Thứ Hai, 4 tháng 7, 2022

Quyền lực nhà nước của Nhà nước pháp quyền

 


Sự thống nhất của quyền lực nhà nước thể hiện trước hết ở chỗ, trong một quốc gia không thể có hai thứ quyền lực nhà nước trở lên khác nhau về bản chất, định hướng, mục tiêu và những công cụ, phương tiện thực thi quyền lực. Điều này không loại trừ cả ở những quốc gia được tổ chức dưới hình thức Nhà nước liên bang vì ở đó, quyền lực nhà nước ở các bang đồng kiểu với quyền lực của liên bang, phục tùng Nhà nước liên bang và tạo thành một thực thể quyền lực.

Sự khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân là quan điểm thống nhất và nhất quán được biểu hiện thông qua các Hiến pháp của hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện đại. Có thể xác định những đặc trưng sau đây về tính thống nhất của quyền lực nhà nước. Đó là sự thống nhất về bản chất xã hội. Quyền lực nhà nước là sự thể hiện sự thống nhất ý chí và lợi ích của các giai tầng xã hội và được biểu thị dưới các khái niệm, ý tưởng về “quyền lực của nhân dân”, “quyền lực của nhân dân lao động”, “quyền lực của các lực lượng yêu nước” và thực chất là sự hỗn hợp lợi ích của các giai cấp, tầng lớp khác nhau trong xã hội vì những mục tiêu cơ bản nhất, chủ đạo nhất; Đó là sự thống nhất các mục tiêu và khuynh hướng có tính nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của quyền lực nhà nước, của các cơ quan quyền lực nhà nước, xuất phát từ nhu cầu phối hợp trong thực thi quyền lực; Đó là sự thống nhất về mặt tổ chức và pháp lý. Các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước đều được tổ chức trên một nền tảng pháp lý thống nhất: một Hiến pháp, một hệ thống pháp luật, được đặt trong một quỹ đạo chung là lợi ích quốc gia và dân tộc.

Sự thống nhất của quyền lực nhà nước được bảo đảm bằng một Hiến pháp và một hệ thống pháp luật: tất cả các cơ quan, từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp đều được tổ chức và thực hiện các hoạt động trên một cơ sở pháp lý chung của quốc gia. Thống nhất quyền lực với tính cách là sự thống nhất các mục tiêu và định hướng có tinh nguyên tắc trong hoạt động của các cơ quan nhà nước có thể có giá trị cao nhằm mục đích tập trung cao độ các nỗ lực của bộ máy nhà nước trong việc giải quyết các vấn đề phức tạp của một đất nước. Kinh nghiệm khắc phục khủng hoảng kinh tế của các chính phủ vừa qua, cũng như trong các cuộc khủng hoảng chu kỳ trước đây, là bằng chứng về điều đó. Bên cạnh đó, sự thống nhất quyền lực ở nghĩa tập trung toàn bộ quyền lực vào một cơ quan lại không phải là một thực tiễn tốt, vì đó là mầm mống của một thứ quyền lực thiếu kiểm soát.

Đó là lý do cho việc ra đời học thuyết về phần quyền trong cơ chế quyền lực nhà nước. Mục đích cơ bản nhất của việc phân quyền là để phòng ngừa sự lạm quyền, bởi một nhóm hay những cá nhân và duy trì tính toàn vẹn của quyền lực.

Như vậy, cả lý thuyết và cả trong thực tiễn, sự thống nhất của quyền lực về mặt bản chất, về mặt xã hội và tổ chức-pháp lý không loại trừ mà ngược lại, đòi hỏi có sự phân quyền. Trong trường hợp này, cơ chế phân quyền được hiểu như là khía cạnh tổ chức - pháp lý của quyền lực nhà nước mà không mang tính bản chất. Tính thống nhất và sự phân chia quyền lực là hai phương diện của cùng một vấn đề. Chính vì vậy, ngay trong Hiến pháp Hoa Kỳ, một quốc gia được coi là đạt tới sự phân quyền đầy đủ nhất, cũng đã ghi nhận và khẳng định cả hai phương diện đó. Hiến pháp năm 1946 đã phác hoạ một cơ chế độc đáo trong mối quan hệ giữa các nhánh quyền lực, bảo đảm tính độc lập và sự chủ động của mỗi thiết chế quyền lực. Có thể thấy điều đó qua việc Hiến pháp đã xác định Thủ tướng – người đứng đầu Nội các “phải chịu trách nhiệm về con đường chính trị của Nội các”, đồng thời Nghị viện có quyền biểu quyết về tín nhiệm Nội các, nhưng Nghị viện chỉ có thể làm điều đó khi Thủ tướng hoặc ¼ tổng số nghị viên nêu vấn đề ấy. Trường hợp Nghị viện biểu quyết không tín nhiệm Nội các, Chủ tịch nước có quyền đưa vấn đề ra Nghị viện thảo luận lại và chỉ sau hai lần thảo luận ấy nếu Nghị viện vẫn giữ nguyên quyết định thì Nội các mất tín nhiệm phải từ chức. Việc bắt và truy tố nhân viên Nội các về tội thường phải có sự ưng chuẩn của Hội đồng Chính phủ. Tính độc lập và chủ động của Chính phủ theo Hiến pháp năm 1946 cũng thể hiện ở quyền của Chính phủ đề nghị các dự án luật ra trước Nghị viện cũng như quyền tổ chức thi hành các đạo luật mà không phải là chính phủ chỉ là “cơ quan chấp hành của Quốc hội như quy định ở các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và kể cả Hiến pháp năm 2013 hiện nay.

Nhà nước pháp quyền, pháp luật dễ tiếp cận và được thực hiện kịp thời

 


Tiếp cận pháp luật là một trong những nguyên tắc khó đáp ứng nhất trên con đường xây dựng một Nhà nước pháp quyền. Tiếp cận pháp luật đòi hỏi rằng pháp luật được ban hành phải “có thể hiểu được”. Rõ ràng là, một số luật đã không đáp ứng yêu cầu này, song đây là một tiêu chuẩn mà các cơ quan lập pháp và hành pháp có thể làm được. Điều quan trọng là tiếp cận pháp luật cũng có nghĩa là cơ hội thực sự để tham gia vào quá trình làm luật của mọi người cho dù đó là quyền kinh tế hay quyền nhân thân.

Khó khăn gặp phải trong việc tiếp cận pháp luật chính là ở chỗ nguyên tắc này đòi hỏi phải bảo đảm để các cá nhân có được những nguồn lực tài chính để có thể qua được những thủ tục pháp lý phức tạp.

Cần có những nguồn lực để đảm bảo việc tiếp cận pháp luật; bởi vì, việc tiếp cận hệ thống pháp luật thường đòi hỏi thời gian và được đào tạo về pháp luật ở trình độ nhất định cũng như hiểu biết sâu sắc về pháp luật. Không phải ai cũng có được những khả năng này và cũng như có khả năng về tài chính để thuê một luật sư hay người đại diện trước pháp luật để thực hiện chức năng này. Do đó, trách nhiệm thuộc về chính quyền và các tổ chức như luật sư, tư vấn pháp luật trong việc cung cấp những kiến thức chuyên môn, thời gian và trí tuệ để giúp cho mọi người dân có quyền kỳ vọng vào khả năng tiếp cận công lý, cụ thể là các văn bản pháp luật và những hoạt động pháp lý cụ thể.


 

Nhà nước pháp quyền bảo đảm tính minh bạch của pháp luật và của việc thực hiện pháp luật

 

Pháp luật phải dễ hiểu và được công bố rộng rãi để mọi người được cảnh báo trước về những hành động có thể phải chịu chế tài của Nhà nước, hoặc có thể thực hiện các quyền của mình theo các cách thức thích hợp và để cho người khác có thể tôn trọng các quyền của họ sau khi tìm hiểu những quy định có liên quan. Yêu cầu về tính minh bạch đòi hỏi trong mọi hoạt động của mình Nhà nước phải tuân thủ pháp luật mà trước đó đã được thông qua và công bố. Những quy định pháp luật phải cho phép dự báo về cách thức mà Nhà nước sẽ sử dụng để thực thi quyền cưỡng chế của mình trong những hoàn cảnh nhất định. Vì vậy, Ngân hàng Thế giới đã định nghĩa Nhà nước pháp quyền là “một tập hợp những quy định mà mọi người đều có thể lường trước được”.

Những ưu điểm của yêu cầu về minh bạch bao gồm: tính có thể tiên liệu trước, độ tin cậy và cảm giác chung rằng việc áp dụng pháp luật đối với hành vi của một người sẽ không bị coi là độc đoán hay thất thường. Nếu anh biết, hiểu và tuân thủ pháp luật thì anh sẽ không có lý do gì để lo ngại rằng, Nhà nước hoặc những người khác sẽ tìm cách can thiệp hay hạn chế hành vi của anh. Nếu anh biết nhưng cố ý không tuân thủ pháp luật thì vẫn được cảnh báo trước rằng nếu bị phát hiện, anh sẽ chịu những hậu quả nhất định.

Quy trình làm luật cũng phải được công bố công khai. Nếu luật pháp được công bố chỉ để các quan chức nhà nước tuân thủ thì rất có thể sẽ đi đến chỗ coi nhẹ tính hợp lý của và sự cần thiết ban hành văn bản. Ngay cả khi đã rõ về sự cần thiết ban hành một đạo luật, nếu không công khai hoá và dân chủ hóa quy trình ban hành luật và không tạo điều kiện để những người có thể bị ảnh hưởng bởi việc áp dụng luật tham gia ý kiến về dự luật thì sự ủng hộ của dân chúng dành cho văn bản luật đó cũng sẽ bị giảm sút. Mặc dù, việc cưỡng chế là đủ để buộc người khác phải tuân thủ với những đạo luật mang tính mệnh lệnh đó, nhưng sự đồng thuận từ phía những người dân đã không thể đạt được theo cách này. Nói cách khác, đó chỉ đơn thuần là sự phục tùng chứ không phải là sự đồng thuận.

Nhà nước pháp quyền thượng tôn Hiến pháp

 


Sự hiện diện của Hiến pháp được coi là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của nền dân chủ và Nhà nước pháp quyền, bởi vì Hiến pháp được coi là “sự đồng thuận của tất cả các thành viên xã hội thể hiện ý chí của nhân dân, là cơ sở bảo đảm tính hợp pháp và sự chính đáng của Nhà nước.” Các học thuyết của các nhà tư tưởng vĩ đại trong lịch sử từ J.Locke đến J.J.Rousseau, C.Montesquieu đều đã khẳng định rằng, Nhà nước là hiện thân và là sản phẩm của sự đồng thuận của nhân dân. Do đó, những hoạt động do Nhà nước tiến hành nếu không có sự ưng thuận của nhân dân sẽ bị coi là không hợp pháp.

Sản phẩm kiệt xuất của chủ nghĩa lập hiến Việt Nam hiện đại chính là Hiến pháp năm 1946. Sự ra đời của bản Hiến pháp đó đã thể hiện quyết tâm cao độ của Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo Việt Nam lúc bấy giờ, đưa những tư tưởng tiến bộ của thời đại vào đời sống hiện thực Việt Nam, dù lúc đó đất nước còn lạc hậu, mang trên mình nó những di sản nặng nề của chủ nghĩa thực dân và đời sống vật chất thấp kém, nhằm ghi nhận ngay những thành quả của nhân quyền và dân quyền vừa mới giành được. Tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 3/9/1945, tức là ngay sau ngày đọc Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói với các thành viên Chính phủ như sau: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế nên nước ta không có Hiến pháp. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ”. Chủ tịch còn nói thêm: “Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu”. Có thể thấy rõ là, bằng việc quan tâm nỗ lực xây dựng và ban hành Hiến pháp, tổ chức Tổng tuyển cử, tư tưởng lập hiến Việt Nam ở thời kỳ này đã kết nối dân chủ, quyền con người và Hiến pháp. Ở đó, dân chủ là gốc, Hiến pháp là tiền đề, việc bảo đảm quyền con người là nền tảng, mang tính xung lực và là mục tiêu của nền dân chủ đó. Sơ đồ nền chính trị đầu tiên và xuất phát điểm của Việt Nam là nền chính trị dựa trên Hiến pháp. Sơ đồ đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát như sau: “Chế độ do Hiến pháp năm 1946 xác nhận đã bảo đảm độc lập dân tộc và một nền dân chủ rộng rãi của nhân dân. Quyền bầu cử và ứng cử, quyền tham gia công việc nhà nước được bảo đảm; quyền tự do dân chủ được thực hiện – đó là một chế độ dân chủ mới”.


 

CỐ TỔNG BÍ THƯ LÊ DUẨN-MỘT HỌC TRÒ XUẤT SẮC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, MỘT NHÀ LÃNH ĐẠO KIỆT XUẤT CỦA ĐẢNG TA!

         Năm 1978 Polpot nổ súng tấn công biên giới phía tây nam ròng rã hơn 1 năm trời - tràn sâu vào nội địa hơn 10 cây số - nhưng những nhà chiến lược gia Việt Nam thời điểm đó vẫn nhại nại kiên trì đánh động với thế giới và thuyết phục bằng ngoại giao và yêu cầu Polpot lập vùng phi quân sự để giải quyết tranh chấp nhưng Polpot phớt lờ.
Bên trong nội địa Campuchia Polpot ra sức tàn sát đồng loại - đẩy người dân Campuchia tràn sang biên giới qua Việt Nam lánh nạn - Người Việt Nam - Chính phủ Việt Nam đành mở cửa đón nhận họ trên tinh thần hàng xóm láng giềng - Khi đó - Không 1 Quốc gia nào dám đứng ra giúp người Campuchia - để khẳng định đúng hơn điều này - Cố vấn hoàng gia Campuchia Chai I Hiêng đã khẳng định trước thế giới : “Trên thế giới này - có ko biết bao nhiêu kẻ mạnh - người giàu - chỉ có duy nhất anh bạn láng giềng nghèo Việt Nam tới cứu dân tộc ta mà thôi“.
Bỏ ngoài tai lời của thế giới - mặc kệ sự bủa vây cấm vận của các thế lực thù địch - Việt Nam - 1 lần nữa bước vào 1 cuộc chiến tranh mới - cuộc chiến cứu mình - cứu bạn và cứu cả Đông Nam Á thoát khỏi viễn cảnh như trung đông ngày hôm nay - Hàng vạn bà mẹ lại tiễn con lên đường - vết thương chiến tranh còn chưa nguôi ngoai - vết thương khác lại đè lên đôi vai đất mẹ Việt Nam.
Lúc Việt Nam mang quân sang đánh Polpot cả thế giới đã nhảy ngược lên tố Việt Nam là tiểu bá - âm mưu chiếm Lào và Campuchia làm bàn đạp thâu tóm - nhuộm đỏ đông nam á - Mỹ - Trung họp khẩn với nhau - đề nghị lên Liên Hiệp Quốc cô lập cấm vận Việt Nam - mà thậm chí các phe cộng sản thời điểm đó đều lên án Việt Nam xâm phạm 1 nước có chủ quyền độc lập.
Trong khi đó 1 mặt khác Mỹ ra sức công nhận chính quyền Polpot là hợp pháp - bơm tiền - súng đạn - cả đông nam á đứng lên chống lại Việt Nam - Singgapo còn đứng ra kêu gọi thế giới viện trợ cho Polpot - Thái Lan cho Polpot mượn đất làm bàn đạp để “giải phóng“ Campuchia khỏi tay “bè lũ Việt Nam“ - Mặt khác Trung Quốc ở cùng phe với Mỹ và lũ chư hầu điều động quân số hàng chục vạn quân tinh nhuệ dồn dập tấn công từ Phong Thổ, Lai Châu tới Móng Cái, Quảng Ninh dài hơn 1.000km với Lý do “Phản kích tự vệ chống Việt Nam“ - thực ra là muốn cứu nguy cho Polpot.
Một lần nữa - thế giới lại đứng nhìn 1 Quốc Gia nhỏ bé nhưng bất khuất kiên cường 1 mình đứng lên chống lại cả thế giới chỉ vì cứu bạn - Mãi cho đến tận 30 năm sau - chúng mới ghi nhận Việt Nam có công giúp Campuchia hồi sinh - và lũ Polpot phạm phải tội ác diệt chủng - chống lại loài người.
Nhắc tới những cuộc vệ Quốc vĩ đại đã qua của dân tộc - ko thể ko nhắc đến Ông - Lê Duẩn - thế kỷ này - thế kỷ sau và hàng trăm năm sau - Cái tên của ông vẫn sẽ đi vào lịch sử như 1 Bismark của Đông Nam Á - Tầm vóc và sự vĩ đại của ông cho đến tận ngày nay thế giới vẫn chưa đánh giá hết - ngay cả bởi chính chúng ta./.
Yêu nước ST.

