Công cuộc đổi
mới, trong đó có việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã thực
sự đem lại những thay đổi to lớn, rất tốt đẹp cho đất nước trong 35 năm qua. Trước
Đổi mới (năm 1986), Việt Nam vốn là một nước nghèo lại bị chiến tranh tàn phá rất
nặng nề, để lại những hậu quả hết sức to lớn cả về người, về của và môi trường
sinh thái. Tôi chỉ nêu thí dụ, cho đến nay vẫn có hàng triệu người chịu các bệnh
hiểm nghèo và hàng trăm ngàn trẻ em bị dị tật bẩm sinh bởi tác động của chất độc
da cam/dioxin do quân đội Mỹ sử dụng trong thời gian chiến tranh ở Việt Nam. Theo
các chuyên gia, phải mất đến hơn 100 năm nữa Việt Nam mới có thể dọn sạch hết
bom mìn còn sót lại sau chiến tranh. Sau chiến tranh, Mỹ và phương Tây đã áp đặt
cấm vận kinh tế với Việt Nam trong suốt gần 20 năm. Tình hình khu vực và quốc tế
cũng diễn biến phức tạp, gây nhiều bất lợi cho chúng ta. Lương thực, hàng hóa
nhu yếu phẩm hết sức thiếu thốn, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, khoảng 3/4
dân số sống dưới mức nghèo khổ. Nhờ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế bắt
đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt 35 năm
qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy mô GDP không ngừng được
mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỉ USD, trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong
ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD; Việt
Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Từ một nước bị thiếu
lương thực triền miên, đến nay Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh
lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng
hàng đầu thế giới. Công nghiệp phát triển khá nhanh, tỉ trọng công nghiệp và dịch
vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 85% GDP. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu
tăng mạnh, năm 2020 đạt trên 540 tỉ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên
280 tỉ USD. Dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt 100 tỉ USD vào năm 2020. Đầu tư nước
ngoài tăng nhanh, đăng ký đạt gần 395 tỉ USD vào cuối năm 2020. Về cơ cấu nền
kinh tế xét trên phương diện quan hệ sở hữu, tổng sản phẩm quốc nội của Việt
Nam hiện nay gồm khoảng 27% từ kinh tế nhà nước, 4% từ kinh tế tập thể, 30% từ
kinh tế hộ, 10% từ kinh tế tư nhân trong nước và 20% từ khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài. Hiện dân số của Việt Nam là hơn 97 triệu người, gồm 54 dân tộc anh
em, trong đó hơn 60% số dân sống ở nông thôn. Phát triển kinh tế đã giúp đất nước
thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội những năm 80 và cải thiện
đáng kể đời sống của nhân dân. Tỉ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng
1,5%; giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính
phủ và dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước). Đến
nay, hơn 60% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; hầu hết các xã nông thôn đều có đường
ôtô đến trung tâm, có điện lưới quốc gia, trường tiểu học và trung học cơ sở,
trạm y tế và điện thoại. Trong khi chưa có điều kiện để bảo đảm giáo dục miễn
phí cho mọi người ở tất cả các cấp, Việt Nam tập trung hoàn thành xóa mù chữ,
phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm
2010; số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gần 17 lần trong 35 năm qua. Hiện
nay, Việt Nam có 95% người lớn biết đọc, biết viết. Trong khi chưa thực hiện được
việc bảo đảm cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho toàn dân, Việt Nam tập trung
vào việc tăng cường y tế phòng ngừa, phòng, chống dịch bệnh, hỗ trợ các đối tượng
có hoàn cảnh khó khăn. Nhiều dịch bệnh vốn phổ biến trước đây đã được khống chế
thành công. Người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi được cấp bảo hiểm
y tế miễn phí. Tỉ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em và tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh giảm
gần 3 lần. Tuổi thọ trung bình của dân cư tăng từ 62 tuổi năm 1990 lên 73,7 tuổi
năm 2020. Cũng nhờ kinh tế có bước phát triển nên chúng ta đã có điều kiện để
chăm sóc tốt hơn những người có công, phụng dưỡng các Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng,
chăm lo cho phần mộ của các liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc. Đời sống văn hóa
cũng được cải thiện đáng kể; sinh hoạt văn hóa phát triển phong phú, đa dạng.
Hiện Việt Nam có khoảng 70% dân số sử dụng Internet, là một trong những nước có
tốc độ phát triển công nghệ tin học cao nhất thế giới. Liên Hợp Quốc đã công nhận
Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu
Thiên niên kỷ. Năm 2019, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức
0,704, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng
trình độ phát triển. Như vậy, có thể nói việc thực hiện đường lối đổi mới đã
đem lại những chuyển biến rõ rệt, hết sức sâu sắc và tích cực ở Việt Nam: kinh
tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục;
đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị,
xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế
ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của
nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố. Tổng kết 20 năm đổi mới, Đại hội
Đảng lần thứ X (năm 2006) đã nhận định, sự nghiệp đổi mới đã giành được
"những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử". Trên thực tế, xét trên
nhiều phương diện, người dân Việt Nam ngày nay đang có các điều kiện sống tốt
hơn so với bất cứ thời kỳ nào trước đây. Đó là một trong những lý do giải thích
vì sao sự nghiệp đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo được
toàn dân Việt Nam đồng tình, hưởng ứng và tích cực phấn đấu thực hiện. Những
thành tựu đổi mới tại Việt Nam đã chứng minh rằng, phát triển theo định hướng
XHCN không những có hiệu quả tích cực về kinh tế mà còn giải quyết được các vấn
đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển
kinh tế. Những kết quả, thành tích đặc biệt đạt được của Việt Nam trong bối cảnh
đại dịch Covid-19 và suy thoái kinh tế toàn cầu bắt đầu từ đầu năm 2020 được
nhân dân và bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, thể hiện tính ưu việt của chế
độ XHCN ở nước ta. Mới đây, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng một
lần nữa lại khẳng định và nhấn mạnh: "Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới,
30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, lý
luận về đường lối đổi mới, về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càng
được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Chúng ta đã đạt được những
thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với
những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng:
Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như
ngày nay. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của
cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng,
toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH của chúng ta
là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế
phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự
lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt
Nam. Cương lĩnh chính trị của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, lý luận dẫn dắt
dân tộc ta vững vàng tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; là
nền tảng để Đảng ta hoàn thiện đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
XHCN trong giai đoạn mới" ./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét