Thứ Hai, 7 tháng 3, 2022

Luận điệu xuyên tạc Dự án Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự tại cơ sở

 Thời gian qua, các cơ quan chức năng tổ chức hội nghị, hội thảo lấy ý kiến các nhà khoa học, chuyên gia và quần chúng nhân dân về Dự án Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự (ANTT) tại cơ sở.

Thực tế, khi Dự án Luật được soạn thảo với những vấn đề mới thì việc có những ý kiến khác nhau, tán thành hay chưa tán thành nội dụng, vấn đề nào đó là điều bình thường. Tuy nhiên, việc góp ý với động cơ xây dựng với việc lợi dụng để chống phá là hai vấn đề khác nhau. Một số đối tượng cơ hội chính trị và các cá nhân vì động cơ sai lệch đã tăng cường các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, chống phá dự thảo Dự án Luật.

Trong thời gian này, Đài Á châu tự do (RFA) đăng tải, phát tán một số bài viết xuyên tạc, chống phá Dự án Luật và ngay sau đó, nhiều trang mạng của các tổ chức phản động lưu vong đăng tải theo kiểu “tát nước theo mưa”. Đài Á châu tự do dẫn ý kiến đối tượng V.M.Đ, vốn là cựu sĩ quan quân đội biến chất bị tước quân tịch, xuyên tạc rằng, Nhà nước muốn tạo ra một mạng lưới chân rết quần chúng sát với từng người dân, để nắm được từng chân tơ kẽ tóc, rồi nắm được mọi hoạt động tiềm ẩn nên gây nguy hại cho dân.

Cho rằng, nếu bây giờ hình thành hẳn một lực lượng như thế thì hình thức gần như bán vũ trang, rồi chi phí dụng cụ hành nghề, thậm chí có thể là vũ khí nóng...  gây bất an cho dân! Bên cạnh đó, đài này làm ra vẻ khách quan, muốn dẫn dắt dư luận chống phá Dự án Luật, để Nguyễn Ngọc Già (tên thật là Nguyễn Đình Ngọc, có nhiều hoạt động tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước và nhân dân, từng bị phạt 3 năm tù giam, 3 năm quản chế) xuyên tạc: “Lực lượng này là những người 18 tuổi trở lên và tự nguyện tham gia...

Trước đây chưa chính thức, còn bây giờ họ đang soạn dự thảo luật này có nghĩa là chính thức thành lập lực lượng gọi là tham gia bảo vệ an ninh trật tự ở cơ sở. Có nghĩa là họ đã trao quyền, tôi muốn nhấn mạnh khi lực lượng này chính thức được thừa nhận bởi luật thì làm gợi lại quá khứ kinh hoàng với khái niệm gọi là “tai mắt nhân dân”, rình mò, hạch sách, nhũng nhiễu...”. Trên trang RFA đăng bài viết mang tính đả kích, bôi nhọ khi cho rằng lực lượng này sẽ sinh ra “những hệ lụy như trấn áp, lộng quyền làm nhớ đến thời kỳ quân quản sau 1975, cũng như thời kỳ cải cách ruộng đất ở miền Bắc hơn 60 năm trước”.

Bài viết xuyên tạc rồi đặt những câu hỏi ngô nghê như “trong xã hội, họ chính thức dùng “dân trị dân”, thế thì nhà nước để làm gì, lực lượng Công an để làm gì, rồi hợp nhất này kia, điều đó là trái khoáy”? Từ đó hướng lái vấn đề thành “hay lực lượng này dù có hợp nhất hay không cũng sẽ không giữ được ANTT như mong muốn của nhà cầm quyền cộng sản khi soạn luật mà nó sẽ làm mất ANTT và xã hội sẽ trở nên hỗn loạn hơn”!

Đây rõ ràng là những luận điệu xuyên tạc nhằm dẫn dắt, hướng lái dư luận, tạo ra nhận thức lệch lạc, thái độ phản đối, chống phá đối với Dự án Luật và lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở.

Trái ngược lại những luận điệu xuyên tạc, sai trái, chống đối, phá hoại nói trên, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu đã khẳng định, việc ban hành Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là hết sức cần thiết, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi khách quan. Những cơ sở khoa học đã được khẳng định:

Một là, xây dựng Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là sự cụ thể hóa đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm TTATXH, đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, trong đó CAND là lực lượng nòng cốt, bảo vệ ANTT từ xa, từ sớm, từ cơ sở. Việc xây dựng dự thảo, lấy ý kiến các nhà khoa học, các cơ quan chức năng trước khi hoàn thiện để Chính phủ trình Quốc hội thảo luận, thông qua nhằm đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi thực tiễn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác đảm bảo ANTT tại địa bàn cơ sở.

Hai là, thực tiễn hiện nay, cùng với lực lượng CAND, trên địa bàn cấp xã có sự tham gia bảo vệ ANTT của các lực lượng: Bảo vệ dân phố, dân phòng, Công an xã bán chuyên trách đã kết thúc nhiệm vụ được tiếp tục sử dụng. Các lực lượng này được gọi chung là lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở.

Đây là lực lượng quần chúng do UBND cấp xã thành lập, quản lý, duy trì hoạt động, hỗ trợ lực lượng Công an trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ANTT ở địa bàn cấp xã. Mặc dù vậy, hiện nay mỗi nơi từ tên gọi cũng không thống nhất, đến tổ chức, hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cũng khác nhau, không rõ ràng. Từ đó có những vụ việc dẫn đến tình trạng lạm quyền, không làm hết trách nhiệm, rất khó trong chỉ đạo, tổ chức, thực hiện, đòi hỏi phải được chuẩn hóa, đưa vào luật.

Ba là, do thiếu hành lang pháp lý, thực tiễn tổ chức và hoạt động của các lực lượng này thời gian qua đã bộc lộ nhiều vướng mắc bất cập, nhất là về chính sách, pháp luật. Các quy định hiện hành về tổ chức, hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở được đề cập ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau; do nhiều cơ quan có thẩm quyền ban hành.

Các quy định về thẩm quyền thực hiện một số nhiệm vụ bảo vệ ANTT, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ bị chồng lấn giữa các lực lượng. Quy định về chế độ, chính sách; điều kiện đảm bảo về cơ sở vật chất, trang, thiết bị hoạt động của các lực lượng này còn thiếu, chưa thống nhất... Điều này đã gây ra nhiều khó khăn trong lãnh đạo, quản lý, duy trì, củng cố, phát huy vai trò của lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở, làm giảm hiệu quả hoạt động.

Bốn là, “Lấy dân làm gốc” là nguyên tắc cơ bản, mục tiêu xuyên suốt của dự thảo luật và phát huy vai trò của lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở. Việc xây dựng, tổ chức lại lực lượng tham gia bảo vệ ANTT không làm tăng biên chế, tăng ngân sách nhà nước. Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là cánh tay nối dài, sâu sát với nhân dân, hỗ trợ cấp ủy, chính quyền, hỗ trợ lực lượng nòng cốt là Công an chính quy trong việc đảm bảo ANTT tại cơ sở, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân.

Năm là, thực tế cho thấy, trong đời sống xã hội, lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở đã phát huy tích cực thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ bảo đảm ANTT địa bàn dân cư, sát dân, hiểu, nắm được tâm, tư nguyện vọng nhân dân, góp phần tham gia tổ chức, thực hiện phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Do ở tại cơ sở nên họ là lực lượng tiếp cận đầu tiên. Hay như trong đại COVID – 19, các lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở đã và đang thực hiện có hiệu quả, là lực lượng tuyến đầu cùng với lực lượng nòng cốt Y tế, Công an, Quân đội… trong thực hiện nhiệm vụ bảo đảm ANTT, hỗ trợ đắc lực người dân phòng, chống dịch bệnh.

Rõ ràng, với mục tiêu, ý nghĩa như trên, việc ban hành Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là cần thiết và đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi thực tiễn. Việc thảo luận, đóng góp ý kiến nhằm chỉnh lý, bổ sung những vấn đề mới; thảo luận, làm rõ những vấn đề còn có ý kiến khác nhau trong dự luật là vấn đề bình thường khi xây dựng các dự án văn bản quy phạm pháp luật.

Tuy nhiên, đóng góp ý kiến khác với việc lợi dụng để đả phá, xuyên tạc với những ngôn từ như, ban hành luật sẽ “tạo ra một mạng lưới chân rết, trao quyền để lấy dân trị dân, sinh ra những hệ lụy như rình mò, hạch sách, trấn áp, lộng quyền, không giữ được ANTT mà khiến xã hội sẽ trở nên hỗn loạn hơn”. Những luận điệu này được tung ra nhằm tạo ra nhận thức lệch lạc, suy giảm niềm tin, kích động tâm lý, thái độ chống đối, phá hoại dự thảo luật, sâu xa hơn là chống phá chế độ, Đảng và Nhà nước.

