Thứ Tư, 9 tháng 3, 2022

VĂN HÓA TRONG ĐẢNG VỚI XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG, TỔ CHỨC VÀ ĐẠO ĐỨC

 


Đảng càng văn minh, nhân văn, càng phải lấy văn hóa làm nền tảng. Khi nói văn hóa làm nền tảng cho công việc xây dựng Đảng tức là chủ yếu nói đến văn hóa trong chính trị, trong nhân cách của cán bộ, đảng viên.

Ngay từ năm 1942, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật và khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [*].

Khi nói đến công tác xây dựng Đảng, chúng ta thường nói xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức chứ ít khi quan tâm đến xây dựng Đảng về văn hóa. Thực ra, quan điểm xây dựng Đảng về văn hóa được Đảng ta đề cập từ khá sớm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã định nghĩa, Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” nghĩa là một biểu tượng cao về văn hóa của dân tộc và nhân loại, và xét cho cùng thì đạo đức, văn minh chính là văn hóa.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, khẳng định: Để xây dựng và phát triển văn hóa trong xã hội, trước hết cần xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các tổ chức Nhà nước. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII nêu quan điểm cũng như nhiệm vụ “Tiếp tục đổi mới toàn diện nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước về văn hóa” [†].

Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, thậm chí không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn là nền tảng nói chung của xã hội, cho sự tồn vong và phát triển. Đảng là bộ phận tiên tiến của xã hội. Vậy nên, văn hóa phải làm nền tảng cho công việc nói chung, trong đó có xây dựng Đảng. Đảng càng văn minh, nhân văn, càng phải lấy văn hóa làm nền tảng. Khi ta nói văn hóa làm nền tảng cho công việc xây dựng Đảng tức là chủ yếu nói đến văn hóa trong chính trị, trong nhân cách của cán bộ, đảng viên.

Xây dựng văn hóa trong chính trị, trước tiên phải quan tâm đến xây dựng văn hóa trong Đảng và vấn đề này có nhiều nội dung, nhiệm vụ, trong đó trên hết, trước hết và cốt lõi là vai trò tiên phong của mỗi đảng viên. Bởi tính tiên phong là tính chất nhất thiết phải có ở một đảng cộng sản, nhất là khi đảng đó là đảng cầm quyền. Vai trò tiên phong của Đảng được thể hiện trên nhiều lĩnh vực, từ nhận thức, giác ngộ, hiểu biết sâu sắc về lý luận, thực tiễn, tổ chức lực lượng quần chúng đông đảo, đưa họ vào con đường đấu tranh giải phóng con người, đến tiên phong trong hoạt động chính trị, lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, xây dựng, bảo vệ môi trường thiên nhiên và tất nhiên không thể thiếu vai trò tiên phong trong lĩnh vực văn hóa.

Để góp phần xây dựng con người Việt Nam có nhân cách, lối sống tốt đẹp, lành mạnh cốt lõi, trọng tâm của nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, với tư cách là lực lượng tiên phong, tổ chức lãnh đạo xã hội thì toàn Đảng, mỗi một đảng viên phải thật sự trở thành biểu tượng của phẩm giá, đạo đức con người Việt Nam trong thời đại ngày nay. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã chỉ ra rằng một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống gây tổn hại lớn đến thanh danh và uy tín của Đảng và suy cho cùng đó chính là sự suy thoái về văn hóa trong Đảng.

Chính vì vậy, việc xây dựng văn hóa trong Đảng không chỉ mang ý nghĩa thuần túy về phương diện văn hóa, mà còn có ý nghĩa cấp thiết về chính trị và xã hội. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) cũng như Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị đã khẳng định tầm quan trọng của việc xây dựng đạo đức cán bộ, đảng viên, nhất là việc nêu cao gương mẫu của đội ngũ cán bộ lãnh đạo. Đó cũng chính là xây dựng Đảng về văn hóa.

Nhiệm vụ đó tập trung tăng cường và thường xuyên giáo dục đạo đức, lối sống, bản lĩnh chính trị, tính tiền phong gương mẫu, ý thức trách nhiệm, tính trung thực của cán bộ, đảng viên. Sự giáo dục này có thể thông qua nhiều hình thức, biện pháp như thường xuyên đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; đổi mới công tác giáo dục, đào tạo theo hướng quan tâm hơn vào giáo dục phẩm chất đạo đức, nhất là giáo dục pháp luật, ý thức tuân thủ pháp luật.

Thực hiện chủ trương của Đảng là hình thành lối sống có ý thức tự trọng, tự chủ, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Đây thực chất là yếu tố cơ bản nhất để Đảng cầm quyền theo hiến pháp, pháp luật, đồng thời làm cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo có được “văn hóa trách nhiệm” để làm tròn bổn phận của mình với tư cách là những “người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam nhiều lần khẳng định phải xây dựng Đảng trong sạch, sau này có thêm cụm từ vững mạnh. Trong sạch thì mới có thể vững mạnh. Không trong sạch thì chắc chắn không thể vững mạnh. Trong sạch cũng chính là văn hóa. Trong sạch là không có mầm bệnh từ bên trong; trong sạch nhân dân mới tin vào sự chân chính. Được nhân dân tin yêu mới có nguồn sức mạnh lớn lao cho chiến thắng và thành công. Mất lòng tin là mất tất cả.

Để có một Đảng trong sạch, được nhân dân tin yêu thì Đảng phải xác định rõ ràng mục đích phục vụ nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu. Đảng ta đã nhiều lần khẳng định Đảng không có mục đích nào khác ngoài mục đích phục vụ nhân dân, vì lợi ích chính đáng của nhân dân mà chiến đấu. Đảng không có lợi ích riêng, không phải muốn chiếm giữ quyền lực để cai trị nhân dân. Điều đó phải chứng minh bằng hành động cụ thể.

Nhân cách, đạo đức, trí tuệ, tính tiên phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ lãnh đạo, quản lý các ngành, các cấp, đặc biệt là những người có chức vị cao trong Đảng và trong bộ máy Nhà nước sẽ là những biểu hiện thực tế nhất, sinh động nhất, thuyết phục nhất đối với nhân dân về sự chân chính và năng lực lãnh đạo đất nước, lãnh đạo xã hội của Đảng. Nếu không giải quyết tốt vấn đề này trong thực tế, nếu cán bộ, đảng viên thoái hóa, “lợi ích nhóm” hoành hành thì mọi khẩu hiệu đều vô nghĩa, càng hô to càng phản cảm.

Thực hiện tốt việc xây dựng Đảng về văn hóa đảm bảo cho Đảng thành công trong lãnh đạo phát triển đất nước, đồng thời chắc chắn Đảng sẽ được nhân dân tôn vinh và tự giác thừa nhận sự lãnh đạo lâu dài của Đảng. Nếu Đảng bị suy đồi về văn hóa thì chắc chắn chúng ta sẽ thất bại, có lỗi với nhân dân và lịch sử, đồng thời bản thân Đảng cũng không thể tồn tại. Trong công tác cán bộ phải luôn cảnh giác và luôn khắc phục khuyết điểm từ sự tác động bởi mặt trái của tư tưởng phong kiến và mặt trái của cơ chế thị trường. Đã có tình trạng chọn người là đệ tử, cùng phe cánh, trung thành, biết phục vụ, cung phụng cho cá nhân mình, mua quan bán chức. Đó chính là biểu hiện mặt trái của tư tưởng phong kiến và cơ chế thị trường. Toàn Đảng cần phải có quyết tâm chính trị để sửa chữa và ngăn ngừa để Đảng không bị suy thoái.

Đồng thời với việc xây dựng văn hóa trong Đảng cần tập trung lãnh đạo, chăm lo xây dựng đạo đức xã hội. Đảng tồn tại trong xã hội, luôn chịu sự tác động hằng ngày, hằng giờ từ xã hội và luôn tác động trở lại xã hội. Sự tác động qua lại ấy, giữa Đảng và xã hội, có thể tích cực và cũng có thể tiêu cực, tùy thuộc vào Đảng tốt, môi trường xã hội tốt hoặc chưa tốt, không tốt. Trong mối quan hệ tác động qua lại ấy, Đảng phải chịu trách nhiệm đầu tiên, không đổ lỗi cho xã hội, vì Đảng lãnh đạo, phải đủ dũng cảm và bản lĩnh để đối mặt với sự thật khách quan, nhằm tìm cách cải tạo nó.

Những năm qua, đạo đức xã hội có nhiều mặt suy thoái lo ngại, thậm chí có mặt nghiêm trọng, đáng báo động. Tình trạng đạo đức xã hội sa sút có nhiều nguyên nhân. Rất đáng lưu ý là hệ giá trị bị đảo lộn về vị trí, thang bậc. Nhân cách đáng ra phải luôn ở vị trí hàng đầu, trung tâm thì trong nhiều trường hợp đã xuống hàng thứ yếu, trong khi đồng tiền lại lên ngôi, chi phối nhiều mặt, nhiều việc. Vì tiền, con người ta đã vi phạm đạo đức, kể cả làm việc ác. Nhưng vì sao mà hệ giá trị lại bị đảo lộn?

Đương nhiên có lý do từ mặt trái của cơ chế thị trường, nhưng không thể đổ lỗi cho cơ chế ấy, bởi vì nó là vậy, có nhiều mặt tích cực, tạo động lực phát triển, sự lựa chọn cơ chế thị trường là đúng, có một số mặt tiêu cực cần phải phòng tránh. Khuyết điểm đáng lưu ý là khi bước vào kinh tế thị trường, chúng ta chưa lường hết sự phức tạp, tác hại và nhất là chưa có giải pháp hữu hiệu chủ động phòng tránh để hạn chế tác hại của nó. Nói cách khác, chưa tạo ra và thực hiện được những cơ chế quản lý hữu hiệu để hạn chế tác hại bởi mặt trái của cơ chế thị trường.

Mặt khác, sự tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường lại trong điều kiện Đảng ta là đảng cầm quyền. Nhiều cán bộ, đảng viên có quyền lực, được giao quản lý tài nguyên, tài sản, tài chính, dự án và các mặt quan trọng của đời sống xã hội. Mặt trái quyền lực làm tha hóa con người khi không có cơ chế tốt để kiểm soát quyền lực, để lựa chọn cán bộ có “đức trọng” mới giao “quyền cao”, để giám sát người có chức, quyền, dù lớn hay nhỏ.

Khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý, sự tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường cộng hưởng với mặt trái của cơ chế quyền lực như hai con ngựa bất kham, trong khi cơ chế quản lý, giám sát, kiểm soát còn nhiều sơ hở, khiếm khuyết; việc tự rèn luyện nhân cách của từng người không thường xuyên liên tục, không gương mẫu, tức là chưa đủ độ chín về văn hóa; còn khuyết điểm trong giáo dục đạo đức, liêm sỉ, trong lựa chọn, bố trí và sử dụng cán bộ.

Để phòng tránh và khắc phục những hạn chế trên, việc trước tiên là tiếp tục nhận thức sâu hơn tầm quan trọng đặc biệt của văn hóa, đạo đức trong đời sống xã hội, trong xây dựng hệ thống chính trị. Đại văn hào Mắc-xim Goóc-ky đã nói, đối với ông, khi văn hóa lâm nguy còn đáng sợ hơn là Tổ quốc lâm nguy. Về sâu xa, ông nói đúng.

Nếu Tổ quốc lâm nguy mà văn hóa còn bền vững thì người ta sẽ giữ được Tổ quốc, lấy lại được Tổ quốc khi đã mất; còn nếu văn hóa lâm nguy thì chẳng những mất Tổ quốc mà còn mất cả dân tộc. Phải có quyết tâm cao và hành động thiết thực, bền bỉ. Lấy việc xây dựng con người - nhân cách làm trọng tâm, cốt lõi trong xây dựng văn hóa. Đồng thời xây dựng môi trường văn hóa từ gia đình, cộng đồng làng, phố đến việc xây dựng văn hóa trong chính trị, nhất là nhân cách người lãnh đạo, sử dụng nhân tài và kiểm soát quyền lực; xây dựng văn hóa trong kinh tế, nhất là cơ chế quản lý đủ hiệu lực khống chế tác hại từ mặt trái của cơ chế thị trường.

Các hoạt động văn hóa được tổ chức hiệu quả, giàu tính nhân văn nhằm gìn giữ, bồi đắp, sáng tạo và lan truyền các giá trị. Giáo dục, văn học, nghệ thuật, truyền thông là những công việc quan trọng bậc nhất trong các hoạt động văn hóa cần được tổ chức một cách rất khoa học, phù hợp quy luật văn hóa và quy luật tâm sinh lý con người, bảo đảm chất lượng và hiệu quả thiết thực, bền vững.

