Thứ Tư, 6 tháng 7, 2022

Vấn nạn tin giả trên mạng xã hội

 Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông, nhất là internet và mạng xã hội thì tin giả cũng xuất hiện ngày càng nhiều và trở thành vấn nạn với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Từ vấn đề nêu trên cho thấy, phát hiện, ngăn chặn và phòng, chống tin giả là việc làm cấp bách hiện nay. Để phòng, chống tin giả trên không gian mạng đòi hỏi sự vào cuộc của tất cả các cấp, ngành, các lực lượng cũng như mỗi người dân với nhiều giải pháp đồng bộ, hiệu quả, trong đó tập trung thực hiện tốt một số giải pháp: nâng cao nhận thức cho mọi người dân về tác hại của tin giả cũng như hành vi vi phạm pháp luật trong tạo dựng và tán phát tin giả; tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý trong phòng, chống tin giả; nâng cao năng lực của các cơ quan chức năng và các điều kiện bảo đảm cho phòng, chống tin giả; tăng cường thông tin chính thống, bảo đảm chính xác, kịp thời, góp phần ngăn chặn tin giả; phối hợp chặt chẽ với các nhà mạng trong quản lý, xử lý tin giả.

Trước nhiều chỉ trích của các quốc gia, trong đó có Việt Nam về sự thiếu quan tâm của các nhà mạng đối với vấn nạn tin giả, gần đây, quản lý một số mạng xã hội, công cụ tìm kiếm như: Facebook, YouTube, Google,... đã đưa ra cam kết và thực hiện một số biện pháp nhằm chống lại thông tin giả mạo được chia sẻ trên các nền tảng của mình. Điều này được đánh giá là bước tiến lớn trong việc đẩy lùi nạn tin giả của các mạng xã hội. Tuy nhiên, các cơ quan chức năng cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ và có các biện pháp kiên quyết hơn để các nhà mạng phải vào cuộc một cách thực sự trong việc ngăn chặn, phát hiện và kịp thời gỡ bỏ, không để tin giả lan truyền trên mạng xã hội, gây ảnh hưởng lớn đến an ninh mạng nói riêng và an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước nói chung./. 

Âm mưu chống phá Đảng của Việt Tân

 Sau khi bị các cơ quan chức năng đấu tranh quyết liệt, vô hiệu hóa nhiều kế hoạch phát triển lực lượng vào trong nước, “Việt Tân” đã chuyển hướng hoạt động bằng phương thức “diễn biến hòa bình”, tiếp tục nuôi ảo vọng lật đổ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Việt Tân triệt để lợi dụng sự phát triển của Internet, nhất là mạng xã hội để tuyên truyền, công kích, lôi kéo người dân tham gia các hội, nhóm trá hình trên không gian mạng. Với chiêu bài “phản biện xã hội”, đấu tranh vì “dân chủ”, “nhân quyền”, xây dựng “xã hội dân sự”, bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ… nhưng thực chất là để tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; kích động tư tưởng, thái độ thù địch của thanh niên, sinh viên với đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức.

Việt Tân đã cho lập mới nhiều tài khoản và nhiều diễn đàn kín, kết hợp với những diễn đàn trước đó như “Canh Tân”, “Bạn của Việt Tân”, “Bạn của Nguyễn Quốc Quân”... đăng tải, chia sẻ những bài viết, thông tin tiêu cực trong xã hội để thổi phồng, phá hoại tư tưởng. Ý đồ của chúng là biến mỗi thành viên, cảm tình viên của tổ chức trở thành một tuyên truyền viên, một kênh thông tin hữu hiệu để tuyên truyền, lan tỏa những “thông điệp” của Việt Tân trong cộng đồng người thân và bạn bè của đối tượng. Từ đó, tác động tư tưởng, phát hiện đầu mối giới thiệu cho tổ chức thông qua các trang facebook.

