Thứ Ba, 1 tháng 3, 2022

ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, HẠ THẤP UY TÍN LÃNH ĐẠO ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG

 Thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách nhằm lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Một trong những thủ đoạn chống phá Đảng và chế độ ta mà các thế lực thù địch triệt để sử dụng trong bối cảnh, tình hình mới là tung tin xuyên tạc, hạ thấp uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Vào những dịp như Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; công tác bổ nhiệm, luân chuyển sau Đại hội; những khó khăn, phức tạp liên quan đến tình hình dịch bệnh COVID-19,... là những cơ hội để chúng ráo riết tìm mọi cách tấn công trực diện vào công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ cấp cao. Thông qua Internet và mạng xã hội, với những kịch bản được chuẩn bị khá kỹ, chúng đã tổ chức các “cấp độ” chiến dịch vu cáo, xuyên tạc, bôi nhọ có thể nói là khá bài bản. Thể hiện ở một số khía cạnh sau:

Một là, không chỉ bằng những thông tin, hình ảnh cắt ghép, sai lệch, lẫn lộn thật-giả, chúng còn sử dụng những phát ngôn, bình luận của một số “chuyên gia” và “học giả” bất mãn để “lập luận” quy chụp, biến không thành có, có “ít suýt ra nhiều”, gây hoài nghi trong dư luận, tạo hiệu ứng tiêu cực trong tâm lý, tư tưởng, tình cảm của một bộ phận nhân dân và cán bộ thiếu bản lĩnh.

Hai là, chúng lợi dụng, kích động hoặc mua chuộc một số đối tượng bất mãn, bất hảo để tung đơn thư nặc danh, mạo danh trên các trang mạng xã hội; lan truyền những thông tin sai trái nhằm kích động chia rẽ nội bộ; bôi nhọ danh dự, nhân phẩm những cán bộ trong nguồn quy hoạch; xuyên tạc quan điểm, ý kiến chỉ đạo, định hướng của lãnh đạo Đảng, Nhà nước trước những vấn đề quan trọng, nhạy cảm của đất nước và xã hội,... Đồng thời tạo ra hàng loạt bình luận (comnent) tiêu cực nhằm gây nhiễu loạn, hoài nghi trong dư luận, khiến không ít người bị rơi vào “trận đồ bát quái” mà không hiểu đúng sai thế nào!

Ba là, chúng thêu dệt, bịa đặt về nguồn gốc xuất thân, gia đình cũng như bản thân cán bộ lãnh đạo cấp cao, trong đó hầu hết là những nội dung theo kiểu “thâm cung bí sử”, đen tốitiêu cực... để rồi quy chụp rằng mọi bí ẩn, khuất tất, xấu xa đều liên quan đến cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Chúng lu loa rằng dân chủ ở Việt Nam chỉ là “chiếc bánh vẽ”, đồng thời để hạ thấp uy tín đại biểu Quốc hội, chúng rêu rao “tất cả những người mà được gọi là đại biểu quốc hội đều được lựa chọn quyết định từ trước, bầu cử chỉ là hình thức.

Bốn là, các thế lực phản động, thù địch luôn “nhấn mạnh” cái gọi là “nguyên nhân của những tiêu cực xuất phát từ công tác nhân sự. Chúng đưa ra các bài viết, phỏng vấn, trao đổi, bình luận với những luận điệu như: công tác nhân sự của Đảng, nhất là nhân sự cấp cao là cuộc “tranh giành quyền lực”, “thanh trừng nội bộ”, “thủ tiêu đối phương”, “theo lợi ích nhóm”,… công tác nhân sự trong Đảng chỉ là sự ngụy tạo, chỉ là hợp thức hóa, là dịp để hội hè, tốn kém tiền bạc của nhân dân, còn nhân sự đã được sắp đặt theo lợi ích nhóm. Cùng với đó, chúng cho rằng “cán bộ lãnh đạo của Đảng là nhóm người đặc quyền đặc lợi”, “tự cho mình cái quyền được ban phát quyền lực, bổng lộc, chức tước, biến quyền lực của nhân dân thành quyền lực của mình”. Vẫn là “mô-típ” cũ, những luận điệu xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín, danh dự của đội ngũ cán bộ nói chung, lãnh đạo Đảng, Nhà nước nói riêng trong tình hình hiện nay chỉ là “phần nổi của tảng băng”, nguy hiểm và sâu xa hơn - điều mà các thế lực thù địch, phản động nhắm đến chính là “tung hỏa mù” để gây nghi ngờ, hoang mang trong dư luận, làm mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Bằng tri thức lý luận và từ thực tiễn đời sống chính trị, xã hội của đất nước, chúng ta hoàn toàn có cơ sở và luận cứ khoa học để đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái, thù địch đó là:

Một là, không phải chỉ ở Việt Nam, mà mỗi đảng chính trị, đảng cầm quyền ở bất kỳ quốc gia hay thể chế chính trị nào, đều phải bầu ra bộ máy lãnh đạo của mình và phải tiến hành công tác lựa chọn, bầu cử ra đội ngũ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu dưới hình thức dân chủ trực tiếp hoặc gián tiếp. Đó là công việc quan trọng và được tiến hành theo quy định, quy trình chặt chẽ.

Hai là, quán triệt những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh“cán bộ là cái gốc của mọi công việc... huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”; “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”công tác nhân sự của Đảng ta luôn được tiến hành theo đúng quy địnhquy trình chặt chẽ, nghiêm túc, công tâm, khoa học, dựa trên các nguyên tắc xây dựng Đảng và sự đồng thuận của nhân dân.

Ba là, những cán bộ được giới thiệu, bầu vào các vị trí chủ chốt của Đảng, Nhà nước trong nhiệm kỳ Đại hội XIII nhìn chung đều được đào tạo bài bản, trải nghiệm thực tiễn, có phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo, quản lýđặc biệt là được nhân dân tin tưởng, tín nhiệm.

Bốn là, Đảng ta luôn coi trọng và thực hiện thường xuyên việc bồi dưỡng, giáo dục và rèn luyện cán bộ đảng viên. Những cán bộ có biểu hiện đặc quyền, đặc lợi, xa hoa, trụy lạc đều bị xử lý nghiêm khắc, thích đángNhững kết quả đạt được trong công cuộc phòng, chống tham nhũng của Đảng thời gian qua đã thể hiện rõ tính quyết liệt, thường xuyên và không có vùng cấm” của Đảng. Đại hội XIII của Đảng xác định: “...phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”. Trong đó, xây dựng Đảng về đạo đức là “nền tảng”, là “cái gốc” cho Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Năm là, Đảng ta đặc biệt quan tâm đến vấn đề kiểm soát quyền lực. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nhấn mạnh “phải nhốt quyền lực vào lồng cơ chế, pháp luật”. Theo đó, Cương lĩnh, Điều lệ, kỷ luật Đảng; Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước; sự tín nhiệm của nhân dân là những yếu tố quyết định đến chất lượng giám sát quyền lực, khắc phục những biểu hiện tha hóa, lộng quyền, củng cố và phát huy vai trò, uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Sáu là, xét trên phương diện thực tiễn, phần lớn đội ngũ cán bộ đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo của ĐảngNhà nước luôn giữ vững tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống; cống hiến trí tuệ, tài năng và nhiệt huyết, đóng góp xứng đáng vào “những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử” của đất nước. Vì thế, không thể “lấy ví dụ” một số trường hợp suy thoái, sai phạm đã bị xử lý kỷ luật, truy tố để coi là “cái phổ biến” và “là bản chất” của đội ngũ lãnh đạo Đảng, Nhà nước - như những luận điệu sai trái mà các thế lực thù địch, phản động tung ra.

Từ những vấn đề nêu trên, là người dân yêu nước dù là bất cứ ai sống trên lãnh thổ Việt Nam hay ở nước ngoài, chúng ta luôn cảnh giác với các thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, luôn tỉnh táo trước các luận điệu xảo trá, xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta để thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực phản động.

 

KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, XUYÊN TẠC ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA TRONG PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID-19 HIỆN NAY

 Trong thời gian qua, lợi dụng tình hình của dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch, phản động, các đối tượng bất mãn chính trị trong và ngoài nước đã lợi dụng phát tán trên không gian mạng nhiều thông tin sai sự thật, xuyên tạc về tình hình chống dịch ở Việt Nam, cho rằng, Đảng, Nhà nước ta thông tin không đầy đủ tình hình dịch bệnh (giấu thông tin số lượng ca nhiễm, ca tử vong do nhiễm bệnh), lợi dụng việc Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam kêu gọi ủng hộ chống dịch chúng rêu rao rằng: Đảng, Nhà nước Việt Nam không lo cho dân mà bắt dân phải đóng góp chống dịch; Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ là “cấm chợ ngăn sông”, làm hại các doanh nghiệp,... Từ những luận điệu trên, chúng so sánh với các nước tư bản lớn trên thế giới để hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta.

Trên thực tế, với sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt ngay từ đầu của Trung ương Đảng, Chính phủ, sự vào cuộc của ngành y tế và toàn hệ thống chính trị, đặc biệt là sự đồng lòng của người dân, nên đến nay có thể thấy rằng, nhờ công tác dự báo và việc chủ động phòng ngừa dịch bệnh nguy hiểm này nên Việt Nam đã chủ động tiến hành các biện pháp nhằm hạn chế tối đa mọi nguồn lây nhiềm ở bên ngoài xâm nhập vào nội địa. Cũng nhờ thực hiện tốt công tác tuyên truyền giáo dục, mà người dân đã tuân thủ hướng dẫn phòng chống dịch bệnh, trung thực khai báo y tế, nghiêm túc thực hiện cách ly tập trung cũng như giãn cách xã hội.

