Thứ Tư, 23 tháng 2, 2022

ĐỔI THAY NGOẠN MỤC

 

Công cuộc đổi mới, trong đó có việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã thực sự đem lại những thay đổi to lớn, rất tốt đẹp cho đất nước trong 35 năm qua. Trước Đổi mới (năm 1986), Việt Nam vốn là một nước nghèo lại bị chiến tranh tàn phá rất nặng nề, để lại những hậu quả hết sức to lớn cả về người, về của và môi trường sinh thái. Tôi chỉ nêu thí dụ, cho đến nay vẫn có hàng triệu người chịu các bệnh hiểm nghèo và hàng trăm ngàn trẻ em bị dị tật bẩm sinh bởi tác động của chất độc da cam/dioxin do quân đội Mỹ sử dụng trong thời gian chiến tranh ở Việt Nam. Theo các chuyên gia, phải mất đến hơn 100 năm nữa Việt Nam mới có thể dọn sạch hết bom mìn còn sót lại sau chiến tranh. Sau chiến tranh, Mỹ và phương Tây đã áp đặt cấm vận kinh tế với Việt Nam trong suốt gần 20 năm. Tình hình khu vực và quốc tế cũng diễn biến phức tạp, gây nhiều bất lợi cho chúng ta. Lương thực, hàng hóa nhu yếu phẩm hết sức thiếu thốn, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, khoảng 3/4 dân số sống dưới mức nghèo khổ. Nhờ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt 35 năm qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỉ USD, trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Công nghiệp phát triển khá nhanh, tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 85% GDP. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, năm 2020 đạt trên 540 tỉ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 280 tỉ USD. Dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt 100 tỉ USD vào năm 2020. Đầu tư nước ngoài tăng nhanh, đăng ký đạt gần 395 tỉ USD vào cuối năm 2020. Về cơ cấu nền kinh tế xét trên phương diện quan hệ sở hữu, tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam hiện nay gồm khoảng 27% từ kinh tế nhà nước, 4% từ kinh tế tập thể, 30% từ kinh tế hộ, 10% từ kinh tế tư nhân trong nước và 20% từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Hiện dân số của Việt Nam là hơn 97 triệu người, gồm 54 dân tộc anh em, trong đó hơn 60% số dân sống ở nông thôn. Phát triển kinh tế đã giúp đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội những năm 80 và cải thiện đáng kể đời sống của nhân dân. Tỉ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước). Đến nay, hơn 60% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; hầu hết các xã nông thôn đều có đường ôtô đến trung tâm, có điện lưới quốc gia, trường tiểu học và trung học cơ sở, trạm y tế và điện thoại. Trong khi chưa có điều kiện để bảo đảm giáo dục miễn phí cho mọi người ở tất cả các cấp, Việt Nam tập trung hoàn thành xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2010; số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gần 17 lần trong 35 năm qua. Hiện nay, Việt Nam có 95% người lớn biết đọc, biết viết. Trong khi chưa thực hiện được việc bảo đảm cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho toàn dân, Việt Nam tập trung vào việc tăng cường y tế phòng ngừa, phòng, chống dịch bệnh, hỗ trợ các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn. Nhiều dịch bệnh vốn phổ biến trước đây đã được khống chế thành công. Người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi được cấp bảo hiểm y tế miễn phí. Tỉ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em và tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh giảm gần 3 lần. Tuổi thọ trung bình của dân cư tăng từ 62 tuổi năm 1990 lên 73,7 tuổi năm 2020. Cũng nhờ kinh tế có bước phát triển nên chúng ta đã có điều kiện để chăm sóc tốt hơn những người có công, phụng dưỡng các Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, chăm lo cho phần mộ của các liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc. Đời sống văn hóa cũng được cải thiện đáng kể; sinh hoạt văn hóa phát triển phong phú, đa dạng. Hiện Việt Nam có khoảng 70% dân số sử dụng Internet, là một trong những nước có tốc độ phát triển công nghệ tin học cao nhất thế giới. Liên Hợp Quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Năm 2019, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,704, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển. Như vậy, có thể nói việc thực hiện đường lối đổi mới đã đem lại những chuyển biến rõ rệt, hết sức sâu sắc và tích cực ở Việt Nam: kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố. Tổng kết 20 năm đổi mới, Đại hội Đảng lần thứ X (năm 2006) đã nhận định, sự nghiệp đổi mới đã giành được "những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử". Trên thực tế, xét trên nhiều phương diện, người dân Việt Nam ngày nay đang có các điều kiện sống tốt hơn so với bất cứ thời kỳ nào trước đây. Đó là một trong những lý do giải thích vì sao sự nghiệp đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo được toàn dân Việt Nam đồng tình, hưởng ứng và tích cực phấn đấu thực hiện. Những thành tựu đổi mới tại Việt Nam đã chứng minh rằng, phát triển theo định hướng XHCN không những có hiệu quả tích cực về kinh tế mà còn giải quyết được các vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế. Những kết quả, thành tích đặc biệt đạt được của Việt Nam trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và suy thoái kinh tế toàn cầu bắt đầu từ đầu năm 2020 được nhân dân và bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, thể hiện tính ưu việt của chế độ XHCN ở nước ta. Mới đây, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng một lần nữa lại khẳng định và nhấn mạnh: "Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, lý luận về đường lối đổi mới, về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh chính trị của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, lý luận dẫn dắt dân tộc ta vững vàng tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; là nền tảng để Đảng ta hoàn thiện đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong giai đoạn mới" ./.

ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI BẰNG CÁCH NÀO

 

