Như chúng ta
đã biết, CNXH thường được hiểu với ba tư cách: CNXH là một học thuyết; CNXH là
một phong trào; CNXH là một chế độ. Mỗi tư cách ấy lại có nhiều biểu hiện khác
nhau, tùy theo thế giới quan và trình độ phát triển ở mỗi giai đoạn lịch sử cụ
thể. CNXH đề cập ở đây là CNXH khoa học dựa trên học thuyết Mác - Lênin trong
thời đại ngày nay. Vậy thì chúng ta phải định hình CNXH thế nào và định hướng
đi lên CNXH thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh, đặc điểm cụ thể ở Việt Nam? Trước
đây, khi còn Liên Xô và hệ thống các nước XHCN thế giới thì vấn đề đi lên CNXH ở
Việt Nam dường như không có gì phải bàn, nó mặc nhiên coi như đã được khẳng định.
Nhưng từ sau khi mô hình CNXH ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng
thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên CNXH lại được đặt ra và trở thành
tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt. Các thế lực chống
cộng, cơ hội chính trị thì hí hửng, vui mừng, thừa cơ dấn tới để xuyên tạc, chống
phá. Trong hàng ngũ cách mạng cũng có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính
đúng đắn, khoa học của CNXH, quy kết nguyên nhân tan rã của Liên Xô và một số
nước XHCN Đông Âu là do sai lầm của chủ nghĩa Mác - Lênin và sự lựa chọn con đường
xây dựng CNXH. Từ đó họ cho rằng chúng ta đã chọn đường sai, cần phải đi con đường
khác. Có người còn phụ họa với các luận điệu thù địch, công kích, bài bác CNXH,
ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản. Thậm chí có người còn sám hối về một thời
đã tin theo chủ nghĩa Mác - Lênin và con đường XHCN! Thực tế có phải như vậy
không? Thực tế có phải hiện nay chủ nghĩa tư bản, kể cả những nước tư bản chủ
nghĩa già đời vẫn đang phát triển tốt đẹp không? Có phải Việt Nam chúng ta đã
chọn con đường đi sai không? Chúng ta thừa nhận rằng chủ nghĩa tư bản chưa bao
giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn,
nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học
- công nghệ. Nhiều nước tư bản phát triển, trên cơ sở các điều kiện kinh tế cao
và do kết quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đã có những
biện pháp điều chỉnh, hình thành được không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến
bộ hơn so với trước. Từ giữa thập kỷ 70 và nhất là từ sau khi Liên Xô tan rã, để
thích ứng với điều kiện mới, chủ nghĩa tư bản thế giới đã ra sức tự điều chỉnh,
thúc đẩy các chính sách "tự do mới" trên quy mô toàn cầu; và nhờ đó
hiện vẫn còn tiềm năng phát triển. Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc
phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó. Các cuộc khủng hoảng vẫn tiếp tục
diễn ra. Đặc biệt là năm 2008-2009, chúng ta đã chứng kiến cuộc khủng hoảng tài
chính, suy thoái kinh tế bắt đầu từ nước Mỹ, nhanh chóng lan rộng ra các trung
tâm tư bản chủ nghĩa khác và tác động đến hầu hết các nước trên thế giới. Các
nhà nước, các chính phủ tư sản ở Phương Tây đã bơm những lượng tiền khổng lồ để
cứu các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia, các tổ hợp công nghiệp, tài chính, ngân
hàng, thị trường chứng khoán, nhưng không mấy thành công. Và hôm nay, chúng ta
lại chứng kiến cuộc khủng hoảng nhiều mặt, cả về y tế, xã hội lẫn chính trị,
kinh tế đang diễn ra dưới tác động của đại dịch Covid-19 và cuộc Cách mạng công
nghiệp lần thứ tư. Kinh tế suy thoái đã làm phơi bày sự thật của những bất công
xã hội trong các xã hội tư bản chủ nghĩa: đời sống của đa số dân cư lao động bị
giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng; khoảng cách giàu - nghèo ngày càng
lớn, làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột giữa các sắc tộc. Những tình
huống "phát triển xấu", những nghịch lý "phản phát triển",
từ địa hạt kinh tế - tài chính đã tràn sang lĩnh vực xã hội, làm bùng nổ các
xung đột xã hội, và ở không ít nơi từ tình huống kinh tế đã trở thành tình huống
chính trị với các làn sóng biểu tình, bãi công, làm rung chuyển cả thể chế. Sự
thật cho thấy, bản thân thị trường tự do của chủ nghĩa tư bản không thể giúp giải
quyết được những khó khăn, và trong nhiều trường hợp còn gây ra những tổn hại
nghiêm trọng cho các nước nghèo; làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa lao động và tư
bản toàn cầu. Sự thật đó cũng làm phá sản những lý thuyết kinh tế hay mô hình
phát triển vốn xưa nay được coi là thời thượng, được không ít các chính khách
tư sản ca ngợi, được các chuyên gia của họ coi là tối ưu, hợp lý. Cùng với khủng
hoảng kinh tế - tài chính là khủng hoảng năng lượng, lương thực, sự cạn kiệt của
các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái của môi trường sinh thái,...
đang đặt ra những thách thức vô cùng lớn cho sự tồn tại và phát triển của nhân
loại. Đó là hậu quả của một quá trình phát triển kinh tế - xã hội lấy lợi nhuận
làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng
tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội. Đó cũng
chính là những đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và tiêu dùng tư bản
chủ nghĩa. Các cuộc khủng hoảng đang diễn ra một lần nữa chứng minh tính không
bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái của nó. Theo nhiều nhà
khoa học phân tích, các cuộc khủng hoảng hiện nay không thể giải quyết được một
cách triệt để trong khuôn khổ của chế độ tư bản chủ nghĩa. Các phong trào phản
kháng xã hội bùng nổ mạnh mẽ tại nhiều nước tư bản phát triển trong thời gian
qua càng làm bộc lộ rõ sự thật về bản chất của các thể chế chính trị tư bản chủ
nghĩa. Thực tế là các thiết chế dân chủ theo công thức "dân chủ tự
do" mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không hề bảo đảm
để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân - yếu tố bản
chất nhất của dân chủ. Hệ thống quyền lực đó vẫn chủ yếu thuộc về thiểu số giàu
có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. Một bộ phận rất nhỏ, thậm
chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất,
kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại
chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội. Đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn
đến phong trào "99 chống lại 1" diễn ra ở Mỹ đầu năm 2011 và nhanh
chóng lan rộng ở nhiều nước tư bản. Sự rêu rao bình đẳng về quyền nhưng không
kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ
vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất. Trong đời sống chính trị,
một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn
át. Vì vậy mà tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là
"tự do", "dân chủ" dù có thể thay đổi chính phủ nhưng không
thể thay đổi được các thế lực thống trị; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế
vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản. Chúng ta cần một xã hội mà trong
đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột
và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi
với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo
và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn
nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất
công, "cá lớn nuốt cá bé" vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và
các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo
đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không
phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy
hoại môi trường. Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự
thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải
chỉ cho một thiểu số giàu có. Phải chăng những mong ước tốt đẹp đó chính là những
giá trị đích thực của CNXH và cũng chính là mục tiêu, là con đường mà Chủ tịch
Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn và đang kiên định, kiên trì
theo đuổi./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét