Thứ Tư, 6 tháng 7, 2022

Phê phán luận điệu xuyên tạc "nhân quyền ở Việt Nam là hết sức tồi tệ"

 Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người là quan điểm nhất quán, xuyên suốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong bảo đảm quyền con người, nhưng các thế lực phản động, thù địch cố tình xuyên tạc, vu cáo, kích động Việt Nam với “Hồ sơ nhân quyền là hết sức tồi tệ”. Bài viết tập trung phân tích, nhận diện và phản bác các luận điệu xuyên tạc, vu cáo của các thế lực phản động, thù địch về nhân quyền ở Việt Nam, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Phê phán luận điệu xuyên tạc "nhân quyền ở Việt Nam là hết sức tồi tệ"

Việt Nam đã và đang chứng thực sinh động sự tôn trọng, bảo vệ, thực hiện và thúc đẩy nhân quyền trong điều kiện tác động của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế - Ảnh: nhanquyenvn.org

1. Luận điệu “nhân quyền ở Việt Nam là hết sức tồi tệ” thực chất là một cách nhìn hết sức tồi tệ về nhân quyền Việt Nam

Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành quả trong bảo vệ, bảo đảm thực hiện nhân quyền, nhưng lại nổi lên những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ về tình hình nhân quyền Việt Nam từ những tổ chức, cá nhân thù địch với chế độ xã hội tại Việt Nam, thậm chí họ cố tình quy chụp tình hình “nhân quyền ở Việt Nam là hết sức tồi tệ”. Chẳng hạn trong bản “Phúc trình Toàn cầu về tình hình nhân quyền năm 2021” của Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW) đã xuyên tạc rằng: “Trong năm 2020, Việt Nam tiếp tục vi phạm các quyền dân sự và chính trị cơ bản một cách có hệ thống”(1). Trả lời báo chí quốc tế, ông John Sifton, Giám đốc vận động châu Á của HRW cho rằng, Việt Nam về cơ bản đã hình sự hóa việc sử dụng internet hay các nền tảng mạng xã hội. Việc gia tăng trấn áp những người “cổ vũ cho tự do ngôn luận” được thực hiện trước thềm Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIII “để bảo đảm Đại hội diễn ra suôn sẻ và không bị các tiếng nói bất đồng chống đối”(2).

Luận điệu về “nhân quyền ở Việt Nam hết sức tồi tệ” thực chất là một cách nhìn hết sức tồi tệ về nhân quyền ở Việt Nam, bởi lẽ:

Thứ nhất, thông tin cóp nhặt, manh mún, xuyên tạc về bức tranh nhân quyền ở Việt Nam

Thực tế cho thấy, các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về nhân quyền, như các bản phúc trình toàn cầu về nhân quyền của HRW và các báo cáo của Mỹ về tự do tôn giáo, nhân quyền, buôn người, mắc hạn chế lớn là dựa trên những thông tin được thu thập theo kiểu cóp nhặt, cắt xén rời rạc, mang động cơ chính trị thực dụng, nên phiến diện và không phản ánh đúng thực tiễn nhân quyền tại Việt Nam. Thực tế qua những phiên tòa xét xử công khai, nghiêm minh, các đối tượng đều thừa nhận có hành vi vi phạm pháp luật. Việc các cơ quan chức năng tiến hành khởi tố, điều tra, xét xử công khai là việc làm cần thiết của một Nhà nước pháp quyền có chủ quyền nhằm ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật đến mức nguy hiểm của họ gây ra đối với xã hội. Hơn nữa, tại tòa, những người này đều công khai chấp nhận các kết luận của tòa về những tội danh của mình.

Thứ hai, cách nhìn mang động cơ thù địch về chính trị, chính trị hóa mọi vấn đề xã hội

Lợi dụng tình hình đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, các tổ chức khủng bố (Việt Tân, Triều Đại Việt, Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời) và một số đối tượng chống đối trong nước đã đưa ra nhiều thông tin xuyên tạc về tình hình chính trị, xã hội ở nước ta, để tác động xấu đến tư tưởng nhằm gây bất ổn từ bên trong(3). Ở Cuba cũng vậy, ngay sau cuộc biểu tình nổ ra vào ngày 11-7-2021, nhiều trang mạng tại phương Tây, nhất là Mỹ, đã tung các bài bình luận, đánh giá biểu tình chủ yếu xuất phát từ chế độ chính trị; từ đó xuyên tạc bản chất của chế độ XHCN và kích động, kêu gọi người dân Cuba lật đổ chế độ. Trong khi đó, từ giữa năm 2020 đến nay, biểu tình, kể cả bạo động, đàn áp người biểu tình, đã diễn ra ở nhiều nước trên thế giới (Anh, Pháp, Đức, Bỉ, Italia, Ôxtrâylia, Thái Lan...) do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Nếu cũng với cách nhìn mang động cơ thù địch về chính trị, liệu các đối tượng xấu có cho nguyên nhân biểu tình, bạo động trong đại dịch Covid-19 là xuất phát từ bản chất chính trị và người dân muốn lật đổ chế độ xã hội tại các nước này hay không?

Thứ ba, việc lắp ghép khiên cưỡng yếu tố đạo đức vào thuật ngữ pháp lý, phản ánh cách tư duy chiết trung, ngụy biện, thiếu đạo đức khi không có cơ sở pháp lý cần thiết

Thuật ngữ “tù nhân lương tâm” mà các thế lực thù địch thường rao giảng là sự lắp ghép khiên cưỡng yếu tố đạo đức vào khái niệm pháp lý. Tù nhân là cụm từ dành cho những người có hành vi vi phạm pháp luật, bị tòa án tuyên là có tội và phải chịu hình phạt tù theo quyết định có hiệu lực của tòa án. Việc một người bị phạt tù là hậu quả tất yếu khi người đó có hành vi phạm tội đã được quy định trong bộ luật hình sự, bị điều tra, truy tố, xét xử công khai, nghiêm minh tại tòa án. Cho nên trong nền tư pháp Việt Nam không có cái gọi là “tù nhân lương tâm”. Việc cài đặt khiên cưỡng yếu tố đạo đức vào một thuật ngữ pháp lý phản ánh một cách tư duy chiết trung, ngụy biện, thiếu đạo đức khi không có cơ sở pháp lý cần thiết để tố cáo Việt Nam về dân chủ, nhân quyền.

Cách gọi “tù nhân lương tâm” chỉ là một chiêu trò của các tổ chức, cá nhân thù địch với chế độ xã hội ở Việt Nam, nhằm cổ vũ, hậu thuẫn cho các đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam để dễ bề can thiệp vào việc bảo vệ, kích động những đối tượng này. Dựa vào chiêu bài “tù nhân lương tâm”, các đối tượng chống đối trong nước tìm cách tạo cớ cho những thế lực bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta, gây sức ép với chính quyền và xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, tiến tới gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự để thực hiện âm mưu thúc đẩy “cách mạng màu” nhằm chuyển hóa chế độ xã hội tại Việt Nam.

Tại Việt Nam cũng như ở bất kỳ quốc gia có chủ quyền nào khác, những đối tượng vi phạm pháp luật đều bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Hoàn toàn không có việc bắt giữ, điều tra, truy tố, xét xử đối với những đối tượng vi phạm pháp luật lại bị coi là đàn áp những người “bất đồng chính kiến” hay giam giữ “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị”, biến những kẻ vi phạm pháp luật thành nạn nhân, dễ bề đánh lừa dư luận trong và ngoài nước, lu loa với luận điệu nhân quyền ở Việt Nam là hết sức tồi tệ.

Thứ tư, diễn giải tư biện, trừu tượng về nhân quyền phổ quát

Nhân quyền phổ quát là quyền tự nhiên của mỗi người dựa trên nhân phẩm của con người. Các luận điệu phê phán Việt Nam thường cho Việt Nam (và các nước đang phát triển khác) xem xét nhân quyền theo một nội hàm quá rộng, nên chung chung, trừu tượng, mà coi nhẹ việc tôn trọng, bảo vệ, thực hiện quyền tự nhiên của những cá nhân cụ thể. Đúng là phải tôn trọng, bảo vệ, thực hiện quyền tự nhiên của cá nhân, nhưng không thể chỉ thấy quyền của bản thân một hay vài cá nhân cụ thể mà hy sinh quyền tự nhiên, trước hết của các cá nhân, nhóm xã hội trực tiếp liên quan đến những cá nhân đó. Bởi lẽ, nhân phẩm con người không chung chung, trừu tượng mà được thể hiện, tôn trọng, bảo vệ, thực hiện một cách tự nhiên trong thực tế ứng xử, quan hệ và hoạt động cùng với những cá nhân khác, trước hết là với những người sống quanh mình. Đó chính là biểu hiện tự nhiên của nhân quyền phổ quát. Vì thế không chỉ Việt Nam mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều tiếp cận và thực hành nhân quyền phổ quát không chung chung, trừu tượng, mà trong mối quan hệ tự nhiên giữa quyền cá nhân với quyền của nhóm xã hội hay quyền của cộng đồng. Chỉ khi quyền tự nhiên của cá nhân hài hòa với quyền tự nhiên của cộng đồng, trước hết là quyền tự nhiên của nhóm xã hội liên quan trực tiếp đến cá nhân đó, thì thuộc tính phổ quát của nhân quyền tự nhiên mới thành hiện thực.

Các luận điệu phê phán theo lối tư biện nhân danh tính phổ quát của nhân quyền tự nhiên của cá nhân cùng lối suy diễn một chiều thái quá và mang động cơ thù địch về chính trị, đã dựa trên một số thông tin chưa được kiểm chứng cùng sự kỳ thị đối với Việt Nam để cường điệu hóa quyền của một vài cá nhân, mà bỏ qua quyền của các cá nhân, nhóm xã hội trực tiếp liên quan đến sự vi phạm nhân quyền của cá nhân đó. Cách nhìn nhận hết sức tồi tệ này thể hiện rõ trong các bản phúc trình nhân quyền toàn cầu của HRW; khi tổ chức này lâu nay liên tục báo động về “một xu hướng nhân quyền tiếp tục xuống cấp nghiêm trọng tại Việt Nam”(4). Nếu theo luận điệu này thì cho đến nay, HRW hầu như chẳng còn thu thập được chất liệu bảo đảm quyền con người nào ở nước ta để “sản xuất” phúc trình về nhân quyền. Đó chính là một logic hết sức tồi tệ của các luận điệu phê phán nhân quyền tại Việt Nam.