Ngay sau khi dịch bệnh Covid-19 bùng phát trở lại, nước ta đã kịp thời chỉ đạo thực hiện tốt các khâu từ phát hiện, sàng lọc, truy vết, khoanh vùng và chữa trị, cũng như ổn định tình hình nhân dân, nghiêm túc thực hiện 5K; chuyển công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19 từ phòng ngự sang tiến công. Đặc biệt quán triệt và thực hiện nghiêm Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch COVID-19. Đến nay, dịch bệnh cơ bản đã được kiểm soát, nhất là đã khoanh vùng được các ổ dịch lớn tại nhiều tỉnh, thành và vẫn đảm bảo các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội phù hợp trong tình hình mới. Chúng ta luôn tin tưởng rằng dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước ta, cùng với tinh thần trách nhiệm cao, nỗ lực, chỉ đạo không biết mệt mỏi của các cấp, các ngành trong công tác phòng chống dịch bệnh và sự đồng lòng, quyết tâm của nhân dân cả nước nước ta sẽ chiến thắng, đẩy lùi dịch bệnh trong mọi điều kiện hoàn cảnh để ổn định tình hình, phát triển kinh tế đất nước.

Tất cả những việc chúng ta đã làm trong thời gian qua và hiện nay, đó chính là những cơ sở, những bằng chứng để đấu tranh, bác bỏ các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động nhằm xuyên tạc những kết quả trong phòng, chống dịch Covid-19 của Đảng và Nhà nước ta trong thời gian qua.

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỚI VIỆC TẠO DỰNG CƠ ĐỒ ĐẤT NƯỚC

 Từ thực tiễn khách quan của công cuộc đổi mới đất nước hơn 35 năm qua, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có đánh giá sâu sắc: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” và điều đó cũng được Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng thêm một lần khẳng định. Vậy chúng ta cùng tìm hiểu về cơ đồ đất nước, việc tạo dựng, bảo vệ cơ đồ đất nước và sự lớn lao, tươi sáng của cơ đồ đất nước hiện nay.

Thật khó để có quan niệm chuẩn xác về cơ đồ đất nước, nhưng có thể coi cơ đồ đất nước là thành quả của những sự nghiệp, mục tiêu, lý tưởng lớn lao với những giá trị bền vững và ngày càng gia tăng về vật chất và tinh thần. Cơ đồ đất nước có thể nhận rõ được là giang sơn gấm vóc; là độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; là một đất nước hùng cường, chế độ xã hội tốt đẹp, nhân dân hạnh phúc. Quan niệm như vậy sẽ thấy cơ đồ đất nước được biểu hiện trước tiên là hình hài của đất nước. Có lẽ vì thế mà nhà thơ Tố Hữu từng thốt lên cảm xúc: “Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi!”; nhà thơ Chế Lan Viên cũng có câu thơ rất hay: “Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm!/ Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?”. Cơ đồ đất nước dễ nhận thấy ngay là vẻ đẹp, nhưng còn nhiều tố chất nữa tạo nên cơ đồ đó.

Từ những điều gợi mở trên cho thấy: cơ đồ là thành quả của sự nghiệp lớn lao và cơ đồ của đất nước trước hết là cương vực lãnh thổ, bởi đó là không gian sinh tồn, phát triển của quốc gia, dân tộc. Phải quyết chí theo một sự nghiệp lớn và trải qua muôn vàn gian khổ mới tạo lập được cơ đồ. Nhưng có được cơ đồ bước đầu đã khó, giữ vững cơ đồ còn khó hơn nhiều. Giữ được cơ đồ trước hết phải giữ được độc lập của quốc gia, dân tộc. Danh tướng vĩ đại Lý Thường Kiệt từng phá tan quân Tống xâm lược cùng với Tuyên ngôn độc lập đầu tiên trong lịch sử nước ta là bài thơ “Nam quốc sơn hà”: “Sông núi nước Nam vua Nam ở/ Rành rành định phận ở sách trời/ Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm/ Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”. Trong thiên cổ hùng văn “Bình Ngô đại cáo”, tuyên ngôn độc lập thứ hai trong lịch sử Việt Nam, Nguyễn Trãi khẳng định: “Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu”. Thái sư Trần Quang Khải để lại muôn đời công trạng hiển hách cùng những câu thơ nổi tiếng: “Chương Dương cướp giáo giặc/ Hàm Tử bắt quân thù/ Thái bình nên gắng sức/ Non nước ấy ngàn thu”.
Trong suốt chiều dài lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc, ông cha ta đã mở mang bờ cõi, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; vừa từng bước tạo dựng cơ đồ đất nước, vừa kiên quyết đấu tranh chống giặc ngoại xâm, chiến thắng nhiều đế quốc hung hãn, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và độc lập dân tộc. Nhưng khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, triều đình nhà Nguyễn đã không giữ được cơ đồ. Phát huy truyền thống yêu nước, các tầng lớp nhân dân ta đã liên tiếp vùng lên chống giặc nhưng tất cả đều bị dìm trong máu lửa. Sự đô hộ của thực dân Pháp gần một thế kỷ đã chứng tỏ cả giai cấp phong kiến và đại diện cho các thế lực tư sản đã hết vai trò lịch sử, vận mệnh của dân tộc và cơ đồ của đất nước lâm vào tình thế bế tắc. Vấn đề bức thiết đặt ra là bằng con đường nào, cách thức nào, tổ chức lực lượng thế nào để đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại độc lập dân tộc và đưa đất nước phát triển. Vấn đề vô cùng bức thiết này đã được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc luận giải: con đường giành độc lập dân tộc phải là con đường cách mạng vô sản. Người đã gieo hạt, gây mầm và tạo dựng sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Với sự vận dụng linh hoạt, tài tình của Nguyễn Ái Quốc, chủ nghĩa Mác – Lênin kết hợp với phong trào yêu nước và phong trào công nhân chuyển hóa thành một sự kiện trọng đại: ngày 03/02/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục và rèn luyện đã được dân tộc giao phó kiến tạo và phát triển cơ đồ đất nước trong điều kiện mới. Lịch sử hơn 90 năm của Đảng ta là hành trình thực hiện nhiệm vụ vô cùng khó khăn, phức tạp nhưng rất đỗi vinh quang. Những chặng đường đã qua của cách mạng Việt Nam ghi đậm những thành công tuyệt vời của Đảng trong việc lãnh đạo dân tộc ta, nhân dân ta xây dựng cơ đồ đất nước. Điều đó thể hiện trên những nội dung chính yếu sau:
Thứ nhất, Đảng ta xác định và lãnh đạo nhân dân thực hiện mục tiêu lý tưởng của sự nghiệp cách mạng: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Vừa ra đời, Đảng ta đã chủ trương: thực hiện tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội Cộng sản. Chủ trương đó của Đảng được nhân dân đồng tình cao và trở thành lẽ đương nhiên; chủ nghĩa xã hội không chỉ là mục tiêu lựa chọn mà là xung lực thúc đẩy lịch sử Việt Nam chuyển mình, là con đường để dân tộc ta tạo dựng cơ đồ đất nước ngày càng bền vững. Chỉ có độc lập dân tộc thì cơ đồ đất nước mới được vẹn toàn và chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đem lại cho đất nước một xã hội tốt lành gắn liền với tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no, bảo đảm hạnh phúc cho mọi người dân. Rõ ràng, mục tiêu lý tưởng và sự lựa chọn độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Đảng và Nhân dân ta, xét về lô gic là một tất yếu khách quan; xét về lịch sử là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu và xu thế của thời đại; xét về điều kiện cụ thể của một nước thuộc địa, nửa phong kiến là nguyện vọng cháy bỏng của nhân dân Việt Nam; xét về mục tiêu tạo dựng cơ đồ đất nước là hệ giá trị cơ bản nhất cho đất nước Việt Nam vừa qua, hôm nay và mai sau. Đó chính là con đường duy nhất để kiến tạo và phát triển cơ đồ đất nước.
Thứ hai, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giành lại giang sơn cho đất nước, độc lập, tự do cho dân tộc, tạo tiền đề quan trọng nhất để tạo dựng cơ đồ đất nước. Nhận thức và hành động theo sự lựa chọn con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dưới ngọn cờ của Đảng, toàn thể Nhân dân ta chung sức, chung lòng tiến hành cuộc cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thách thức và đã giành được những thắng lợi vĩ đại. Đó là: thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa nước ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954; là chiến thắng đế quốc Mỹ và bè lũ ngụy quyền tay sai mà đỉnh cao là đại thắng mùa Xuân năm 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; là chiến thắng oanh liệt hai cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Thứ ba, Đảng lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội, nền tảng trọng yếu của cơ đồ đất nước. Quan niệm của Đảng ta về nội dung nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội đã được hình thành trên cơ sở tổng kết hoạt động thực tiễn và nâng tầm lý luận. “Xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhiệm vụ tổng thể của toàn Đảng, Nhà nước, toàn quân và toàn dân ta, nhằm đưa nước ta thành nước tiên tiến với mục tiêu cao cả: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo, có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”.

Đảng Cộng sản Việt Nam tiêu biểu cho bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam trong việc tạo dựng cơ đồ đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tỏ rõ tính độc lập, tự chủ trong đường lối, chính sách đối nội và đối ngoại, đưa nước ta từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến trở thành một quốc gia độc lập, tự do; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta có những bước phát triển mới, vững chắc.