Bác bỏ luận điệu sai trái, khẳng định vị thế Việt Nam trên trường quốc tế

 

Thực tế cho thấy, hoạt động lợi dụng vấn đề nhân quyền chống Việt Nam đang được các thế lực thù địch cả trong và ngoài nước không ngừng đẩy mạnh với quy mô ngày càng mở rộng, tính chất ngày càng gay gắt, quyết liệt, theo kiểu “mềm, ngầm, sâu, hiểm”, vô cùng tinh vi, xảo quyệt.

Nhận diện chiêu trò chống phá nhân quyền trên một số lĩnh vực

Trong lĩnh vực pháp lý: Các thế lực thù địch không những đưa ra các luận điệu vô lý để phê phán một số điều luật hay văn bản pháp lý cụ thể của Việt Nam, nhất là họ tập trung đả phá Hiến pháp năm 2013 rồi cho đó là lạc hậu, trái với quy định và luật pháp, thông lệ quốc tế, từ đó lên giọng chỉ trích toàn bộ hệ thống pháp luật của Việt Nam, cho là thiếu hụt, khập khiễng, chưa phù hợp. Đồng thời, họ vin vào việc một số cán bộ, nhân viên Nhà nước vi phạm pháp luật để rêu rao cán bộ, nhân viên Nhà nước đứng ngoài pháp luật, kích động, kêu gọi mọi người không tuân thủ và không thi hành pháp luật. Họ lấy cớ số cá nhân lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để chống phá Nhà nước và chế độ bị cơ quan chức năng bắt giữ, khởi tố, xử lý theo pháp luật để vu khống Việt Nam vi phạm nhân quyền trong khi giải quyết các vấn đề cụ thể liên quan đến tự do cá nhân. 

Trong lĩnh vực văn hóa: Họ cố tình cắt xén, diễn giải một chiều theo ý đồ xấu, dựng chuyện Việt Nam không thực hiện đúng tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền như đã cam kết, đặc biệt là Điều 19 về quyền tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến; vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta rẻ rúng, nghi kỵ trí thức, đàn áp văn nghệ sỹ, bóp nghẹt tự do báo chí, tự do văn học nghệ thuật… Thổi phồng, đề cao, cổ súy cho số phần tử lợi dụng văn học nghệ thuật để bôi đen bức tranh hiện thực đất nước, hà hơi, tiếp sức cho những phần tử mà họ gọi là “dũng cảm lột xác” dám nhìn nhận lại bản chất đích thực của cuộc chiến tranh giải phóng của Việt Nam, xóa nhòa ranh giới giữa kẻ xâm lược và bọn tay sai với quân đội và quần chúng cách mạng, biến cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ thành cuộc “nội chiến” do “tham vọng của cộng sản” gây ra; ca ngợi chính quyền Sài Gòn theo kiểu hoài niệm, nhớ lại; cố tình gây chia rẽ, tạo ra tâm lý phân biệt vùng miền, làm giảm sự quyết tâm, đồng lòng của nhân dân cả nước trước những thách thức của thiên tai, dịch bệnh.

Thậm chí, họ còn phô trương bản chất “đạo đức giả” khi dựng lên các chương trình mang tính nhân văn, nhân đạo kêu gọi mọi người chung tay giúp đỡ nhau nhưng kỳ thực là trò lừa bịp. Các thế lực thù địch còn tuyên truyền, vận động dựng lên những “nhân vật tiêu biểu”, những màn kịch “trao giải thưởng quốc tế” cho những người “tiên phong trong cuộc đấu tranh vì tự do, vì dân chủ”, thực ra đó là những đối tượng chống đối, bất mãn; lợi dụng tình hình dịch COVID -19 đăng bài phỏng vấn liên tục các cá nhân “bất đồng chính kiến”, người lao động nghèo, yếu thế để chống phá.

Trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo: Lợi dụng sự việc các cơ quan chức năng bắt, điều tra, xử lý những đối tượng lợi dụng dân tộc và tôn giáo có hành vi chống đối, vi phạm pháp luật… để xuyên tạc và vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền. Một số cá nhân mượn danh nghĩa chức sắc, tín đồ tôn giáo được sự tiếp tay của các thế lực thù địch đã lợi dụng nhân quyền trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo để chống phá chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Các thế lực thù địch vừa tích cực rêu rao, vừa vu cáo Việt Nam không có tự do tín ngưỡng, không cho tự do hành đạo và đàn áp tôn giáo, chia rẽ các tôn giáo, đồng bào lương, giáo để chống lại chính sách đoàn kết, ổn định phát triển kinh tế…

Trong lĩnh vực thực hiện chính sách với tù nhân: Tù nhân là những cá nhân vi phạm pháp luật Việt Nam, phải chấp hành các chế tài theo luật định. Trong số các tù nhân này có người lợi dụng nhân quyền để chống phá lại chế độ, nhà nước ta. Thời gian qua, đây là một trong những điểm nóng, một mối quan tâm thường xuyên và cũng là một “mảnh đất” của các thế lực thù địch nhằm vào để can thiệp, vu cáo Nhà nước Việt Nam. Thông qua cơ chế của Liên hiệp quốc, qua nghị viện một số nước hoặc tổ chức phi chính phủ hoạt động về lĩnh vực này, số tổ chức, cá nhân phản động lưu vong cung cấp những thông tin sai lệch, xuyên tạc, mang tính quy chụp, dựng chuyện gửi các “kiến nghị”, “thư ngỏ” lên các tổ chức quốc tế thiếu thiện chí với Việt Nam để chống phá; đồng thời, cố tình đánh tráo bản chất, gieo rắc tâm lý bất an, gây hiểu nhầm, hiểu sai trong dư luận.

Không ngừng nỗ lực để bảo đảm nhân quyền

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân là mục tiêu phấn đấu”; “Phát triển con người toàn diện và xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”; “…con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng của đất nước”.

Quyền con người được khẳng định trong bản Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1992 và 2013. Hiến pháp năm 2013 có 11 chương, 120 Điều. Trong đó, chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là chương có điều luật nhiều nhất, gồm 36 điều (từ Điều 14 đến Điều 49).

Để có cơ sở pháp lý thúc đẩy và bảo vệ, bảo đảm quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã có những nỗ lực không ngừng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người. Tính từ năm 2014 đến nay, Quốc hội nước ta đã sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hơn 100 văn bản luật, pháp lệnh liên quan đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong số đó có những luật cơ bản, quan trọng như: Bộ luật Hình sự 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015, Luật Trưng cầu dân ý 2015, Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016, Luật Trẻ em 2016, Luật Báo chí 2016, Luật Tiếp cận thông tin 2016, Luật An ninh mạng 2018, Luật Đặc xá 2018… Việc hoàn thiện khung pháp luật về quyền con người, quyền công dân nói trên đã phản ánh đúng bản chất của chế độ ta, đó là xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tăng cường cơ chế dân chủ, công khai để mọi cá nhân trong xã hội đều có thể tham gia xây dựng, quản lý xã hội, giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước, cũng như tạo ra khuôn khổ pháp lý để các cơ quan nhà nước hoạt động tốt hơn, phục vụ tốt hơn nhu cầu của mọi tầng lớp nhân dân.

Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước tích cực, chủ động tham gia vào hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người do Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác ban hành. So với nhiều nước trong khu vực và các nước phát triển, Việt Nam không thua kém về số lượng là thành viên các công ước quốc tế về quyền con người. Tính đến năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản. Việt Nam đã phê chuẩn hoặc tham gia nhiều điều ước quốc tế về nhân quyền. Việt Nam luôn khẳng định trên thực tế là thành viên nỗ lực tham gia các công ước quốc tế với tinh thần, trách nhiệm cao nhất, được nhiều tổ chức quốc tế, các quốc gia đánh giá cao.

Mặc dù nước ta đang gặp không ít những trở ngại, thách thức do thiên tai, dịch bệnh và từ sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị nhưng vấn đề nhân quyền của Việt Nam luôn được thực thi trên thực tế. Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và vững chắc về nhân quyền. Điều đó không chỉ thể hiện ở những nỗ lực của chúng ta trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, mà còn được thể hiện ở việc bảo đảm quyền còn người, quyền công dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Điển hình như, Việt Nam là một trong sáu quốc gia thành viên Liên hợp quốc đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ trước thời hạn năm 2015 và được xem là tấm gương điển hình của cộng đồng quốc tế trong thực hiện mục tiêu phát triển bao trùm, không ai bị bỏ lại phía sau của Liên hợp quốc. Theo Báo cáo “Phát triển con người năm 2019” được Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) công bố ngày 9/12/2019, với chỉ số HDI là 0,63, Việt Nam xếp thứ 118 trong tổng số 189 nước… Với những thành tựu trong việc tôn trọng, bảo đảm về quyền của con người, Việt Nam được tín nhiệm là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016). Tại khóa họp lần thứ 73, tại trụ sở Liên hợp quốc vào ngày 7/6/2019, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bầu Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 với số phiếu gần như tuyệt đối (192/193 phiếu). Gần đây, Việt Nam đã thực hiện tốt vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc với nhiều dấu ấn, đóng góp sáng tạo, thiết thực, trong đó có vấn đề bảo đảm quyền con người trước những thách thức do đại dịch COVID-19 gây ra, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao và làm cho vị thế và uy tín của Việt Nam ngày càng tăng trên trường quốc tế.