Thứ năm, nhân danh nhân quyền phổ quát để che lấp ý thức hệ chính trị phương Tây

Ý thức hệ chính trị này vốn đẫm màu sắc chủ nghĩa đế quốc văn hóa, xem văn hóa phương Tây là trung tâm, coi nhân quyền phương Tây chi phối nhân quyền phổ quát toàn thế giới và cao hơn chủ quyền quốc gia. Nó lại bị chi phối bởi nguồn kinh phí hoạt động của những cá nhân, tổ chức dân sự nước ngoài theo cơ chế thị trường và không thiện chí với Việt Nam. Nên điều dễ hiểu là nó thường sai sự thật, thiên vị, mang màu sắc chính trị thực dụng, vụ lợi, thậm chí nhiều khi có tính chống đối công khai, trắng trợn và quyết liệt. Từ đó nó dễ gây ra phản ứng tiêu cực trong dư luận Việt Nam và cả thế giới. Thí dụ các bản phúc trình về nhân quyền của HRW thường bị phản ứng, bị chỉ trích tức thì do chịu quá nhiều tác động bởi thế lực cực hữu trong chính quyền Mỹ, như về Vênêxuêla hoặc các hoạt động bài Hồi giáo(5). Để huy động được nhiều vốn cho hoạt động, HRW còn lợi dụng tâm lý chống Ítxraen để “sản xuất” phúc trình về nhân quyền theo cơ chế có lợi cho việc gây quỹ; tại nước Ả rập Xê út giàu có bằng cách tập trung chỉ trích Ítxraen nhưng lại “nhẹ nhàng” với các chế độ độc tài trong khu vực(6).

Thứ sáu, vi phạm nghiêm trọng công ước và nguyên tắc quốc tế về cấm can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác

Cụ thể là đã vi phạm nghiêm trọng Điều 2, Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 và Nghị quyết 2625 năm 1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc cũng như trong nhiều điều ước quốc tế về nhân quyền. Theo Nghị quyết 2625: không quốc gia nào hay nhóm quốc gia nào có quyền can thiệp, trực tiếp hay gián tiếp, vì bất kỳ lý do gì vào công việc đối nội và đối ngoại của quốc gia khác. Mâu thuẫn nội tại của các luận điệu đó là mặc dù nhân danh nhân quyền phổ quát nhưng lại không tuân theo nguyên tắc điều chỉnh của luật nhân quyền quốc tế đối với chủ quyền quốc gia và trách nhiệm quốc gia, chẳng hạn theo Điều 1 của hai công ước quốc tế năm 1966 về các quyền dân sự, chính trị và kinh tế, xã hội, văn hóa cũng như theo “Tuyên bố về các nguyên tắc của luật quốc tế, điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc” (năm 1970).

Xuất phát từ những nguyên tắc đó, Nhà nước Việt Nam, trong nhiều văn bản pháp luật đã quy định rõ các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự nước ngoài, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam và thành viên của những cơ quan đó phải: tôn trọng pháp luật và phong tục, tập quán của Việt Nam; không can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. 

Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ và nền văn hóa do khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, chế độ chính trị, trình độ phát triển, giá trị truyền thống... nên cách tiếp cận nhân quyền phổ quát có thể khác nhau. Theo ông Lý Quang Diệu (Thủ tướng Xinhgapo), không ở đâu trên thế giới, các quyền này lại được phép thực hiện mà không có những giới hạn, vì nếu áp dụng một cách mù quáng những ý tưởng này có thể đi theo hướng hủy hoại xã hội có tổ chức(7).

2. Thực tế khách quan về tình hình nhân quyền tại Việt Nam

Một là, thành quả nhân quyền

Công tác bảo đảm quyền con người trong hơn 35 năm đổi mới ở nước ta đã thu được nhiều thành tựu nổi bật, như: Đã phổ cập giáo dục tiểu học và tất cả các tỉnh, thành phố đã đạt chuẩn giáo dục trung học cơ sở từ năm 2011. Trong năm 2019, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi chỉ còn 2%; trong đó khu vực thành thị là 2,93%, khu vực nông thôn là 1,55%. Việt Nam được quốc tế thừa nhận đã thực hiện tốt các “mục tiêu thiên niên kỷ” của Liên hợp quốc (giai đoạn 2001-2015). Bất bình đẳng theo thước đo hệ số bất bình đẳng thu nhập (GINI) về tiêu dùng tăng, nhưng ở mức tương đối thấp trong khu vực ASEAN. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều giảm còn khoảng 6,8%(8). Chỉ số phát triển con người (HDI) trong năm 2019  đạt 0,704 và xếp thứ 117/ 189 quốc gia và vùng lãnh thổ, tức là thuộc nhóm nước trung bình cao(9).

Trái với những luận điệu cáo buộc ngụy biện, trơ trẽn về nhân quyền, thực tế Việt Nam đã và đang chứng thực sinh động sự tôn trọng, bảo vệ, thực hiện và thúc đẩy nhân quyền trong điều kiện tác động của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế(10). Trong năm 2020 - 2021, khi đại dịch Covid-19 hoành hành trên thế giới và ở Việt Nam, hàng loạt chính sách an ninh con người, an sinh xã hội được Chính phủ ban hành nhằm bảo đảm an ninh lương thực và ổn định cuộc sống tối thiểu cho người dân, đặc biệt là người nghèo. Gói an sinh xã hội có quy mô 62.000 tỷ đồng (năm 2020), gói cứu trợ 26.000 tỷ đồng (năm 2021) là giải pháp cấp bách, kịp thời, không chỉ giảm thiểu tác động của đại dịch Covid-19 đối với quyền sống, quyền được chăm sóc y tế và mưu sinh của người dân, mà còn một lần nữa khẳng định mạnh mẽ quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam “đặt lợi ích của người dân lên trên” và “không để lại ai ở phía sau” trong đại dịch Covid-19.

Đồng thời, Việt Nam cũng chủ động, tích cực đóng góp vào việc tôn trọng, bảo vệ, thúc đẩy quyền con người trên thế giới và được cộng đồng thế giới ghi nhận. Thí dụ thông qua mức độ tín nhiệm với tỷ lệ phiếu đồng thuận rất cao trong những lần Việt Nam gia nhập Hội đồng nhân quyền và ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Tại khu vực, uy tín của Việt Nam được thể hiện qua vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020, đồng thời là Chủ tịch Ủy ban liên chính phủ ASEAN về nhân quyền (AICHR). Từ những nỗ lực chung trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trong phạm vi quốc gia và khu vực, các nước thành viên ASEAN chính thức đề cử Việt Nam là ứng cử viên duy nhất đại diện cho ASEAN làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2023-2025. Đây là những đòn đả kích mạnh mẽ nhằm vào các đối tượng vu cáo Việt Nam về vi phạm nhân quyền.

Hai là, nỗ lực giải quyết hạn chế và thách thức

Ông Peterson, nguyên Đại sứ Mỹ tại Việt Nam cho rằng: “không thể đánh giá tình hình nhân quyền của một quốc gia trên chuẩn 100% hài lòng. Mỹ cũng như không một quốc gia nào khác có thể đáp ứng nhu cầu đó. Thang điểm 100% hài lòng về mặt nhân quyền là điều không thể đạt được tại một quốc gia”(11). Các báo cáo chính thức của Việt Nam tại các cơ quan nhân quyền Liên hợp quốc cũng không lảng tránh tránh, mà thừa nhận ở Việt Nam vẫn còn những hạn chế, thách thức cần giải quyết. Trong đó, hệ thống pháp luật còn thiếu đồng bộ, chồng chéo, mâu thuẫn, chưa theo kịp thực tiễn, dẫn đến khó khăn, thậm chí hiểu sai đã tác động đến việc bảo đảm tính hợp hiến, tính khả thi và minh bạch trong quá trình bảo đảm quyền con người.

Ba là, cộng đồng quốc tế công nhận   

Thực tế nhân quyền ở Việt Nam đã được nhiều nhà lãnh đạo, chính khách quốc tế, các nhà quan sát, du khách đến Việt Nam cảm nhận, đánh giá. Chẳng hạn nhà báo chuyên về chính trị Đông Nam Á David Hutt phát biểu trên đài BBC News rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hành động trách nhiệm và đặt người dân lên làm mối quan tâm hàng đầu. Còn trang liberationnews.org (Mỹ) thì thừa nhận: Một chính phủ xã hội chủ nghĩa đặt người dân lên trên lợi ích kinh tế... Trưởng đại diện thường trú Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam, bà Caitlin Wiesen nhấn mạnh: Việt Nam ứng phó thành công đại dịch Covid-19 là một câu chuyện truyền cảm hứng, trong đó tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và gắn kết xã hội là chìa khóa thành công. Trang Times of India thì cho rằng, Chính phủ Việt Nam đã chủ động bảo vệ người dân trước dịch bệnh thông qua việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin về dịch bệnh và quyền được tiếp cận điều trị Covid-19 cho tất cả mọi người, nhờ thế đã tạo được sự đồng thuận trong xã hội, huy động được sức mạnh toàn dân trong cuộc chiến chống dịch(12). Coi trọng sức khỏe và an toàn tính mạng của người dân ngay từ những ngày đầu chống dịch cũng chính là bảo đảm một trong những quyền con người cao nhất, cơ bản nhất là quyền được sống. Bên cạnh mục tiêu khẩn cấp bảo vệ sức khỏe, tính mạng người dân, Chính phủ Việt Nam đặc biệt ưu tiên bảo đảm an sinh xã hội, an ninh con người và quyền của người dân được tiếp cận các dịch vụ cơ bản, nhất là khi đại dịch ảnh hưởng nghiêm trọng tới nền kinh tế, khiến thu nhập của nhiều người bị giảm sâu, mất việc làm, mất sinh kế....