Nhà nước pháp quyền đề cao các giá trị công bằng, công lý, quyền con người

 


Yếu tố có tính phổ biến của Nhà nước pháp quyền chính là yếu tố coi công bằng, công lý, quyền con người là hạt nhân có tính quyết định của pháp luật và của toàn bộ hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Chúng ta thấy rằng, trong các ngôn ngữ phổ biến trên thế giới (Anh, Pháp, Đức, Nga, Tây Ban Nha v.v…), khái niệm pháp quyền tuy mới được đưa vào sử dụng không lâu (so với nội hàm tư tưởng của nó, như đã nêu ở trên), nhưng từ những nỗ lực tu từ bao gồm Nhà nước là chủ ngữ, pháp luật là tính ngữ, để chỉ Nhà nước phải mang trong mình nó tố chất pháp luật, tức là chịu sự ràng buộc của pháp luật. Điều này đã được phân tích ở trên. Tuy nhiên, ở đây, điểm cần chú ý hơn là yếu tố pháp luật: право trong tiếng Nga, droit trong tiếng Pháp, Recht trong tiếng Đức, derecho trong tiếng Tây Ban Nha đều có ý nghĩa là quyền mà không phải dùng để chỉ văn bản pháp luật và đều có nội hàm công bằng, hợp lý, gắn với quyền của con người. Trong các ngôn ngữ của châu Âu lục địa như tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nga về Nhà nước pháp quyền đều có một tổ hợp của hai thành tố - Nhà nước và pháp luật; trong đó, người ta chọn thuật ngữ pháp luật đồng nghĩa với quyền. Những tác giả đầu tiên của thuật ngữ Nhà nước pháp quyền đều là các nhà luật học người Đức là Carl Thedor Welcker (1790-1869) và Robert Von Moll (1799-1875). Trong tiếng Anh, thuật ngữ Rule of Law có hàm ý đề cao thủ tục chặt chẽ, tính có thể đoán định được của pháp luật và việc Nhà nước phải chịu ràng buộc của pháp luật. Rule of Law hướng tới mục đích bảo vệ hữu hiệu quyền con người, tránh sự tùy tiện. Xét về mặt ngữ nghĩa, khái niệm này không khác nghĩa với khái niệm Nhà nước pháp quyền được sử dụng trong các ngôn ngữ châu Âu lục địa, bởi đều dao động giữa hai giá trị nền tảng là pháp luật chặt chẽ và tính công bằng, công lý. Chính vì vậy, văn kiện pháp lý quốc tế đầu tiên về quyền con người – Tuyên ngôn về quyền con người năm 1948 của Liên hợp quốc đã dùng khái niệm Rule of Law như là lá chắn bảo vệ quyền con người.

Chính là với cách hiểu đó, vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX, khi đi vào Việt Nam các thuật ngữ nêu trên đã có phiên bản chuẩn xác của chúng là “pháp quyền”. Đây cũng là chỉ dấu về sự nhận thức về giá trị cốt lõi của Nhà nước pháp quyền – một chế độ, một cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước của nước ta. Sự ràng buộc của pháp luật đối với Nhà nước chính là sự ràng buộc dựa trên tính công bằng và công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người mà không phải và không thể là sự ràng buộc của bất kỳ thứ pháp luật nào, theo cách nghĩ: luật là luật! Ý nghĩa của các giá trị pháp quyền về công bằng, công lý và quyền con người được khẳng định nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trong quan điểm và đường lối của Đảng và Nhà nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nêu rõ: “không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng”, “vấn đề của tư pháp là vấn đề ở đời và làm người”. Nếu như tự do, bình đẳng và công lý luôn luôn được các tư tưởng gia của mọi thời đại đặt vào vị trí đầu tiên của các giá trị đạo đức thì Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam năm 1945 nhất thiết phải được coi là một văn kiện thấm đẫm các giá trị đạo đức và văn minh của thời đại.

Đi sâu vào tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền VN XHCN, tư tưởng pháp quyền phổ biến về công bằng và công lý đã thực sự có chỗ đứng trong quan điểm đổi mới và hoàn thiện pháp luật, cải cách tư pháp. Với Nghị quyết số 49 năm 2005 Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, các giá trị pháp quyền phổ biến đã trở thành các tư tưởng chỉ đạo không chỉ đối với công cuộc cải cách tư pháp và pháp luật mà cho toàn bộ quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền ở nước ta. Nghị quyết số 49 đã 5 lần đề cập tới hai khái niệm công lý, quyền con người: “Các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người”; “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý”; “Hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người”; “Đổi mới thủ tục hành chính trong các cơ quan tư pháp nhằm tạo điều kiện cho người dân tiếp cận công lý”; “Bồi dưỡng cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp theo hướng cập nhật các kiến thức mới về chính trị, pháp luật, kinh tế, xã hội, có kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn, có phẩm chất, đạo đức trong sạch, dũng cảm đấu tranh vì công lý, bảo vệ pháp chế XHCN”.

Tư tưởng gắn công lý với các hoạt động tư pháp và lĩnh vực tư pháp là một tư tưởng đúng đắn và vượt trội của Nghị quyết số 49 về chiến lược cải cách tư pháp. Tư tưởng đó về sau đã được hiến định và cũng là lần hiến định đầu tiên ở nước ta bởi Hiến pháp năm 2013 khi Hiến pháp xác định nhiệm vụ “bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân” là của Tòa án nhân dân (Điều 102). Việc hiến định giá trị công lý và quyền con người đã tạo nên một định hướng quan trọng trong chính sách pháp luật và trong toàn bộ hệ thống pháp lý nước ta: đó là định hướng tạo những điều kiện tối đa cho quyền tiếp cận công lý của người dân, trong việc bảo vệ các quyền con người. Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (TAND) năm 2014, Bộ luật Tố tụng dân sự (TTDS) năm 2015, Bộ luật TTHS năm 2015, Luật Tố tụng hành chính (TTHC) năm 2015 cũng đã có những quy định tương ứng và phù hợp.

