Thứ Năm, 24 tháng 2, 2022

TỪ VẤN ĐỀ NÓNG TẠI UKRAINE, CHÚNG TA CÙNG NGHIÊN CỨU BÀI VIẾT!

         Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam "đã thành công rất tốt đẹp" trên tất cả mọi phương diện, truyền cảm hứng đưa đất nước đi lên. Cay cú trước thành công của Đại hội XIII, các thế lực thù địch tiếp tục công kích chính sách quốc phòng "bốn không" của Đảng, Nhà nước ta. Từ đó họ nêu những "đề xuất", "kiến nghị" với Đảng, Nhà nước ta về những thay đổi trong chính sách quốc phòng của Việt Nam. Bài viết trình bày, phân tích những luận cứ khoa học và thực tiễn để phản bác các quan điểm sai trái đó, đồng thời khẳng định tính đúng đắn trong chính sách quốc phòng "bốn không" của Đảng, Nhà nước ta.

1. Nhận diện quan điểm sai trái, thù địch

(1) "Chỉ có liên minh quân sự với một cường quốc thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền, bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc"

Họ cho rằng chính sách "không liên minh quân sự" không chỉ dẫn đến mất lãnh thổ và quyền chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông vào tay Trung Quốc mà còn đe dọa an ninh tổng thể của Việt Nam trong trường hợp chiến tranh xâm lược năm 1979 được lặp lại. Họ lý giải rằng, Việt Nam thực hiện chính sách "bốn không" là nguy cấp, vì sức mạnh quân sự Việt Nam hiện nay là "quá yếu", "lạc hậu". Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam cần liên minh quân sự với một nước lớn có thực lực quân sự, quốc phòng mạnh, như: Mỹ, Nga hay Nhật,… thì sẽ được hỗ trợ tối đa về mặt quân sự, kể cả đưa vũ khí trang bị, lực lượng quân đội đến trợ giúp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển, đảo quốc gia. Chúng kết luận, chính sách "không liên minh quân sự" chẳng những không giữ được nước trước xâm lược Trung Quốc mà cũng không giữ nổi chế độ cộng sản, nó còn làm Đảng ta "mất cả chì lẫn chài" (ám chỉ Đảng ta sẽ mất cả quyền lãnh đạo). Thậm chí, chúng không ngại chỉ ra rằng: "Việt Nam liên minh quân sự với Mỹ sớm ngày nào thì nguy cơ tiếp tục mất đảo, mất quyền chủ quyền trên Biển Đông vào tay Trung Quốc cũng như nguy cơ hứng chịu một cuộc chiến tranh trên biển lẫn đất liền bị đẩy lùi ngày ấy" (!?).

(2) "Không liên minh với nước nào nhằm chống nước thứ ba là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi".

Với quan điểm "Không liên minh với nước này để chống nước kia" trong sách trắng quốc phòng, họ cho rằng, "Một khi đã tuyên bố rõ ràng như vậy, chúng ta sẽ khó kiếm được đồng minh" và "làm mất đi con bài mặc cả quan trọng của Việt Nam với cả Mỹ và Trung Quốc''. Theo chúng, không liên minh quân sự là lỗi thời, lạc hậu; là "đường lối sai lầm", "đối sách nhu nhược", là "hành động tự trói", không phù hợp với xu thế của thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cần phải thay đổi. Đảng, Nhà nước ta nên liên minh quân sự, phải liên kết với nước này thì mới kiềm chế, đối phó được với nước kia để bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Thực chất đây là thủ đoạn thâm độc nhằm chống phá đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng độc lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước ta, làm cho chúng ta dao động và ngả sang một bên nào đấy để chống lại bên kia.

(3) "Đảng, Nhà nước ta vẫn kiên định chính sách "bốn không" là sẽ không có bạn chí cốt nên dễ bị cô lập trước những tình huống nguy hiểm"

Họ cho rằng việc Đảng, Nhà nước ta thực hiện chính sách quốc phòng "bốn không" sẽ cản trở hoặc làm mất đi cơ hội để Việt Nam kết bạn với các nước, thậm chí sẽ làm mất đi những người bạn chí cốt đã từng keo sơn gắn bó với Việt Nam trước đây. Từ đó suy diễn rằng chúng ta "dễ bị cô lập trước những tình huống nguy hiểm" (!).


2. Luận cứ phê phán

(1) Phải chăng muốn bảo vệ được chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc thì phải liên minh quân sự với một cường quốc?

Một là, chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc là thiêng liêng và tối cao không thể phó thác hoàn toàn cho bên ngoài, dù đó là một đồng minh cường quốc.

Chúng ta không phủ nhận vai trò, tác dụng tích cực của liên minh trong bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Tuy nhiên, trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chúng ta chưa bao giờ liên minh quân sự với cường quốc nào. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, Việt Nam nhận được sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa, các nước bè bạn, nhưng chúng ta không tham gia khối liên minh quân sự nào của Liên Xô và Đông Âu. Chúng ta tham gia thành lập khối liên minh Việt Nam - Lào - Campuchia (13/3/1951) nhằm tăng cường khối đại đoàn kết ba nước Đông Dương trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung là thực dân Pháp, can thiệp Mỹ và tay sai, giành độc lập hoàn toàn, xây dựng đất nước, làm cho nhân dân ba nước được tự do, hạnh phúc và tiến bộ. Đây là liên minh mang tính tự vệ, chính nghĩa trong vai trò như một trong những phương thức bảo vệ Tổ quốc vào thời điểm lúc đó. Xuyên suốt lịch sử quân sự Việt Nam, cho đến nay, không có quan điểm lý luận liên minh quân sự để chống lại nước khác, hoặc như là một giải pháp để bảo vệ chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ. Ngay trong điều kiện hai cuộc kháng chiến cực kỳ tàn khốc, ác liệt, gian khổ và kéo dài vừa qua, Việt Nam vẫn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ không tham gia liên minh quân sự với cường quốc.

Trong điều kiện hòa bình hiện nay, khi mà xu hướng đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc trên thế giới ngày càng chủ đạo thì việc các nước giúp nhau bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc không hề đơn giản. Cốt vật chất để gắn kết các liên minh chính là lợi ích chung và phần lợi ích của mỗi bên thành viên trong liên minh nhận được. Những liên minh "thần thánh" đều là giả tưởng trong đầu óc của những nhà huyễn tưởng, không có chỗ đứng trong thực tiễn chính trị - quân sự sống động, phức tạp và thực dụng hiện nay.

Hai là, muốn bảo vệ vững chắc chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc thì phải nêu cao tính độc lập, tự chủ, không thể ảo tưởng trông chờ vào liên minh.

Trên thế giới có ba kiểu liên minh phổ biến là: (1) Nước lớn liên minh với nước lớn; (2) Nước lớn liên minh với nước nhỏ hoặc nước nhỏ liên minh với nước lớn; (3) Nước nhỏ liên minh với nước nhỏ. Việc một nước nhỏ muốn liên minh quân sự với một cường quốc (nước lớn) nhằm mục đích bảo vệ được chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc của mình, vậy lợi ích của cường quốc sẽ là gì trong sự liên minh này? Xưa nay không ai cho không ai bao giờ; cái gì cũng có giá của nó. Cái giá ở đây là nước nhỏ có thể tránh được nguy cơ mất chủ quyền và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc mình trước một mối đe dọa nào đó từ bên ngoài, nhưng trước khi có thể tránh được những nguy cơ đó, thì cái giá phải trả hiện hữu và có thật, đó là: nước nhỏ phải chấp nhận nhượng bộ ít nhiều về chủ quyền hoặc lợi ích quốc gia - dân tộc mình với cường quốc liên minh. Đó là vốn liếng, tài sản "thế chấp" để nhận được những "cam kết" bảo vệ an ninh từ đồng minh. Đó cũng là "luật chơi" không thể khác trong quan hệ quốc tế hiện nay. Ở đây nước nhỏ đã đem lợi ích thực tế để đánh đổi lấy khả năng bảo vệ an ninh. Một khả năng mà khi muốn hiện thực hóa nó bao giờ cũng gắn với những điều kiện "đính kèm" cần và đủ từ phía các đồng minh nước lớn. Nói như vậy không có nghĩa là hoài nghi, nghi kị đồng minh, mà muốn nói tới một thực tế, một khía cạnh của luật chơi trong quan hệ quốc tế hiện nay. Trong chuyến thăm và làm việc tại Philippines và tham dự Diễn đàn kinh tế Thế giới về Đông Á 2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định rõ: "Việt Nam kiên quyết bảo vệ chủ quyền và lợi ích chính đáng của mình bởi vì chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo là thiêng liêng. Việt Nam luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó".

Thực tế lịch sử thế giới từ trước tới nay, nhất là gần đây cho thấy không phải cứ có liên minh với một cường quốc quân sự là có thể bảo vệ được chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc của các nước trong liên minh, nhất là các nước nhỏ. Các cường quốc, vì lợi ích quốc gia - dân tộc của họ, mà lợi ích này họ cũng đề cao như hầu hết các nước khác, - và vì lợi ích "đại cục" mà họ theo đuổi, họ sẽ xử lý quan hệ với các đồng minh theo tiêu chí và triết lý ưu tiên lợi ích "trước hết", "trên hết", "cốt lõi" của họ. Trong nhiều trường hợp như vậy, không ít đồng minh của các cường quốc đã phải "lãnh đủ" hậu quả: từ sự "lạnh nhạt", "ngó lơ", "làm ngơ" đến "bỏ rơi", thậm chí "phải bội" đồng minh để bắt tay với kẻ thù của cường quốc đồng minh. Gần đây, trường hợp của Philippines, một đồng minh thân cận của Mỹ, khi bị một cường quốc khác đe dọa, xâm phạm chủ quyền trên bãi cạn Scaborough (Hoàng Nham, năm 2012), nhưng siêu cường đồng minh cũng không làm gì trước sự cầu cứu của đồng minh nước nhỏ. Bởi tại điều khoản số 5 của Hiệp ước an ninh Mỹ - Philippines (1951) chỉ xem các cuộc tấn công vũ trang trên lãnh thổ thuộc quyền tài phán (jurisdiction) của cả hai ở khu vực Thái Bình Dương là mối đe doạ chung đối với an ninh của cả hai và Mỹ có trách nhiệm phải bảo vệ. Mỹ sẽ không có trách nhiệm phải bảo vệ Philippines khi bãi cạn Scarborough bị tấn công. Mặt khác, Mỹ cũng không muốn phải vướng vào một cuộc chiến không đáng có ở Biển Đông. Điều này cũng đúng với thực tế lịch sử, trên thế giới chưa bao giờ một nước nào có thể hy sinh lợi ích của dân tộc mình chỉ vì lợi ích của một dân tộc khác. Từ đó, có thể rút ra một hệ luận: trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, kể cả thời bình lẫn thời chiến, phải luôn nêu cao tính độc lập, tự chủ, không thể ảo tưởng trông chờ sự trợ giúp của nước ngoài.

Quan điểm xuyên suốt của Việt Nam là phải tự lực, từ cường, "đem sức ta mà giải phóng cho ta", dựa vào sức mình là chính, trên cơ sở thực lực sức mạnh của quốc gia - dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè và cộng đồng quốc tế, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam không nghiêng hẳn về một bên nào; không đi theo một cường quốc nào, không dựa hẳn vào một cường quốc nào để bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc mình.

Ba là, không phải vì sức mạnh quốc phòng của ta "quá yếu" và "lạc hậu" nên phải liên minh quân sự với nước ngoài.

Nếu cho rằng chỉ vì ta yếu và lạc hậu mới cần đến liên minh vậy khi ta mạnh và hiện đại có cần liên minh không? Vì thực tế cho thấy, có những trường hợp nước lớn vẫn chủ động liên minh với nước nhỏ và cũng có trường hợp nước nhỏ khước từ liên minh với nước lớn. Vậy phải lý giải thế nào cho thỏa đáng vấn đề này? Như chúng ta đã biết, mấu chốt của liên minh quân sự không hoàn toàn bắt nguồn từ sức mạnh quân sự yếu hay mạnh mà từ lợi ích và quan điểm của mỗi bên tham gia liên minh. Liên minh Tôn - Lưu trong đại chiến Xích Bích chống Tào Tháo thời Tam Quốc là một ví dụ.

Hơn nữa, cho rằng sức mạnh quân sự của ta yếu và lạc hậu là không hoàn toàn đúng với thực tế. Theo bảng xếp hạng Chỉ số sức mạnh quân sự toàn cầu của trang web Global Firepower (Hỏa lực toàn cầu - GFP), dựa vào 55 chỉ số (ngoại trừ vũ khí hạt nhân), chủ yếu là dân số, diện tích, số lượng vũ khí, ngân sách quốc phòng, nguồn nhân lực, giao thông, việc tiếp cận các tài sản chiến lược, nguồn nhiên liệu, và điều kiện kinh tế hiện tại, thì trong năm năm gần đây, Việt Nam luôn ở trong tốp 25 nước có sức mạnh quân sự lớn nhất trên thế giới. Cụ thể là, năm 2016, Việt Nam xếp ở vị trí số 17/126 nước; năm 2017, ở trí số 16/127 nước; năm 2018, ở vị trí số 20/133 nước; năm 2019, ở vị trí số 23/137 nước; năm 2020, ở vị trí thứ 22/137 nước; và Việt Nam luôn đứng thứ hai (sau Indonesia) trong khu vực Đông Nam Á.