Còn rất nhiều bình luận tương tự của giới chính khách, chuyên gia, truyền thông quốc tế đánh giá cao thành công của Việt Nam trong việc biến nguy thành cơ để thực hiện có kết quả mục tiêu kép: phòng, chống đại dịch Covid-19 đồng thời phát triển kinh tế - xã hội nhằm “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Chính thực tiễn là những minh chứng thuyết phục nhất, thể hiện những gì mà Đảng, Nhà nước Việt Nam đang tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền đã được người dân đặt trọn niềm tin và được dư luận tiến bộ trên thế giới ghi nhận.

3. Thực chất của các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về nhân quyền ở Việt Nam

Các đối tượng xuyên tạc, phủ nhận thành quả về nhân quyền ở Việt Nam hiện nay về cơ bản là những lực lượng cực hữu ở một số nước phương Tây, chủ yếu tại Mỹ, lực lượng cực hữu người Việt ở nước ngoài và những cá nhân người Việt trong nước bị các thế lực cực hữu nước ngoài mua chuộc, lợi dụng để chống phá nền tảng tư tưởng và chế độ chính trị - xã hội tại Việt Nam. Bên cạnh đó, là những người nghiên cứu lý luận, hoạt động chính trị đảng phái tại một số nước phương Tây và cả những người cơ hội chủ nghĩa, suy thoái về tư tưởng, chính trị tại Việt Nam.

Các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về nhân quyền ở Việt Nam hiện nay thường tập trung vào hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận các giá trị lý luận, thực tiễn về dân chủ, nhân quyền, như lợi dụng các hiệp định, dự án hợp tác với nước ngoài, nhằm phá hoại và làm chệch hướng XHCN của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam; kích động vấn đề dân tộc thiểu số và xuyên tạc Việt Nam có “hai chính sách tôn giáo”: Chính sách bảo đảm trên hình thức và “chính sách” không bảo vệ, không bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số trong thực tế thông qua  “cơ chế xin - cho” và tạo lập các “tôn giáo quốc doanh”. Trong các báo báo về tình hình nhân quyền trên thế giới, phần viết về Việt Nam, họ thường phê phán, xuyên tạc Chính phủ Việt Nam ngăn cản tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến, tự do hội họp; hay xuyên tạc cái gọi là “việc áp dụng một cách bất công Bộ luật hình sự”. Họ cho rằng, Việt Nam có chính sách hai mặt trong việc giam giữ tù nhân chính trị: công khai thì khép vào tội “vi phạm luật pháp” nhưng thực tế là “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị”; hay các luận điệu xuyên tạc về sử dụng cách tra tấn, bức cung, nhục hình đối với những người bị tạm giữ, tạm giam; bắt giữ và xét xử tùy tiện; duy trì án tử hình; cáo buộc tình trạng đàn áp, ngăn chặn, cản trở hoạt động của luật sư(13)...

Bên cạnh đó, các hoạt động xâm nhập, kích động, nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” như đòi Nhà nước Việt Nam phải đáp ứng ngay tiêu chuẩn về các quyền dân sự, chính trị (tự do lập hội, tự do xuất bản báo chí tư nhân, hoạt động tôn giáo không cần sự quản lý của Nhà nước...) tương tự các quốc gia phát triển phương Tây. Họ gắn dân chủ, nhân quyền với các vấn đề hợp tác phát triển, dân chủ, tôn giáo, tiếp cận thông tin và các hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp... Đặc biệt, họ đòi dân sự hóa hoạt động trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, nhằm thúc đẩy phát triển xã hội dân sự. Họ móc nối và tìm cách mua chuộc bằng tiền, hiện vật có giá trị để làm thay đổi tư tưởng, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một số cán bộ, đảng viên, nhất là ở cấp chiến lược và cơ quan trọng yếu nhằm thay đổi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo hướng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, làm chệch hướng XHCN trong bảo đảm dân chủ, nhân quyền và quá trình đổi mới đất nước nói chung.

Hoạt động chống phá của các thế lực thù địch thể hiện khá rõ nhằm kích động các cá nhân, tổ chức trong nước tổ chức bạo động, bạo loạn thông qua cái gọi là “biểu tình ôn hòa” hay nhờ các tổ chức, chính phủ nước ngoài khiếu kiện Việt Nam. Thí dụ, trong UPR chu kỳ I (năm 2009), II (năm 2014) và III (năm 2019), một số tổ chức phi chính phủ người Việt và quốc tế có quy chế quan sát viên tại ECOSOC (Ủy ban bảo vệ quyền con người cho người Việt Nam - VCHR, Tổ chức Đảng cấp tiến xuyên quốc gia - TRP...) lợi dụng diễn đàn của Hội đồng nhân quyền của Liên hợp quốc vu cáo Việt Nam vi phạm quyền con người; hay tăng cường trao giải cho các đối tượng chống đối để tạo dựng “ngọn cờ” chống phá Nhà nước Việt Nam. Thông qua những “ngọn cờ” này, kích động, lôi kéo, tập hợp và phát triển lực lượng chính trị đối lập theo kiểu “đa nguyên, đa đảng” ở nước ta.

Về phương thức, cách thức chống phá hiện nay, các thế lực phản động, thù địch triệt để sử dụng truyền thông đại chúng, đặc biệt là mạng internet, xuất bản báo chí ở nước ngoài, sản xuất băng, đĩa hình chuyển về trong nước; tài trợ cho một số cơ quan báo chí nước ngoài chuyên chống phá Việt Nam (như VOA tiếng Việt, RFA, RFI, BBC Việt ngữ, HRW...) để xuyên tạc, kích động về tư tưởng, chính trị. Họ lợi dụng các sai sót trong công tác quản lý nhà nước để xuyên tạc, kích động khiếu kiện, biểu tình trái phép. Họ tổ chức các hội thảo để xem xét lại các vấn đề liên quan đến lịch sử, tuy âm thầm nhưng tác hại lâu dài, rất thâm độc. Các thế lực thù địch dùng chiêu bài  “mớm lời”, “rắc thính”, kích động để không chỉ gây tâm lý hoang mang, hoài nghi, suy thoái về tư tưởng chính trị trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Trước thực tế đó, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị và toàn xã hội cần nâng cao bản lĩnh, trí tuệ để nhận diện và vạch trần bản chất của các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về nhân quyền ở Việt Nam hiện nay(14). Vì thực chất, đấu tranh trên mật trận tư tưởng lý luận về dân chủ, nhân quyền còn phản ánh cuộc đấu tranh về tư tưởng chính trị - pháp lý giữa hai loại hình giá trị tư tưởng XHCN và tư sản. Đây là đặc điểm có tính bản chất của cuộc đấu tranh không có giới tuyến địch - ta rõ ràng, mà nằm ngay trong nhận thức của mỗi người và mỗi tổ chức. Vì thế, nhân dân, trước tiên là mỗi cán bộ, đảng viên, đều là chủ thể đấu tranh với các thế lực thù địch trên lĩnh vực này. Trong phương thức đối thoại, đấu tranh trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền cần coi trọng cách thức, phương pháp, biện pháp tư tưởng chính trị, như truyền thông, vận động nhằm nâng cao nhận thức, tích cực phòng - chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và coi trọng cách thức kết hợp trong đối thoại có đấu tranh, trong đấu tranh có đối thoại.

__________________

(1) https://www.hrw.org/vi/world-report/2021/country-chapters/377412.

(2) https://www.voatiengviet.com/a/ph%C3%BAc-tr%C3%.

(3) Hồng Phú - Nguyễn Huân: Cảnh giác với thủ đoạn lợi dụng biểu tình tại Cuba để kích động chống phá, http://cand.com.vn/, ngày 19-7-2021.

(4) https://vi.wikipedia.org/wiki.

(5) Lam Sơn: Human Rights Watch: tổ chức đội lốt nhân quyền, https://nhandan.com.vn/, ngày 22-10-2012.

(6) https://vi.wikipedia.org/wiki.

(7) Xem: Lý Quang Diệu bàn về Trung Quốc, Hoa Kỳ và thế giới, Nxb Thế giới, tr.162.

(8) Xem: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội chủ yếu năm 2019 so với năm 2018, https://nhandan.com.vn/, ngày 11-7-2020.

(9) Đoàn Dân: Chỉ số phát triển con người của Việt Nam tăng vượt bậc, https://nhandan.vn/, ngày 25-12-2020.

(10) Nguyễn Thanh Tuấn: Tác động của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đến vấn đề dân chủ, nhân quyền ở nước ta hiện nay, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 16-4-2014.

(11) https://vi.wikipedia.org/wiki.

(12) Huyền Chi: Việt Nam - quốc gia truyền cảm hứng về phát triển con người, http://cand.com.vn/, ngày 1-1-2021.

(13) Tường Duy Kiên: Đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Cộng sản số 979 (12-2021).

(14) Nguyễn Thanh Tuấn: Nhận diện và đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực quyền con người ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Cộng sản điện tử, số 409, ngày 15-1-2019.

Đảng ta và Đảng Cộng sản Nhật Bản trao đổi phương hướng hợp tác

 

Ngày 5-7, đồng chí Lê Hoài Trung, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương đã trao đổi trực tuyến với đồng chí Ogata Yasuo, Phó chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương, Trưởng ban Quốc tế Đảng Cộng sản Nhật Bản.

                    Đồng chí Lê Hoài Trung trân trọng chuyển lời chúc mừng nồng nhiệt của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam tới đồng chí Chủ tịch Đảng Shii Kazuo, ban lãnh đạo và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Nhật Bản nhân dịp kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Nhật Bản (15-7-1922/15-7-2022). Đồng chí Ogata Yasuo bày tỏ sự trân trọng và cảm ơn về tình cảm của lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, chuyển lời hỏi thăm của đồng chí Chủ tịch Đảng Shii Kazuo tới Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam... 