Đồng thời, Việt Tân duy trì các trang web, đài phát thanh và lập bản tin..., cung cấp tài chính, phương tiện cho số đối tượng trong nội địa của chúng thu thập thông tin, viết bài công kích trực tiếp lãnh đạo Đảng Nhà nước; khoét sâu mâu thuẫn nội bộ, tập trung khai thác những sự kiện được dư luận quan tâm, lồng ghép thông tin xuyên tạc tình hình, bôi nhọ, vu cáo các cơ quan chức năng của ta.

Không dừng lại ở đó, chúng liên kết, tài trợ cho Dòng chúa cứu thế mở các văn phòng truyền thông công giáo tại ba miền Bắc, Trung, Nam để tuyên truyền chống chế độ; mở chiến dịch tiếp cận internet tại các vùng ở Tây Nguyên, Tây Bắc nhằm trang bị kiến thức, huấn luyện cách thức sử dụng Internet cho đồng bào dân tộc để dễ dàng tuyên truyền, phát triển lực lượng và kích động họ tham gia các hoạt động tụ tập, gây rối an ninh trật tự tại địa phương, tạo ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế./. 

Việt Tân Lập hội, nhóm chống phá cách mạng Việt Nam

 Không chỉ dừng lại ở việc kích động biểu tình, tổ chức này còn thường xuyên hậu thuẫn, hỗ trợ cho số đối tượng chống đối trong nước hoạt động khủng bố, phá hoại.

Hằng năm, Việt Tân đã vận động và gửi về nước hàng triệu USD cùng các phương tiện kỹ thuật hiện đại như: Máy tính xách tay, máy ảnh kỷ thuật số, điện thoại thông minh, máy ghi âm từ xa… cho các đối tượng trong nước tiến hành hoạt động kích động biểu tình, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Do sự hậu thuẫn, hỗ trợ của Việt Tân nên số chống đối trong nước hoạt động chống phá ngày càng quyết liệt, nguy hiểm, thậm chí một số đối tượng coi hoạt động chống đối theo chỉ đạo của Việt Tân là một “nghề” kiếm sống.

Theo thông tin của cơ quan chức năng, ăn theo Việt Tân, nhiều hội, nhóm trá hình đã được thành lập. Để dễ bề chỉ đạo số đối tượng trong nước, Việt Tân đưa người tham gia, tài trợ tiền cho các hội, nhóm để chi phối hoạt động. Điển hình như “Hội anh em dân chủ” thường xuyên nhận tài trợ của Việt Tân. Đồng thời, là đầu mối tuyển chọn người cho Việt Tân đưa ra nước ngoài đào tạo, huấn luyện.

Lợi dụng nhu cầu muốn ra nước ngoài học tập của người dân, Việt Tân núp dưới danh nghĩa tài trợ học bổng, từ thiện, mời tham dự hội thảo, du lịch..., để móc nối, lôi kéo thanh niên, sinh viên, trí thức, luật sư, phóng viên, người khiếu kiện... ra nước ngoài. Sau đó, dùng thủ đoạn lừa mị, khống chế, bắt điền đơn gia nhập tổ chức, tiến hành huấn luyện kỹ năng hoạt động, bảo mật máy tính, cách chế tạo bom xăng..., rồi tung về nước rải truyền đơn, treo khẩu hiệu, gây cháy nổ tại các địa điểm công cộng, gây hoang mang trong nhân dân.

Một thủ đoạn nham hiểm khác của Việt Tân là sử dụng các đối tượng chống đối trong nước làm bằng chứng sống, cung cấp những thông tin sai lệch về tình hình Việt Nam cho chính giới một số nước; một số hãng thông tin quốc tế, xuyên tạc, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Qua đó, kêu gọi các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam; đồng thời khuếch trương thanh thế, chứng tỏ thực lực của Việt Tân ở nước ngoài, gây dựng ngọn cờ tập hợp lực lượng chống phá Việt Nam./. 