Tiềm lực quốc phòng, an ninh được củng cố và tăng cường; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, môi trường hòa bình, trở thành điểm thu hút đầu tư và du lịch hấp dẫn của thế giới.

Về xây dựng Quân đội, chúng ta đã và đang thực hiện đồng bộ các giải pháp xây dựng Quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống[1].

Mặt khác, sức mạnh quân sự của một quốc gia bao giờ cũng đặt trong mối quan hệ với sức mạnh tổng hợp của quốc gia đó, không thể tách rời được. Sau 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới, sức mạnh tổng hợp của quốc gia - dân tộc bao gồm sức mạnh vật chất và tinh thần, sức mạnh của truyền thống và hiện đại, sức mạnh cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại bắt nguồn từ sức mạnh của con người Việt Nam không ngừng được nâng cao, thế và lực của đất nước được nâng lên một tầm cao mới. Chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững và tăng cường, ngày càng phát huy tính ưu việt, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng được giữ vững và phát huy. Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay. Nhờ đó, tạo ra vận hội mới, tạo nên bệ phóng vững chắc để đưa nước ta vươn lên những đỉnh cao mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, trên bình diện sức mạnh quân sự, cũng trên bình diện sức mạnh tổng hợp của quốc gia, sức mạnh của Việt Nam không phải là "quá yếu" và "lạc hậu" như những kẻ ác ý, hay yếu bóng vía rêu rao. Trái lại, chúng ta hoàn toàn có đủ cơ sở để khẳng định và tin tưởng vào sức mạnh của đất nước và kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại đủ để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống, mà không nhất thiết phải liên minh quân sự với nước ngoài.

Bốn là, thành công của Việt Nam trong giữ vững chủ quyền, độc lập, bảo vệ lợi ích của quốc gia - dân tộc những năm qua chính là thành công của xây dựng nền quốc phòng, an ninh độc lập, tự chủ, tự cường; và thực hiện thắng lợi "đa dạng hóa, đa phương hóa" quan hệ đối ngoại.

Lịch sử chiến tranh của Việt Nam đã khẳng định, chính việc phát huy sức mạnh nội lực, tự lực, tự cường mới là yếu tố quyết định tạo ra nguồn sức mạnh to lớn nhất, vững chắc nhất để bảo vệ Tổ quốc. Thực tế trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược và tay sai trong thế kỷ XX đã khẳng định: nhân dân ta giành được thắng lợi to lớn chính là nhờ thực hiện đường lối quân sự độc lập, tự chủ, gắn liền với sự lãnh đạo sáng suốt, trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh và lực lượng vũ trang.

Ngày nay, việc xây dựng nền quốc phòng, an ninh độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường kết hợp với mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh là bảo đảm vững chắc cho bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc.

Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 - 2016) của Đảng khẳng định: Chúng ta bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Trong đó, sức mạnh bên trong của đất nước, của chế độ chính trị, nền kinh tế và tiềm lực quốc gia là nhân tố quyết định[2].

Chủ động hợp tác về quốc phòng, an ninh là tạo điều kiện củng cố và phát triển quốc phòng, an ninh, để hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang. Tính đến nay, Việt Nam chính thức thiết lập quan hệ đối ngoại quốc phòng với trên 80 quốc gia và vùng lãnh thổ; đặt văn phòng tùy viên quân sự tại Liên hợp quốc và 37 quốc gia khác; có 49 quốc gia đặt văn phòng tùy viên quân sự tại Việt Nam[3]. Quan hệ quốc phòng của Việt Nam với các nước ngày càng đi vào thực chất, hiệu quả hơn. Quan hệ hợp tác quốc phòng được nhiều nước đối tác coi là một trong những trụ cột quan trọng trong quan hệ hợp tác với Việt Nam. Bên cạnh việc coi trọng quan hệ hợp tác về an ninh và quốc phòng với các nước láng giềng (Lào, Campuchia, Thái Lan, Philíppines, Xingapo...), Việt Nam cũng mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng với các nước, các khối nước, như Nhật Bản, Ôxtrâylia, Ixraen, Cuba, Ấn Độ, Italia, Liên minh châu Âu (EU),... đặc biệt chú trọng tới quan hệ hợp tác quốc phòng với các nước lớn, có ảnh hưởng chi phối trong khu vực và trên thế giới, như Nga, Trung Quốc và Mỹ.

Như vậy, chủ trương không tham gia liên minh quân sự là đúng đắn và phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay khi hòa bình, hợp tác, phát triển đang là xu thế chủ đạo và chủ trương đối ngoại của Việt Nam là đa dạng hóa, đa phương hóa. Thực hiện chủ trương này là cơ sở để chúng ta tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế với sự nhiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay.

(2) Phải chăng không liên minh với nước này để chống nước kia "là đi ngược lại xu thế của thời đại, là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi?

Một là, có phải xu thế thời đại hiện nay là liên minh với nước này để chống nước khác?

Thời đại hiện nay được hiểu là giai đoạn hiện nay của thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới mở bằng Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, là "thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế". Xét về bản chất, toàn cầu hóa là "quá trình tăng lên mạnh mẽ các mối liên hệ, sự ảnh hưởng lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các quốc gia, các khu vực trên thế giới"[4]. Nhưng có một điều khó hiểu là, tại sao trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế liên minh với nước này để chống nước kia lại là "xu thế"? Toàn cầu hóa từ một xu thế thì trong vài năm gần đây đã trở thành một quá trình hiện thực của sự vận động và phát triển của xã hội loài người. Song hành và đối ngược với quá trình toàn cầu hóa là phong trào chống toàn cầu hóa (nội dung cốt lõi là chống lại mặt trái của toàn cầu hóa). Những người ủng hộ toàn cầu hóa liên kết với nhau và những người chống toàn cầu hóa cũng liên kết với với nhau. Hai nhóm người này đấu tranh với nhau, căn nguyên của cuộc đấu tranh này chính là những bất đồng về lợi ích mà quá trình toàn cầu hóa đem lại cho mỗi nhóm. Trong đó, có nhóm được hưởng lợi và nhóm bị thiệt thòi. Cuộc đấu tranh này chính là nhằm phân chia lại lợi ích của các lực lượng trong quá trình toàn cầu hóa. Trong cuộc đấu tranh đó, tất yếu có sự liên kết tự nhiên của những lực lượng, những nhóm người có cùng lợi ích, chủ yếu ở góc độ kinh tế. Nó không phải là liên minh/kết quân sự giữa các quốc gia với nhau hay giữa quân đội của các quốc gia với nhau. Sự liên kết (tập hợp) lực lượng ở đây, nếu có, chỉ là để chống hoặc ủng hộ toàn cầu hóa chứ không phải là liên minh với nước này để chống nước kia hay ngược lại. Vì trong nội bộ mỗi nước, kể cả các nước nhỏ lẫn siêu cường, cũng đều vấp phải cuộc đấu tranh giữa hai lực lượng này khi phải quyết định lựa chọn xu hướng phát triển cho đất nước mình. Cuộc đấu tranh này chi phối từ dân thường đến các cấp lãnh đạo của mỗi quốc gia.

Cho nên, nói rằng không liên minh với nước này để chống nước kia "là đi ngược lại xu thế của thời đại" là cách hiểu phiến diện, không đầy đủ, không đúng về bản chất của toàn cầu hóa và chống toàn cầu hóa, không nắm được bản chất, xu hướng và quy luật vận động, phát triển của xã hội loài người trong giai đoạn hiện nay.

Hiện nay, thế giới bước vào một giai đoạn phát triển mới mà ở đó: "Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế"[5]. Chính trong bối cảnh ấy mà Việt Nam liên minh quân sự với nước nào, nhất là liên minh với nước lớn, để chống nước khác mới là không thực tế và rất nguy hiểm.

Hai là, có phải không liên minh quân sự "là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi?"

Trước hết, cần phải thống nhất rằng, liên minh quân sự không đồng nhất với quan hệ hợp tác quốc tế về quân sự, quốc phòng. Khi tham gia liên minh các nước sẽ nằm trong một khối quân sự chung, với những mục tiêu cụ thể, dùng các biện pháp quân sự để tranh giành lợi ích, xung đột chống đối thủ chung. Các nước trong liên minh sẽ phải đặt dưới sự chỉ huy, lãnh đạo của một quốc gia, thường là nước lớn và tuân thủ các nguyên tắc của liên minh, cho dù không hoàn toàn phù hợp với mình. Và chính điều này đã tạo ra sự ràng buộc giữa các nước, làm cho mỗi nước không còn độc lập, tự chủ về những vấn đề của đất nước mình.

Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự nhưng chủ động và tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện cả kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và quốc phòng, an ninh. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác quốc phòng - an ninh với tất cả các nước trong khu vực, trao đổi thông tin tình báo, hợp tác tuần tra chung biên giới trên bộ, trên biển (Việt Nam - Campuchia, Việt Nam - Thái Lan, Việt Nam - Trung Quốc…); hợp tác chống tội phạm xuyên quốc gia, mua bán người và ma tuý... Hiện nay, Việt Nam đang tham gia vào các sáng kiến nhằm thúc đẩy hợp tác quốc phòng - an ninh nội khối như hợp tác công nghiệp quốc phòng ASEAN; sử dụng nguồn lực và khả năng quân đội các nước khu vực trong hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa; xác định các biện pháp khả thi cũng như cơ chế tăng cường hợp tác giữa các tổ chức quốc phòng ASEAN. Trong khuôn khổ hợp tác, hằng năm, Việt Nam tham gia đầy đủ các hội nghị như: Hội nghị người đứng đầu Quân đội ASEAN (ACDFIM), Hội nghị Tư lệnh Lục quân ASEAN (ACAMM), Hội nghị Tư lệnh Hải quân ASEAN (ANCM) và Hội nghị Tư lệnh Không quân ASEAN (AACC), Hội nghị không chính thức những người đứng đầu tình báo quốc phòng các nước ASEAN (AMIIM)...

Hoạt động đối ngoại quốc phòng đa phương của Việt Nam đã đóng góp vào giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, bảo vệ các lợi ích quốc gia của Việt Nam trên trường quốc tế và khu vực; góp phần củng cố và duy trì hòa bình, ổn định, tạo môi trường thuận lợi cho thực hiện nhiệm vụ trung tâm phát triển kinh tế đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia, bảo vệ các lợi ích quốc gia của Việt Nam trên trường quốc tế và khu vực; góp phần nâng cao vị thế và uy tín của quân đội ta.

Như vậy, trong điều kiện hòa bình hiện nay, "không liên minh quân sự", "không liên kết với nước này để chống nước khác" không phải là "tự trói buộc mình", trái lại, nó có tác dụng "cởi trói" cho chúng ta cả trong tư duy và hành động để ta có thể suy nghĩ và hành động một cách độc lập, sáng tạo và không bị chi phối, áp đặt bởi yếu tố bên ngoài, tức không bị "người khác trói mình". Đồng thời, nó cũng không gây ra nguy cơ gì trong chính sách bảo vệ chủ quyền biển, đảo đối với Việt Nam như một số người trộm nghĩ, mà ngược lại, còn giúp cho Việt Nam bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc của mình một cách vững chắc hơn. Và dĩ nhiên, một chủ trương đúng đắn và đang phát huy hiệu quả như thế thì hà cớ gì chúng ta phải thay đổi?

Ba là, trên bình diện quan hệ quốc tế, Việt Nam hiện là nước thành viên của Phong trào Không liên kết, cho nên chủ trương không liên minh với nước này để chống nước kia là phù hợp với mục tiêu và nguyên tắc của Phong trào.

Phong trào Không liên kết được thành lập vào năm 1961, đến nay có 120 nước thành viên, 17 nước quan sát viên, và trở thành tổ chức có số lượng thành viên lớn thứ hai thế giới sau Liên hợp quốc. Không liên kết là một tập hợp lực lượng của các nước đang phát triển, với mục tiêu chính là thúc đẩy lợi ích của các nước đang phát triển; đóng góp vào duy trì hòa bình, độc lập dân tộc; chung sống hòa bình giữa các quốc gia và chung tay xây dựng một thế giới tốt đẹp, công bằng cho mọi người dân.

Việt Nam chính thức tham gia Phong trào Không liên kết năm 1976 và từ đó đến nay luôn tích cực hoạt động, có nhiều đóng góp đối với Phong trào vì các mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội và phát triển. Việt Nam luôn đóng góp vào việc giữ vững các nguyên tắc của Phong trào, tăng cường đoàn kết để cùng nhau phấn đấu vì những mục tiêu cao cả của Phong trào, đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng bình đẳng chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ giữa các quốc gia và giải quyết tranh chấp một cách hòa bình.