Thành tựu đảm bảo nhân quyền tại Việt Nam trên các lĩnh vực đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội, đặc biệt là những thành tựu của Việt Nam trong việc phòng, chống dịch COVID-19 và bảo đảm quyền sống là quyền cao nhất trong đại dịch COVID-19 là những minh chứng rõ nét nhất trong bảo đảm quyền của con người trước những biến cố, đại dịch mà người dân trên toàn thế giới phải trải qua.

Đánh giá về nhân quyền cần phải đảm bảo cách nhìn khách quan, toàn diện, không thể phán theo kiểu “thầy bói xem voi”, không thể lấy một số vụ việc tiêu cực, những hiện tượng sai lệch mà quy chụp thành bản chất. Những thông tin để làm căn cứ đánh giá, báo cáo, xếp loại nhân quyền Việt Nam của một số tổ chức quốc tế thiếu thiện chí đều khai thác từ số đối tượng thù địch, phản động, bất mãn, cơ hội chính trị, số này luôn có những hành động hủy hoại mọi nỗ lực, thành tựu của Việt Nam trong vấn đề nhân quyền. Khi không có bất kỳ các hoạt động khảo sát, trải nghiệm vấn đề nhân quyền của một quốc gia thì mọi đánh giá về nhân quyền của quốc gia đó đều mang tính chủ quan, thiếu tính thực tiễn, sai lệch. Mặt khác, không thể mượn danh nhân quyền để tung hô cho lối sống tự do “vô pháp” để biện minh việc làm sai trái, quay lưng lại Tổ quốc, dân tộc.

Luận điệu suy diễn, xuyên tạc quan điểm của Việt Nam về xung đột Nga – Ukraine

 Mặc dù Việt Nam đã nhiều lần nêu quan điểm chính thức về xung đột Nga - Ukraine, đó là Việt Nam kêu gọi các bên liên quan giảm leo thang căng thẳng, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh, nhằm đạt được giải pháp lâu dài trên cơ sở luật pháp quốc tế, ấy thế nhưng, trên Internet, mạng xã hội, một số người lại đang cố tình đưa ra những luận điệu sai trái, suy diễn xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, danh dự của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Ngày 2/3, tại phiên họp khẩn cấp lần thứ XI, Đại hội đồng Liên hợp quốc (LHQ) đã thông qua nghị quyết kêu gọi Nga rút quân khỏi Ukraine. Sau khi nghị quyết trên được thông qua và thông tin các nước thành viên LHQ thể hiện quan điểm, trên một số diễn đàn Internet, mạng xã hội, một số cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước đã đưa ra những luận điệu sai trái, suy diễn rằng quan điểm của Việt Nam là “mơ hồ, không rõ ràng”, Việt Nam đã không đi theo số đông, cố tình tìm cách lựa chọn quan điểm trung lập đối với cuộc xung đột Nga - Ukraine.

Từ việc nêu những câu hỏi mang tính suy diễn chủ quan, nhiều bài viết đưa ra luận điệu quy chụp, cho rằng các quốc gia chọn giữ thái độ trung lập là những quốc gia “phần lớn đổ lỗi cho phương Tây đã kích động các điều kiện dẫn đến cuộc xung đột này”.

Một số người cuốn theo lối suy diễn trên, cũng đưa ra các bình luận tiêu cực, thậm chí kích động tư tưởng chống phá. Có trang mạng dùng thủ đoạn đưa ra thăm dò rồi cho những thành phần trong nhóm click vào lựa chọn theo chủ ý của người đặt bình chọn, từ đó lấy cớ vu cáo “người dân ủng hộ đa số” còn quan điểm của Nhà nước “chỉ là thiểu số”! Cá biệt, có luận điệu xuyên tạc rằng, phải chăng Việt Nam đang ngấm ngầm ủng hộ cho cuộc chiến tranh, quay lưng với hoà bình?

Trong khi đó, trên một số trang báo nước ngoài xuất hiện các luận điệu mang tính chỉ trích, phê phán việc thông tin cuộc xung đột trên báo chí trong nước, từ đó tìm cách hướng lái nhằm cuốn người đọc theo chủ đích, ý đồ của họ. Thậm chí, một số bài viết còn đưa ra những luận điệu theo kiểu lập lờ đánh lận con đen, đưa ra những câu hỏi, nghi vấn mang tính quy chụp, bôi nhọ quan điểm, uy tín Việt Nam trong quan hệ đối ngoại. Nhiều bài viết bằng lối phân tích tỏ ra có trình độ, hiểu biết kiểu “chuyên gia” song thực chất nhận thức rất lệch lạc, lộ rõ ý đồ, động cơ chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Đối với vấn đề xung đột Nga - Ukraine, Việt Nam đã nhiều lần nêu quan điểm chính thức của mình. Ngày 1/3, phát biểu khi Đại hội đồng LHQ tổ chức phiên họp khẩn cấp lần thứ XI thảo luận về tình hình Ukraine, Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng phái Đoàn thường trực Việt Nam tại LHQ đã nhấn mạnh rằng: “Lịch sử của chính dân tộc chúng tôi hứng chịu các cuộc chiến tranh đã nhiều lần chỉ ra rằng, cuộc chiến tranh và xung đột đến tận ngày nay thường bắt nguồn từ các học thuyết lỗi thời đề cao chính trị cường quyền, tham vọng thống trị áp đặt và sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế. Một số xung đột vẫn còn gắn liền với những yếu tố lịch sử, ngộ nhận và hiểu lầm. Với trải nghiệm của chính mình, Việt Nam thấu hiểu rằng chiến tranh và xung đột khi nổ ra chỉ gây ra đau khổ sâu sắc cho người dân và hậu quả nghiêm trọng đối với nhiều khía cạnh trong đời sống của các quốc gia có liên quan trực tiếp cũng như của các quốc gia khác”.

Đại sứ nêu rõ, trong bối cảnh đó, Việt Nam đã nhiều lần nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tôn trọng luật pháp quốc tế và Hiến chương LHQ. Mọi tranh chấp quốc tế cần được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, dựa trên các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương LHQ, bao gồm các nguyên tắc về bình đẳng chủ quyền, độc lập chính trị và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia và không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực. Tất cả các quốc gia lớn hay nhỏ đều phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản này.

Trên cơ sở đó, Đại sứ Đặng Hoàng Giang nhấn mạnh: “Việt Nam kêu gọi các bên liên quan giảm leo thang căng thẳng, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh, nhằm đạt được giải pháp lâu dài có tính đến lợi ích và quan ngại của tất cả các bên, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia. Các giải pháp như vậy sẽ chấm dứt những khổ đau và đóng góp cho hòa bình, an ninh và phát triển ở châu Âu và thế giới nói chung”.

Ngày 3/3, tại họp báo thường kỳ, trả lời báo chí về việc bỏ phiếu của Việt Nam, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng đã khẳng định: “Quan điểm của chúng tôi là Việt Nam luôn theo dõi sát sao và hết sức quan ngại về tình hình Ukraine”. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nhấn mạnh: “Chúng tôi cho rằng, ưu tiên hiện nay là cần kiềm chế tối đa, chấm dứt các hành động sử dụng vũ lực để tránh gây thương vong và tổn thất đối với dân thường, nối lại đàm phán đối thoại trên tất cả các kênh để đạt được các giải pháp lâu dài có tính đến lợi ích chính đáng của tất cả các bên trên cơ sở phù hợp với Hiến chương LHQ và nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế”.

Như vậy, xuyên suốt trong các tuyên bố, phát ngôn, quan điểm nhất quán của Việt Nam là kêu gọi chấm dứt hành động sử dụng vũ lực, nối lại đối thoại và tìm kiếm giải pháp lâu dài cho các bất đồng. Kể từ khi cuộc xung đột Nga - Ukraine nổ ra cho đến thời điểm hiện tại, chưa có bất kỳ phát ngôn và hành động nào của Việt Nam đề cập đến việc ủng hộ việc sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề xung đột giữa Nga và Ukraine và Việt Nam cũng không “thiên vị” hay đứng về bất kỳ một bên nào xoay quanh xung đột giữa Nga và Ukraine. Những luận điệu cho rằng Việt Nam đứng bên này để chống bên kia, “cổ suý chiến tranh” là hoàn toàn sai trái, bịa đặt.