Đảng ta và Đảng Cộng sản Nhật Bản trao đổi phương hướng hợp tác

Đồng chí Lê Hoài Trung, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương trao đổi trực tuyến với đồng chí Ogata Yasuo, Phó chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương, Trưởng Ban Quốc tế Đảng Cộng sản Nhật Bản. Ảnh: Dangcongsan.vn 

                     Nhân dịp này, hai bên đã thông báo cho nhau về tình hình, đường lối phát triển, đối ngoại của mỗi Đảng; chia sẻ nhận định, đánh giá về tình hình thế giới, khu vực. Đồng chí Lê Hoài Trung thông báo việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII trong các mặt xây dựng Đảng, phòng, chống tham nhũng và kết quả tích cực trong phòng, chống dịch Covid-19, phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam. 

                    Hai bên trao đổi và đạt nhất trí về một số phương hướng hợp tác trong thời gian tới như nối lại trao đổi đoàn, tiếp xúc ở cấp cao và các cấp; tăng cường hoạt động trao đổi lý luận, chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm, trao đổi thông tin kịp thời; tiếp tục triển khai các thỏa thuận mà hai bên đã nhất trí trong cuộc hội đàm giữa lãnh đạo cấp cao hai Đảng vào tháng 12-2021, trong đó, hỗ trợ tích cực để hợp tác giữa các tổ chức nhân dân phát triển thực chất hơn, góp phần tăng cường hiểu biết, củng cố nền tảng hữu nghị nhân dân giữa hai Đảng, cùng nhau phối hợp thúc đẩy quan hệ hai nước. Hai bên khẳng định tiếp tục phối hợp trong các vấn đề quốc tế.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh với công tác dân vận trong Quân đội nhân dân Việt Nam

 Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (1914-1967) tên khai sinh là Nguyễn Vịnh, ông sinh ngày 1-1-1914 trong một gia đình nông dân yêu nước ở thôn Niêm Phò, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên (nay là làng Niêm Phò, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế) - mảnh đất giàu truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng.

Ông là người chiến sĩ cộng sản kiên cường, mẫu mực, nhà chính trị - quân sự xuất sắc của cách mạng Việt Nam, vị tướng tài - đức vẹn toàn, luôn tận trung với nước, tận hiếu với dân, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ do Đảng và nhân dân giao phó. Trong sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng chăm lo xây dựng quân đội vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, trong đó đặc biệt coi trọng công tác dân vận, xem đó là một nội dung quan trọng xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của quân đội ta.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh với công tác dân vận trong Quân đội nhân dân Việt Nam
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh với công tác dân vận trong Quân đội nhân dân Việt Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh.

Thấm nhuần Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò, sức mạnh vô địch của quần chúng nhân dân, suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh luôn bám sát đường lối quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng của Đảng và tổ chức cho quần chúng làm cách mạng theo mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Trong hoạt động, ông sâu sát, gần gũi quần chúng, gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân, lấy lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân làm lẽ sống của mình.

Sinh thời, Đại tướng Lê Đức Anh, nguyên Chủ tịch nước viết về Đại tướng Nguyễn Chí Thanh: “Anh là người rất giỏi về tổ chức và vận động quần chúng thực hiện các chủ trương của Đảng. Nhận rõ và tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân, anh phát huy được ý chí cách mạng, tinh thần sáng tạo của quần chúng để tiến hành chiến tranh cách mạng, xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân, phát triển kinh tế và văn hóa”1.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh với công tác dân vận trong Quân đội nhân dân Việt Nam

Với quan điểm con người là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, trong thực tiễn hoạt động cách mạng, ở mọi cương vị, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh luôn quan tâm, chú trọng phát huy nhân tố con người, phát huy sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân. Những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, trước tình thế khó khăn của cách mạng, với cương vị Bí thư Phân khu ủy Bình - Trị - Thiên, từ niềm tin ở sức mạnh vô địch của quần chúng nhân dân, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã đi đến một kết luận rất đúng đắn, sâu sắc: Mất đất chưa phải là mất nước. Chúng ta cần phải tranh thủ từng thôn, từng người dân. Chúng ta không để mất dân, chết không rời cơ sở. Chúng ta nhất định thắng.

Đồng chí đã trực tiếp lãnh đạo, tổ chức cán bộ, đảng viên và nhân dân nỗ lực khắc phục vượt mọi khó khăn, kiên quyết bám trụ, xây dựng cơ sở, phát triển chiến tranh du kích trong vùng địch, lãnh đạo nhân dân 3 tỉnh Bình - Trị - Thiên anh dũng chiến đấu, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt của cuộc kháng chiến, từng bước xoay chuyển cục diện, giành nhiều thắng lợi to lớn, góp phần đập tan âm mưu mở rộng chiến tranh ra Thanh - Nghệ - Tĩnh của thực dân Pháp, củng cố lòng tin của nhân dân vào thắng lợi của cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đồng chí là linh hồn cuộc kháng chiến của Bình - Trị - Thiên khói lửa, người đã có công lao to lớn trong lãnh đạo, dẫn dắt nhân dân vượt qua giai đoạn khó khăn, gian khổ, khôi phục lại cơ sở, xây dựng phát triển lực lượng, đưa phong trào cách mạng ngày càng phát triển, giành nhiều thắng lợi to lớn ở ba tỉnh Bình - Trị - Thiên.

Năm 1950, giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta bước vào giai đoạn ác liệt, trước đòi hỏi của thực tiễn, đồng chí Nguyễn Chí Thanh được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh điều động vào quân đội, đảm nhiệm cương vị Phó bí thư Tổng Quân ủy, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh với công tác dân vận trong Quân đội nhân dân Việt Nam

Trên cương vị mới, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã có nhiều công lao to lớn đưa hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị của quân đội ta vào nền nếp, thực sự là công tác lãnh đạo của Đảng trong quân đội, xây dựng quân đội không ngừng lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, trong chỉ đạo hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị, Đại tướng luôn quan tâm chỉ đạo làm tốt công tác dân vận, xây dựng mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa quân đội với nhân dân, phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân vào sự nghiệp cách mạng.

Đại tướng chỉ rõ: “Dân là cái vốn cách mạng quý nhất, quý hơn tất cả. Vì: Còn dân thì nước còn. Mất dân thì nước mất”2.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh với công tác dân vận trong Quân đội nhân dân Việt Nam

Do đó, Đại tướng yêu cầu cấp ủy, chỉ huy, cán bộ các cấp phải luôn quán triệt sâu sắc đường lối quần chúng của Đảng, đề cao vai trò to lớn và sức mạnh vô địch của quần chúng nhân dân, đòi hỏi phải nắm vững: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, quần chúng không phải chỉ có công nông, nhưng lực lượng hùng hậu cả về số lượng và chất lượng trong quần chúng là lực lượng công nông. Tin quần chúng, dựa hẳn vào quần chúng, hòa mình với quần chúng phát động tính tích cực, tính cách mạng và sáng tạo của quần chúng, thương yêu quý trọng học tập quần chúng thì việc khó mấy làm cũng thành. Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân quần chúng, nhân dân quần chúng làm nên sự nghiệp cách mạng, làm nên lịch sử, sáng tạo nên anh hùng”3.

Từ đó, thường xuyên giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ có nhận thức đúng đắn về mối quan hệ đoàn kết quân dân, phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trong đấu tranh cách mạng; thấm nhuần tư tưởng: “Quân đội ta là quân đội của nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”4; luôn xây dựng những phẩm chất tốt đẹp, cao quý cho cán bộ, chiến sĩ; tăng cường bản chất cách mạng của quân đội nhân dân; xây dựng, củng cố đoàn kết dân tộc, đoàn kết quân dân.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh với công tác dân vận trong Quân đội nhân dân Việt Nam

Đại tướng chỉ rõ: “… Những người đảng viên trong quân đội phải tỏ ra là những người chiến sĩ gương mẫu nhất, đánh giặc hăng hái, đoàn kết nội bộ, cần, kiệm, liêm, chính và hết sức thương yêu, quý trọng nhân dân. Những người chưa được vào Đảng vì lý do này hay lý do khác cần phải ra sức học tập, lập công, bồi bổ đạo đức cách mạng để một ngày gần đây được gia nhập Đảng để phụng sự nhân dân tích cực hơn…”5; và “Lòng trung thành tận tụy hy sinh vì nhân dân cao hay thấp là thước đo của đạo đức cách mạng của quân đội ta”6. Bản thân Đại tướng là một tấm gương sáng trong về phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, luôn gần gũi, sâu sát, quan tâm tới quần chúng nhân dân, là người của quần chúng nhân dân.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh với công tác dân vận trong Quân đội nhân dân Việt Nam
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh với công tác dân vận trong Quân đội nhân dân Việt Nam
Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tại chiến khu Việt Bắc năm 1951.

Quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh, trong mọi hoạt động, Đại tướng luôn đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên hết, mọi việc làm đều xuất phát từ lợi ích chính đáng của nhân dân.