Bước ngoặt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là việc Đảng ta phát động và lãnh đạo tổ chức thực hiện sự nghiệp đổi mới, tạo ra bước đột phá lớn và toàn diện, làm xoay chuyển tình hình, đưa đất nước tiến lên. Chính đổi mới đã đưa đất nước ta từ chỗ thiếu thốn trăm bề, hằng năm phải nhập lương thực để đảm bảo mức sống tối thiểu, nay trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Chưa bao giờ nhịp độ phát triển và đổi thay từ nông thôn tới thành thị, từ miền núi đến đồng bằng lại nhanh chóng, mạnh mẽ như hiện nay. Cũng chưa bao giờ phong cách sống và làm việc của mọi người lại có những nét mới mẻ, tươi vui và sinh động như hôm nay. Đổi mới đã đem đến một sức sống mới cho đất nước, tiếp sức và nâng bước cho đôi chân chúng ta trên con đường hạnh phúc. Sau hơn 35 năm đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước”.

Điều đó khẳng định: chặng đường từ khi có Đảng là chặng đường rất đỗi vinh quang trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và xây dựng cơ đồ đất nước. Thực tiễn đã chứng tỏ con đường cách mạng giải phóng dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội là hết sức đúng đắn, sáng tạo. Và hiện nay, đường lối đổi mới và hội nhập quốc tế do Đảng ta khởi xây, lãnh đạo, tổ chức thực hiện rất phù hợp với nhịp bước của thời đại. Đó cũng là hai nhiệm vụ chiến lược thực hiện mục tiêu chung phát triển cơ đồ đất nước. Thành công của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế đã làm thay đổi rõ rệt diện mạo của đất nước, tăng cường xung lực cho đời sống xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ta. Cơ đồ đất nước ngày càng lớn mạnh, vững chắc tạo phong độ mới, thế mới, lực mới để Việt Nam vươn tầm, có đủ sức lực và trí tuệ để sánh vai cùng bạn bè thế giới. Chúng ta tin tưởng rằng, cơ đồ đất nước sẽ ngày càng vững chắc hơn, tươi sáng hơn với mục tiêu cao đẹp: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

NGẪM VỀ ĐIỀU KHÔNG ĐƯỢC LÀM CỦA ĐẢNG VIÊN

 Cha mẹ sinh con ra, ai cũng muốn con mình luôn khỏe mạnh, ngoan ngoãn, trưởng thành, có ích cho gia đình và xã hội nên thường chú tâm dạy bảo cho con những điều hay lẽ phải, lấy hành vi tốt của người này để khuyên con bắt chước làm theo, lấy hành động xấu của người kia đặng nhắc con nên tránh. Và, việc dạy con không được làm những điều “trái tai gai mắt” đã được cha mẹ định hình từ lúc bé.

Từ chuyện không được làm của xã hội để ngẫm về những điều đảng viên không được làm theo Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII). Những điều không được làm đó không chỉ là vấn đề “trái tai gai mắt”, mà đó là sự suy thoái, thậm chí là vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước nên cần có quy định để ngăn chặn, phòng ngừa. Tuy nhiên, bên cạnh sự đồng tình của đa số cán bộ, đảng viên về sự cần thiết phải ban hành Quy định này, có ý kiến cho rằng, nên chăng, cứ giữ nguyên quy định cũ, bởi đã ăn sâu vào tiềm thức đảng viên, vấn đề quan trọng là mỗi đảng viên có tự giác chấp hành nó trong thực tiễn hay không, v.v. Thực ra, ý kiến trên không phải không có cơ sở, nhất là mong muốn đưa những điều đảng viên không được làm thực sự đi vào cuộc sống; trở thành nếp sống hằng ngày đối với cán bộ, đảng viên. Nhưng ngẫm lại thì ý kiến đó chưa thật đúng và đầy đủ. Bởi lẽ, với tốc độ phát triển của xã hội ngày nay, một quy định ban hành cách đây hơn 10 năm sẽ có nhiều điều không còn phù hợp. Hơn nữa, đây lại là những điều liên quan trực tiếp đến từng cán bộ, đảng viên và sức mạnh nội sinh của Đảng, nếu không có định hướng, quy định chặt chẽ, khoa học,… thì khó có thể đạt hiệu quả trong thực tiễn. Vì thế, Quy định 37 của Đảng như một lẽ tự nhiên, là việc làm thường lệ, nhưng cũng rất quan trọng cấp thiết. Với nội hàm đầy đủ, chặt chẽ, lô gic vừa có tính kế thừa, vừa được bổ sung, sửa đổi những nội dung mới phù hợp, Quy định số 37 được xem như khung tiêu chuẩn; là mệnh lệnh mới của Đảng đối với mỗi cán bộ, đảng viên; dù bất cứ ở cương vị nào đều phải tự giác chấp hành, không có sự ưu ái, thiên vị hay ngoại lệ.

Cũng chẳng có gì khó hiểu, khó làm theo Quy định số 37 cả, nếu như mọi cán bộ, đảng viên xác định rõ vai trò, vị trí của nó để tự giác rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng, nâng cao năng lực công tác, thực sự gương mẫu đi đầu, đề cao trách nhiệm thực hiện thật tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Cùng với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên “tự soi”, “tự sửa”, không để suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Với tinh thần “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, hành động nêu gương tốt của đảng viên sẽ được nhân lên, lan tỏa những giá trị tốt đẹp cho toàn xã hội.
“Quốc có Quốc pháp, Gia có Gia quy”, Nghị quyết, Điều lệ, Chỉ thị, Quy định,… của Đảng đã đề ra thì mọi cán bộ, đảng viên phải tuyệt đối chấp hành. Song, dù Nghị quyết, Điều lệ, Chỉ thị, Quy định,… của Đảng có chi tiết, cụ thể đến đâu cũng không thể bao phủ hết thực tiễn sinh động của cuộc sống. Do đó, điều quan trọng hơn cả vẫn từ ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện, tự điều chỉnh hành vi của mỗi đảng viên, theo phương châm: “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”. Những ai không như thế, thì đã tự đưa mình ra “ngoài vòng pháp luật”, trở thành những người phai nhạt lý tưởng cách mạng, phản bội lại Đảng, phụ bạc lòng tin của nhân dân dù rằng họ cố tìm mọi cách quanh co, lấp liếm, hòng đổ lỗi cho hoàn cảnh hay bất cứ lý do nào khác.

 

PHẨM CHẤT “BỘ ĐỘI CỤ HỒ” VÀ CUỘC CHIẾN ĐẤU GIỮA THỜI BÌNH

 Phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ là một hệ thống chuẩn mực, giá trị tư cách đạo đức của người quân nhân cách mạng, thể hiện tập trung ở lời khen ngợi của Bác Hồ: "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng".

Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” phản ánh bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta. Phẩm chất đó được biểu hiện qua các thuộc tính phản ánh những giá trị truyền thống như: bản lĩnh chính trị; ý chí, quyết tâm chiến đấu; đạo đức quân nhân cách mạng; ý thức tổ chức kỷ luật; đức hy sinh; tình đoàn kết quốc tế... Trong giai đoạn mới của cách mạng, cán bộ, chiến sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam đã tạo nên nhiều giá trị phẩm chất mới như: tinh thần xung kích; tầm cao trí tuệ, sự năng động, sáng tạo trong nghiên cứu khoa học; năng lực ngoại giao; trình độ, kiến thức làm chủ, hòa nhập cùng cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và nhịp sống mới; năng lực điều hành tác chiến điện tử, tác chiến trên không gian mạng;...

Trong các cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, phầm chất đó luôn gắn liền với hình ảnh anh “Bộ đội Cụ Hồ” và những chiến công của lớp lớp cán bộ, chiến sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Trong thời bình, phầm chất “Bộ đội Cụ Hồ” càng tỏa sáng, đẹp đẽ hơn trong lòng nhân dân và bạn bè quốc tế. Quân đội luôn là lực lượng nòng cốt, xung kích đi đầu trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục sự cố môi trường; tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp quốc.

Đặc biệt, trong cuộc chiến phòng, chống đại dịch COVID-19, với tinh thần "chống dịch như chống giặc", cán bộ, chiến sỹ toàn quân đã xung kích, vượt qua muôn vàn khó khăn, hiểm nguy; thực sự là chỗ dựa vững chắc, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, xứng đáng là “Quân đội của nhân dân, Quân đội trong lòng dân”. Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, nhân tố giữ vai trò đặc biệt quan trọng tạo nên chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta. Trước kẻ địch Covid-19 hung hiểm, nền tảng phẩm chất ấy đã giúp cho cán bộ, chiến sỹ Quân đội hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình, góp phần bảo vệ sức khỏe, tính mạng, tài sản của Nhân dân. Chính trong những thời khắc khó khăn nhất, chúng ta đã chứng kiến phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” luôn được phát huy và tỏa sáng.

Hiện nay, Quân đội đang cùng toàn dân áp dụng trạng thái phòng, chống dịch theo các cấp độ dịch được xác định tại Nghị quyết 128 của Thủ tướng Chính phủ về thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19. Qua các đợt dịch bùng phát, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” càng được tôi luyện và khẳng định sâu sắc hơn. Đây chính là nền tảng vững chắc để Quân đội tiếp tục hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó, đồng thời tích cực góp phần kiểm soát, ngăn chặn và đẩy lùi dịch bệnh, vì cuộc sống bình yên và hạnh phúc của Nhân dân.

NHẬN THỨC VỀ ĐẶC TRƯNG CỦA PHẨM CHẤT BỘ ĐỘI CỤ HỒ TRONG ĐIỀU KIỆN MỚI

 Trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương (QUTƯ) về “phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới" (viết tắt là Nghị quyết 847) có một nội dung quan trọng được cán bộ, chiến sĩ đặc biệt quan tâm, thể hiện sự tâm đắc, đó chính là việc khái quát, chỉ rõ các đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong điều kiện hiện nay và cách nhận diện, phấn đấu đạt được các thuộc tính của đặc trưng đó.