Với việc không liên kết với nước này để chống nước kia, Việt Nam luôn thể hiện là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, hợp tác và phát triển. Và đây cũng là thành tựu đóng góp cho "đối ngoại tiếp tục là một điểm sáng trong những thành tựu chung của cả nước", góp phần tạo dựng môi trường thuận lợi cho xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế của nước ta.

(3) Phải chăng kiên định quan điểm "bốn không" sẽ không có bạn chí cốt, nên dễ bị cô lập trước các tình huống nguy hiểm?

Trước hết, cần khẳng định quan điểm "bốn không" trong chính sách quốc phòng không hề mâu thuẫn với chủ trương: "Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới"[6]. Trong thời kỳ chiến tranh trước đây, Việt Nam đã xử lý rất tốt mối quan hệ giữa chính trị, quân sự và ngoại giao; kết hợp "vừa đánh vừa đàm" hết sức uyển chuyển, nhịp nhàng và hiệu quả. Ngày nay, những kinh nghiệm quý báu đó được đúc kết, vận dụng vào giải quyết quan hệ kết hợp giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Việc thực hiện chính sách quốc phòng "bốn không", vì thế không cản trở quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước và các đối tác, trái lại, chính sự minh bạch, rõ ràng và sòng phẳng về mặt quan điểm này lại là cơ sở cho các quốc gia, các đối tác xem xét, cân nhắc để thiết lập một mối quan hệ hợp tác bền chặt lâu dài với Việt Nam.

Hai là, trên thực tế, Việt Nam thực hiện đúng đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng đã đề ra. Chính điều này đã đem lại lòng tin chiến lược - một nền tảng hết sức quan trọng - cho các đối tác, các quốc gia trong quan hệ quốc tế. Và điều đó cũng đã lý giải tại sao hiện nay, Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược với 17 nước cùng với 13 nước đối tác toàn diện; là nước duy nhất tại khu vực Đông Nam Á xây dựng khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với tất cả năm nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các nước lớn, góp phần định vị vững chắc hơn vị thế của Việt Nam trong quan hệ với các nước lớn trong bối cảnh cục diện khu vực, thế giới có nhiều biến đổi; có quan hệ đặc biệt với Lào, quan hệ hợp tác toàn diện với Campuchia; xây dựng quan hệ đối tác chiến lược với những nước có vai trò quan trọng ở các khu vực khác như châu Phi, Mỹ Latinh…

Ba là, cũng cần phải nói rằng, Việt Nam chủ trương chính sách quốc phòng "bốn không"là cơ sở để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế với sự nhiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nhĩa hiện nay. Tuy nhiên, tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế. Việt Nam kiên định mục tiêu, nguyên tắc chiến lược, vận dụng sách lược mềm dẻo, linh hoạt; chủ động ứng phó với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, sự biến động phức tạp của tình hình. Trên thực tế, Việt Nam đã và đang thực hiện đồng bộ các nội dung: (1) Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, quán triệt, nâng cao nhận thức của toàn Đảng toàn dân, toàn quân, nhất là các lực lượng chấp pháp trên biên giới, vùng biển, đảo về chính sách quốc phòng của Việt Nam; (2) Thực hiện có hiệu quả việc tăng cường hợp tác, đối ngoại quốc phòng theo chiều sâu và bền vững; (3) Quan tâm đầu tư xây dựng lực lượng, phát huy sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc.

Cùng với thực thi chính sách quốc phòng "bốn không", Việt Nam cũng chủ trương "bốn tránh": (1) Tránh xung đột về quân sự; (2) Tránh bị cô lập về kinh tế; (3) Tránh bị cô lập về ngoại giao; (4) Tránh bị lệ thuộc về chính trị. Có thể nói đây là hệ thống đồng bộ các quan điểm chiến lược của Việt Nam về chính sách quốc phòng và đối ngoại nhằm tạo lập và gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định góp phần huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, Tập 1, tr. 157 - 158.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986-2016), Nxb. Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2015, tr. 119 - 120.

[4] Tài liệu tham khảo đặc biệt, TTXVN,(3/2001), tr. 3.

[5]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Tập 1, tr. 105.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2011, tr. 236.

Yêu nước ST.

NƯỚC XA KHÔNG CỨU ĐƯỢC LỬA GẦN

 


Tháng 12/2021, Nga gửi cho Mỹ và NATO một danh sách yêu cầu Mỹ và NATO ngừng mở rộng về phía đông, chấm dứt hỗ trợ quân sự cho Ukraine và cấm triển khai tên lửa tầm trung ở châu Âu đe doạ đến an ninh của Nga. Moskva đã đe dọa sử dụng vũ lực quân sự nếu các yêu cầu của họ không được đáp ứng. Đây là điều Nga đặc biệt quan ngại khi Ukraine gia nhập NATO và chủ nghĩa bành trướng của NATO đã sát sườn nước Nga có thể gây ra chiến tranh bất cứ lúc nào.


Tâm lý bài Nga và chống Nga của các thế lực cực hữu, phát xít Ukraina những năm gần đây kể từ khi chính phủ thân Nga bị lật đổ tạo ra mối đe dọa không những đối với Nga mà cả các nước láng giềng thân Nga.

Chính Mỹ và NATO đã làm cho mọi điều trở nên tồi tệ hơn khi kết nạp thêm 7 quốc gia mới vào năm 2004, hứa hẹn đưa Ukraina và Gruzia trở thành thành viên, khuyến khích Gruzia tấn công Nam Ossetia vào tháng 8/2008 chỉ sau 10 tháng Putin phát biểu tại hội nghị Munich mong muốn NATO ngừng mở rộng về phía đông nhưng đáp lại trong 25 năm qua NATO đã tăng gấp đôi số lượng thành viên của mình, tất cả đều ở phương Đông, sát nách Nga để bao vây, cô lập Nga. 


Lịch sử đã chỉ ra bất cứ cuộc chiến tranh khu vực nào cũng có bàn tay của Mỹ, bất cứ chính phủ nào không thân Mỹ cũng bị Mỹ tìm cách lật đổ. Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991; sự chia cắt Nam Tư năm 1992, vụ ném bom trái phép vào Serbia năm 1999 và sự ly khai của Kosovo; cuộc xâm lược Afghanistan năm 2001; sự tàn phá Libya vụ ám sát Gaddafi năm 2011; phá hủy Syria lật đổ tổng thống của nước này từ năm 2011 đến năm 2019; cuộc chiến ở Yemen kể từ năm 2015. 


Cuộc chiến giữa Nga - Ukraina là hậu quả tất yếu không có gì ngạc nhiên. Chính Mỹ đã hậu thuẫn, giật dây, tiếp tay cho cuộc đảo chính tháng 2/2014 để lật đổ Tổng thống Ukraine được bầu một cách dân chủ - Viktor Yanukovych muốn cân bằng “mối quan hệ” giữa Ukraine với Nga và châu Âu, thành lập một chính phủ thân phương Tây, tìm mọi cách gây hấn, cô lập và đẩy Nga vô bước đường cùng; chính Mỹ và NATO đã lật lọng không giữ đúng lời cam kết “nổi tiếng” với Nga của Ngoại trưởng Hoa Kỳ James Baker ngày 12/2/2017 tại Washington DC rằng: “NATO sẽ không tiến thêm một inch nào về phía đông".


Khi lợi ích và an ninh của bất cứ quốc gia nào bị xâm phạm thì mọi sự đáp trả là cần thiết và chính đáng./.

XT st

SỰ ẢO TƯỞNG VÔ VỌNG CỦA NGUYỄN VĂN ĐÀI

Đú theo trend về ngày 22/02/2022 của cộng đồng trên các trang mạng xã hội, Nguyễn Văn Đài – kẻ đang sống tỵ nạn, lưu vong ở Đức đã đăng tải dòng chữ cho rằng “22.02.2022 giặc nội xâm độc tài CSVN cai trị đất nước VN. 23/03.2023 giặc nội xâm độc tài CSVN sẽ sụp đổ! Đồng bào quyết tâm?” và ngay lập tức trên facebook cá nhân của kẻ phản bội Tổ quốc này đã nhận được cơn mưa đá của cộng đồng mạng về sự ảo tưởng viễn vông, căn bệnh nan y của những kẻ sống tha phương, lưu vong, quay lưng phản bội đất nước như Nguyễn Văn Đài. Nói về sự căn bệnh ảo tưởng cho rằng “chế độ độc tài CSVN sẽ sụp đổ” không phải đến bây giờ Nguyễn Văn Đài mới phát bệnh mà những kẻ CCCĐ hay những phần tử sống lưu vong, tỵ nạn ở những nơi được xem là “thiên đường dân chủ” cũng đã tuyên truyền từ bấy lâu nay và tuyệt nhiên càng ngày người ta càng thấy căn bệnh nan y ảo tưởng của họ ngày càng trở nặng và vô phương cứu chữa.

LUÔN PHẢI TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG

 


Trong quá trình lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành sự nghiệp cách mạng, nhờ thấm nhuần sâu sắc rằng: "Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng", Đảng Cộng sản Việt Nam đã không chỉ xác lập, củng cố, nâng cao vai trò lãnh đạo, uy tín, nguồn sức mạnh, sức chiến đấu của mình bằng đường lối chính trị đúng đắn; bằng bản lĩnh, nghị lực, trí tuệ, đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên mà còn chú trọng thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng để Đảng luôn là một tổ chức đoàn kết, thống nhất chặt chẽ, vững chắc, luôn liên hệ mật thiết với nhân dân, được nhân dân hết lòng tin yêu, ủng hộ và bảo vệ.

Trong mọi lĩnh vực, mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng luôn tu dưỡng về mọi mặt, rèn luyện bản lĩnh chính trị để hoàn thành trọng trách vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Trước Tổ quốc và nhân dân, Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng luôn tâm niệm phụng sự với tinh thần liêm chính; luôn "đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết; Liên hệ chặt chẽ với nhân dân; Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ; Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình; Sẵn sàng học hỏi nhân dân; Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo. Cán bộ Đảng và chính quyền ta đều sẵn lòng cầu tiến bộ, sẵn chí phụng sự nhân dân” và bằng sự nêu gương, hy sinh quên mình, phấn đấu không mệt mỏi.

Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận được rằng, Đảng dù là một tổ chức của những con người ưu tú, tiền phong, song nếu thiếu tu dưỡng, rèn luyện về mọi mặt thì rất dễ sa vào bẫy của chủ nghĩa cá nhân, sa vào thực dụng, quan liêu, tham ô, tham nhũng, lợi ích nhóm và các biểu hiện tiêu cực, suy thoái khác. Vì thế, trong tổ chức của những người con ưu tú đó vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá"; vẫn còn có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý, thậm chí là cán bộ lãnh đạo cấp cao phai nhạt lý tưởng, chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói không đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước, nên đã vướng vòng lao lý, đã bị khai trừ khỏi Đảng…

Hơn nữa, nguyên nhân của các thành tựu trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng nói chung, những hạn chế và cả sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" của một bộ phận cán bộ, đảng viên nói riêng cũng được chỉ ra rất cụ thể trong văn kiện các kỳ Đại hội Đảng; nhất là trong các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, XII, XIII bàn về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng; trong thông báo và kết luận các phiên họp của Ủy ban Kiểm tra Trung ương…, song thành tựu vẫn là cơ bản. Vì thế, việc chỉ nhìn vào một số hạn chế mà bỏ qua thành tựu, để vội vàng kết luận công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng của Việt Nam "là cây đã chết từ gốc" và "Đảng đã mục từ cơ sở chứ không bền vững như Tuyên giáo tuyên truyền" thì thật là thiển cận; là không khách quan, là xuyên tạc bản chất vấn đề nhằm bôi đen Đảng nói chung, công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng nói riêng.

 

HAIVAN

XÂY DỰNG VÀ CHỈNH ĐỐN ĐẢNG VỪA LÀ NHIỆM VỤ CẤP BÁCH, VỪA LÀ NHIỆM VỤ THƯỜNG XUYÊN VÀ LÂU DÀI

 


Cần phải khẳng định rằng, công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa thường xuyên và lâu dài của một Đảng cách mạng chân chính, được xây dựng và hoạt động theo các nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng là vì "Đảng không che giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ, và để dạy bảo cán bộ và đảng viên" như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn, chứ không phải là mỗi khi Đảng đánh giá khách quan tình hình, nêu ra hạn chế, đề ra giải pháp để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ quan trọng đó tốt hơn thì có nghĩa là Đảng đã "thất bại" trong công tác “xây dựng, chỉnh đốn đảng” như các luận điệu phản động tung lên mạng xã hội.

Thực tế là, những kẻ cơ hội đã cố tình chỉ nhìn vào hạn chế, khoét sâu vào một số nhận định mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt triển khai Kết luận và quy định của Trung ương về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng (Hà Nội, ngày 9/12/2021), mà cố tình bỏ quên, không ghi nhận những kết quả đã đạt được trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng suốt 92 năm qua, đặc biệt là trong những nhiệm kỳ gần đây. Có thể thấy rằng, những kẻ cơ hội, phản động này đã cố tình không hiểu rằng, xây dựng và chỉnh đốn Đảng luôn là nhiệm vụ then chốt; có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Nhờ nghiêm túc, thường xuyên thực hiện tốt nhiệm vụ quan trọng đó mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã không chỉ khẳng định được vai trò mà còn giữ vững được vị trí cầm quyền, độc quyền lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước suốt những năm qua.

