Thứ Ba, 5 tháng 7, 2022

Đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch, thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam

 

Thực hiện chống phá cách mạng Việt Nam toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội, với nhiều biện pháp thủ đoạn thâm độc xảo quyệt, đặc biệt trên lĩnh vực chính trị tư tưởng. Trước hết, tập trung chống phá vào Đảng cộng sản Việt Nam nhằm tạo sự chuyển hoá từ bên trong nội bộ Đảng, Nhà nước về tư tưởng, quan điểm, đường lối, tổ chức nhân sự tiến tới xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chúng tập trung phá ta cả về lý luận, quan điểm, đường lối, xoá bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng ta là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam; khuyến khích những quan điểm lệch lạc và những khuynh hướng xã hội dân chủ. Mặt khác chúng đẩy mạnh tuyên truyền chủ nghĩa thực dụng, văn hoá phương Tây, tạo tâm lý hưởng thụ, lối sống tư sản, qua đó từng bước chuyển hoá tư duy, quan điểm của cán bộ đảng viên, quần chúng, nhất là thế hệ trẻ theo hướng đối lập với quan điểm tư tưởng của Đảng.

Nội dung chủ yếu mà Đế quốc Mỹ chống phá cách mạng Việt Nam là: “Chống phá về chính trị là trung tâm, tư tưởng văn hoá là khâu đột phá. Tuyên truyền xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng cộng sản, nói xấu chế độ xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh tuyên truyền kêu gọi đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; thúc đẩy cải cách chính trị, chống phá ta về chính trị, đòi ta tự do hoá về chính trị theo hướng dân chủ tư sản; núp dưới  chiêu bài dân chủ nhân quyền để tuyên truyền tư tưởng tư sản và các quan điểm xã hội dân chủ. Kích động chia rẽ Đảng với Nhân dân, Nhà nước với Nhân dân và chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc”. Mặt khác xây dựng lực lượng chống đối, tạo dựng ngọn cờ đối lập trong nước kết hợp lực lượng phản động lưu vong ở nước ngoài để chống phá cách mạng Việt Nam.

Trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, trước âm mưu thủ đoạn "diễn biến hoà bình" của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta. Âm mưu "phi chính trị hoá quân đội" là một thủ đoạn thâm độc trong chiến lược "diễn biến hoà bình" của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm chống phá chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Thực chất khẩu hiệu phi chính trị hoá quân đội chính là làm cho quân đội  ta đứng ngoài chính trị, mất phương hướng và mục tiêu chiến đấu; là mưu đồ tước bỏ sự lãnh đạo của Đảng  cộng sản Việt Nam đối với quân đội, vô hiệu hoá vai trò quân đội công cụ bạo lực sắc bén của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

khucvu

Thứ Hai, 4 tháng 7, 2022

Nhận diện về chiến lược "diễn biến hoà bình"


Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam: “Diễn biến hòa bình là chiến lược cơ bản nhằm lật đổ chế độ chính trị  của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động đứng đầu là Mỹ tiến hành”.  Đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch đã tiến hành các nội dung, biện pháp, thủ đoạn linh hoạt, phù hợp với sự thay đổi của tình hình thế giới và tình hình cụ thể của từng nước, chúng chống phá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực; tập trung vào chống phá về chính trị- tư tưởng là khâu đột phá.

Chiến lược "diễn biến hoà bình" của đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch tuy được che đậy bởi các thủ đoạn phi quân sự là chủ yếu, hết sức tinh vi, xảo quyệt, nhưng bản chất của chiến lược "diễn biến hoà bình" vẫn là bản chất phản cách mạng, chống chủ nghĩa xã hội rất phản động và cực kỳ nguy hiểm. Đặc trưng của chiến lược “diễn biến hoà bình” của đế quốc Mỹ là:

Sử dụng các biện pháp phi vũ trang để chống phá các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào độc lập dân tộc bằng phương thức hoà bình, từng bước gây ảnh hưởng có lợi tiến tới xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, dập tắt phong trào cách mạng, phong trào độc lập dân tộc. Thông qua ngoại giao, kinh tế, văn hoá rồi đến chính trị để làm sụp đổ các nước xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, dùng sức mạnh quân sự để răn đe, làm áp lực hậu thuẫn cho các thủ đoạn trên.

 Sự tác động từ bên ngoài tạo sự chuyển hoá, diễn biến từ bên trong, khác với các cuộc chiến tranh thông thường bằng vũ lực; "diễn biến hoà bình" chủ yếu dùng lực lượng con người, phương tiện của đối phương đánh phá từ trong nội bộ đối phương với sự hỗ trợ từ bên ngoài làm cho đối phương mơ hồ, mất cảnh giác, ngộ nhận về bản chất phản động của chủ nghĩa đế quốc, làm cho đối phương tự diễn biến, biến đổi, suy yếu, sụp đổ nhanh chóng.

khucvu

 CẦN THIẾT ĐỊNH HƯỚNG CHO HỆ GIÁ TRỊ
VĂN HÓA VIỆT NAM HIỆN NAY

Hệ giá trị văn hóa Việt Nam cũng chính là hệ giá trị con người Việt Nam, hay về cơ bản trùng với hệ giá trị con người Việt Nam. So với vài thập niên trước đây, văn hóa Việt Nam hiện nay, ở tất cả các dạng hoạt động và với tất cả các loại hình của nó, đều có những thay đổi theo cả hai chiều tích cực và tiêu cực. Ở khá nhiều loại hình thuộc hoạt động văn hóa, hệ giá trị văn hóa Việt Nam đã không còn lạc lõng, không còn thua kém bao nhiêu so với các nền văn hóa được đánh giá là mạnh. 

