủ chốt, gồm Bộ Ngoại giao, Nội các, Bộ Chính sách ruộng đất, Hội đồng an ninh và quốc phòng và Bộ giáo dục, không hoạt động. Trên một số trang web có thông điệp bằng 3 thứ tiếng Ukraine, Ba Lan và Nga  đề cập đến các tổ chức cực đoan và các khu vực của Ukraine. 


Trong một bài đăng trên trang blog, Microsoft cho biết đang tiếp tục phân tích phần mềm độc hại nêu trên, cảnh báo rằng vụ tấn công mạng này có thể khiến cơ sở hạ tầng kỹ thuật số của chính phủ trở nên tê liệt. Microsoft nhấn mạnh phần mềm độc hại, vốn được thiết kế trông giống như mã độc tống tiền (ransomware) nhưng thiếu cơ chế khôi phục dữ liệu, nhằm mục đích phá hoại và khiến các thiết bị là mục tiêu không thể hoạt động được thay vì đòi tiền chuộc.

 

Theo Microsoft, cho đến nay hãng này vẫn chưa xác định được thủ phạm đứng sau cuộc tấn công mạng, song cảnh báo rằng số lượng các tổ chức bị ảnh hưởng có thể nhiều hơn so với suy đoán ban đầu. Microsoft nêu rõ các nhóm của hãng đã xác định được phần mềm độc hại trên hàng chục hệ thống bị ảnh hưởng và con số đó có thể tăng lên khi cuộc điều tra được mở rộng. Những hệ thống bị ảnh hưởng bao gồm của nhiều công ty công nghệ thông tin, tổ chức phi lợi nhuận và chính phủ, tất cả đều có trụ sở tại Ukraine./.