 

HAIVAN

TĂNG CƯỜNG CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG, CHỐNG "TỰ DIỄN BIẾN", "TỰ CHUYỂN HÓA" TRƯỚC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Trong những năm qua, các thế lực thù địch, phản động tăng cường sử dụng internet, mạng xã hội để móc nối, cấu kết với những cán bộ, đảng viên có biểu hiện tha hóa, biến chất nhằm lôi kéo, mua chuộc, tạo lực lượng chống phá từ bên trong. Đặc biệt, chúng lợi dụng internet, mạng xã hội để lan truyền các clip, tài liệu xuyên tạc, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước,... nhằm phá hoại nội bộ, tác động tiêu cực tới nhận thức, quan điểm, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và Nhân dân, dẫn đến hoang mang, hoài nghi, làm suy giảm lòng tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước. Các thế lực thù địch lợi dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ thành công cụ hữu hiệu cho tuyên truyền xuyên quốc gia nhằm xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.


Thông qua công nghệ, hoạt động chống phá gia tăng về quy mô, đa dạng về hình thức, nguy hiểm về tính chất, không bị giới hạn bởi không gian, thời gian; làm mờ đi hệ tư tưởng, bạn - thù. Con người dễ bị cuốn vào thế giới ảo dưới sự dẫn dắt bởi tin giả, tin xấu, độc của các thế lực phản động xuyên tạc, đưa người đọc đi vào ma trận của thật - giả, giả - thật trên không gian mạng. Nếu người đọc không tỉnh táo thì rất dễ bị dẫn dắt, đánh lừa, ru ngủ đến mức làm cho chúng ta đôi khi mất cảnh giác, không thể biết rằng mình đang “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.


Để thực hiện mục tiêu phá hoại tư tưởng, việc đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc trên không gian mạng là hoạt động phổ biến hiện nay của các thế lực thù địch với hàng loạt tin, bài, hình ảnh, bịa đặt, cắt ghép, thậm trí là xây dựng cả phim phóng sự điều tra để phát tán, lan truyền với tốc độ nhanh chóng trên mạng xã hội như facebok, blog… Tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đều trở thành mục tiêu lợi dụng của các thế lực thù địch, trong đó có lịch sử. Điều đáng nói ở đây, họ thường lợi dụng một số vấn đề lịch sử phức tạp, để tung ra những tư liệu mà họ cho là mới, nhưng thực ra thiếu những chứng cứ khoa học. Những phân tích, bình luận họ đưa ra thường mang nặng tính suy diễn chủ quan, phiến diện, mập mờ.Và chính sự mập mờ đó, gây nhiễu thông tin, làm cho người đọc cảm thấy hoang mang. 


Đất nước Việt Nam đã trải qua một quá trình hồi sinh, phát triển đi lên vững chắc. Chiêu trò chúng tung ra trước đây đã không mang lại kết quả. Bởi vậy, những năm gần đây chúng đã thay đổi chiêu trò chống phá kiểu mới, núp bóng dưới quan điểm khác, góc nhìn khác. Thông qua cái gọi là "xét lại lịch sử, lật lại lịch sử hay sự thật lịch sử” nhằm vào một số tướng lĩnh, một số sự kiện hay chi tiết lịch sử để hy vọng dễ đánh vào lòng người, dễ ru ngủ, dễ làm cho người ta tin. 


Ngày 30/4/1975 là mốc son vĩ đại trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Đó là thành quả của ý chí đoàn kết “muôn người như một” và tinh thần “không có gì quý hơn độc lập, tự do” của toàn dân tộc.46 năm trôi qua kể từ ngày 30/4/1975 lịch sử, đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, non sông liền một dải đang ngày càng ổn định và phát triển. Vậy nhưng, sau 46 năm, vẫn còn những ý kiến sai lệch, xuyên tạc lịch sử, cố tình bóp méo sự thật về các sự kiện diễn ra tại Dinh Độc lập vào trưa 30/4/1975. Chúng tăng cường xuyên tạc lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của dân tộc ta, với ý đồ làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta nhận thức sai lệch về lịch sử dân tộc, từ đó dao động, nghi ngờ, thiếu lòng tin vào Đảng và chế độ. Thực tế trên các trang mạng xã hội có nhiều trường hợp không phân biệt được đúng, sai, chưa hiểu được cốt lõi của vấn đề như thế nào nhưng đã vội vã comment bày tỏ chính kiến, đó là hành động a dua theo đám đông. Sẽ là bình thường nếu chính kiến là đúng đắn, trách nhiệm với xã hội, trách nhiệm với lịch sử của quốc gia, dân tộc. Nhưng thật đau lòng, có những sự việc, hiện tượng mà số đông tham gia bàn tán, bình luận lại thuộc lĩnh vực mà trước đó đã được các cơ quan chức năng có thẩm quyền thẩm tra, xác minh, kết luận nhưng nay bị một nhóm người phủi đi tất cả vì cho rằng kết luận có sự thiên vị. Khi trả lời phỏng vấn các báo, đài trong nước, thậm trí còn đăng đàn trả lời phỏng vấn của các báo, đài hải ngoại, thường xuyên có các quan điểm chống phá Đảng, Nhà nước và dùng những từ ngữ rất nặng nề để bôi xấu, quy chụp người này, nâng đỡ người kia. Họ lật lại sự việc bằng những lời lẽ và hình ảnh thiếu thuyết phục, thông tin thiếu khách quan, không chính thống và họ tự cho mình cái quyền phán xét về lịch sử của dân tộc. Họ nhân danh “sự thật” để đăng đàn trên mạng, viết báo hoặc làm phóng sự, thoạt nghe có vẻ chính đáng nhưng sự thật chỉ phục vụ mưu đồ của một cá nhân hoặc một nhóm người thiếu thiện chí nhằm xuyên tạc, bóp méo sự thật để dẫn dắt sự việc phát triển theo mong muốn của họ là chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc và reo rắc sự hoài nghi vào thế hệ trẻ đối với lịch sử Quân đội, lịch sử dân tộc và làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, đối với Quân đội, là sự xúc phạm đến các anh hùng liệt sỹ đã hy sinh vì độc lập - tự do của đất nước.


Để tăng cường phòng chống “tư diễn biến”, “tự chuyển hóa” trước các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ Khối cần chú trọng nâng cao ý thức tự giác, kỷ luật trong tiếp xúc thông tin, nắm vững và chấp hành tốt các quy định về quyền thông tin, phạm vi thông tin của công dân theo quy định của Hiến pháp, Luật tiếp cận thông tin và Luật An ninh mạng, đồng thời chấp hành nghiêm Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội. Mỗi cán bộ, đảng viên luôn nghiêm túc thực hiện Điều lệ và các quy định của Đảng, của tổ chức mình mà mình là thành viên, đồng thời thể hiện là cán bộ, đảng viên gương mẫu khi tham gia mạng xã hội; tỉnh táo, cân nhắc kỹ lưỡng trước khi phát ngôn, chia sẻ, bình luận, nhận định, đánh giá về vấn đề, sự kiện hoặc hiện tượng nào đó. Đây cũng là trách nhiệm của đảng viên nhằm góp phần bảo vệ, giữ vững uy tín của Đảng và của chính bản thân mình. Khi tham gia mạng xã hội phải thường xuyên nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận xã hội trong cán bộ, đảng viên ở cơ quan, đơn vị công tác và nhân dân tại địa phương nơi cư trú. Qua đó, kịp thời phát hiện, góp ý, phê bình,… không để đồng nghiệp của mình và nhân dân bị lôi kéo, dụ dỗ mà cố ý hoặc vô tình ủng hộ, chia sẻ, lan truyền những thông tin phản động, độc hại trên mạng xã hội. Cần hết sức tỉnh táo để không bị lợi dụng và tránh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Các cấp ủy đảng tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng và tiếp tục đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và tích cực đấu tranh phản bác thông tin sai sự thật, xấu độc trên Internet, mạng xã hội giúp cán bộ, đảng viên nhận thức đúng vấn đề, nhất là liên quan đến các sự kiện lịch sử, sự kiện chính trị; các vụ việc phức tạp, nhạy cảm được dư luận xã hội quan tâm./

Hải Đăng ST

ĐỂ KHÔNG CÒN NHIỀU NGƯỜI PHẢI THIỆT MẠNG HƠN NỮA...!

Nhìn những giàn tên lửa phóng sang Donbass sau tuyên bố của TT Nga Putin cho thấy đã đến lúc mọi thứ rối rắm ở đây phải đc kết thúc. Và Nga đã quyết định một cách dứt khoát về điều này...! 


Không có gì sai ở đây cả...Mọi thứ vẫn rất đúng luật bởi chính Cộng hòa Nhân dân Donbass (DPR) đã yêu cầu Nga hỗ trợ và theo như ông Putin là phù hợp với Điều 51, Phần 7 của Hiến chương Liên Hợp Quốc, lệnh trừng phạt từ Hội đồng Liên bang Nga và theo các hiệp ước hữu nghị, tương trợ với DPR và Cộng hòa Nhân dân Lugansk (LPR) đã được quốc hội phê chuẩn và ông ấy đã quyết định tiến hành chiến dịch quân sự đặc biệt".


Có thể nói từ năm 2014 đến nay, tính nguyên xung đột ở khu vực này đã khiến hơn 14.000 người thiệt mạng. Một con số ko hề nhỏ..! Người dân Ukraina ko muốn thế...người dân của mấy nước Cộng hòa nhỏ bé kia cũng ko muốn thế. Nhưng khổ nỗi chừng nào vẫn còn những người điều hành đất nước mà lại quá dễ trong việc để kẻ khác "xỏ mũi" hoặc biến mình thành quân tốt trên bàn cờ thì chừng đó hòa bình thực sự cho cả khu vực này vẫn mãi chỉ là 1 giấc mơ xa vời.


Cho nên mọi chuyện nhất định phải đc kết thúc và giờ đây nó đã đi đến điểm cuối của chặng đường...! Cũng mong cho một nền hòa bình thực sự sẽ đến từ phía những người Nga cũng yêu chuộng hòa bình thực sự. Một nền hòa bình lâu dài và bền vững cho tất cả người dân nơi đây./.

NATO CHƠI VỚI LỬA NÊN BỊ BỎNG

Đó là nhận định của John Mearsheimer- một trong những nhà lý luận chính trị đương đại có ảnh hưởng nhất. Cuốn sách “The Tragedy of Great Power Politics” của ông xuất bản năm 2001 đang được đưa vào chương trình giảng dạy ở nhiều trường đại học trên thế giới. Ông hiện là Giáo sư Chính trị Quốc tế tại Đại học Chicago. Ông từng là sĩ quan trong Lực lượng Không quân Hoa Kỳ trước khi theo nghiệp đèn sách.

***


Xung đột Ukraine đang leo thang một cách nguy hiểm. Chuyên gia John Mearsheimer nói rằng nguyên nhân chủ yếu là do phương Tây đã hiểu sai lợi ích của Nga. Trả lời phỏng vấn, nhà khoa học chính trị này nói về những gì Putin thực sự muốn và làm thế nào để nhanh chóng xoa dịu tình hình.


Tình hình Ukraine đang ngày càng trở nên nguy kịch. Các nỗ lực ngoại giao nhằm xoa dịu xung đột cho đến nay không thành công. Thay vào đó, cả hai bên đều diễu võ dương oai: Vladimir Putin tiếp tục đưa thiết bị chiến tranh đến biên giới Ukraine, và NATO phản ứng bằng cách tái bố trí quân đội tới các quốc gia thành viên ở phía đông. Làm sao đến nông nỗi này, phải làm gì bây giờ? Chúng tôi đã nói chuyện với giáo sư chính trị người Mỹ John J. Mearsheimer.


WELT: Thưa giáo sư Mearsheimer, Nga đòi phương Tây phải cam kết, không để Ukraine trở thành thành viên NATO. Ông có hiểu được điều đó không?


John J. Mearsheimer: Tuyệt đối hiểu. Nga không muốn có một mũi giáo của phương Tây chình ình trước ngưỡng cửa nhà mình. Điều này, xét theo quan điểm của Nga, là hoàn toàn hợp lý. Tôi không hiểu tại sao rất nhiều người ở phương Tây không chịu hiểu điều đơn giản này. Chúng tôi ở Mỹ có học thuyết Monroe, trong đó nói rất rõ không một cường quốc lớn nào có thể thành lập một liên minh quân sự với bất kỳ quốc gia nào ở Tây bán cầu và đóng quân ở đó. Người Nga có phiên bản riêng của học thuyết này và hiện đang cố gắng áp dụng nó. Cuộc khủng hoảng hiện nay là kết quả trực tiếp của quyết định ngu ngốc của Mỹ và các đồng minh dự định kết nạp Ukraine vào NATO.