Tuy nhiên, dưới tác động của mặt trái cơ chế thị trường, tác động của làn sóng toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, trong đó có hội nhập về văn hóa thì hệ giá trị văn hóa Việt Nam hiện nay cần nhìn nhận có những tiêu cực đáng ngại như: đạo đức xuống cấp, con người bị tha hóa, sự lệch lạc về giá trị, giả dối lại được coi là bình thường và niềm tin bị suy giảm…. muốn cho đất nước phát triển, văn hóa trở lại với các chân giá trị, thì mỗi các nhân và các tổ chức xã hội phải thật sự nghiêm khắc với những phản giá trị này. Do vậy, tiếp thu trọn vẹn tinh thần Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng ngày 24.11.2021, tại Hà Nội, do Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức là cần thiết và quan trọng. Sau 75 năm, kế thừa những tinh hoa đã đúc rút được từ hai Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 1946, 1948, Hội nghị Văn hóa toàn quốc 2021 là sự nối tiếp mạch nguồn “văn hóa soi đường cho quốc dân đi”.

 


 

VỮNG VÀNG NƠI "TIỀN ĐỒN" CỦA TỔ QUỐC.


Những người lính Nhà giàn DK1 (viết tắt của cụm từ Dịch vụ - Khoa học kỹ thuật, phục vụ mục đích dân sự trên thềm lục địa phía Nam) vẫn hiên ngang giữa sóng gió trùng khơi, kiên cường bảo vệ vững chắc thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc.
Vùng biển DK1 thời tiết vô cùng khắc nghiệt, song ở nơi được ví như “mặt trời rực lửa” ấy, cán bộ, chiến sĩ Nhà giàn DK1/19 vẫn miệt mài huấn luyện sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ), nêu cao cảnh giác, bám sát mục tiêu lạ, theo dõi, xử lý những con tàu “không mời mà đến”. Chứng kiến hình ảnh “lăn, lê, bò, trườn” dưới cái nắng cháy da cháy thịt, chúng tôi thấu hiểu được vất vả và cả những nỗ lực của cán bộ chiến sĩ nơi đây.
Theo Trung tá Phạm Công Trãi, Chỉ huy trưởng Nhà giàn DK1/19, Nhà giàn được xây dựng tại bãi cạn Quế Ðường, một trong những “tiền đồn” bảo vệ thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc nên bất kể ngày hay đêm, nắng hay mưa, việc cảnh giác SSCĐ luôn được đặt lên hàng đầu. Khu vực biển DK1 nằm cạnh đường hàng hải quốc tế, nước ngoài thường xuyên sử dụng tàu nghiên cứu, tàu giả dạng, tàu chiến vào thăm dò địa chất, trinh sát và đánh bắt hải sản trái phép. Để bảo vệ chủ quyền, giữ bình yên cho việc khai thác tài nguyên trên thềm lục địa phía Nam, hằng ngày, hàng giờ, lính nhà giàn phải căng mắt theo dõi tình hình trên biển, trực canh quan sát mặt biển để mời những con tàu “bỗng dưng xuất hiện” ra khỏi vùng biển, đồng thời báo cáo ngay về đất liền và các lực lượng chức năng để có phương án xử lý, không để bị động, bất ngờ. Nhờ đó mà nhiều năm qua, vùng biển DK1 luôn bình yên, không một mục tiêu lạ nào trên bầu trời không được phát hiện và xử lý kịp thời. 100% cán bộ, chiến sĩ duy trì nghiêm các chế độ trực; không để bị động bất ngờ, chủ động phát hiện sớm từ xa các loại mục tiêu.
33 năm qua, Tiểu đoàn DK1 được Đảng, Nhà nước tặng nhiều phần thưởng cao quý như: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ đổi mới, Huân chương Bảo vệ Tổ quốc Hạng ba, Huân chương Chiến công Hạng ba. Ngoài ra, đã có hơn 2.000 tập thể, cá nhân được tặng bằng khen, giấy khen, chiến sĩ thi đua, chiến sĩ tiên tiến.
Đại úy Hoàng Đình Bình, Phó Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn DK1, cho biết chốt giữ, bảo vệ chủ quyền trên các nhà giàn là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, cơ bản, xuyên suốt trong tình hình hiện nay. Do đó, Tiểu đoàn DK1 luôn chú trọng công tác huấn luyện cho cán bộ, chiến sĩ theo phương châm “Cơ bản, thiết thực, vững chắc”. Việc huấn luyện trên các nhà giàn khó khăn hơn ở đất liền do sóng to gió lớn, lại không có vật che chắn, nhưng công tác huấn luyện vẫn bảo đảm nghiêm túc, bài bản. Ban ngày, mọi người tập điều lệnh đội ngũ, rèn luyện thể lực, ngắm bắn mục tiêu trên không, mặt biển, đêm đến lại huấn luyện phát hiện mục tiêu từ xa, quan sát mặt biển khi có biệt kích.
Hiện nay, trên thềm lục địa phía Nam có 15 Nhà giàn DK1 ở các bãi cạn Ba Kè, Huyền Trân, Quế Đường, Phúc Nguyên, Tư Chính, Cà Mau. Nhà giàn xa đất liền nhất là nhà giàn Ba Kè C, cách đất liền khoảng 630km; nhà giàn DK1/10 (bãi cạn Cà Mau, tỉnh Cà Mau) cách mũi Cà Mau gần 200km, cách tỉnh An Giang 385km.
Nhờ phát huy hết công suất trong huấn luyện SSCĐ, 100% cán bộ, chiến sĩ đều làm chủ các loại phương tiện, trang bị kỹ thuật; kết quả kiểm tra huấn luyện hàng năm đều được Vùng 2 Hải quân và Quân chủng Hải quân đánh giá tốt.
“33 năm liên tục bám biển, gắn bó với vùng biển, thềm lục địa phía Nam Tổ quốc, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ DK1 đã xây đắp nên truyền thống kiên cường, dũng cảm, vượt mọi khó khăn, đoàn kết, kỷ luật, giữ vững chủ quyền. Đó là niềm vinh dự, niềm tự hào và trọng trách to lớn mà thế hệ cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn DK1 hôm nay đang gìn giữ, phát huy trong thực hiện nhiệm vụ”, Trung tá Nghiêm Xuân Thái, Chính trị viên Tiểu đoàn DK1 nói./.
Bài, ảnh: MINH NHÂN
Nguồn: Bà Rịa - Vũng Tàu
Ảnh: Cán bộ, chiến sĩ Nhà giàn DK1 huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc.
Có thể là hình ảnh về 7 người và mọi người đang đứng
Thích
Bình luận
Chia sẻ