Đại tướng chỉ ra mối quan hệ giữa quân đội với nhân dân là mối quan hệ bản chất tạo động lực, sức mạnh để quân đội ta trưởng thành, lớn mạnh, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ: “Quân đội của ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu… Quân đội ta là con đẻ của phong trào chính trị của quần chúng nhân dân. Chúng ta thấy rõ quân đội mà một ngày xa dân thì như một ngày con nhỏ xa vú mẹ. Quân đội ta không thể có một sức sống độc lập, mà phải bắt nguồn từ nhân dân… Vì vậy, quan hệ giữa quân đội và nhân dân là quan hệ “cá nước”7; “Liên hệ mật thiết với nhân dân, đó là nguồn sống và sức mạnh hùng hậu của quân đội ta mà quân đội địch không bao giờ có được”8. Đại tướng yêu cầu cán bộ, chiến sĩ phải luôn quán triệt và chấp hành tốt 10 lời thề danh dự, 12 điều kỷ luật, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Xây dựng quân đội ta thành một quân đội nhân dân thật sự.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh với công tác dân vận trong Quân đội nhân dân Việt Nam
Ảnh trái: Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh thăm Sư đoàn 312 ngày 1-1-1964.
Ảnh phải: Đại tướng Nguyễn Chí Thanh thăm bộ đội Phòng không Không quân, năm 1967. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Đại tướng còn chỉ rõ: Để hoàn thành nhiệm vụ cần nắm vững và làm tốt “Đoàn kết chặt chẽ và mật thiết với nhân dân, xây dựng mối quan hệ hết sức tốt giữa quân đội với nhân dân”9. Cán bộ, chiến sĩ ngoài chấp hành tốt kỷ luật thì còn phải làm tốt công tác vận động quần chúng nhân dân, đây là nhiệm vụ chung của quân đội, là trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ. Muốn vận động nhân dân: “Một mặt thì bộ đội giữ vững kỷ luật đối với nhân dân, nói chung là không xâm phạm đến tính mạng, tài sản, tín ngưỡng của nhân dân, không làm cho dân ghét, dân kêu, dân oán. Phải làm thế nào để khi mình chưa đến thì dân trông mong, khi mình đến ở thì dân giúp đỡ, khi mình đi nơi khác thì dân luyến tiếc; một mặt khác, phải làm công tác dân vận, nghĩa là bộ đội đều phải tham gia công tác vận động quần chúng nhân dân”10.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh với công tác dân vận trong Quân đội nhân dân Việt Nam
Đồng chí Nguyễn Chí Thanh tăng gia sản xuất tại Trung ương Cục miền Nam.

Trong chỉ đạo công tác dân vận, Đại tướng yêu cầu cần làm cho được mấy việc chính: “Thứ nhất, tuyên truyền cho dân hiểu rõ chính sách kháng chiến, chính sách đối với tôn giáo của Chính phủ ta. Đồng thời vạch mặt bọn Pháp, can thiệp Mỹ và bù nhìn Bảo Đại để họ căm thù giặc, hăng hái kháng chiến, tôn trọng và phục tùng mệnh lệnh của Chính phủ do Hồ Chủ tịch lãnh đạo. Nhưng phải chú ý lời nói của ta đi đôi với việc làm và việc làm của ta có tác dụng tuyên truyền nhiều hơn là lời nói. Nếu chúng ta tuyên truyền cho dân phục tùng mệnh lệnh, kỷ luật của Chính phủ mà tự ta không giữ được kỷ luật đối với nhân dân của Chính phủ, thì thà ngậm im mồm còn hơn là nói huênh hoang, khoác lác.

Thứ hai, thiết thực giúp đỡ đồng bào…”11.

Đầu năm 1965, quân và dân ta đã đẩy mạnh hoạt động trên khắp chiến trường miền Nam và giành được nhiều thắng lợi lớn trên cả hai miền Nam, Bắc, làm nức lòng quân dân cả nước. Trong chiến thắng vang dội đó, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ quân đội không được công thần địa vị, chủ quan khinh địch, mà phải luôn chú trọng công tác dân vận, yêu cầu nhớ kỹ và làm đúng:

“… Kính trọng dân, thương yêu dân, giúp đỡ nhân dân.

Không nên cho mình là có công mà kiêu ngạo, coi thường nhân dân.

Bảo vệ tính mạng tài sản của nhân dân, tuyệt đối không được xâm phạm đến một cái kim sợi chỉ của nhân dân. Nhân dân đã hết lòng ủng hộ chúng ta, nhưng chúng ta chỉ là con em của nhân dân, làm sao mà “đi thì dân nhớ, ở thì dân thương”.

Chúng ta chỉ đánh giặc không thì chưa đủ mà còn phải làm công tác chính trị tốt trong quần chúng, tức là biết tuyên truyền và tổ chức quần chúng…”12.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh với công tác dân vận trong Quân đội nhân dân Việt Nam
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh trong những lần đi công tác, thăm các đơn vị.

Trong Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ thi đua tháng 4-1965, Đại tướng khẳng định: “Đã nói làm cách mạng là hết lòng hết dạ thương yêu nhân dân, kính trọng nhân dân, phục vụ nhân dân quần chúng. Chính từ quan hệ tốt với quần chúng nhân dân như vậy mà Đảng ta có sức mạnh vô địch, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam có sức mạnh vô địch, quân đội chúng ta có sức mạnh vô địch. Nếu quân đội tách rời nhân dân thì có thể có sức mạnh không? Quyết không!”13.

Do đó, cùng với việc chú trọng làm tốt công tác dân vận để tạo cơ sở chính trị vững bền cho sự trưởng thành, phát triển và chiến thắng của quân đội ta, thì cần phải đấu tranh chống lại những nhận thức, hành động sai trái, chưa đúng trong công tác dân vận. Trong bài nói chuyện tại Lớp tập huấn cán bộ tháng 8-1966, Đại tướng đã chỉ ra: “Quan hệ giữa quân đội và nhân dân nói chung tốt nhưng kỷ luật dân vận chưa được nghiêm… Phải hâm lại quan điểm quần chúng, quan điểm nhân dân… mặc dù chiến đấu thắng lợi lớn nhưng phạm kỷ luật dân vận phải phê bình rất nghiêm khắc”14.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh với công tác dân vận trong Quân đội nhân dân Việt Nam
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh sống cuộc đời bình dị, trong sáng và sôi nổi. Ở chiến trường miền Nam, bộ đồ quen thuộc của Đại tướng là bộ bà ba đen hoặc nâu, chiếc mũ tai bèo, một đôi bốt ngắn và một khẩu súng ngắn bên sườn.

Dưới sự chỉ đạo của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, công tác dân vận, một nội dung quan trọng trong xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị được chú trọng. Bộ đội chấp hành nghiêm kỷ luật dân vận, luôn giúp đỡ nhân dân, bảo vệ nhân dân, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, mối quan hệ đoàn kết máu thịt quân dân không ngừng được củng cố, cán bộ, chiến sĩ quân đội được nhân dân tin tưởng, yêu mến, dành cho những tình cảm và sự giúp đỡ đặc biệt. Nhờ đó, quân đội ta dã cùng nhân dân cả nước làm nên thắng lợi vẻ vang của sự nghiệp cách mạng.

Chúng ta thấy rằng, trong lịch sử dân tộc trước khi Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời, chưa bao giờ mối quan hệ quân dân được đặc biệt quan tâm, coi trọng và được xây dựng, củng cố tốt đẹp như lúc này. Có thể nói, mối quan hệ đoàn kết, gắn bó quân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển đến đỉnh cao, trong đó có sự chỉ đạo, tổ chức thực hiện, đóng góp to lớn của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh.

Với tình cảm đặc biệt của nhân dân dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, đồng thời dành cho bộ đội ta, trong kháng chiến chống thực dân Pháp, nhân dân đã trìu mến gọi bộ đội ta là “anh bộ đội”, “Bộ đội Cụ Hồ”. Từ đây, những truyền thống tốt đẹp, quý báu đó của quân đội ta, không ngừng được gìn giữ, củng cố và phát huy, xây đắp nên truyền thống “quyết chiến, quyết thắng”, “trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Những tư tưởng, quan điểm và sự chỉ đạo của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh về công tác Đảng, công tác chính trị nói chung, công tác dân vận nói riêng, đã khẳng định bản chất cách mạng, tính nhân dân sâu đậm của quân đội ta, góp phần tạo ra và nhân lên sức mạnh vô địch chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược của một quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Ngày nay, tình hình thế giới và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch không ngừng ra sức chống phá cách mạng nước ta, với những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, thâm độc, chúng tìm mọi cách chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng và nhân dân, giữa quân đội và nhân dân… Những tư tưởng, quan điểm của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh về công tác dân vận vẫn là những tư tưởng xuyên suốt, còn nguyên giá trị.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh với công tác dân vận trong Quân đội nhân dân Việt Nam

1.Đại tướng Nguyễn Chí Thanh: Nhà lãnh đạo lỗi lạc - Một danh tướng thời đại Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị Quốc gia, H. 2007, tr. 45.

2.Nguyễn Chí Thanh: Những bài chọn lọc về quân sự, Nxb. QĐND, H. 1977, tr. 48.

3.Đại tướng Nguyễn Chí Thanh người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb. QĐND, H. 2007, tr. 208.

4.Nguyễn Chí Thanh:Luôn luôn giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb. QĐND, H. 1970, tr. 33.

5.Nguyễn Chí Thanh:Những bài chọn lọc về quân sự, Nxb. QĐND, H. 1977, tr. 46

6.Nguyễn Chí Thanh:Những bài chọn lọc về quân sự, Nxb. QĐND, H. 1977, tr. 223

7.Nguyễn Chí Thanh:Những bài chọn lọc về quân sự, Nxb. QĐND, H. 1977, tr. 222.

8.Nguyễn Chí Thanh:Những bài chọn lọc về quân sự, Nxb. QĐND, H. 1977, tr. 223.

9.Đại tướng Nguyễn Chí Thanh người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb. QĐND, H. 2007, tr. 215.

10.Nguyễn Chí Thanh:Những bài chọn lọc về quân sự, Nxb. QĐND, H. 1977, tr. 49.

11.Nguyễn Chí Thanh:Những bài chọn lọc về quân sự, Nxb. QĐND, H. 1977, tr. 50.

12.Đại tướng Nguyễn Chí Thanh người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb. QĐND, H. 2007, tr. 129, 130.

13.Đại tướng Nguyễn Chí Thanh người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb. QĐND, H. 2007, tr. 199.

14.Nguyễn Chí Thanh: Những bài chọn lọc về quân sự, Nxb. QĐND, H. 1977, tr. 550, 551.

