Yếu
tố có tính phổ biến của Nhà nước pháp quyền chính là yếu tố coi công bằng, công
lý, quyền con người là hạt nhân có tính quyết định của pháp luật và của toàn bộ
hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
Chúng
ta thấy rằng, trong các ngôn ngữ phổ biến trên thế giới (Anh, Pháp, Đức, Nga,
Tây Ban Nha v.v…), khái niệm pháp quyền tuy mới được đưa vào sử dụng không lâu
(so với nội hàm tư tưởng của nó, như đã nêu ở trên), nhưng từ những nỗ lực tu
từ bao gồm Nhà nước là chủ ngữ, pháp luật là tính ngữ, để chỉ Nhà nước phải
mang trong mình nó tố chất pháp luật, tức là chịu sự ràng buộc của pháp luật.
Điều này đã được phân tích ở trên. Tuy nhiên, ở đây, điểm cần chú ý hơn là yếu
tố pháp luật: право trong tiếng Nga, droit trong tiếng Pháp, Recht
trong tiếng Đức, derecho trong tiếng Tây Ban Nha đều có ý nghĩa là quyền
mà không phải dùng để chỉ văn bản pháp luật và đều có nội hàm công bằng, hợp
lý, gắn với quyền của con người. Trong các ngôn ngữ của châu Âu lục địa như
tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nga về Nhà nước pháp quyền đều
có một tổ hợp của hai thành tố - Nhà nước và pháp luật; trong đó, người ta chọn
thuật ngữ pháp luật đồng nghĩa với quyền. Những tác giả đầu tiên của thuật ngữ
Nhà nước pháp quyền đều là các nhà luật học người Đức là Carl Thedor Welcker
(1790-1869) và Robert Von Moll (1799-1875). Trong tiếng Anh, thuật ngữ
Rule of Law có hàm ý đề cao thủ tục chặt chẽ, tính có thể đoán định được của
pháp luật và việc Nhà nước phải chịu ràng buộc của pháp luật. Rule of Law hướng
tới mục đích bảo vệ hữu hiệu quyền con người, tránh sự tùy tiện. Xét về mặt ngữ
nghĩa, khái niệm này không khác nghĩa với khái niệm Nhà nước pháp quyền được sử
dụng trong các ngôn ngữ châu Âu lục địa, bởi đều dao động giữa hai giá trị nền
tảng là pháp luật chặt chẽ và tính công bằng, công lý. Chính vì vậy, văn kiện
pháp lý quốc tế đầu tiên về quyền con người – Tuyên ngôn về quyền con người
năm 1948 của Liên hợp quốc đã dùng khái niệm Rule of Law như là lá chắn bảo
vệ quyền con người.
Chính
là với cách hiểu đó, vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX, khi đi vào Việt Nam
các thuật ngữ nêu trên đã có phiên bản chuẩn xác của chúng là “pháp quyền”. Đây
cũng là chỉ dấu về sự nhận thức về giá trị cốt lõi của Nhà nước pháp quyền –
một chế độ, một cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước của nước ta. Sự
ràng buộc của pháp luật đối với Nhà nước chính là sự ràng buộc dựa trên tính
công bằng và công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người mà không phải và
không thể là sự ràng buộc của bất kỳ thứ pháp luật nào, theo cách nghĩ: luật là
luật! Ý nghĩa của các giá trị pháp quyền về công bằng, công lý và quyền con
người được khẳng định nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trong quan điểm và
đường lối của Đảng và Nhà nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nêu rõ: “không
sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng”, “vấn đề của tư pháp là vấn đề ở đời và làm
người”. Nếu như tự do, bình đẳng và công lý luôn luôn được các tư tưởng gia của
mọi thời đại đặt vào vị trí đầu tiên của các giá trị đạo đức thì Tuyên ngôn Độc
lập của nước Việt Nam năm 1945 nhất thiết phải được coi là một văn kiện thấm
đẫm các giá trị đạo đức và văn minh của thời đại.
Đi
sâu vào tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền VN XHCN, tư tưởng
pháp quyền phổ biến về công bằng và công lý đã thực sự có chỗ đứng trong quan
điểm đổi mới và hoàn thiện pháp luật, cải cách tư pháp. Với Nghị quyết số 49
năm 2005 Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, các giá trị pháp
quyền phổ biến đã trở thành các tư tưởng chỉ đạo không chỉ đối với công cuộc
cải cách tư pháp và pháp luật mà cho toàn bộ quá trình xây dựng và hoàn thiện
nhà nước pháp quyền ở nước ta. Nghị quyết số 49 đã 5 lần đề cập tới hai khái
niệm công lý, quyền con người: “Các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của
nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người”; “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân
chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý”; “Hoàn thiện các thủ tục tố
tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và
bảo vệ quyền con người”; “Đổi mới thủ tục hành chính trong các cơ quan
tư pháp nhằm tạo điều kiện cho người dân tiếp cận công lý”; “Bồi dưỡng
cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp theo hướng cập nhật các kiến thức mới về chính
trị, pháp luật, kinh tế, xã hội, có kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn,
có phẩm chất, đạo đức trong sạch, dũng cảm đấu tranh vì công lý, bảo vệ
pháp chế XHCN”.