Việt Tân âm mưu kích động biểu tình, lật đổ

 Việt Tân triệt để lợi dụng tâm lý bất bình của quần chúng Nhân dân về một số vụ việc tiêu cực trong nước, các sự kiện nóng liên quan chủ quyền lãnh thổ…, để kích động thanh niên, sinh viên tham gia các cuộc tuần hành, biểu tình, tập dượt cho “cách mạng đường phố” ở Việt Nam. Chúng đưa người thâm nhập vào số đi khiếu kiện, thậm chí tài trợ tiền đề kích động họ tham gia các hoạt động do Việt Tân tổ chức, hòng biến những vụ khiếu kiện, tranh chấp đất đai thành các cuộc biểu tình quy mô lớn; xây dựng và tán phát kịch bản “lật đổ chế độ tại Việt Nam”. Đồng thời, chỉ đạo các đối tượng ở trong nước vẽ sơ đồ, quay phim, chụp ảnh các mục tiêu trọng điểm về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội…, phục vụ cho các mưu đồ chống phá.

Gần đây, các vụ biểu tình, tụ tập đông người phá rối an ninh do Việt Tân kích động không chỉ gia tăng về số lượng mà còn phức tạp về tính chất và mức độ nguy hiểm. Số cầm đầu Việt Tân đánh giá “Dân chủ, nhân quyền, đối đầu bất bạo động là mũi tấn công trực diện Cộng sản; nhưng để tạo biến động, lôi kéo quần chúng vào cuộc thì buộc phải dùng vũ lực; các vụ cháy, nổ, sẽ phá vỡ bức tường sợ hãi trong quần chúng, đẩy chính quyền vào thế bị động”./. 

BÁC HỒ DẠY: “CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN CẦN PHẢI XEM BÁO ĐẢNG”

 Chủ tịch Hồ Chí Minh - danh nhân Văn hoá thế giới, một nhà báo lỗi lạc của dân tộc Việt Nam, sinh thời Người không chỉ dành cho báo chí sự quan tâm đặc biệt, mà Người còn là một tấm gương sáng ngời về niềm say mê đọc báo. Hàng ngày, việc trước tiên của Bác thường là đọc báo, ghi chép lại gương người tốt, việc tốt, những việc chưa tốt được báo chí phản ánh, qua đó Người có hình thức khen thưởng cũng như nhắc nhở phù hợp; việc tốt Bác khen, tặng quà, việc chưa tốt Bác phê bình nhắc nhở rút kinh nghiệm cho lần sau.