Văn hóa trong Đảng mang đặc thù riêng, nhưng là bộ phận tiên tiến nhất, ưu tú nhất của văn hóa dân tộc. Chỉ trên cơ sở phát huy những tinh hoa văn hóa dân tộc thì mới có điều kiện xây dựng văn hóa trong Đảng một cách vững chắc và xây dựng văn hóa trong Đảng cần phải phát huy những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc. Xây dựng văn hóa trong Đảng chính là xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và Đảng phải thực sự trong sạch, vững mạnh, thực sự “là đạo đức, là văn minh” thì mới tạo được lòng tin trong nhân dân, thu hút được sức mạnh to lớn, đồng thuận của nhân dân để lãnh đạo cách mạng đạt được những thành quả trong giai đoạn hiện nay.

[*]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 431.

[†] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, tr.146

Nguồn Báo QĐND

TRÒ KINH ĐIỂN CỦA MỸ VÀ PHƯƠNG TÂY!

      Thứ trưởng ngoại giao Hoa kì, đặc phái viên ở Ukraina của Mỹ - Victoria Nuland, đã thừa nhận là ởvUkraina có các cơ sở hoá - sinh học và Mỹ đang giúp Ukraine ngăn ngừa các cơ sở này rơi vào tay Nga, bởi theo Nuland thì "Nếu có một vụ tấn công sinh hóa nào xảy ra thì đó là do Nga làm. Đây là trò kinh điển của Nga, họ thuờng bày trò và đổ cho người khác"??!!


Suy ra từ chính chiêu trò của Mỹ về lọ bột muối ở LHQ nhỉ? Hiện Mỹ đã thừa nhận đó là thông tin giả mạo, nhưng không một lời xin lỗi, và Iraq thì phải chịu tan hoang chết chóc suốt 20 năm nay!


Cũng chính Nuland đã thừa nhận, Maidan 2014 lập ra chính phủ phát xít là do Mỹ "cung cấp 5 tỷ đôla để thúc đẩy dân chủ ở Ukraina". Giờ dân chủ quá đi!!!

Maidan 2014, chúng đốt tòa nhà Công đoàn, sát hại man rợ gần 200 người và phát xít lên cầm quyền, cũng như Hitler đã lên đỉnh cao quyền lực sau vụ đốt tòa nhà Quốc hội Đức!

Yêu nước ST.

Phát hiện, đấu tranh và xử lý theo đúng quy định của pháp luật hành vi chống phá công cuộc phòng, chống dịch Covid-19 của Đảng và Nhà nước ta thời gian qua

Thời gian qua, một số trường hợp ở Quảng Ngãi bị các tổ chức, cá nhân phản động lôi kéo thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Họ sử dụng không gian mạng phát tán nhiều thông tin sai lệch, công khai công kích, chống phá Nhà nước, tiếp tay cho kẻ xấu gây hoang mang trong dư luận, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Nhiều đối tượng đã bị bắt, xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Xuất thân trong gia đình có truyền thống cách mạng nhưng đối tượng Lê Văn Quân (32 tuổi), ở thôn 6, xã Nghĩa Lâm (Tư Nghĩa), không chịu rèn luyện, tu dưỡng phấn đấu trở thành người có ích cho gia đình, xã hội mà sa ngã, trượt dài trên con đường tội lỗi. Quân đã bắt tay với các đối tượng xấu có nhiều hoạt động nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Cuối năm 2021, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh đã khởi tố và bắt tạm giam Quân về tội "Làm, tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam" theo quy định tại Khoản 1, Điều 117 Bộ luật Hình sự. Theo tài liệu điều tra, thông qua tài khoản Facebook, Quân đã thường xuyên đăng tải nhiều bài viết mang nội dung chống Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN; bôi nhọ danh dự, uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Điều đáng nói là, trước đó cơ quan công an đã nhiều lần mời Quân để làm việc, giáo dục, nhưng bỏ qua những cảnh báo này, Quân ngày càng lún sâu vào con đường tội lỗi, thường xuyên tham gia nhiều hội nhóm phản động trên Facebook; liên lạc với đối tượng truy nã Lê Văn Thương (đối tượng tham gia tổ chức khủng bố Triều Đại Việt, hiện đang lẩn trốn ở Thái Lan). Do nhận thức không đầy đủ, đúng đắn về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước hoặc bức xúc vấn đề cá nhân, nhiều đối tượng đã trượt dài trên con đường tội lỗi khi bị kẻ xấu lôi kéo, xúi giục. Như trường hợp ba đối tượng Bạch Văn Hiền (34 tuổi),ở xã Tịnh An; Phùng Thanh Tuyến (38 tuổi), ở thôn Cộng Hoà 2, xã Tịnh Ấn Tây và Lê Trung Thu (41 tuổi), ở Khu đô thị An Phú Sinh, phường Nghĩa Chánh (đều thuộc TP.Quảng Ngãi). Lợi dụng tài khoản Facebook cá nhân, các đối tượng làm, đăng tải, phát tán, chia sẻ thông tin, tài liệu có nội dung xâm phạm lợi ích Nhà nước, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Đầu tháng 11/2021, tài khoản Facebook cá nhân “N.M” đăng tải 1 bài viết và 1 video clip lên nhóm “Người Châu Ổ” với nội dung sai sự thật: “Trạm trưởng Trạm Y tế xã Bình Nguyên làm sai nguyên tắc, chích vắc xin ưu tiên người quen, thoái thác trách nhiệm”. Đồng thời, trong video clip có nhiều lời nói lăng mạ, xúc phạm đội ngũ cán bộ, y, bác sĩ đang thực hiện nhiệm vụ tiêm vắc xin phòng Covid-19 tại Trạm Y tế xã Bình Nguyên (Bình Sơn). Công an huyện Bình Sơn đã nhanh chóng xác định chủ tài khoản và mời ông N.Đ.V (39 tuổi), ở thôn Châu Tử, xã Bình Nguyên, đến cơ quan chức năng để làm việc. Trên không gian mạng, tình trạng phát tán tin giả, tin sai sự thật diễn biến khá phức tạp. Nhất là thông tin sai về tình hình dịch Covid-19; không đúng sự thật về hiệu quả các loại vắc xin; xuyên tạc chính sách phân bổ cung cấp vắc xin của Chính phủ và các cấp chính quyền; xuyên tạc các biện pháp phòng, chống dịch của Chính phủ, các cấp chính quyền, cũng như của các lực lượng chức năng... Công an đã phát hiện, xử lý trên 80 trường hợp đưa tin sai sự thật, xúc phạm uy tín tổ chức, cá nhân. Việc xuất hiện nhiều tin giả, sai sự thật, xấu độc trên mạng xã hội có thể gây mất niềm tin của quần chúng nhân dân vào công tác phòng, chống dịch, tạo tâm lý hoang mang, bức xúc trong dư luận xã hội. Nếu chúng ta giải quyết không tốt dễ phát sinh phức tạp về an ninh trật tự, ảnh hưởng xấu đến hiệu quả công tác phòng, chống dịch". Chúng ta cần xử lý nghiêm để răn đe, ngăn chặn hành vi xấu tiếp theo cũng như ngăn chặn kẻ xấu lợi dụng. Đây là hành vi đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Những hành vi này đã tiếp tay cho các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị tuyên truyền, kích động gây hoang mang trong dư luận xã hội, gây chia rẽ đoàn kết trong nội bộ Đảng và Nhà nước, cần xử lý nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung. Dù hoạt động rất tinh vi, nhiều thủ đoạn, nhưng các hành vi này đều bị lực lượng an ninh Công an tỉnh phát hiện, đấu tranh và xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Để đấu tranh chống lại các luận điệu sai trái, các quan điểm xuyên tạc, chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta, mỗi người dân cần nhận thức rõ những tác động tích cực và tiêu cực của Internet và mạng xã hội, nâng cao khả năng nhận diện với các thông tin xấu, độc, nguy hại đối với bản thân và xã hội. Cùng với đó là nhận thức đúng đắn về trách nhiệm của mình khi tham gia mạng xã hội, nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để ngăn chặn, đẩy lùi những thông tin sai lệch trên không gian mạng.

TÌNH HÌNH CHIẾN DỊCH QUÂN SỰ CỦA NGA ĐẾN TỐI 8/3, AZOV BỊ KHAI TỬ, TỔNG THỐNG UKRAINE BỖNG NHIÊN XUỐNG NƯỚC, NÓI VỀ KHẢ NĂNG CÔNG NHẬN CRIMEA THUỘC VỀ NGA!

         Chiến dịch quân sự đặc biệt của Nga tại Ukraine đã bước sang ngày thứ 14, với những diễn biến mới bất ngờ. Lúc 19h tối 08/03, thiếu tướng Igor Konashenkov, phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Nga tiếp tục đưa ra những thông tin mới nhất.


THỨ NHẤT, NGA TĂNG CƯỜNG CÁC HOẠT ĐỘNG ÁP CHẾ TRÊN KHÔNG

Thiếu tướng Igor Konashenkov cho biết: Trong quá trình chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ukraine, quân đội Nga đã loại khỏi vòng chiến 2.482 đối tượng thuộc cơ sở hạ tầng quân sự của Ukraine.

Cụ thể bao gồm: 87 sở chỉ huy và trung tâm liên lạc của các lực lượng vũ trang Ukraine, 124 hệ thống tên lửa phòng không S-300, Buk M-1 và Osa, 79 trạm radar.

69 máy bay của Ukraine đã bị tiêu diệt trên mặt đất, và 24 chiếc khác bị bắn hạ trong không chiến.

866 xe tăng và phương tiện chiến đấu bọc thép khác, 91 hệ thống pháo phản lực phóng loạt (MLRS), 317 khẩu pháo dã chiến và súng cối, 634 đơn vị xe quân sự đặc chủng, 81 máy bay không người lái của Ukraine đã bị phá hủy.

So với cập nhật gần nhất của phía Nga (lúc 19h tối 07/03), có thêm 86 mục tiêu quân sự Ukraine bị tấn công.

Không quân Nga đã tăng cường các hoạt động ném bom. Trong vòng 24 giờ gần nhất (tính đến sáng 08/03), máy bay ném bom và cường kích của Lực lượng Hàng không vũ trụ Nga đã phá hủy 158 cơ sở quân sự trên lãnh thổ Ukraine.

Máy bay chiến đấu của Nga cũng đã bắn rơi hai chiếc MiG-29 và một chiếc Su-27 của Không quân Ukraine trong không chiến.

Ngày 07/03, sân bay Ozernoe của Không quân Ukraine ở vùng Zhytomir đã bị vô hiệu hóa bởi vũ khí tầm xa chính xác cao.

Quân đội Nga còn tuyên bố đã bắn trúng 2 tiểu đoàn tên lửa phòng không S-300, 3 hệ thống tên lửa tự hành Buk-M1, 4 sở chỉ huy, 2 trạm radar, 9 kho đạn, 11 khu vực tập trung vũ khí và thiết bị quân sự.

Có thể thấy các hoạt động mạnh của Không quân Nga, các đòn chế áp bằng hỏa lực của máy bay ném bom, cường kích, tên lửa, và pháo binh đã gây tổn thất đáng kể cho quân đội Ukraine, nhất là lực lượng phòng không và không quân.


THỨ HAI, KẾT QUẢ CHIẾN SỰ TRÊN CÁC HƯỚNG

1. HƯỚNG BẮC: Do lệnh ngừng bắn nên mặt trận tương đối ổn định, cả hai bên đều đang ra sức củng cố đội hình. Dự kiến ngay sau khi sơ tán xong dân thường qua hành lang nhân đạo, xung đột sẽ lại tiếp tục bùng phát.

2. HƯỚNG ĐÔNG: Các lực lượng dân quân Lugansk tiếp tục tấn công, giành quyền kiểm soát Borsonino, Kremennaya, Peschannoe, Varvarovka, Pshenchnoe, Epifanovka, Novodruzhesk, Belogorovka. Chiều sâu tiến công lên đến 9km.

Các đơn vị dân quân Donetsk đã thiết lập quyền kiểm soát đối với Latmoye, Berezovoe, Yasnoye, Maksimovka và Valerianovka.

Các đơn vị của Lực lượng vũ trang Nga đã giành quyền kiểm soát Novoukrainskoye, Staromayorskoye, Staromlynovka, Mayorovo và Removka.