Hiến pháp năm 2013 và Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (sửa đổi, bổ sung năm 2011) của Việt Nam đã nêu rõ chính sách đối ngoại của Việt Nam là thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Về chính sách quốc phòng, Việt Nam đã nhiều lần nêu rõ, Việt Nam giữ vững nguyên tắc 4 không: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Để giành độc lập dân tộc và tự do, bảo vệ nền hòa bình của Tổ quốc, nhân dân Việt Nam đã phải hy sinh biết bao xương máu. Bằng các cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất qua nhiều thế hệ, dân tộc Việt Nam đã khẳng định rằng, quyền thiêng liêng, cơ bản nhất của con người là quyền được sống trong hòa bình, độc lập, tự do, quyền được tự quyết vận mệnh của mình. Bởi vậy, hơn ai hết, nhân dân Việt Nam luôn mong muốn xây dựng một môi trường hòa bình, hiểu biết, đoàn kết và yêu thương nhau, cùng xây dựng thế giới ngày càng tốt đẹp.

Đối với Việt Nam, cả Nga và Ukraine đều là đối tác quan trọng. Do đó, Việt Nam kêu gọi Nga và Ukraine giảm căng thẳng, ngừng bắn, bảo đảm an ninh an toàn, nhu cầu thiết yếu của người dân, bảo đảm an ninh an toàn cho cộng đồng người nước ngoài đang sống tại Ukraine, trong đó có người Việt Nam. Việt Nam luôn khẳng định lập trường không thay đổi, đó là Việt Nam không đứng về bên này chống bên kia hay ngược lại mà luôn đứng về lẽ phải, về công lý, luật pháp quốc tế.

Như vậy, những luận điệu sai trái, xuyên tạc quan điểm của Việt Nam đối với vấn đề xung đột Nga - Ukraine trên Internet, mạng xã hội của một số cá nhân, tổ chức thực chất là nhằm bôi nhọ, hạ thấp danh dự, uy tín của Việt Nam; xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

"HIỆN TƯỢNG TÔN GIÁO MỚI" VÀ NHỮNG HỆ LỤY CẦN CHUNG TAY NGĂN CHẶN

 

          Vạch trần âm mưu xuyên tạc lịch sử, phá hoại thuần phong mỹ tục văn hoá dân tộc

          Những hoạt động của các "hiện tượng tôn giáo mới" đã có tác động không nhỏ đến lĩnh vực văn hoá, đạo đức. Một số “hiện tượng tôn giáo mới” xuyên tạc lịch sử, phá hoại đạo đức và thuần phong mỹ tục văn hoá của dân tộc, chống đối, nói xấu chế độ, tuyên truyền làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

          Một số “hiện tượng tôn giáo mới” có biểu hiện xâm phạm nhân phẩm, sức khỏe con người, gây ảnh hưởng tới các mối quan hệ xã hội, làm thay đổi và xáo trộn về nếp sống, tập quán truyền thống của nhân dân... Khi chuyển đổi tôn giáo, tín ngưỡng để theo các “hiện tượng tôn giáo mới”, do khác biệt về tín ngưỡng đã góp phần tạo nên sự phân hóa, mâu thuẫn giữa người theo và không theo “tôn giáo” trong cùng một cộng đồng, một tộc người và các dân tộc trên địa bàn.

          Đây là một trong những yếu tố góp phần làm thay đổi lối sống và các mối quan hệ trong gia đình, dòng họ, cộng đồng, tộc người và các dân tộc; là nhân tố làm nảy sinh mâu thuẫn, bất đồng giữa bộ phận dân cư theo và không theo tôn giáo của các dân tộc, trong nội bộ tộc người tại các buôn làng, thậm chí diễn ra trong từng dòng họ và gia đình.

          Một số “hiện tượng tôn giáo mới” tuyên truyền cách thức thực hành tín ngưỡng phản khoa học, phi đạo đức, văn hóa nhằm thu lợi bất chính, như: yêu cầu người đi theo phải đóng góp tiền của, công sức xây dựng mới hay tu sửa nơi thờ tự (thực chất là nhà riêng của những người cầm đầu, cốt cán), phục vụ những hoạt động nhằm duy trì và phát triển tổ chức của các đối tượng cầm đầu, cốt cán. Các “hiện tượng tôn giáo mới” còn tuyên truyền người tin theo không cần làm cũng có ăn, siêng năng cầu nguyện và trung thành với tổ chức sẽ được ban cho cuộc sống tốt đẹp, mọi nợ nần kể cả vay tiền ngân hàng hay cá nhân đều được xóa bỏ, không bị ốm đau bệnh tật và bất hạnh trong cuộc sống.

          Để giữ niềm tin cho những người tham gia, đồng thời ép những người khác trong gia đình phải đi theo, những người cầm đầu, cốt cán của các “hiện tượng tôn giáo mới” thường yêu cầu và buộc số người tin theo không được tiếp xúc và quan hệ với người khác niềm tin, tự tổ chức làm riêng và đổi công cho nhau trong nhóm, ăn riêng và sinh hoạt riêng, kể cả trong gia đình nếu vợ chồng, con cái có người theo và không theo cũng phải tách ra để làm ăn và sinh hoạt riêng, thậm chí li dị và phân chia tài sản, con cái. Đồng thời, không tham gia các cuộc hội họp chung của cộng đồng, các chương trình, dự án, chính sách phát triển, hỗ trợ của chính quyền và tổ chức xã hội,... Do vậy, sự hiểu biết về xã hội cũng như đời sống kinh tế của những gia đình này đã thấp kém lại gặp nhiều khó khăn hơn.

          Phần lớn các “hiện tượng tôn giáo mới” đều tuyên truyền và thực hành những hoạt động có yếu tố mê tín dị đoan, như: xem tướng số, bói toán về số phận con người, không tham gia các lễ hội và sinh hoạt văn hóa chung của cộng đồng; không thực hiện phong tục tập quán và tín ngưỡng truyền thống của dân tộc, đồng thời phủ nhận các tôn giáo chính thống, kể cả tôn giáo đó là nguồn gốc của mình,... Do đó, đời sống văn hóa của những người tin theo “hiện tượng tôn giáo mới” thường bị bó hẹp và góp phần làm mất đi các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong bộ phận dân cư này. . .

          Mặt khác, các “hiện tượng tôn giáo mới” còn tuyên truyền và thực hành chữa bệnh không cần dùng thuốc và thăm khám chữa trị ở các cơ sở y tế, mà chỉ cần tin vào đấng siêu linh được tôn thờ và thực tâm siêng năng cầu nguyện sẽ khỏi. Cùng với đó là việc thực hành những phương pháp chữa bệnh mang tính ma thuật, phản khoa học, như: viết lời cầu nguyện ra giấy để đọc sau đó đốt lấy tro hòa nước uống sẽ khỏi bệnh hay tập trung quanh người bệnh để cầu nguyện với niềm tin hết ốm đau.

          Do tồn tại bất hợp pháp nên các buổi sinh hoạt chung của nhóm hay riêng trong nội bộ gia đình thường tổ chức lén lút vào lúc nửa đêm về sáng; những nơi hoang vắng để tránh bị các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương quản lý, đã ảnh hưởng đến thời gian nghỉ ngơi, sản xuất, học tập và sức khỏe của những người tin theo, nhất là trẻ em và người già cũng như gây mất an ninh trật tự cộng đồng. Việc người theo hiện tượng tôn giáo mới cũng phải bỏ ra thời gian, tiền bạc hay của cải vật chất cho những thực hành tôn giáo của họ.

          Đa số các “hiện tượng tôn giáo mới” còn gây ra tình trạng học sinh trong những gia đình tin theo bỏ học, trốn học, không tiếp tục học lên cao,...Đơn cử như trường hợp con trai của Y. N-  bác sĩ và cũng là một trong những đối tượng cầm đầu của tổ chức “Amo Sara” đậu hai trường đại học ở TP. Hồ Chí Minh, nhưng bố mẹ không cho đi để tránh tiếp xúc với người lạ, ở nhà cùng gia đình thực hành “tín ngưỡng” và kết hôn với con gái của người sáng lập ra tổ chức này.

          Một số “hiện tượng tôn giáo mới” đã chối bỏ văn minh, truyền thồn văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục của người Việt, gây mất đoàn kết trong cộng đồng, có biểu hiện mê tín dị đoan, trái thuần phong mỹ tục. Một số người còn trở thành “thầy lang” chữa bách bệnh cho mọi người, phương pháp chữa bệnh mang nặng mầu sắc mê tín, phản khoa học.

          Một số hoạt động của “hiện tượng tôn giáo mới” còn gây ra sự hoang mang trong giáo dục học đường, thậm chí cả cho các bậc phụ huynh. Họ gửi thư tuyên truyền đến cho các em học sinh còn quá ít tuổi, khi mà họ vô tình hoặc cố ý biết tên, địa chỉ các em. Nhất là, trong nội dung thư có nội dung tuyên truyền về “ngày tận thế”, về “thời mạt pháp”, đe dọa nếu nhận được thư mà không viết thư hoặc tuyên truyền cho người khác thì sẽ bị rủi ro, tai nạn, có khi thiệt mạng,...

