Thứ Hai, 4 tháng 7, 2022

27/7 VÀ NHỮNG CON SỐ BIẾT NÓI...!


- Có 1.146.250 Liệt sỹ trên cả nước.
+ 191.605 Liệt sỹ hi sinh trong kháng chiến chống Pháp
+ 849.018 Liệt sỹ hi sinh trong kháng chiến chống Mỹ
+ 105.627 Liệt sỹ hi sinh trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (chiến tranh biên giới Tây Nam, chiến tranh biên giới phía Bắc, cuộc chiến bảo vệ chủ quyền biển đảo…)
- Hơn 200.000 hài cốt Liệt sỹ chưa được tìm thấy, thi thể các anh còn nằm lại trên các chiến trường Việt Nam, Lào, Cam pu chia, Biển Đông…
- Hơn 300.000 hài cốt Liệt sỹ đã được quy tập về các nghĩa trang nhưng chưa xác định được danh tính tên tuổi, quê quán, đơn vị…
- Tỉnh có nhiều Liệt sỹ hi sinh nhất: Tỉnh Quảng Nam có 65.000 Liệt sỹ hi sinh trong các cuộc chiến tranh. (ngoài ra tỉnh Quảng Nam còn có hơn 30.000 thương binh) (tính đến năm 2012).
- Huyện có nhiều liệt sỹ nhất cả nước là huyện Điện Bàn (tỉnh Quảng Nam) với hơn 19.800 Liệt sỹ. (tính đến năm 2012).
- Ngoài ra, trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, có khoảng hơn 4 triệu dân thường Việt Nam ở hai miền (miền Bắc và miền Nam) đã chết và bị thương tật suốt đời do bom đạn, do kẻ thù giết hại…
Có 9.637 công trình tri ân, ghi công Liệt sỹ như tượng đài, nhà bia, nghĩa trang Liệt sỹ trên địa bàn cả nước. (tính đến năm 2012)
+ Hơn 3.000 nghĩa trang Liệt sỹ trên địa bàn cả nước (hầu hết các tỉnh, thành phố, huyện, quận, xã, phường, thị trấn trên đất nước Việt Nam đều có nghĩa trang Liệt sỹ…)
- Có 9.000.000 người có công trên cả nước
- Trên 127.000 Bà Mẹ Việt Nam anh hùng có chồng, con hi sinh trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Một số Bà mẹ Việt Nam anh hùng tiêu biểu:
+ Mẹ Nguyễn Thị Thứ ở Quảng Nam có chồng, chín con đẻ, một con rể, 2 cháu ngoại là liệt sỹ;
+ Mẹ Trần Thị Mít ở Quảng Trị có chồng, sáu con đẻ, một con dâu và một cháu nội là liệt sỹ;
+ Mẹ Lê Thị Tự ở Quảng Nam có chín con là Liệt sỹ;
+ Mẹ Phạm Thị Ngư ở Bình Thuận, mẹ Nguyễn Thị Rành ở huyện Củ Chi (Sài Gòn) đều có tám con là Liệt sỹ, bản thân 2 mẹ cũng là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
- Tỉnh Quảng Nam là tỉnh có nhiều Bà mẹ Việt Nam anh hùng nhất với 11.658 mẹ (số liệu tính đến 2001).
- Gần 13.000 Anh hùng LLVTND và Anh hùng Lao động.
- Gần 800.000 Thương binh và người được hưởng chính sách như Thương binh.
- Hơn 300.000 người hoạt động kháng chiến và con đẻ bị nhiễm chất độc da cam.
- Gần 111.000 người hoạt động cách mạng, người tham gia kháng chiến bị địch bắt giam, tù đày, tra tấn trong các nhà tù nổi tiếng như (Nhà tù Hỏa Lò, Sơn La, Lao Bảo, Côn Đảo, Phú Quốc…)
Những con số trên để chúng ta thấy được cái giá của hoà bình là vô cùng quý giá.
Chúng ta đời đời ghi nhớ, tri ân, biết ơn sự hy sinh của các anh hùng liệt sỹ, các mẹ Việt Nam anh hùng, các gia đình có người thân đã cống hiến sương máu, cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng vĩ đại của dân tộc !
Trong đó có nhiều anh hùng vô danh, không ai nhớ mặt đặt tên nhưng họ làm ra đất nước hoá thân mình vào dáng hình xứ sở, tên của họ chính là tên của Tổ Quốc ta hôm nay và mãi mãi về sau./.
Nguồn: Sưu tầm
Có thể là hình ảnh về 1 người và ngoài trời
144
20 bình luận
6 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ

Đấu tranh mạnh mẽ phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng

 

Đấu tranh mạnh mẽ phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng

Ông Nguyễn Văn Quảng, Bí thư Thành ủy, Trưởng Ban Chỉ đạo Thành ủy Đà Nẵng về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cho biết, Bộ Chính trị vừa tổ chức Hội nghị tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012 - 2022. Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện quyết liệt, kiên trì, đồng bộ, toàn diện, bài bản, đi vào chiều sâu, với quyết tâm chính trị rất cao; đạt được nhiều kết quả quan trọng, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của hệ thống chính trị và nhân dân; để lại dấu ấn tốt đẹp, lan tỏa mạnh mẽ trong xã hội và thực sự “đã trở thành một phong trào, xu thế”.

Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Quảng chia sẻ, các vấn đề tham nhũng, tiêu cực đã từng bước được kiềm chế, ngăn chặn, có chiều hướng thuyên giảm, góp phần quan trọng làm trong sạch bộ máy của Đảng, Nhà nước, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân và đặc biệt là nâng cao vai trò, vị thế uy tín của Đảng, Nhà nước trên trường quốc tế, tạo động lực mới, khí thế mới để toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi các Nghị quyết của Đảng.

Tuy nhiên, qua tổng kết đánh giá cũng chỉ ra các mặt hạn chế, đặc biệt là công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở một số địa phương, bộ, ngành chưa chuyển biến rõ nét; vẫn còn tình trạng “trên nóng, dưới lạnh” trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Công tác phòng ngừa ở một số nơi còn mang tính hình thức. Việc phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực vẫn còn hạn chế, nhất là việc tự kiểm tra, tự phát hiện và xử lý. Những tồn tại, hạn chế nêu trên có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân do tổ chức bộ máy các cơ quan chức năng phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chưa thống nhất, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương. Các địa phương chưa thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Vì vậy, Nghị quyết Trung ương 5 khóa XIII, nhiều tỉnh, thành phố đã thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để thực hiện nhiệm vụ thống nhất, toàn diện đảm bảo hiệu quả về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tại các địa phương. Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Quảng cho hay, Đà Nẵng là một trong những địa phương thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực sớm nhất trong cả nước. Đây là minh chứng cho sự quyết tâm của chính quyền thành phố; thể hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện nghiêm túc các Nghị quyết của Trung ương, nhất là trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Tại phiên họp, Ban Chỉ đạo đã tập trung thảo luận và cho ý kiến một số vấn đề trọng tâm như: thông qua quy chế làm việc và quyết định phân công làm việc của các thành viên Ban Chỉ đạo; thông qua chương trình công tác 6 tháng cuối năm 2022; quyết định đưa một số vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo Thường vụ Thành ủy theo dõi và xử lý…

Phát biểu kết luận, Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Quảng ghi nhận, đánh giá cao các ý kiến đóng góp của các thành viên Ban Chỉ đạo; đề nghị Ban Nội chính và Văn phòng Thành ủy sớm tập hợp hoàn thành các nội dung, ý kiến để trình lãnh đạo sớm ký và ban hành các nội dung tại phiên họp; đồng thời, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo 5 vụ án, vụ việc thuộc Ban Chỉ đạo theo dõi; tiếp tục tham mưu đề xuất các nội dung phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo các lĩnh vực đã được lựa chọn và coi đây là nhiệm vụ trọng tâm…

Ông Nguyễn Văn Quảng đề nghị, các thành viên Ban Chỉ đạo phát huy vai trò, trách nhiệm của thành viên góp phần thực hiện thành công các nhiệm vụ; giúp công tác đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của thành phố Đà Nẵng tiếp tục có những bước phát triển mạnh mẽ, đạt kết quả tốt, góp phần vào công cuộc xây dựng chỉnh đốn Đảng.

 

 NHẬN DIỆN THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG TỰ DO TÔN GIÁO ĐỂ CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG NƯỚC TA

Thời gian qua, các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để công kích, xuyên tạc, chống phá Đảng và Nhà nước. Chúng đưa ra luận điệu “Việt Nam đàn áp tôn giáo”, “vi phạm quyền tự do tôn giáo” của người dân; yêu cầu các tôn giáo phải được hoạt động tự do, không cần đặt dưới sự quản lý của Nhà nước… Chúng vu cáo rằng: “CNXH không chấp nhận tôn giáo, xóa bỏ tôn giáo”; “Pháp luật Việt Nam về tôn giáo, tín ngưỡng chỉ là hình thức, thực chất là cơ sở để đàn áp, bóp nghẹt tôn giáo”; “Chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của nhiều tôn giáo, thậm chí có hành động đàn áp các tín đồ tôn giáo”… Chúng còn lập nhiều tài khoản trên các trang mạng xã hội như: Youtube, Facebook, Blog… để phát tán, đăng tải các bài viết, video, hình ảnh đả kích, nói xấu chế độ, bôi nhọ lãnh tụ, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Chúng “vạch lá tìm sâu”, cố tình xoáy vào những mặt trái của xã hội để quy kết, hạ thấp thanh danh của Đảng, Nhà nước; thậm chí lợi dụng đức tin và sự gắn kết cộng đồng của tôn giáo để lôi kéo, tập hợp lực lượng, truyền đạo trái phép, tổ chức biểu tình, thách thức, chống phá chính quyền, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội… Tất cả nhằm mục đích thêu dệt nên một bức tranh màu xám, méo mó về vấn đề tôn giáo tại Việt Nam, từ đó kêu gọi quốc tế “gây sức ép”, “can thiệp” vào nước ta.

Lợi dụng tính nhạy cảm của vấn đề tôn giáo, một số phần tử cực đoan trong tôn giáo cấu kết với các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Đảng và Nhà nước Việt Nam tổ chức các cuộc “hội luận”, “họp báo”, soạn thảo và tán phát các tài liệu có nội dung xuyên tạc, bịa đặt để tuyên truyền chống Đảng và Nhà nước Việt Nam, nhất là trên các lĩnh vực dân chủ và nhân quyền. Họ đẩy mạnh xuyên tạc Đảng và Nhà nước Việt Nam “đàn áp tôn giáo”, Việt Nam “không có tự do tôn giáo”. Họ cho rằng Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo (trước đây) và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay là sự “đàn áp tôn giáo” bằng pháp luật của Nhà nước Việt Nam, không tạo điều kiện cho các tôn giáo phát triển; từ đó, khoét sâu mâu thuẫn giữa các tôn giáo với chính quyền các cấp. Đồng thời, móc nối, câu kết với một số tổ chức, cá nhân ở trong nước và nước ngoài thành lập hoặc tích cực tham gia các hội, nhóm trái pháp luật, mang danh nghĩa tôn giáo để tập hợp, phát triển lực lượng chống đốiMột số chức sắc cực đoan lợi dụng các vấn đề chính trị – xã hội phức tạp để kích động tín đồ xuống đường biểu tình, gây mất ổn định chính trị – xã hội. Đáng chú ý, với lý do “bảo vệ tự do tôn giáo”, một số thế lực nước ngoài đã ban hành báo cáo, phúc trình, thậm chí là đạo luật, nghị quyết “lên án” tình hình bảo đảm quyền con người của Việt Nam, nhất là trên lĩnh vực tôn giáo, từ đó gây sức ép về ngoại giao, đồng thời gắn các vấn đề dân chủ và nhân quyền trên lĩnh vực tôn giáo với các vấn đề về viện trợ kinh tế, đầu tư phát triển, nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Lợi dụng đường lối, chính sách đổi mới, mở cửa và tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta, các tôn giáo đều gia tăng các hoạt động mở rộng cơ sở vật chất, dẫn đến phát sinh nhiều vụ tranh chấp, khiếu kiện đất đai liên quan đến tôn giáo. Đáng chú ý, số đối tượng cực đoan trong các tôn giáo cũng như các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Nhà nước Việt Nam ở trong nước và nước ngoài đã triệt để lợi dụng các vụ tranh chấp, khiếu kiện về đất đai liên quan đến tôn giáo để kích động các hoạt động chống đối, gây tâm lý bức xúc và phản ứng của tín đồ đối với chính quyền; gây chia rẽ giữa chính quyền với tôn giáo. Nghiêm trọng hơn, họ còn cố tình chính trị hóa sự việc, xuyên tạc, vu cáo chính quyền “lấy đất đai của tôn giáo, bỏ quên quyền lợi nhân dân, bao che cho doanh nghiệp, tàn phá môi trường”, kích động tâm lý so bì, cho rằng Nhà nước đối xử không bình đẳng giữa các tôn giáo. Một số tổ chức, cá nhân tôn giáo không hợp tác với chính quyền trong việc kê khai, làm các thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhằm lấn chiếm đất để mở rộng cơ sở thờ tự.

Bên cạnh hoạt động vi phạm pháp luật về đất đai, trong hoạt động tôn giáo cũng xảy ra các vụ, việc chưa tuân thủ các quy định của pháp luật, như thuyên chuyển, bổ nhiệm chức sắc, chức việc, nhà tu hành trong các tôn giáo; việc thành lập các cơ sở tôn giáo trực thuộc chưa được sự chấp thuận của chính quyền. Một số cơ sở đào tạo của tôn giáo chưa nghiêm túc triển khai môn học về lịch sử Việt Nam và pháp luật Việt Nam, là môn chính thức trong chương trình giảng dạy. Bên cạnh đó, vẫn tồn tại việc “đào tạo kép”, cụ thể là đào tạo chức sắc ở trong nước kết hợp với cử chức sắc ra nước ngoài đào tạo trái phép vẫn diễn ra ở một số tôn giáo.Các hoạt động vi phạm nói trên luôn tiềm ẩn nguy cơ bị các thế lực xấu khai thác, lợi dụng để gây chia rẽ giữa tôn giáo với chính quyền, giữa người theo đạo và người không theo đạo, cũng như tiến hành các hoạt động chống phá, gây bất ổn chính trị – xã hội.

Đáng chú ý, tại địa bàn các tỉnh Tây Nguyên nói riêng, vùng DTTS trong cả nước nói chung, lợi dụng vấn đề tôn giáo trong vùng đồng bào một số dân tộc thiểu số; sự sa sút tính chân truyền trong các tôn giáo đã được Nhà nước công nhận; điều kiện khó khăn về kinh tế, xã hội…, một số đối tượng đã thành lập các hội, nhóm mang danh nghĩa tôn giáo, hoạt động vi phạm pháp luật, gây mất đoàn kết dân tộc. Bên cạnh đó, còn có nhiều loại hình mang danh tín ngưỡng, tôn giáo, hiện tượng tôn giáo mới xuất hiện ở nhiều địa phương, xa rời văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, như không thờ cúng tổ tiên, gọi bố mẹ là anh, chị, em; khám, chữa bệnh bằng cầu cúng; tuyên truyền, hứa hẹn về tương lai tốt đẹp để mê muội quần chúng. Điển hình là các tổ chức “Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ”, Pháp Luân Công, Dương Văn Mình, “Nhất quán đạo”, “Thanh Hải Vô Thượng Sư”… Hoạt động của các tổ chức này không chỉ gây mâu thuẫn trong quần chúng, ảnh hưởng tới khối đoàn kết toàn dân tộc, mà còn tạo ra những tác động tiêu cực tới sự ổn định chính trị – xã hội của đất nước, tạo cớ cho các thế lực thù địch xuyên tạc tình hình tôn giáo ở Việt Nam

 

NHẬN DIỆN HÀNH VI LỢI DỤNG QUYỀN LỰC



Theo từ điển Tiếng Việt[3] lợi dụng là dựa vào điều kiện thuận lợi nào đó để mưu lợi riêng không chính đáng. Theo đó, lợi dụng quyền lực do chức vụ và vị trí làm việc trong HTCT là hành vi thực hiện công vụ nhưng không hướng tới phục vụ lợi ích công, mà ưu tiên thực hiện mục tiêu riêng. Về bản chất, lợi dụng quyền lực chính trị là hành vi sai trái, phục vụ lợi ích không chính đáng của CBCC. Vì lợi ích của mình, gia đình mình, của nhóm lợi ích, mà CBCC lợi dụng quyền lực chính trị có thể hành động một cách tinh vi, xảo quyệt để đạt tới lợi ích riêng ngoài những lợi ích mà họ được hưởng theo quy định của pháp luật. Khi thực thi quyền lực, CBCC có thể lái các tác động của công vụ theo hướng có lợi cho cá nhân hoặc người thân, quen của mình, không chú ý tìm cách làm lợi cho lợi ích công cộng một cách vô tư. Vì thế, công vụ có thể được điều chỉnh theo hướng tận dụng các cơ hội không có lợi cho lợi ích chung, nhưng có lợi cho cá nhân, gia đình, nhóm của họ mà không vi phạm quy định, chính sách một cách nghiêm trọng như hành vi lộng quyền. Nếu có quyền ra quyết định, thay vì lựa chọn phương án tối ưu cho lợi ích công, CBCC lựa chọn phương án có lợi hơn cho lợi ích của họ và nhóm họ dù cho lợi ích công không đạt mức tối ưu. Khi đi kiểm tra, CBCC lợi dụng quyền lực có thể báo cáo không trung thực để che dấu cho người thân, quen, cánh hẩu với họ hoặc nhấn mạnh các tình tiết sai phạm nhẹ thành nặng để trừng phạt người chống đối mình… Nhìn chung, những kẻ lợi dụng quyền lực thường sử dụng quyền lực trái nguyên tắc liêm chính, vô tư. Một số dấu hiệu nhận diện hành vi lợi dụng quyền lực:

Lợi dụng quyền hạn ban hành chính sách có lợi cho nhóm lợi ích nào đó, làm giảm hiệu quả chung của nền kinh tế hoặc gây ra tình trạng không công bằng. Ví dụ, sử dụng quyền lực và ảnh hưởng trong Quốc hội, Chính phủ ban hành chính sách có lợi cho một số doanh nghiệp, ngành, địa phương không thuộc danh mục được ưu tiên; sử dụng quyền lực gây áp lực để phê chuẩn các quyết định có tính chất cục bộ, địa phương làm tổn hại lợi ích quốc gia…

Nhận lợi ích (tiền bạc, dịch vụ, danh tiếng) vượt quá khung khổ cho phép của pháp luật từ người thụ hưởng dịch vụ công. Nếu lợi ích là tiền bạc thì hành vi lợi dụng quyền lực đó là hành vi nhận hối lộ. Ví dụ, cán bộ Hải quan nhận học bổng cấp cho người thân từ doanh nghiệp mà họ phục vụ bất kể họ có thực hiện sai quy định quản lý hải quan hay không. Bởi vì các doanh nghiệp có thể hối lộ chỉ để cán bộ hải quan thực hiện đúng quy định của pháp luật. Họ sợ nếu không hối lộ, cán bộ hải quan sẽ lợi dụng các sơ hở của pháp luật gây khó dễ cho họ. Thủ trưởng nhận hối lộ để tuyển dụng người quen, người thân. Thủ trưởng nhận hối lộ để bổ nhiệm một người nào đó không có tên trong quy hoạch hoặc có tên trong quy hoạch, nhưng yếu hơn người khác về phẩm chất và năng lực. Người có quyền phê duyệt nhận hối lộ để phê duyệt dự án nhanh hơn. Nếu lợi ích là dịch vụ thì hành vi lợi dụng quyền lực bị che dấu bởi quan hệ mua bán với giá thấp, mua theo danh mục ưu tiên trước, mua độc quyền, mua theo giá thông thường với dịch vụ hậu mãi đặc biệt. Nếu lợi ích là danh tiếng hoặc địa vị thì đó là danh tiếng được áp đặt một cách khiên cưỡng cho CBCC khiến dư luận bất bình…

Thúc đẩy hoặc cản trở người khác làm chậm hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm hoặc liên quan trực tiếp đến công việc của họ hoặc làm một việc không được phép làm có lợi cho CBCC hoặc người thân, quen. Ví dụ, cán bộ cấp trên tác động vào cấp dưới để điều chỉnh công vụ (bổ nhiệm cán bộ là người thân; phê duyệt dự án của cánh hẩu; miễn giảm thuế, giá tiền thuê…) theo hướng có lợi cho họ; đe dọa cán bộ thanh tra, điều tra, kiểm toán cung cấp thông tin sai lệch; chỉ đạo tạm dừng cuộc kiểm tra, thanh tra; gây áp lực để cán bộ quản lý chi tiêu sai; gây áp lực để chỉ định thầu cho doanh nghiệp sân sau…

Lợi dụng quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà họ có trách nhiệm quản lý (tức tham ô). Có rất nhiều cách thức tham ô. Tham ô che dấu là sử dụng nghiệp vụ quản lý để che dấu các khoản biển thủ công quỹ bằng cách khai khống chi phí, khai khống danh sách được nhận tài sản do mình phụ trách sau đó biến chúng thành tài sản tư; che dấu doanh thu của ngân sách nhà nước để chi tiêu riêng; lập quỹ đen để chi tiêu ngoài sổ sách… Tham ô trắng trợn là câu kết với nhau lập hợp đồng giả, hồ sơ giả để rút tiền công quỹ chia nhau. Ngoài ra, những cán bộ thoái hóa còn tham ô bằng cách rút bớt nguyên, vật liệu, phụ kiện, thời gian, nhân lực dẫn đến hiện tượng cung cấp dịch vụ kém chất lượng. Phần kinh phí dôi ra để chia nhau. Một số cán bộ hải quan, thuế vụ còn có thể câu kết với doanh nghiệp khai khống hồ sơ xuất khẩu hàng hóa để tham ô tiền hoàn thuế giá trị gia tăng của Nhà nước. Công an giao thông tham ô tiền phạt hành chính vi phạm luật giao thông bằng cách cưa đôi tiền phạt với người vi phạm…

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác. CBCC lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác thường áp dụng các thủ đoạn: Cung cấp thông tin sai lệch nhằm uy hiếp tinh thần người có tài sản, qua đó lừa gạt họ; lợi dụng lòng tin, hứa hẹn giúp đỡ hoàn thành thủ tục hành chính; câu kết với cán bộ khác lợi dụng sơ hở của pháp luật và người ủy quyền chuyển tài sản của người ủy quyền cho người khác; lợi dụng quyền hạn gây áp lực xử án có lợi về tài sản cho mình; làm sai lệch hồ sơ để chiếm đoạt tài sản của người khác. 