Tất cả thường dân của các khu định cư do phía Nga, LPR và DPR đánh chiếm đều được hỗ trợ nhân đạo.

3. HƯỚNG NAM: Điểm nóng quan trọng nhất hiện nay vẫn là thành phố Mariupol. Các đơn vị dân quân của Cộng hòa Donetsk đã thiết lập quyền kiểm soát đối với khu Osaviakhim ở Mariupol.

Dự kiến sau khi sơ tán xong dân thường, rất có thể các đơn vị Nga và DPR sẽ tấn công thành phố từ nhiều hướng để thanh toán các nỗ lực phòng thủ của phía Ukraine.

ĐẶC BIỆT, theo thông tin từ các hãng truyền thông phương Tây thì tiểu đoàn Azov - nhóm vũ trang cánh hữu phatxit khét tiếng của Ukraine, đã bị lực lượng Chechnia và Quân SOS Nga ở Mariupol khai tử. Họ bị chặn đánh và bị tiêu diệt gần như toàn bộ trong hai ngày, từ 07-08/3. 


TỔNG THỐNG UKRAINE BỖNG NHIÊN XUỐNG NƯỚC, NÓI VỀ KHẢ NĂNG CÔNG NHẬN CRIMEA THUỘC VỀ NGA!

Mặc dù vòng đàm phán thứ ba giữa Nga và Ukraine kết thúc, những kỳ vọng trong đàm phán đã không thành hiện thực. Nhưng trước tình hình quân đội Ukraine thất bại trên tất cả các mặt trận, và các thành phố chiến lược trở thành “nồi hầm”. Thì trong cuộc phỏng vấn với đài ABC News (Mỹ) ngày 08/03, Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky đã xuống nước, nói về khả năng công nhận Crimea thuộc về Nga!

“Tôi sẵn sàng thảo luận về điều này và tìm ra phương án thỏa hiệp về việc người dân sẽ sinh sống ở đó như thế nào." - Zelensky nói.

Zelensky cũng cáo buộc phương Tây gây ra thương vong ở Ukraine, bởi các nước này từ chối việc mở cửa không phận và điều máy bay tới hỗ trợ.

“Trong vòng 13 ngày, Ukraine chỉ nghe "những lời hứa" từ phương Tây, rằng họ sẽ điều máy bay tới hỗ trợ trên không.” - Zelensky cho biết.

“Còn về NATO, tôi hiện không còn hứng thú với vấn đề này sau khi chúng tôi nhận ra rằng, NATO chưa sẵn sàng chấp nhận Ukraine. Liên minh này sợ những điều mâu thuẫn và đối đầu với Nga", - Zelensky chua chát nhìn nhận.


LỜI BÌNH

1. Việc tại Ukraine giao cho Bộ trưởng Shoigu thì khỏi bàn, chẳng phải Tổng thống Putin đã nói: "đúng theo kế hoạch..." đó sao... UKraine 3 mặt Đông, Nam, Bắc bị Nga quây chặt, 75% lực lượng bị hủy hoại, NATO chỉ biết đứng ngoài gào thét... thì bạn có thể rời khán đài về sớm để tránh tắc đường được rồi, mà chẳng cần phải chờ đến phút 89.

2. Zelensky nhận ra vấn đề thì đã muộn, đất nước hoang tàn, lòng người ly tán, mất đất, mất dân... giá như Ukraine có lập trường như Belarus hoặc là trung lập, là cầu nối Đông - Tây thì không có mối hoạ này./.

Môi Trường ST.

Cựu chiến binh chia sẻ chân thực

 


Cựu chiến binh Trần Văn Chương trong căn nhà nhỏ ở phường Lê Mao, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Ông nguyên là Chính trị viên phó Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 28, Sư đoàn 10, Quân đoàn 3. Ông là một trong những người may mắn có mặt ở Dinh Độc Lập vào đúng thời khắc lịch sử của dân tộc cách đây 45 năm.

Tháng 3-1975, sau khi Buôn Ma Thuột được giải phóng, theo trục đường 21, các đơn vị của Sư đoàn 10 trong đó có đơn vị của ông Chương được lệnh tiến xuống giải phóng Nha Trang, Khánh Hòa. Sau thời gian chuẩn bị, đến ngày 11-4 rời Cam Ranh hành quân vào Tây Bắc Sài Gòn.

Đảng ủy Trung đoàn 28 xác định tư tưởng chỉ đạo tác chiến là “Mạnh bạo, chắc thắng, đánh mạnh, nắm vững thời cơ, thọc sâu, phát triển nhanh, đánh hiểm, đánh thắng, dứt điểm nhanh”. Tiểu đoàn 1 của ông Chương có nhiệm vụ đánh chiếm sở chỉ huy Sư đoàn 5 không quân, sẵn sàng phát triển đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu của chính quyền Sài.

Theo thời gian hiệp đồng, 6 giờ 30 phút ngày 29/4, dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Nguyễn Đức Cẩm, đơn vị bắt đầu xuất phát. Các phân đội lần lượt cơ động vượt qua trạm điều chỉnh của quân đoàn. Theo đường công binh cắm lộ tiêu tiến về Phú Hà Đông. Quá trình tiến công gặp phải sự chống trả quyết liệt của địch, buộc đơn vị vừa hành quân vừa triển khai đội hình chiến đấu. Sau hơn 1 tiếng đồng hồ, Trung đoàn 28 đã loại bỏ toàn bộ địch và làm chủ Phú Hà Đông.

Trưa 29-4, các đơn vị của trung đoàn đang phát triển chiến đấu theo đường 15 tiến về Hóc Môn đến cầu Sáng, khi chiếc xe tăng thứ 3 vừa qua thì cầu bị gãy. Tình huống ngoài dự kiến nên toàn bộ đội hình phải dừng lại bố trí hai bên cầu sẵn sàng đánh địch phản kích. Nhận thấy không còn thời gian cho công binh sửa cầu, được lệnh của trên, toàn bộ đội hình quay lại đi theo đường số 8 ra đường 1B để tiến nhanh về Hóc Môn. Đến 18 giờ, toàn bộ đội đơn vị đến ngã tư Quang Trung thì dừng lại triển khai đội hình chiến đấu và tiến hành trinh sát đường đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất. Khi sân bay Tân Sơn Nhất được đánh chiếm, trung đoàn được lệnh phải nhanh chóng cơ động theo đường 1B thọc sâu đánh chiếm Bộ tổng tham mưu của chính quyền Sài Gòn.

Trên đường tới Dinh Độc Lập, những người lính như ông Chương đã thức suốt bao đêm để hành quân thần tốc, đêm đầu tiên của ngày chiến thắng, họ đã thức cả đêm dài để tâm sự, chia sẻ những dự định về tương lai sau ngày thống nhất. Những kỷ niệm về những ngày chiến đấu cùng nhau lại ùa về, nghĩ thương đồng đội hy sinh trước giờ chiến thắng. Suy nghĩ không biết ở nhà bố mẹ, vợ con, anh em đang làm gì khi chứng kiến ngày đất nước thống nhất. Những người lính đã chia sẻ với nhau địa chỉ quê quán để sau này hẹn tìm về nhà nhau, cùng hứa với nhau tìm về những nơi mình đã đi qua trong cuộc chiến tranh để gặp lại bà con, nhân dân đã cưu mang, nuôi dưỡng mình, tìm lại đồng đội còn nằm nơi chiến trường ác liệt”, cựu chiến binh Trần Văn Chương chia sẻ./.

TRƯỜNG TỒN

 

Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lê Nin

 


Hồ Chí Minh là Nhà yêu nước Việt nam đầu tiên đến với chủ nghĩa Mác-Lênin và Cách mạng Tháng mười Nga để tìm ra con đường đúng đắn đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi của ngày hôm nay. Người nhận rõ chân lý thời đại: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”; bởi vì “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên trái đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc”. Trong đấu tranh cách mạng việc xác định hình thức, phương pháp đấu tranh không thể chủ quan, tùy tiện, mà phải căn cứ vào bản chất, phương thức hoạt động của kẻ thù. Trong Bài giảng vê “Đường cách mệnh” (năm 1925), Người đã chỉ rõ rằng, tự bản thân chủ nghĩa thực dân đã là một hành động bạo lực, vì vậy cách mạng Việt Nam chỉ có thể giành thắng lợi bằng con đường cách mạng bạo lực để chống lại bạo lực phản cách mạng của thực dân xâm lược Pháp.

Có đường lối đúng, tổ chức chặt chẽ, phát huy được sức mạnh của toàn dân tộc, cách mạng Việt Nam đã trải qua những chặng đường oanh liệt và thắng lợi vẻ vang: 15 năm sau khi Đảng ra đời, Cách mạng Tháng tám (năm 1945) đã nổ ra và giành thắng lợi, lật đổ ách đô hộ của thực dân Pháp gần một trăm năm, ách thống trị của chế độ phong kiến gần một nghìn năm, lập nên Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; 30 năm chiến tranh cách mạng (1945-1975), nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ đã đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, giành thắng lợi trọn vẹn giành lại độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Gần 35 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước do Đảng ta khởi xướng, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam trong hành động cách mạng, trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp đất nước chồng chất khó khăn, những thành tựu đạt được của sự nghiệp đổi mới là rất to lớn và có ý nghĩa lịch sử, khẳng định lý tưởng cộng sản cao đẹp, sức sống bền vững của chủ nghĩa xã hội hiện thực.

Tên tuổi và sự nghiệp cách mạng của Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh gắn liền với sự nghiệp cách mạng vĩ đại của dân tộc Việt Nam suốt thế kỷ XX cho đến ngày nay và cả mai sau. Người đã hiến dâng cả cuộc đời cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người, nêu tấm gương sáng ngời về đức hy sinh, tinh thần tận tụy, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị ... Người là hiện thân của những phẩm chất cao quý nhất của con người Việt Nam: Yêu nước, thương dân, thông minh, cần cù, sáng tạo, anh hùng, vì nghĩa lớn ... Người đã hiến dâng cho tất cả chỉ quên mình. Khẳng định công lao, đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với dân tộc và nhân loại, UNESCO đã tôn vinh Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới”.

TRƯỜNG TỒN

 

Quân đội với xây dựng và bảo vệ Tổ quốc


Công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bên cạnh những thuận lợi, thời cơ, chúng ta còn nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình thế giới, khu vực và trong nước còn nhiều diễn biến phức tạp; hội nhập, hợp tác quốc tế của Việt Nam ngày càng phát triển và mở rộng; mối quan hệ của Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế rất đa dạng, đặc biệt âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta ngày càng tinh vi và quyết liệt hơn. Chúng xuyên tạc lịch sử, đảo lộn tính chất chính nghĩa cuộc kháng chiến đánh đuổi giặc ngoại xâm của nhân dân ta; kích động gây mâu thuẫn giữa quân đội với nhân dân, giữa quân đội với công an, giữa cán bộ với chiến sĩ trong quân đội, nhằm làm phai nhạt bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp và phủ nhận những cống hiến, hy sinh lớn lao của quân đội ta đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc; truyền bá vào quân đội lối sống thực dụng, thờ ơ chính trị, nhằm “pha loãng”, làm nhạt dần bản chất cách mạng của quân đội ta, tạo điều kiện cho hệ tư tưởng tư sản thẩm thấu vào đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội v.v...

Quân đội ta ra đời từ phong trào cách mạng của dân tộc, chiến đấu hi sinh vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Hơn 75 năm xây dựng và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng, bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Quân đội nhân dân Việt Nam luôn được giữ vững và phát triển. Tuy nhiên, trước những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, một bộ phận cán bộ chiến sĩ Quân đội ta ở những mức độ nhất định đã có những biểu hiện sao nhãng chính trị, suy giảm đạo đức lối sống... Những hiện tượng này đã và đang gây tác hại không nhỏ đến bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của quân đội, ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị trong giai đoạn cách mạng mới.

Kiên định lập trường và nguyên tắc đường lối của Đảng về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa về xây dựng nền quốc phòng toàn dân nền an ninh nhân dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, gắn quốc phòng với an ninh và đối ngoại; quan điểm xây dựng thể trận lòng dân trong bảo vệ Tổ quốc. Đấu tranh giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp quốc phòng, đối với Lực lượng vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân, tăng cường vai trò của công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội và công an; kiên quyết chống các quan điểm phi chính trị hóa” quân đội và công an dưới mọi hình thức và quan điểm xây dựng quân đội chuyên nghiệp nhà nghề trái với quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân xa lạ với bản chất Bộ đội Cụ Hồ. Giải quyết tốt các vấn đề đối ngoại, không tạo sơ hở để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc chống phá chia rẽ Việt Nam với các nước, hoặc tạo cớ để nước ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Đây là cuộc đấu tranh lâu dài, kiên trì, khó khăn, phức tạp.