          Những hành động này gây lo lắng, hoang mang trong nhân dân, nhất là ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa... Trong khi đất nước đang xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thì những hoạt động đó cản trở không nhỏ, khiến quần chúng nhân dân bất bình, phản đối./.

 

                                                                                      Nguồn: CAND

Bảo vệ Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng trong tình hình hiện nay

 


 

Cương lĩnh và đường lối đổi mới của Đảng được xây dựng trên cơ sở nhận thức đúng đắn, sâu sắc bản chất cách mạng, phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy, Cương lĩnh, đường lối đó đứng vững và được hiện thực hóa, có khả năng chống lại mọi sự xuyên tạc và chống phá của các thế lực thù địch cả về lý luận và thực tiễn.

Thủ tướng Phạm Minh Chính gặp mặt đại diện nữ lãnh đạo, quản lý, trí thức và văn nghệ sĩ tiêu biểu

 


S

Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 


 

Ngay sau khi cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được ra mắt, trên không gian mạng, một số blogger có địa chỉ ở nước ngoài đã cố tình nhạo báng, cho rằng những luận điểm, nội dung trong cuốn sách đã lỗi thời, lạc hậu, thiếu cơ sở khoa học.

Con tin vào điều mình đã chọn!

 

 


Là học sinh giỏi tốp đầu của lớp, chỉ còn hơn một tháng nữa, Minh sẽ đặt bút vào hồ sơ đăng ký tuyển sinh đại học.

Vạch trần âm mưu xuyên tạc lịch sử, phá hoại thuần phong mỹ tục văn hoá dân tộc

 

Những hoạt động của các "hiện tượng tôn giáo mới" đã có tác động không nhỏ đến lĩnh vực văn hoá, đạo đức. Một số “hiện tượng tôn giáo mới” xuyên tạc lịch sử, phá hoại đạo đức và thuần phong mỹ tục văn hoá của dân tộc, chống đối, nói xấu chế độ, tuyên truyền làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. 

Việt Nam đề nghị Trung Quốc tôn trọng và không vi phạm vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam

 


Ngày 7/3, trả lời câu hỏi của phóng viên về thông báo hàng hải của Cục Hải sự tỉnh Hải Nam, Trung Quốc liên quan đến hoạt động diễn tập quân sự của Trung Quốc ở khu vực Biển Đông, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng khẳng định:

 “Việt Nam luôn theo sát các diễn biến tại khu vực Biển Đông và thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán trên biển phù hợp luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982).

Một phần khu vực thông báo hàng hải nêu trên thuộc vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam được xác định theo UNCLOS 1982.

Việt Nam đề nghị Trung Quốc tôn trọng và không vi phạm vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, không có hành động làm phức tạp tình hình, qua đó góp phần duy trì hoà bình, an ninh, ổn định ở khu vực Biển Đông./.

Một nhà tư tưởng, lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân

 


 

 Friedrich Engels là nhà lý luận chính trị, một triết gia và nhà khoa học người Đức thế kỷ 19. Engels đã cùng với Karl Marx sáng lập Học thuyết Marx-học thuyết khoa học, cách mạng của giai cấp công nhân (GCCN) và nhân dân lao động trên thế giới. Cùng với Marx, Engels không chỉ phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của GCCN mà còn góp phần vạch ra vai trò của đội tiền phong (chính đảng) của GCCN. Đây cũng chính là phát hiện vĩ đại thứ ba trong Học thuyết Marx.

Phát huy vai trò của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, góp phần đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong giai đoạn mới

  Tham nhũng, tiêu cực luôn là nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. Vì vậy, Đảng ta luôn kiên quyết đấu tranh phòng, chống những mối nguy cơ đó. Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ chính trị trong thời gian tới, đòi hỏi các cấp, các ngành, trong đó có đội ngũ những người làm công tác kiểm tra, giám sát phải nỗ lực hơn nữa, quyết tâm cao hơn nữa trong thực hiện nhiệm vụ quan trọng này.



Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì Phiên họp thứ 21 Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực_Ảnh: TTXVN

Nỗ lực của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Sau khi thành lập chính quyền non trẻ, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm cảnh báo nguy cơ xa rời quần chúng và tệ thoái hóa, biến chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Người đã luôn chú trọng giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên về đạo đức cách mạng, quyết tâm phòng, chống những nguy cơ làm tha hóa đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thấm nhuần tư tưởng của Người, Đảng ta thường xuyên chăm lo tới công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đặc biệt, bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (tháng 1-1994), Đảng đã xác định 4 nguy cơ đối với sự nghiệp cách mạng của đất nước là: Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội; âm mưu và hành động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Trong đó, sự suy thoái, biến chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên và tệ nạn quan liêu, tham nhũng, lãng phí được coi là “giặc nội xâm”; làm ảnh hưởng xấu đến niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và đe dọa sự tồn vong của chế độ. Hiện nay, một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức, có quyền bị tác động bởi mặt trái của cơ chế thị trường, kém tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất người đảng viên sẽ dẫn tới thoái hóa, biến chất, phai nhạt lý tưởng, xa rời nhân dân, sa vào tham nhũng, lãng phí. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đang diễn ra theo chiều hướng ngày càng tinh vi, phức tạp, nếu không kịp thời đấu tranh, ngăn chặn sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới vai trò lãnh đạo của Đảng, làm mất niềm tin của nhân dân.

Từ sau Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, Ðảng và Nhà nước ta đã tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và đã đạt được một số kết quả nhất định, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, cuộc đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nhiều hạn chế, khuyết điểm, hiệu quả thấp. Tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây hậu quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Ðảng và chế độ ta.

Trước tình hình trên, Hội nghị Trung ương 3 khóa X đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 21-8-2006, “Về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”. Một trong những chủ trương, giải pháp được Nghị quyết nêu ra là: Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử hành vi tham nhũng. Tập trung kiểm tra, thanh tra, kiểm toán một số lĩnh vực trọng điểm, như: Đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, thu - chi ngân sách, quản lý tài sản công và hệ thống ngân hàng thương mại. Thành lập các đoàn công tác liên ngành giữa ủy ban kiểm tra của Đảng với thanh tra, kiểm toán, công an, kiểm sát để phối hợp xử lý các vụ tham nhũng, lãng phí nghiêm trọng. Công khai kết quả xử lý của các đoàn công tác này”(1). Tiếp đó, Hội nghị Trung ương 5 khóa XI đã ban hành Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-5-2012, “Về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí””. Kết luận số 21-KL/TW cũng đã nhấn mạnh một trong các nhiệm vụ, giải pháp về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí là: “Tiếp tục hoàn thiện thể chế và tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”(2). Sau đó, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đều đánh giá vai trò quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng trong công tác phòng, chống tham nhũng.

Ngày 12-12-2020, phát biểu tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc, tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2013 - 2020, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã đánh giá công tác kiểm tra của Đảng chính là bước “đột phá” trong công tác phòng, chống tham nhũng hiện nay: “Công tác phát hiện và xử lý tham nhũng được chỉ đạo đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả, tạo bước đột phá trong công tác phòng, chống tham nhũng, khẳng định quyết tâm rất cao của Đảng, Nhà nước trong chống tham nhũng, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”. Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, thanh tra, kiểm toán của Nhà nước được tăng cường, phát hiện và xử lý nghiêm minh các sai phạm, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy nhà nước, góp phần đắc lực nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng”(3).

Thời gian qua, cấp ủy, ủy ban kiểm tra (UBKT) các cấp đã chủ động, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo kiểm tra, giám sát phục vụ cho việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp hằng năm đã ban hành các chương trình kiểm tra, giám sát, thành lập các đoàn kiểm tra, giám sát. Nội dung kiểm tra, giám sát tập trung vào việc chấp hành các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, trong đó có việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa X về tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

Ủy ban Kiểm tra Trung ương và UBKT các cấp rất tích cực, chủ động, quyết tâm, quyết liệt trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với tổ chức đảng và đảng viên (trong đó trên 1/2 đảng viên là cấp ủy viên các cấp), giám sát thường xuyên và giám sát chuyên đề đối với tổ chức đảng và đảng viên; tập trung nhiều vào những điểm “nóng”, những lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực, những vấn đề bức xúc mà dư luận quan tâm, như việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc; công tác cán bộ; biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; trách nhiệm nêu gương; quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên, tài chính, ngân hàng; bảo vệ môi trường, cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp; thực hiện dự án đầu tư, xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản công... Trong đó, vừa có nhiều vụ việc mới, lại có những vụ việc tồn tại đã lâu, việc giải quyết rất khó khăn, phức tạp, nhạy cảm, liên quan nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều địa phương, gây bức xúc trong xã hội... đã được phát hiện, làm rõ, kết luận và kỷ luật; đề nghị các cấp có thẩm quyền kỷ luật nhiều tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, trong số đó có cả những người giữ cương vị cao của Đảng, Nhà nước, lãnh đạo chủ chốt các địa phương, đơn vị, sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang, đương chức hoặc đã nghỉ hưu.