VIỆC TỬ TẾ "HÀNH ĐỘNG ĐẸP CỦA NHỮNG NGƯỜI XA LẠ VÀ CỤ ÔNG NẰM KHÓC GIỮA RUỘNG DƯA HẤU BỊ PHÁ HOẠI"

Tối 4/7, anh Dũng Nguyễn Quân (ở Nghệ An) cho biết, chiều cùng ngày anh đã đến nhà ông Phan Văn Tôn (ở xã Diễn Kỷ, Diễn Châu, Nghệ An) trao 52 triệu đồng do anh quyên góp, kêu gọi mọi người để ủng hộ ông Tôn sau khi ruộng dưa hấu bị kẻ xấu phá.
Theo anh Dũng Nguyễn Quân, khi đến gặp trực tiếp anh thấy ông Tôn là người nhân hậu, hiền lành. Hoàn cảnh của ông Tôn cũng rất khó khăn, tuổi đã cao nhưng ông phải nuôi thêm 2 cháu nhỏ của người con gái không được bình thường.
“Ông ấy kể với tôi nhiều hôm không có tiền mua sữa cho cháu ăn đành phải lấy nước sôi pha với đường cho cháu uống. Nhìn 2 ông bà già nuôi 2 cháu nhỏ thấy xót xa. Khi nhận được số tiền hơn 52 triệu đồng ông Tôn rất xúc động và cảm ơn mọi người đã giúp đỡ ông lúc khó khăn”, anh Dũng Nguyễn Quân nói.
Lãnh đạo UBND xã Diễn Kỷ (Diễn Châu, Nghệ An) cho biết, công an đang vào cuộc, điều tra làm rõ sự việc ruộng dưa hấu nhà ông Tôn bị phá hoại. Khi nào có thông tin, chính quyền sẽ thông tin cụ thể.
Theo vị lãnh đạo này, vợ chồng ông Tôn có hoàn cảnh khó khăn. Vợ chồng ông sống hiền lành, không thù oán, nợ nần gì với ai. Hiện cũng chưa rõ nguyên nhân nào hay ai phá hoại ruộng dưa.
Trước đó, trên mạng xã hội lan truyền hình ảnh ghi lại cảnh ông Tôn nằm vật lộn khóc lóc khi chứng kiến hàng trăm quả dưa hấu đến kỳ thu hoạch của gia đình bị kẻ xấu đập vỡ nát.
Nhìn cảnh cụ ông khóc lóc, đau xót khi bị kẻ xấu phá hoại vườn dưa, ai cũng bất bình. Mọi người đều mong muốn cơ quan chức năng địa phương cần sớm vào cuộc điều tra làm rõ, để kẻ xấu phá hoại ruộng dưa phải chịu trách nhiệm.
Đến sáng 4/7, ông Tôn đã lên trình báo với xã về việc vườn dưa hấu của gia đình bị kẻ xấu phá.
Nguồn :Tổ Quốc trong tim
Có thể là hình ảnh về 5 người, trẻ em, mọi người đang đứng, cây và ngoài trời


Lợi dụng các vấn đề "nóng" để chống phá Đảng

Thời gian gần đây trước trong và sau khi diễn ra Hội nghị Trung ương 5/khóa XIII. Các lực lượng phản động, cơ hội chống đối chính trị trong và ngoài nước đã đẩy mạnh phát tán tin, bài tuyên truyền xuyên tạc về đường lối, chủ trương của Đảng trong xác định quyền sở hữu về đất đai. Chúng cho rằng Việt Nam vẫn kiên định theo chủ trương "đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý" sẽ không giải quyết triệt để tình trạng tham nhũng, tiêu cực troquản lý và thống nhất để mục đích vừa tập trung vừa có sự điều tiết phù hợp, chứ như lực lượng phản động, cơ hội chống đối đòi đa sở hữu thì sẽ chăm hoa đua nở ai thích làm gì thì làm còn loạn cả lên. Lúc đó thì sẽ ra sao thích bán cho ai thì bán làm gì thì làm thậm trí bán rẻ cả Tổ quốc.Tác giả viết bài này muốn đưa ra để mọi người hiểu và đồng tình trong chủ trương của Đảng "Đất đai vẫn thuộc sở hữu toàn dân" nhưng phải có người đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, để điều tiết cho khoa học và phù hợp.