Bước phát triển về tư duy

Quan điểm về Bộ đội Cụ Hồ và phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ không phải đến bây giờ QUTƯ, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị... mới đề cập đến, mà ngay từ rất sớm, trong quân đội đã có một hệ thống lý luận khá cơ bản, toàn diện về vấn đề này, bao gồm: Khái niệm, quan điểm, nội dung, bản chất, truyền thống, hệ giá trị, chuẩn mực văn hóa Bộ đội Cụ Hồ.

Lần này, trên cơ sở kế thừa, phát triển và bằng tư duy mới, cách tiếp cận mới, QUTƯ đã khái quát 5 đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Đây được xem là bước phát triển trong tổng kết lý luận và phát triển lý luận. Bởi lẽ, khi nghiên cứu Nghị quyết 847, không ít người sẽ đặt câu hỏi: Vì sao QUTƯ đưa ra khái niệm đặc trưng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ mà lại không tiếp cận theo hệ giá trị hay các chuẩn mực Bộ đội Cụ Hồ như đã đề cập lâu nay? Trả lời câu hỏi ấy, dưới góc độ tư duy mở, chúng tôi cho rằng, việc tiếp cận, đưa ra các đặc trưng cơ bản phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ là do một số lý do sau đây:

Trước hết, cách tiếp cận này nhằm chủ ý đưa ra các thuộc tính có tính chất làm căn cứ (nhưng không cứng nhắc, áp đặt) để các cấp từng bước quán triệt, triển khai, cụ thể hóa một cách linh hoạt, sáng tạo, sát với đặc thù và thực tiễn ở mỗi cấp. Đây chính là cơ sở giúp các cấp dễ vận dụng sáng tạo, hiệu quả đối với từng đối tượng, lực lượng, từng cá nhân trên cương vị, chức trách công tác khác nhau.

Rõ ràng, khái niệm “đặc trưng” nhằm để chỉ các thuộc tính riêng lẻ mà chúng ta có thể xác định và đo đạc được khi quan sát một hiện tượng, sự vật nào đó. Như vậy, tiếp cận với khái niệm đặc trưng (chứ không phải là hệ giá trị, các chuẩn mực) là nhằm hướng vào việc so sánh, đối chiếu, giúp cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ các thuộc tính để nhận biết, tập trung xây dựng, phát triển phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong điều kiện mới. Hay nói cách khác, các đặc trưng cơ bản phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ sẽ giúp chủ thể phân biệt rõ những điểm khác nhau (hoặc khác biệt) với đặc trưng của các bộ phận, giai tầng lực lượng xã hội khác. Đặc trưng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ sẽ có thuộc tính riêng biệt hoặc riêng có, không thể pha lẫn với đặc trưng của các đối tượng xã hội khác; ví như đặc trưng phẩm chất của công chức, viên chức nhà nước, đặc trưng phẩm chất của lực lượng Công an nhân dân, của công nhân, nông dân, tri thức... Trên cơ sở nắm chắc, hiểu sâu về 5 đặc trưng cơ bản thì sẽ rất thuận lợi cho việc tạo lập mục tiêu, xác định phương hướng, xây dựng kế hoạch, chương trình, với lộ trình, bước đi, tiến độ phù hợp... để sớm đạt được các thuộc tính trong từng đặc trưng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ.

Hơn thế, việc đưa ra 5 đặc trưng cho thấy tính chất mở trong lý luận và chủ trương lãnh đạo. Có nghĩa, đặc trưng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ không phải là cái bất biến, mà nó luôn vận động phát triển qua các thời kỳ, giai đoạn lịch sử khác nhau. Có thể các giá trị Bộ đội Cụ Hồ đã có là khá vững chắc, nhưng qua năm tháng vẫn có sự bổ sung, phát triển, hoàn thiện và nhận diện nó qua các đặc trưng (ở mỗi thời điểm lịch sử khác nhau sẽ có sự khác nhau). Nhờ đó mà các cấp ủy, tổ chức, cơ quan, đơn vị sẽ thiết lập, hoàn thiện cơ chế, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi nhất giúp các giá trị Bộ đội Cụ Hồ được gìn giữ, bổ sung, phát triển; hoặc nảy nở, hình thành nên những phẩm chất mới của Bộ đội Cụ Hồ trong điều kiện xã hội hiện nay.

Tiếp cận như vậy để thấy, hệ thống các quan niệm, quan điểm trong Nghị quyết 847 là đúng đắn, sáng tạo, có tính phát triển trên cơ sở bám sát diễn biến mau lẹ, sinh động của tình hình; giúp cho lý luận thể hiện được tính “đi trước đón đầu”, dẫn dắt, định hướng thực tiễn.

Linh hoạt, sáng tạo trong vận dụng, triển khai

Nghiên cứu 5 đặc trưng cơ bản phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong Nghị quyết 847 cho thấy tính khái quát lý luận rất cao về nội dung đề cập. Một mặt, các đặc trưng thể hiện rõ những thuộc tính vốn đã có trong phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ; mặt khác lại khái quát, đúc rút nên những đặc trưng mới (thậm chí đang hình thành, củng cố), có tính thời sự và cấp thiết, ví như đặc trưng về “tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”, “kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện suy thoái, tiêu cực, tham nhũng, lãng phí”... Đây là bước cập nhật hóa, cụ thể hóa chủ trương, giải pháp của Trung ương; cũng là vấn đề được đúc rút từ thực tiễn; minh chứng cho yêu cầu ngày càng cao về phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Nói cách khác, việc gìn giữ, phát huy các phẩm chất đã có từ trước phải gắn chặt với nỗ lực hình thành, hoàn thiện, phát triển những phẩm chất đặc trưng mới của Bộ đội Cụ Hồ hiện nay và trong tương lai.

Một điểm khá ấn tượng trong Nghị quyết 847 là việc sử dụng các khái niệm, câu từ, văn phong dù có tính hệ thống, tính khái quát cao nhưng rất dễ hiểu, dung dị, gần gũi để mô tả các thuộc tính của 5 đặc trưng. Hơn thế, dù đề cập một cách hệ thống, đầy đủ, khái quát thuộc tính của 5 đặc trưng nhưng Nghị quyết 847 chỉ thể hiện trong 343 từ, cho thấy sự ngắn gọn, súc tích; minh chứng cho kết quả nghiên cứu nghiêm túc, công phu, sâu sắc; hướng đến tinh thần: Ban hành nghị quyết nhằm mục tiêu cao nhất là để quán triệt, thực hiện nhanh nhất, sớm nhất, hiệu quả nhất trên thực tế!

Quán triệt Nghị quyết 847, các cấp ủy, cơ quan, đơn vị cần linh hoạt, sáng tạo, cụ thể hóa thành các mục tiêu, chỉ tiêu, các thuộc tính trong đặc trưng Bộ đội Cụ Hồ sát với từng đối tượng, loại hình và đặc thù cơ quan, đơn vị. Ví như đặc trưng phẩm chất của cán bộ chủ trì, chủ chốt; đặc trưng phẩm chất cán bộ cơ quan chiến lược; các đặc trưng của sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức, hạ sĩ quan chiến sĩ; hoặc các nhóm đặc trưng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ công tác ở từng lĩnh vực, quân, binh chủng khác nhau...

Thể hiện rõ tinh thần đó, ngay trong nghị quyết, QUTƯ nêu lên các quan điểm và giải pháp lãnh đạo cụ thể, yêu cầu các cấp tránh sự áp đặt, vận dụng máy móc. Có nghĩa, các cấp vừa xác định các thuộc tính đặc trưng cần gìn giữ, phát huy; vừa tập trung nuôi dưỡng những giá trị Bộ đội Cụ Hồ tốt đẹp mới được hình thành; khai phá các giá trị tiềm năng, giúp “đâm chồi nảy lộc”, kết nên các giá trị đặc trưng mới trong điều kiện xã hội hiện đại, tiếp cận và thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, đáp ứng yêu cầu tác chiến hiện đại, hoàn thành các nhiệm vụ, nghĩa vụ quốc tế và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Cũng bởi tính chất đó, quá trình triển khai nghị quyết, các cấp ủy, cơ quan, đơn vị cần chú trọng định kỳ sơ kết, rút kinh nghiệm thực hiện Nghị quyết 847 nói chung, xây dựng, hoàn thiện các đặc trưng Bộ đội Cụ Hồ nói riêng. Cần chú trọng phát hiện, nuôi dưỡng các thuộc tính mới trong mỗi đặc trưng; tập trung lãnh đạo xây dựng và nhân rộng bằng những giải pháp, mô hình mới, cách làm sáng tạo; kết hợp với sớm phát hiện, nhận diện những dấu hiệu thuộc tính tiêu cực, các biểu hiện lệch chuẩn trong xu hướng phát triển nhân cách quân nhân... để kịp thời ngăn chặn, xử lý triệt để, nhất là 10 dấu hiệu của chủ nghĩa cá nhân cũng được đề cập trong Nghị quyết 847 lần này.

PHẠM THỊ ĐOAN TRANG MỘT CON RỐI CỦA “GIẢI THƯỞNG TỰ DO BÁO CHÍ CANADA - VƯƠNG QUỐC ANH NĂM 2022”

 Vào ngày 10/2/2022, Bộ ngoại giáo Canada và Vương quốc Anh đã trao “Giải thưởng Tự do Báo chí Canada - Vương quốc Anh năm 2022” cho Phạm Thị Đoan Trang với lý do cơ quan này đưa ra là “để ghi nhận những đóng góp của bà cho việc thúc đẩy tự do báo chí tại Việt Nam”. Trong thông cáo báo chí nêu rõ: “Giải thưởng Tự do Báo chí Canada - Vương quốc Anh ghi nhận công việc của những người đã bảo vệ các nhà báo hoặc đi đầu trong tự do báo chí ở cấp địa phương, tôn vinh các tổ chức, chiến dịch và cá nhân ít được biết đến trong cuộc đấu tranh với việc không trừng phạt những hành vi chống lại nhà báo. Ra mắt năm 2020, giải thưởng ghi nhận những người thúc đẩy tự do báo chí, bất kể trực tiếp hay gián tiếp. Bà Trang được tổ chức này biết đến với những cuốn sách về dân chủ và những bài viết về xã hội dân sự và những người bất đồng chính kiến ở Việt Nam. Là người thúc đẩy sự tiến bộ về quyền con người và tinh thần thượng tôn pháp luật, bà Trang viết về các vấn đề môi trường quan trọng. Tổ chức Phóng viên Không Biên giới đã trao Giải Tự do báo chí cho bà Trang năm 2019 để ghi nhận công lao này.