VIỆT NAM CHỦ ĐỘNG HỢP TÁC VỚI CƠ QUAN, CƠ CHẾNHÂN QUYỀN LIÊN HỢP QUỐC

Đó là khẳng định của Trung tướng Nguyễn Thanh Sơn, Cục trưởng Cục Đối ngoại, Bộ Công an, Chánh Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo nhân quyền tại Hội thảo "Các cơ chế nhân quyền Liên hợp quốc: Phương hướng hợp tác của Việt Nam" diễn ra ngày 16/4, tại Hòa Bình. Phát biểu khai mạc Hội thảo "Các cơ chế nhân quyền Liên hợp quốc: Phương hướng hợp tác của Việt Nam", Trung tướng Nguyễn Thanh Sơn, Chánh Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo nhân quyền cho rằng, trong bối cảnh toàn cầu hóa và xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, nhiều vấn đề đã Để có thể tham gia vào các liên kết hợp tác khu vực và thế giới, các nước đều phải tuân theo luật chơi chung đó là các nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế. Trên lĩnh vực quyền con người, đó là các nguyên tắc và chuẩn mực pháp lý quốc tế được ghi nhận trong Bộ luật nhân quyền và các văn bản pháp lý quốc tế khác. Việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người trước hết được thực hiện bởi pháp luật quốc gia nhưng nó cũng được điều chỉnh bởi pháp luật quốc tế mà các quốc gia có nghĩa vụ tuân thủ với tư cách là chủ thể của luật pháp và là thành viên của các điều ước quốc tế. Trên cơ sở luật pháp quốc tế về quyền con người, hệ thống các cơ quan và cơ chế nhân quyền Liên hợp quốc đã được thiết lập nhằm thúc đẩy sự hợp tác quốc tế, hỗ trợ và giám sát các quốc gia trong việc thực thi các giá trị, nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế về quyền con người. Tại hội thảo, các đại biểu đã được nghe báo cáo viên từ Vụ Các Tổ chức quốc tế (Bộ Ngoại giao); Viện Quyền con người (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), Vụ Pháp luật quốc tế (Bộ Tư pháp); Vụ Pháp chế (Bộ Công an) trình bày các chuyên đề: Tổng quan về các cơ chế nhân quyền Liên hợp quốc và sự tham gia của Việt Nam; Vai trò của Văn phòng Cao Uỷ Nhân quyền Liên hợp quốc trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người; Vai trò và hoạt động của Uỷ ban Nhân quyền trong việc thúc đẩy thực hiện mục tiêu của Công ước về các quyền dân sự, chính trị; Khái lược về Công ước Chống tra tấn và nghĩa vụ của các quốc gia thành viên… Bế mạc Hội thảo, Thiếu tướng Nguyễn Văn Kỷ, Phó Chánh Văn phòng VPTT Ban Chỉ đạo về Nhân quyền Chính phủ đánh giá cao chất lượng các chuyên đề do các diễn giả chuẩn bị và phần thảo luận, trao đổi tương tác giữa các đại biểu. Trên cơ sở nhận thức những khó khăn, thách thức đặt ra đối với Việt Nam trên con đường hội nhập quốc tế, đặc biệt trên lĩnh vực bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trong bối cảnh toàn cầu hóa, các đại biểu tham gia Hội thảo đã thống nhất một số phương hướng trong việc đề ra và thực hiện các giải pháp hợp tác với các cơ chế nhân quyền LHQ trong thời gian tới: Một là, thể hiện thái độ trách nhiệm, tích cực hợp tác, đối thoại với các cơ quan, cơ chế nhân quyền LHQ, chủ động tham gia vào hoạt động của các cơ chế nhân quyền LHQ góp phần vào việc định hình nguyên tắc và các chuẩn mực nhân quyền quốc tế. Hai là, tăng cường công tác tuyên truyền đối ngoại về việc Việt Nam thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ nhân quyền quốc tế và sự tích cực, chủ động của Việt Nam trong hợp tác với các cơ quan, tổ chức nhân quyền quốc tế. Ba là, đấu tranh có hiệu quả đối với các hoạt động lợi dụng cơ chế nhân quyền quốc tế chống phá Việt Nam. Bốn là, triển khai và thực hiện có hiệu quả nghĩa vụ quốc gia thành viên các công ước và các cam kết nhân quyền quốc tế; chủ động nâng cao năng lực nhân quyền cho cán bộ và nhân dân; tiếp tục bảo đảm hiệu lực, hiệu quả trong thi hành và áp dụng pháp luật; khắc phục các tổn tại hạn chế ảnh hưởng đến quyền con người để có thể hạn chế được các hoạt động lợi dụng thông qua các cơ chế nhân quyền LHQ chống phá ta. Năm là, thúc đẩy nghiên cứu lý luận về quyền con người, tăng cường phổ biến, truyên truyền giáo dục quan điểm của Đảng ta về vấn đề quyền con người, góp phần xây dựng nền tảng tư tưởng XHCN về quyền con người.

BÁO CÁO NHÂN QUYỀN CỦA EEAS CHƯA KHÁCH QUAN VỀ VIỆT NAM

Trong khuôn khổ buổi họp báo thường kỳ diễn ra ngày 24/6, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng đã đưa ra những bình luận liên quan đến Báo cáo về tình hình nhân quyền thế giới 2020 của Cơ quan Đối ngoại EU (EEAS). "Chúng tôi ghi nhận những đánh giá về thành tựu của Việt Nam trong bảo vệ quyền lao động, chống lao động trẻ em và thúc đẩy bình đẳng giới trong Báo cáo về tình hình nhân quyền thế giới năm 2020 của Cơ quan Đối ngoại EU. Rất tiếc báo cáo vẫn còn một số nội dung chưa khách quan dựa trên những thông tin không phản ánh đúng thực tế tại Việt Nam", bà Lê Thị Thu Hằng bày tỏ. Trên thực tế, như đã nhiều lần khẳng định, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm bảo vệ và thúc đẩy các quyền cơ bản của con người. Điều này đã được quy định cụ thể trong Hiến pháp 2013, các văn bản pháp luật liên quan và được tôn trọng, triển khai trên thực tế, được khẳng định qua các thành tựu trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, y tế, công tác phòng chống đại dịch COVID-19 hiện nay. Các nỗ lực và thành công đó cũng được cộng đồng quốc tế ghi nhận trong nhiều khuôn khổ song phương và đa phương, như Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Theo bà Lê Thị Thu Hằng, tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do thông tin ở Việt Nam được thể hiện rõ qua sự phát triển đa dạng về loại hình và phong phú về nội dung của báo chí Việt Nam và thực tế hơn 70% dân số Việt Nam sử dụng mạng Internet và mạng xã hội quốc tế và trong nước. "Tại Việt Nam, không ai bị bắt giữ, xét xử chỉ vì “bày tỏ chính kiến”, “bảo vệ nhân quyền”. Như các quốc gia khác, Việt Nam cũng kiên quyết đấu tranh với các hành vi lợi dụng các quyền tự do, dân chủ để vi phạm pháp luật, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân. Quá trình điều tra, xét xử và giam giữ được tiến hành theo đúng các quy định của pháp luật; quyền của người bị giam giữ được bảo đảm", bà Lê Thị Thu Hằng nhấn mạnh. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao cũng khẳng định, Việt Nam coi trọng quan hệ Đối tác Hợp tác Toàn diện với EU. Việt Nam sẵn sàng trao đổi, hợp tác với EU trong vấn đề quyền con người trên tinh thần thẳng thắn, cởi mở và tôn trọng nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thông qua cơ chế đối thoại nhân quyền thường niên và các khuôn khổ trao đổi song phương khác.

KHÔNG NGỪNG LỖ LỰC ĐỂ BẢO VỆ NHÂN QUYỀN

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân là mục tiêu phấn đấu”; “Phát triển con người toàn diện và xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”; “…con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng của đất nước”. Quyền con người được khẳng định trong bản Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1992 và 2013. Hiến pháp năm 2013 có 11 chương, 120 Điều. Trong đó, chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là chương có điều luật nhiều nhất, gồm 36 điều (từ Điều 14 đến Điều 49). Để có cơ sở pháp lý thúc đẩy và bảo vệ, bảo đảm quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã có những nỗ lực không ngừng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người. Tính từ năm 2014 đến nay, Quốc hội nước ta đã sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hơn 100 văn bản luật, pháp lệnh liên quan đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong số đó có những luật cơ bản, quan trọng như: Bộ luật Hình sự 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015, Luật Trưng cầu dân ý 2015, Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016, Luật Trẻ em 2016, Luật Báo chí 2016, Luật Tiếp cận thông tin 2016, Luật An ninh mạng 2018, Luật Đặc xá 2018… Việc hoàn thiện khung pháp luật về quyền con người, quyền công dân nói trên đã phản ánh đúng bản chất của chế độ ta, đó là xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tăng cường cơ chế dân chủ, công khai để mọi cá nhân trong xã hội đều có thể tham gia xây dựng, quản lý xã hội, giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước, cũng như tạo ra khuôn khổ pháp lý để các cơ quan nhà nước hoạt động tốt hơn, phục vụ tốt hơn nhu cầu của mọi tầng lớp nhân dân. Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước tích cực, chủ động tham gia vào hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người do Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác ban hành. So với nhiều nước trong khu vực và các nước phát triển, Việt Nam không thua kém về số lượng là thành viên các công ước quốc tế về quyền con người. Tính đến năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản. Việt Nam đã phê chuẩn hoặc tham gia nhiều điều ước quốc tế về nhân quyền. Việt Nam luôn khẳng định trên thực tế là thành viên nỗ lực tham gia các công ước quốc tế với tinh thần, trách nhiệm cao nhất, được nhiều tổ chức quốc tế, các quốc gia đánh giá cao. Mặc dù nước ta đang gặp không ít những trở ngại, thách thức do thiên tai, dịch bệnh và từ sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị nhưng vấn đề nhân quyền của Việt Nam luôn được thực thi trên thực tế. Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và vững chắc về nhân quyền. Điều đó không chỉ thể hiện ở những nỗ lực của chúng ta trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, mà còn được thể hiện ở việc bảo đảm quyền còn người, quyền công dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Thành tựu đảm bảo nhân quyền tại Việt Nam trên các lĩnh vực đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội, đặc biệt là những thành tựu của Việt Nam trong việc phòng, chống dịch COVID-19 và bảo đảm quyền sống là quyền cao nhất trong đại dịch COVID-19 là những minh chứng rõ nét nhất trong bảo đảm quyền của con người trước những biến cố, đại dịch mà người dân trên toàn thế giới phải trải qua. Đánh giá về nhân quyền cần phải đảm bảo cách nhìn khách quan, toàn diện, không thể phán theo kiểu “thầy bói xem voi”, không thể lấy một số vụ việc tiêu cực, những hiện tượng sai lệch mà quy chụp thành bản chất. Những thông tin để làm căn cứ đánh giá, báo cáo, xếp loại nhân quyền Việt Nam của một số tổ chức quốc tế thiếu thiện chí đều khai thác từ số đối tượng thù địch, phản động, bất mãn, cơ hội chính trị, số này luôn có những hành động hủy hoại mọi nỗ lực, thành tựu của Việt Nam trong vấn đề nhân quyền. Khi không có bất kỳ các hoạt động khảo sát, trải nghiệm vấn đề nhân quyền của một quốc gia thì mọi đánh giá về nhân quyền của quốc gia đó đều mang tính chủ quan, thiếu tính thực tiễn, sai lệch. Mặt khác, không thể mượn danh nhân quyền để tung hô cho lối sống tự do “vô pháp” để biện minh việc làm sai trái, quay lưng lại Tổ quốc, dân tộc.

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, KHẲNG ĐỊNH VỊ THẾ VIỆT NAM TRÊN TRƯỜNG QUỐC TẾ

Thực tế cho thấy, hoạt động lợi dụng vấn đề nhân quyền chống Việt Nam đang được các thế lực thù địch cả trong và ngoài nước không ngừng đẩy mạnh với quy mô ngày càng mở rộng, tính chất ngày càng gay gắt, quyết liệt, theo kiểu “mềm, ngầm, sâu, hiểm”, vô cùng tinh vi, xảo quyệt. Nhận diện chiêu trò chống phá nhân quyền trên một số lĩnh vực Trong lĩnh vực pháp lý: Các thế lực thù địch không những đưa ra các luận điệu vô lý để phê phán một số điều luật hay văn bản pháp lý cụ thể của Việt Nam, nhất là họ tập trung đả phá Hiến pháp năm 2013 rồi cho đó là lạc hậu, trái với quy định và luật pháp, thông lệ quốc tế, từ đó lên giọng chỉ trích toàn bộ hệ thống pháp luật của Việt Nam, cho là thiếu hụt, khập khiễng, chưa phù hợp. Đồng thời, họ vin vào việc một số cán bộ, nhân viên Nhà nước vi phạm pháp luật để rêu rao cán bộ, nhân viên Nhà nước đứng ngoài pháp luật, kích động, kêu gọi mọi người không tuân thủ và không thi hành pháp luật. Họ lấy cớ số cá nhân lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để chống phá Nhà nước và chế độ bị cơ quan chức năng bắt giữ, khởi tố, xử lý theo pháp luật để vu khống Việt Nam vi phạm nhân quyền trong khi giải quyết các vấn đề cụ thể liên quan đến tự do cá nhân. Trong lĩnh vực văn hóa: Họ cố tình cắt xén, diễn giải một chiều theo ý đồ xấu, dựng chuyện Việt Nam không thực hiện đúng tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền như đã cam kết, đặc biệt là Điều 19 về quyền tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến; vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta rẻ rúng, nghi kỵ trí thức, đàn áp văn nghệ sỹ, bóp nghẹt tự do báo chí, tự do văn học nghệ thuật… Thổi phồng, đề cao, cổ súy cho số phần tử lợi dụng văn học nghệ thuật để bôi đen bức tranh hiện thực đất nước, hà hơi, tiếp sức cho những phần tử mà họ gọi là “dũng cảm lột xác” dám nhìn nhận lại bản chất đích thực của cuộc chiến tranh giải phóng của Việt Nam, xóa nhòa ranh giới giữa kẻ xâm lược và bọn tay sai với quân đội và quần chúng cách mạng, biến cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ thành cuộc “nội chiến” do “tham vọng của cộng sản” gây ra; ca ngợi chính quyền Sài Gòn theo kiểu hoài niệm, nhớ lại; cố tình gây chia rẽ, tạo ra tâm lý phân biệt vùng miền, làm giảm sự quyết tâm, đồng lòng của nhân dân cả nước trước những thách thức của thiên tai, dịch bệnh. Thậm chí, họ còn phô trương bản chất “đạo đức giả” khi dựng lên các chương trình mang tính nhân văn, nhân đạo kêu gọi mọi người chung tay giúp đỡ nhau nhưng kỳ thực là trò lừa bịp. Các thế lực thù địch còn tuyên truyền, vận động dựng lên những “nhân vật tiêu biểu”, những màn kịch “trao giải thưởng quốc tế” cho những người “tiên phong trong cuộc đấu tranh vì tự do, vì dân chủ”, thực ra đó là những đối tượng chống đối, bất mãn; lợi dụng tình hình dịch COVID -19 đăng bài phỏng vấn liên tục các cá nhân “bất đồng chính kiến”, người lao động nghèo, yếu thế để chống phá. Trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo: Lợi dụng sự việc các cơ quan chức năng bắt, điều tra, xử lý những đối tượng lợi dụng dân tộc và tôn giáo có hành vi chống đối, vi phạm pháp luật… để xuyên tạc và vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền. Một số cá nhân mượn danh nghĩa chức sắc, tín đồ tôn giáo được sự tiếp tay của các thế lực thù địch đã lợi dụng nhân quyền trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo để chống phá chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Các thế lực thù địch vừa tích cực rêu rao, vừa vu cáo Việt Nam không có tự do tín ngưỡng, không cho tự do hành đạo và đàn áp tôn giáo, chia rẽ các tôn giáo, đồng bào lương, giáo để chống lại chính sách đoàn kết, ổn định phát triển kinh tế… Trong lĩnh vực thực hiện chính sách với tù nhân: Tù nhân là những cá nhân vi phạm pháp luật Việt Nam, phải chấp hành các chế tài theo luật định. Trong số các tù nhân này có người lợi dụng nhân quyền để chống phá lại chế độ, nhà nước ta. Thời gian qua, đây là một trong những điểm nóng, một mối quan tâm thường xuyên và cũng là một “mảnh đất” của các thế lực thù địch nhằm vào để can thiệp, vu cáo Nhà nước Việt Nam. Thông qua cơ chế của Liên hiệp quốc, qua nghị viện một số nước hoặc tổ chức phi chính phủ hoạt động về lĩnh vực này, số tổ chức, cá nhân phản động lưu vong cung cấp những thông tin sai lệch, xuyên tạc, mang tính quy chụp, dựng chuyện gửi các “kiến nghị”, “thư ngỏ” lên các tổ chức quốc tế thiếu thiện chí với Việt Nam để chống phá; đồng thời, cố tình đánh tráo bản chất, gieo rắc tâm lý bất an, gây hiểu nhầm, hiểu sai trong dư luận.

NHỮNG LUẬN ĐIỆU NGỤY BIỆN, TRÁI BẢN CHẤT CỦA SỰ VIỆC NHAN DANH HOẠT ĐỘNG VÌ MÔI TRƯỜNG ĐỂ VI PHẠM PHÁP LUẬT

Ngày 17/6, TAND TP Hà Nội đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, tuyên phạt 24 tháng tù giam đối với bà Ngụy Thị Khanh – cựu Giám đốc Trung tâm phát triển sáng tạo xanh Green ID về tội trốn thuế theo Điều 200, Bộ luật Hình sự. Ngay sau đó, một số cá nhân, tổ chức thù địch, chống đối đã tung ra nhiều bài viết với thông tin không chính xác, bẻ lái theo hướng tiêu cực, tạo cớ can thiệp vào công việc của các cơ quan thực thi pháp luật Việt Nam, đả kích chính quyền. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị được dịp hùa vào “ăn theo”. Tổ chức Việt Tân xuyên tạc, suy diễn khi cho rằng “chính quyền bỏ tù các nhà hoạt động môi trường”, rồi kêu gọi Việt Nam “trả tự do cho bà Ngụy Thị Khanh”. Đài Á Châu tự do (RFA) đăng bài viết “Giám đốc xã hội dân sự Green ID bị bắt với cáo buộc trốn thuế”, tung ra những thông tin lập lờ nhằm đánh lận bản chất vụ án. Thay vì đưa thông tin đúng về vụ việc, RFA lại dẫn dắt người đọc đến các vấn đề “xã hội dân sự”. Họ liên hệ sự vụ trên với việc ông Mai Phan Lợi, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Trung tâm Giáo dục Truyền thông (MEC) và ông Đặng Đình Bách, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chính sách Pháp luật & Phát triển Bền vững (LPSD) phải chấp hành án phạt tù với tội danh trốn thuế để quy kết, vu cáo chính quyền “đàn áp nhà hoạt động môi trường”. Bất chấp thực tế Ngụy Thị Khanh có hành vi trốn thuế, những kẻ lấy vỏ bọc các nhà “dân chủ”, “nhân quyền” cố tình phớt lờ sự thật để xuyên tạc, suy diễn vấn đề, vẽ ra các “thuyết âm mưu”, hướng lái dư luận về bản chất vụ việc, dựng chuyện chính quyền “bắt bớ người vô tội” để “ngăn chặn các tổ chức dân sự”. Từ câu chuyện của Green ID, MEC và LPSD, chúng ta dễ nhận thấy các đối tượng tự xưng “nhà dân chủ” đang cố tình lợi dụng vấn đề "xã hội dân sự" để bao biện cho hành vi sai phạm, tạo cớ đả phá chính quyền nhân dân. Thực tế, trong nhiều năm qua, các đối tượng xấu, phần tử cơ hội đã ráo riết thực hiện chiêu trò "xã hội dân sự" để chống phá đất nước. Lợi dụng quyền tự do lập hội được quy định trong Hiến pháp, các đối tượng thực hiện tuyên truyền đánh lận bản chất vấn đề nhằm hình thành các tổ chức tự phát, không theo quy định của pháp luật. Thông thường khi mới thành lập, các tổ chức này sẽ núp bóng “dân chủ”, “nhân quyền”, rêu rao “hoạt động phi lợi nhuận”, “thúc đẩy sự phát triển của xã hội”… để đánh bóng tên tuổi, tìm mọi phương thức tập hợp lực lượng chống đối từ bên trong và móc nối với các tổ chức phản động ở nước ngoài. Sau khi có đủ khả năng về nhân lực và vật lực, số tổ chức, cá nhân này sẽ “thay màu”, lộ rõ bộ mặt thật không chỉ dừng lại ở vấn đề dân sự mà tìm cách “thò tay” can thiệp, lấn sâu tập trung đả phá vấn đề chính trị. Với thủ đoạn “nội công ngoại kích”, mục đích của số đối tượng trên nhằm gây phân tâm dư luận, tìm mọi cách gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chống phá cơ quan công quyền, tìm kiếm những tác động từ bên ngoài hòng can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam; cố tình đánh lận, dựng chuyện hòng làm giảm vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