 

TẦM QUAN TRỌNG CỦA SỰ LỰA CHỌN TƯ TƯỞNG DẪN ĐƯỜNG ĐÚNG ĐẮN LÀM NỀN TẢNG ĐỊNH HƯỚNG CHO MỘT CHẾ ĐỘ

 Trong lịch sử phát triển xã hội loài người nói chung, đặc biệt kể từ khi xã hội có giai cấp xuất hiện cho đến nay, lý luận về phát triển giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Trong thế kỷ XX, nhân loại đã từng chứng kiến vai trò tích cực và tiêu cực của nhiều học thuyết. Một thời kỳ dài, lý luận về nhà nước và các học thuyết kinh tế đã giúp cho các cá nhân và quốc gia dưới sự thống trị của giai cấp tư sản thành công và duy trì được vai trò thống trị của mình. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã dẫn đến thành lập các Đảng Cộng sản, Cách mạng Tháng Mười và nước Nga Xô-Viết đã ra đời - nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới - mở ra một thời đại mới cho nhân loại, vạch ra con đường giải phóng dân tộc cho các nước thuộc địa trên thế giới, trong đó có cách mạng Việt Nam. Chủ nghĩa phát xít đã dẫn tới Chiến tranh thế giới thứ II - một thảm họa lớn của nhân loại… Chủ nghĩa tự do cũ và mới, mà Hoa Kỳ là tiêu biểu đã phát triển mạnh mẽ rồi rơi vào khủng hoảng. Chủ nghĩa xã hội dân chủ và “con đường thứ ba” đã và đang tồn tại ở các nước Bắc Âu, Cộng hoà Liên bang Đức… với những thành quả và khó khăn thể hiện trong các cuộc khủng hoảng chính trị - xã hội…sự biến đổi không có điểm dừng của an ninh thế giới hiện tại buộc các nước phải nhanh chóng đưa ra quyết sách của mình một cách mau lẹ và dòi hỏi độ chính xác cao.

Sau khủng hoảng và sụp đổ của của các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu (1989 - 1991), có học giả cho rằng chủ nghĩa xã hội đã đi vào hồi kết. Nhưng cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ nước Mỹ (năm 2007 - 2009) và hiện nay phong trào “Chiếm phố Uôn” nổ ra từ nước Mỹ lan rộng ra các nước tư bản phát triển đã cho người ta thấy chủ nghĩa tư bản sẽ không bao giờ có thể thay đổi bản chất của một xã hội bất công, một xã hội luôn chứa đựng đầy mâu thuẫn. Sự phục hồi ngày càng mạnh mẽ của các nước xã hội chủ nghĩa còn lại: Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba, Lào…và phong trào cánh tả đang lan rộng trên toàn cầulại tiếp tục minh chứng cho sự trường tồn của Chủ nghĩa Mác - Lênin.

Một kinh nghiệm xương máu rút ra từ tiến trình cải tổ, cải cách của các nước xã hội chủ nghĩa trong thập kỷ 80, 90 của thế kỷ XX là đã không phát triển được lý luận mác-xít đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống. Đặc biệt là, các Đảng Cộng sản không đánh giá đúng tầm quan trọng của cuộc đấu tranh trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng, đã du nhập các quan điểm dân chủ, nhân quyền cực đoan của phương Tây, như: đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập… dẫn tới sự sụp đổ một bộ phận quan trọng của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế hiện nay của thế giới. Chúng ta cần tin và sự lựa chọn đúng đắn của Đảng ta, đó là: "Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của mình"[1]. Sự lựa chọn đó đã được Đảng Cộng sản Việt Nam chứng minh sau 92 năm (kể từ khi Đảng ra đời 03/02/1930); 76 năm thành lập nước (02/9/1945). Ngày nay, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải nắm vững, kế thừa và phát triển theo yêu cầu thực tiễn của cuộc sống./.


[1] Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011).

Đối ngoại Quốc phòng Việt Nam trong lịch sử (tiếp theo)

 

Sau khi thay thế Nhà Tiền Lê, Nhà Lý lên ngôi đã cho sứ giả sang giao hảo với Nhà Tống ở Trung Quốc. Song Nhà Tống có ý từ chối quan hệ với nước ta và âm mưu chuẩn bị xâm lược.

 Hiểu được ý đồ đó của giặc, Lý Thường Kiệt xuất quân đánh vào tận cơ sở lương thảo, hội quân của địch ở Ung Châu. Trong thắng lợi của trận Ung Châu, đã ghi nhận tài năng quân sự và ngoại giao của Lý Thường Kiệt. Ông cho tuyên truyền “Lộ bố văn” vạch trần những sai trái của triều đình Nhà Tống và nói rõ mục đích cuộc tiến công của quân ta là không cướp nước, hại dân, nên được dân Tống ủng hộ, giúp đỡ. Sau khi đưa quân sang xâm lược nước ta thất bại buộc quân Tống phải rút về nước. Thông qua bang giao hữu hảo, Nhà Lý nắm chắc được binh tình Nhà Tống, đấu tranh đòi lại đất Quảng Nguyên. Trong suốt những năm sau đó, do chính sách ngoại giao linh loạt của Nhà Lý mà hai nước giữ được mối quan hệ hữu hảo; Nhà Tống từ bỏ ý đồ xâm lược Đại Việt.