Sự kiện này đã khiến dư luận trong nước “dậy sóng”, thực hư việc Phạm Thị Đoan Trang là người đáng được tôn vinh hay là kẻ đáng được lên án tại đất nước sinh ra và nuôi lớn Ả? Quay lại thời gian Trang trước khi bị bắt sẽ trả lời được câu hỏi trên.

Ngày 18-10, Viện Kiểm sát nhân dân TP Hà Nội ban hành cáo trạng truy tố Phạm Thị Đoan Trang về tội "Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, quy định tại Điều 88 Bộ luật hình sự năm 1999. Theo cáo trạng, từ ngày 16/11/2017 đến 5/12/2018, Phạm Thị Đoan Trang có hành vi làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, bài viết có nội dung nhằm chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cụ thể, Phạm Thị Đoan Trang cùng Trịnh Hội - đối tượng cầm đầu VOICE lập ra cái gọi là “Luật khoa tạp chí”, tiếng là thuần phân tích hệ thống luật pháp các nước nhưng bạn đọc kiểu gì cũng sẽ nhìn vào nó có hơi hướng chống lại hệ thống luật pháp Việt Nam. Không dừng lại ở đó, Phạm Thị Đoan Trang còn viết hàng trăm tài liệu nội dung xuyên tạc, phản động; thực hiện trên 50 lượt trả lời phỏng vấn các đài báo nước ngoài; viết, tán phát 10 cuốn sách có nội dung tuyên truyền xuyên tạc thực trạng dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam, đả phá, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, hướng dẫn "kỹ năng", cách thức đối phó với cơ quan An ninh như Cẩm nang truyền thông”, “Cẩm nang pháp lý dành cho các bạn hoạt động xã hội”, “Từ facebook xuống đường”. “Bầu cử phi dân chủ ở Việt Nam”, “Chính trị bình dân”, “Toàn cảnh thảm họa môi trường Formosa ở Việt Nam”,... kích động lật đổ chế độ.

Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội khẳng định, các tài liệu trên có nội dung tuyên truyền "luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân, tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" và bị kết án 9 năm tù hồi tháng 12/2021 là hoàn toàn đúng người đúng tội. Việc Bộ ngoại giao Canada và Vương quốc Anh đã trao “Giải thưởng Tự do Báo chí Canada - Vương quốc Anh năm 2022” cho Phạm Thị Đoan Trang ghi nhận những đóng góp của Trang đối với việc thúc đẩy tự do báo chí tại Việt Nam là việc làm phi lý, không thực tế. Đáp trả việc này, Phó phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng nêu rõ: Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm bảo vệ và thúc đẩy các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin…Phạm Thị Đoan Trang bị bắt và xét xử do có những hành động vi phạm pháp luật nhiều lần, nghiêm trọng, liên hệ với các tổ chức và cá nhân ở nước ngoài, xuất bản các ấn phẩm trái phép có nội dung… nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.

Như vậy hành vi của Phạm Thị Đoan Trang trên thực tế là rất nguy hiểm, đi ngược lại với đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Việc Bộ Ngoại giao Canada và Anh trao giải thưởng cho cá nhân vi phạm pháp luật ở Việt Nam là một hành động thiếu khách quan, không phù hợp, là cách nhìn nhận phiến diện, chỉ nhìn thấy một phía. Văn hóa của người Việt Nam là “Đánh kẻ chạy đi chứ không ai đánh người chạy lại” khuyên con người ta nên tha thứ bỏ qua cho những người đã nhận ra lỗi lầm của mình, để họ có cơ hội sửa sai, làm lại. Nhưng với Phạm Thị Đoan Trang là người có trình độ, Trang thừa sức biết việc gì nên hay không nên làm cho dân tộc mình. Nhưng Ả vẫn cố tình đi ngược con đường mà cả dân tộc đánh đổi bao xương máu có được, chống lại chính quyền của toàn thể nhân dân lao động dày công xây dựng nên và với tư tưởng, việc làm hoàn toàn sai trái, cần phải lên án những việc làm của Ả, cũng như phản bác việc Bộ Ngoại giao Canada và Anh trao giải thưởng cho Phạm Thị Đoan Trang “Giải thưởng Tự do Báo chí Canada - Vương quốc Anh năm 2022” là một hành động không thể chấp nhận./.

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG VIỆT NAM

 Thời gian qua, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực và với dã tâm thâm độc, âm mưu nham hiểm, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị không từ thủ đoạn nào để chống phá, xuyên tạc chính sách quốc phòng Việt Nam.

Trước hết, các thế lực thù địch căn cứ vào những điểm mới trong sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 để đưa ra luận điệu sai trái, suy diễn không có căn cứ và xuyên tạc nguyên tắc “bốn không”. Họ cho rằng: Việt Nam đưa ra cái “không” thứ 4 khi đang ở thế bị động và sẽ nghiêng vào một nước khác khi cần thiết. Rằng: “không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” là “tự trói tay chân mình” và không phù hợp với tình hình thực tế, đi ngược lại với xu thế toàn cầu hóa; “không sử dụng vũ lực” nghĩa là Việt Nam từ bỏ việc dùng vũ lực trong bảo vệ đất nước. Đặc biệt, lợi dụng tình hình phức tạp trên Biển Đông, họ đả kích, cho rằng nếu thực hiện chính sách quốc phòng như trên thì Việt Nam sẽ không thể giữ vững chủ quyền, không thể bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc rồi tìm cách hô hào cổ súy tư tưởng dựa dẫm, lệ thuộc vào các nước lớn, đặc biệt là Mỹ, hoặc khối NATO, v.v. Các luồng thông tin sai lệch được các đối tượng đưa ra nhằm kêu gọi, hướng lái Việt Nam tham gia các liên minh quân sự; đặc biệt, là liên minh với các quốc gia khác và từng bước làm lệch lạc nhận thức về chính sách quốc phòng hòa bình và tự vệ của Việt Nam. Những luận điệu sai trái này nhằm thúc đẩy ý đồ gây ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, Nhà nước và Quân đội ta.

Thứ hai, chúng tung tin thất thiệt rằng, Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh để chống lại một nước thứ ba; quy kết Việt Nam khơi mào cho cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực. Đây là luận điệu hết sức xảo trá. Ngân sách quốc phòng của nước ta được công khai với tỷ lệ phần trăm GDP luôn là một con số rất nhỏ so với các nước trong khu vực. Xây dựng tiềm lực quốc phòng cũng chính là yếu tố để tự vệ, không ngoài mục đích giữ gìn hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Sách trắng Quốc phòng 2019 cũng khẳng định, Chiến lược Quốc phòng Việt Nam là chiến lược phòng thủ quốc gia, bảo vệ đất nước, giữ nước từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược. Chúng ta đầu tư xây dựng tiềm lực quốc phòng phù hợp với tốc độ phát triển kinh tế của đất nước, nhưng kiên quyết không chạy đua vũ trang thì làm sao chúng ta có thể khơi mào cho một cuộc chạy đua vũ trang!

Trong các văn kiện của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước ta đều khẳng định nhất quán chính sách quốc phòng Việt Nam mang tính chất chính nghĩa, hòa bình và tự vệ. Điều 4, Luật Quốc phòng chỉ rõ: “… không tham gia lực lượng, liên minh quân sự của bên này chống bên kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của Việt Nam để chống lại nước khác; không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; giải quyết mọi bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi”. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 tiếp tục khẳng định: “Chính sách Quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế…”. Trên thực tế, Việt Nam luôn nỗ lực thực thi đúng đắn chính sách quốc phòng đã đề ra với đường lối quốc phòng, quân sự độc lập, tự chủ, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc, tạo sức mạnh bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Đồng thời, tích cực thực hiện cam kết trở thành quốc gia thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới.

Thực chất các đối tượng thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang ra sức xuyên tạc chính sách quốc phòng Việt Nam là nhằm phá hoại chính sách ngoại giao của Đảng, Nhà nước ta; làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, Quân đội, cũng như khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tiến tới xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, hiện thực hóa mưu đồ “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Vì vậy, cảnh giác và nhận diện rõ những thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch hòng xuyên tạc về bản chất chính sách quốc phòng của Việt Nam chính là giữ gìn, bảo vệ vị thế, uy tín của nước ta trên trường quốc tế.

“ĂN TÀN”, COI CHỪNG BỎNG MIỆNG!

 Từ xa xưa, những kẻ có hành vi a dua, nịnh bợ, ăn theo nói leo để hưởng lợi được ông bà ta ví là “theo đóm ăn tàn”.

Cái lợi mà họ thu được từ những hành vi tiêu cực ấy rất nhỏ bé, còn hậu quả của nó thì khó lường. Trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, việc nhận diện để đấu tranh có hiệu quả với những biểu hiện “theo đóm ăn tàn” trong nội bộ Đảng và hệ thống chính trị là vô cùng cần thiết, cấp bách.

Ai muốn “theo đóm ăn tàn”?