Ý nghĩa của tư tưởng về công bằng, công lý, quyền con người đã tạo cảm hứng cho nhận thức mới về pháp luật. Từ nay, pháp luật cần được hiểu theo nghĩa rộng và cách hiểu rộng ấy sẽ làm cho pháp luật có được nội dung phù hợp, sinh động, gắn với thực tiễn đang thay đổi nhanh chóng, không bị xơ cứng, thiếu khả năng điều chỉnh. Các đạo luật từ đó sẽ bớt đi tính tư biện, tính lý thuyết bởi pháp luật cần được hình thành từ các hoàn cảnh khác nhau của đời sống xã hội và có đầy đủ khả năng điều chỉnh đầy đủ và kịp thời hơn các quan hệ xã hội phát sinh, bảo đảm và bảo vệ một cách kịp thời, đầy đủ và công bằng các quyền con người, quyền công dân. Xuất phát từ quan điểm đó, chính Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị là văn kiện chính trị lần đầu tiên đặt ra nhiệm vụ của Tòa án tối cao “tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ”. Từ định hướng này, lần đầu tiên ở nước ta, Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 đã xác định, Tòa án áp dụng tập quán, án lệ, lẽ công bằng trong giải quyết các vụ việc dân sự và cũng lần đầu tiên trong lịch sử pháp lý Việt Nam. BLDS năm 2015 (Khoản 2 Điều 14) và Bộ Luật TTDS năm 2015 (Khoản 2 Điều 4) đã đưa ra quy định “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng”. Có thể khẳng định rằng, sự thừa nhận và chủ trương phát triển, áp dụng những nguồn pháp luật mới này là điểm sáng của tư tưởng pháp lý Việt Nam hiện đại, kết quả của tư duy đổi mới vì con người mà điểm xuất phát là Nghị quyết số 49 về Chiến lược cải cách tư pháp.

Mục tiêu bảo vệ công lý của hoạt động tư pháp chỉ có thể đạt được thông qua một nền tư pháp công bằng mà cốt lõi là tố tụng công bằng. Tư tưởng công bằng, bảo vệ công lý, quyền con người, quyền tiếp cận công lý cũng chính tư tưởng nền móng cho quan điểm quan trọng trong việc đề cao các thủ tục tố tụng tư pháp, cũng là một điểm nhấn quan trọng của Nghị quyết 49. Chính từ đây, các thủ tục TTDS, kinh tế, hình sự đã được hoàn thiện trên những nguyên tắc hiện đại, đặc biệt là TTHC đã ra đời kể từ năm 2010.

Như vậy, các giá trị và tư tưởng pháp quyền phổ biến như tư tưởng thượng tôn pháp luật trong sự ràng buộc của nó đối với Nhà nước, tư tưởng về dân chủ, chủ quyền của nhân dân, tư tưởng về công bằng, công lý, quyền con người với tính chất là những giá trị xã hội, nền tảng và đều hướng tới nhu cầu xây dựng và bảo vệ các giá trị tốt đẹp về tinh thần và đạo đức, hướng xã hội và Nhà nước tới suy nghĩ và hành động hợp pháp, tôn trọng phẩm giá con người. Trong Hiến chương Liên hợp quốc và trong nhiều văn kiện quốc tế thì ba nhóm giá trị lớn là Dân chủ, Pháp quyền và Quyền con người đã được xác định là những giá trị có mối liên hệ khăng khít với nhau, không thể chia tách và được coi là những giá trị cốt lõi mang tính toàn cầu. Đồng thời, Liên hợp quốc cũng đã coi đó là những mục tiêu hành động của mình. Nhắc lại lời trích dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh hai nguyên lý cơ bản của Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ (năm 1776) và Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền (năm 1789) của Pháp trong Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945, nhà sử học Dương Trung Quốc khẳng định: “Việc trích dẫn ấy mang thông điệp của dân tộc Việt Nam tự tin hội nhập với thế giới cùng những giá trị phổ quát của nhân loại trên tiến trình tiến hóa về mặt chính trị”[1]. Tư tưởng về dân chủ, sự ràng buộc của quyền lực nhà nước bởi Hiến pháp và pháp luật để qua đó kiểm soát quyền lực, sự bảo đảm các nguyên tắc pháp quyền, tôn trọng và bảo đảm quyền con người “là những định hướng và tiền đề tư tưởng của chủ nghĩa lập hiến mang tính phổ biến mà tư tưởng Hồ Chí Minh đã tiếp thu, được kiểm nghiệm trong thực tiễn lịch sử Việt Nam. Nội hàm của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, chủ quyền của Nhân dân và về Hiến pháp hoàn toàn nằm trong dòng chảy tư tưởng tiến bộ và nhân đạo của thời đại”.



[1] Dương Trung Quốc, Hiến pháp năm 1946 – 70 năm nhìn lại; trong cuốn: Hiến pháp năm 1946 – những giá trị lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2017, tr. 18.

Nhà nước pháp quyền, coi chủ quyền nhân dân là nguồn gốc tính chính đáng, tính hợp pháp của Nhà nước

 


Trái với quan niệm phong kiến coi nguồn gốc của quyền lực nhà nước là chúa Trời hoặc thần thánh hóa quyền cai trị của các thiên tử “thay Trời hành đạo”, các nhà tư tưởng của cách mạng tư sản, dựa trên thực tế các sự kiện cách mạng chống phong kiến diễn ra trong lúc đương thời, các cuộc nổi dậy của nhân dân dẫn đến sự ra đời của các chính phủ, đã đi đến quan điểm cho rằng, Nhà nước và quyền lực của nó có được là dựa trên sự ưng thuận và sự đồng thuận của nhân dân. Người đầu tiên đưa ra ý kiến này là John Locke – nhà tư tưởng người Anh (1632-1704). Trong trước tác nổi tiếng “Khảo luận thứ hai về Chính phủ” (Second Tract of Government) ông đã khẳng định: “Nhà nước được hình thành dựa trên sự đồng thuận của người dân. Những hoạt động do Nhà nước tiến hành nhưng không có sự đồng ý của dân chúng sẽ bị coi là bất hợp pháp, là hành vi không có thẩm quyền”[5]. Tư tưởng khởi đầu này về sau đã được phát triển bởi các tư tưởng gia nổi tiếng là J.J. Rouseau và Ch. Montesquieu. Montesquieu đã gắn Hiến pháp vào tư tưởng chủ quyền; theo đó, Hiến pháp là sự thể hiện ý chí gốc rễ của nhân dân – những người chịu sự quản lý của Nhà nước.

Ở Việt Nam, Hiến pháp đầu tiên - Hiến pháp năm 1946 đã khẳng định tư tưởng đó một cách rõ ràng nhất: “Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân” (Lời nói đầu), “Tất cả quyền bính trong nước đều là của toàn thể nhân dân Việt Nam” (Điều thứ 1). Một số học giả cho rằng, bằng việc đó, bản Hiến pháp này đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng chủ quyền nhân dân của J.J. Rouseau[6]. Có thể ghi nhận sự đúng đắn của ý kiến ấy, bởi tư tưởng chủ quyền nhân dân của Rouseau đã từng là ngọn cờ và là cảm hứng của cách mạng Pháp năm 1789 – 1799 và do đó, không thể không được các nhà sáng lập chế độ mới ở Việt Nam tiếp nhận nó như một giá trị phổ quát, khẳng định tính chính danh của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa và chủ quyền thực tế của nhân dân Việt Nam, thể hiện kịp thời khát vọng chân chính của con người, điều mà tư tưởng của J.J. Rouseau đã thể hiện. Tư tưởng về chính quyền thuộc về nhân dân là tư tưởng xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và của tổ chức hoạt động của cả hệ thống chính trị và Nhà nước. Điều đó được thể hiện trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trong Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam và Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam. Tư tưởng đó đã chỉ đạo nội dung chủ trương, đường lối của quá trình hoàn thiện dân chủ XHCN với các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, dân chủ và quyền tự quản của nhân dân ở cơ sở.