Như chúng ta đều biết, nhân dân Việt Nam đã trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, khó khăn, đầy gian khổ hy sinh để chống lại ách đô hộ và sự xâm lược của thực dân, đế quốc để bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ quyền thiêng liêng của đất nước, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân với tinh thần "Không có gì quý hơn Độc lập Tự do". Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng chỉ có CNXH và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc. Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định: CNXH là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên CNXH là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Năm 1930, trong Cương lĩnh chính trị của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương: "Tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến lên CNXH, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa". Vào những năm cuối thế kỷ XX, mặc dù trên thế giới CNXH hiện thực đã bị đổ vỡ một mảng lớn, hệ thống các nước XHCN không còn, phong trào XHCN lâm vào giai đoạn khủng hoảng, thoái trào, gặp rất nhiều khó khăn, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục khẳng định: "Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường XHCN trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh". Tại Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 1-2011) trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), chúng ta một lần nữa khẳng định: "Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử". Tuy nhiên, CNXH là gì và đi lên CNXH bằng cách nào? Đó là điều mà chúng ta luôn luôn trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi, lựa chọn để từng bước hoàn thiện đường lối, quan điểm và tổ chức thực hiện, làm sao để vừa theo đúng quy luật chung, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về CNXH và thời kỳ quá độ đi lên CNXH; từng bước khắc phục một số quan niệm đơn giản trước đây như: đồng nhất mục tiêu cuối cùng của CNXH với nhiệm vụ của giai đoạn trước mắt; nhấn mạnh một chiều quan hệ sản xuất, chế độ phân phối bình quân, không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ, không thừa nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế; đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản; đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản... Cho đến nay, mặc dù vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu nhưng chúng ta đã hình thành nhận thức tổng quát: Xã hội XHCN mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới. Để thực hiện được mục tiêu đó, chúng ta phải: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Xây dựng nền dân chủ XHCN, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện. Càng đi vào chỉ đạo thực tiễn, Đảng ta càng nhận thức được rằng, quá độ lên CNXH là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Việt Nam đi lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất rất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới. Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ XHCN, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này phải có chọn lọc trên quan điểm khoa học, phát triển. Đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới. Theo nhận thức của chúng ta, kinh tế thị trường định hướng XHCN là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng XHCN, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường; một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của CNXH, thể hiện trên cả ba mặt: Sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. Đây không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường XHCN đầy đủ (vì nước ta còn đang trong thời kỳ quá độ). Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố và phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Quan hệ phân phối bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất để định hướng, điều tiết, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng XHCN trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Điều đó có nghĩa là: không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không "hy sinh" tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trái lại, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn. Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng XHCN. Chúng ta coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; xác định phát triển văn hóa đồng bộ, hài hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam. Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những thành tựu, tinh hoa văn hóa nhân loại, phấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực, lối sống và thẩm mỹ ngày càng cao. Chúng ta xác định: Con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới; phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn, là tiêu chí để phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng giới là tiêu chí của tiến bộ, văn minh. Xã hội XHCN là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, do đó cần và có điều kiện để xây dựng sự đồng thuận xã hội thay vì đối lập, đối kháng xã hội. Trong chế độ chính trị XHCN, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ. Dân chủ là bản chất của chế độ XHCN, vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc xây dựng CNXH; xây dựng nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam. Chúng ta chủ trương không ngừng phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, trên cơ sở liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Nhà nước đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng; có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp và dân chủ đại diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tham gia quản lý xã hội. Chúng ta nhận thức rằng nhà nước pháp quyền XHCN về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ XHCN là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Đồng thời, chúng ta xác định: Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam; không ngừng thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo. Nhận thức sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng XHCN, chúng ta đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ XHCN. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam; Đảng ra đời, tồn tại và phát triển là vì lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Khi Đảng cầm quyền, lãnh đạo cả dân tộc, được toàn dân thừa nhận là đội tiên phong lãnh đạo của mình và do đó Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp bản chất giai cấp của Đảng, mà là thể hiện sự nhận thức bản chất giai cấp của Đảng một cách sâu sắc hơn, đầy đủ hơn, vì giai cấp công nhân là giai cấp có lợi ích thống nhất với lợi ích của nhân dân lao động và toàn dân tộc. Đảng ta kiên trì lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên; thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ. Ý thức được nguy cơ đối với đảng cầm quyền là tham nhũng, quan liêu, thoái hóa..., nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường, Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ra yêu cầu phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, thoái hóa... trong nội bộ Đảng và trong toàn bộ hệ thống chính trị./.

ĐỊNH HÌNH VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

 

Như chúng ta đã biết, CNXH thường được hiểu với ba tư cách: CNXH là một học thuyết; CNXH là một phong trào; CNXH là một chế độ. Mỗi tư cách ấy lại có nhiều biểu hiện khác nhau, tùy theo thế giới quan và trình độ phát triển ở mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể. CNXH đề cập ở đây là CNXH khoa học dựa trên học thuyết Mác - Lênin trong thời đại ngày nay. Vậy thì chúng ta phải định hình CNXH thế nào và định hướng đi lên CNXH thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh, đặc điểm cụ thể ở Việt Nam? Trước đây, khi còn Liên Xô và hệ thống các nước XHCN thế giới thì vấn đề đi lên CNXH ở Việt Nam dường như không có gì phải bàn, nó mặc nhiên coi như đã được khẳng định. Nhưng từ sau khi mô hình CNXH ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên CNXH lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt. Các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị thì hí hửng, vui mừng, thừa cơ dấn tới để xuyên tạc, chống phá. Trong hàng ngũ cách mạng cũng có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của CNXH, quy kết nguyên nhân tan rã của Liên Xô và một số nước XHCN Đông Âu là do sai lầm của chủ nghĩa Mác - Lênin và sự lựa chọn con đường xây dựng CNXH. Từ đó họ cho rằng chúng ta đã chọn đường sai, cần phải đi con đường khác. Có người còn phụ họa với các luận điệu thù địch, công kích, bài bác CNXH, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản. Thậm chí có người còn sám hối về một thời đã tin theo chủ nghĩa Mác - Lênin và con đường XHCN! Thực tế có phải như vậy không? Thực tế có phải hiện nay chủ nghĩa tư bản, kể cả những nước tư bản chủ nghĩa già đời vẫn đang phát triển tốt đẹp không? Có phải Việt Nam chúng ta đã chọn con đường đi sai không? Chúng ta thừa nhận rằng chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học - công nghệ. Nhiều nước tư bản phát triển, trên cơ sở các điều kiện kinh tế cao và do kết quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đã có những biện pháp điều chỉnh, hình thành được không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với trước. Từ giữa thập kỷ 70 và nhất là từ sau khi Liên Xô tan rã, để thích ứng với điều kiện mới, chủ nghĩa tư bản thế giới đã ra sức tự điều chỉnh, thúc đẩy các chính sách "tự do mới" trên quy mô toàn cầu; và nhờ đó hiện vẫn còn tiềm năng phát triển. Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó. Các cuộc khủng hoảng vẫn tiếp tục diễn ra. Đặc biệt là năm 2008-2009, chúng ta đã chứng kiến cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế bắt đầu từ nước Mỹ, nhanh chóng lan rộng ra các trung tâm tư bản chủ nghĩa khác và tác động đến hầu hết các nước trên thế giới. Các nhà nước, các chính phủ tư sản ở Phương Tây đã bơm những lượng tiền khổng lồ để cứu các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia, các tổ hợp công nghiệp, tài chính, ngân hàng, thị trường chứng khoán, nhưng không mấy thành công. Và hôm nay, chúng ta lại chứng kiến cuộc khủng hoảng nhiều mặt, cả về y tế, xã hội lẫn chính trị, kinh tế đang diễn ra dưới tác động của đại dịch Covid-19 và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Kinh tế suy thoái đã làm phơi bày sự thật của những bất công xã hội trong các xã hội tư bản chủ nghĩa: đời sống của đa số dân cư lao động bị giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng; khoảng cách giàu - nghèo ngày càng lớn, làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột giữa các sắc tộc. Những tình huống "phát triển xấu", những nghịch lý "phản phát triển", từ địa hạt kinh tế - tài chính đã tràn sang lĩnh vực xã hội, làm bùng nổ các xung đột xã hội, và ở không ít nơi từ tình huống kinh tế đã trở thành tình huống chính trị với các làn sóng biểu tình, bãi công, làm rung chuyển cả thể chế. Sự thật cho thấy, bản thân thị trường tự do của chủ nghĩa tư bản không thể giúp giải quyết được những khó khăn, và trong nhiều trường hợp còn gây ra những tổn hại nghiêm trọng cho các nước nghèo; làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa lao động và tư bản toàn cầu. Sự thật đó cũng làm phá sản những lý thuyết kinh tế hay mô hình phát triển vốn xưa nay được coi là thời thượng, được không ít các chính khách tư sản ca ngợi, được các chuyên gia của họ coi là tối ưu, hợp lý. Cùng với khủng hoảng kinh tế - tài chính là khủng hoảng năng lượng, lương thực, sự cạn kiệt của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái của môi trường sinh thái,... đang đặt ra những thách thức vô cùng lớn cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại. Đó là hậu quả của một quá trình phát triển kinh tế - xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội. Đó cũng chính là những đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và tiêu dùng tư bản chủ nghĩa. Các cuộc khủng hoảng đang diễn ra một lần nữa chứng minh tính không bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái của nó. Theo nhiều nhà khoa học phân tích, các cuộc khủng hoảng hiện nay không thể giải quyết được một cách triệt để trong khuôn khổ của chế độ tư bản chủ nghĩa. Các phong trào phản kháng xã hội bùng nổ mạnh mẽ tại nhiều nước tư bản phát triển trong thời gian qua càng làm bộc lộ rõ sự thật về bản chất của các thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa. Thực tế là các thiết chế dân chủ theo công thức "dân chủ tự do" mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không hề bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân - yếu tố bản chất nhất của dân chủ. Hệ thống quyền lực đó vẫn chủ yếu thuộc về thiểu số giàu có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội. Đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến phong trào "99 chống lại 1" diễn ra ở Mỹ đầu năm 2011 và nhanh chóng lan rộng ở nhiều nước tư bản. Sự rêu rao bình đẳng về quyền nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất. Trong đời sống chính trị, một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át. Vì vậy mà tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là "tự do", "dân chủ" dù có thể thay đổi chính phủ nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản. Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, "cá lớn nuốt cá bé" vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường. Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có. Phải chăng những mong ước tốt đẹp đó chính là những giá trị đích thực của CNXH và cũng chính là mục tiêu, là con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn và đang kiên định, kiên trì theo đuổi./.