Cạp nong là một loài rắn độc. Chúng có đặc điểm sinh tồn khác biệt so với các loài khác, đó là rất thích ăn tàn tro. Kinh nghiệm bao đời của nhà nông cho thấy, mỗi khi đốt đuốc ra đồng gieo cấy, thu hoạch mùa màng, rắn cạp nong thường theo chân người để ăn tàn đóm. Nếu không cảnh giác đề phòng, con người rất dễ bị rắn cắn. Nhưng với những người thợ săn rắn thì đặc điểm tự nhiên này lại là cơ hội để dễ dàng dụ rắn ra khỏi hang, bắt được những con rắn bự. Theo đóm chỉ nhặt được những mảnh tàn tro nhưng nhiều khi rắn phải trả giá bằng cả tính mạng...

Từ hiện tượng của thế giới tự nhiên, bằng cách nói ẩn dụ, tổ tiên, ông bà ta đã truyền thông điệp cho muôn đời hậu thế, rằng trong cuộc sống phải luôn cảnh giác, đấu tranh, tẩy chay những hành vi kiểu rắn cạp nong. Mặt khác, đó cũng là lời cảnh tỉnh, cảnh báo cho những ai có tư tưởng ấy, hãy tự soi mình, tự gột rửa để sửa chữa, chớ vì những cái lợi nhỏ nhoi mà phải trả giá bằng uy tín, danh dự.

Càng ngẫm càng thấy rõ, ở xã hội nào, lĩnh vực nào cũng có những con người, những hành vi kiểu như vậy. Từ điển tiếng Việt giải thích thành ngữ “Theo đóm ăn tàn” là: “Hùa theo, a dua theo để mong kiếm chác lợi lộc”. Trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, sự xuất hiện của những hành vi như vậy chính là biểu hiện của suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống. Không khó để nhận diện những biểu hiện ấy trong tổ chức đảng và hệ thống chính trị. Đó là những người cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, yếu lập trường, thiếu bản lĩnh, gió chiều nào che chiều ấy. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gọi đó là biểu hiện của “lươn, chạch”. Khi đương chức, đương quyền thì xun xoe, nịnh bợ để tiến thân. Khi không đạt được mục đích, nguyện vọng, nhất là trong quy hoạch, bổ nhiệm hoặc dính dáng đến lợi ích nhóm, thì sinh ra tiêu cực, hùa theo các đối tượng bất mãn để chống đối. Tận dụng tiện ích công nghệ thông minh và không gian mạng, sau khi chuyển ngành, nghỉ hưu, nghỉ việc, thậm chí là ra nước ngoài định cư, một số người đã quay lại bới móc, nói xấu tổ chức, bôi nhọ đồng chí, đồng nghiệp. Họ thường theo dõi các kênh truyền thông, tài khoản của các tổ chức, cá nhân có tư tưởng thù địch với Đảng, Nhà nước ta, ăn theo những thông tin xuyên tạc, thất thiệt rồi a dua theo các đối tượng có tư tưởng thù địch bôi nhọ chế độ, quay lưng với lợi ích quốc gia-dân tộc. Tình trạng này đã được Đảng ta chỉ rõ trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), đó là: “Kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân...”.

Ban đầu chỉ là kiểu nói ám chỉ vu vơ, càng về sau càng tăng dần cấp độ, tính chất. Từ việc moi móc những hạn chế, tiêu cực trong nội bộ tổ chức, cơ quan đến hùa theo tư tưởng phản động, phán xét, chỉ trích, hạ bệ lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Dần dần, họ biến mình thành công cụ cho các thế lực thù địch giật dây, móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập, chống phá Đảng và Nhà nước.

Từ những vụ việc, vụ án xử lý, xét xử các đối tượng vì tội âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân trong những năm vừa qua, chúng ta thấy rõ, nguyên nhân phạm tội của nhiều đối tượng đều bắt đầu từ việc “theo đóm ăn tàn” như đã trình bày. Ở thái cực đối lập, các thế lực thù địch luôn áp dụng chiêu bài “dụ rắn ra khỏi hang”, tha hồ đốt đóm, đốt đuốc, tung tàn để những thành phần mang tư duy, tư tưởng cạp nong lao ra “ăn tàn”. Những cái lợi về tiền bạc, vật chất mà họ được dụ dỗ quá nhỏ bé. Những ngôn từ mà họ được các thế lực thù địch, phần tử phản động tung hô cũng chỉ là thứ danh ảo. Nhưng hậu quả thì thật, rất thật. Khi bị đưa ra xử lý kỷ luật, xét xử trước pháp luật thì khác gì “ăn tàn, bỏng miệng”, mất hết danh dự, uy tín, ảnh hưởng nặng nề đến gia đình, họ tộc, để lại di chứng về tinh thần...

Coi trọng phòng ngừa, thường xuyên cảnh báo

Trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), Đảng ta đã chỉ rõ, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường... Đó vừa là nhận định thẳng thắn, khách quan, vừa là lời cảnh báo nghiêm khắc đối với thái độ và bổn phận tự tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng trong giai đoạn hiện nay.

Lâu nay, trước những vụ việc, vấn đề tiêu cực nảy sinh trong nội bộ Đảng và hệ thống chính trị, không ít người cho rằng đó là do kẽ hở của pháp luật, những bất cập trong hành lang pháp lý và kỷ luật Đảng, rồi thì đổ lỗi do cơ chế... Thực chất, đó là ngụy biện. Tính chiến đấu, tính kỷ luật trong Đảng mang bản chất nhân văn xã hội chủ nghĩa, là “kỷ luật một vài người để cứu muôn người” như cách nói của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Chúng ta lấy giáo dục, thuyết phục, lấy phòng ngừa làm chính, lấy xây để chống, vì vậy, để ngăn chặn, tiến tới thủ tiêu tư duy, hành vi “theo đóm ăn tàn”, trước hết và trên hết phải coi trọng công tác phòng ngừa, thường xuyên cảnh báo để nhắc nhở, răn đe.

Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng của chúng ta đã và đang đi đúng hướng, đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần chấn hưng văn hóa Đảng, đạo đức cán bộ, đảng viên, củng cố niềm tin của nhân dân. Từ Đại hội XII đến Đại hội XIII, Đảng ta đã tạo được bước đột phá mạnh mẽ, sâu sắc về phương thức, giải pháp, hiệu quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII đã mở rộng phạm vi đấu tranh, ngăn chặn suy thoái, không chỉ trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà còn bao gồm cả trong xây dựng hệ thống chính trị. Đảng ta xác định, phải kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Cùng với lấy giáo dục, thuyết phục làm chính, việc đấu tranh, xử lý những hành vi vi phạm của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị cũng phải được tiến hành kịp thời, nghiêm minh, kiên quyết, thường xuyên.

Cùng với Kết luận số 21, Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm đã nêu rất cụ thể những hành vi cấm kỵ đối với cán bộ, đảng viên. Đây chính là cơ sở để tổ chức đảng các cấp căn cứ vào thẩm quyền, nhiệm vụ để cụ thể hóa vào công tác lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện phê bình, tự phê bình, duy trì nghiêm kỷ luật Đảng. Mỗi cán bộ, đảng viên phải quán triệt nghiêm túc, lấy đó làm tiêu chí tự tu dưỡng, rèn luyện. Cơ sở nguyên tắc và yêu cầu thực tiễn đã chứng minh, những biểu hiện suy thoái chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống không phải do cơ chế, kỷ luật lỏng lẻo như cách lý giải ngụy biện, mà cái chính đều do ý thức chủ quan, thiếu tu dưỡng, rèn luyện của một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Trong bối cảnh hiện nay, không gian mạng là môi trường dễ phát sinh các loại “đóm” nên cũng sẽ có không ít người muốn “ăn tàn”. Sự cảnh báo không chỉ từ phía các vụ án, vụ việc bị phát hiện, điều tra, xử lý, mà quan trọng nhất là phải nhắc nhở để răn đe, ngăn chặn từ gốc. Từ văn hóa sử dụng mạng xã hội đến phát ngôn, ứng xử của cán bộ, đảng viên, công chức... đều phải tuân thủ nghiêm các quy định và Điều lệ Đảng. Đặc biệt, đối với những người nổi tiếng, người có ảnh hưởng trong xã hội, phải coi trọng phòng ngừa và kiên quyết chống các hành vi tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội đi ngược lại đường lối của Đảng; chống việc cổ xúy quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan, thổi phồng mặt trái của xã hội; ngăn chặn việc sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo sự thật, hạ thấp uy tín của Đảng. Cán bộ, đảng viên trong tổ chức đảng các cấp, nhất là người đứng đầu, tuyệt đối không để bị chi phối, tác động bởi các hành vi không lành mạnh của bất cứ tổ chức, cá nhân nào. Chớ bốc đồng, a dua “theo đóm ăn tàn” kẻo rồi “bỏng miệng”...