Qua kiểm tra, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy và UBKT các cấp đã xử lý nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm; làm một cách bài bản, từ trên xuống dưới, có trọng tâm, trọng điểm. Quan điểm về xử lý kỷ luật là “không có vùng cấm, không có vùng trống, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, không có hạ cánh an toàn”, dù là cán bộ đương chức hay đã nghỉ hưu, cán bộ cấp cao, cả dân sự và cả trong lực lượng vũ trang, thì mọi đảng viên đều bình đẳng khi xử lý kỷ luật và làm nghiêm từ trên xuống.  Trong giai đoạn 2013 - 2020, cấp ủy, UBKT các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 131 nghìn đảng viên, trong đó có nhiều trường hợp tham nhũng(4). Riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay, đã thi hành kỷ luật hơn 87 nghìn cán bộ, đảng viên; trong đó, có hơn 3.200 đảng viên bị kỷ luật liên quan đến tham nhũng; đã thi hành kỷ luật hơn 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (4 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, 27 Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, hơn 30 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang,...).

Thực hiện nghiêm túc quan điểm “Kỷ luật đảng đi trước, tạo tiền đề, mở đường cho thanh tra, điều tra, xử lý hình sự theo pháp luật”, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã tập trung kiểm tra các tổ chức đảng, đảng viên có dấu hiệu vi phạm trong các vụ án, vụ việc nổi cộm, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Trong năm 2021, qua kiểm tra, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã xử lý và đề nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư xử lý nghiêm 12 tổ chức đảng và 20 đảng viên thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý (gồm 3 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương; 2 thứ trưởng, 1 đồng chí nguyên chủ tịch; 1 đồng chí nguyên phó bí thư tỉnh ủy; 13 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang). Đã kiểm tra, làm rõ các sai phạm, xử lý và yêu cầu xử lý trách nhiệm đối với nhiều tập thể, cá nhân sai phạm liên quan đến việc giảm chấp hành hình phạt tù trước thời hạn cho Phan Sào Nam (trong đó, đã thi hành kỷ luật đối với Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh và 5 cán bộ gồm Chánh án, 2 Phó Chánh án, Chánh Tòa dân sự, Phó Trưởng phòng Kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án; hiện đang yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng xem xét, xử lý trách nhiệm đối với các tập thể và cá nhân khác); một số tập thể và cá nhân sai phạm liên quan đến vụ án xảy ra tại Cục Quản lý Dược, Bộ Y tế; 1 tập thể và nhiều cá nhân sai phạm xảy ra tại Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam và các đơn vị trực thuộc(5)...

Các tổ chức đảng và đảng viên sau khi được kiểm tra, giám sát đã nghiêm túc khắc phục, sửa chữa vi phạm, khuyết điểm và hậu quả gây ra, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng đã góp phần đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; qua đó, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Như vậy, có thể thấy rõ rằng, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng ta được tiến hành rất quyết liệt, trong đó, ngày càng xác định rõ hơn vai trò, trách nhiệm của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng.

Bước sang nhiệm kỳ Đại hội XIII, đất nước ta tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn đang hiện hữu, có mặt còn gay gắt hơn; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ còn diễn biến phức tạp. Khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên có nguy cơ gia tăng về số lượng, mức độ, với tính chất, quy mô tinh vi hơn trước. Thực tế đó đặt ra yêu cầu, đòi hỏi phải đặc biệt coi trọng và đưa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng lên tầm cao mới, gắn liền với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Ban Chấp hành Trung ương quyết định đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đã đề ra. Trong đó, Ban Chấp hành Trung ương đặc biệt nhấn mạnh đến giải pháp về: Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm(6).



Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì Kỳ họp thứ 11 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương_Ảnh: TTXVN

Những nhiệm vụ của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng cần thực hiện tốt trong thời gian tới

Để đáp ứng yêu cầu và thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới, trong đó, có đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng cần được nhận thức đúng, đầy đủ hơn và tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, tiếp tục tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa về nhận thức của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, ngành và đội ngũ cán bộ, đảng viên về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng.

Đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và các cấp, các ngành, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu về vị trí, vai trò, mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu, phải gương mẫu, đi đầu, nêu cao tinh thần tự giác, thống nhất cao về ý chí và hành động trong công tác kiểm tra, giám sát để giữ gìn uy tín, củng cố niềm tin của nhân dân và phải công khai những điều cần thiết để nhân dân biết, ủng hộ và giám sát. Tiếp tục khẳng định kiểm tra, giám sát là một phương thức lãnh đạo của Đảng, một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng, là nhiệm vụ của toàn Đảng, trước hết là trách nhiệm của cấp ủy và của người đứng đầu cấp ủy. Công tác kiểm tra, giám sát, như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “là thanh bảo kiếm của Đảng”. Những nỗ lực đó nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của các cấp ủy, tổ chức đảng và UBKT các cấp.

Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng trên các phương tiện thông tin đại chúng bằng nhiều hình thức, biện pháp thích hợp; chú trọng nhân rộng các nhân tố điển hình, kinh nghiệm hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả; rà soát, tiếp tục mở các chuyên trang, chuyên mục, xuất bản, phát hành sách, báo, tạp chí, các tác phẩm văn học, nghệ thuật về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng. Công khai kết quả xử lý các vụ việc đến cán bộ, đảng viên và nhân dân để phát huy tối đa hiệu quả tác dụng trong phòng ngừa, giáo dục, răn đe, cảnh tỉnh vi phạm; không để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, chia rẽ nội bộ, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ; tạo đồng thuận và hiệu ứng tốt trong xã hội, góp phần quan trọng cho công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Hai là, tiếp tục chỉ đạo nghiên cứu xây dựng, hoàn thiện các quy định của pháp luật và hệ thống các quy định về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng có liên quan đến việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp ủy các cấp tăng cường chỉ đạo nghiên cứu xây dựng hoàn chỉnh các nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định về công tác xây dựng Đảng, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng đồng bộ, thống nhất; đổi mới phương pháp, kỹ năng, quy trình công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng bảo đảm khoa học, dân chủ, đồng bộ, thống nhất, khả thi; trong đó, tập trung vào các cơ chế, biện pháp chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm, khuyết điểm của tổ chức đảng, đảng viên. Đồng thời, chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và các quy định về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực gắn với cơ chế kiểm soát quyền lực; tạo sự đồng bộ, thống nhất trong thực hiện quy định xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức với kỷ luật đảng viên; có cơ chế, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức, viên chức để cán bộ, đảng viên “không thể tham nhũng”, “không dám tham nhũng”, “không cần tham nhũng”...

Ba là, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng, góp phần quan trọng cho công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT các cấp cần nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu lực, hiệu quả và tạo bước tiến mới trong công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng. Tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tiêu cực. Cấp ủy các cấp phải thường xuyên tự kiểm tra, nhất là đối với cấp ủy viên và cán bộ diện cấp ủy cấp mình quản lý, kịp thời chỉ ra những ưu điểm để phát huy, phát hiện những hạn chế, khuyết điểm để chủ động khắc phục, chấn chỉnh. Tăng cường giám sát để giúp cho tổ chức đảng, đảng viên kịp thời chấn chỉnh, khắc phục, sửa chữa khuyết điểm, vi phạm, không để khuyết điểm kéo dài trở thành vi phạm, vi phạm nhỏ trở thành vi phạm lớn, vi phạm của một người trở thành vi phạm của cả tập thể. Thực hiện giám sát trên tất cả các địa bàn, lĩnh vực; tập trung giám sát việc tham mưu, ban hành thể chế, nhất là những nơi nội bộ có biểu hiện mất đoàn kết, có vấn đề phức tạp mới nảy sinh, dư luận xã hội quan tâm để chủ động nhắc nhở, cảnh báo, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm từ sớm. Việc thực hiện kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm cần có tinh thần chủ động hơn, nỗ lực quyết tâm cao hơn, hành động quyết liệt hơn, tập trung vào những nơi có vấn đề phức tạp, điểm “nóng”, những địa bàn, lĩnh vực dễ nảy sinh vi phạm, những vấn đề nổi cộm, gây bức xúc trong xã hội, như các lĩnh vực kinh tế - tài chính, hành chính, tư pháp, y tế, giáo dục, quản lý báo chí, sử dụng nguồn viện trợ của nước ngoài,... Việc xử lý kỷ luật phải nghiêm minh, kịp thời, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, song, phải trên tinh thần nhân văn, “trị bệnh cứu người”, mục đích là làm cho tổ chức đảng, đảng viên tiến bộ hơn, để thực hiện tốt hơn nhiệm vụ chính trị được giao.