Lợi dụng và lạm dụng là hai thuật ngữ khác nhau, mặc dù có mục đích chung như vụ lợi, vi phạm nguyên tắc đạo đức của người đại diện cho lợi ích chung. Lợi dụng thể hiện tính vụ lợi cao hơn, đôi khi dẫn đến kết quả lợi ích riêng lấn át lợi ích công. Lạm dụng có mức độ và phạm vi sai trái hẹp hơn. Khi lạm quyền, CBCC thường kèm lợi ích riêng với lợi ích chung, không đến mức lấn át lợi ích công. Lạm quyền đòi hỏi lợi ích công cộng phải được thực hiện nhưng kèm theo đó là lợi ích cá nhân cũng vượt mức đáng được hưởng. Lợi dụng quyền lực được thúc đẩy bằng động cơ thực hiện hành vi sai trái mạnh mẽ hơn lạm dụng quyền lực. Tuy nhiên, trên thực tế, ranh giới giữa hành vi lợi dụng quyền lực với hành vi lạm dụng quyền lực không phải bao giờ cũng được phân biệt một cách rạch ròi.

 

KHẮC PHỤC "BỆNH GIẤU KHUYẾT ĐIỂM" THEO QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH

 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (năm 1947): “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng”... Bài học về sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Liên Xô và Nhà nước Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết do nguyên nhân sâu xa là mất dân chủ, “bệnh thành tích”, lãnh đạo chỉ thích khen nịnh dẫn đến xa rời thực tiễn, những yếu kém không được khắc phục, gây khủng hoảng, mất đoàn kết và cán bộ, đảng viên, quần chúng bức xúc; cùng bài học thành công của sự nghiệp đổi mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI của Đảng với phương châm nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, từ đó mới sáng rõ những việc cần làm ngay, được nhân dân đồng lòng ủng hộ... vẫn còn nguyên giá trị.

Vậy phải làm gì để chữa trị “bệnh giấu khuyết điểm”?

Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Bác Hồ đã chỉ rõ: Phải thật thà phê bình và tự phê bình, kiên quyết thực hành kỷ luật; “Nơi nào sai lầm, ai sai lầm thì lập tức sửa chữa. Kiên quyết chống thói nể nang và che giấu”; “Kiểm soát khéo bao nhiêu, khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa, kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”...

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) và nhiều nghị quyết, kết luận, chỉ thị, quy định của Đảng cũng đã yêu cầu toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải thực hiện nghiêm túc, đồng bộ các nhóm giải pháp. Tuy nhiên, có thể khẳng định, chính vì nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương chưa thực sự làm nghiêm, chưa vào cuộc một cách quyết liệt, chưa có biện pháp hữu hiệu nên “bệnh giấu khuyết điểm” vẫn kéo dài dai dẳng.

Cần nhìn thẳng vào sự thật: “Bệnh giấu khuyết điểm” và thích khen nịnh là bản tính của con người, là yếu tố tâm lý khách quan từ ngàn xưa, ở khắp nơi (thậm chí cổ nhân còn khuyên dạy: “Đẹp đẽ phô ra, xấu xa đậy lại”). Do đó, muốn chữa “bệnh giấu khuyết điểm” thì phải điều trị từ nguyên nhân gốc, trước hết, người mắc bệnh này phải muốn chữa và quyết tâm chữa (ở đây là người đứng đầu tổ chức Đảng và cơ quan, đơn vị các cấp trong hệ thống chính trị, từng cán bộ, đảng viên).

Nhưng thực tiễn đang tồn tại nghịch lý là rất nhiều cán bộ, đảng viên không muốn chữa “bệnh giấu khuyết điểm”. Lý do thật đơn giản: Tự nhận vi phạm, khuyết điểm thì sẽ thiệt nhiều thứ, như mất thành tích, bị trừ điểm thi đua, ảnh hưởng tới các quyền lợi của tập thể, cá nhân.

Thậm chí, việc tự nhận khuyết điểm còn bị nhiều người chê là dại dột, “chưa khảo đã xưng”, “tự bôi mỡ vào người cho kiến đốt”! Không ít trường hợp còn bị cán bộ cấp trên lấy làm ví dụ đi “bêu dương” khắp nơi, nhắc đi nhắc lại mãi. Vì thế, nhiều người, nhiều tập thể đã rút ra “bài học”: Chẳng dại gì “lạy ông tôi ở bụi này”!

Bởi vậy, thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá của cấp ủy, người đứng đầu: Thực sự quý trọng đức tính thẳng thắn, trung thực, tự giác nhận khuyết điểm là yếu tố tiên quyết để tuyên chiến với “bệnh giấu khuyết điểm”.

Cùng với đó, phải có điểm thưởng cho những tập thể, cá nhân trung thực, tự giác nhận khuyết điểm nhằm khắc phục nghịch lý “không muốn chữa bệnh giấu khuyết điểm” nêu trên, mà việc nên làm ngay là chỉnh sửa quy chế thi đua - khen thưởng theo hướng quy định rõ điểm thưởng, điểm phạt, bảo đảm không ai chịu thiệt khi thành thật, tự giác nhận khuyết điểm và quyết tâm sửa chữa. Đây chính là liều thuốc đặc hiệu để chữa từ nguyên nhân gốc, trị dứt điểm “bệnh giấu khuyết điểm” nguy hại.

Đảng ta đang khuyến khích và đã có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung. Đặc biệt, Quy định số 22-QĐ/TW ngày 28-7-2021 của Ban chấp hành Trung ương khóa XIII về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng đã xác định rõ nguyên tắc: Công tác kiểm tra, giám sát phải kịp thời phát hiện nhân tố mới, tích cực để phát huy, phải bảo vệ cái đúng, bảo vệ người tốt, cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung; phải chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục khuyết điểm, vi phạm của tổ chức Đảng và đảng viên ngay từ khi còn mới manh nha, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài và lan rộng...

Thực hiện chủ trương trên, những bất cập, nghịch lý là căn nguyên dẫn đến “bệnh giấu khuyết điểm” cần sớm được các cơ quan có thẩm quyền xem xét, kiên quyết chỉ đạo khắc phục triệt để.

 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, BẢO VỆ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Bước sang thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, hợp tác và hội nhập quốc tế vẫn luôn là xu thế lớn, lâu dài của các quốc gia, khu vực trên thế giới. Bên cạnh những mặt tích cực, tình hình thế giới tiếp tục có những biến động phức tạp và đa chiều, tác động sâu sắc đến môi trường hòa bình, an ninh và phát triển của đất nước ta. Một mặt, các thế lực thù địch vẫn tiếp tục gia tăng các hoạt động chống phá cách mạng với mức độ ngày càng tinh vi hơn, nguy hiểm hơn; trong đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên là mục tiêu quan trọng đầu tiên mà chúng nhắm tới; mặt khác, hiện nay vẫn còn tồn tại những vấn đề trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra nguy cơ đe dọa vai trò lãnh đạo của Đảng, sự tồn vong của chế độ. Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ cán bộ, đảng viên trong bối cảnh tăng cường hội nhập quốc tế, công tác bảo vệ chính trị nội bộ cần tập trung thực hiện một số nội dung trọng tâm sau đây:

Thứ nhất, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các cấp, nhất là người đứng đầu cần nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác bảo vệ chính trị nội bộ gắn với công tác quản lý cán bộ trong tình hình mới. Xác định rõ trách nhiệm, nâng cao ý thức cảnh giác, đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Thứ hai, tiếp tục nghiên cứu, rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, quản lý cán bộ để kịp thời phát hiện, khắc phục những vướng mắc, hạn chế nảy sinh trong thực tiễn; trong đó, cần tập trung vào việc nắm vững và giải quyết những vấn đề chính trị hiện nay của cán bộ, đảng viên, nhất là đối với những trường hợp làm nhiệm vụ dịch thuật, cử đi học ở nước ngoài, đi công tác nước ngoài đột xuất hoặc thường xuyên, theo nhiệm kỳ hoặc có mối quan hệ tiếp xúc, làm việc lâu dài với các tổ chức, cá nhân nước ngoài, cho phù hợp với những yêu cầu, diễn biến của tình hình mới.