TRƯỜNG TỒN 

Phát triển mới về tư duy lí luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế thị trường

 


Một sự thật hiển nhiên là, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, thành phần kinh tế chủ yếu là kinh tế tư bản tư nhân; mục đích chủ yếu của nền kinh tế là mang lại lợi ích cho giai cấp bóc lột. Ngày nay, trong  chủ nghĩa tư bản xuất hiện một số mô hình kinh tế thị trường khác nhau, như kinh tế thị trường định hướng xã hội của các nước do Đảng xã hội dân chủ cầm quyền với mục tiêu điều hoà lợi ích, xoa dịu mâu thuẫn giai cấp, kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước để khắc phục khủng kinh tế; kinh tế thị trường kết hợp với kế hoạch của nhà nước… Tuy nhiên, các nền kinh tế đó vẫn dựa trên nền tảng kinh tế tư nhân, về thực chất vẫn là kinh tế tư bản chủ nghĩa.

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền kinh tế nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Mặc dù còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, nhưng kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và cùng kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của kinh tế quốc dân. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam có sự quản lí của Nhà nước xã hội chủ nghĩa bằng các công cụ quản lí vĩ mô, như kế hoạch, chính sách, pháp luật,… và bằng cả sức mạnh vật chất kinh tế nhà nước, đồng thời sử dụng cơ chế thị trường để giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục có hiệu quả mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của đông đảo quần chúng nhân dân lao động. Dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thực hiện phân phối theo lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội.

Vì vậy, luận điệu cho rằng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chỉ là “tấm áo khoác chủ nghĩa xã hội” cho nội dung tư bản chủ nghĩa, cố ý đánh đồng bản chất kinh tế, chính trị - xã hội của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là thủ đoạn thâm hiểm trong chiến lược “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm dụng ý xuyên tạc đường lối phát triển kinh tế, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Chúng xuyên tạc đường lối của Đảng về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và cho rằng, kinh tế thị trường và  chủ nghĩa xã hội không thể dung hoà, do đó phát triển kinh tế thị trường là từ bỏ chủ nghĩa xã hội. Như vậy là từ vấn đề kinh tế, các thế lực thù địch đang tiến tới vấn đề chính trị để hoàn tất sớm âm mưu “diễn biến hoà bình. Lợi dụng và thông qua chiến lược “chiếm lĩnh đầu tư, chi phối thị trường” cổ vũ cho “tư nhân hoá tài sản, tài nguyên”, mở rộng kinh tế tư nhân, thu hẹp và làm suy yếu thành phần kinh tế nhà nước,c ổ vũ cho mô hình kinh tế phương Tây. Đòn này nhằm vào thực thể của nền kinh tế nước ta, mục tiêu là làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa của kinh tế nước ta, tạo cơ sở kinh tế, chính trị - xã hội để chúng kết hợp chặt chẽ “diễn biến hoà bình và bạo loạn lật đổ.

Chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đánh dấu bước phát triển mới về tư duy lí luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chủ trương này đã nhận được sự đồng thuận, nhất trí cao trong Đảng và nhân dân, tạo động lực mạnh mẽ đưa nền kinh tế của Việt Nam đạt được nhiều thành tựu to lớn. Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế, nhịp độ tăng trưởng kinh tế, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, quốc phòng – an ninh được củng cố và tăng cường, đẩy nhanh sự hội nhập kinh tế thế giới, tăng niềm tin của mọi tầng lớp nhân dân vào chế độ xã hội chủ nghĩa, vào sự thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo. Những thành tựu to lớn đó đã chứng tỏ sự đúng đắn của chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trên thực tế.

CÔNG NHÂN

TÔN TRỌNG LỊCH SỬ THÌ MỚI BIẾT RÚT ĐƯỢC BÀI HỌC TỪ NÓ!

         Bức hình dưới đây là Đài  tưởng niệm chiến tranh, Soviet War Memorial  ở Berlin, Đức.

Bức tượng người lính bế em bé, cầm kiếm gác và chân đạp trên chữ thập ngoặc. Phía bên ngoài là bức tượng người mẹ Nga, đau buồn vì những đứa con đã mất trong chiến tranh, 02 bên là 02 người lính quỳ gối, kính trọng tưởng nhớ 7.000 trong số 80.000 binh sĩ Hồng quân đã ngã xuống trong trận Berlin, trận chiến cuối cùng.

Nước Đức chịu trách nhiệm bảo trì và sửa chữa tất cả các đài tưởng niệm chiến tranh trong nước, bao gồm đài tưởng niệm Soviet.

Sau khi Liên Xô tan rã, thay vì giật sập các bức tượng như bên Ukraine, nước Đức đã bỏ kinh phí 1, 5 triệu euro đại tu bức tượng này năm 2004, thay 2200 ốc vít và bổ sung chất liệu thép không rỉ để giữ gìn, bảo vệ.

Đây là điểm tham quan khá nổi tiếng ở Berlin. Hằng năm không ít các đoàn du khách đến thăm, đặt vòng hoa và thưởng thức kiến trúc trang nghiêm này.

Hãy như Đức, đừng như Ukraina!

- Hình 1: Tượng Hồng quân bế trẻ em.

- Hình 2. Người mẹ có con hy sinh.

- Hình 3. Toàn cảnh, góc nhìn phía trước.

- Hình 4. Toàn cảnh, góc nhìn trên cao./.
Môi Trường ST.

Đấu tranh phản bác luận điệu xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch về chủ quyền biển, đảo là yêu cầu nhiệm vụ cấp thiết hiện nay

Việt Nam có tiềm năng kinh tế biển rất lớn. Biển, đảo đã gắn bó mật thiết và ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo vị thế chiến lược quốc phòng - an ninh vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay, nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, biển đảo và kinh tế biển càng có ý nghĩa vô cùng to lớn. Biển, đảo Việt Nam có vị trí quan trọng trong tuyến hàng hải của thế giới và các nước trong khu vực. Vận tải biển, đánh bắt và nuôi trồng thủy, hải sản, khai thác khoáng sản, chế biến dầu khí và điện khí, phát triển du lịch và dịch vụ biển... là những lợi thế, nội lực quan trọng cho đất nước ta tiến đến tương lai mà nhiều quốc gia không có được. Bên cạnh đó, biển, đảo Việt Nam còn có vị trí, vai trò trọng yếu về quốc phòng - an ninh; hình thành phên giậu, pháo đài, chiến lũy nhiều tầng, lớp, bố trí thành tuyến phòng thủ liên hoàn vững chắc bảo vệ Tổ quốc. Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Việt Nam sẽ góp phần giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững. Thời gian qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị luôn tìm mọi cách để xuyên tạc về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Do đó, việc tăng cường phản bác và đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch là yêu cầu nhiệm vụ cấp thiết, nhằm bảo vệ chủ quyền hợp pháp, thiêng liêng của đất nước. Trước yêu cầu của tình hình mới hiện nay, Đảng ta thể hiện rõ quan điểm phát huy sức mạnh tổng hợp bảo vệ biển, đảo của Tổ quốc; phát triển kinh tế- xã hội gắn với tăng cường quốc phòng - an ninh, đối ngoại, bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Trong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, “Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020” và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa X) nêu rõ: “...phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển”. Những năm qua, quán triệt quan điểm của Đảng, chúng ta quán triệt phương châm: Kiên quyết, kiên trì giải quyết tranh chấp chủ quyền biển, đảo thông qua thương lượng hòa bình, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển (năm 1982) và đã đạt được những kết quả rất quan trọng, giữ vững được chủ quyền biển, đảo Việt Nam. Tuy nhiên, thời điểm trước và sau Đại hội XIII của Đảng, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị và báo, đài ở nước ngoài; các trang mạng xã hội lợi dụng những “điểm nóng” trên Biển Đông đã phát tán tài liệu, hình ảnh, video xuyên tạc tình hình Biển Đông. Chúng bịa đặt, xuyên tạc quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Trên các trang mạng xã hội chúng rêu rao rằng: Việt Nam lôi bè kéo cánh, đi với nước này, chống nước kia... Đây là những thông tin xấu độc, sai sự thật để cố tình kích động dư luận. Bởi cái gọi là Việt Nam đi với nước này chống lại nước kia... là luận điệu xuyên tạc, sai trái của thế lực thù địch, tuyệt nhiên không có trong đường lối đối ngoại, hoặc trong chủ trương giải quyết vấn đề Biển Đông mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định. Các đối tượng cơ hội, chống phá còn phê phán Đảng và Nhà nước “phản ứng chậm”, hoặc “né tránh, không dám đối đầu, để chủ quyền lãnh thổ quốc gia bị đe dọa”. Các thế lực thù địch bẻ lái dư luận, kích động người dân nhằm mục đích cuối cùng là xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước, muốn phủ nhận những nỗ lực và quan điểm kiên quyết của Đảng và Nhà nước ta đối với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, làm cho lòng dân không yên, thiếu niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, gây mất ổn định, hòa bình của đất nước ta. Chúng ta khẳng định rằng, chủ quyền quốc gia là không thể từ bỏ và đây cũng là nguyên tắc bất biến trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, đó là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao... Điều này đã được nêu rõ trong các Nghị quyết của Đảng và được chứng minh qua việc giải quyết vấn đề Biển Đông của Việt Nam, với tinh thần thượng tôn pháp luật, giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982); kiềm chế, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC). Những quan điểm, chủ trương, đối sách của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề Biển Đông là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với xu thế chung của thế giới. Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần tỉnh táo, sáng suốt và kiên quyết đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, những thông tin, luận điệu phản động, vu cáo, bịa đặt của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Đồng thời, nâng cao trách nhiệm công dân, tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Thứ Ba, 8 tháng 3, 2022

VĂN HÓA TRONG ĐẢNG VỚI XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG, TỔ CHỨC VÀ ĐẠO ĐỨC

 

Đảng càng văn minh, nhân văn, càng phải lấy văn hóa làm nền tảng. Khi nói văn hóa làm nền tảng cho công việc xây dựng Đảng tức là chủ yếu nói đến văn hóa trong chính trị, trong nhân cách của cán bộ, đảng viên.

Ngay từ năm 1942, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật và khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [*].

Khi nói đến công tác xây dựng Đảng, chúng ta thường nói xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức chứ ít khi quan tâm đến xây dựng Đảng về văn hóa. Thực ra, quan điểm xây dựng Đảng về văn hóa được Đảng ta đề cập từ khá sớm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã định nghĩa, Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” nghĩa là một biểu tượng cao về văn hóa của dân tộc và nhân loại, và xét cho cùng thì đạo đức, văn minh chính là văn hóa.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, khẳng định: Để xây dựng và phát triển văn hóa trong xã hội, trước hết cần xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các tổ chức Nhà nước. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII nêu quan điểm cũng như nhiệm vụ “Tiếp tục đổi mới toàn diện nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước về văn hóa” [†].

Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, thậm chí không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn là nền tảng nói chung của xã hội, cho sự tồn vong và phát triển. Đảng là bộ phận tiên tiến của xã hội. Vậy nên, văn hóa phải làm nền tảng cho công việc nói chung, trong đó có xây dựng Đảng. Đảng càng văn minh, nhân văn, càng phải lấy văn hóa làm nền tảng. Khi ta nói văn hóa làm nền tảng cho công việc xây dựng Đảng tức là chủ yếu nói đến văn hóa trong chính trị, trong nhân cách của cán bộ, đảng viên.

Xây dựng văn hóa trong chính trị, trước tiên phải quan tâm đến xây dựng văn hóa trong Đảng và vấn đề này có nhiều nội dung, nhiệm vụ, trong đó trên hết, trước hết và cốt lõi là vai trò tiên phong của mỗi đảng viên. Bởi tính tiên phong là tính chất nhất thiết phải có ở một đảng cộng sản, nhất là khi đảng đó là đảng cầm quyền. Vai trò tiên phong của Đảng được thể hiện trên nhiều lĩnh vực, từ nhận thức, giác ngộ, hiểu biết sâu sắc về lý luận, thực tiễn, tổ chức lực lượng quần chúng đông đảo, đưa họ vào con đường đấu tranh giải phóng con người, đến tiên phong trong hoạt động chính trị, lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, xây dựng, bảo vệ môi trường thiên nhiên và tất nhiên không thể thiếu vai trò tiên phong trong lĩnh vực văn hóa.