Tư tưởng gắn công lý với các hoạt động tư pháp và lĩnh
vực tư pháp là một tư tưởng đúng đắn và vượt trội của Nghị quyết số 49 về chiến
lược cải cách tư pháp. Tư tưởng đó về sau đã được hiến định và cũng là lần hiến
định đầu tiên ở nước ta bởi Hiến pháp năm 2013 khi Hiến pháp xác định nhiệm vụ
“bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân” là của Tòa án
nhân dân (Điều 102). Việc hiến định giá trị công lý và quyền con người đã tạo
nên một định hướng quan trọng trong chính sách pháp luật và trong toàn bộ hệ
thống pháp lý nước ta: đó là định hướng tạo những điều kiện tối đa cho quyền
tiếp cận công lý của người dân, trong việc bảo vệ các quyền con người. Luật Tổ
chức Tòa án nhân dân (TAND) năm 2014, Bộ luật Tố tụng dân sự (TTDS) năm 2015,
Bộ luật TTHS năm 2015, Luật Tố tụng hành chính (TTHC) năm 2015 cũng đã có những
quy định tương ứng và phù hợp.
Ý
nghĩa của tư tưởng về công bằng, công lý, quyền con người đã tạo cảm hứng cho
nhận thức mới về pháp luật. Từ nay, pháp luật cần được hiểu theo nghĩa rộng và
cách hiểu rộng ấy sẽ làm cho pháp luật có được nội dung phù hợp, sinh động, gắn
với thực tiễn đang thay đổi nhanh chóng, không bị xơ cứng, thiếu khả năng điều
chỉnh. Các đạo luật từ đó sẽ bớt đi tính tư biện, tính lý thuyết bởi pháp luật
cần được hình thành từ các hoàn cảnh khác nhau của đời sống xã hội và có đầy đủ
khả năng điều chỉnh đầy đủ và kịp thời hơn các quan hệ xã hội phát sinh, bảo
đảm và bảo vệ một cách kịp thời, đầy đủ và công bằng các quyền con người, quyền
công dân. Xuất phát từ quan điểm đó, chính Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị là
văn kiện chính trị lần đầu tiên đặt ra nhiệm vụ của Tòa án tối cao “tổng kết
kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án
lệ”. Từ định hướng này, lần đầu tiên ở nước ta, Bộ luật dân sự
(BLDS) năm 2015 đã xác định, Tòa án áp dụng tập quán, án lệ, lẽ công bằng trong
giải quyết các vụ việc dân sự và cũng lần đầu tiên trong lịch sử pháp lý Việt
Nam. BLDS năm 2015 (Khoản 2 Điều 14) và Bộ Luật TTDS năm 2015 (Khoản 2 Điều 4)
đã đưa ra quy định “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý
do chưa có điều luật để áp dụng”. Có thể khẳng định rằng, sự thừa nhận và chủ
trương phát triển, áp dụng những nguồn pháp luật mới này là điểm sáng của tư
tưởng pháp lý Việt Nam hiện đại, kết quả của tư duy đổi mới vì con người mà
điểm xuất phát là Nghị quyết số 49 về Chiến lược cải cách tư pháp.
Mục
tiêu bảo vệ công lý của hoạt động tư pháp chỉ có thể đạt được thông qua một nền
tư pháp công bằng mà cốt lõi là tố tụng công bằng. Tư tưởng công bằng, bảo vệ
công lý, quyền con người, quyền tiếp cận công lý cũng chính tư tưởng nền móng
cho quan điểm quan trọng trong việc đề cao các thủ tục tố tụng tư pháp, cũng là
một điểm nhấn quan trọng của Nghị quyết 49. Chính từ đây, các thủ tục TTDS,
kinh tế, hình sự đã được hoàn thiện trên những nguyên tắc hiện đại, đặc biệt là
TTHC đã ra đời kể từ năm 2010.
Như
vậy, các giá trị và tư tưởng pháp quyền phổ biến như tư tưởng thượng tôn pháp
luật trong sự ràng buộc của nó đối với Nhà nước, tư tưởng về dân chủ, chủ quyền
của nhân dân, tư tưởng về công bằng, công lý, quyền con người với tính chất là
những giá trị xã hội, nền tảng và đều hướng tới nhu cầu xây dựng và bảo vệ các
giá trị tốt đẹp về tinh thần và đạo đức, hướng xã hội và Nhà nước tới suy nghĩ
và hành động hợp pháp, tôn trọng phẩm giá con người. Trong Hiến chương Liên hợp
quốc và trong nhiều văn kiện quốc tế thì ba nhóm giá trị lớn là Dân chủ, Pháp quyền và Quyền con người
đã được xác định là những giá trị có
mối liên hệ khăng khít với nhau, không thể chia tách và được coi là những giá
trị cốt lõi mang tính toàn cầu. Đồng thời, Liên hợp quốc cũng đã coi đó
là những mục tiêu hành động của mình. Nhắc lại lời trích dẫn của Chủ tịch Hồ
Chí Minh hai nguyên lý cơ bản của Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ (năm 1776) và Bản
Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền (năm 1789) của Pháp trong Tuyên ngôn độc lập
ngày 2/9/1945, nhà sử học Dương Trung Quốc khẳng định: “Việc trích dẫn ấy mang
thông điệp của dân tộc Việt Nam tự tin hội nhập với thế giới cùng những giá trị
phổ quát của nhân loại trên tiến trình tiến hóa về mặt chính trị”. Tư tưởng về dân chủ, sự
ràng buộc của quyền lực nhà nước bởi Hiến pháp và pháp luật để qua đó kiểm soát
quyền lực, sự bảo đảm các nguyên tắc pháp quyền, tôn trọng và bảo đảm quyền con
người “là những định hướng và tiền đề tư tưởng của chủ nghĩa lập hiến mang tính
phổ biến mà tư tưởng Hồ Chí Minh đã tiếp thu, được kiểm nghiệm trong thực tiễn
lịch sử Việt Nam. Nội hàm của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, chủ quyền của
Nhân dân và về Hiến pháp hoàn toàn nằm trong dòng chảy tư tưởng tiến bộ và nhân
đạo của thời đại”.