Thứ ba, tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh trên cơ sở quán triệt sâu sắc, nghiêm túc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI, XII), Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021 của Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị; tăng cường giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên, trong đó cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm bảo vệ chính trị nội bộ và ý thức cảnh giác, tinh thần kiên quyết đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn phá hoại tinh vi của các thế lực thù địch. Tăng cường kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh những cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.


Thứ tư, chủ động ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Tăng cường đấu tranh, sớm phát hiện, đập tan các hoạt động phá hoại tư tưởng chính trị; phản bác, bóc gỡ, vạch trần các thông tin xấu, độc, luận điệu xuyên tạc, thù địch, kích động; đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý, khắc phục những hạn chế trong quản lý báo chí, mạng xã hội và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Tăng cường các thông tin chính thống chính xác, kịp thời, có trọng tâm, trọng điểm, coi trọng nắm bắt và định hướng dư luận trong thời gian diễn ra các sự kiện lớn, trọng đại của đất nước.

Thứ năm, rà soát, thẩm tra, thẩm định chặt chẽ, kỹ lưỡng và kết luận rõ tiêu chuẩn chính trị của cán bộ, đảng viên, không để lọt những người không đủ tiêu chuẩn chính trị vào cấp ủy các cấp. Chuyển trọng tâm từ nắm vững và giải quyết vấn đề lịch sử chính trị sang vấn đề chính trị hiện nay. Các mặt công tác quản lý cán bộ cần bám sát tình hình thực tế của đội ngũ cán bộ để có biện pháp phòng ngừa, răn đe kịp thời, hữu hiệu.

Thứ sáu, hoàn thiện cơ chế phối hợp và đẩy mạnh, nâng cao chất lượng công tác phối hợp giữa cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ với các cơ quan chức năng liên quan trong việc nắm vững tình hình và giải quyết các vấn đề chính trị nội bộ. Tùy tình hình cụ thể, chủ động tham mưu, đề xuất các chủ trương, biện pháp hiệu quả trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ. Phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc tập hợp, vận động nhân dân tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, đặc biệt là trong giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên; cảnh giác và tham gia đấu tranh với các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động.

Thứ bảy, đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng về công tác bảo vệ chính trị nội bộ tại các địa phương, cơ quan, đơn vị. Qua đó, nâng cao tinh thần trách nhiệm, chấn chỉnh những thiếu sót, hướng dẫn đồng bộ và nhất quán việc thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ cho các cơ quan, đơn vị, đội ngũ chuyên trách bảo vệ chính trị nội bộ đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới./.

 

 

NHIỆM VỤ CỦA ĐẢNG VIÊN TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG

 TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Đảng, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; đồng thời đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch, những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt, thông tin xấu độc, cố tình bôi xấu cán bộ, đảng viên, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ đoàn kết, gây mất niềm tin trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân…

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn chú trọng công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, coi đây là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng, một nội dung cốt lõi của công tác xây dựng Đảng.

Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị xác định rõ: “Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng là một nội dung cơ bản, sống còn của công tác xây dựng Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị-xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ quan, đơn vị và của từng cán bộ, đảng viên”.

Thực tế thời gian qua cho thấy liên tục xuất hiện một số cá nhân đăng tải, chia sẻ, bình luận trên mạng xã hội những thông tin phiến diện, thiếu chính xác, chưa được kiểm chứng hoặc thông tin về những vụ việc đang trong quá trình điều tra, chưa có kết luận chính thức… dẫn đến tâm lý hoang mang, phản ứng trái chiều trong dư luận xã hội, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch và các đối tượng phản động, cực đoan chính trị tuyên truyền xuyên tạc, chống phá gây mất ổn định chính trị, kinh tế, xã hội. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang sử dụng không gian mạng để chống phá trực diện khuếch trương thanh thế, cổ súy “giá trị” văn hóa phương Tây. Chúng lập những tài khoản, website giả mạo các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo bộ, ngành, địa phương, những người có uy tín, nhân vật nổi tiếng… để tung tin gieo rắc hoài nghi trong xã hội, nhất là trước những vấn đề nhạy cảm, kích động, lôi kéo người dân tụ tập trái phép, biểu tình, phá rối an ninh trật tự và có các hành vi phạm pháp.

Theo Bộ Thông tin-Truyền thông, từ đầu năm 2020 đến nay, qua rà quét, giám sát, Bộ đã gỡ bỏ gần 400 trang giả mạo tên các đồng chí Trung ương, 4.500 tin bài xấu độc trên Facebook và 30.000 video xấu độc trên Youtube.
Trung tâm giám sát xử lý an toàn thông tin mạng quốc gia có thể rà soát, phân tích, xử lý khoảng 300 triệu tin giả, tin xấu độc mỗi ngày; tỷ lệ tháo gỡ các video xấu, độc trên kênh Youtube hiện nay đã lên đến 90%; mỗi tháng gỡ bỏ hàng ngàn video xấu độc.

Năm 2020 Sở Thông tin - Truyền thông tỉnh Thanh Hóa đã phối hợp tham mưu phát hiện, ngăn chặn và xử lý một số vụ việc lợi dụng danh nghĩa báo chí để trục lợi và vi phạm pháp luật trong hoạt động báo chí; xử lý nhiều cá nhân đăng tải thông tin sai sự thật trên mạng xã hội; rà soát và phối hợp với các đơn vị của Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện gỡ bỏ nhiều video xấu độc trên mạng xã hội.
Để phòng ngừa, ngăn chặn hiệu quả tác động từ thông tin xấu, độc trên mạng xã hội, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên cần:

1. Nhận thức đầy đủ, sâu sắc những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đó là nền tảng tinh thần của xã hội; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tiếp tục thực hiện nghiêm các Nghị quyết TW 4 khoá (XI, XII), Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị gắn với các quy định về nêu gương của cán bộ, đảng viên; tự giác tu dưỡng rèn luyện nâng cao trình độ chính trị, trau dồi đạo đức cách mạng.

2. Tích cực đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng, cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; đồng thời luôn tỉnh táo, cảnh giác, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả mọi âm mưu, thủ đoạn, hành động chống phá của các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội chính trị, những phần tử bất mãn. Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ; tỉnh táo, cân nhắc kỹ lưỡng trước khi phát ngôn, chia sẻ nhận định, đánh giá về vấn đề, sự kiện, hiện tượng nào đó.

3. Chú trọng nâng cao ý thức tự giác, kỷ luật trong khi tiếp xúc thông tin; nắm vững và chấp hành tốt các quy định về quyền thông tin, phạm vi thông tin theo quy định của Hiến pháp, Luật Tiếp cận thông tin và Luật An ninh mạng. Khi tham gia mạng xã hội cần nghiêm túc thực hiện điều lệ và quy định kỷ luật của Ðảng, của tổ chức mà mình là thành viên, đồng thời thể hiện là công dân gương mẫu.