MLN. Nh

Đối ngoại Quốc phòng Việt Nam

 


Sau khi dẹp được nạn “Ngũ đại thập quốc” thống nhất Trung Quốc, Nhà Tống đem quân xâm lược Đại Việt. Song đã bị thập đạo tướng quân Lê Hoàn lãnh đạo toàn dân đánh bại. 

Với chính sách ngoại giao vừa cứng rắn, vừa mềm dẻo của Lê Hoàn Mềm dẻo để giữ hòa hảo giữa hai nước, cứng rắn để hạn chế thái độ hống hách nước lớn, chính vì vậy gần 100 năm sau, mặc dù nhiều lần Nhà Tống muốn đưa quân xâm lược nhưng không dám thực hiện.

MLN. Nh

Đối ngoại Quốc phòng Việt Nam (tiếp theo)

 

Sau khi đánh thắng quân Nam Hán, Ngô Quyền lên ngôi Vua và từ đây mở ra thời kỳ độc lập, tự chủ cho nước ta.

Sau khi giàng được độc lập, Ngô Quyền đã cắt đứt sự lệ thuộc vào các vương triều phương Bắc tren các phương diện. Về đối ngoại, Ông không giao thiệp với Nam Hán cũng như không liên hệ với nước nào trong “Ngũ đại thập quốc” lúc ấy. Song cũng cho phép những người phương Bắc chạy loạn và tướng sĩ giặc bại trận chạy sang được định cư ở nước ta. Chính sách đối ngoại của Ngô Quyền đã có tác dụng giữ được hòa khí hai bên tạo nên sự ổn định cho đất nước trong thời gian Ông nắm quyền.

MLN. Nh

Đối ngoại Quốc phòng trong lịch sử (tiếp theo)

 

Thời kỳ dưới ách đô hộ của phong kiến phương Bắc

Trong suốt thời kỳ dưới ách đô hộ của phong kiến phương Bắc - thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc mỗi khi giành được độc lập, chủ quyền cho đất nước, ông cha ta đã luôn chủ động đặt mối quan hệ bang giao, đấu tranh ngoại giao mềm dẻo, linh hoạt với các triều đại phong kiến phương Bắc. 

Để thực hiện có hiệu quả, các triều đại phong kiến Việt Nam chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ quan chức triều đình về nghi lễ ngoại giao, tổ chức các cuộc thi tuyển nhân tài về ngoại giao để làm sứ giả.

MLN. Nh

Đối ngoại Quốc phòng Việt Nam trong lịch sử

 


Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam đã tạo dựng, phát triển nền ngoại giao, đối ngoại giàu bản sắc, nhan đọa, nhân văn, hòa bình, hữu nghị, đoàn kết, thân ái

Ngay từ buổi đầu sơ khai, tổ tiên ta đã sớm có ý thức và luôn coi trọng quan hệ bang giao với các quốc gia láng giềng, đặc biệt là quan hệ giữa nước ta với phương Bắc. Qua sử sách và các tư liệu thành văn của nước ngoài, có thể thấy được hoạt động ngoại giao của tổ tiên ta có từ rất sớm. Hoạt động ngoại giao ở thời kỳ này được thể hiện thông qua việc tuyển chọn, bồi dưỡng người có tài, đức để giao trọng trách làm sứ giả, phái bộ… Thực hiện viếng thăm, giao lưu, tặng quà, học hỏi kinh nghiệm sản xuất, xây dựng, quản lý đất nước…

MLN. Nh

ĐỒNG HƯƠNG TRONG SÁNG, ĐỒNG CHÍ BỀN LÂU!