WELT: Nhưng việc xích lại gần NATO và phương Tây là quyết định thuộc chủ quyền của Ukraine…


Mearsheimer: Ukraine muốn điều đó, không có nghĩa là các quốc gia thành viên phải chấp nhận điều đó. Cạnh đó cần thấy rõ, Ukraine sẽ thật dại dột khi gia nhập NATO. Khi bạn sống cạnh một cường quốc, cho dù đó là Mỹ, Nga hay Trung Quốc, bạn không thể làm bất cứ điều gì mà chính sách đối ngoại nảy ra trong đầu mình. Thay vào đó, bạn phải xem xét những gì người hàng xóm của bạn ái ngại, vì sự an toàn của chính bản thân mình. Nếu bạn trêu chọc một con gấu, nó sẽ làm những điều khủng khiếp với bạn, chỉ đơn giản vậy thôi. Kết quả của việc tìm cách nhích lại gần hơn đã làm cho Ukraine mất đứt Crưm khi dính vào cuộc chiến với nước Nga.


WELT: Nhưng mắc mớ gì mà Nga phải lo ngại? NATO không đe dọa bất cứ một ai.


Mearsheimer: Chúng ta hãy tưởng tượng 20 năm nữa Trung Quốc liên minh quân sự với Canada và dựng tên lửa ngay cạnh biên giới Hoa Kỳ. Hoa Kỳ khi đó sẽ nổi điên nổi đóa và sẽ làm mọi cách ngăn cản chuyện đó. Không một cường quốc nào muốn có một cường quốc khác ngay trước cửa nhà mình, đặc biệt là khi, như trường hợp của Nga, nước này là đối thủ nguy hiểm của quốc gia tiền nhiệm của bạn trong Chiến tranh Lạnh. Phương Tây có thể nghĩ NATO không phải là mối đe dọa đối với bất kỳ ai, nhưng chúng tôi nghĩ như thế nào, điều đó không quan trọng. Vấn đề là Nga không coi NATO là một liên minh thân thiện với họ.


WELT: Vậy tại sao Nga lại chấp nhận hai lần mở rộng đầu tiên về phía đông diễn ra vào năm 1999 và 2004? Làm như là có cái gì đó mới lạ giữa biên giới Nga với các nước NATO.


Mearsheimer: Vào thời điểm đó, Nga quá yếu để ngăn cản điều này. Nhưng điều đó không có nghĩa là giới lãnh đạo Nga cho rằng đó là điều tốt, mà là ngược lại, họ rất không hài lòng về điều đó. Phương Tây đã bỏ qua hai lần, nhưng lần thứ ba, khi Ukraine và Gruzia đột ngột chuẩn bị gia nhập NATO vào năm 2008, thì Nga đã không còn khoanh tay đứng nhìn. Ngay trong năm đó, xẩy ra chiến tranh ở Gruzia, và sáu năm sau ở Ukraine. NATO chơi với lửa và bị bỏng.


WELT: Nhưng chính Nga đã xâm phạm chủ quyền của một quốc gia khác, gây bất ổn cho Ukraine và sáp nhập Crưm chứ không phải NATO.


Mearsheimer: Vâng, nhưng đó là một sự đáp trả. Hiện nay, nhiều người cho rằng hành vi của Nga ở Ukraine cho thấy việc mở rộng NATO về phía đông là một việc làm đúng đắn và cần thiết. Nhưng khi làm như vậy, họ đã bóp méo tình hình. Cho đến năm 2014, không ai coi Nga là kẻ xâm lược cần kiềm chế. Phương Tây thực sự chỉ muốn một điều, đó là biến Đông Âu thành một khu vực hòa bình, đây là điều chưa từng đạt được. Các chính trị gia phương Tây đã bất ngờ sa vào một cuộc khủng hoảng vì họ không hiểu rằng Putin chơi theo một luật chơi khác, đó là quy tắc của chính trị quyền lực, trong khi đó chúng ta lại nghĩ rằng chính trị quyền lực đã bị chôn vùi cùng với Liên Xô. Giả định vô cùng ngây thơ này đã dẫn đến cuộc khủng hoảng hiện tại, kết cục của nó thật khôn lường.


WELT: Hiện tại, nhiều người lo sợ rằng Putin muốn lấy nhiều hơn nữa từ Ukraine và thậm chí có thể thôn tính các nước Baltic. Điều này có thực tế không?


Mearsheimer: Putin thường bị coi là một Hitler mới. Theo logic này, thì bất kỳ sự nhượng bộ nào sẽ là sự lặp lại của chính sách xoa dịu chết người chống lại Đức Quốc xã cuối những năm 1930. Nhưng sự so sánh này là buồn cười. Ngoài ra, không có dấu hiệu nào cho thấy Nga muốn chinh phục các vùng lãnh thổ mới. Nếu lịch sử gần đây cho thấy bất cứ điều gì, thì đó là việc chiếm đóng các quốc gia khác hầu như luôn dẫn đến thảm họa. Cho dù bạn nhìn vào kinh nghiệm của Hoa Kỳ ở Afghanistan, Iraq hay Việt Nam, hoặc Liên Xô ở Afghanistan; chưa nói đến những khó khăn của Liên Xô trong việc duy trì trật tự ở Đông Âu trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Putin và các cố vấn của ông đủ khôn ngoan để hiểu điều đó. Putin không muốn một đế chế mới của Nga hay sự phục hồi Liên Xô. Chủ yếu là Nga muốn ngăn chặn Ukraine gia nhập NATO.


WELT: Putin có thể không phải là Hitler thứ hai, nhưng rõ ràng ông ta là một kẻ chuyên quyền, độc đoán, hành động tàn bạo chống lại phe đối lập và không hề e ngại dùng thủ đoạn ám sát.


Mearsheimer: Cho dù Putin có phải là người chuyên quyền hay không thì không liên quan gì nhiều đến cuộc khủng hoảng Ukraine. Ở đây không bàn về các giá trị hay hệ tư tưởng hay các hình thức chính phủ, mà là về địa chính trị. Thật rất phiền toái khi nhiều người ở phương Tây không chịu hiểu điều này.


WELT: Nhiều người đang đòi cung cấp vũ khí cho Ukraine để nâng cao cái giá của một cuộc xâm lược đối với Putin.


Mearsheimer: Đó sẽ là một sai lầm lớn và chỉ khiến tình hình tồi tệ hơn. Việc cung cấp vũ khí và hợp tác quân sự chính là lý do khiến cuộc khủng hoảng nóng lên trong những tháng gần đây. Người Nga giải thích đây là một nỗ lực biến Ukraine thành một quốc gia NATO trên thực tế. Hơn nữa, nếu chúng ta cung cấp thêm vũ khí, Nga cũng sẽ tăng cường hỗ trợ cho phe ly khai ở miền đông Ukraine và sự hiện diện của quân đội ở biên giới. Và trong cuộc chạy đua vũ trang này, Nga sẽ luôn chiếm thế thượng phong. Xin nhắc lại với bạn, chúng ta đang đối phó với một cường quốc có hàng nghìn đầu đạn hạt nhân. Nếu có bất cứ điều gì mà Mỹ và các đồng minh cần làm, là hãy làm tất cả để xoa dịu cuộc khủng hoảng này hơn là đổ thêm dầu vào lửa.


WELT: Làm thế nào có thể đạt được điều này?


Mearsheimer: Giải pháp đơn giản nhất là Mỹ đảm bảo bằng văn bản là Ukraine sẽ không gia nhập NATO. Nhưng điều này sẽ không xảy ra. Các nhà ra quyết định của phương Tây đã cam kết với câu thần chú về tự do, có nghĩa là Ukraine có quyền để trở thành thành viên NATO. Ngoài ra, theo thăm dò thì mức độ ủng hộ của người dân Mỹ với Biden đang ở dưới đáy, bất kỳ một sự nhượng bộ nào đối với Putin sẽ làm tổn hại hơn nữa uy tín của ông trong lòng công chúng Mỹ. Và người ta không được quên rằng Trung Quốc đang theo dõi rất sát những gì đang diễn ra ở Ukraine. Nếu Mỹ ngừng ủng hộ Ukraine, nước này có thể thúc đẩy Trung Quốc thực hiện hành động quyết liệt hơn đối với Đài Loan. Vì vậy, Hoa Kỳ đang ở trong một tình huống khá khó khăn do nước này tự tạo ra. Nạn nhân của chính sách ngu ngốc này của phương Tây chính lại là người Ukraine. Nga sẽ trừng phạt nghiêm khắc Ukraine cho đến khi Nga đạt các thứ mà họ muốn.


WELT: Vậy không có cách nào để thoát ra khỏi vòng xoáy của sự leo thang này, thưa giáo sư?


Theo tôi, điều tốt nhất cho tất cả các bên là có một Ukraine trung lập, một vùng đệm, giống như nước Áo hoặc Phần Lan trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, hoặc Ukraine trong thời kỳ từ 1991 đến 2013. Một Ukraine không thuộc phương Tây cũng như không hợp tác quá chặt chẽ với Nga, và duy trì quan hệ tốt đẹp với cả hai bên. Đó cũng sẽ là một giải pháp tốt cho tất cả các bên có liên quan. Khi đó, cả Mỹ và Nga đều sẽ phải nhượng bộ. Đây là cách để cả hai bên giữ được thể diện. Nhưng dường như chúng ta còn lâu mới đạt được điều đó.

TRUNG THÀNH LÀ MỘT QUY ĐỊNH BẮT BUỘC

Chưa cần nói đến đạo đức, bất cứ ai bất trung với Tổ quốc đều phải chịu hình phạt, nặng nhất là tử hình. Không một quốc gia nào chấp nhận chuyện phản bội và luật pháp ở bất cứ đâu cũng kết tội người phản quốc rất nặng.


Hệ thống luật pháp của một quốc gia rất phức tạp, ví dụ tội ăn cắp, lừa đảo, chống người thi hành công vụ...sẽ bị xử phạt tùy theo mức độ vi phạm. Có khi chỉ phạt hành chính, có khi bị phạt từ vài năm gì đó. Nhưng một khi bị buộc tội phản quốc thì khung hình phạt cao nhất có khi lên tới chung thân hay tử hình, bất cứ quốc gia nào cũng vậy. Phản quốc là gì? Là bất trung.


Như vậy, trung thành không chỉ là đạo đức tự giác mà còn là một quy định bắt buộc của bất cứ tổ chức hay quốc gia nào, kể cả trong giáo hội tôn giáo. Như Phật giáo chúng ta có Giáo hội Phật giáo, trong hiến chương của giáo hội không hề có quy định, cũng không ai nói ra nhưng ta phải hiểu ngầm rằng người đệ tử Phật buộc phải trung thành với giáo hội của mình. Hoặc nếu là thành viên trong một tổ chức, một đoàn thể nào, thì ta phải trung thành với tổ chức, đoàn thể đó. Là một công dân của Việt Nam, chúng ta cũng hết lòng trung thành với Tổ quốc mình. Trung thành là quy định bắt buộc.

NGUỒN GỐC CỦA LÒNG DŨNG CẢM

Ngày 11/03/2014, một cuộc họp báo được tổ chức ở Viện Công tố nước cộng hòa tự trị Krym. Trước mắt các phóng viên là một cô gái bé nhỏ, trong bộ sắc phục của Chánh Công tố nước cộng hòa. Nàng có đôi mắt sâu, mái tóc vàng như mùa thu nước Nga - một vẻ đẹp mong manh và truyền thống. Tên nàng là Natalia Poklonskaya. Ngày nhậm chức, nàng còn 7 ngày nữa là tròn 34 tuổi.


Ngược dòng thời gian lại vài tháng trước đó: Làn sóng Maidan đã ngập tràn thủ đô Kiyv. Lực lượng cảnh sát chống bạo động Berkut bị vô hiệu hóa, bị tước vũ khí, và sau đó là bị buộc quỳ gối để xin lỗi công khai trước ống kính máy quay. Ngay sau cảnh sát là đến lượt các công tố viên - những người kí lệnh bắt, lệnh truy tố các phần tử bạo động. Không còn cảnh sát bảo vệ, các công tố viên bị đám Maidan nắm cà vạt, kéo cổ dắt đi như dắt lũ bò, rồi quăng vào thùng rác.


Giữa tình cảnh đấy, quyền tổng thống Turchinov bổ nhiệm Makhnitski làm quyền Tổng Công tố Ukraine, chính thức quay đầu toàn ngành công tố Ukraine theo hướng hậu thuẫn cho lực lượng Maidan.


Natalia không chấp nhận việc quyền Tổng thống bổ nhiệm quyền Tổng Công tố mới (điều đi ngược lại trật tự Hiến pháp). Nàng viết đơn xin nghỉ việc ở Văn phòng Tổng công tố Ukraine, bỏ về quê. Ở Krym có Simferopol là nơi mẹ nàng đang sống, Krym còn có phân hiệu Yalta của Đại học Nội vụ Quốc gia - nơi nàng đã sống thời sinh viên sôi nổi, trước khi trở thành một công tố viên.


Khi nàng tìm đến văn phòng của nước cộng hòa, thì chính quyền Krym đã tan rã trên thực tế: Không ai dám bày tỏ quan điểm rõ ràng, không ai dám hành động. Lí do rất đơn giản: Họ không dự đoán được những diễn biến chính trị sôi động trên bán đảo trong mùa hè 2014, khi mà lực lượng thân Nga đã xuống đường, trong khi đám Maidan đang từ Kiyv tràn xuống. Chính quyền nửa muốn theo Nga, nửa muốn theo chính phủ trung ương ở Kiyv.