Để góp phần xây dựng con người Việt Nam có nhân cách, lối sống tốt đẹp, lành mạnh cốt lõi, trọng tâm của nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, với tư cách là lực lượng tiên phong, tổ chức lãnh đạo xã hội thì toàn Đảng, mỗi một đảng viên phải thật sự trở thành biểu tượng của phẩm giá, đạo đức con người Việt Nam trong thời đại ngày nay. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã chỉ ra rằng một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống gây tổn hại lớn đến thanh danh và uy tín của Đảng và suy cho cùng đó chính là sự suy thoái về văn hóa trong Đảng.

Chính vì vậy, việc xây dựng văn hóa trong Đảng không chỉ mang ý nghĩa thuần túy về phương diện văn hóa, mà còn có ý nghĩa cấp thiết về chính trị và xã hội. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) cũng như Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị đã khẳng định tầm quan trọng của việc xây dựng đạo đức cán bộ, đảng viên, nhất là việc nêu cao gương mẫu của đội ngũ cán bộ lãnh đạo. Đó cũng chính là xây dựng Đảng về văn hóa.

Nhiệm vụ đó tập trung tăng cường và thường xuyên giáo dục đạo đức, lối sống, bản lĩnh chính trị, tính tiền phong gương mẫu, ý thức trách nhiệm, tính trung thực của cán bộ, đảng viên. Sự giáo dục này có thể thông qua nhiều hình thức, biện pháp như thường xuyên đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; đổi mới công tác giáo dục, đào tạo theo hướng quan tâm hơn vào giáo dục phẩm chất đạo đức, nhất là giáo dục pháp luật, ý thức tuân thủ pháp luật.

Thực hiện chủ trương của Đảng là hình thành lối sống có ý thức tự trọng, tự chủ, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Đây thực chất là yếu tố cơ bản nhất để Đảng cầm quyền theo hiến pháp, pháp luật, đồng thời làm cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo có được “văn hóa trách nhiệm” để làm tròn bổn phận của mình với tư cách là những “người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam nhiều lần khẳng định phải xây dựng Đảng trong sạch, sau này có thêm cụm từ vững mạnh. Trong sạch thì mới có thể vững mạnh. Không trong sạch thì chắc chắn không thể vững mạnh. Trong sạch cũng chính là văn hóa. Trong sạch là không có mầm bệnh từ bên trong; trong sạch nhân dân mới tin vào sự chân chính. Được nhân dân tin yêu mới có nguồn sức mạnh lớn lao cho chiến thắng và thành công. Mất lòng tin là mất tất cả.

Để có một Đảng trong sạch, được nhân dân tin yêu thì Đảng phải xác định rõ ràng mục đích phục vụ nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu. Đảng ta đã nhiều lần khẳng định Đảng không có mục đích nào khác ngoài mục đích phục vụ nhân dân, vì lợi ích chính đáng của nhân dân mà chiến đấu. Đảng không có lợi ích riêng, không phải muốn chiếm giữ quyền lực để cai trị nhân dân. Điều đó phải chứng minh bằng hành động cụ thể.

Nhân cách, đạo đức, trí tuệ, tính tiên phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ lãnh đạo, quản lý các ngành, các cấp, đặc biệt là những người có chức vị cao trong Đảng và trong bộ máy Nhà nước sẽ là những biểu hiện thực tế nhất, sinh động nhất, thuyết phục nhất đối với nhân dân về sự chân chính và năng lực lãnh đạo đất nước, lãnh đạo xã hội của Đảng. Nếu không giải quyết tốt vấn đề này trong thực tế, nếu cán bộ, đảng viên thoái hóa, “lợi ích nhóm” hoành hành thì mọi khẩu hiệu đều vô nghĩa, càng hô to càng phản cảm.

Thực hiện tốt việc xây dựng Đảng về văn hóa đảm bảo cho Đảng thành công trong lãnh đạo phát triển đất nước, đồng thời chắc chắn Đảng sẽ được nhân dân tôn vinh và tự giác thừa nhận sự lãnh đạo lâu dài của Đảng. Nếu Đảng bị suy đồi về văn hóa thì chắc chắn chúng ta sẽ thất bại, có lỗi với nhân dân và lịch sử, đồng thời bản thân Đảng cũng không thể tồn tại. Trong công tác cán bộ phải luôn cảnh giác và luôn khắc phục khuyết điểm từ sự tác động bởi mặt trái của tư tưởng phong kiến và mặt trái của cơ chế thị trường. Đã có tình trạng chọn người là đệ tử, cùng phe cánh, trung thành, biết phục vụ, cung phụng cho cá nhân mình, mua quan bán chức. Đó chính là biểu hiện mặt trái của tư tưởng phong kiến và cơ chế thị trường. Toàn Đảng cần phải có quyết tâm chính trị để sửa chữa và ngăn ngừa để Đảng không bị suy thoái.

Đồng thời với việc xây dựng văn hóa trong Đảng cần tập trung lãnh đạo, chăm lo xây dựng đạo đức xã hội. Đảng tồn tại trong xã hội, luôn chịu sự tác động hằng ngày, hằng giờ từ xã hội và luôn tác động trở lại xã hội. Sự tác động qua lại ấy, giữa Đảng và xã hội, có thể tích cực và cũng có thể tiêu cực, tùy thuộc vào Đảng tốt, môi trường xã hội tốt hoặc chưa tốt, không tốt. Trong mối quan hệ tác động qua lại ấy, Đảng phải chịu trách nhiệm đầu tiên, không đổ lỗi cho xã hội, vì Đảng lãnh đạo, phải đủ dũng cảm và bản lĩnh để đối mặt với sự thật khách quan, nhằm tìm cách cải tạo nó.

Những năm qua, đạo đức xã hội có nhiều mặt suy thoái lo ngại, thậm chí có mặt nghiêm trọng, đáng báo động. Tình trạng đạo đức xã hội sa sút có nhiều nguyên nhân. Rất đáng lưu ý là hệ giá trị bị đảo lộn về vị trí, thang bậc. Nhân cách đáng ra phải luôn ở vị trí hàng đầu, trung tâm thì trong nhiều trường hợp đã xuống hàng thứ yếu, trong khi đồng tiền lại lên ngôi, chi phối nhiều mặt, nhiều việc. Vì tiền, con người ta đã vi phạm đạo đức, kể cả làm việc ác. Nhưng vì sao mà hệ giá trị lại bị đảo lộn?

Đương nhiên có lý do từ mặt trái của cơ chế thị trường, nhưng không thể đổ lỗi cho cơ chế ấy, bởi vì nó là vậy, có nhiều mặt tích cực, tạo động lực phát triển, sự lựa chọn cơ chế thị trường là đúng, có một số mặt tiêu cực cần phải phòng tránh. Khuyết điểm đáng lưu ý là khi bước vào kinh tế thị trường, chúng ta chưa lường hết sự phức tạp, tác hại và nhất là chưa có giải pháp hữu hiệu chủ động phòng tránh để hạn chế tác hại của nó. Nói cách khác, chưa tạo ra và thực hiện được những cơ chế quản lý hữu hiệu để hạn chế tác hại bởi mặt trái của cơ chế thị trường.

Mặt khác, sự tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường lại trong điều kiện Đảng ta là đảng cầm quyền. Nhiều cán bộ, đảng viên có quyền lực, được giao quản lý tài nguyên, tài sản, tài chính, dự án và các mặt quan trọng của đời sống xã hội. Mặt trái quyền lực làm tha hóa con người khi không có cơ chế tốt để kiểm soát quyền lực, để lựa chọn cán bộ có “đức trọng” mới giao “quyền cao”, để giám sát người có chức, quyền, dù lớn hay nhỏ.

Khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý, sự tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường cộng hưởng với mặt trái của cơ chế quyền lực như hai con ngựa bất kham, trong khi cơ chế quản lý, giám sát, kiểm soát còn nhiều sơ hở, khiếm khuyết; việc tự rèn luyện nhân cách của từng người không thường xuyên liên tục, không gương mẫu, tức là chưa đủ độ chín về văn hóa; còn khuyết điểm trong giáo dục đạo đức, liêm sỉ, trong lựa chọn, bố trí và sử dụng cán bộ.

Để phòng tránh và khắc phục những hạn chế trên, việc trước tiên là tiếp tục nhận thức sâu hơn tầm quan trọng đặc biệt của văn hóa, đạo đức trong đời sống xã hội, trong xây dựng hệ thống chính trị. Đại văn hào Mắc-xim Goóc-ky đã nói, đối với ông, khi văn hóa lâm nguy còn đáng sợ hơn là Tổ quốc lâm nguy. Về sâu xa, ông nói đúng.

Nếu Tổ quốc lâm nguy mà văn hóa còn bền vững thì người ta sẽ giữ được Tổ quốc, lấy lại được Tổ quốc khi đã mất; còn nếu văn hóa lâm nguy thì chẳng những mất Tổ quốc mà còn mất cả dân tộc. Phải có quyết tâm cao và hành động thiết thực, bền bỉ. Lấy việc xây dựng con người - nhân cách làm trọng tâm, cốt lõi trong xây dựng văn hóa. Đồng thời xây dựng môi trường văn hóa từ gia đình, cộng đồng làng, phố đến việc xây dựng văn hóa trong chính trị, nhất là nhân cách người lãnh đạo, sử dụng nhân tài và kiểm soát quyền lực; xây dựng văn hóa trong kinh tế, nhất là cơ chế quản lý đủ hiệu lực khống chế tác hại từ mặt trái của cơ chế thị trường.

Các hoạt động văn hóa được tổ chức hiệu quả, giàu tính nhân văn nhằm gìn giữ, bồi đắp, sáng tạo và lan truyền các giá trị. Giáo dục, văn học, nghệ thuật, truyền thông là những công việc quan trọng bậc nhất trong các hoạt động văn hóa cần được tổ chức một cách rất khoa học, phù hợp quy luật văn hóa và quy luật tâm sinh lý con người, bảo đảm chất lượng và hiệu quả thiết thực, bền vững.

Văn hóa trong Đảng mang đặc thù riêng, nhưng là bộ phận tiên tiến nhất, ưu tú nhất của văn hóa dân tộc. Chỉ trên cơ sở phát huy những tinh hoa văn hóa dân tộc thì mới có điều kiện xây dựng văn hóa trong Đảng một cách vững chắc và xây dựng văn hóa trong Đảng cần phải phát huy những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc. Xây dựng văn hóa trong Đảng chính là xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và Đảng phải thực sự trong sạch, vững mạnh, thực sự “là đạo đức, là văn minh” thì mới tạo được lòng tin trong nhân dân, thu hút được sức mạnh to lớn, đồng thuận của nhân dân để lãnh đạo cách mạng đạt được những thành quả trong giai đoạn hiện nay./.

[*]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 431.

[†] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, tr.146

Thượng tá, TS TRỊNH XUÂN NGỌC, Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự, Học viện Chính trị.