 

Nhà nước pháp quyền đặt mình dưới pháp luật, chịu sự ràng buộc của pháp luật

 


Nhà nước pháp quyền đề cao vai trò của pháp luật trong tương quan với quyền lực của Nhà nước. Trong lịch sử loài người từ phương Đông cho đến phương Tây pháp luật đã luôn luôn tồn tại cùng với Nhà nước. Tư tưởng coi trọng pháp luật đã từng tồn tại, thắng thế tại Trung Hoa cổ đại thời Xuân Thu và thời Chiến quốc (Thế kỷ thứ VI – thế kỷ thứ III TCN), trở thành tư tưởng chủ đạo của nhà Tần dưới thời Hoàng đế Tần Thủy Hoàng (259 – 210 TCN). Ở Châu Âu, Luật La mã đã ra đời và phát triển trong một môi trường văn hóa của các Đế chế La Mã (năm 27 TCN – năm 286) và Đế chế Byzantine (395-1453) với những chế định pháp luật và hệ thống tố tụng phát triển. Đến thời cận đại, nước Pháp rồi đến nước Đức đã cho nhân loại những sản phẩm văn hóa pháp luật tuyệt vời thời Hoàng đế Napoleon (1769-1821) với các đạo luật nổi tiếng như các Bộ luật nội dung và tố tụng những năm 1804 – 1811 và Bộ luật Dân sự Đức năm 1896 – những đạo luật có tầm ảnh hưởng to lớn đến toàn bộ sự phát triển về sau này đến nền pháp luật và văn hóa pháp lý của châu Âu và thế giới. Ở Việt Nam, luật thành văn đã ra đời từ rất sớm trong thời kỳ Trung đại như bộ Hình thư năm 1042 thời vua Lý Thái Tông (1000 – 1054), bộ Quốc triều thông chế thời Vua Trần Thái Tông (1225 – 1258), đặc biệt là Quốc triều hình luật, còn được gọi là Bộ luật Hồng Đức được ban hành năm 1483 dưới triều Vua Lê Thánh Tông (1442 – 1497), một Bộ luật thể hiện thành quả lập pháp vĩ đại của nhiều triều vua Hậu Lê trên cơ sở tư tưởng chính trị - đạo đức Nho giáo, tư tưởng chính trị - pháp lý - đạo đức nhân nghĩa của dân tộc Việt, văn hóa truyền thống dân tộc với nhiều nội dung tiến bộ với kỹ thuật lập pháp khá phát triển[4]. Đến thời kỳ thuộc địa Pháp, trong những năm 20-30 của thế kỷ XX ở Việt Nam cũng đã có các đạo luật như bộ Dân luật giản yếu Nam kỳ năm 1883, Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ năm 1931, Bộ luật Dân sự Trung kỳ năm 1936 ở những mức độ nhất định đã góp phần thúc đẩy sự phát triển các quan hệ pháp lý với tiệm cận với các giá trị pháp lý phương Tây đương thời.

Mặc dù vậy, Luật La Mã, các đạo luật thời Trung đại – cận đại này ở châu Âu và ở Việt Nam chưa hề đặt ra những hạn chế pháp lý đối với giai cấp cầm quyền – các vương triều phong kiến, mặc dù có thể thấy, ở đó có những đảm bảo cho sự bình đẳng trước pháp luật, có những quy định bảo vệ quyền sở hữu tài sản cá nhân vốn đã từng được thừa nhận từ thời Luật La Mã! Đặt Nhà nước dưới pháp luật, Nhà nước phải chịu sự giới hạn và ràng buộc bởi pháp luật là yếu tố cốt lõi của một tư tưởng mới – tư tưởng pháp quyền.

Cùng với việc khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân kể từ năm 2001, sau lần sửa đổi Hiến pháp năm 1992, ở Việt Nam đã có bước chuyển rõ ràng về bản chất của nguyên tắc thượng tôn pháp luật. Điều đó có thể thấy rõ nhất trong các quy định của Hiến pháp trước đây về nguyên tắc pháp chế XHCN (Điều 12 Hiến pháp năm 1992) đối với bước chuyển sang nguyên tắc pháp quyền thể hiện ở nội dung Điều 4 Hiến pháp năm 2013 và quy định tại Điều 14 về các quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm. Tính thượng tôn pháp luật và sự ràng buộc của nó đối với Nhà nước, các cơ quan của Nhà nước còn được thể hiện một cách nhất quán thông qua nhiều nguyên tắc mới của pháp luật như nguyên tức suy đoán vô tội; theo đó, người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật (Điều 31 Hiến pháp năm 2013). Giải mã giá trị của yếu tố thủ tục chặt chẽ đối với việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân, càng ngày pháp luật tố tụng của nước ta càng được hoàn thiện. Chẳng hạn, đó là các quy định về yêu cầu bảo đảm trình tự, thủ tục tố tụng trong Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS) năm 2015 (Điều 7 và các điều 86, 245, 267, 280, v.v…). Chẳng hạn, Điều 7 của Bộ luật TTHS năm 2015 yêu cầu: “không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định”. Khẳng định tính phải chịu ràng buộc của pháp luật đối với cơ quan công quyền cũng chính là cơ sở cho việc ban hành và thực hiện trên thực tế Luật Tố tụng hành chính và Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước. Thượng tôn pháp luật, không có vùng cấm, không ai được đứng trên pháp luật là quan điểm chủ đạo của toàn bộ công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay.

Nhà nước pháp quyền

 


Nhà nước pháp quyền

Nhà nước pháp quyền vừa là một tổ hợp các tư tưởng, các lý tưởng và giá trị, vừa là một tổ hợp các yêu cầu và hay còn gọi là các đặc trưng, các nguyên tắc đối với việc tổ chức quyền lực trên cơ sở pháp luật. Các tư tưởng và giá trị phố biến, các đặc trưng phổ biến đó sở dĩ được coi là phổ biến bởi chúng là những giá trị chung được hình thành và phát triển lâu dài trong lịch sử, được kiểm chứng bởi lịch sử các dân tộc và thời đại. Những giá trị và đặc trưng phổ biến này đánh dấu sự phát triển không ngừng của tư duy và nhận thức, lý tưởng vươn tới một cách quản trị xã hội tốt đẹp mà hạt nhân là mô hình xử lý mối liên hệ giữa Nhà nước, pháp luật và con người.

Năm 2004, Tổng thư ký Liên hợp quốc Kofi Annan đã từng nêu rõ những nội hàm chính của Nhà nước pháp quyền: “Nhà nước pháp quyền là quan điểm cốt lõi trong sứ mệnh của Liên hợp quốc. Đó là quan điểm về một cách tổ chức quản trị, theo đó mọi người, mọi định chế, tổ chức - công cũng như tư, trong đó có Nhà nước - phải phục tùng pháp luật. Đến lượt nó, pháp luật cần được công bố công khai, được thực thi một cách bình đẳng đối với mọi người, được áp dụng bởi Toà án độc lập, pháp luật đó phải phù hợp với các chuẩn mực quốc tế và các quy chuẩn quyền con người. Nhà nước pháp quyền cũng đồng thời đòi hỏi bảo đảm thực thi các nguyên tắc ưu tiên về quyền, bình đẳng và trách nhiệm trước pháp luật, các nguyên tắc về phân quyền, về sự tham gia của người dân và sự minh bạch trong hoạch định chính sách và trong các thủ tục pháp lý”[1].

Sự phổ biến của Nhà nước pháp quyền thể hiện rõ nhất trong Hiến pháp ở các quốc gia trên thế giới. Theo thống kê của  Oceana’s Constitutions of the Countries of the World Online, trong số 125 Hiến pháp của các nước thì 95 Hiến pháp sử dụng khái niệm Nhà nước pháp quyền[2].

Trong từng mô hình Nhà nước pháp quyền đều có các yếu tố cơ bản của chế độ Nhà nước pháp quyền và những yếu tố đặc thù. Nhiều nhà nghiên cứu cũng thống nhất cho rằng, khi thiết kế mô hình và bắt tay vào xây dựng chế độ pháp quyền, các quốc gia đều muốn áp dụng các điểm chung được coi là nhất thiết phải có đó sao cho phù hợp với các giá trị ở nước mình, xét đến lịch sử, văn hoá và bối cảnh chính trị cụ thể của từng nước[3]. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, những “biến thể” đó chỉ có thể liên quan đến những yếu tố (hay còn gọi là những đặc trưng) không cơ bản. Như vậy, yếu tố cơ bản của một Nhà nước pháp quyền là yếu tố bất biến và có ý nghĩa phổ biến! Sẽ không có và không thể xác lập và khẳng định được chế độ pháp quyền nếu ở một quốc gia, các yếu tố phổ biến và yếu tố đặc thù loại trừ, vô hiệu lẫn nhau, đối nghịch với nhau với tính cách là những giá trị xã hội.