HOẠT ĐỘNG VÌ MÔI TRƯỜNG KHÔNG THỂ BẤT TUÂN PHÁP LUẬT

Không riêng Việt Nam mà các quốc gia khác trên thế giới cũng có những quy định hết sức chặt chẽ liên quan đến thuế. Tuỳ theo tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm thì người phạm tội sẽ phải chịu những chế tài tương ứng. Trên thế giới, những người nổi tiếng trên nhiều lĩnh vực bị bắt, bị phạt về tội trốn thuế không phải là chuyện hiếm gặp. Ví dụ như trường hợp năm 2017, một công tố viên tại Tây Ban Nha đã cáo buộc Cristiano Ronaldo 4 tội trốn thuế về tiền bản quyền hình ảnh trong khoảng thời gian gắn bó với Real Madrid từ năm 2011 tới 2014 với tổng số tiền lên tới 14,7 triệu euro. Cầu thủ bóng đá Lionel Messi cũng bị kết án 21 tháng tù treo do 3 lần trốn thuế từ khoản thu nhập 4,1 triệu euro bản quyền hình ảnh từ năm 2007 đến 2009. Huấn luyện viên bóng đá Jose Mourinho của Manchester United vào đầu tháng 9/2018 cũng dính cáo buộc vì hành vi trốn thuế 3,3 triệu euro. Nữ diễn viên người Hàn Quốc Song Hye Kyo, diễn viên nổi tiếng người Trung Quốc Lưu Hiểu Khánh, Phạm Băng Băng cũng dính dáng đến tội danh trốn thuế… Điều đó cho thấy rằng, bất kể ở quốc gia nào, nếu trốn thuế, phạm pháp thì phải chịu các biện pháp xử lý tương ứng. Không có chuyện cá nhân nổi tiếng là được miễn tội trốn thuế khi vi phạm pháp luật ở nước sở tại. Đối với tội trốn thuế, đây là hành vi khai báo gian dối trong sản xuất, kinh doanh để không phải đóng thuế hoặc đóng mức thuế thấp hơn nhiều so với mức phải đóng. Tội trốn thuế đã được sửa đổi về số tiền trốn thuế trong Bộ luật Hình sự với hình phạt cao nhất là 7 năm tù và phạt tiền có thể lên tới 4,5 tỷ đồng. Việc khởi tố, xét xử với bản án 24 tháng tù đối với bà Ngụy Thị Khanh về tội danh trốn thuế là việc làm hoàn toàn bình thường của cơ quan chức năng để đảm bảo an ninh trật tự xã hội, bảo vệ quyền lợi chính đáng của cộng đồng, giữ nghiêm kỷ cương phép nước. Quá trình điều tra, xét xử được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật. Phiên tòa được diễn ra công khai, bị cáo được bảo đảm đầy đủ các quyền theo quy định của pháp luật. Trước khi bị khởi tố, tuyên án tù, bà Ngụy Thị Khanh là Giám đốc Trung tâm phát triển sáng tạo xanh GreenID - Trung tâm chuyên nghiên cứu, cung cấp các giải pháp năng lượng bền vững cho cộng đồng và tích cực tham gia tư vấn, góp ý về các lĩnh vực quy hoạch năng lượng, năng lượng tái tạo, biến đổi khí hậu, giảm sử dụng năng lượng hóa thạch và cung cấp nước sạch. Bà Ngụy Thị Khanh cũng được biết đến là “nhà hoạt động môi trường” khá nổi tiếng trên mạng xã hội với những phát ngôn táo bạo, trái chiều. Lẽ ra, với sự nổi tiếng của bản thân, bà Ngụy Thị Khanh càng phải có việc làm đúng quy định pháp luật để nêu gương. Thế nhưng bà Khanh lại có hành vi trốn thuế và việc bị kết án về tội danh này là căn cứ vào hồ sơ, tài liệu và quá trình xét xử tại tòa. Các thế lực thù địch, thiếu thiện chí cố liên hệ sự việc của bà Ngụy Thị Khanh với những trường hợp ông Đặng Đình Bách, cựu Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Pháp luật và Chính sách Phát triển Bền vững (LPSD), đã bị kết án 5 năm tù về tội “trốn thuế” vào tháng 1/2022; ông Mai Phan Lợi và ông Bạch Hùng Dương, lãnh đạo Trung tâm Truyền thông Giáo dục Cộng đồng, lần lượt bị tuyên án 4 năm tù và 2 năm 6 tháng tù với cùng tội danh trên để vu cáo chính quyền Việt Nam “đàn áp những lãnh đạo các tổ chức xã hội dân sự”. Thực tế, cũng như bà Ngụy Thị Khanh, trường hợp các ông Đặng Đình Bách, Mai Phan Lợi, Bạch Hùng Dương đều được điều tra, truy tố và xét xử theo đúng quy định pháp luật, với các tài liệu, chứng cứ kết tội rõ ràng, khách quan. Do vậy, không thể biện minh, cổ súy cho hành vi sai trái ấy bằng những luận điệu lố bịch, lời lẽ vô lý, xảo trá, càng không thể đưa ra bất kỳ yêu cầu nào để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam như cái cách mà các thế lực thù địch, phản động, số tổ chức, cá nhân chống đối đang làm. Việt Nam luôn cam kết nghiêm túc và mạnh mẽ trong bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, phát triển xanh và bền vững. Việt Nam đang tiến hành nhiều biện pháp tổng thể và toàn diện trong lĩnh vực chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh và tuần hoàn. Điều này đã được nêu rõ trong nhiều văn bản pháp luật, chủ trương và chính sách của Việt Nam. Tại Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu COP 26, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã có bài phát biểu khẳng định cam kết của Việt Nam trong việc đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050; giảm 30% lượng phát thải khí methane gây hiệu ứng nhà kính vào năm 2030; tham gia Tuyên bố toàn cầu về chuyển đổi điện than sang điện sạch và Tuyên bố các nhà lãnh đạo về rừng và sử dụng đất. Đảng, Nhà nước tiến hành thường xuyên và rộng rãi việc tham vấn, lấy ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các tổ chức phi Chính phủ và các đối tác quốc tế trong việc xây dựng chính sách, pháp luật về vấn đề môi trường, biến đổi khí hậu. Những tổ chức hỗ trợ cho hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển xanh ở Việt Nam đã tham gia và có những đóng góp tích cực đều được ghi nhận. Đồng thời, chúng ta cũng xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng danh nghĩa xã hội dân sự, bảo vệ môi trường để gây mất trật tự xã hội, vi phạm luật pháp.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 06 THÁNG 7 NĂM 1953!

“Được lòng dân, thì việc gì cũng làm được, trái ý dân, thì chạy ngược chạy xuôi”.
     Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Sẽ được mấy lâu?”, đăng trên Báo Nhân dân, số 122, từ ngày 06 đến ngày 10/7/1953; là giai đoạn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta bước vào tổng phản công, quyết giành thắng lợi cuối cùng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải hành động vì dân, thấu hiểu, chia sẻ, quan tâm đến lợi ích chính đáng của nhân dân. Có như vậy, nhân dân mới tin tưởng và ủng hộ Chính phủ thực hiện thắng lợi mục tiêu của cách mạng.
     Thực hiện lời dạy của Bác, Đảng, Nhà nước ta luôn xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng của nhân dân để xác định chủ trương, đường lối, chính sách và pháp luật, không ngừng chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; nhân dân tin tưởng, đi theo Đảng, theo cách mạng làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ và đại thắng mùa Xuân năm 1975, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước.
     Ngày nay, tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, khó lường; trong nước các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ nhân dân với Đảng... Đòi hỏi Đảng, Nhà nước ta phải sâu sát quần chúng, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, có chủ trương, đường lối hợp lòng dân, tạo được sự đồng thuận giữa ý Đảng với lòng dân. Có như thế, mới tranh thủ được thời cơ, vượt qua thách thức, tiến hành thành công sự nghiệp đổi mới, CNH-HĐH, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
     Quán triệt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội ta luôn thực hiện tốt chức năng đội quân công tác trong tình hình mới, quan tâm chăm lo củng cố mối quan hệ đoàn kết nội bộ và làm tốt công tác dân vận; xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, toàn quân đẩy mạnh phong trào thi đua “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới” với nhiều mô hình mới, cách làm sáng tạo, hiệu quả; tiêu biểu: “Nâng bước em tới trường”, “Tết Biên phòng ấm lòng dân bản”, “Tết quân dân”, “Xuân biên cương, Tết hải đảo”, “Tặng bò giống cho đồng bào nghèo”, “Bệnh xá quân dân y kết hợp”, giúp dân xóa đói, giảm nghèo, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh… góp phần củng cố, giữ vững thế trận lòng dân, được cấp ủy, chính quyền, nhân dân ghi nhận, đánh giá cao. Sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi phải tập trung xây dựng quân đội cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; không ngừng tăng cường, củng cố mối quan hệ đoàn kết quân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp để thực hiện thành công sự nghiệp CNH-HĐH, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN./.
Môi trường ST.