Bên cạnh đó, cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT các cấp cần nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng cường kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý, kỷ luật nghiêm minh đối với cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, góp phần quan trọng cho đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống tất yếu dẫn đến tham nhũng và đây mới là cái gốc của tệ nạn, là cái cơ bản cần phải phòng, chống. Do đó, công tác phòng, chống tham nhũng phải gắn liền, đồng bộ với công tác phòng, chống tiêu cực, nhất là chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Không chỉ đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực kinh tế, mà quan trọng hơn là phải chống tiêu cực trong cả lĩnh vực tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Bốn là, tăng cường sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cơ quan kiểm tra với các cơ quan thanh tra, điều tra, kiểm toán và các cơ quan quản lý nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, tạo sự chuyển biến rõ nét trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực từ Trung ương đến cơ sở.

Thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa UBKT với các đảng ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn liên quan. Ủy ban kiểm tra các cấp tiếp tục tham mưu cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy cùng cấp sửa đổi, bổ sung, xây dựng ban hành mới quy chế phối hợp giữa UBKT với cơ quan điều tra, thanh tra, kiểm toán, viện kiểm sát nhân dân, tòa án nhân dân và tổ chức thực hiện có chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan theo cơ chế chỉ đạo phối hợp xử lý sai phạm được phát hiện trong quá trình thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Ủy ban kiểm tra các cấp cần phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng nhà nước để kiểm soát thu nhập của cán bộ, nhất là cán bộ thuộc diện cấp ủy quản lý theo chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền.

Tiếp tục thực hiện nghiêm túc quan điểm “Kỷ luật đảng đi trước, tạo tiền đề, mở đường cho thanh tra, điều tra, xử lý hình sự theo pháp luật”. Ủy ban kiểm tra các cấp tập trung kiểm tra các tổ chức đảng, đảng viên có dấu hiệu vi phạm trong các vụ án, vụ việc nổi cộm, gây bức xúc trong dư luận xã hội; qua kiểm tra, giám sát phát hiện thấy có các cán bộ, đảng viên có dấu hiệu tội phạm về tham nhũng, tiêu cực thì chuyển cho các cơ quan pháp luật xem xét, xử lý theo thẩm quyền, không chờ đến khi kết thúc kiểm tra, giám sát mới chuyển. Các cơ quan chức năng trong quá trình thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đối với các vụ việc, vụ án về tham nhũng, tiêu cực, nếu phát hiện vi phạm liên quan đến cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp quản lý thì báo cáo ngay cho Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, cấp ủy quản lý cán bộ để kịp thời chỉ đạo xử lý. Đồng thời, chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan đến Ủy ban Kiểm tra Trung ương, UBKT thuộc cấp ủy quản lý cán bộ để kiểm tra, xử lý theo quy định của Đảng, không chờ khi có kết luận, kết thúc vụ việc, vụ án mới chuyển.

Năm là, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp theo hướng chuyên nghiệp hóa, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, phục vụ cho công tác đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Cán bộ kiểm tra phải có phẩm chất đạo đức cách mạng, có bản lĩnh chính trị, tính chiến đấu cao, có kinh nghiệm về công tác xây dựng Đảng, kỹ năng nghiệp vụ thuần thục, phương pháp công tác khoa học, dân chủ, thận trọng, chặt chẽ; nắm vững và thực hiện đúng các nguyên tắc, thẩm quyền, quy trình, thủ tục, cơ chế, chính sách, quy định của Đảng và Nhà nước về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; không lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để trục lợi. Đổi mới công tác tuyển dụng, bố trí, phân công, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng đối với cán bộ kiểm tra. Có chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp đối với cán bộ kiểm tra và chế độ, chính sách thu hút cán bộ chuyên môn giỏi, phẩm chất chính trị tốt về làm công tác kiểm tra. Tiếp tục đổi mới nội dung chương trình, hình thức, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm tra theo hướng chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng bằng giáo trình đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh, ngạch bậc và với đội ngũ giảng viên, báo cáo viên bảo đảm điều kiện, tiêu chuẩn.

Để góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””, các cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT các cấp cần đặc biệt coi trọng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, làm hết trách nhiệm và lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có chất lượng, hiệu lực, hiệu quả các văn kiện trên./.

TCCS


Tuyên Bố Của Việt Nam Tại Đại hội đồng LHQ Về Tình Hình Ukraine

 


Từ ngày 28/2-2/3, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc (LHQ) tổ chức phiên họp khẩn cấp lần thứ 11 để thảo luận về tình hình Ukraine. Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng Phái đoàn thường trực Việt Nam tại LHQ đã có bài phát biểu tại cuộc họp. Dưới đây là toàn văn bài phát biểu.

Hơn 70 năm trước, những nhà sáng lập Liên Hợp Quốc đã gửi gắm trong Hiến chương bao hy vọng và khát vọng mong thế hệ tương lai tránh được hiểm họa chiến tranh. Họ đã đưa vào Hiến chương các nguyên tắc cơ bản, nay đã trở thành nền tảng cho luật pháp quốc tế và quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa các quốc gia.

Tuy nhiên, những hành động không phù hợp với những nguyên tắc này vẫn tiếp tục diễn ra, đe dọa nghiêm trọng hòa bình quốc tế, cũng như an ninh và phát triển của các quốc gia và người dân. Những hành động đó thách thức ngay cả tính thời sự và hợp pháp của Liên Hợp Quốc.

Lịch sử của chính dân tộc chúng tôi hứng chịu các cuộc chiến tranh đã nhiều lần chỉ ra rằng, các cuộc chiến tranh và xung đột đến tận ngày nay thường bắt nguồn từ các học thuyết lỗi thời đề cao chính trị cường quyền, tham vọng thống trị, áp đặt và sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế. Một số xung đột vẫn còn gắn liền với những yếu tố lịch sử, ngộ nhận và hiểu lầm.

Với trải nghiệm của chính mình, Việt Nam thấu hiểu rằng chiến tranh và xung đột khi nổ ra chỉ gây ra đau khổ sâu sắc cho người dân và hậu quả nghiêm trọng đối với nhiều khía cạnh trong đời sống của các quốc gia có liên quan trực tiếp cũng như của các quốc gia khác.

Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã nhiều lần nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tôn trọng luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên Hợp Quốc. Mọi tranh chấp quốc tế cần được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, dựa trên các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương LHQ, bao gồm các nguyên tắc về bình đẳng chủ quyền, độc lập chính trị và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia và không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực. Tất cả các quốc gia lớn hay nhỏ đều phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản này.

Do đó, Việt Nam hết sức lo ngại về tình hình xung đột vũ trang hiện nay ở Ukraine, một quốc gia thành viên có chủ quyền của Liên Hợp Quốc. Việt Nam và các nước thành viên ASEAN khác đã ra tuyên bố về vấn đề này vào ngày 26/2. Điều cấp bách hiện nay là cần kiềm chế tối đa và chấm dứt ngay lập tức việc sử dụng vũ lực để tránh thêm thương vong và tổn thất, đặc biệt là đối với dân thường

Chúng tôi kêu gọi các bên liên quan giảm leo thang căng thẳng, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh, nhằm đạt được giải pháp lâu dài có tính đến lợi ích và quan ngại của tất cả các bên, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia. Các giải pháp như vậy sẽ chấm dứt những khổ đau và đóng góp lớn cho hòa bình, an ninh và phát triển ở châu Âu và thế giới nói chung.

Về vấn đề này, chúng tôi ghi nhận cuộc họp giữa đại diện Ukraine và Liên bang Nga vào hôm qua và mong các bên liên quan sẽ tiếp tục trao đổi và sớm đạt kết quả đàm phán. Đồng thời, cần bảo vệ an toàn, an ninh của người dân và cơ sở hạ tầng dân sự thiết yếu, phù hợp với luật nhân đạo quốc tế.

Để tạo môi trường thuận lợi cho các mục tiêu đó, chúng tôi kêu gọi cộng đồng quốc tế, các quốc gia trong và ngoài khu vực tiếp tục hỗ trợ và tạo thuận lợi cho đối thoại giữa các bên. Việt Nam mong muốn có thêm các nỗ lực để tăng cường viện trợ nhân đạo cho dân thường, đồng thời hoan nghênh hoạt động của Liên Hợp Quốc và các đối tác khác trong những ngày qua để giúp đỡ người dân trên thực địa, bao gồm cả người tị nạn./.

HD10

VĂN HÓA QUÂN SỰ CỦA NGỤY VNCH, TAN RÃ KHÔNG CÓ GÌ PHẢI TIẾC CẢ

 


Đây là biểu tượng gì ? Nếu không nói ra nhiều người không biết, nhất là những người sinh sau 1975, nhiều người nghĩ đây là biểu tượng của băng cướp rừng xanh nào đó

Chẳng hiểu ngày trước trình độ văn hóa của những nhà lãnh đạo Chính quyền Sài Gòn đến đâu, quân đội thì có đơn vị Trâu điên, Bóng ma biên giới, Lôi hổ , biểu tượng thì đầu trâu mặt ngựa, con hổ thì bị sét đánh, quan tài bát cơm quả trứng cùng bát hương đặt trên quan tài, như thế sao không ch.ết mới lạ.