4. Nhiệm vụ của mỗi cán bộ, đảng viên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng còn xuất phát từ những hành động cụ thể gắn với công việc, cuộc sống hằng ngày; không xa hoa, lãng phí, không gây mất đoàn kết nội bộ. Tăng cường đăng tải những thông tin chính thống, lan tỏa những thông điệp tốt đẹp mỗi ngày, đồng thời phản biện lại những thông tin sai trái, phiến diện của các thế lực thù địch trên không gian mạng./.

 

 

Tình đồng chí

Tình đồng chí là tình cảm thiêng liêng, cao quý của những người cùng chung mục tiêu, lý tưởng cộng sản. Đây không chỉ là tình cảm đơn thuần giữa người với người, mà hơn thế, nó hướng tới những giá trị tốt đẹp, với mục tiêu cao nhất là phục vụ lý tưởng của Đảng, lợi ích của đất nước, cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

Có rất nhiều câu chuyện cảm động, đầy tình nghĩa về tình đồng chí, đồng đội, về sự sẻ chia đắng cay, ngọt bùi, nhất là trong những hoàn cảnh khó khăn, những tình huống thử thách, hiểm nghèo. Ta có thể thấy rõ điều này trong bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu, được sáng tác vào năm 1948, giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang diễn ra ác liệt. Những câu thơ: "Súng bên súng, đầu sát bên đầu/ Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ", đã khắc họa đậm nét tình đồng chí.

Tình đồng chí còn là sợi dây thắt chặt sự đoàn kết, gắn bó giữa các đảng viên trong một tổ chức, đơn vị, rộng hơn là sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng, trở thành truyền thống tốt đẹp của Đảng ta. Tuy nhiên, hiện nay, ở không ít tổ chức đảng và một bộ phận cán bộ, đảng viên, do nhiều nguyên nhân, tình đồng chí đã ít nhiều bị phai nhạt, biến dạng. Từ ý nghĩa thiêng liêng, cao quý ban đầu, vì mục đích cá nhân, không ít người đã sử dụng cách xưng hô “đồng chí” đầy ẩn ý, với ý nghĩa không trong sáng, mang nhiều cách hiểu khác nhau.

Ở không ít tổ chức đảng, trong quan hệ giữa những đảng viên, ít thấy sự quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ nhau; thiếu sự gắn kết và tinh thần cộng đồng trách nhiệm vì lợi ích chung; thay vào đó là sự thờ ơ, lạnh nhạt, thậm chí ganh ghét, đố kỵ, hẹp hòi, nói xấu, kèn cựa địa vị, lợi ích, khiến nội bộ mất đoàn kết, vai trò và năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng bị suy giảm; có không ít đảng viên, thể hiện sự quan tâm đến người đồng chí của mình một cách giả tạo, hình thức, không xuất phát từ cái tâm trong sáng, lòng nhân ái, bao dung của con người.

Trong sinh hoạt đảng, có nơi, có lúc lợi dụng danh xưng đồng chí để tụng ca, tung hô hay triệt hạ, “đánh hội đồng”, nhất là ở mỗi dịp quy hoạch, bầu cử, lấy phiếu tín nhiệm cán bộ. Chẳng hạn, nếu cần “chiến đấu”, họ sẵn sàng nói xấu, vu họa, hạ thấp uy tín “đối thủ”. Khi cần lấy lòng, nhất là với người lãnh đạo, đứng đầu, họ lại dùng những từ hoa mĩ để ca ngợi, nịnh nọt đồng chí mình. Khi không thấy lợi ích gì, ngại va chạm thì họ sử dụng chiêu bài “im lặng” là vàng, phụ họa, “gió chiều nào che chiều ấy” để tránh vạ lây, mất lòng người khác... Điều đáng nói là, nhiều đảng viên tốt, người tốt không được bảo vệ, động viên, khích lệ; trong khi đó, nhiều người xấu, giỏi nịnh nọt, biết cách lấy lòng sếp lại được cất nhắc bổ nhiệm.

Có thể nói, việc lợi dụng tình đồng chí, danh xưng đồng chí vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm tiêu cực vô cùng phong phú, đa dạng, với vô vàn biểu hiện, nhiều lúc rất tinh vi, khó đoán định. Lâu dần, nó làm suy giảm ý nghĩa thiêng liêng và giá trị tốt đẹp ban đầu vốn có cũng như sự nâng niu, trân trọng, giữ gìn, vun đắp tình đồng chí của nhiều thế hệ đảng viên chân chính.

Trong Di chúc để lại trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn, “phải có tình đồng chí yêu thương lẫn nhau”(1). Theo Người, “nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình, có nghĩa với nhau thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lê-nin được”(2). Bản thân chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh ngoài tính khoa học, cách mạng còn hàm chứa tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc. Thực hiện lời căn dặn của Người, nhằm tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, các cấp ủy, tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên cần tự soi, tự sửa, thực hiện tốt lời căn dặn của Bác về tình đồng chí yêu thương lẫn nhau.

Tình đồng chí phải trở về với những giá trị đích thực của nó; được thể hiện bằng cái tâm trong sáng và thực sự bắt nguồn từ tình yêu thương con người; ở đó, người cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần đoàn kết, trách nhiệm, sống trung thực, nghĩa tình, yêu thương, sẻ chia, giúp đỡ lẫn nhau vì lợi ích chung, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân vị kỷ và lợi ích nhóm tiêu cực. Có như vậy, giá trị của danh xưng đồng chí mới thật sự có ý nghĩa, để mỗi khi nhắc đến mỗi chúng ta đều cảm thấy trân trọng, vinh dự, tự hào.

 

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị - Những vấn đề lý luận và thực tiễn


Ngày 23-6-2022, tại Hội trường Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Tổ chức Trung ương, Hội đồng Lý luận Trung ương và Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia: “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”.

Dự và chủ trì hội thảo có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Trương Thị Mai, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương; GS, TS. Nguyễn Xuân Thắng, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Nguyễn Văn Nên, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh; cùng đồng chí Nguyễn Quang Dương, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương. Tham dự hội thảo còn có các đồng chí là Ủy viên Trung ương Đảng; thành viên Ban Chỉ đạo Đề án Trung ương 6, khóa XIII; các đồng chí lãnh đạo ban, bộ, ngành, cơ quan trung ương và địa phương; các đại biểu chuyên gia, nhà khoa học.

Theo Ban Tổ chức Hội thảo, để triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương đã đưa vào Chương trình làm việc nhiệm kỳ khóa XIII nhiệm vụ xây dựng Đề án “Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa X về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị”, trình Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII thảo luận, cho ý kiến. Đây là đề án rất quan trọng, có ý nghĩa nhiều mặt đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị nói riêng, sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc nói chung. Thực hiện kế hoạch triển khai đề án, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị trực thuộc Trung ương đã tiến hành tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa X; Ban Chỉ đạo xây dựng Đề án đã khảo sát tại 27 tỉnh ủy, thành ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn, ban xây dựng Đảng ở Trung ương. Thực hiện kế hoạch này, Hội thảo khoa học quốc gia “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị - những vấn đề lý luận và thực tiễn” được tổ chức với mục đích làm rõ, sâu sắc hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị trong tình hình mới.