Như vậy, Nhà nước pháp quyền được hình thành trước hết với tính cách là một triết lý, một lý thuyết về việc xác lập đúng đắn mối quan hệ giữa quyền lực (nhà nước) với con người, với xã hội thông qua sự đánh giá vai trò và tính chất của pháp luật. Khi nói đến tính phổ biến của Nhà nước pháp quyền cần tìm hiểu các tư tưởng, giá trị phổ biến (hoặc phổ quát) và các đặc trưng (hoặc nguyên tắc) phổ biến của Nhà nước pháp quyền.



[1] The Rule of Law and Transitional Justice in Conflict and Post-conflict Societies UN Security Counsil S/2004/ 616, 23 August 2004, par III 6.

[2] http://www.oceanalaw.com/ default.asp.

[3] Jeffrey D.Sachs (editor) and Pistor, Katharina, The Rule of Law and Economic Reform in Russia, The John M.Olin Critical Issues Series, Westview Press, 1987, 25; James V.Feinerman, The Rule of Law with Chinese Socialist Characteristics, Current History (September 1997): 278-281.

33 DU HỌC SINH VIỆT NAM BỊ CẢNH SÁT HÀN QUỐC BẮT VÌ TỔ CHỨC TIỆC BAY LẮC TẠI QUÁN HÁT!

     Mới đây 1 điều vô cùng xấu hổ đã diễn ra tại Hàn Quốc khi truyền thông nước này sử dụng hình ảnh Cờ Đỏ Sao Vàng để đưa tin về vụ việc 33 du học sinh Việt Nam bay lắc trong quán hát.

Hiện chưa biết đất nước sở tại sẽ dành cho 33 bạn trẻ hình phạt ra sao nhưng những gì các bạn đã làm không khác gì 1 nhát 🔪 găm thẳng vào sự tự tôn của 97 triệu người dân Việt Nam đang sinh sống tại quê nhà.

Biết bao xương máu cha anh nằm xuống để đánh đổi lấy màu cờ ngày hôm nay nhưng chỉ vì những hành động thiếu suy nghĩ mà giờ đây nó lại phải vô tình đại diện cho 1 tin tức xã hội đầy tính mỉa mai.

Thiết nghĩ những người Việt Nam ở nước ngoài. Dù là du học sinh hay đi du lịch, dù là ở Hàn Quốc, Tây Ban Nha hay bất kể đâu, trước khi làm 1 điều gì đó, nếu không nghĩ cho mình, hãy nghĩ danh dự quốc gia.

Đừng vì 1 phút bồng bột để rồi Việt Nam bị réo tên trên khắp các mặt báo quốc tế./.
Môi trường ST.

ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM ĐÃ MANG LẠI NHỮNG LỢI ÍCH THIẾT THỰC

 


Từ năm 1986, đất nước ta bước vào công cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện, tạo động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Sau 35 năm thực hiện cơ chế kinh tế mới, nền kinh tế - xã hội nước ta đã phát triển năng động, năng suất lao động tăng trưởng nhanh hơn, lợi ích của các chủ thể được đáp ứng, đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Cụ thể là, Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp. Giai đoạn 2002-2019, GDP đầu người tăng 2,7 lần, đạt trên 2.700 USD năm 2019, với hơn 45 triệu người thoát nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ hơn 70% xuống còn dưới 6%. Số hộ nghèo hiện nay chủ yếu tập trung ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Một bằng chứng sinh động và thuyết phục là, năm 2020 là năm "bóng tối" bao phủ nền kinh tế thế giới, kể cả những nền kinh tế lớn, song nền kinh tế Việt Nam vẫn nổi lên như một điểm sáng đáng tự hào. Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và thiên tai gây hậu quả nặng nề, nền kinh tế nước ta không những không bị suy thoái, mà tổng sản phẩm (GDP) trong nước vẫn tăng 2,91%, đưa Việt Nam vào nhóm nước có tăng trưởng cao nhất thế giới. Sự thành công đáng ghi nhận này, theo nhiều chuyên gia kinh tế là nhờ vào mô hình thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mô hình này thể hiện rõ tính chủ động, khả năng tự chủ, phản ứng chính sách và phản ứng thị trường có hiệu quả. Cùng với sự điều chỉnh chính sách kinh tế, sự thích ứng kịp thời, chúng ta đã rất thành công trong việc kiểm soát sự lây lan của dịch Covid-19. Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quyền lực Nhà nước tập trung, thống nhất đã giúp cho chính quyền Trung ương có đủ sức mạnh và thẩm quyền để ban hành các quyết định quan trọng, vừa đảm bảo phòng chống dịch, vừa phát triển kinh tế trong điều kiện cho phép. Mặt khác, với mục tiêu hết sức nhân văn, đặt sức khỏe và tính mạng của người dân lên trên lợi ích kinh tế, sẵn sàng chấp nhận hy sinh một số lợi ích kinh tế là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Chính phủ Việt Nam. Nguyên tắc này phù hợp với lợi ích, nguyện vọng của đông đảo nhân dân, từ đó tạo được sự tin tưởng, đồng hành, ủng hộ tối đa của các tầng lớp nhân dân đối với các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước.

Như vậy, việc can thiệp, định hướng xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế thị trường những năm qua đã mang lại những lợi ích rất thiết thực, cụ thể, hiệu quả, giúp cho nền kinh tế tránh được những rủi ro và tăng trưởng trong bối cảnh nhiều khó khăn, thách thức. Những con số biết nói, sự tiến bộ trên mọi mặt: kinh tế, xã hội, văn hóa giáo dục, y tế… chính là những minh chứng bác bỏ một cách thuyết phục sự xuyên tạc, phủ nhận vai trò điều tiết của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường. Vai trò quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, hệ thống pháp luật, chính sách, các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đồng bộ, thống nhất đã thể hiện rõ tính ưu việt, tạo môi trường kinh doanh công khai, minh bạch, thuận lợi, tạo động lực phát triển kinh tế. Đó là một hiện thực không thể phủ nhận.

Ghi nhận thành công của Việt Nam trong công cuộc phát triển kinh tế và phòng chống đại dịch covid, hãng thông tấn xã quốc gia của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland (BBC) đã khẳng định: "Việt Nam đã xử lý kiên quyết, chặt chẽ và ngay từ đầu với đại dịch Covid-19, nhờ đó hạn chế thiệt hại ở mức thấp nhất. Như là một thắng lợi kép, Việt Nam đã phát triển kinh tế trở lại trong khi thế giới còn đầy rẫy khó khăn. Kết quả là, Việt Nam vượt qua Singapore và Malaysia để vào tốp 4 nền kinh tế hàng đầu Đông Nam Á, thậm chí Quỹ Tiền tệ quốc tế còn cho rằng Việt Nam đã ở trong tốp 3, vượt qua Philippines về mức độ thịnh vượng, và cả về tổng sản phẩm quốc nội thu nhập tính theo đầu người... Trung tâm Nghiên cứu kinh tế Nhật Bản (JCER) còn dự báo với khả năng hồi phục và bật dậy nhanh chóng sau dịch Covid-19, Việt Nam sẽ trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2023 và là nền kinh tế lớn thứ hai Đông Nam Á sau Indonesia vào năm 2035. Cũng là thời điểm Việt Nam sẽ vượt qua Đài Loan, theo JCER. Đấy không phải là sự so sánh quá lạc quan. Điều mà chúng tôi thấy được là Việt Nam đã không bị hụt hơi do hoàn cảnh và đó là tin tốt đối với một nền kinh tế vốn và vẫn còn đang ở trình độ thấp"[1].