Văn phòng vắng tanh, chỉ có mỗi ông Thủ tướng (hay phó Thủ tướng). Natalia hỏi xin việc, nàng nói rằng mình sẽ làm bất cứ việc gì để giúp đỡ, kể cả là làm thư ký đánh máy chữ, tóm lại là bất cứ điều gì “để Krym không trở thành Kiyv”.


Người ta nói với nàng rằng: Họ còn trống vị trí Chánh Công tố nước cộng hòa Krym. Vị trí đó đã có 4 đồng nghiệp nam giới từ chối, đơn giản vì họ không đủ dũng khí truy tố đám Maidan. Công tố viên là những luật gia, khi chính quyền tan rã và không còn cánh tay vũ lực của cảnh sát, thì họ vô cùng yếu đuối trước bạo lực của Maidan.


Số phận thường thử thách con người: Nếu như đầu tháng 03/2014, người ta biết được chắc chắn nước Nga của Putin sẽ can thiệp bằng lực lượng quân sự vào Krym, thì chắc chẳng bao giờ đến lượt nàng nhận ghế Chánh Công tố nước cộng hòa.


Nhưng vào thời điểm đó, người ta chưa nhìn thấy quân đội Nga, chỉ nhìn thấy công tố viên bị ném vào thùng rác. Thế nên, chức vụ Chánh Công tố nước cộng hòa được trao cho cô gái tóc vàng chưa tròn 34 tuổi.


Và cô gái đó đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc. Buổi họp báo ngày 11/03/2014, giữa lúc các đồng sự trong Viện Công tố Krym mặt mũi láo liên nhìn một cô gái trẻ “rách giời rơi xuống”, thì Natalia đĩnh đạc tuyên bố với các phóng viên, rằng cô sẽ kiên quyết lập lại trật tự bằng pháp luật. Trong bối cảnh chính quyền tê liệt và cơ quan cảnh sát đã tan rã trên thực tế, thì phát ngôn như thế có thể nguy hiểm đến tính mạng của Natalia và gia đình nàng. Nhưng nàng đã chọn cách ứng xử mà bốn đồng nghiệp nam trước đó không chọn, hay không dám chọn: Nhận lấy chức vụ, cùng những trách nhiệm và hiểm nguy gắn với chức vụ đó. Đó là một quyết định thực sự dũng cảm của nàng.


Sau đó không lâu, thì quân Nga can thiệp. Bán đảo Krym trở thành nước cộng hòa thuộc Liên bang Nga thông qua trưng cầu dân ý. Natalia được Tổng thống Putin bổ nhiệm làm Bộ trưởng Tư pháp nước cộng hòa, rồi cố vấn tư pháp quốc gia hạng ba (tương đương Thiếu tướng quân đội). Đến năm 2016, Natalia tham gia Duma quốc gia Nga, làm Phó chủ tịch Hạ viện khi mới 36 tuổi. Nàng trở thành một chính trị gia, vì đã thể hiện những phẩm chất của một luật gia vào một thời điểm hiểm nghèo nhất: Dũng cảm thượng tôn pháp luật, bất chấp cường quyền và bạo lực.


Báo chí thế giới thường quan tâm đến vẻ ngoài xinh đẹp của nàng, hay những hình vẽ chibi Nhật Bản về nàng. Nhưng dưới vẻ ngoài liễu yếu đào tơ ấy, là một trái tim dũng cảm.


Động cơ nào cho hành động dũng cảm của nàng, có lẽ phần nào được giải đáp thông qua trả lời phỏng vấn dịp kỉ niệm chiến thắng phát xít 6 năm về trước. Ngày 09/05/2014, Bộ trưởng Tư pháp nước cộng hòa Krym (Liên bang Nga) Natalia Poklonskaya đã xuống phố tham gia lễ kỉ niệm Ngày Chiến thắng cùng với các cựu chiến binh của Chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Trên ngực mang dải băng tháng Georgi, nàng trả lời phỏng vấn báo chí:


“Tôi sẽ làm tất cả để con tôi có thể tự hào về tôi, và tự hào rằng nó đang được sống trong một đất nước vĩ đại là Liên bang Nga. Để con gái tôi có thể tri ân những liệt sĩ, trong đó có hai người ông của tôi, đã ngã xuống trong Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại. Tôi muốn con gái tôi được sống trong một đất nước trung thực, chứ không phải một đất nước toàn kẻ cắp, phản bội và phát xít.


Bà tôi gọi điện cho tôi và khóc than rằng cái thời giống như thời phát xít Đức chiếm đóng đang quay lại. Bà tôi 86 tuổi rồi. Bà vẫn còn nhớ bọn phát xít Đức và những cảnh sát người Ukraina làm tay sai cho chúng. Làm sao tôi dám nhìn vào mắt bà tôi nếu mặc sắc phục và phục vụ đất nước của những con người như thế? Khi tôi nghĩ về điều đó, tôi không thấy sợ nữa.”


Trong dịp kỉ niệm 75 năm Chiến thắng chủ nghĩa phát xít Đức, mình thấy không có gì phù hợp hơn là kể lại câu chuyện về lòng dũng cảm của một cô gái - một hậu duệ đáng tự hào của những người lính Hồng quân đã hi sinh trong Chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Trong đôi mắt nâu của nàng công tố viên Krym năm ấy, mình nhìn thấy cái sắc lạnh của xạ thủ bắn tỉa Lyudmila Pavlichenko, thấy được sự cương quyết như những “phù thủy bóng đêm” Xô viết khi ném bom vào đầu quân thù. Lòng tự trọng và niềm tự hào của một chiến thắng vĩ đại trong quá khứ, đã giúp Natalia Poklonskaya có được dũng khí hơn cả những đồng nghiệp nam nhi.


Mình không chọn tấm ảnh Natalia của ngày họp báo nhậm chức Chánh Công tố Krym, mà chọn hình ảnh của cô hai tháng sau đó, giữa những cựu binh Hồng quân trên đường phố Simferopol. Lịch sử đáng tự hào và truyền thống về lòng dũng cảm của Chiến tranh vệ quốc vĩ đại - bằng cách này hay cách khác - sẽ luôn được thừa kế bởi thế hệ sau.

 

Nhận diện hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo

chống Đảng, Nhà nước Việt Nam

Trong quá trình thực hiện Chiến lược "diễn biến hòa bình" chống Việt Nam, các thế lực thù địch, đối tượng phản động trong và ngoài nước luôn chú ý lợi dụng vấn đề tôn giáo, coi đây là một trong những mũi tiến công chủ đạo nhằm thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam. Đặc biệt, những năm gần đây, một mặt chúng tìm cách phủ nhận kết quả đạt được trong vấn đề tôn giáo, mặt khác lợi dụng chính sách đối ngoại và chính sách tôn giáo của ta ngày càng cởi mở hơn, các đối tượng gia tăng lợi dụng vấn đề tôn giáo để tạo sức ép từ bên ngoài, tìm cách gây mất ổn định an ninh chính trị ở bên trong, nhằm tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nổi lên hiện nay là một số hoạt động sau:

Một là, tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm quyền tự do tôn giáo. 

Hai là, lợi dụng các vấn đề tiêu cực trong xã hội, các vụ việc phức tạp liên quan tôn giáo để kích động chức sắc, tín đồ gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. 

Ba là, gắn vấn đề tôn giáo với vấn đề dân tộc để kích động tư tưởng ly khai, tự trị. 

Trên cơ sở nhận diện hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước nói trên, thời gian tới để góp phần đấu tranh làm thất bại âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, các tổ chức, cá nhân cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, tăng cường công tác tuyền truyền về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo và âm mưu, hoạt động lợi dụng tôn giáo chống Đảng, Nhà nước để cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân nâng cao cảnh giác, tuân thủ nghiêm pháp luật về tín ngưỡng tôn giáo cũng như quy định khác liên quan. Công tác tuyên truyền cần được tiến hành thường xuyên, liên tục và với nhiều hình thức đa dạng, đi vào đời sống của người dân.

Hai là, tiếp tục quan tâm củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo. Làm tốt công tác kiểm tra, giám sát thực hiện đường lối, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước về tôn giáo để chủ động phát hiện những sơ hở, thiếu sót và kịp thời có biện pháp khắc phục. Tổ chức tốt việc nắm bắt tâm tư, giải quyết những nguyện vọng chính đáng của đồng bào chức sắc, tín đồ các tôn giáo.

Ba là, đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ An ninh Tổ quốc, nhất là địa bàn trọng điểm, phức tạp về tôn giáo. Phải coi đây là một công tác trọng tâm, cơ bản đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy Đảng, sự điều hành quản lý của chính quyền và huy động được các ngành, các cấp cùng tham gia.

Bốn là, thực hiện tốt công tác tranh thủ chức sắc, người có uy tín trong các tôn giáo nhằm thúc đẩy xu hướng hoạt động tôn giáo thuần túy, tuân thủ pháp luật và đồng hành cùng dân tộc. Chú trọng phát huy vai trò của chức sắc, người có uy tín trong tôn giáo trong công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn làm thất bại âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước và góp phần giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh trong tôn giáo.

Năm là, kiên quyết đấu tranh với các hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước. Trong đó, tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; kiên quyết xử lý các hành vi lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật, đảm bảo tính thượng tôn pháp luật.

          Như vậy, nhận diện và vận dụng các giải pháp đấu tranh với hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước có ý nghĩa quan trọng trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, góp phần giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

 

Cảnh giác trước âm mưu chống phá

vai trò lãnh đạo của Đảng ta hiện nay

 

          Âm mưu xuyên suốt của Chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta. Để thực hiện mục tiêu đó, thủ đoạn chúng sử dụng hiện nay là:

Một là, các đối tượng xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, phủ  nhận cơ sở lý luận về vị trí, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hai là, các đối tượng cố gắng lập luận, quy kết thể chế chính trị ở Việt Nam tạo lập vị trí của Đảng đứng trên Hiến pháp, cho rằng Đảng đã và đang tham nhũng quyền lãnh đạo, cai trị đất nước, chuyên quyền, độc đoán.

Ba là, dưới chiêu bài góp ý về đổi mới thể chế chính trị Việt Nam, các đối tượng đưa ra những luận điệu chống phá núp dưới dạng kiến nghị, đòi hỏi phải “đổi mới chính trị” bằng cách phải thực hiện thể chế đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Bốn là, các đối tượng lợi dụng những vấn đề mang tính tiêu cực nảy sinh trong đời sống xã hội như thiếu sót, bất cập trong cơ chế, chính sách, tình trạng tham nhũng... để hướng lái, xuyên tạc bản chất của chế độ, quy tiêu cực do hệ quả sự lãnh đạo của Đảng.

Đó là những thủ đoạn chúng đang áp dụng để chống phá Đảng ta, mọi tổ chức, cá nhân cần tỉnh táo, nhận diện chính xác, đấu tranh kiên quyết để làm thất bại các âm mưu đó, bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng ta.

Nhận diện, ứng xử với “ngựa non”


Tính hãnh tiến, hiếu thắng thường xảy ra ở một bộ phận người trẻ, cán bộ trẻ. Nguyên nhân chính là do quá trình tu dưỡng, rèn luyện chưa đủ, non kém nhận thức, yếu bản lĩnh, cá nhân chủ nghĩa. Biểu hiện của những người này là thích thể hiện, thích được chú ý, muốn thành công bằng mọi giá, bất chấp thủ đoạn. Câu chuyện về anh thanh niên giả danh “thạc sĩ”, “bác sĩ” vào khu cách ly điều trị F0 ở TP Hồ Chí Minh đang gây xôn xao dư luận, cũng là một dạng biểu hiện của thói hãnh tiến, “ngựa non háu đá”...

Chúc mừng U23 Việt Nam chiến thắng bằng quyết tâm và quả cảm!

 Tối ngày 24, /2 vừa qua, đội tuyển U23 Việt Nam với nòng cốt chỉ là các cầu thủ U21 và U19, đã chiến thằng Timo Leste để có mặt trong trận chung kết với U23 Thái Lan. Đáng nói ở đây là các Chiến binh Sao Vàng trẻ tuổi đã thi đấu chỉ với 13 cầu thủ, bao gồm cả cầu thủ dự bị, với 1 thủ môn đá ở vị trí tiền đạo, trong một trận cầu 120 phút cùng loạt sút penalty cân não. Đó không đơn thuần là một chiến thắng về chuyên môn, đó là chiến thắng của sự quả cảm, tinh thần bất khuất, ý chí quyết thắng của cả một đội bóng, hay nhìn rộng ra, đó là ý chí của cả một dân tộc. Suốt 120 phút thi đấu, các cầu thủ đã rất nhiều lần gục ngã trên sân vì những pha phạm lỗi của đội bạn, nhưng do không đủ người để thay, các em đã cắn răng thi đấu tiếp, chỉ chịu thay người khi đã kiệt sức! Những ai chứng kiến trận đấu hẳn đều cảm thấy vừa thương vừa cảm phục, một trận đấu bóng đá trẻ nhưng chứa trong đó là cả sự nhiệt huyết của thế hệ này!