Phát biểu khai mạc, GS, TS. Nguyễn Xuân Thắng nhấn mạnh, 92 năm qua, để thực hiện thành công sứ mệnh cao cả mà lịch sử dân tộc và nhân dân giao phó, Đảng ta đã không ngừng nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi để đổi mới, bổ sung và hoàn thiện phương thức lãnh đạo, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu, phù hợp với những bước chuyển chiến lược trong tiến trình cách mạng Việt Nam và sự phát triển của đất nước. Trong những nhiệm kỳ gần đây, cùng với việc đẩy mạnh nhiệm vụ xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, gắn xây dựng, chỉnh đốn Đảng với xây dựng hệ thống chính trị một cách đồng bộ, chặt chẽ, hài hoà; vai trò và hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với các cấu trúc, tổ chức trong hệ thống chính trị đã không ngừng được nâng cao, nhất là đối với Nhà nước; đồng thời phát huy mạnh mẽ dân chủ, từng bước nâng cao tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và quyền làm chủ của nhân dân. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới là nội dung rất quan trọng trong 10 nhiệm vụ xây dựng Đảng mà Văn kiện Đại hội XIII đã đề ra, nhằm đáp ứng yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, bảo đảm đổi mới chính trị đồng bộ, phù hợp với đổi mới kinh tế, phù hợp với tiến trình xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo và trong điều kiện bản thân Đảng và hệ thống chính trị đang tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động, khắc phục tình trạng suy thoái, tham nhũng, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Nhắc lại 5 nội dung đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), đồng chí Nguyễn Xuân Thắng cho rằng, việc vận dụng các phương thức này ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực, các tổ chức Đảng khác nhau tuỳ thuộc vào từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Qua 15 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW, chúng ta đã được cung cấp nhiều thực tiễn sinh động, phong phú, những cách làm hay, những mô hình sáng tạo để tổng kết, rút kinh nghiệm, đồng thời cũng đặt ra những vấn đề mới cần nghiên cứu, tìm hiểu kỹ hơn. Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng đề nghị các đại biểu thảo luận làm rõ, sâu sắc hơn một số vấn đề mới, một số vấn đề còn đang có ý kiến khác nhau, có tính thời sự nổi bật bao gồm: Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả của việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng; đổi mới công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động của Đảng đối với tổ chức, cá nhân trong hệ thống chính trị và xã hội; đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ và phương thức xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng; tiếp tục đổi mới việc phát huy vai trò của tổ chức đảng, đảng viên hoạt động trong hệ thống chính trị, nhất là các cơ quan nhà nước; đổi mới, tăng cường, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát đối với tổ chức đảng, đảng viên; tăng cường xây dựng Đảng về đạo đức, phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; tiếp tục đổi mới, xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.

Phát biểu chào mừng hội thảo, đồng chí Nguyễn Văn Nên, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, việc tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị là nhiệm vụ hết sức quan trọng đã được Đại hội XIII của Đảng xác định, nhằm đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới đất nước. Thời gian qua, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh đã chú trọng điều chỉnh các nội dung nhằm tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng, hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực nhằm đầu tư phát triển; cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới tăng trưởng, gắn với xây dựng chính quyền điện tử mang tính đặc thù, xây dựng nền hành chính dân chủ, công khai, minh bạch, phục vụ nhân dân, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tăng cường kỷ cương, kỷ luật đảng, nhất là cán bộ, người đứng đầu các cấp, nâng cao hơn nữa tính tiên phong, gương mẫu, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm của cán bộ, đảng viên…

Đồng chí Nguyễn Quang Dương nhấn mạnh, hội thảo là dịp để đánh giá những thành tựu, hạn chế, phân tích nguyên nhân và rút ra một số bài học kinh nghiệm, những vấn đề đặt ra qua 15 năm thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW; làm rõ những yêu cầu đối với phương thức lãnh đạo của Đảng trước tình hình, nhiệm vụ mới; qua đó, cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc tiếp tục hoàn thiện, đổi mới phương thức lãnh đạo nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và nghị quyết đại hội đảng các cấp. Hội thảo tập trung bàn thảo một số nội dung: Những vấn đề lý luận về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị; đánh giá những ưu điểm, kết quả và hạn chế, vướng mắc, nút thắt, điểm nghẽn trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị; nguyên nhân và bài học kinh nghiệm trong quá trình triển khai thực hiện...

Hội thảo đã nhận được hơn 40 tham luận và 11 ý kiến thảo luận, trao đổi trực tiếp của các đồng chí lãnh đạo đại diện các ban, bộ, ngành, đoàn thể, cơ quan ở Trung ương và các đồng chí bí thư, phó bí thư cấp ủy địa phương khu vực phía Nam, tập trung bàn luận một số vấn đề trọng tâm: Nâng cao chất lượng việc ban hành, thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; tối ưu hóa phương thức lãnh đạo của Đảng trong từng giai đoạn, có những đổi mới để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn; nâng cao năng lực hoàn thiện hệ thống pháp luật; tăng cường bồi dưỡng, tạo điều kiện để xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ trong điều kiện mới; đổi mới lề lối làm việc, cải cách hành chính trong Đảng, ứng dụng công nghệ… Bên cạnh đó, từ thực tiễn công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa X ở địa phương, cơ quan, đơn vị, các đại biểu đánh giá rõ thêm những ưu điểm, kết quả và những khó khăn, vướng mắc trong phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị thông qua 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp. Dự báo những nhân tố tác động, những yêu cầu mới đặt ra đối với phương thức lãnh đạo của Đảng đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045; đề xuất quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nhằm tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng trong tình hình mới.

PGS, TS. Đoàn Minh Huấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản làm sâu sắc thêm nội hàm khái niệm “đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng” và nhấn mạnh, nội dung, phương thức luôn mang tính động, cần thường xuyên được điều chỉnh, bổ sung, sắp đặt trật tự trước sau tùy thuộc vào thực tiễn, đối tượng lãnh đạo, điều kiện khoa học - công nghệ… Theo đồng chí Đoàn Minh Huấn, có một số dạng thức cần được quan tâm trong quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đó là: Tiếp cận phương thức cũ bằng nhãn quan mới, phương pháp mới; mở rộng nội dung của phương thức; trật tự trước, sau, liều lượng, mức độ của các phương thức sử dụng với từng đối tượng, trạng thái cụ thể.

Kết luận hội thảo, đồng chí Trương Thị Mai nhấn mạnh, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là vấn đề toàn diện, xuyên suốt, đồng bộ, liên thông, không tách rời trong hệ thống chính trị để nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu quả công tác điều hành của chính quyền các cấp và các chủ thể khác trong hệ thống chính trị. Đó là quá trình phải tiếp tục được hoàn thiện, đổi mới để đưa đường lối, chủ trương của Đảng vào cuộc sống. Mỗi giai đoạn có những điều kiện khác nhau, nên yêu cầu về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng diễn ra liên tục, thường xuyên để đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn. Đồng chí Trương Thị Mai cũng gợi ý một số vấn đề để tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, cụ thể là: Nâng cao năng lực dự báo và tư duy chiến lược, nâng cao năng lực thể chế; vấn đề tổ chức bộ máy, nhất là ở cơ quan nhà nước; việc cụ thể hóa các chủ trương, chính sách bằng quy trình, quy định chi tiết để tạo sự thống nhất trong hành động, thực thi. Ngoài ra, công tác kiểm tra, giám sát, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận cũng luôn cần được chú trọng, thực hiện tốt để không ngừng đổi mới và tối ưu hóa phương thức lãnh đạo của Đảng.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Khắc phục bất cập, bịt kín “khoảng trống”, “kẽ hở” để không thể tham nhũng, tiêu cực.

 - Ngày 30-6-2022, tại Hà Nội, Hội nghị toàn quốc Tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012 - 2022 đã diễn ra với gần 500 đại biểu dự họp trực tiếp và hơn 80.000 đại biểu dự họp trực tuyến tại hơn 4.000 điểm cầu trong cả nước.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; các Ủy viên Bộ Chính trị: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng; Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội Chính Trung ương, Phó trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực Phan Đình Trạc dự hội nghị.