Ngoài ra, vấn đề tạo việc làm cho người lao động, không phân biệt tầng lớp, tôn giáo, dân tộc, trình độ học vấn, giới tính…; xóa đói giảm nghèo; phát triển văn hóa, y tế, giáo dục, thể dục, thể thao đã được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm nhằm phát triển toàn diện con người, tạo động lực cho sự phát triển; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo vệ môi trường, tạo tiền đề để tăng trưởng bền vững. Tất cả những mục tiêu trên thể hiện bản chất định hướng xã hội chủ nghĩa, không đối đầu với kinh tế thị trường mà trái lại, tạo động lực vì sự phát triển bền vững, phát triển vì con người.

Có thể nói, những thành quả sau 35 năm đổi mới, thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã khẳng định đó là một quá trình tất yếu kinh tế, phù hợp với quy luật phát triển của thời đại và đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước. Thành quả đó đã được thế giới ghi nhận.

Những kết quả đạt được thông qua các con số thống kê nói trên, cùng với những nhận định đánh giá khách quan của các tổ chức quốc tế, cơ quan thông tấn quốc tế đã minh chứng cho hiệu quả của việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam và khẳng định "lời khuyên", những luận điệu muốn Việt Nam từ bỏ bản chất định hướng xã hội chủ nghĩa với nền kinh tế thị trường là hoàn toàn không có cơ sở, cả về mặt lý luận và thực tiễn.

Để nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục thành công, hiện nay, Đảng ta vẫn tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo với những định hướng, nhiệm vụ cụ thể như: hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, điều chỉnh, bổ sung hệ thống hành lang pháp lý…; đặc biệt luôn bám sát thực tiễn để đổi mới, sáng tạo. Kiên trì theo đuổi mục tiêu, đặt lợi ích của nhân dân là tối thượng, với mục tiêu xuyên suốt mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã chỉ ra: "Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội, nhưng mục tiêu xã hội lại là mục đích của các hoạt động kinh tế"[2] và "Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển"[3] sẽ là những nguyên tắc bất di bất dịch đảm bảo thực hiện thành công nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đưa đất nước phát triển, "sánh vai với các cường quốc năm châu" như Bác Hồ hằng mong ước. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa và khát vọng vì một Việt Nam hùng cường của dân tộc Việt Nam, chúng ta tin tưởng rằng Việt Nam sẽ thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đề ra, đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển thu nhập cao vào năm 2045.



[2] Đảng Cộng sản Việt Nam:Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, H à Nội, 1987, tr. 86.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam:Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 113.

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM LÀ NHẰM PHỤC VỤ MỤC TIÊU DÂN GIÀU, NƯỚC MẠNH, DÂN CHỦ, CÔNG BẰNG, VĂN MINH

 


Kinh tế thị trường là sản phẩm của nhân loại, được hình thành, phát triển gắn liền với quá trình xã hội hóa sản xuất. Với những đặc trưng riêng, kinh tế thị trường có những ưu thế hơn hẳn so với kinh tế tự nhiên và cơ chế quản lí hành chính, bao cấp. Cơ chế thị trường rất năng động, đáp ứng nhanh nhất, tốt nhất các nhu cầu của sản xuất và đời sống, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao chất lượng sống của con người. Kinh tế thị trường sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả; duy trì động lực mạnh mẽ cải tiến kĩ thuật, phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm. Đây là ưu điểm nổi bật của kinh tế thị trường. Mặt khác, do tính cạnh tranh cao nên kinh tế thị trường đã loại bỏ được nhanh chóng những nhân tố lạc hậu, không hiệu quả, khuyến khích các nhân tố tích cực, mở rộng quy mô hoạt động, sản xuất kinh doanh, thúc đẩy kinh tế phát triển.  Như vậy, kinh tế thị trường là một thành quả - sản phẩm của nhân loại góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của nhân loại. Bởi vậy, bất kỳ nước nào, nhất là một nước đi sau, đang trong quá trình phát triển như Việt Nam, thì việc tận dụng những thành tựu của nhân loại để đẩy nhanh quá trình phát triển đất nước là một tất yếu.

Tuy nhiên, là một thực thể, kinh tế thị trường cũng có những khuyết tật, mặt trái, có tính tiêu cực.. , làm nảy sinh các vấn đề xã hội như: phân hóa giàu nghèo, tệ nạn xã hội, tình trạng cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường; nảy sinh những vấn đề mang tính toàn cầu: khủng hoảng tài chính, tiền tệ, khủng hoảng lương thực, khủng bố quốc tế,… gây ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam. Những khuyết tật này là điều không mong muốn trong quá trình phát triển của các quốc gia; đặc biệt với Việt Nam, nó đối lập hoàn toàn với mục tiêu cụ thể của xã hội xã hội chủ nghĩa. Bởi vậy, sự can thiệp, định hướng xã hội chủ nghĩa của Nhà nước vào nền kinh tế nhằm khắc phục những tác động tiêu cực, đảm bảo thực hiện thành công mục tiêu mà Đảng ta đã đề ra là điều không cần bàn cãi.

Những năm gần đây, căn cứ vào những nét tương đồng và khác biệt, tùy thuộc vào điều kiện lịch sử và đặc điểm của mỗi nước, sự vận hành kinh tế thị trường trên thế giới cũng được chia làm nhiều loại: mô hình kinh tế thị trường tự do (điển hình là Anh, Mỹ), mô hình kinh tế thị trường xã hội (Đức, Pháp, Thụy Điển), mô hình kinh tế thị trường nhà nước phát triển ở châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc…). Vận dụng phù hợp với định hướng chính trị của mình, Việt Nam lựa chọn "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa".

Thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nhằm phục vụ mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công  bằng, văn minh. Thực tế đã chứng minh, quá trình phát triển của kinh tế thị trường tự do đã làm cho những khuyết tật của nó ngày càng phức tạp, trầm trọng, trở thành nhân tố cản trở sự phát triển của nền sản xuất, cản trở việc thực hiện mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì thế, việc "can thiệp" của nhà nước đối với nền kinh tế là cần thiết, tất yếu nhằm khắc phục các khuyết tật vốn có của cơ chế thị trường, đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển, định hướng nền kinh tế. Mặt khác, xu hướng toàn cầu hóa, phát triển dựa vào tri thức, sự xuất hiện của doanh nghiệp qui mô lớn, sự hình thành khu vực kinh tế nhà nước và sự "can thiệp" của nhà nước vào nền kinh tế với vai trò điều tiết, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển đồng bộ, ổn định, các thành phần kinh tế cạnh tranh lành mạnh, phát triển trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, trở thành đặc trưng chủ yếu của kinh tế thị trường hiện đại. Như vậy, việc "can thiệp" của nhà nước nhằm đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa đối với kinh tế thị trường là một tất yếu.

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA VIỆT NAM

 


Với mục tiêu chống phá cách mạng Việt Nam, chống phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta, các thế lực thù địch đã và đang tiếp tục xuyên tạc, hướng đến bác bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Họ cho rằng: kinh tế thị trường mang tính tự phát do đó sẽ phát triển không ổn định. Tính chất tư nhân của sản xuất do các chủ thể hoạt động cạnh tranh quyết liệt, không lành mạnh, nên thường xuyên tạo ra sự mất cân đối, bất hợp lý ở tầm vĩ mô, làm giảm hiệu quả trên quy mô nền kinh tế quốc dân. Họ cho rằng, phát triển kinh tế thị trường thì không thể xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cụ thể là ở Việt Nam, chủ trương gắn kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa là không có cơ sở khoa học, bởi chúng đối lập nhau như nước với lửa, không thể dung hòa, không thể "ghép đôi". Thậm chí, theo họ, sự kết hợp một cách "khiên cưỡng" đó đã dẫn đến tình trạng tụt hậu xa về kinh tế và càng làm càng thất bại. Cùng với đường lối sai lầm đó, họ thổi phồng rằng, những hiện tượng tham nhũng, tiêu cực, thất thoát tài sản, kiểu làm ăn kém hiệu quả sẽ đưa nước ta tới tình trạng "khủng hoảng toàn diện".