Những chàng trai bóng đá của quê hương

Vướng cô vi vẫn thi đấu kiên cường

Thắng U Thái bằng đội hình sứt mẻ

Dù Covid đã bào mòn sức khỏe

Những chiến binh tuổi trẻ vẫn vững vàng

Vượt bão giông để tìm đến vinh quang

Luôn chiến đấu bằng con tim cháy bỏng

Cả đất nước hàng triệu người xúc động

Dõi theo chân chàng Phù Đổng quê ta

Rồi đêm nay niềm hạnh phúc vỡ oà

Thắng bán kết ta tiến vào trận cuối

Những dòng thơ đêm nay tôi viết vội

Thay cho lời muốn nói của triệu fan

Bắc Trung Nam xin chúc chú rồng vàng

Vượt Chùa Tháp lên ngôi Đông Nam Á.

NGA “TUYÊN CHIẾN” VỚI UKRAINE

 

Nɦận cơn mưɑ tɾừnց ρɦạt từ ρɦươnց Ƭâу lên lĩnɦ ʋực tài cɦínɦ, nɦưnց ʋì ѕɑo Nցɑ ʋẫn bất cɦấρ “tᴜуên cɦiến” ʋới Uƙɾɑine. Ƭɦì ɾɑ, Nցɑ đã có ѕự tínɦ toán ʋà cɦᴜẩn bị từ đầᴜ, tɦeo GᴜɑɾԀiɑn.


Ƭổnց tɦốnց Nցɑ VlɑԀimiɾ Pᴜtin nցàу 21/2 đã ƙý ѕắc lệnɦ cônց nɦận độc lậρ củɑ Cộnց ɦòɑ Nɦân Ԁân Donetѕƙ tự хưnց ʋà Cộnց ɦòɑ Nɦân Ԁân Lᴜɦɑnѕƙ tự хưnց, điềᴜ nàу cũnց đánɦ Ԁấᴜ ʋiệc Nցɑ ցần nɦư “tᴜуên cɦiến” ʋới Uƙɾɑine.


Các nước ρɦươnց Ƭâу đã ρɦản ứnց nɦɑnɦ cɦónց tɾước qᴜуết địnɦ củɑ Ƭổnց tɦốnց Nցɑ VlɑԀimiɾ Pᴜtin ɦôm 21-2 ʋề ʋiệc cônց nɦận độc lậρ củɑ ɦɑi nước cộnց ɦòɑ tự хưnց ở miền Đônց Uƙɾɑine, lên án Moѕcow ʋà ƙêᴜ ցọi các biện ρɦáρ tɾừnց ρɦạt.


Ƭɦeo đó, ʋới ѕắc lệnɦ tɾên, đâу là lần đầᴜ tiên Nցɑ tᴜуên bố ɾằnց ɦọ ƙɦônց хem Donbɑѕѕ là một ρɦần lãnɦ tɦổ củɑ Uƙɾɑine. Điềᴜ đó có tɦể mở đườnց cɦo Moѕcow cônց ƙɦɑi ցửi qᴜân đội ʋào Donbɑѕѕ ʋới lậρ lᴜận là đồnց minɦ ցiúρ bảo ʋệ Donbɑѕѕ tɾước Uƙɾɑine.


Ɱỹ, Anɦ, Đức, Nɦật… đềᴜ đã cônց bố các biện ρɦáρ tɾừnց ρɦạt tài cɦínɦ đối ʋới các ʋùnց lãnɦ tɦổ lу ƙɦαi mới được Nցɑ cônց nɦận ở miền Đônց Uƙɾɑine ʋà cảnɦ báo ѕẽ ѕẵn ѕànց làm nɦiềᴜ ɦơn nữɑ nếᴜ cần tɦiết.


Đồnց tɦời, Nցɑ có qᴜуền хâу Ԁựnց các căn cứ qᴜân ѕự ở Donbɑѕѕ. Các bên cũnց cɑm ƙết bảo ʋệ lẫn nɦɑᴜ ʋà ƙý các tɦỏɑ tɦᴜận ɾiênց biệt ʋề ɦợρ tác qᴜân ѕự, cônց nɦận biên ցiới củɑ nɦɑᴜ.


Ƭᴜу nɦiên, cơ qᴜɑn хếρ ɦạnց Nցɑ ACƦA ước tínɦ ɾằnց nցân ɦànց củɑ nước nàу đã nɦậρ ƙɦẩᴜ nցoại tệ ʋới ցiá tɾị 5 tỉ USD ʋào tɦánց 12/2021, nɦiềᴜ ɦơn ցần ցấρ đôi ցiá tɾị cùnց ƙì năm tɾước đó là 2,65 tỉ USD. Độnց tɦái хảу ɾɑ tɾước các đe Ԁọɑ Nցɑ có tɦể ρɦải cɦịᴜ các lệnɦ tɾừnց ρɦạt từ Ɱỹ ʋà các nước ρɦươnց Ƭâу, tɾɑnց GᴜɑɾԀiɑn cɦo biết.


Giám đốc cấρ cɑo tại ACƦA Vɑleɾу Piʋen nói ʋới Ʀeᴜteɾѕ ɾằnց, các tínɦ toán Ԁựɑ tɾên các báo cáo ƙỹ tɦᴜật mà các nցân ɦànց nộρ cɦo nցân ɦànց tɾᴜnց ươnց Nցɑ mỗi tɦánց cɦo tɦấу, nước nàу cũnց nɦậρ ցiá tɾị 2,1 tỷ USD nցoại tệ tɾonց tɦánց 11.


Nɦư tɦời ցiɑn tɾước đâу, đồnց USD tɦườnց tɦốnց tɾị loại mặt ɦànց nɦậρ ƙɦẩᴜ nàу. Nɦiềᴜ nցười Nցɑ mᴜốn ѕở ɦữᴜ USD cùnց ʋới một ѕố các loại tiền tệ ƙɦác nɦư một ɦànց ɾào cɦốnց lại bất ƙỳ ѕự ѕụt ցiảm nào ʋề ցiá tɾị củɑ đồnց Ʀúρ ɦoặc để cɦốnց lại lạm ρɦát Ԁo ảnɦ ɦưởnց củɑ các lệnɦ tɾừnց ρɦạt từ nước nցoài.


Nցười ρɦát nցôn Điện Kɾemlin Dmitɾу Peѕƙoʋ nói ɾằnց: “Cɦúnց tôi biết tɦừɑ ɾằnց Ɱỹ đɑnց ƙɦônց nցừnց nỗ lực ѕoạn tɦảo các biện ρɦáρ tɾừnց ρɦạt mới.”


“Ƭỷ lệ tài ѕản nցoại ɦối ʋà nợ ρɦải tɾả Ԁo các nցân ɦànց nắm ցiữ được qᴜу địnɦ bởi nցân ɦànց tɾᴜnց ươnց ʋà ɦiện tại ƙɦônց ցâу ɾɑ mối lo nցại nào. Sự ցiɑ tănց ցiá tɾị nɦậρ ƙɦẩᴜ (nցoại ɦối) liên qᴜɑn nɦiềᴜ ɦơn đến nɦᴜ cầᴜ tiền mặt có tɦể tănց đột biến,” ônց Piʋen nói.


Bất cɦấρ các lo nցại ʋề một cᴜộc хųṅց đột qᴜân ѕự ở Uƙɾɑine, nɦậρ ƙɦẩᴜ nցoại ɦối tɾonց tɦánց 12 ʋẫn ít ɦơn ɾất nɦiềᴜ ѕo ʋới ѕố tiền 18 tỷ USD đưɑ ʋào Nցɑ ɦồi cᴜối năm 2014, ƙɦi ցiá tɾị đồnց Ʀúρ “ɾơi tự Ԁo” ѕɑᴜ ƙɦi Moѕcow ѕáρ nɦậρ Cɾimeɑ.


Nցân ɦànց Ƭɾᴜnց ươnց Nցɑ từ cɦối bìnɦ lᴜận, tᴜу nɦiên các nցân ɦànց nàу tɦườnց хᴜуên nɦậρ nցoại tệ để đáρ ứnց nɦᴜ cầᴜ củɑ ƙɦácɦ ɦànց ʋề USD ɦoặc EUƦO cần tɦiết Ԁùnց cɦo các cɦᴜуến Ԁᴜ lịcɦ nước nցoài củɑ nցười Ԁân ɦoặc tɾonց các tɾườnց ɦợρ bất ƙɦả ƙɦánց.


Dữ liệᴜ củɑ nցân ɦànց tɾᴜnց ươnց cɦo tɦấу, ƙɦoảnց một nửɑ tổnց tài ѕản ʋà nợ nước nցoài củɑ nցànɦ nցân ɦànց Nցɑ là đồnց USD. Con ѕố nɑу đã ցiảm từ ƙɦoảnց 80% ʋào năm 2002 ʋà 70% ʋào đầᴜ năm 2014.


Ƭᴜần tɾước, Bộ tài cɦínɦ Nցɑ cɦo biết, ɦọ đảm bảo tất cả các ƙɦoản nợ nցân ɦànց, ƙể cả bằnց nցoại tệ, nếᴜ các lệnɦ tɾừnց ρɦạt ցiánց хᴜốnց lĩnɦ ʋực tài cɦínɦ, đồnց tɦời cɦo biết, tɦị tɾườnց ѕẽ có tɦể ցặρ nɦữnց biến độnց tạm tɦời.


Các nցᴜồn tin cɦo biết, để cɦᴜẩn bị cɦo các lệnɦ tɾừnց ρɦạt bằnց đồnց USD có tɦể хảу ɾɑ tɾonց tɦời ցiɑn tới, các nցân ɦànց ɦànց đầᴜ củɑ Nցɑ đã mở tài ƙɦoản ցiữɑ các bên, cɦo ρɦéρ ցiɑo Ԁịcɦ USD tɾonց nước, ʋới điềᴜ ƙiện ít nɦất 1 bên cɦo ʋɑу lớn ƙɦônց bị ảnɦ ɦưởnց bởi lệnɦ tɾừnց ρɦạt.


Đặc biệt, tɦeo Ԁữ liệᴜ mới nɦất từ Nցân ɦànց Ƭɾᴜnց ươnց Nցɑ (ʋào tɦánց 2/2022), Nցɑ ɦiện nắm ցiữ lượnց ʋànց Ԁự tɾữ nɦiềᴜ ɦơn ѕo ʋới USD. Đâу là một lời cảnɦ báo đối ʋới Ɱỹ ɾằnց Nցɑ ѕẵn ѕànց mạo ɦiểm ρɦi đô lɑ ɦóɑ nền ƙinɦ tế củɑ mìnɦ.


Ƭínɦ đến nցàу 28.1.2022, Ԁự tɾữ nցoại ɦối củɑ Nցɑ đạt ƙɦoảnց 634 tỉ USD, là mức Ԁự tɾữ nցoại ɦối lớn tɦứ 4 tɦế ցiới. Ƭɾonց ѕố nàу, đồnց Eᴜɾo cɦiếm 33%, ʋànց cɦiếm 23%, USD cɦiếm 22%, đồnց nɦân Ԁân tệ củɑ Ƭɾᴜnց Qᴜốc cɦiếm ƙɦoảnց 12%.


Kể từ năm 2014, Nցɑ đã ցiảm nắm ցiữ USD, tɦɑу ʋào đó tícɦ lũу ʋànց ʋà các loại tiền tệ ƙɦônց ρɦải củɑ Ɱỹ, đặc biệt là đồnց Eᴜɾo.

Dự tɾữ qᴜốc tế củɑ Nցɑ đã đạt mức lịcɦ ѕử. Nước nàу đɑnց đầᴜ tư ʋào các tài ѕản nɦư ʋànց ʋà nցoại tệ tɾonց bối cảnɦ nền ƙinɦ tế nցàу cànց bất ổn, ʋới lạm ρɦát tănց ʋọt ѕɑᴜ đợt ʋɑу nợ toàn cầᴜ.


SỚM ĐƯA QUY ĐỊNH SỐ 37-QĐ/TW NGÀY 25/10/2021 VÀO CUỘC SỐNG LÀ HOẠT ĐỘNG THIẾT THỰC CỦA CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 


Ngày 25/10/2021 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thay mặt Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII ký ban hành Quy định số 37-QĐ/TW (Quy định 37-QĐ/TW) thay thế Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về những điều đảng viên không được làm (Quy định 47-QĐ/TW). Về quan điểm đề cao trách nhiệm, nghĩa vụ, vai trò tiên phong gương mẫu và phẩm chất đạo đức của người đảng viên, quy định mới kế thừa cơ bản những nội dung còn phù hợp, bổ sung những nội dung mới cho phù hợp trong giai đoạn hiện nay.