Nguồn Báo QĐND

Cần tỉnh táo, sáng suốt và kiên quyết đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc, kích động về chủ quyền biển, đảo của đất nước

Việt Nam là nước có tiềm năng kinh tế biển rất lớn. Biển, đảo đã gắn bó mật thiết và ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo vị thế chiến lược quốc phòng - an ninh vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay, nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, biển đảo và kinh tế biển càng có ý nghĩa vô cùng to lớn. Biển, đảo Việt Nam có vị trí quan trọng trong tuyến hàng hải của thế giới và các nước trong khu vực. Vận tải biển, đánh bắt và nuôi trồng thủy, hải sản, khai thác khoáng sản, chế biến dầu khí và điện khí, phát triển du lịch và dịch vụ biển... là những lợi thế, nội lực quan trọng cho đất nước ta tiến đến tương lai mà nhiều quốc gia không có được. Bên cạnh đó, biển, đảo Việt Nam còn có vị trí, vai trò trọng yếu về quốc phòng - an ninh; hình thành phên giậu, pháo đài, chiến lũy nhiều tầng, lớp, bố trí thành tuyến phòng thủ liên hoàn vững chắc bảo vệ Tổ quốc. Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Việt Nam sẽ góp phần giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững. Thời gian qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị luôn tìm mọi cách để xuyên tạc về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Do đó, việc tăng cường phản bác và đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch là yêu cầu nhiệm vụ cấp thiết, nhằm bảo vệ chủ quyền hợp pháp, thiêng liêng của đất nước. Trước yêu cầu của tình hình mới hiện nay, Đảng ta thể hiện rõ quan điểm phát huy sức mạnh tổng hợp bảo vệ biển, đảo của Tổ quốc; phát triển kinh tế- xã hội gắn với tăng cường quốc phòng - an ninh, đối ngoại, bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Trong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, “Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020” và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa X) nêu rõ: “...phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển”. Những năm qua, quán triệt quan điểm của Đảng, chúng ta quán triệt phương châm: Kiên quyết, kiên trì giải quyết tranh chấp chủ quyền biển, đảo thông qua thương lượng hòa bình, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển (năm 1982) và đã đạt được những kết quả rất quan trọng, giữ vững được chủ quyền biển, đảo Việt Nam. Tuy nhiên, thời điểm trước và sau Đại hội XIII của Đảng, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị và báo, đài ở nước ngoài; các trang mạng xã hội lợi dụng những “điểm nóng” trên Biển Đông đã phát tán tài liệu, hình ảnh, video xuyên tạc tình hình Biển Đông. Chúng bịa đặt, xuyên tạc quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Trên các trang mạng xã hội chúng rêu rao rằng: Việt Nam lôi bè kéo cánh, đi với nước này, chống nước kia... Đây là những thông tin xấu độc, sai sự thật để cố tình kích động dư luận. Bởi cái gọi là Việt Nam đi với nước này chống lại nước kia... là luận điệu xuyên tạc, sai trái của thế lực thù địch, tuyệt nhiên không có trong đường lối đối ngoại, hoặc trong chủ trương giải quyết vấn đề Biển Đông mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định. Các đối tượng cơ hội, chống phá còn phê phán Đảng và Nhà nước “phản ứng chậm”, hoặc “né tránh, không dám đối đầu, để chủ quyền lãnh thổ quốc gia bị đe dọa”. Các thế lực thù địch bẻ lái dư luận, kích động người dân nhằm mục đích cuối cùng là xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước, muốn phủ nhận những nỗ lực và quan điểm kiên quyết của Đảng và Nhà nước ta đối với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, làm cho lòng dân không yên, thiếu niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, gây mất ổn định, hòa bình của đất nước ta. Chúng ta khẳng định rằng, chủ quyền quốc gia là không thể từ bỏ và đây cũng là nguyên tắc bất biến trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, đó là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao... Điều này đã được nêu rõ trong các Nghị quyết của Đảng và được chứng minh qua việc giải quyết vấn đề Biển Đông của Việt Nam, với tinh thần thượng tôn pháp luật, giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982); kiềm chế, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC). Những quan điểm, chủ trương, đối sách của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề Biển Đông là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với xu thế chung của thế giới. Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần tỉnh táo, sáng suốt và kiên quyết đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, những thông tin, luận điệu phản động, vu cáo, bịa đặt của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Đồng thời, nâng cao trách nhiệm công dân, tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Phải chăng muốn bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc thì phải liên minh quân sự với một cường quốc là hoàn toàn không phù hợp

“Không liên minh quân sự” là quan điểm và chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Song, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị luôn dùng mọi thủ đoạn, chiêu trò để hướng lái dư luận, hòng chống phá quan điểm đó, nhất là trong tình hình hiện nay. Họ cho rằng “Chỉ có liên minh quân sự với một cường quốc thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền, bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc”. Theo họ: Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là nguy cấp, vì sức mạnh quân sự Việt Nam hiện nay là “quá yếu”, “lạc hậu”; vì vậy, Việt Nam cần liên minh quân sự với một nước lớn có thực lực quân sự, quốc phòng mạnh thì sẽ được hỗ trợ tối đa về mọi mặt để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển, đảo quốc gia. Rồi họ kết luận, chính sách “không liên minh quân sự” chẳng những không giữ được đất nước trước xâm lược, mà cũng không giữ nổi chế độ, nó còn làm Đảng ta “mất cả chì lẫn chài” (ám chỉ Đảng ta sẽ mất cả quyền lãnh đạo). Thậm chí, họ không ngại chỉ ra rằng: “Việt Nam liên minh quân sự với Mỹ sớm ngày nào thì nguy cơ tiếp tục mất đảo, mất quyền chủ quyền trên Biển Đông cũng như nguy cơ hứng chịu một cuộc chiến tranh trên biển lẫn đất liền bị đẩy lùi sớm ngày ấy”. Những lý lẽ trên là hoàn toàn không phù hợp với đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, cũng như thực tiễn cách mạng Việt Nam. Bởi: - Chủ quyền quốc gia - dân tộc là thiêng liêng và tối cao không thể phó thác cho bên ngoài, dù đó là ai. Trong quan hệ quốc tế hiện nay, các quốc gia đều đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc, nhất là những lợi ích cốt lõi như: độc lập, chủ quyền, chế độ xã hội,… trên nguyên tắc hai bên cùng có lợi, thì việc các nước giúp nhau bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc không hề đơn giản. Cốt vật chất để gắn kết các liên minh chính là lợi ích chung và phần lợi ích của mỗi bên thành viên trong liên minh nhận được. Những liên minh “thần thánh” đều là giả tưởng trong đầu óc của những nhà huyễn tưởng, không có chỗ đứng trong thực tiễn chính trị - quân sự sống động, phức tạp và thực dụng hiện nay. Việc một nước nhỏ muốn liên minh quân sự với một cường quốc (nước lớn) nhằm mục đích bảo vệ được chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc của mình, vậy lợi ích của cường quốc sẽ là gì trong sự liên minh này? Xưa nay không ai cho không ai bao giờ; cái gì cũng có giá của nó. Cái giá ở đây là nước nhỏ có thể tránh được nguy cơ mất chủ quyền và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc mình trước một mối đe dọa nào đó từ bên ngoài, nhưng trước khi có thể tránh được những nguy cơ đó, thì cái giá phải trả hiện hữu và có thật, đó là: nước nhỏ phải chấp nhận nhượng bộ ít nhiều về chủ quyền hoặc lợi ích quốc gia - dân tộc mình với cường quốc liên minh. Đó là vốn liếng, tài sản “thế chấp” để nhận được những “cam kết” bảo vệ an ninh từ đồng minh. Đó cũng là “luật chơi” không thể khác trong quan hệ quốc tế hiện nay. Ở đây nước nhỏ đã đem lợi ích thực tế để đánh đổi lấy khả năng bảo vệ an ninh. Một khả năng mà khi muốn hiện thực hóa nó bao giờ cũng gắn với những điều kiện “đính kèm” cần và đủ từ phía các đồng minh nước lớn. Đối với mọi quốc gia, lãnh thổ đất nước luôn đóng vai trò là cơ sở vật chất cho sự tồn tại của quốc gia, có giá trị thiêng liêng và bất biến. Đối với Việt Nam, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ xã hội chủ nghĩa,… là lợi ích cốt lõi, tối cao và thiêng liêng, đã biết bao thế hệ hy sinh xương máu để giành được. Vì vậy, vấn đề độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc không thể phó thác cho bất cứ ai, mà phải do người Việt Nam tự quyết định. Điều này được Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện nhất quán từ trước đến nay theo nguyên tắc “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”. - Muốn bảo vệ vững chắc chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc thì phải nêu cao tính độc lập, tự chủ, không thể ảo tưởng trông chờ vào liên minh. Thực tiễn lịch sử thế giới cho thấy, không phải cứ liên minh với một cường quốc quân sự là có thể bảo vệ được chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc của các nước trong liên minh, nhất là đối với các nước nhỏ. Cũng như hầu hết các quốc gia, các cường quốc đều đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc của họ và vì lợi ích “đại cục” mà họ theo đuổi, họ sẽ xử lý quan hệ với các đồng minh theo tiêu chí và triết lý ưu tiên lợi ích “trước hết”, “trên hết”, “cốt lõi” của họ. Trong nhiều trường hợp như vậy, không ít đồng minh của các cường quốc đã phải “lãnh đủ” hậu quả: từ sự “lạnh nhạt”, “ngó lơ”, “làm ngơ” đến “bỏ rơi”, thậm chí “phản bội” đồng minh để bắt tay với kẻ thù của cường quốc đồng minh. Điều này cho thấy một thực tế lịch sử, trên thế giới chưa bao giờ một nước nào có thể hy sinh lợi ích của dân tộc mình chỉ vì lợi ích của một dân tộc khác. Đối với Việt Nam, ngay trong điều kiện hai cuộc kháng chiến cực kỳ tàn khốc, ác liệt, gian khổ và kéo dài, tuy nhận được sự giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa và bạn bè quốc tế, song Việt Nam vẫn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, không tham gia liên minh quân sự với cường quốc. Đó là bài học lớn được rút ra từ công cuộc kháng chiến, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Việc Việt Nam - Lào - Campuchia cùng thành lập liên minh nhân dân (13/3/1951) nhằm tăng cường khối đại đoàn kết ba nước Đông Dương trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung là thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tay sai, giành độc lập dân tộc, xây dựng đất nước, làm cho nhân dân ba nước được tự do, hạnh phúc và tiến bộ, là đòi hỏi từ thực tiễn, yêu cầu khách quan tình hình cách mạng 03 nước Đông Dương. Đây là liên minh mang tính tự vệ, chính nghĩa với vai trò như một trong những phương thức bảo vệ Tổ quốc vào thời điểm lúc đó. Mặc dù vậy, mỗi nước đều nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ về đường lối, tổ chức thực hiện của mình. Điều đó lần nữa khẳng định, để bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia - dân tộc, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, kể cả thời bình lẫn thời chiến, phải luôn nêu cao tính độc lập, tự chủ, không thể ảo tưởng trông chờ sự trợ giúp của nước ngoài. - Không phải vì sức mạnh quốc phòng của ta “quá yếu” và “lạc hậu” nên phải liên minh quân sự với nước ngoài. Nếu cho rằng chỉ vì ta yếu và lạc hậu mới cần đến liên minh vậy khi ta mạnh và hiện đại có cần liên minh không? Vì thực tế cho thấy, không ít trường hợp nước lớn vẫn chủ động liên minh với nước nhỏ đấy thôi, và cũng có trường hợp nước nhỏ khước từ liên minh với nước lớn. Vậy phải lý giải thế nào cho thỏa đáng vấn đề này? Như chúng ta biết, mấu chốt của liên minh quân sự không hoàn toàn bắt nguồn từ sức mạnh quân sự yếu hay mạnh mà từ lợi ích và quan điểm của mỗi bên tham gia liên minh. Hơn nữa, cho rằng sức mạnh quân sự của ta yếu và lạc hậu là không hoàn toàn đúng với thực tế. Theo bảng xếp hạng Chỉ số sức mạnh quân sự toàn cầu của trang web Global Firepower (Hỏa lực toàn cầu - GFP), dựa vào 55 chỉ số (ngoại trừ vũ khí hạt nhân), chủ yếu là dân số, diện tích, số lượng vũ khí, ngân sách quốc phòng, nguồn nhân lực, giao thông, việc tiếp cận các tài sản chiến lược, nguồn nhiên liệu, và điều kiện kinh tế hiện tại, thì Việt Nam không phải là nước có sức mạnh quân sự yếu. Mặt khác, sức mạnh quân sự của một quốc gia không chỉ đánh giá bằng sức mạnh quân sự thuần túy, mà bao giờ cũng được đặt trong mối quan hệ với sức mạnh tổng hợp của quốc gia đó. Đối với Việt Nam, sau hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện; sức mạnh tổng hợp của quốc gia - dân tộc bao gồm: sức mạnh vật chất và tinh thần, sức mạnh của truyền thống và hiện đại, sức mạnh cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại bắt nguồn từ sức mạnh của con người Việt Nam không ngừng được nâng cao, thế và lực của đất nước được nâng lên một tầm cao mới. Chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững và tăng cường, ngày càng phát huy tính ưu việt, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng được giữ vững và phát huy. Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay. Nhờ đó, tạo ra vận hội mới, tạo bệ phóng vững chắc để đưa nước ta vươn lên những đỉnh cao mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Như vậy, trên bình diện sức mạnh quân sự, cũng như trên bình diện sức mạnh tổng hợp của quốc gia, sức mạnh của Việt Nam không phải là “quá yếu” và “lạc hậu” như những kẻ ác ý, hay yếu bóng vía rêu rao. Trái lại, chúng ta hoàn toàn có đủ cơ sở để khẳng định và tin tưởng vào sức mạnh của đất nước và kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống, mà không nhất thiết phải liên minh quân sự với nước ngoài. - Thành công của Việt Nam trong giữ vững chủ quyền, độc lập, bảo vệ lợi ích của quốc gia - dân tộc những năm qua chính là thành công của xây dựng nền quốc phòng, an ninh độc lập, tự chủ, tự cường; và thực hiện thắng lợi đường lối “đa dạng hóa, đa phương hóa” quan hệ đối ngoại. Lịch sử chiến tranh của Việt Nam đã khẳng định, chính việc phát huy sức mạnh nội lực, tự lực, tự cường mới là yếu tố quyết định tạo ra nguồn sức mạnh to lớn nhất, vững chắc nhất để bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược và tay sai trong thế kỷ XX đã khẳng định: nhân dân ta giành được thắng lợi to lớn chính là nhờ thực hiện đường lối quân sự độc lập, tự chủ, gắn liền với sự lãnh đạo sáng suốt, tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh và lực lượng vũ trang. Ngày nay, việc xây dựng nền quốc phòng, an ninh độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường kết hợp với mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh là bảo đảm vững chắc cho bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc. Từ thực tiễn đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Chúng ta bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Trong đó, sức mạnh bên trong của đất nước, của chế độ chính trị, nền kinh tế và tiềm lực quốc gia là nhân tố quyết định”. Cùng với đó, thực hiện đường lối dối ngoại “đa phương hóa, đa dạng hóa, đến nay, Việt Nam thiết lập quan hệ đối ngoại quốc phòng với trên 80 quốc gia và vùng lãnh thổ; đặt văn phòng tùy viên quân sự tại Liên hợp quốc và 37 quốc gia khác; có 49 quốc gia đặt văn phòng tùy viên quân sự tại Việt Nam. Quan hệ hợp tác quốc phòng được nhiều nước đối tác coi là một trong những trụ cột quan trọng trong quan hệ hợp tác với Việt Nam. Qua đó, góp phần tăng cường đoàn kết quốc tế; củng cố và phát triển tiềm lực quốc phòng, an ninh ngày càng vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Như vậy, chủ trương không tham gia liên minh quân sự là đúng đắn và phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay khi hòa bình, hợp tác, phát triển đang là xu thế chủ đạo và chủ trương đối ngoại của Việt Nam là đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn tốt, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Thực hiện chủ trương này là cơ sở để chúng ta tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Chúng ta cần nhận diện, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam hiện nay.

Trong những thập niên đầu thế kỷ XXI, thế giới có nhiều thay đổi sâu sắc. Cùng với sự dịch chuyển trọng tâm quyền lực, các nước lớn cạnh tranh gay gắt, thực hiện can thiệp linh hoạt hơn, kiềm chế, ngăn chặn lẫn nhau để xác lập vị thế. Trong bối cảnh đó, để thực hiện mưu đồ của mình, các thế lực thù địch tiếp tục điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình” trên nhiều phương diện ngày càng tinh vi hơn. Nhìn lại quá trình hình thành, phát triển của chiến lược “diễn biến hòa bình”, có thể thấy không những là một bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của các thế lực thù địch, mà còn chịu sự chi phối, tác động trực tiếp của cục diện quan hệ quốc tế qua các thời kỳ. Do vậy, nhận diện đúng và vạch trần bộ mặt mới của chiến lược này có ý nghĩa định hướng chiến lược trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam hiện nay. Hiện nay, thế giới đang chứng kiến nhiều sự thay đổi sâu sắc. “Do tác động của đại dịch COVID-19, thế giới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng nhiều mặt. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Các nước điều chỉnh chiến lược và phương thức phát triển nhằm thích ứng với tình hình mới”. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục diễn biến phức tạp, dưới nhiều hình thức mới, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế. Hợp tác, cạnh tranh, sự va chạm, cọ xát, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, các trung tâm quyền lực ngày càng gia tăng. Trong cách thức tiến hành, các nước lớn coi trọng sử dụng “quyền lực thông minh”, kết hợp giữa “quyền lực cứng” (chỉ huy, cưỡng bức, định đoạt dựa trên sức mạnh kinh tế, quân sự) với “quyền lực mềm” (khả năng thuyết phục, thu hút, tạo ảnh hưởng dựa trên sự hấp dẫn của giá trị) một cách uyển chuyển, khôn khéo. Trong bối cảnh quốc tế và các khu vực diễn biến phức tạp, khôn lường đó, để thực hiện mưu đồ của mình, các thế lực thù địch tiếp tục điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình” dưới một bộ mặt mới, ngày càng bộc lộ rõ sự tinh vi, xảo quyệt và vô cùng thâm độc. Bộ mặt mới của chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay đó là: Chủ thể và lực lượng tiến hành “diễn biến hòa bình” trong bối cảnh mới rất đa dạng, phức tạp, đan xen, không đồng nhất. Nếu như trước kia, chủ thể tiến hành “diễn biến hòa bình” là chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thì nay, bên cạnh lực lượng này còn có cả các nước theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi với tư tưởng bành trướng, bá quyền. Để xác lập vị thế vượt trội hoặc tranh giành lợi ích, ảnh hưởng trong trật tự thế giới mới, một số nước lớn thâu tóm hoạt động của các tổ chức, diễn đàn quốc tế, khu vực để lôi kéo, khống chế các nước khác vào vòng kiềm tỏa của mình. Trong một số trường hợp cụ thể, có những nước bất chấp luật pháp quốc tế, trắng trợn xâm phạm chủ quyền, can thiệp sâu vào nội bộ các nước khác bằng các biện pháp tổng hợp nhằm thay đổi bộ máy chính quyền hoặc lật đổ chế độ chính trị nước khác theo hướng có lợi cho mình... Với chủ thể được mở rộng, lực lượng tiến hành sẽ là “đại quân công chúng” ngay trong nội bộ đối phương. Trước kia, khi thực hiện “diễn biến hòa bình”, những kẻ chủ mưu, thù địch, hiếu chiến bên ngoài trực tiếp tiến hành chống phá. Nay, họ chuyển sang hành động “sau bức màn che”, “bí mật giật dây”, tập trung “nhồi nhét” tư tưởng chống đối, đào tạo, huấn luyện những kẻ “theo đóm ăn tàn”, nội gián, tay sai một cách khá bài bản, trở thành những “kỹ sư lành nghề” lật đổ chế độ chính trị ngay trong nội bộ đối phương. Từ đó, họ ngụy biện rằng, nguyên nhân sụp đổ chế độ chính trị do sự tự thân vận động bên trong chứ không phải do sự chống phá từ bên ngoài . Họ móc nối với những đối tượng cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất nhen nhóm thành các tổ chức chính trị đối lập hoạt động công khai, được “ngụy trang” dưới danh nghĩa các hội, đoàn, tổ chức xã hội dân sự... và rêu rao đó là “đại diện của người dân”; tập hợp các phần tử phản động, lưu manh, bất mãn đội lốt các chức sắc, chức việc, già làng, trưởng nhóm, trưởng hội... chỉ chờ cơ hội là “ngóc đầu”, “lột xác”; mua chuộc, lừa gạt, ép buộc quần chúng nhẹ dạ tham gia làm bình phong, lá chắn. Lực lượng này khi bị lôi kéo, kích động hợp thành “đại quân công chúng” tại chỗ, luôn chịu sự chỉ đạo của các “chuyên gia chống cộng” bên ngoài và đương nhiên đó hoàn toàn không phải là quần chúng theo đúng nghĩa là lực lượng cách mạng. Đây là vấn đề hết sức nguy hiểm, nhất là trong trường hợp số đông quần chúng nhân dân bị mê hoặc, tin theo lời hứa hão huyền bằng các khẩu hiệu lòe bịp, bị “sập bẫy” giương sẵn của các trung tâm quyền lực, các tổ chức phản động quốc tế luôn rắp tâm “đục nước béo cò”, tạo cớ can thiệp, chống phá. Đối tượng chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” được mở rộng và phương thức tiến hành đã có sự chuyển đổi. “Diễn biến hòa bình” trong tình hình mới không những nhằm vào các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa, mà còn chuyển sang chống phá các nước có chế độ chính trị mà chủ thể tiến hành cho là không phù hợp với lợi ích, giá trị, “khuôn mẫu” của họ. Đó là những nước độc lập, có chủ quyền nhưng “cứng đầu”, “không cùng quỹ đạo”, không tuân theo sự chỉ huy, chỉ đạo của họ, không có lợi cho họ trong giải quyết các vấn đề quốc tế. Đặc biệt, trọng tâm chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là các nước có vị trí địa chính trị - kinh tế - quân sự chiến lược quan trọng, phức tạp, nhạy cảm hoặc ở những khu vực hội tụ sự cạnh tranh chiến lược, tranh chấp gay gắt về lợi ích, chủ quyền trên thế giới. Tính đa dạng, phức tạp, đan xen không đồng nhất giữa chủ thể và đối tượng được thể hiện trong mối quan hệ này, phạm vi này là chủ thể tiến hành, nhưng có thể trong mối quan hệ khác, phạm vi khác, chủ thể đó lại là đối tượng chống phá. Phương thức chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” đã chuyển trọng tâm từ bên ngoài tác động vào bên trong sang tiến hành các hoạt động chống đối tại chỗ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay trong nội bộ đối phương. Nếu như những năm qua, “diễn biến hòa bình” coi trọng “dính líu để khuếch trương”, “can dự để mở rộng”, trực tiếp tiếp xúc để thẩm thấu các hành động chống phá từ bên ngoài vào bên trong nước khác thông qua thủ đoạn đặc trưng như “xóa bỏ cấm vận”, xúc tiến “bình thường hóa quan hệ”... thì nay đã chuyển sang tìm mọi cách khai thác và khoét sâu mâu thuẫn nội tại; triệt để lợi dụng những sơ hở, yếu kém trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành xã hội của các nước để chống phá. Như đã thành quy luật, mỗi khi ở các nước là đối tượng chống phá diễn ra các sự kiện chính trị trọng đại, xuất hiện các “điểm nóng”, các vấn đề xã hội phức tạp, nhạy cảm... thì đó là “cơ hội vàng” để các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”. Họ sử dụng chính lực lượng, phương tiện của đối phương; kết hợp công khai với bí mật; thực hiện đánh ngầm, mềm, sâu, hiểm, tiến công toàn diện, có trọng điểm; thường núp dưới danh nghĩa “hiến kế”, “chống tham nhũng”, “góp ý kiến xây dựng”... để lũng đoạn đối phương. Trong đó, lĩnh vực chính trị, tư tưởng được họ xác định là khâu trọng tâm, đột phá; kinh tế là mũi nhọn; dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền là “ngòi nổ”; ngoại giao để hỗ trợ; quân sự để răn đe, hậu thuẫn. Trong quá trình thực hiện, khi có điều kiện, thời cơ và cần thiết sẽ kết hợp với bạo loạn lật đổ, gây xung đột, nội chiến, can thiệp vũ trang, chiến tranh ủy nhiệm... để nhanh chóng đạt được mục tiêu chiến lược. Cách thức tiến hành rất công phu, bài bản để che đậy tính chất chính trị phản động, “ru ngủ” tinh thần cảnh giác cách mạng, làm cho đối phương mơ hồ, mất cảnh giác; mưu toan từng bước tạo sự suy thoái về tư tưởng chính trị, mục ruỗng về bộ máy, xuất hiện các mầm mống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở từng cá nhân, trong nội bộ các tổ chức và toàn xã hội và cuối cùng là sự sụp đổ chế độ chính trị giống như sự vận động “tự thân”, “tất yếu”, “hợp quy luật”. Mục tiêu và động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có sự dịch chuyển và mở rộng hơn. Mặc dù mục tiêu cao nhất, suy đến cùng của chiến lược “diễn biến hòa bình” là lật đổ chế độ chính trị xã hội của các nước “không cùng quỹ đạo”, nhưng hiện nay, do sự tác động của các mối quan hệ quốc tế phức tạp, đa tầng nấc, nhiều cấp độ giữa các nước, các tổ chức, sự chế ước của các quy tắc, chế định quốc tế, khu vực; khi chưa lật đổ được chế độ chính trị thì “diễn biến hòa bình” sẽ nhằm đến mục tiêu thấp hơn là thay đổi đường lối, chính sách; cài cắm lực lượng thân cận vào bộ máy cầm quyền; làm phức tạp hóa thành phần lãnh đạo; thay đổi tính chất quốc gia, dân tộc khác theo hướng phục vụ lợi ích của chủ thể tiến hành. Trong đó, thay đổi bộ máy cầm quyền nước khác là mục tiêu trọng yếu hiện nay và để làm được điều này, chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có những điều chỉnh mới gắn với “công nghệ lật đổ” cực kỳ tinh vi, phản động. Từ sự ra đời của học thuyết chính trị “phản kháng phi bạo lực” (phản kháng hòa bình), ngay lập tức, các “nhà dân chủ”, “nhà tiến bộ xã hội” phương Tây coi đó là “bảo bối thần kỳ”, “công cụ hữu hiệu” để lật đổ chính quyền ở nhiều quốc gia trong không gian hậu Xô-viết thông qua cái gọi là “cách mạng sắc màu” vào những năm 2004 - 2006; sau đó thay đổi chính thể của hàng loạt quốc gia ở khu vực Trung Đông, Bắc Phi vào năm 2011 với cái tên mĩ miều “Mùa xuân Ả rập”. Đó không có gì khác là bạo loạn phi vũ trang bắt nguồn từ “diễn biến hòa bình”, là “kỹ năng lật đổ” thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh - một “dị bản” của việc kết hợp “diễn biến hòa bình” với bạo loạn lật đổ. Và hiện nay, “dị bản” ấy tiếp tục được “hoàn thiện”, phát triển thành một kịch bản dựng sẵn với “công thức” lật đổ qua các bước: Một là, hình thành các hoạt động “phản kháng mềm” trong nội bộ đối phương do sự cộng hưởng theo các phương tiện truyền thông; kích động tâm lý đám đông, tổ chức người dân tụ tập, tuần hành, biểu tình, “bất tuân dân sự”, đi ngược lại chính sách hiện hành, chống đối chính phủ, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tạo ra các “điểm nóng”, bất ổn. Hai là, nội công ngoại kích, bên trong thì biểu tình, bạo động; bên ngoài thì tập hợp đồng minh, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ... đồng loạt gây sức ép trên tất cả các lĩnh vực buộc chính quyền đương thời phải từ chức, giải tán. Ba là, tạo cớ để can thiệp, tiến hành bạo loạn trực tiếp lật đổ chính quyền nhưng núp dưới danh nghĩa “bảo vệ người dân”, “đấu tranh vì tự do, dân chủ”, “vì công lý”... Bốn là, cài cắm lực lượng đối lập, nhanh chóng tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân, bầu cử; công khai ủng hộ, công nhận chính quyền mới của lực lượng đối lập chịu sự kiểm soát của họ. Điểm mấu chốt trong kịch bản này là họ cố tình “bới móc”, lôi ra điểm yếu trong bộ máy cầm quyền của đối phương; thậm chí không ngần ngại thêm thắt, bịa đặt các khuyết điểm; sẵn sàng gán tất cả những sai trái, tiêu cực trong xã hội; châm ngòi cho làn sóng chống đối trong nước và làm cho bộ máy ấy dường như đã biến chất, “lỗi thời, không phù hợp”, do đó sẽ bị thay thế và đó là “lẽ thường tình” theo đúng quy luật. Cho nên, một bộ máy cầm quyền thân cận do họ dựng lên nhưng lại được “hợp pháp hóa” thông qua một cuộc bầu cử theo luật định vô cùng tinh vi và họ luôn tự hào coi đây là sản phẩm sáng tạo của “công nghệ lật đổ” thông qua biểu tình, đảo chính bằng mô hình “bạo lực đường phố”. Theo đó, có tới “198 hành động phản kháng phi bạo lực”, nhưng trong đó bao hàm cả các hành động vô nhân đạo, bị pháp luật nhiều nước nghiêm cấm như làm tiền giả, in sao tài liệu giả, cướp bóc, ám sát, khủng bố... chứ không hoàn toàn phi bạo lực và không loại trừ sau đó sẽ lan rộng, bùng phát thành một kiểu dạng “chiến tranh lai ghép” mới. Từ sự mở rộng về mục tiêu làm cho động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa bình” trong sự dịch chuyển và cạnh tranh quyền lực cũng có sự mở rộng và thay đổi theo. Nếu như “diễn biến hòa bình” trước đây chủ yếu là đấu tranh ý thức hệ chính trị giai cấp; đấu tranh giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa; thì hiện nay nó đã được mở rộng và chuyển sang cả “đấu tranh” vì lợi ích dân tộc cục bộ, hẹp hòi; cạnh tranh chiến lược để xác lập vị thế ảnh hưởng. Đối với biện pháp tiến hành “diễn biến hòa bình” hiện nay, các thế lực thù địch sử dụng “công cụ mềm”, “quyền lực thông minh” thay cho chính sách “cây gậy và củ cà rốt” kém hiệu quả trước đây. Đây là những biện pháp mới, rất linh hoạt, mang tính tổng hợp trên các phương diện và nảy sinh trong xu thế các nước thay đổi cách thức sử dụng quyền lực và sự trỗi dậy của trào lưu dân túy, xu hướng bảo hộ thương mại trong quan hệ quốc tế. Thực hiện tiến công toàn diện, có trọng điểm song “diễn biến hòa bình” ngày càng coi trọng các “công cụ mềm” và “quyền lực thông minh” nhằm vào các lĩnh vực chính trị tư tưởng, kinh tế, văn hóa - xã hội, ngoại giao, nhất là vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để từng bước chuyển hóa đối phương, giành “chiến thắng mà không cần chiến tranh”. Trọng tâm ở bên trong các nước thì họ tìm mọi cách khoét sâu mâu thuẫn, phân hóa nội bộ, tạo ra những “khoảng trống” quyền lực, đẩy đối phương vào vòng bất ổn. Bên ngoài, vẫn hỗ trợ bằng việc tạo áp lực, tăng cường lôi kéo, khống chế, từng bước gây ảnh hưởng có lợi cho họ. Cách thức tiến hành rất tinh vi, khó nhận diện; có lúc dụ dỗ, mua chuộc bằng vật chất; lúc thì núp dưới danh nghĩa hoạt động từ thiện, nhân đạo; có khi kêu gọi mở rộng tự do, dân chủ, nhân quyền, thúc đẩy quan hệ đối tác; đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; nhiều khi lại ngấm ngầm thao túng, khống chế về tài chính, từng bước ép buộc đối phương lệ thuộc về chính trị. Chiến lược chống phá từ từ, dần dần theo cách “mưa dầm thấm lâu”. Phương châm hành động mềm dẻo, linh hoạt, “đối thoại thay đối đầu”, “bắt tay thay súng đạn”, không phô trương rầm rộ, nhìn hình thức biểu hiện bên ngoài ít khốc liệt, không tàn phá như chiến tranh vũ lực; thậm chí có vẻ “gần gũi”, “thân thiện” trong một “thế giới phẳng” nhưng bản chất thì đang âm thầm đẩy đối phương xuống đáy “vũng lầy” của sự khủng hoảng và dẫn đến đổ vỡ ngay từ bên trong. Về công cụ mới để thực hiện “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch coi trọng sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông. Trước sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong kỷ nguyên thông tin của thời đại toàn cầu hóa và với quan điểm “một đài phát thanh cũng có thể bình định được một nước, một đô la chi cho tuyên truyền có hiệu quả hơn năm đô la chi cho quân sự” nên thứ “vũ khí” hữu hiệu được các thế lực thù địch coi trọng sử dụng trong chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là các phương tiện thông tin, truyền thông, báo chí, xuất bản, nhất là các phương tiện có chương trình tiếng Việt để thực hiện bôi nhọ, vu cáo, đả kích Việt Nam(6). Trong đó, họ ngày càng coi trọng các trang mạng xã hội, internet - một phương tiện truyền thông có tốc độ nhanh, sức lan tỏa mạnh đối với công chúng. Thực tế ở nước ta gần đây đã xuất hiện khá nhiều các website, blog, phát tán quan điểm trái chiều, xuyên tạc. Với cách thức tiến hành khá công phu, tinh xảo; dựa vào một số sự kiện đã diễn ra, họ nhào nặn bằng các chi tiết “sặc mùi” chính trị phản động; thêm bớt những “số liệu” không thể kiểm chứng, kèm theo trích dẫn “kim, cổ, đông, tây”, giả danh khoa học; sử dụng công nghệ chèn các tư liệu, hình ảnh đã bị cắt ghép, chỉnh sửa, “live stream”... tạo ra những sự kiện “giật gân”, thông tin “câu khách”, gợi trí tò mò của dư luận; cố tình đổi trắng thay đen, biến không thành có, rồi suy diễn, bình luận theo kiểu làm “sáng tỏ vấn đề”. Tần suất các luận điệu thâm độc đó ngày càng gia tăng cả về lưu lượng, cấp độ, mật độ; thực hiện “bôi nhiều sẽ bẩn”, “nói lắm phải tin”, tung “hỏa mù” nhằm gây tâm lý hoài nghi, dao động trong xã hội; từng bước hướng cộng đồng đến những suy nghĩ lệch lạc, dẫn đến “tự diễn biến”, dần xuất hiện những hành vi “lệch chuẩn” và rơi vào “tự chuyển hóa” lúc nào không hay. Cho dù có “khoác tấm áo mới” thì bản chất thực sự của chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là hoạt động chống phá của các lực lượng thù địch; vẫn là một kiểu “chiến tranh không có tiếng súng” nhưng vô cùng nguy hiểm với tính chất chính trị phản động, dân tộc chủ nghĩa, toàn cầu, phi vũ trang. Đã từng cay đắng thất bại trong chiến tranh, nay các thế lực thù địch lớn tiếng tuyên bố sẽ “thắng trong hòa bình”, “thắng bằng kinh tế thị trường” và Việt Nam vẫn là tiêu điểm, vẫn hội tụ đủ các yếu tố là trọng tâm chống phá của những thủ đoạn mới trên đây. Bởi lẽ, là một nước xã hội chủ nghĩa luôn tiên phong trong phong trào độc lập dân tộc, không chịu lệ thuộc vào bên ngoài, Việt Nam nắm giữ vị trí địa kinh tế - chính trị - quân sự chiến lược quan trọng trong khu vực, lại nằm ở vị trí địa - chiến lược, trung tâm của cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn. Hơn nữa, những thành tựu hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế đã tăng cường vị thế, uy tín, tiềm lực, thực lực và sức mạnh tổng hợp của đất nước ta, tuy nhiên trong nội bộ, hiện tượng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tiêu cực, tệ nạn xã hội... còn diễn biến khá phức tạp. Thêm vào đó, thay đổi được chế độ chính trị, bộ máy cầm quyền ở Việt Nam, các thế lực thù địch sẽ có nhiều lợi thế khi thực hiện các mưu đồ chính trị mới trong thế giới đương đại. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, tiếp tục diễn ra vô cùng phức tạp, quyết liệt trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Vấn đề quan trọng có ý nghĩa định hướng chiến lược trong cuộc chiến này là phải tăng cường nghiên cứu, dự báo, đánh giá và nhận diện đúng bộ mặt thật, “bình mới, rượu cũ” của chiến lược “diễn biến hòa bình”; đồng thời, xác định đấu tranh phòng, chống, làm thất bại “diễn biến hòa bình” là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của mọi tổ chức, mọi lực lượng, các cấp, các ngành, các địa phương. Về cơ bản lâu dài, kiên quyết đấu tranh, kiên trì quán triệt, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm, giải pháp đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của Đảng và Nhà nước đã xác định, trong đó, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, thống nhất nhận thức và tư tưởng, hành động, đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân là cơ sở nền tảng. Thực hiện đồng bộ các giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là giải pháp đột phá, nhất là khi “diễn biến hòa bình” đã chuyển trọng tâm, thay vì tác động từ bên ngoài vào sang tiến hành các hoạt động chống đối tại chỗ, thúc đẩy chúng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Mũi nhọn xung kích chính là vũ khí phê phán thông qua đẩy mạnh đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Và cho dù “diễn biến hòa bình” có thay đổi phương thức, điều chỉnh thủ đoạn, diễn biến theo chiều hướng nào, mang bộ mặt nào đi nữa thì mục tiêu cuối cùng của họ không có gì khác là hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, hòng xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, tập trung xây dựng Đảng vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” gắn với ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là vấn đề mang tính nguyên tắc, giữ vai trò quyết định trong bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam trong tình hình mới./.