Việt Nam kêu gọi các bên kiềm chế, tăng cường nỗ lực đối thoại về vấn đề Ukraine


          Ngày 23-2, trả lời câu hỏi của phóng viên Việt Nam và nước ngoài đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam về diễn biến tình hình ở Ukraine hiện nay và công tác bảo hộ công dân Việt Nam, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng nêu rõ:

          Việt Nam quan tâm theo dõi những diễn biến căng thẳng gần đây xung quanh tình hình Ukraine và kêu gọi các bên kiềm chế, tăng cường nỗ lực đối thoại, thúc đẩy các biện pháp ngoại giao nhằm giải quyết hòa bình các bất đồng trên cơ sở tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc và các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, góp phần bảo đảm hòa bình, an ninh, ổn định ở khu vực và trên toàn thế giới.

        Về bảo hộ công dân Việt Nam tại Ukraine, Đại sứ quán Việt Nam tại Ukraine trong những ngày qua đã thường xuyên liên hệ, chủ động trao đổi với cộng đồng người Việt Nam tại Ukraine để nắm tình hình bà con, đồng thời tích cực xây dựng các kế hoạch để sẵn sàng tiến hành các biện pháp bảo hộ công dân trong trường hợp cần thiết. Đại sứ quán đã cử cán bộ trực đường dây nóng bảo hộ công dân 24/24 giờ, sẵn sàng tiếp nhận thông tin. Theo Đại sứ quán, hiện có khoảng 100 công dân đang sinh sống trong khu vực Donetsk và Luhansk. Tình hình bà con hiện nay cơ bản ổn định.

Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ở Việt Nam

Nền kinh tế Việt Nam đang phát triển theo xu thế của thời đại là hội nhập quốc tế, dần hình thành một nền kinh tế tri thức trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đây là xu thế không thể đảo ngược, đòi hỏi chúng ta có chính sách phù hợp, tổ chức tốt, hợp quy luật để thúc đẩy nền kinh tế phát triển, trong đó, cần đặc biệt quan tâm đến chính sách thúc đẩy các ngành công nghiệp văn hóa.

Thời cơ và thách thức

Các ngành công nghiệp văn hóa ra đời muộn hơn so với nhiều ngành công nghiệp khác, nhưng lại là ngành có triển vọng lớn, có thể phát triển nhanh, dễ mang lại hiệu quả cao, là động lực mới cho sự phát triển vì phù hợp với xu thế của thời đại. Vậy các ngành công nghiệp văn hóa sẽ phát triển như thế nào trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hay nói cách khác, các ngành công nghiệp văn hóa phát triển thế nào để vừa phù hợp với xu thế chung, vừa bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa? Những chính sách cơ bản nào để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa trong bối cảnh và điều kiện hiện nay cho phù hợp?

Trước hết, cần làm rõ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có những đặc điểm cơ bản nào? Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra rằng: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó: kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”.

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam mang đầy đủ đặc điểm cơ bản của các nền kinh tế thị trường trên thế giới, bên cạnh đó, có hai đặc điểm riêng, nổi trội, đó là: 1- Do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; 2- Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Những đặc điểm cơ bản và nổi trội này là những đặc điểm cơ bản của mô hình kinh tế tổng quát thời kỳ quá độ, mục tiêu cụ thể đặt ra phải phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đảng ta nhấn mạnh nội dung này để tránh rơi vào chủ nghĩa giáo điều, dập khuôn, máy móc, thiếu tính sáng tạo trong quá trình tổ chức thực hiện.

Trong xu thế của thời đại và với đặc điểm của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các ngành công nghiệp văn hóa của Việt Nam “sinh sau, đẻ muộn” sẽ phát triển thế nào cho đúng hướng và hiệu quả? Chúng ta đều nhận thức được rằng, các ngành công nghiệp văn hóa là công nghiệp sáng tạo, luôn gắn với sự phát triển của nền kinh tế tri thức, dựa chủ yếu vào nguồn tài nguyên tri thức. Các ngành công nghiệp văn hóa là sự kết hợp ở tầm cao giữa tinh thần và vật chất, giữa văn hóa và sản xuất, kinh doanh, để tạo ra những sản phẩm có hàm lượng trí tuệ, chất lượng văn hóa cao, chiếm tỷ trọng lớn trong phần giá trị gia tăng của sản phẩm hàng hóa, đáp ứng nhu cầu tinh thần ngày một tăng của nhân loại. Đây là một đòi hỏi của nhiều quốc gia, nhất là các quốc gia phát triển. Nhu cầu đó ở Việt Nam cũng đang tăng lên đáng kể, từ một quốc gia nghèo, đói trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình, từ một quốc gia người dân “ăn đói, mặc rách”, đến nay, đại bộ phận người dân đã ăn no, mặc ấm, một bộ phận đã ăn ngon, mặc đẹp. Có nhiều nghiên cứu cho rằng, khi thu nhập dưới 1.000 USD bình quân đầu người, nhu cầu về văn hóa sẽ bị hạn chế, do nhu cầu ăn, mặc, ở chiếm phần lớn thu nhập, nhưng khi đã đạt trên 3.000 USD bình quân đầu người thì nhu cầu văn hóa sẽ trở nên cần thiết và mức độ dần tăng lên. Việt Nam đã bước vào ngưỡng thu nhập này, đồng nghĩa là nhu cầu văn hóa, thị trường văn hóa sẽ tăng nhanh chóng trong thời gian tới, cùng với đó, quá trình hội nhập quốc tế sẽ có sự giao thoa, trao đổi xuất, nhập khẩu sản phẩm văn hóa giữa các quốc gia.

Bên cạnh việc tiếp thu những tinh hoa văn hóa các nước, hiện tượng du nhập các trào lưu phản văn hóa, cảm nhận và tiếp thu văn hóa một cách lệch lạc, méo mó, chạy theo đám đông bắt đầu xuất hiện, nhất là trong lớp trẻ, làm xói mòn văn hóa dân tộc. Điều đáng lo ngại nhất là sự “xâm lăng mềm” về văn hóa đã hiện hữu và càng nguy hiểm hơn khi được cổ xúy bởi truyền thông xã hội. Thực tế, đã có không ít nội dung, chương trình của truyền thông nhà nước vì chạy theo mục tiêu lợi nhuận đã góp phần làm cho tình trạng này trở nên khó kiểm soát.