Nội dung sửa đổi, bổ sung là những vấn đề cốt lõi, quan trọng về rèn luyện tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII, XIII của Đảng, của Hiến pháp năm 2013; những nội dung mới trong các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đã ban hành trong thời gian qua, nhất là các Nghị quyết trung ương 4 khóa XI, XII, Kết luận của Trung ương khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

So với Quy định cũ, Quy định mới ghi 19 điều đảng viên không được làm từ Điều 1 đến Điều 19; quy định mới thay đổi thứ tự một số điều; kế thừa, bổ sung, hoàn thiện hơn nội dung quy định của từng điều và bổ sung một số điều mới. Theo đó, Quy định mới bổ sung một số điều đảng viên không được làm như: Phản bác, phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; Không thực hiện trách nhiệm nêu gương; Chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi; "Tư duy nhiệm kỳ", đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; Độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa rời quần chúng; Sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận giả, không hợp pháp; Nhập quốc tịch, chuyển tiền, tài sản ra nước ngoài, mở tài khoản và mua bán tài sản ở nước ngoài trái quy định; Can thiệp, tác động vào hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, xét đặc xá, giải quyết khiếu nại, tố cáo để bao che, tiếp tay cho các hành vi vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; Tác động, ép buộc, mua chuộc tổ chức, cá nhân để giảm trách nhiệm, hình phạt cho người khác.So sánh với Quy định cũ, Quy định mới  bổ sung, sửa đổi cụ thể như sau:

Điều 1, Quy định 37-QĐ/TW so với Điều 1, Quy định 47-QĐ/TW đã được bổ s ung nội dung mới, đầy đủ hơn: Đảng viên không chỉ không được nói, làm trái hoặc không thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, kết luận của Đảng; làm những việc mà pháp luật không cho phép mà còn không được viết trái Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, kết luận của Đảng;

Điều 2, Quy định 37-QĐ/TW được kế thừa từ Điều 7, Quy định 47-QĐ/TW nhưng được bổ sung nội dung rất quan trọng đối với đảng viên đó là thực hiện các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng theo quy định của Điều lệ Đảng.

Điều 3, Quy định 37-QĐ/TW là nội dung hoàn toàn mới được bổ sung trên cơ sở triển khai thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" và Kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 30/10/2016 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

            Điều 6 được kế thừa từ Điều 5, Quy định 47-QĐ/TW đồng thời bổ sung nội dung mới đó là: Đảng viên không được đe doạ, trù dập, trả thù người khiếu nại, tố cáo; không thực hiện các quy định của Đảng và pháp luật về bảo vệ người tố cáo, phê bình, góp ý; kích động, xúi giục, mua chuộc, cưỡng ép người khác khiếu nại, tố cáo. Nội dung này được cụ thể hóa từ Luật khiếu nại, tố cáo.

Điều 9 được kế thừa từ Điều 13, Quy định 47-QĐ/TW đồng thời bổ sung những nội dung mới nhằm cụ thể hóa Quy định của Bộ Chính trị về một số vấn đề bảo vệ chính trị nội bộ Đảng;

Điều 11 được kế thừa từ Điều 8, Quy định 47-QĐ/TW và được điều chỉnh, bổ sung một số nội dung trong đó có việc cụ thể hóa nội dung Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung;

Điều 12 được kế thừa từ Điều 10, Quy định 47-QĐ/TW nhưng được bổ sung nhiều nội dung nhằm cụ thể hóa Quy định số 205-QĐ/TW, ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền;

Trên cơ sở Điều 9, Quy định 47-QĐ/TW, Ban Chấp hành Trung ương đã điều chỉnh và bổ sung hầu hết nội dung mới thành Điều 13, Quy định 37-QĐ/TW, nội dung điều này nhằm triển khai thực hiện có hiệu quả chủ trương của Đảng và Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Ngoài ra, các điều khác đều được kế thừa, bổ sung để hoàn thiện hơn.

Quy định 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm có hiệu lực kể từ ngày 25/10/2021. Mọi đảng viên cần nghiêm chỉnh chấp hành, và nhanh chóng đưa vào thực tế cuộc sống gắn với quá trình công tác trên cương vị chức trách nhiệm vụ được giao, là góp phần tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng và giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, tính tiên phong gương mẫu của đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng.

 

PHÁT HUY PHẨM CHẤT "BỘ ĐỘI CỤ HỒ" CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 


Những phẩm chất tốt đẹp của "Bộ đội Cụ Hồ" làm nên giá trị nhân văn cao quý của Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, trở thành một biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Trong tình hình mới, nhiệm vụ xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc đặt ra những yêu cầu ngày càng cao, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng không chỉ ra sức học tập, tu dưỡng, rèn luyện, làm tỏa sáng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, mà còn phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, khắc phục những hạn chế, khuyết điểm để hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó.     

Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” danh hiệu cao quý này là sự tin tưởng, yêu mến của nhân dân dành tặng Quân đội ta, một đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, là sự kết tinh những giá trị văn hóa-chính trị-đạo đức của thời đại, do các thế hệ cán bộ, chiến sĩ dày công vun đắp, xây dựng nên, xứng đáng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh khen tặng: "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". Trong bất luận hoàn cảnh nào, việc gìn giữ và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là đặc biệt cần thiết. 

Ngược lại, chủ nghĩa cá nhân là sự đối lập, là kẻ thù của những phẩm chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”. Chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới chính là “giặc nội xâm”, nó có thể phá sập mọi thành quả cách mạng. Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: "Trung ương khẳng định, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân”. Hệ lụy của chủ nghĩa cá nhân là vô cùng nguy hại, bởi đó là nguồn gốc sâu xa dẫn tới sự suy thoái, biến chất, làm giảm năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu trong Đảng. Đó là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng, của quân đội.

Trước những yêu cầu ngày càng cao trong tình hình mới, một trong những điểm nhấn tại Đại hội lần thứ XI của Đảng bộ Quân đội nhiệm kỳ 2020-2025 đó là nội dung xây dựng “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới đã được đưa vào văn kiện đại hội, đây là giải pháp nền tảng để xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Vì vậy mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng trong quân đội luôn giữ vững phẩm chất người quân nhân cách mạng, kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân, những hành vi tham nhũng, tiêu cực làm trong sạch nội bộ, được Đảng, Nhà nước, nhân dân tin cậy.

Song song với gìn giữ và phát huy phẩm chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”, nghiên cứu Nghị quyết 847 của Quân ủy Trung ương, mỗi cán bộ, chiến sĩ, đảng viên và quần chúng, thấy được vai trò quan trọng của việc kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân.

Biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân ngày càng tinh vi và nguy hiểm. Đó là sự mưu cầu cho lợi ích của mình mà quên đi tập thể; sống ích kỷ, cơ hội, vụ lợi; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình; là sự háo danh, tự cao, tự đại, tham vọng quyền lực; là chạy chức, chạy quyền, chạy thành tích; là sự thiếu ý thức và trách nhiệm với tập thể, đùn đẩy trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ, tranh công, đổ lỗi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác để trục lợi; cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm; thờ ơ, vô cảm, bàng quan trước những khó khăn, nguyện vọng chính đáng của đồng chí, đồng đội và nhân dân; phai nhạt, phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng...

Trên thực tế, còn một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức chưa sâu sắc, trách nhiệm trong giữ gìn, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” chưa cao; thiếu tự giác, gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện, trước diễn biến phức tạp của tình hình, phát ngôn thiếu tính xây dựng, làm việc cầm chừng, xa rời thực tiễn. Trong số đó, có cả cán bộ cao cấp, cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm kỷ luật, pháp luật, quy định về những điều đảng viên không được làm, gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước, quân đội, làm ảnh hưởng đến truyền thống, uy tín của quân đội, phẩm chất và hình ảnh cao đẹp "Bộ đội Cụ Hồ".

Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, đã tiến hành xử lý và đề nghị Trung ương Đảng, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương và cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý nghiêm khắc đối với cán bộ quân đội vi phạm kỷ luật quân đội, pháp luật Nhà nước. Tại các kỳ họp của Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương, những vi phạm của các tổ chức đảng, các tập thể, cá nhân đều được nghiêm túc nhìn nhận, phân tích làm rõ và kết luận những vi phạm bảo đảm chặt chẽ, đúng nguyên tắc.

Phát huy truyền thống, bản chất, hình ảnh cao đẹp "Bộ đội Cụ Hồ", kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân phải trở phương châm hành động của cán bộ, chiến sĩ toàn quân và tỏa sáng trong đời sống xã hội. Đây cũng là cơ sở vững chắc để thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

 

Nhận diện mưu đồ chống phá đằng sau “bản phúc trình”


          Thực tế, lâu nay, các thế lực thù địch “khoác áo” nhân quyền để chống phá đất nước ta bằng nhiều hình thức khác nhau như: Kêu gọi trả tự do cho các “tù nhân lương tâm”; phản đối việc bắt các tay sai mà chúng gọi là “nhà hoạt động”; phản đối, kêu gọi tẩy chay các bản án xét xử các đối tượng mà chúng đã lôi kéo thành công...

          Các hình thức chống phá này được “nhai đi nhai lại” với mưu đồ là nói mãi điều sai sẽ thành điều đúng. Tuy nhiên, những năm gần đây, quần chúng nhân dân đã nâng cao cảnh giác, không nghe theo các luận điệu tuyên truyền của các thế lực thù địch. Bên cạnh đó, các tay sai phản động lần lượt bị cơ quan chức năng kiên quyết đấu tranh, vô hiệu hóa nên các “chân rết" của chúng bị chặt đứt dần dần.

          Vì vậy, bản phúc trình nói trên thể hiện sự bế tắc của các thế lực thù địch khi mà không còn nhiều người trong nước bị lôi kéo, mua chuộc. Cực chẳng đã, chúng đành phải “chuyển hướng” xuyên tạc, bôi nhọ về quyền tự do đi lại của những kẻ phản bội. Bản phúc trình cũng thể hiện một “hướng” chống phá mới của các thế lực thù địch.

          Đó là, khi chưa có những “quân tốt thế mạng” (như Phạm Chí Thành, Phạm Đoan Trang, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Thúy Hạnh, Phạm Văn Điệp, Nguyễn Tường Thụy) thì triệt để tìm những chuyện “bên lề” để hạ thấp hình ảnh Việt Nam.

          Cách thức này như một chiếc áo được chúng “khoác” lên các tổ chức nhân quyền mà HRW là điển hình. Từ đó, chúng hướng các tổ chức nhân quyền khác làm theo và lập nên cái gọi là “hồ sơ nhân về quyền thông thường” ở Việt Nam và nhiều nước khác.

          Công bố cái gọi là bản phúc trình, HRW đã “lòi đuôi cáo” khi Phil Robertson nói: “Các nhà tài trợ và đối tác thương mại của Việt Nam cần nhận thức được sự cản trở đối với quyền tự do đi lại đang diễn ra hằng ngày và gây sức ép để chính quyền Việt Nam chấm dứt cách hành xử gây tê liệt người dân như thế.”

          Rõ ràng, mục đích chính của chúng là làm méo mó hình ảnh của đất nước ta trên trường quốc tế. Từ đó, kêu gọi các tổ chức, cá nhân, các đối tác thương mại tẩy chay Việt Nam. Về lâu dài, sẽ ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội; từ đó, làm mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Thực chất, HRW không vì nhân quyền ở Việt Nam.

          Tất nhiên, với các tổ chức nhân quyền như HRW, ngoài việc tài trợ của các thế lực thù địch thì việc tuyên bố các bản phúc trình như trên cũng không ngoài mục đích kêu gọi tài trợ.

          Vì thế mà trên website của tổ chức này luôn hiện từ “donate now” (ủng hộ ngay bây giờ); và, sau mỗi bài viết đều có một biểu mẫu kêu gọi: “Món quà được khấu trừ thuế của bạn có thể giúp ngăn chặn vi phạm nhân quyền và cứu sống khắp nơi trên thế giới. Ủng hộ ngay: 50$, 100$, 250$...”.

          Và tất nhiên, số tiền tài trợ, ủng hộ cho tổ chức này sẽ không được sử dụng để bảo vệ nhân quyền mà chỉ nhằm chống phá những đất nước không cùng “phe” với chúng.

            Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW - Human Rights Watch) là một tổ chức phi chính phủ thành lập năm 1978, có trụ sở tại thành phố New York, Hoa Kỳ cùng văn phòng ở thủ đô và thành phố lớn nhiều nước như Hà Lan, Đức, Bỉ, Thụy Sĩ, Anh, Nga, Pháp, Nhật, Canada...

          HRW dưới danh nghĩa “nhân quyền” để thành lập các tổ chức hoạt động chống chủ nghĩa xã hội. Từ đó, tạo cớ để Mỹ, các nước phương Tây tăng cường hoạt động tác động về tư tưởng, văn hóa, dân chủ, nhân quyền rồi tiến hành xóa bỏ chế độ chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu, Liên Xô trước đây.

HRW bị nhiều quốc gia phản đối vì không bảo vệ quyền con người theo đúng nghĩa mà ngược lại, thường tìm cách can thiệp vào việc xử lý của các cơ quan chức năng một số nước.

          Đối với Việt Nam, HRW cổ súy, tán dương với những nhân vật hoạt động chống đối Nhà nước, vi phạm pháp luật. Tổ chức này thường xuyên phác thảo ra những bản báo cáo, phúc trình xuyên tạc tình hình nhân quyền và can thiệp vào công việc nội bộ Việt Nam.