Tôi-một cựu binh 60 tuổi, 40 năm quân ngũ mới về hưu xin được kể với các bạn lính trẻ một vài kỷ niệm thời mới nhập ngũ chung quanh chuyện đồng hương!
Năm 1981, vừa tốt nghiệp phổ thông, như bao chàng trai khác, tôi vào bộ đội. Sau 3 tháng huấn luyện, tôi và một bạn cùng làng được điều về đơn vị trực tiếp chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc. Đúng vào thời kỳ đất nước đang ở giai đoạn khó khăn nhất, chiến tranh lại căng thẳng nên cuộc sống của những người lính chúng tôi gặp muôn vàn gian nan, vất vả. Không sợ hy sinh. Nhưng đang là thanh niên tuổi ăn tuổi ngủ, vừa là học sinh nay phải gác chốt dưới trời nắng như đổ lửa, rét thì thấu xương. Mỗi khi vận động lên tới chốt đã vã mồ hôi, còn phải làm nhiệm vụ... Đói và khát. Và nhớ nhà, nhớ quê. Cồn cào!!!
Rất may, trong tiểu đội, tôi có bạn đồng hương, đồng niên, đồng môn nay là đồng ngũ. Càng xa quê tình đồng hương càng quý bội phần. Càng lúc gian nan, tình làng nghĩa xóm càng vô ngần yêu mến. Hai đứa tôi, chuyện gì cũng kể với nhau, ăn gì cũng nhường nhau, kể cả ngụm nước uống, tất nhiên việc gì cũng giúp nhau. Trong tiểu đội tránh sao khỏi những cuộc tranh cãi, hai đứa tôi ủng hộ và bênh nhau ra mặt. Thật đúng là hơn anh em ruột! Một lần, nhờ giành thành tích cao, bạn tôi được thưởng phép. Khỏi phải nói hai đứa vui mừng như thế nào. Nó về cũng chẳng khác gì tôi về. Tôi còn bảo nó sang nhà lấy bản chính giấy khai sinh để bên quân lực đối chiếu (chắc có sai sót, nhầm lẫn gì đó!). Khi nó lên kể chuyện quê, nhận quà bố mẹ, anh em gửi, tôi cảm thấy ấm lòng như vừa được về nhà vậy!
Nhưng chúng tôi càng thân thiết thì càng cảm thấy sự xa lánh của các anh em khác trong đơn vị. Hình như họ ghen với chúng tôi (?!). Hình như có sự kỳ thị... Một tối, tiểu đội trưởng gọi riêng hai đứa ra nói chuyện, đại ý anh nói tình đồng hương là thiêng liêng, rất quý nhưng hai em nên nhớ trong tiểu đội cũng như trong một nhà, ai cũng như ai. Các em chỉ sống bằng tình đồng hương, tự nhiên sẽ tạo ra khoảng cách với người khác...!!!
Trời ơi! Thế mà chúng tôi không nghĩ ra. Đã thế lại còn coi đó là niềm tự hào. Thì ra sự hãnh diện cỏn con và niềm tự hào cá nhân ích kỷ đôi khi vô tình làm tổn thương, làm rạn nứt những mối quan hệ tốt đẹp khác. Sau này va chạm nhiều, được học hành nhiều, tôi càng cảm ơn vô cùng người tiểu đội trưởng đầu tiên ấy!
“Đồng hương” có nghĩa là những người cùng làng (đồng nghĩa là cùng; hương nghĩa là làng. Từ “hương ước” theo nghĩa này, để chỉ luật lệ, quy tắc của làng xã cổ truyền). Về sau người ta hiểu “hương” theo nghĩa rộng, cùng tỉnh cũng là “đồng hương”. Mặt tích cực của “đồng hương”, như chuyện của tôi thì đáng quý vô cùng. Ai cũng vậy, ở nơi xa xôi, người cùng làng gặp nhau, được nghe cái thổ ngữ quen thuộc từ tấm bé, được nghe kể về sự thay đổi của quê mình, được động viên, chia sẻ, được khuyến khích, giúp đỡ, được đến thăm nhau hàn huyên về những dự định tốt đẹp cho cá nhân, cho quê hương... Thật như được trở về nhà vậy!
Tư duy làng xã luôn có hai mặt tích cực và tiêu cực. Quan hệ đồng hương cũng vậy. Như chuyện của tôi ở trên, chỉ vì mình thiếu tế nhị, có phần cực đoan mà đã xuất hiện dấu hiệu ban đầu của sự thiếu đoàn kết, gắn bó trong đơn vị. Chưa nói tới có người còn lợi dụng tình đồng hương để làm những việc cá nhân, thiếu đứng đắn, tư lợi, cục bộ... Lại xin kể tiếp câu chuyện thời trước...
Sau thời hạn hoàn thành nhiệm vụ giữ chốt, tiểu đội tôi được lệnh rút về phía sau ổn định tình hình để nhận nhiệm vụ mới. Hẳn nhiên chúng tôi đỡ vất hơn, thư thái hơn. Nhiều đứa có tâm lý muốn “sổ lồng”. Trong đơn vị, có cậu X cùng huyện với tiểu đội trưởng. Tuy khác xã nhưng gần nhà nên cả hai đều biết làng quê nhau khá cụ thể. Tiểu đội trưởng rất nghiêm nên không thấy ai phàn nàn chuyện “ưu ái” đồng hương cả. Hôm ấy cậu X xin phép được ra phố tìm hiểu với lý do trước đó bố cũng là bộ đội đóng quân ở đó, nay muốn ra xem tình hình thế nào. Nằn nì mãi tiểu đội trưởng cũng xiêu lòng đồng ý cho đi trong thời hạn hai tiếng cùng với một đồng chí khác... Nhưng chẳng ai học hết chữ “ngờ”! Một tiếng sau đại đội báo động kiểm tra quân số... Tất nhiên tiểu đội trưởng bị kỷ luật. Anh phải chuyển sang đơn vị khác... Cả tiểu đội ngẩn ngơ, tiếc thành tích cả năm giời đổ xuống sông xuống biển. Tiếc một người anh giỏi giang, tốt tính, nghiêm túc, một phút sai lầm mà có khi lỡ cả sự nghiệp...
Có thể khi người tiểu đội trưởng đồng ý thì vừa có phần “cả nể” cậu X có bố cũng là bộ đội, vừa ít nhiều có phần “thông cảm” tình “đồng hương”. Nhưng rõ ràng anh đã vi phạm điều lệnh... Cái hối hận của X, theo cậu ấy sau này kể lại, thì day dứt suốt cuộc đời!!!
Càng trưởng thành tôi càng ngẫm sâu hơn về “đồng hương”. Mặt trái dễ nhận ra là làm sống dậy cái tâm lý tiểu nông làng xã ngàn xưa. Do sinh sống và canh tác trên mảnh đất của văn minh nông nghiệp lúa nước nên cái làng là một pháo đài được vây kín bởi lũy tre như một vương quốc thu nhỏ. Người dân quen lệ làng hơn là phép nước (“phép vua thua lệ làng”). Trong lũy tre ấy, người ta quan hệ với nhau trước là theo tôn ti trật tự dòng tộc, sau nữa mới là “trong làng ngoài xã”... Ngày hôm nay, cái lối sống ấy tản ra nhiều không gian khác nhau. Vẫn còn tàn dư một nếp xưa cũ với “một người làm quan cả họ được nhờ”. “Thứ nhất quan hệ...”, thì một sự “móc nối quan hệ” là bằng con đường “đồng hương”. Ai cũng đều có một quê hương, có một cái làng của mình. Rất có thể khi một vị “quan” về làng sẽ được nhận thêm bao mối “quan hệ đồng hương”! Thế là cũng rất có thể sẽ dần xuất hiện căn bệnh cục bộ, địa phương, bè phái...
Đồng hương là đáng quý, là thiêng liêng. Vấn đề cơ bản là hướng sự quý báu, thiêng liêng ấy đi đúng vào quỹ đạo của sự giúp đỡ nhau một cách vô tư, hài hòa với lợi ích chung của cơ quan, tập thể, rộng hơn là đất nước./.
Nguồn: Báo QĐND
Có thể là tranh biếm họa về một hoặc nhiều người, mọi người đang đứng và ngoài trời
1

KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH ĐẨY LÙI NHỮNG BIỂU HIỆN ĐỘC ĐOÁN, GIA TRƯỞNG, QUÂN PHIỆT.


Quán triệt quan điểm kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên, Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương “Về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới” đã chỉ rõ những biểu hiện cụ thể của chủ nghĩa cá nhân cần phải chủ động phòng ngừa và đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi.
Biểu hiện thứ 8 trong 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, đó là: “Độc đoán, gia trưởng, quân phiệt, coi thường tập thể; buông lỏng lãnh đạo, quản lý, chỉ huy, quan liêu, thiếu sâu sát; xử lý các sai phạm của cấp dưới không cương quyết, thiếu khách quan; thờ ơ, vô cảm, bàng quan trước những khó khăn, nguyện vọng chính đáng của đồng chí, đồng đội và nhân dân”.
Cảnh báo hiện tượng làm xói mòn bản chất tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ
Trong tâm khảm, ký ức mỗi người lính, từ binh nhất đến vị tướng, trong cuộc đời quân ngũ của mình, hầu như ai cũng thấm nhuần sâu sắc lời thề thứ 7 trong 10 lời thề danh dự của quân nhân, đó là: “Đoàn kết chặt chẽ với nhau như ruột thịt, trên tình thương yêu giai cấp, hết lòng giúp đỡ lẫn nhau lúc thường cũng như lúc ra trận; thực hiện toàn quân một ý chí”.
Có thể khẳng định rằng, đây là lời thề cô đọng nhất, sâu sắc nhất, thể hiện và tiếp nối truyền thống “tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào” trong văn hóa quân sự của ông cha ta; đồng thời phản ánh sự gắn bó mật thiết của những người cùng chung mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi, sẵn sàng hy sinh cả tính mạng để bảo vệ Tổ quốc và bảo vệ đồng chí, đồng đội mình.
Quân đội ta là một đội quân cách mạng, đội quân văn hóa. Vẻ đẹp nhân cách Bộ đội Cụ Hồ thống nhất ở niềm tin, lý tưởng cách mạng, ở tinh thần cống hiến, hy sinh và ở tình cảm đoàn kết cán binh mật thiết, trên dưới một lòng. Điều này khác xa với thái độ, hành vi “độc đoán, gia trưởng, quân phiệt, coi thường tập thể”-những biểu hiện trái ngược hoàn toàn với phẩm chất truyền thống tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ.
Độc đoán là thái độ xử sự, lề lối làm việc nặng về áp đặt cá nhân, lợi dụng chức trách, quyền hạn, vị trí công tác của mình để định đoạt công việc theo ý riêng bản thân, bất chấp ý kiến xây dựng đúng đắn của người khác. Gia trưởng là thể hiện thái độ bề trên, cái gì cũng cho mình là đúng, là phải rồi tự ý phán quyết hầu hết mọi việc của đơn vị. Quân phiệt là cậy thế, cậy quyền để có lời nói, thái độ, hành vi xúc phạm, lăng mạ, sỉ nhục cấp dưới. Coi thường tập thể là xem nhẹ vai trò tập thể, không lắng nghe những góp ý, tư vấn, phản biện khoa học của tập thể cấp ủy, thiếu tôn trọng số đông cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị.
Trước hết cần khẳng định rằng, hầu hết đơn vị hiện nay luôn giữ gìn truyền thống đoàn kết cán-binh, trên-dưới đồng lòng, nhưng cá biệt vẫn có đơn vị không khí nội bộ lại khá căng thẳng, nhân viên, chiến sĩ cấp dưới luôn sống trong cảm giác thiếu thoải mái. Tìm hiểu mới biết nguyên nhân sâu xa là do cấp dưới sợ sệt cán bộ chỉ huy cấp trên. Vì cấp trên không những không thường xuyên gần gũi, chia sẻ, động viên cấp dưới mà nhiều lúc còn quát mắng, đe nẹt chiến sĩ.
Trên thực tế, dù hành vi quân phiệt bằng bạo lực hiện nay cơ bản đã được chấm dứt, nhưng hành vi bạo lực tinh thần (còn gọi là “bạo lực miệng”) vẫn còn tồn tại trong một bộ phận nhỏ cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở. Số cán bộ này thường vin vào tính cương trực, nóng nảy để nói với cấp dưới bằng những ngôn từ khó lọt tai, thậm chí dùng cả từ ngữ thông tục để chấn chỉnh, uốn nắn cấp dưới mắc khuyết điểm khiến anh em cảm thấy bị tổn thương về danh dự, nhân phẩm.
Lại nữa, có đơn vị khi báo cáo với lãnh đạo, chỉ huy cấp trên đến làm việc, kiểm tra thì khẳng định tình hình nội bộ đơn vị luôn đoàn kết thống nhất, trên dưới đồng thuận, nhưng chỉ sau một thời gian ngắn lại có đơn thư khiếu nại vượt cấp.