Các ngành công nghiệp văn hóa sẽ giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, vì thứ nhất, đây là lĩnh vực, hướng phát triển tích cực, phù hợp với xu thế thời đại, là động lực góp phần đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, tạo giá trị gia tăng, hiệu quả ngày càng cao cho nền kinh tế; thứ hai, là công cụ bảo đảm cho định hướng xã hội chủ nghĩa cả về thượng tầng kiến trúc và hạ tầng cơ sở; giúp chúng ta chủ động cho hội nhập quốc tế, giao thoa với văn hóa khu vực và thế giới, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, chống văn hóa lai căng và sự “xâm lăng mềm” về văn hóa. Do vậy, việc nắm bắt thời cơ, thuận lợi hiện nay, thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của các ngành công nghiệp văn hóa, đồng thời tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với các ngành công nghiệp văn hóa là cần thiết và cấp bách hơn bao giờ hết.

Vậy các ngành công nghiệp văn hóa của Việt Nam nên tập trung cho lĩnh vực nào để có thể phát huy được lợi thế? Phát triển như thế nào để bảo đảm cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa? Có thể nói, Việt Nam có nhiều lợi thế do thiên nhiên ban tặng, từ vị trí địa lý, cảnh quan, môi trường, đến tài nguyên đất đai, "rừng vàng, biển bạc", không phải quốc gia nào cũng có được; thêm vào đó, có nguồn tài nguyên vô giá là bề dầy của nền văn hóa, truyền thống lịch sử của dân tộc. Tố chất con người Việt Nam được tôi luyện qua đấu tranh sinh tồn, đã tạo ra hệ giá trị tinh thần cần cù, sáng tạo, nhẫn nại, anh hùng, nhân nghĩa… vô cùng quý báu. Nền tảng hạ tầng kinh tế - xã hội, kinh nghiệm tích lũy được trong những năm qua, đội ngũ lao động trong giai đoạn “dân số vàng”…, là những lợi thế lớn hiện nay. Nhưng chúng ta cũng đang đứng trước những thách thức không nhỏ, có thể làm chậm sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa, đó là: 1- Nhân tài và nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, vốn đòi hỏi tính sáng tạo cao, vừa thiếu, vừa yếu; 2- Hạ tầng kỹ thuật phát triển các ngành công nghiệp văn hóa vừa rất thiếu, vừa không đồng bộ, chất lượng thấp. Điều đáng lo ngại, cũng giống như các ngành công nghiệp khác của Việt Nam, chúng ta không nắm được công nghệ lõi nên tính phụ thuộc rất cao; 3- Sức cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp văn hóa không cao. Trong quá trình hội nhập quốc tế, với xuất phát điểm đi sau rất xa so với thế giới, chúng ta thậm chí có thể thua ngay trên “sân nhà”, chưa nói đến xuất khẩu để cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Trước những lợi thế và thách thức đó, cần tập trung vào các ngành công nghiệp văn hóa nào, phải chăng là: 1- Phát thanh, truyền hình và báo chí, để trước hết chiếm lĩnh được thị trường trong nước, là công cụ định hướng tư tưởng, dẫn dắt đạo đức và lối sống, chống xâm lăng văn hóa; đồng thời, kinh tế truyền thông cũng là ngành có tiềm năng mang lại doanh thu và lợi nhuận lớn. 2- Công nghiệp thể thao, nhất là bóng đá, vì đây là thị trường rất tiềm năng; 3- Điện ảnh, bảo đảm cho các loại hình phim chiếm lĩnh được phần lớn thị trường trong nước, đẩy dần phim nước ngoài xuống hàng thứ yếu; 4- Công nghiệp phần mềm và trò chơi giải trí, lĩnh vực này cần chú trọng vì chúng ta có nhiều khả năng và tiềm năng; 5- Du lịch khai thác các sản phẩm văn hóa, truyền thống lịch sử, các cơ sở tâm linh, gắn với cảnh quan, môi trường. Bên cạnh việc thu hút khách du lịch nước ngoài, cần chú trọng đến khách du lịch trong nước đang bắt đầu gia tăng; 6- Hàng thủ công, mỹ nghệ truyền thống và đương đại, đây cũng là lĩnh vực thế mạnh bởi sự khéo léo và sáng tạo của con người Việt Nam; 7- Nghệ thuật biểu diễn, nhất là nghệ thuật dân tộc kết hợp với nghệ thuật đương đại, nhưng không làm mất đi bản sắc dân tộc... Ngoài những lĩnh vực này, cần phát triển các lĩnh vực khác, như quảng cáo, kiến trúc, thiết kế…, là những lĩnh vực đòi hỏi tính sáng tạo cao, là cơ sở thay đổi và nâng cao tính văn hóa của các sản phẩm công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp và dịch vụ.

Để các ngành công nghiệp văn hóa phát triển trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, rõ ràng cần phải đi bằng “hai chân”, đó là thực hiện cơ chế thị trường hiện đại và vận hành đầy đủ theo các quy luật của thị trường, song không thể bỏ qua vai trò “bà đỡ” và quản lý của Nhà nước. Đây không phải là vấn đề mới, mà là ở chỗ vận dụng như thế nào trong điều kiện, hoàn cảnh, giai đoạn và lĩnh vực nào cho hợp lý. Có những lĩnh vực không nhà nước nào có thể buông, thả trôi theo cơ chế thị trường, nhất là lĩnh vực liên quan đến tư tưởng, văn hóa, bao gồm cả đạo đức và lối sống, định hướng dư luận. Có những lĩnh vực không thể chạy theo lợi nhuận một cách thuần túy, phải cân nhắc trên nhiều khía cạnh, đó là bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống, là bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, là bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Có những lĩnh vực Nhà nước cần khuyến khích, giúp đỡ trong việc đào tạo nguồn nhân lực và đầu tư kết cấu hạ tầng, như điện ảnh, thể thao (trừ bóng đá), nghệ thuật truyền thống..., nhưng có những lĩnh vực cần để cho cơ chế thị trường điều tiết là chủ yếu, như kiến trúc, thiết kế, phần mềm, bóng đá. Không chỉ công tác quản lý nhà nước, mà các chính sách cũng cần thay đổi theo từng giai đoạn cho phù hợp với sự phát triển.

Cũng cần nhấn mạnh rằng, xã hội tiêu dùng là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản, với luận điểm của nhiều nhà kinh tế học dựa trên quy luật cung - cầu, cho rằng khi nền kinh tế phát triển chậm lại hoặc tăng trưởng âm thì phải kích cầu tiêu dùng toàn xã hội. Thúc đẩy tiêu dùng luôn là “cây gậy thần”, là phương án lựa chọn của các chính phủ và giới tư bản, các nhà đầu tư.

Chúng ta thực hiện cơ chế thị trường một cách đầy đủ, nhưng cũng không nên để rơi vào cái bẫy của xã hội tiêu dùng, mà phải biết làm chủ nó, theo hướng phải thỏa mãn các nhu cầu vật chất, song cần hướng mạnh sang nhu cầu tinh thần, khi nhu cầu vật chất đã được bảo đảm. Để tạo lập được một xã hội phát triển hài hòa, một xã hội tri thức, không bị rơi vào xã hội tiêu dùng vật chất tầm thường, thì phát triển các ngành công nghiệp văn hóa sẽ giúp làm cân bằng hơn giữa nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Phải chăng đó cũng là một trong những mục tiêu của định hướng xã hội chủ nghĩa.