Trong bài viết “Cần phải xem báo Đảng” đăng trên Báo Nhân dân số 197 năm 1954, Bác Hồ căn dặn “Cán bộ trong Đảng và ngoài Đảng, toàn thể đảng viên và cốt cán, cần phải xem báo Đảng”. Như vậy, báo Đảng không phải chỉ dành cho đảng viên, mà còn dành mọi cán bộ nói chung, cho tất cả người tham gia công tác trong các tổ chức của hệ thống chính trị nước ta. Đó là,“ Tờ báo của Đảng có nhiệm vụ làm cho tư tưởng và hành động thông suốt và thống nhất... Tờ báo Đảng như những lớp huấn luyện giản đơn, thiết thực và rộng khắp. Nó dạy bảo chúng ta những điều cần biết làm về tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo và công tác. Hàng ngày nó nâng cao trình độ chính trị và năng suất công tác của chúng ta”. Đọc báo Bác khen ngợi, biểu dương những đồng chí chăm đọc sách, báo: “... những đồng chí Trung ương cũng bận việc không kém cán bộ khác, nhưng ngày nào cũng xem được sách và nhiều thứ báo”; Bác phê bình những người viện cớ này, cớ nọ không chú ý xem báo đảng và gọi đích danh đó là “bệnh lười”, và “cần phải sửa chữa ngay”. Cuối bài viết, Bác nhấn mạnh: “...vô luận công việc bận thế nào, nếu khéo sắp xếp thì nhất định có thời gian xem báo, cán bộ trong Đảng và ngoài Đảng, toàn thể Đảng viên và cốt cán cần phải xem báo Đảng”.
Bài viết “Cần phải xem báo Đảng” của Bác Hồ kính yêu vẫn còn nguyên giá trị và ý nghĩa sâu sắc đối với chúng tôi – đặc biệt là những cán bộ, đảng viên trẻ tuổi. Là thể hệ sau được sống dưới bầu trời xã hội chủ nghĩa, chúng tôi đọc báo Đảng để hiểu hơn về sự cống hiến của lớp, lớp cha, anh đi trước; là cán bộ, đảng viên chúng tôi đọc báo đảng để nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi, cập nhật thông tin, từ đó liên hệ, vận dụng vào thực tiễn công việc, để hoàn thành tốt nhiệm vụ mà cơ quan, đơn vị cũng như Tổ quốc giao cho.
Hiện nay, với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, đặc biệt là sự phát triển nhanh chóng của các phương tiện truyền thông và các mạng xã hội như: facebook, youtube, zalo,... đã làm thay đổi không nhỏ thói đọc báo giấy và chuyển sang thói quen đọc thông tin qua báo điện tử, nghe, xem trên truyền hình, internet. Cuộc sống hiện đại, việc sở hữu cho mình một chiếc điện thoại thông minh, ti vi kết nối mạng, máy tính xách tay không phải là điều xa vời. Những công cụ này đã giúp mỗi người kết nối và cung cấp các thông tin cần thiết chỉ cần với một cái chạm tay, hay click chuột...
Tuy nhiên, vẫn có thể khẳng định, trong công tác Đảng, các phương thức hay hình thức mới không thể thay thế được hình thức và phương thức đọc báo giấy truyền thống, báo, tạp chí của Đảng “là tài liệu sinh hoạt đảng và công tác tuyên truyền quan trọng”. Báo, tạp chí của Đảng là phương tiện tuyên truyền, phổ biến kịp thời các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần nâng cao trình độ, nhận thức chính trị tư tưởng của cán bộ, đảng viên, nâng cao dân trí, làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân; là công cụ hữu hiệu đấu tranh chống lại các quan điểm, nhận thức sai trái, vạch trần luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Vì vậy việc duy trì thực hiện tốt việc mua, đọc báo, tạp chí, nâng cao hiệu quả công tác khai thác thông tin từ báo, tạp chí của Đảng là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Đặc biệt khi các đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước đang ra sức chống phá trên các nền tảng công cụ báo trực tuyến, mạng xã hội... trên internet., thì việc chủ động đưa thông tin chân thật, đúng bản chất sự việc đến với bạn đọc thông qua báo, tạp chí của Đảng nhằm định hướng dư luận xã hội là hết sức quan trọng, góp phần quan trọng vào việc tăng cường đoàn kết, nhất trí, tạo sự thống nhất cao về tư tưởng và hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người, mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta “Cần phải đọc báo đảng” và học tập từ báo Đảng; đó là cơ hội để chúng ta nâng cao trình độ chuyên môn, rèn luyện đạo đức cách mạng trong sáng và hoàn thiện bản thân mình hơn mỗi ngày.
Ảnh tư liệu: Bác Hồ đọc báo Nhân Dân tại chiến khu Việt Bắc.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA

“Được lòng dân, thì việc gì cũng làm được, trái ý dân, thì chạy ngược chạy xuôi”.
Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Sẽ được mấy lâu?”, đăng trên Báo Nhân dân, số 122, từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 7 năm 1953; là giai đoạn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta bước vào tổng phản công, quyết giành thắng lợi cuối cùng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải hành động vì dân, thấu hiểu, chia sẻ, quan tâm đến lợi ích chính đáng của nhân dân. Có như vậy, nhân dân mới tin tưởng và ủng hộ Chính phủ thực hiện thắng lợi mục tiêu của cách mạng.
Thực hiện lời dạy của Bác, Đảng, Nhà nước ta luôn xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng của nhân dân để xác định chủ trương, đường lối, chính sách và pháp luật, không ngừng chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; nhân dân tin tưởng, đi theo Đảng, theo cách mạng làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ và đại thắng mùa Xuân năm 1975, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Ngày nay, tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, khó lường; trong nước các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ nhân dân với Đảng... Đòi hỏi Đảng, Nhà nước ta phải sâu sát quần chúng, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, có chủ trương, đường lối hợp lòng dân, tạo được sự đồng thuận giữa ý Đảng với lòng dân. Có như thế, mới tranh thủ được thời cơ, vượt qua thách thức, tiến hành thành công sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa - hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

HÀNH TRÌNH THEO CHÂN BÁC HỒ!