Biểu tượng này là của Liên đoàn cảnh sát dã chiến 222, liên đoàn này lấy hình ảnh con nhện độc làm biểu tượng cho mình, ai mà dính vào lưới nhện độc này cầm chắc cái chết trong tay, liên đoàn này chuyên đàn áp các cuộc biểu tình của Phật giáo, học sinh sinh viên, giới trí thức chống lại chính phủ ngụy Sài Gòn và vây bắt các chiến sĩ Cách Mạng.

Liên đoàn này đến ngày 29/4/1975 còn hung hăng chống lại Quân Giải phóng, sau này bị luật sư Triệu Quốc Mạnh là nhà tình báo của ta được Dương Văn Minh giao cho chức vụ Chỉ huy trưởng cảnh sát Sài Gòn - Gia Định, nhận chức là ông ra lệnh thả hết tù chính trị, giải tán các đơn vị cảnh sát, cho phép cảnh sát bỏ nhiệm sở về lo cho gia đình, như thế làm tan rã hàng vạn tên cảnh sát, không cho chúng có cơ hội chiến đấu với Đại quân ta.

Công nhận tình báo của ta có ở khắp nơi, làm sao chế độ Sài Gòn "sống mãi với tuổi 20". Bây giờ nghĩ lại các bác chỉ có lắc đầu tặc lưỡi như con Thạch Sùng tiếc một thời đã qua./.

HD9

 

NGUY HIỂM TỪ VIỆC LỌT, LỘ

THÔNG TIN CÁ NHÂN TRÊN INTERNET

Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, việc kết nối, chia sẻ thông tin ngày càng trở nên dễ dàng, thuận tiện hơn. Tuy nhiên, đây cũng là điều kiện thuận lợi cho nhiều đối tượng lợi dụng sự mất cảnh giác và sơ hở của người sử dụng mạng internet nhằm đánh cắp các thông tin cá nhân để hoạt động phạm pháp.

Từ tháng 10/2021, nhiều địa phương đã sử dụng thẻ Covid-19 như một trong những công cụ để kiểm soát dịch bệnh sau khi nới lỏng giãn cách xã hội. Thẻ Covid-19 đang trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu của cộng đồng. Số lượng người sử dụng tải, cài đặt các ứng dụng (app) phòng, chống Covid như: Sổ sức khỏe điện tử, Bluezone, NCovi, Covid-19, PC-Covid... để có thẻ Covid-19 với mã QR là rất lớn.

Chỉ cần chiếc điện thoại thông minh trong tay và một vài thao tác đơn giản là người dùng có thể thỏa mãn việc chia sẻ niềm vui lên mạng xã hội là có được “thẻ xanh” (đã tiêm 2 mũi, 3 mũi...). Tuy nhiên, đằng sau việc chia sẻ này có thể tiềm ẩn nhiều nguy cơ lộ, lọt thông tin cá nhân do có hình ảnh mã QR. Từ mã QR thẻ Covid-19, có thể dễ dàng biết được người đó là ai, số điện thoại, số thẻ căn cước công dân/chứng minh nhân dân... Những thông tin cá nhân quan trọng như vậy nếu rơi vào tay đối tượng có ý đồ xấu rất khó lường hết những hậu quả.

Mới đây, bằng chiêu thức tuyển nhân viên quán cà-phê với lương cao, các đối tượng lừa đảo qua mạng xã hội đã lấy được số thẻ căn cước công dân/chứng minh nhân dân và hình ảnh cá nhân của nhiều bạn trẻ là sinh viên tại Thừa Thiên Huế. Ngay sau khi lấy được thông tin cá nhân, chúng nhanh chóng yêu cầu các nạn nhân phải chuyển tiền vào số tài khoản mà chúng cung cấp, nếu không sẽ rao bán các thông tin cá nhân này hoặc dùng để vay nóng trên các diễn đàn.

Theo Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an, tính đến ngày 18/1/2022, sau gần một năm triển khai sản xuất, cấp và quản lý căn cước công dân gắn chíp, đến nay, Bộ Công an đã in và trả về cho Công an địa phương gần 60 triệu thẻ căn cước công dân gắn chíp điện tử. Bên cạnh các thông tin được in trên bề mặt trước, sau của thẻ căn cước công dân thì có mã QR ở mặt trước của thẻ với 7 trường thông tin cơ bản của công dân.

Thông tin lưu trữ trên mã QR và chíp điện tử giúp các cơ quan, tổ chức, cá nhân chuyển dữ liệu nhanh vào phần mềm, không cần nhập thủ công, cụ thể như: Thay thế sổ hộ khẩu, tạo sự thuận tiện cho người dân khi làm các thủ tục có liên quan đến sổ hộ khẩu; thẻ căn cước công dân mới có chứa số chứng minh nhân dân cũ trong chíp, người dân không phải xin xác nhận hoặc chuyển đổi các loại giấy tờ liên quan đến số chứng minh nhân dân cũ; mã QR trên thẻ căn cước công dân mới cho phép người dân dùng điện thoại để quét lấy thông tin khi cần khai báo không phải nhập bằng tay.

Tuy nhiên, hiện nay, việc sử dụng thông tin cá nhân không được bảo mật hoặc thông tin cá nhân được chia sẻ rộng rãi trên mạng xã hội đã và đang tạo điều kiện thuận lợi giúp kẻ xấu có thể tìm kiếm, sử dụng để trục lợi và thực hiện các mục đích xấu khác.

Theo cơ quan công an, hiện tại có rất nhiều app công nghệ cho vay tiền trực tuyến (online), chỉ cần chụp hình ảnh căn cước công dân/chứng minh nhân dân là có thể được giải quyết hợp đồng vay tiền và giải ngân một cách nhanh chóng mà bỏ qua khâu xác minh chính chủ, hoặc có xác minh nhưng quá trình xác minh rất sơ sài. Nắm được sơ hở này, các đối tượng xấu thường tìm cách lấy thông tin cá nhân của người khác, sau đó chụp ảnh và gửi vào những ứng dụng này để vay tiền nhằm mục đích chiếm đoạt.

Cũng đã có nhiều người bị kẻ xấu sử dụng hình ảnh căn cước công dân/chứng minh nhân dân để đăng ký thuê bao trả sau của các nhà mạng, sau đó thực hiện các cuộc gọi quốc tế, cuộc gọi trong nước với thời lượng dài, và chỉ đến khi các nhà mạng yêu cầu thanh toán tiền thì chủ thẻ căn cước công dân/chứng minh nhân dân mới biết. Một thủ đoạn nữa mà các đối tượng lợi dụng việc người dân đăng ảnh căn cước công dân/chứng minh nhân dân lên mạng xã hội là sử dụng để đăng ký mã số thuế ảo cho nhân viên công ty nhằm qua mặt cơ quan chức năng.

Cũng có nhiều công ty chọn hình thức ra thông báo tuyển dụng nhân sự không giới hạn số lượng với mức lương cao để thu hút nhiều người nộp hồ sơ xin việc, nhưng cuối cùng thì họ đều thông báo không trúng tuyển, sau đó lấy ảnh căn cước công dân/chứng minh nhân dân của người xin việc để đăng ký mã số thuế ảo...

Ðể nâng cao nhận thức cho người sử dụng internet, hạn chế những sơ hở mà kẻ xấu có thể lợi dụng, các cơ quan chức năng cần làm tốt công tác tuyên truyền, cảnh báo người dùng internet về phương thức, thủ đoạn hoạt động phạm tội trên không gian mạng; khuyến cáo người dùng internet sử dụng mạng xã hội, website, các ứng dụng chính thống, có cơ chế bảo mật rõ ràng; hạn chế việc khai báo, đưa thông tin cá nhân khi tham gia các trang mạng xã hội để giảm thiểu nguy cơ mất an ninh, an toàn thông tin; không chia sẻ hay để công khai các thông tin nhạy cảm như địa chỉ email, số điện thoại, số tài khoản ngân hàng... trên không gian mạng. Khi phát hiện thông tin của mình hoặc người khác lộ, lọt và đang bị sử dụng vào hoạt động phạm tội và vi phạm pháp luật, cần kịp thời trình báo cơ quan chức năng để xác minh, ngăn chặn và xử lý theo quy định của pháp luật.

Người dân không nên đăng tải, chia sẻ hình ảnh căn cước công dân/chứng minh nhân dân lên mạng xã hội; không cung cấp thông tin căn cước công dân/chứng minh nhân dân cho những dịch vụ không thiết yếu, các dịch vụ không có cam kết bảo đảm an toàn thông tin cá nhân và tuyệt đối không cho người khác mượn căn cước công dân/chứng minh nhân dân. Khi mất căn cước công dân/chứng minh nhân dân, công dân cần trình báo cơ quan chức năng để báo mất và làm lại giấy tờ./. (BTM)

Nguồn: Báo Nhân dân

ST: 347