Một số giải pháp thời gian tới

Sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa rất cần sự vận hành theo cơ chế của kinh tế thị trường và cũng rất cần vai trò “bà đỡ” và quản lý của Nhà nước. Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa cũng là hướng đi và động lực tích cực để cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, cũng là công cụ cần nắm lấy để bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa. Để công nghiệp văn hóa phát triển trong cơ chế thị trường đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, cần có một số giải pháp cụ thể như sau:      

Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam với vai trò là lực lượng lãnh đạo xã hội, cần tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, nhất là đối với các ngành công nghiệp văn hóa, không thể coi sự phát triển của nó bình thường như mọi ngành kinh tế khác. Cần có nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị để cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng một cách toàn diện, có hệ thống các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng đối với sự phát triển của công nghiệp văn hóa trong giai đoạn mới. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực văn hóa nói chung và công nghiệp văn hóa nói riêng.

Hai là, bên cạnh cơ chế thị trường, với vai trò của “bà đỡ” và người quản lý, Nhà nước cần vào cuộc mạnh mẽ hơn nữa, tránh tình trạng “nắm chặt”, “buông lỏng”, hoặc “đánh đồng như nhau” trong các chính sách với các ngành, không phân biệt khi ban hành chính sách. Nên có quy hoạch, kế hoạch và chương trình đầu tư hỗ trợ cho những lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không tham gia hoặc không đủ sức tham gia. Duy trì độc quyền nhà nước đối với một số lĩnh vực quan trọng, thiết yếu trong công nghiệp văn hóa. Chính sách cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực văn hóa cần hết sức thận trọng. Việc cổ phần hóa Hãng Phim truyện Việt Nam là một kinh nghiệm cho ngành điện ảnh Việt Nam. Thúc đẩy mô hình hợp tác công - tư trong quá trình phát triển các ngành công nghiệp văn hóa. Thực hiện các chính sách về đất đai, thuế, giá, Nhà nước đặt hàng... để khuyến khích công nghiệp văn hóa phát triển.

Hỗ trợ đào tạo nhân tài trên một số ngành, lĩnh vực còn yếu và thiếu, mà tư nhân và các thành phần kinh tế khác không tham gia, đi đôi với đó là có chính sách ưu đãi nhân tài. Cần đổi mới cách hiểu, nhân tài là người có phát minh, có nguyên tác, có sáng kiến, có ý tưởng, có đóng góp đem lại hiệu quả cao trên từng lĩnh vực. Phải dựa trên hiệu quả công việc, chứ không chỉ dựa trên bằng cấp, tuổi tác, thâm niên làm việc, đồng thời chính sách ưu đãi không phải là vĩnh viễn, mà có thời hạn phù hợp với hiệu quả đóng góp. Giải pháp hàng đầu mang tính lâu dài và quan trọng nhất là cần thực sự đổi mới căn bản và toàn diện hệ thống giáo dục và đào tạo, tập trung theo ba nhóm phổ thông, nhân lực và nhân tài, theo hướng rút ngắn thời gian và cung cấp những kiến thức phổ thông cho công dân, phân luồng mạnh để đào tạo nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao, ở cấp độ cao tập trung bồi dưỡng nhân tài. Đây là nguồn tài nguyên quan trọng cho nền kinh tế nói chung và công nghiệp văn hóa nói riêng. Đó cũng là kế sách chấn hưng đất nước về văn hóa.

Ba là, để các ngành công nghiệp văn hóa phát triển, rất cần hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, mà trước hết là tạo địa vị pháp lý cho các ngành công nghiệp văn hóa. Thực tế vẫn còn khoảng cách giữa luật pháp và thực tiễn cuộc sống, nhiều khoảng trống pháp lý chưa được pháp luật điều chỉnh, nhất là trong bối cảnh thực hiện chuyển đổi số. Một số ngành công nghiệp văn hóa đã xuất hiện khái niệm, cách làm hoàn toàn mới dựa trên nền tảng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây (eCloud) và dữ liệu lớn (Big Data). Do vậy, trên cơ sở chủ trương, đường lối của Đảng, Quốc hội và Chính phủ cần rà soát, xây dựng, hoàn thiện và bổ sung hệ thống pháp luật có liên quan, tạo môi trường pháp lý cho các ngành công nghiệp văn hóa phát triển, đồng thời bảo đảm an ninh văn hóa, nhất là khi chúng ta đã mở cửa gần như hoàn toàn nhiều lĩnh vực văn hóa cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia thị trường, đa phần trên không gian mạng.

Bốn là, tiếp tục động viên, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư, phát triển công nghiệp văn hóa đối với ngành, lĩnh vực pháp luật không cấm hoặc kinh doanh có điều kiện. Bảo đảm quy hoạch và kế hoạch phát triển trong từng thời kỳ. Định hướng, tuyên truyền và vận động các tầng lớp nhân dân nâng cao nhu cầu hưởng thụ văn hóa lành mạnh, tinh hoa của nhân loại, truyền thống văn hóa dân tộc. Bài trừ văn hóa lai căng, độc hại, đi ngược với thuần phong, mỹ tục của dân tộc và văn hóa nhân loại. Kết nối tốt hơn nữa giữa cung và cầu, giữa doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, với các nhân tài là các nhà khoa học, nhà văn hóa, văn nghệ sĩ, nghệ nhân và người hưởng thụ văn hóa là các tầng lớp nhân dân trong phát triển công nghiệp văn hóa.

Năm là, tăng cường hợp tác quốc tế về văn hóa, tiếp thu có chọn lọc văn hóa nước ngoài cũng như quảng bá văn hóa Việt Nam ra trường quốc tế, nhất là các sản phẩm văn hóa mà Việt Nam có thế mạnh, được bạn bè quốc tế đánh giá cao. Nhà nước cần hỗ trợ học bổng cho sinh viên, những nhân tài của Việt Nam đi học tập, tu nghiệp, huấn luyện nâng cao ở nước ngoài đối với một số lĩnh vực nghệ thuật, thiết kế, kiến trúc... mà chúng ta đang thiếu, yếu trong ngành công nghiệp văn hóa nhưng các thành phần kinh tế khác không tham gia, nhằm tạo lực lượng nòng cốt để trở về đào tạo cho nguồn nhân lực trong nước, đáp ứng yêu cầu phát triển của công nghiệp văn hóa.

Với những lợi thế, tiềm năng sẵn có, cùng với những chính sách đúng đắn, chúng ta hoàn toàn tin tưởng, đến năm 2045, công nghiệp văn hóa sẽ là ngành kinh tế phát triển mạnh mẽ và có hiệu quả, đem lại ít nhất 10% GDP cho Việt Nam như kỳ vọng./.

 

Gác bút nghiên tình nguyện nhập ngũ


          Nguyễn Trường Đại sinh năm 2003, ở thôn Tân Thành, xã Bình Dương (thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh), là sinh viên năm thứ nhất ngành công nghệ thông tin, Trường Đại học Sao Đỏ (Hải Dương), thuộc diện được tạm hoãn thực hiện nghĩa vụ quân sự.

          Thế nhưng với lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ, Đại đã xin bảo lưu kết quả học tập để tình nguyện nhập ngũ và được sự ủng hộ, động viên của gia đình. Trong lá đơn xin tham gia nghĩa vụ quân sự tự nguyện, Nguyễn Trường Đại viết: “Mặc dù được sinh ra và lớn lên trong hòa bình, đất nước không còn chiến tranh nhưng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc là vô cùng thiêng liêng và cao cả đối với những thanh niên như chúng tôi. Vì vậy, tôi rất mong muốn được đóng góp sức trẻ, được thực hiện trách nhiệm của một công dân với Tổ quốc”...

          Vinh dự nhận giấy khen từ lãnh đạo địa phương trao tặng, Đại chia sẻ: “Được trở thành anh Bộ đội Cụ Hồ góp phần bảo vệ quê hương, đất nước là ước mơ của em từ nhỏ. Môi trường quân đội sẽ rất thuận lợi để em rèn luyện và trưởng thành"...


Nguyễn Trường Đại (thứ hai, từ trái sang) nhận giấy khen của UBND thị xã Đông Triều.

          Khi Nguyễn Trường Đại quyết định bảo lưu kết quả học đại học để nhập ngũ, gia đình khá bất ngờ, nhưng sau khi nghe con trai chia sẻ lý do, bố mẹ Đại đều ủng hộ. Bà Trịnh Thị Lương, mẹ của Đại tâm sự: “Thanh niên cần phải xung kích, rèn luyện để sau này tự lập và vững bước khi ra ngoài xã hội. Môi trường quân đội với kỷ luật nghiêm, được rèn luyện về mọi mặt sẽ là hành trang giúp các thanh niên trưởng thành. Vì vậy, khi biết con trai viết đơn tình nguyện nhập ngũ, gia đình tôi rất tự hào và ủng hộ”.

          Anh Nguyễn Đình Thắng, Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thị xã Đông Triều cho biết: “Ngay sau khi hội đồng nghĩa vụ quân sự thị xã triển khai kế hoạch tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ năm 2022, Ban Thường vụ Thị đoàn Đông Triều đã phát động Phong trào “Thanh niên viết đơn tình nguyện nhập ngũ” và nhận được sự hưởng ứng của nhiều thanh niên, trong đó có Nguyễn Trường Đại xung phong nhập ngũ khi đang là sinh viên”.

          Giờ đây, ước mơ được học tập, rèn luyện trong môi trường quân đội của Nguyễn Trường Đại và nhiều thanh niên ở thị xã Đông Triều đã thành hiện thực. Chúng tôi tin rằng, với suy nghĩ chín chắn, tinh thần nhiệt huyết của tuổi trẻ, những chiến sĩ mới như Nguyễn Trường Đại sẽ tiếp tục rèn luyện, cống hiến và trưởng thành, phát huy sức trẻ góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc và tự tin lập thân, lập nghiệp sau này.

Hồ đồ cái gọi là bản phúc trình “Nhốt chúng tôi ở trong nhà”


          Cái gọi là bản phúc trình “Nhốt chúng tôi ở trong nhà: Hạn chế tự do đi lại của các nhà hoạt động nhân quyền ở Việt Nam” thực chất là tổng hợp các nội dung mà HRW xuyên tạc về tình hình Việt Nam trong thời gian năm 2004 đến năm 2022.

Phúc trình được công bố đi kèm với những phát ngôn hồ đồ của Phil Robertson.

          Trong đó, tập trung vào việc vu cáo, xuyên tạc rằng Việt Nam đang hạn chế quyền tự do đi lại và các quyền cơ bản khác của các "nhà hoạt động", những người bất đồng chính kiến, người "bảo vệ nhân quyền".

          Bản phúc trình dài 66 trang, được công bố cùng với những phát biểu hồ đồ và áp đặt của ông Phil Robertson, Phó giám đốc Ban Á châu của HRW: “Chính quyền Việt Nam đàn áp một cách có hệ thống các quyền dân sự và chính trị, khiến các nhà hoạt động và các nhà bất đồng chính kiến luôn phải đối mặt với rủi ro thường trực... “Nhà cầm quyền áp dụng các chiến thuật lạm dụng nhân quyền như quản chế các nhà hoạt động tại gia vô thời hạn, câu lưu khi họ rời khỏi nhà, và cấm xuất cảnh trên cơ sở các lý do an ninh quốc gia ngụy tạo.”

Bản phúc trình còn xuyên tạc trắng trợn: “Nhà cầm quyền đã áp dụng nhiều phương pháp để kiềm tỏa người dân tại gia, như cử các nhân viên an ninh mặc thường phục đóng chốt ngoài tư gia, khóa cửa ra vào của người bất đồng chính kiến bằng khóa ổ, thậm chí đổ keo đa năng vào các ổ khóa, dựng rào chắn và các chướng ngại vật, và huy động côn đồ địa phương đe dọa người dân.”

          Để chứng minh cho những luận điệu vớ vẩn, áp đặt trên, HRW nêu lại các sự kiện quấy rối của các tay sai đắc lực trong quá trình chống phá đất nước ta như: Phạm Chí Thành, Phạm Đoan Trang, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Thúy Hạnh, Phạm Văn Điệp, Nguyễn Tường Thụy.

          Đây là những đối tượng thường xuyên làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các đối tượng này đã bị bắt và đang phải ngồi tù vì nhiều tội danh liên quan đến việc chống lại lợi ích dân tộc Việt Nam. HRW tuyên bố có hơn 170 nhà hoạt động, blogger và nhà bất đồng chính kiến, cùng với người thân của họ được đưa vào bản phúc trình.

MỘT BẢN ÁN XỨNG ĐÁNG CHO KẺ XÚC PHẠM QUỐC KỲ

Trong mấy ngày qua sau “Tết con Hổ” (Nhâm dần), trên mạng đăng tải thông tin về kẻ xúc phạm Quốc kỳ bị phạt tù. Nội dung thông tin này là: “Sau gần 3 năm được tạm hoãn thi hành án vì đang có thai và nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, bị cáo Huỳnh Thục Vy (HTV) nay buộc phải chấp hành thi hành án phạt tù 2 năm 9 tháng về tội “xúc phạm Quốc kỳ”. Mấy nhà “Dân chủ Nhân quyền” dởm thì cho rằng… bản án quá nặng và vô nhân đạo (khi người mang án lại là một người đang nuối con nhỏ…; Nên tha bổng mới phải). Tác giả thì cho rằng… đây là một bản án còn nhẹ… vì HTV đã có tiền án, không loại trừ HTV đang test xem chính quyền có dám đụng đến Y hay không và phương Tây sẽ phản ứng ra sao.

Theo thông tin này thì: Ngày 01/12, thông tin từ TAND thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk cho biết: ”Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thị xã Buôn Hồ tổ chức thi hành Quyết định thi hành án phạt tù đối với bị cáo HTV (36 tuổi, trú tại tổ dân phố Hợp Thành 2, phường Thống Nhất, thị xã Buôn Hồ)…

Trước đó vào chiều 30/11/2018, TAND thị xã Buôn Hồ đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm và tuyên phạt HTV: 2 năm 9 tháng tù về tội “xúc phạm Quốc kỳ” theo quy định tại Điều 276 (Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009) và theo Điều 276 (Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Theo cáo trạng: Do coi thường pháp luật, vào lúc 11h ngày 1/9/2017, tại tổ dân phố Tân Hà 2, phường Thống Nhất, thị xã Buôn Hồ, Huỳnh Thục Vy điều khiển xe máy mang BKS 59T1.226.00 lưu thông trên đường Hồ Chí Minh. Khi đến trước số nhà 1222 đường Hùng Vương, phường Thống Nhất, thị xã Buôn Hồ, HTV một tay cầm lá cờ Tổ quốc, một tay dùng bình sơn mini (màu trắng) xịt lên chính giữa ngôi sao của 2 lá cờ Tổ quốc do UBND phường Thống Nhất, thị xã Buôn Hồ cắm trước số nhà 1222 và 1224 nhân Kỷ niệm 72 năm Ngày Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Sau khi xịt sơn, Vy lấy điện thoại di động chụp hình Vy cùng 2 lá cờ rồi điều khiển xe máy về nhà. Trên đường đi về, Vy đã vứt bỏ bình sơn vào thùng rác bên đường.