Toàn cảnh hội nghị_Ảnh: TTXVN

Phát huy kết quả và rút kinh nghiệm về công tác đấu tranh, phòng, chống tham nhũng trong các giai đoạn trước, trong 10 năm gần đây, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã được Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, bài bản, ngày càng đi vào chiều sâu, có bước tiến mạnh, đạt nhiều kết quả cụ thể, quan trọng, toàn diện, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội và thực sự “đã trở thành phong trào, xu thế không thể đảo ngược”, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao, được bạn bè quốc tế ghi nhận. Tham nhũng từng bước đã được kiềm chế, ngăn chặn, góp phần quan trọng giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố thêm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, từ thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta thời gian qua, có thể rút ra nhiều bài học quý, có giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn. Tổng Bí thư nhấn mạnh, cần phải nhận thức thật đầy đủ, sâu sắc vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để từ đó có quyết tâm chính trị rất cao, biện pháp rất trúng và phải đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo, tập trung, thống nhất của Đảng, mà trực tiếp, thường xuyên là Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị; Ban Nội chính Trung ương là cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng, phải biến quyết tâm chính trị thành hành động thực tế của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và nhân dân, trước hết là sự gương mẫu, quyết liệt, nói đi đôi với làm của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phòng, chống tham nhũng.

Theo Tổng Bí thư, phòng, chống tham nhũng, là nhiệm vụ rất quan trọng, nhưng cũng vô cùng khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải tiến hành một cách kiên quyết, kiên trì, liên tục, bền bỉ, “không nghỉ”, “không ngừng” ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực; thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự; với những bước đi vững chắc, tích cực, chủ động và có trọng tâm, trọng điểm; phải xây dựng cho được một cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể tham nhũng”; một cơ chế răn đe, trừng trị nghiêm khắc để “không dám tham nhũng”; và một cơ chế bảo đảm để “không cần tham nhũng”.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, phải kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý kịp thời, đồng bộ, nghiêm minh các hành vi tham nhũng; trong đó, phòng ngừa là chính, là cơ bản, lâu dài; phát hiện, xử lý là đột phá, quan trọng. Để chủ động, tích cực phòng ngừa, cần phải tập trung xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách về kinh tế - xã hội, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng, phải gắn công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; gắn phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng... Tổng Bí thư lưu ý, kiểm soát cho được việc thực hiện quyền lực nhà nước, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng; phát huy vai trò nòng cốt và sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, kịp thời, hiệu quả của các cơ quan chức năng phòng, chống tham nhũng. Triển khai có hiệu quả hoạt động phòng, chống tham nhũng ra khu vực ngoài nhà nước; tăng cường hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng”, Tổng Bí thư nhấn mạnh.

Các giải pháp phòng, chống tham nhũng phải phù hợp với bối cảnh, yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và truyền thống văn hóa của dân tộc; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài. Đồng thời, mỗi ngành, cơ quan, đơn vị phải xây dựng được văn hóa công vụ. Văn hóa công vụ sẽ bảo đảm tính chuyên nghiệp, trách nhiệm, minh bạch, hiệu quả trong thực thi nhiệm vụ.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu chỉ đạo tại hội nghị_Ảnh: TTXVN

Về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ, phải tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác giáo dục, tuyên truyền, xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, tiêu cực trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị, phải kiên trì giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức về đức tính liêm khiết, chính trực; xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, tiêu cực. Mọi cán bộ, đảng viên phải ghi nhớ sâu sắc lời căn dặn của Bác Hồ rằng: Đảng ta là đảng cầm quyền; Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Đảng phải luôn luôn dựa vào dân, lắng nghe dân, gắn bó máu thịt với nhân dân; việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm và làm cho bằng được; ngược lại, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh. Việc gì nhân dân không đồng tình, thậm chí căm ghét, phản đối thì phải cương quyết ngăn ngừa, uốn nắn và xử lý nghiêm các sai phạm. Cán bộ, đảng viên, trước hết là người lãnh đạo phải biết trọng liêm sỉ, giữ danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân có hành vi tham nhũng, tiêu cực.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu, phải tăng cường phối hợp, chủ động công khai, kịp thời cung cấp thông tin, định hướng tuyên truyền về phòng, chống tham nhũng; chú trọng thông tin, tuyên truyền về gương người tốt, việc tốt; khắc phục tình trạng thông tin một chiều, thông tin không chính xác, mang tính kích động, gây hoang mang. Những người làm báo tích cực, dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng phải được bảo vệ, khen thưởng, động viên kịp thời; đồng thời kiên quyết vạch trần, phê phán, bác bỏ các luận điệu xuyên tạc, lợi dụng phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để kích động, chia rẽ, chống phá Đảng, Nhà nước ta; xử lý nghiêm việc đưa tin sai sự thật, vu cáo, bịa đặt, gây hậu quả xấu

Thể chế về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, quản lý kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được xây dựng, hoàn thiện đồng bộ; kịp thời khắc phục những bất cập, bịt kín những “khoảng trống”, “kẽ hở” để “không thể tham nhũng, tiêu cực”.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phân tích: “Thể chế nói chung, thể chế về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nói riêng, cùng với chuẩn mực đạo đức trên các lĩnh vực và cơ chế kiểm soát quyền lực là yếu tố cơ bản, nền tảng, có tác dụng ngăn chặn từ gốc hành vi tham nhũng, tiêu cực. Phải xây dựng các quy chế nội bộ của Đảng, các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức áp dụng đối với cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong việc giữ gìn phẩm chất đạo đức, liêm chính, gương mẫu đi đầu trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Phải có cơ chế kiểm soát chặt chẽ việc xây dựng chính sách, pháp luật về quản lý kinh tế - xã hội để hạn chế sự tác động tiêu cực của “nhóm lợi ích”, “sân sau”, “tư duy nhiệm kỳ”; ngăn chặn nguy cơ nảy sinh tham nhũng, tiêu cực ngay từ khi xây dựng chính sách, luật pháp. Khẩn trương hoàn thiện các quy định về kiểm soát quyền lực, trách nhiệm giải trình, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch. Quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu trong kiểm tra, phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực; bảo vệ người tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; khuyến khích và bảo vệ cán bộ, đảng viên, người đứng đầu đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán; đẩy mạnh điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; phát hiện sớm, xử lý nghiêm các vụ việc, vụ án tham nhũng; ngăn chặn có hiệu quả tệ “tham nhũng vặt”; nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lưu ý, tiếp tục hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; cải cách hành chính và xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Tổ chức bộ máy phải tiếp tục kiện toàn, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị có chức năng phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, trước hết là các ban chỉ đạo cấp tỉnh và các cơ quan nội chính từ Trung ương đến địa phương.

Bày tỏ tin tưởng, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong thời gian tới sẽ có bước tiến mới, mạnh mẽ hơn nữa, quyết liệt hơn nữa và đạt hiệu quả cao hơn nữa, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, tham nhũng, tiêu cực nhất định sẽ bị ngăn chặn, đẩy lùi; góp phần xây dựng Đảng ta, Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng và xứng đáng với niềm tin yêu, sự mong đợi của nhân dân. Điều quan trọng có ý nghĩa quyết định là: Nhận thức phải chín; tư tưởng phải thông; quyết tâm phải lớn, phương pháp phải đúng; góp phần từng bước làm chuyển biến tình hình, thực sự có kết quả rõ ràng, cụ thể.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng mong muốn tất cả những cán bộ cốt cán của Đảng và Nhà nước hãy nêu cao tinh thần trách nhiệm và dũng khí trước Đảng, trước nhân dân và đất nước, gương mẫu, đi đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực./.