KHỞI TỐ, BẮT GIAM BỊ CAN TRẦN VĂN BANG VỀ HÀNH VI CHỐNG PHÁ NHÀ NƯỚC

 Công an TP.HCM đã khởi tố, bắt giam bị can Trần Văn Bang vì có hành vi chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” quy định tại điều 117 Bộ luật Hình sự.
Ngày 1.3, Cơ quan An ninh điều tra Công an TP.HCM đã tiến hành bắt giam bị can Trần Văn Bang (61 tuổi, trú tại số 860/60X/27 Xô Viết Nghệ Tĩnh, P.25, Q.Bình Thạnh) để điều tra về hành vi tàng trữ, soạn thảo, đăng tải và tán phát trên mạng internet các bài viết có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc, phỉ báng nhằm chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn TP.
Hành vi của Trần Văn Bang đã phạm vào điều 117, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Liên quan đến sự việc nói trên, ngày 24.11.2021, Công an TP.HCM đã khởi tố vụ án “làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”. Ngày 23.2, Công an TP.HCM đã ra quyết định khởi tố bị can, lệnh khám xét nơi ở của Trần Văn Bang. Công an TP.HCM đã thu được một số sách, tài liệu của Trần Văn Bang có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc chống phá Nhà nước. Công an TP.HCM tiếp tục điều tra làm rõ hành vi phạm tội của bị can Trần Văn Bang và các đối tượng liên quan để xử lý theo đúng quy định pháp luật./. (BTM)
------------------
PV-TG. (Theo Báo Thanh Niên)



GIÁ TRỊ VÀ SỨC SỐNG CỦA TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH LÀ KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

 Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, hiện nay là thời đại của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, khoa học - công nghệ hiện đại..., nên những tư tưởng hay những quan niệm về đạo đức của Hồ Chí Minh đã bộc lộ những 'sự lỗi thời', 'lạc hậu', 'không còn phù hợp' với thời đại…

Sự thật là, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên sức sống và giá trị thời đại, bởi bản chất cách mạng, khoa học và nhân văn của chính tư tưởng, đạo đức đó và bởi sự vận dụng sáng tạo tư tưởng vượt trước thời đại của Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam của Đảng ta để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa chiến lược và sách lược cách mạng trong toàn bộ tiến trình cách mạng XHCN.

Trải qua hơn 92 năm từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn “kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; kiên định đường lối đổi mới của Đảng...; bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động” .

Tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh thể hiện tấm gương ngời sáng của người cộng sản mẫu mực, người chiến sĩ suốt đời đấu tranh, dâng hiến cả cuộc đời và sự nghiệp của mình cho lý tưởng và mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Người đã thâu thái những giá trị văn hóa đạo đức của nhân loại để làm giàu trí tuệ của mình, định hướng giá trị đạo đức trong thời đại mới về lòng yêu thương vô hạn đối với nhân dân, nhân loại bị áp bức, tinh thần quốc tế trong sáng, chống chia rẽ, bất bình đẳng, phân biệt chủng tộc. Bạn bè năm châu khâm phục và coi Người là biểu tượng cao đẹp của những giá trị về tư tưởng, lương tri và phẩm giá làm người, hướng con người tới chân, thiện, mỹ.

Giá trị thời đại trong tư tưởng, đạo đức của Người còn được đánh giá cao bởi sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích dân tộc và lợi ích cộng đồng quốc tế, giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, phù hợp với xu thế vận động, phát triển của quan hệ quốc tế hiện đại. Đạo đức và tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung, trước sau như một của Hồ Chí Minh là tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam và nhân loại, gắn kết con người lại gần với nhau hơn.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng tri thức cách mạng, vốn hiểu biết về văn hóa sâu sắc và cái nhìn duy vật biện chứng, Người đã phát hiện và tiếp nhận cái thiện, cái mỹ, cái cốt lõi nhân văn và tiến bộ của thế giới, coi các giá trị nhân bản của các tôn giáo là những di sản văn hóa tinh thần quý báu của nhân loại. Những chuẩn mực “trung, hiếu, cần, kiệm, liêm, chính”... là những khái niệm thuộc hệ đạo đức Nho giáo, chứa đựng nội dung hạn hẹp, nhưng được Người đưa vào nội dung mới, có ý nghĩa khoa học, cách mạng và nhân văn.

“Trung với nước, hiếu với dân” là mối quan hệ thể hiện trách nhiệm hành động, quyết tâm, suốt đời, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; Người đấu tranh với mọi cái ác, cái xấu, tham ô, lãng phí, quan liêu, để hướng đến xây dựng “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”, “thanh khiết từ to đến nhỏ”.

Người luôn căn dặn mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ cần phải rèn luyện đạo đức hằng ngày, tu dưỡng suốt đời, để tránh sa vào chủ nghĩa cá nhân. Dù với cuộc đời nào và sống như thế nào, đạo đức và lối sống của Người vẫn giữ đúng nguyên tắc: lấy khiêm tốn, giản dị làm nền, lấy chừng mực, điều độ làm chuẩn, lấy trong sạch, thanh cao làm vui, lấy yêu thương con người làm trọng, lấy gắn bó giữa con người với thiên nhiên làm niềm say mê vô tận. Đúng như một nhận xét sâu sắc, tinh tế về Người “là một cuộc đời thanh tao, không gợn chút riêng tư, luôn tôn trọng nguyên tắc, có niềm tin vào sự thật và chính nghĩa”.

Đảng ta khẳng định, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đi đến thắng lợi; hơn thế còn dẫn đường cho nhân loại đi đến hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trên cương vị Chủ tịch Hội đồng hòa bình thế giới, ông Romet Chandra đã khẳng định: “Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập, tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa bình và công lí, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ đâu nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống lại đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Phong trào hòa bình thế giới đã học được những gì ở Hồ Chí Minh và nước Việt Nam của Người?

Một là, tính chất chống đế quốc của phong trào hòa bình thế giới đã trở nên sắc bén nhờ đứng cạnh cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Hai là, đứng bên cạnh cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam và đứng bên cạnh Hồ Chí Minh, phong trào hòa bình thế giới đã nhìn thấy rõ hơn bao giờ hết sự gắn bó sống còn giữa cuộc đấu tranh vì độc lập và tự do, cuộc đấu tranh cho chính nghĩa vì cuộc đấu tranh cho CNXH. Đứng bên cạnh cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam, chúng ta học được ở Chủ tịch Hồ Chí Minh sự cần thiết phải kết hợp cuộc đấu tranh bảo vệ hòa bình thế giới, chống chiến tranh, với cuộc đấu tranh để xây dựng một thế giới mới, trong đó chủ nghĩa đế quốc và đói nghèo vĩnh viễn bị xóa bỏ”.

Để đưa dân tộc ta vững bước tới tương lai, một nhiệm vụ quan trọng đặt ra là phải đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đồng thời, kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng tất cả sức mạnh của vũ khí phê phán, làm cho học thuyết khoa học và cách mạng của chúng ta tỏa sáng và lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội, góp phần đưa sự nghiệp đổi mới tiến lên giành những thắng lợi mới, làm cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh như Bác Hồ kính yêu hằng mong muốn./. (HD)
------------
PT-TG. st


SỰ PHÂN BIỆT CAY ĐẮNG!

         Mỹ và phương Tây phát biểu về hoà bình rất hay, cho tới khi người ta nhớ ra họ là tác nhân đưa tới 90% cuộc chiến tranh đầu thế kỷ 21.

Nếu Chúa, Đức Phật và Khổng Tử cùng sống dậy bây giờ, họ sẽ mừng chảy nước mắt. Ước mơ về một thế giới hoà bình, yêu thương nhau, lên án chiến tranh phi nghĩa đang trở thành hiện thực. Đâu đâu cũng thấy chính phủ các quốc gia, đặc biệt là Mỹ và phương Tây nói về đạo nghĩa, về hoà bình, về cuộc sống của người dân vô tội. Và tất nhiên là lên án Nga - kẻ đang bị cả thế giới phương Tây coi là “phát xít” khi tấn công một nước có chủ quyền.

Hi vọng có nhà báo, nhà sử ký nào ghi lại hết những lời phát biểu của các anh, chị Tổng thống ngày hôm nay, có thể khắc bia, dựng tượng trước cửa Nhà trắng, giữa quảng trường Thủ đô London hay Paris để các đời Tổng thống Mỹ, Pháp, Anh sau này lấy đó mà tự hào rằng những người tiền nhiệm mình đã có một thời từng tuyên bố như thế.

Chỉ thương người dân Syria, Lybia, Iraq, Afpaghitan sinh ra không nhầm thời các ngài đương kim Tổng thống phương Tây hiện nay. Nên đã phải hứng chịu những “quả bom dân chủ” từ một quốc gia cách họ vạn cây số. Thậm chí, đến lúc chết, họ cũng chắc hiểu mà đã trêu ghẹo gì Tổng thống Mỹ, Thủ tướng Anh, Tổng thống Pháp, vậy mà họ kéo hàng trăm ngàn quân từ một nơi xa xôi đến cày xới quê hương, thoả sức bắn g.iet người dân vô tội. 

Tại sao lúc đó, không có một vị Tổng thống, Thủ tướng phương Tây nào lại đứng ra kêu gọi hoà bình, phản đối một quốc gia đi xâm lược một quốc gia có chủ quyền khác và không ai bị lên án kẻ phát động chiến tranh là đồ tể.

Chẳng lẽ, tính mạng của người dân Ucraina lại cao quý hơn tính mạng của những người dân lành ở Syria, Lybia, Iraq, Afpaghitan hay sao?

Yêu nước ST.

KIẾP TAY SAI!

         Như bài trước tôi đã viết, Ukraine, đã có thời từng là một đất nước giàu có, một nước lớn của châu Âu, chỉ sau Nga. Một nước có nền nông nghiệp, đặc biệt là công nghiệp quốc phòng và đóng tàu phát triển mạnh mẽ. Khi tách ra khỏi Liên bang Xô Viết, nghe Mỹ xúi, phá bỏ hết đi để xây dựng lại theo tiêu chuẩn châu Âu và Mỹ.

Thế là Ukraine phá nát thành quả của gần tám mươi năm xây dựng. Thế là trắng tay! Thế là ngửa tay đi ăn xin Mỹ và mấy nước trong NATO!

Đến lúc này, ngài Tổng thống Zelensky - một danh hài đúng nghĩa mới vỡ mộng mà thốt lên rằng, “CHÚNG TÔI BỊ BỎ RƠI! - Hôm nay tôi hỏi 27 nước lãnh đạo châu Âu, liệu Ukraine có được gia nhập NATO không? – Mọi người lo sợ, không trả lời!”.