Đến khoảng 12h16 cùng ngày, Vy đăng hình ảnh chụp với 2 lá cờ Tổ quốc bị xịt sơn lên mạng xã hội Facebook và ghi nội dung “Phản đối lễ lạc bằng cờ đỏ sơn trắng”. Ngày 03/9/2017, Công an phường Thống Nhất, thị xã Buôn Hồ phát hiện 2 lá cờ Tổ quốc cắm trước số nhà 1222 và 1224, đường Hùng Vương, phường Thống Nhất, thị xã Buôn Hồ bị dính nhiều chất màu trắng ở phần ngôi sao nên đã lập biên bản tạm giữ và bàn giao cho Công an thị xã Buôn Hồ điều tra, xử lý theo thẩm quyền.

Theo cáo trạng, HTV từng có một tiền sự, về hành vi “Cung cấp, trao đổi, tuyên truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số để chống Nhà nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”. Tuy nhiên, bị can vẫn chưa chịu chấp hành hình phạt này. Bình luận về thông tin trên nhiều tài khoản đã bức xúc viết:

1- Bản án cho HTV còn nhẹ… Lá cờ Tổ quốc là biểu tượng thiêng liêng,… đã có không biết bao nhiêu đồng bào chiến sỹ hy sinh cho Độc lập tự do của Tổ quốc- mà lá cờ đó là biểu tượng tập trung nhất;

2- Có người thì cho rằng: Lá cờ đó đã sánh vai với gần 200 lá cờ của các quốc gia tại Liên hợp quốc;

3- Tác giả bài viết này thì nhớ lại: Lá cờ đỏ sao vàng đã từng nhuốm máu chiến sỹ bảo vệ đảo Gạc Ma chống quân xâm lược Trung quốc, 1988… Và bản án cho HTV - kẻ ngu dốt, điên khùng,… là nhân văn. HTV bôi bẩn lá cờ không giống như trẻ nhỏ vô ý thức mà có ý thức rõ ràng... Bởi vậy có thể nói: Bản án giành cho HTV là cần thiết, nhân văn để cho Y tỉnh lại, làm người, làm một công dân!
---------------------
PT-TG. st


"TỔ CHỨC BẤT HỢP PHÁP DƯƠNG VĂN MÌNH" - TỔ CHỨC CÓ YẾU TỐ CỰC ĐOAN, MANG ĐẬM MÀU SẮC CHÍNH TRỊ CẦN PHẢI DẸP BỎ

Tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình” do Dương Văn Mình (SN 1961) còn có tên gọi khác Dương Súng Mình, Giàng Sống Minh, nguyên quán ở xã Thượng Thôn, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng thành lập. Trước khi chết (cuối năm 2021), đối tượng sinh sống ở tại xã Yên Lâm, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. “Tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình” bắt đầu xuất hiện ở huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, sau đó lan nhanh ra các tỉnh miền núi phía Bắc như: Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lào Cai.

“Tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình” không có giáo lý căn bản của một tôn giáo chính thống nào, chỉ là sự vay mượn nội dung Kinh Thánh của đạo Kitô giáo và pha trộn yếu tố mê tín để lôi kéo mọi người tin theo. Các đối tượng tuyên tuyền Chúa Giesu đã nhập vào người Dương Văn Mình nên sẽ cúng cho mọi người khỏi bệnh chỉ bằng điếu thuốc lá, không cần cúng trâu, bò, lợn, gà, ai muốn cúng phải bỏ ma, tín ngưỡng truyền thống.

Dương Văn Mình đưa ra “12 quy định” dựa trên kinh thánh của đạo Kitô giáo, sau đó về số 2 Ngõ Trạm để đăng ký trở thành một hệ phái Tin lành Việt Nam miền Bắc, tuy nhiên đã bị từ chối. Nhìn vào các “giáo lý” đối tượng tuyên truyền có thể thấy rõ những điều phi lý và nhảm nhí. Cụ thể, các đối tượng tuyên truyền rằng: “Năm 2000 trái đất sẽ nổ tung, con người sẽ chết hết, ai theo Dương Văn Mình sẽ được chúa Giê Su đón lên trời sống sung sướng, không làm cũng có ăn, không học cũng biết chữ; người chết sẽ sống lại, người già sẽ lột xác trẻ lại, người trẻ trẻ mãi không già, ốm đau sẽ tự khỏi bệnh. Người Mông sẽ có tổ quốc riêng...”

Tổ chức này đồng thời đã thành lập khung tổ chức chặt chẽ, đứng đầu là Dương Văn Mình, tuyển chọn các đối tượng cốt cán lập các nhóm chân rết ở các địa phương để sử dụng trong việc truyền đạo và bảo vệ Dương Văn Mình. Dương Văn Mình hướng dẫn mọi người cách cúng mới bằng cách dỡ bỏ bàn thờ truyền thống, dùng thuốc lá, tổ chức lễ gọi vía, cầu hồn cho mọi người khỏi ốm đau. Về hình thức, ai muốn được cúng thì phải bỏ ma, bỏ tín ngưỡng truyền thống. Người đến lễ phải mang chè, thuốc lá, tiền đến nộp cho Dương Văn Mình. Chủ nhật hàng tuần có từ 30-50 người tập trung tại nhà của đối tượng cốt cán để sinh hoạt, múa hát văn nghệ. Các đối tượng thường hoạt động bí mật nhằm tránh sự phát hiện, quản lý của các cơ quan chức năng hoặc hoạt động công khai nhưng dưới nhiều danh nghĩa khác để che giấu bản chất hoạt động tuyên truyền tà đạo, lợi dụng sơ hở của pháp luật và các cơ quan quản lý nhà nước yếu tố cực đoan để tuyên truyền, lợi dụng những địa bàn gặp khó khăn, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, bế tắc trong cuộc sống để lôi kéo, hoạt động có yếu tố cực đoan, chia rẽ đoàn kết dân tộc. “Tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình” còn có kế hoạch tổ chức Tết chung vào hằng năm và móc nối với các cá nhân bên ngoài, quyên góp tiền để tổ chức các hoạt động.

Với những phân tích ở trên có thể khẳng định “Tín ngưỡng Dương Văn Mình” thực chất là một tà đạo, hoạt động không theo một tôn giáo chính thống nào, thực chất là một thứ hổ lốn. Nhà nước Việt Nam tôn trọng quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo của người dân, song cũng nghiêm cấm hành vi lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Vì thế, mỗi người dân cần phải cảnh giác và tỉnh táo để không bị lôi kéo tham gia vào các hoạt động tôn giáo để chống Đảng, Nhà nước và vi phạm pháp luật./.
---------
PV-TG.st






HÒA BÌNH THẾ GIỚI KHÔNG THỂ THIẾU ĐÓNG GÓP CỦA VIỆT NAM

Là thành viên tích cực và có trách nhiệm của Hội đồng Bảo an LHQ, từ năm 2014 Việt Nam đã điều quan tham gia Lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ. Kể từ đó, Việt Nam luôn có các đóng góp tích cực trong lĩnh vực này.

Đặc biệt, việc Việt Nam tham gia hoạt động của Bệnh viện dã chiến cấp 2 của Liên hợp quốc tại Nam Sudan là một điểm sáng trong công tác gìn giữ hòa bình. Các chiến sĩ và đội ngũ y bác sĩ Việt Nam tại Bệnh viện dã chiến cấp 2 tại Nam Sudan đã cứu chữa và giúp đỡ người dân địa phương, để lại hình ảnh đẹp của những "người lính mũ nồi xanh Cụ Hồ".