Bên cạnh đó, một số đơn vị tuy có duy trì chế độ đối thoại giữa cấp trên và cấp dưới, nhưng cấp dưới cũng không dám mở lòng nói thẳng, nói thật. Nguyên nhân sâu xa dẫn đến hiện tượng này, một mặt do cán bộ không thật sự thương yêu, tôn trọng cấp dưới, thiếu sự gần gũi, chia sẻ với cấp dưới; mặt khác cấp trên còn cố tạo ra khoảng khách với cấp dưới để chứng tỏ “cái uy”, “cái oai” của mình.
Nêu cao tình cảm cách mạng, nâng tầm phong cách ứng xử nhân văn của người cán bộ
Tổ chức quân đội có hệ thống chỉ huy chặt chẽ từ trên xuống dưới và đề cao kỷ luật tự giác, nghiêm minh. Việc phân định giữa cấp trên với cấp dưới cũng không ngoài mục đích tạo ra sự thống nhất về ý chí và hành động, bảo đảm cho mọi quân nhân nghiêm túc tuân thủ phương châm kỷ luật “Quân lệnh như sơn”, sẵn sàng nhận và thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ.
Do vậy, việc duy trì chế độ “Làm việc theo chức trách, hành động theo điều lệnh” là yêu cầu tất yếu để không ngừng củng cố, tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân đội nói chung, của mỗi đơn vị nói riêng.
Muốn góp phần phòng ngừa, hạn chế, đẩy lùi các biểu hiện độc đoán, gia trưởng, quân phiệt, trước hết đòi hỏi mỗi cán bộ cần nhận thức đúng đắn, giải quyết thấu đáo mối quan hệ giữa thực hiện nhiệm vụ theo cương vị, chức trách, quyền hạn được giao với đề cao tình cảm đạo đức cách mạng, yêu thương con người, tôn trọng cấp dưới. Cán bộ lãnh đạo, chỉ huy nào mà tuyệt đối hóa chức trách, cương vị, quyền hạn của mình dễ dẫn đến áp đặt ý chí chủ quan, ảo tưởng quyền lực, từ đó tự cho mình cái quyền đứng trên tập thể và coi thường người khác.
Yêu thương con người, tôn trọng cấp dưới chính là “bảo bối” giúp người cán bộ luôn tinh anh, sáng suốt, nhân văn trong quan hệ ứng xử với cấp dưới, từ đó có thể phòng tránh được những biểu hiện áp đặt vô lối đối với nhân viên, chiến sĩ thuộc quyền. Thấu hiểu, chia sẻ, đồng cảm với điều kiện, hoàn cảnh của những người ở vị trí công tác thấp bé hơn mình để có cách ứng xử phù hợp, thấu tình đạt lý cũng là một cách hữu hiệu giúp cán bộ phòng ngừa, tránh xa tư tưởng bề trên, thái độ trịch thượng, coi thường người khác.
Một trong những cội nguồn làm nên sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam trong gần 8 thập niên qua là tinh thần yêu thương đồng chí, đồng đội. Phẩm chất này vừa là biểu hiện cốt lõi trong truyền thống, bản chất của một quân đội cách mạng, vừa là giá trị cơ bản làm nên chuẩn mực văn hóa của Bộ đội Cụ Hồ.
Do vậy, trong thời bình hiện nay, cần thường xuyên tuyên truyền, giáo dục những giá trị truyền thống tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ, trong đó có truyền thống yêu thương đồng chí, đồng đội, giữ gìn tình cảm cấp trên-cấp dưới trong sáng, thân thiết. Đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ ở đơn vị cơ sở cần thấm nhuần sâu sắc và thực hiện tốt lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phong cách ứng xử đối với bộ đội, đó là “thân thiết như một người chị, công bình như một người anh, hiểu biết như một người bạn”.
Lời dạy của Bác ngắn gọn, súc tích, thể hiện tình cảm đạo đức cách mạng cao đẹp, phong cách ứng xử nhân văn không riêng của người chính trị viên, mà là của mỗi cán bộ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
“Độc đoán, gia trưởng, quân phiệt” không chỉ làm xói mòn bản chất truyền thống, đức tính tốt đẹp của người quân nhân cách mạng, mà nó còn cổ xúy những thói hư tật xấu, làm tha hóa nhân cách người cán bộ.
Dù đây chỉ là hiện tượng cá biệt, nhưng đúng như Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng từng bày tỏ trăn trở: "Dù bất cứ biểu hiện vi phạm kỷ luật nào của một số ít quân nhân đều làm ảnh hưởng rất xấu đến uy tín đơn vị, uy tín quân đội".
Do vậy, để phòng ngừa, giảm thiểu triệt để hiện tượng trái văn hóa quân sự này đòi hỏi các đơn vị phải chú trọng quan tâm chăm lo xây dựng môi trường văn hóa ứng xử thật sự thân thiện, nhân văn, làm cho cái tốt, cái đẹp không ngừng nảy nở, lan tỏa và thấm vào suy nghĩ và việc làm của mỗi quân nhân, qua đó gắn chặt thêm tình đoàn kết cán-binh, tạo động lực giúp cho cán bộ, chiến sĩ tăng thêm sức mạnh niềm tin, tình cảm cách mạng, ý chí khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, chung sức đồng lòng, nỗ lực phấn đấu vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ./.
Sưu tầm