Câu cảm thán này sao mà giống những gì mà chính quyền VNCH thốt lên vào tháng Tư, 1975 đến thế! “Mỹ không cho tiền thì không phải ba tháng, ba tuần mà chỉ ba ngày là chúng tôi phải rời dinh Độc lập!” (Nguyễn Văn Thiệu).

Chao ơi, sao mà nhục nhã thế? Bài học cho những quốc gia không chịu đứng trên đôi chân của mình, lại thích dựa giẫm vào người khác để xây dựng và phát triển. Ai cũng biết những cây trong rừng lúc nào cũng đứng thẳng, mặc gió bão. Chỉ có những cây bị mục thì sẽ bị đổ và những cây tầm gởi trên đó cũng chết theo.

Mới bước vào thế kỷ 21 được hơn 20 năm mà chúng ta đã chứng kiến mấy kiếp người làm tay sai cho cho nước khác “chết” tức tưởi thế nào. Vâng, đó là những năm đầu của thế kỷ 21, cũng là những năm đầu của một nhiệm kỳ tổng thống Mỹ, cả thế giới được chứng kiến con đường đi xuống của nước Mỹ và những thất bại của ông già Bai-đần.

Nước Mỹ đã thắng ở những đâu? Giết Gaddafi của Lybia, giết Sadam Hussein của Iraq và định giết Al Assad của Syria? Nhưng rồi Mỹ có gì? Một Lybia và một Iraq tan nát, nội chiến, Mỹ được mấy mỏ dầu và lòng thù hận từ người dân các nước đó. Ở Syria Mỹ được gì? Cũng được mấy mỏ dầu, song lại mất ngay vai trò ở Trung Đông vào tay Nga. Ừ, cứ cho đó là quá khứ.

Hiện tại? Một cuộc tháo chạy nhục nhã của cả quan thầy Mỹ và đám tay sai người Afghanistan. Mỹ quay ra thực hiện “Maidan hóa” ở Belarus, ở Kazakhstan, Mỹ được gì? Kết quả là Mỹ đẩy Belarus và Kazakhstan vào vòng tay của Nga và bây giờ họ không thể xa Nga được nữa.

Quay sang nước Ukraine, dùng nước này làm con bài chống lại Nga, làm cho Nga suy yếu. Thôi thì chờ thêm mấy ngày nữa sẽ ngã ngũ, song nghe tình báo Mỹ nói, Zelensky chỉ đứng vững được 96 giờ nữa thôi (tính từ 0:00 giờ ngày 25/2/2022). Nhưng thứ mà Mỹ gặt hái được là đẩy Nga gắn bó với Trung hơn trước kể từ ngày khai mạc Thế vận hội Peking (6/2/2022). Nga tăng cường cung cấp dầu khí cho Trung, Trung bãi bỏ lệnh cấm nhập lúa mì từ Nga.

Thế còn châu Âu? Việc Ukraine gia nhập NATO và EU chỉ còn là ảo ảnh. Ừ thôi, nước này cũng chưa bao giờ là đồng minh của NATO, nên gia nhập hay không thì vẫn thế. Song có điều, vì vấn đề giữa Nga, Ukraine và Mỹ mà NATO trở nên chia rẽ. EU cần Nga, Nga cũng cần EU, chúng ta cần nhau nên có gì cũng không thể bỏ nhau. Sơ sơ mới theo Mỹ cấm vận Nga mà giá năng lượng đã tăng vọt. Cái ông Medvedev cựu Tổng thống/Thủ tướng Nga cho biết, với cái đà này thì giá khí đốt mà người dùng châu Âu sẽ phải trả tới 2.000 USD/1.000 m3.

Đó là bức tranh của những kẻ muốn dựa vào ngoại bang. Hãy nhớ một điều, mọi quốc gia luôn đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, chứ làm gì có “tinh thần quốc tế vô sản” như cái dạo nào? Đối với chúng ta, Mỹ, Nga, Trung chỉ có thể là bạn trong một ván bài chứ không thể nói bạn cho tôi dựa lưng một lát để tôi phát triển. Tình bạn lâu hay mau tùy thuộc vào việc anh có làm tổn hại đến lợi ích quốc gia của họ hay không?

Thôi đi anh Zelensky ơi, anh còn non và xanh lắm, không làm chính khách được đâu. Có hai câu thơ bạn tôi nhắn anh đây:

Chính trị đâu phải trò hề

Đại sự đâu phải là nghề xướng ca?

Yêu nước ST.

Những ai không được dùng thuốc Molnupiravir và Remdesivir để điều trị COVID-19?

Theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị COVID-19 mới đây của Bộ Y tế, thuốc Molnupiravir sẽ được sử dụng cho người lớn từ 18 tuổi trở lên mức độ nhẹ đến trung bình, còn với Remdesivir sẽ được sử dụng cho người bệnh nội trú, mức độ nhẹ và có ít nhất một yếu tố nguy cơ tiến triển nặng.

Cụ thể, tại bảng Tổng hợp nguyên tắc điều trị người bệnh COVID-19 bổ sung thêm nội dung về thuốc Molnupiravir: Thuốc dùng cho người có triệu chứng nhẹ và trung bình. Người bệnh nhiễm COVID-19 không triệu chứng hoặc mức độ nhẹ có thể điều trị tại nhà hoặc các cơ sở thu dung điều trị COVID-19 tuỳ theo tình hình dịch tại từng địa phương. Có sự theo dõi của nhân viên y tế.

Bộ Y tế bổ sung hướng dẫn sử dụng của 2 loại thuốc kháng virus trong điều trị COVID-19 như sau:

Remdesivir được chỉ định trong các trường hợp sau:

Người bệnh nội trú, mức độ nhẹ và có ít nhất một yếu tố nguy cơ tiến triển nặng; mức độ trung bình và nặng, khởi phát bệnh chưa quá 10 ngày có suy hô hấp phải thở oxy, thở HFNC, thở máy không xâm nhập

Nên phối hợp với corticoid (ưu tiên dexamethason).

Với các trường hợp đã được điều trị bằng remdesivir trước khi thở máy xâm nhập hoặc ECMO thì có thể tiếp tục dùng remdesivir cho đủ liệu trình. Chống chỉ định với tiền sử quá mẫn với bất kỳ thành phần nào trong công thức thuốc.

Người bệnh có men gan ALT tăng trên 5 lần giới hạn trên của khoảng giá trị bình thường Liều dùng: Người ≥ 12 tuổi và cân nặng > 40kg: Ngày đầu 200mg, những ngày sau 100mg/ngày, truyền tĩnh mạch 1 lần trong 30 – 120 phút.

Thời gian điều trị là 5 ngày, nếu không cải thiện về lâm sàng có thể điều trị thêm 5 ngày tiếp.

Đặc biệt, với những trường hợp sau cần lưu ý, cụ thể: với trẻ em < 12 tuổi phải thực hiện theo hướng dẫn chẩn đoán, điều trị COVID-19 ở trẻ em.

Với phụ nữ có thai và nuôi con bằng sữa mẹ, chưa có dữ liệu đầy đủ. Không khuyến cáo trừ trường hợp lợi ích vượt trội so với nguy cơ.

Cơ sở Y tế cần theo dõi người bệnh trong thời gian truyền và trong vòng 1h sau truyền để phát hiện và xử trí kịp thời phản vệ và các phản ứng tiêm truyền (nếu có).

Theo dõi tăng men gan trong quá trình sử dụng thuốc. Ngưng sử dụng thuốc nếu ALT tăng trên 5 lần giới hạn trên bình thường trong quá trình điều trị.

"Chưa có đủ thông tin khuyến cáo sử dụng thuốc cho người bệnh có mức lọc cầu thận ước tính eGFR < 30mL/phút). Thông tin chi tiết thêm về thuốc thực hiện theo tờ hướng dẫn sử dụng thuốc", văn bản hướng dẫn của Bộ Y tế nêu.

Thuốc Molnupiravir

Đây là loại thuốc dùng cho bệnh nhân COVID-19 người lớn từ 18 tuổi trở lên mức độ nhẹ đến trung bình và có ít nhất một yếu tố nguy cơ làm bệnh tiến triển nặng.

Thuốc sử dụng trong vòng 5 ngày kể từ khi khởi phát các triệu chứng hoặc có kết quả xét nghiệm dương tính. Bệnh nhân cần nhập viện đã được khởi trị molnupiravir trước đó có thể tiếp tục sử dụng thuốc để hoàn thành phác đồ điều trị 5 ngày tùy theo quyết định của bác sĩ điều trị.

Chống chỉ định với các trường hợp quá mẫn với monulpiravir hay bất kỳ thành phần nào của thuốc. Liều dùng: 800 mg/lần, uống x 2 lần/ngày. Thời gian điều trị là 5 ngày.

Tuy nhiên, thuốc monulpiravir không khuyến cáo sử dụng cho phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú, trẻ em dưới 18 tuổi do quan ngại nguy cơ độc tính trên thai nhi, trên xương, sụn của thuốc.

Phụ nữ có khả năng mang thai, phụ nữ trong độ tuổi sinh sản nên sử dụng biện pháp tránh thai phù hợp và có hiệu quả trong quá trình điều trị và trong vòng 4 ngày sau khi sử dụng liều molnupiravir cuối cùng.

Phụ nữ cho con bú không khuyến cáo cho con bú trong thời gian điều trị và trong vòng 4 ngày sau khi sử dụng liều molnupiravir cuối cùng.

Đối với nam giới trong độ tuổi sinh sản sử dụng biện pháp tránh thai phù hợp và hiệu quả trong thời gian điều trị và ít nhất 3 tháng sau liều monulpiravir cuối cùng.