Trước và sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, trên một số diễn đàn, tiếp tục xuất hiện những luận điệu phủ nhận sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; hoặc cho rằng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một "khái niệm mơ hồ", thực hiện nó thì nền kinh tế không phát triển… và "kiến nghị không nên để cụm từ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong văn kiện Đại hội XIII". Sự thật là, họ đã cố tình xuyên tạc, làm ngơ với những nỗ lực, những kết quả mà nền kinh tế thị trường dưới sự định hướng, can thiệp của Nhà nước xã hội chủ nghĩa đã mang lại. Chúng ta hoàn toàn có thể bác bỏ những luận điệu sai trái này bằng những luận cứ khoa học, trên cả phương diện lý luận và thực tiễn.

NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

 


Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới, quán triệt quan điểm chỉ đạo xuyên suốt: kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội… Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục đề ra những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể để phấn đấu đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sẽ đưa nước ta trở thành nước phát triển với thu nhập cao. Nhằm hiện thực hóa mục tiêu đó, Báo cáo chính trị và báo cáo chuyên đề đã cụ thể hóa 12 định hướng chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ 2021 - 2030. Trong đó, một trong những định hướng nổi bật hàng đầu là: "Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững đất nước; hoàn thiện toàn diện đồng bộ thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa…"[1].

Trải qua nhiều nhiệm kỳ Đại hội, nội dung, mô hình "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" của Đảng ngày càng được định hình rõ nét. Tại Đại hội IX, Đảng ta lần đầu tiên nêu khái niệm "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa". Đến Đại hội X và XI, tiếp tục được điều chỉnh, làm rõ hơn nội hàm "được sự dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội". Đại hội XII bổ sung, điều chỉnh thêm cho phù hợp yêu cầu của thực tiễn: "Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"[2]. Sự thay đổi ở đây là nhấn mạnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải được "vận hành đầy đủ, đồng bộ" theo các quy luật của kinh tế thị trường, hạn chế, đi đến xóa bỏ sự can thiệp hành chính, mang tính chất chủ quan của các cơ quan quản lý nhà nước, tôn trọng và thực hiện đầy đủ các quy luật kinh tế; coi kinh tế thị trường là cơ chế vận hành của toàn bộ nền kinh tế, quyết định việc phân bổ mọi nguồn lực đầu vào, đầu ra của quá trình sản xuất, kinh doanh. Mặt khác, để đáp ứng và phù hợp với thực tiễn, Đại hội xác định "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" nhưng phải "đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước".

Đến Đại hội XIII, mô hình kinh tế thị trường thể hiện rõ sự kế thừa, bổ sung, phát triển của Đảng. Lần này, mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định: "Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước"[3]. Đảng ta bổ sung đặc điểm "nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế" là phù hợp với thực tiễn quá trình hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng và yêu cầu hiện đại hóa nền kinh tế hiện nay.

Như vậy, nội hàm, bản chất nền kinh tế thị trường của nước ta đã được làm sáng tỏ, có điều chỉnh phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước nhằm hướng tới mục tiêu chung - cao nhất là xây dựng nước Việt Nam: "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", mang lại hạnh phúc, ấm no cho toàn thể nhân dân. Mục tiêu này là phản ánh nguyện vọng của nhân dân và phù hợp với xu thế thời đại.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tập 1, tr. 37.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr. 102.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2021, tập 1, tr. 128

 




VANG MÃI LỜI HỊCH CỦA HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG

Huống chi, ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc,

lớn lên gặp buổi gian nan.

 Lén nhìn sứ ngụy đi lại nghênh ngang ngoài đường,

uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình;

 đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ.

Ỷ mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để phụng sự lòng tham khôn cùng;

khoác hiệu Vân Nam Vương mà hạch bạc vàng, để vét kiệt của kho có hạn.

Thật khác nào đem thịt ném cho hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau.

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối,

ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa;

chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù;

dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ,

nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm.

ĐẤU TRANH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG LÝ LUẬN LÀ NHIỆM VỤ QUAN TRỌNG, CẤP BÁCH HIỆN NAY

 

Từ khi thành lập Đảng đến nay, Đảng ta luôn giương cao ngọn cờ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng luôn kiên định và không ngừng phát triển nền tảng lý luận của Đảng, luôn coi lý luận có vị trí cốt lõi, quan trọng đặc biệt trong việc xây dựng và phát triển của cách mạng và của đất nước. Cùng với việc xây dựng và tổ chức thực hiện đường lối chính trị, Đảng ta luôn coi trọng nhiệm vụ đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng lý luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; trên cơ sở kiên định lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh kiên quyết đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch; Đảng ngày càng chú trọng tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo một cách toàn diện để thực hiện thành công nhiệm vụ quan trọng này, coi đó là một bộ phận then chốt trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng.

Hiện nay, lợi dụng những khó khăn, những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, trước sự chống phá ngày càng tình vi, thâm độc của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng lý luận, chúng ta đã tích cực, chủ động triển khai các hoạt động đấu tranh và đã thu được những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những hạn chế bất cập trong nhận thức, trong lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện… Vì vậy, việc tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng lý luận đang trở thành nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, vừa trước mắt, vừa cơ bản lâu dài trong cộng tác lý luận ở nước ta hiện nay.

Triển khai thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới

 

Với mục tiêu bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố và tăng cường niềm tin khoa học vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận xã hội và niềm tin của Nhân dân với Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động trong tình hình mới; góp phần xây dựng Đảng trong sạnh, vững mạnh,…”, quan điểm và tầm quan trọng trong triển khai nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

NHẬN DIỆN VÀ NÂNG CAO CẢNH GIÁC ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG NGUY CƠ “PHI CHÍNH TRỊ HÓA” QUÂN ĐỘI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

Những năm cuối thể kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nhà cầm quyền và các học giả ở các nước tư bản phương Tây với chế độ đa nguyên, đa đảng chính trị đã đưa ra luận điệu “phi chính trị hóa” quân đội, cảnh sát nhằm hạn chế lực lượng này can thiệp vào các cuộc tranh giành quyền lực chính trị. Họ yêu cầu giới chức trách quân sự phải giữ trung lập với lý do nếu chính trị vượt qua năng lực, phạm vi quân đội và sự can dự của sỹ quan quân đội vào chính trị sẽ phá hoại tính chuyên nghiệp của họ… Đó là những luận điệu giả hiệu, dối trá chống lại quan điểm của học thuyết Mác - Lênin về bản chất giai cấp của lực lượng vũ trang.

Luận điệu xuyên tạc công tác phòng, chống tham nhũng

 

Đấu tranh phòng chống tham nhũng là quy luật tất yếu để giữ vững, đảm bảo sự tồn vong của chế độ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, thời gian vừa qua, việc Đảng Cộng sản Việt Nam đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực đã bị các thế lực thù địch đã xuyên tạc bằng những luận điệu như: “Tham nhũng là sản phẩm của chế độ độc Đảng ở Việt Nam”, là cuộc “thanh trừng nội bộ”, “ẩu đả phe cánh”; nguyên nhân của tham nhũng là do Đảng ta là chế độ một Đảng duy nhất cầm quyền.

TÂY SƠN TRỞ THÀNH “NGỤY TRIỀU” TRONG SÁCH LỊCH SỬ PHỔ THÔNG

Sách giáo khoa lịch sử lớp 7 viết: “Tây Sơn lật đổ chính quyền họ Nguyễn”! Đây là điều không chính xác, gây ngộ nhận và hiểu sai nguy hiểm về lịch sử dân tộc giai đoạn này.