Tính tới nay, Việt Nam đã đóng góp 75 binh sĩ (trong đó có 16 binh sĩ nữ) và đứng thứ 62 trong các nước thành viên Liên hợp quốc về số lượng binh sĩ tham gia Lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.

Theo dự kiến, Việt Nam cũng cam kết sẽ sớm cử quân tham gia làm nhiệm vụ trong Lực lượng an ninh lâm thời của LHQ tại Abyei, khu vực có tranh chấp giữa Sudan và Nam Sudan.

"Chuyên nghiệp, sự tận tụy, nỗ lực, hy sinh"

Đây là đánh giá của ông Lacroix về phẩm chất của các binh sĩ Việt Nam đang làm nhiệm vụ tại phái bộ của LHQ ở Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi. Bất chấp tất cả khó khăn, những người lính mũ nồi xanh của Việt Nam vẫn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Sự hy sinh của trung tá Đỗ Anh trong khi đang làm nhiệm vụ ở phái bộ Liên hợp quốc tại Cộng hòa Trung Phi vào đầu năm 2022 là tổn thất đối với lực lượng GGHB của Việt Nam nói riêng và của phái bộ GGHB LHQ nói chung. Sự ra đi của anh luôn được cả thế giới khắc ghi.

Ông Lacroix cũng đánh giá cao nỗ lực của các y, bác sĩ quân y của Việt Nam trong công tác khám, chữa bệnh, nâng cao nghiệp vụ thông qua các hội thảo nâng cao nhận thức về các vấn đề lớn như đại dịch COVID-19, HIV/AIDS và bạo lực giới tại địa bàn.

Những đóng góp của Việt Nam đều được tôn vinh và tri ân nhân dịp Liên hợp quốc phát động chương trình truyền thông quốc tế với chủ đề "Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc - Sứ mệnh và sự hy sinh".
---------------------
PT-TG. st


VIỆT NAM CÓ NHIỀU ĐÓNG GÓP TÍCH CỰC HOẠT ĐỘNG GÌN GIỮ HÒA BÌNH

 

Phó Tổng Thư ký Liên hợp quốc phụ trách các hoạt động hòa bình Jean-Pierre Lacroix cảm ơn Việt Nam về sự ủng hộ mạnh mẽ đối với các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, cũng như những đóng góp của Việt Nam về nhân sự cho Liên hợp quốc.

Theo TTXVN, ông Lacroix nhấn mạnh, Việt Nam đã gửi binh sĩ tham gia Lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc từ năm 2014 và kể từ đó, luôn có nhiều đóng góp tích cực trong hoạt động này.

Việt Nam lần đầu triển khai bệnh viện dã chiến cấp 2 cho Phái bộ Liên hợp quốc tại Nam Sudan (UNMISS) vào tháng 10/2018. Tính tới nay, Việt Nam đã đóng góp 75 binh sĩ (trong đó có 16 binh sĩ nữ) và đứng thứ 62 trong các nước thành viên Liên hợp quốc về số lượng binh sĩ tham gia Lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Các binh sĩ Việt Nam đang làm nhiệm vụ tại phái bộ của Liên hợp quốc ở Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi. Việt Nam cũng cam kết sẽ sớm cử quân tham gia Lực lượng an ninh lâm thời của Liên hợp quốc tại Abyei, khu vực có tranh chấp giữa Sudan và Nam Sudan.

Phó Tổng Thư ký Lacroix đánh giá bệnh viện dã chiến cấp 2 của Việt Nam tại Nam Sudan đã đóng vai trò quan trọng trong sự thành công chung của phái bộ Liên hợp quốc tại quốc gia châu Phi này, bảo đảm sức khỏe và điều kiện y tế cho nhân viên, binh sĩ gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, nhất là trong thời kỳ đại dịch Covid-19 hoành hành. Bên cạnh việc khám, chữa bệnh, các bác sĩ quân y của Việt Nam còn tổ chức các hội thảo nâng cao nhận thức về các vấn đề lớn như đại dịch Covid-19, HIV/AIDS và bạo lực giới tại địa bàn.

Ông Lacroix đánh giá cao tính chuyên nghiệp, sự tận tụy, nỗ lực, hy sinh của các binh sĩ Việt Nam khi phải thực hiện nhiệm vụ trong những môi trường khó khăn, đồng thời bày tỏ tiếc thương Trung tá Đỗ Anh, người đã hy sinh đầu năm nay khi đang làm nhiệm vụ ở Phái bộ Liên hợp quốc tại Cộng hòa Trung Phi. Phó Tổng Thư ký Lacroix đưa ra những đánh giá về Việt Nam nhân dịp Liên hợp quốc phát động chương trình truyền thông quốc tế với chủ đề "Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc-Sứ mệnh và sự hy sinh" nhằm tôn vinh và tri ân các nước đã cử quân tham gia Lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc trong những năm qua.

Việt Nam cũng là nước đã tán thành sáng kiến Hành động vì gìn giữ hòa bình (A4P) của Tổng Thư ký Liên hợp quốc với mục tiêu tập trung hoạt động gìn giữ hòa bình vào các nhiệm vụ mang tính mục tiêu, thực thi các hoạt động mạnh mẽ hơn nhưng vẫn bảo đảm an toàn cho các binh sĩ, đồng thời vận động ủng hộ các giải pháp chính trị cũng như thành lập các lực lượng được huấn luyện và trang bị tốt hơn tại các quốc gia liên quan./.

“Và bất kỳ làm công việc gì, ở địa vị nào mà làm tròn nhiệm vụ đều là vẻ vang, đều là anh hùng”!

 

Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được trích trong bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Lạng Sơn, ngày 23 tháng 2 năm 1960, khi mà công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của Nhân dân ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, chúng ta chuẩn bị bước vào Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, Bác đã dành thời gian đi thăm và nói chuyện đồng bào và cán bộ tỉnh Lạng Sơn.

Lời căn dặn trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý rất lớn lao không chỉ động viên, khích lệ tinh thần hăng say lao động, xây dựng nước nhà to đẹp hơn, đàng hoàng hơn mà còn nhắc nhở mọi người dù ở cương vị nào, cán bộ, công nhân, nông dân, trí thức hay lao động chân tay, dù làm bất kỳ công việc gì thì cũng đều phải tận tâm, tận lực phấn đấu thực hiện cho tốt, dù khó khăn đến đâu cũng phải làm cho kỳ được. Nếu thành công thì đều là vẻ vang, đều xứng danh anh hùng, đều được Nhân dân thừa nhận.

Ngày nay, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang ra sức xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam chủ nghĩa xã hội, là sự nghiệp rất khó khăn, lâu dài, do đó lời dạy “Và bất kỳ làm công việc gì, ở địa vị nào mà làm tròn nhiệm vụ đều là vẻ vang, đều là anh hùng” vẫn còn giữ nguyên giá trị, lời dạy của Bác, đã và đang là tư tưởng chỉ đạo, phương châm hành động cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đẩy mạng sự nghiệp đổi mới, sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam, dù làm việc gì, ở bất cứ cương vị nào cũng phải không ngừng cố gắng vươn lên, phát huy tốt tinh thần trách nhiệm, khắc phục mọi khó khăn gian khổ để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ theo cương vị chức trách, xứng đáng với lòng tin của Nhân dân, được Nhân dân thừa nhận thì đó là vẻ vang, là anh hùng, góp phần tô thắm thêm truyền thống vẻ vang “Trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng./.