 Cách đây 111 năm, ngày 6-7-1911, Nguyễn Tất Thành, với cái tên thủy thủ Văn Ba trên con tàu “Đô đốc Latouche Tréville” của Hãng Vận tải Hợp Nhất, đã cập bến cảng Marseille và đặt chân lên mảnh đất đầu tiên của nước Pháp. Trong những ngày ở đây, chứng kiến những người lao động Pháp cũng sống trong cảnh bần cùng, người thanh niên yêu nước Việt Nam tự hỏi: “Thế ra ở nước Pháp cũng có người nghèo à!? Tại sao người Pháp không “khai hóa” cho đồng bào của họ trước khi “khai hóa” chúng ta?”.

Tháng 7-1919, bài báo “Tâm địa thực dân” ký tên Nguyễn Ái Quốc, phản bác lại một bài viết đăng trên tờ “Courrier Colonial” (Thông tin Thuộc địa) nhằm công kích “Bản Yêu sách 8 điểm của Nhân dân An Nam” gửi cho Hòa hội Versailles (tháng 6-1919). Bằng giọng văn châm biếm nhưng đanh thép, Nguyễn Ái Quốc vạch trần tâm địa của tác giả bài báo sặc mùi thực dân. Đây cũng là tác phẩm đầu tiên được công bố trong bộ sách “Hồ Chí Minh toàn tập”.
Tháng 7-1922, Nguyễn Ái Quốc gặp Bùi Lâm, một thủy thủ trên tàu biển chạy tuyến Sài Gòn - Marseilles. Hồi ức của Bùi Lâm nhắc lại lời căn dặn của Nguyễn Ái Quốc: “Cần luôn luôn nhớ làm nhiệm vụ của người dân mất nước. Anh em nên thương yêu nhau, vui vẻ, đoàn kết với nhau. Đoàn kết cả với công nhân Pháp, nhân dân Pháp và các nước thuộc địa. Chúng ta đều là người nghèo khổ, bị áp bức, bóc lột như nhau...”.
Ngày 6-7-1924, Nguyễn Ái Quốc tham dự cuộc mít tinh vì hòa bình, tổ chức tại Mátxcơva, đứng trên lễ đài bên cạnh các nhà lãnh đạo Xô Viết nổi tiếng đương thời như Vorosilov, Kalinin, Zinoviev, Frunze... Cũng trong thời gian này, tờ “Le Paria” (Người cùng khổ) đăng bài “Lênin và các dân tộc phương Đông”, trong đó Nguyễn Ái Quốc viết: “Không phải chỉ thiên tài của Người mà chính là tính coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao tới các dân tộc châu Á và khiến cho trái tim của họ hướng về Người, không gì ngăn cản nổi... Lênin là hiện thân của tình anh em bốn bể”.
Ngày 6-7-1946 là ngày Hội nghị Fontainebleau khai mạc, bàn về tương lai quan hệ Việt - Pháp. Là thượng khách của Chính phủ Pháp, nhưng Bác không tham dự mà dành thời gian tiếp một số chức phẩm Thiên Chúa giáo người Việt ở Pháp và gửi lời chào tới một lễ hội kỷ niệm cố đạo Grégoire, một nhà hoạt động thời Cách mạng Pháp đấu tranh cho sự bình đẳng giữa các dân tộc, màu da.
Ngày 6-7-1948, Bác chủ trì phiên họp của Hội đồng Chính phủ, bàn về việc thành lập Hội đồng Quốc phòng Tối cao và được cử giữ chức Chủ tịch Hội đồng này, đồng thời hợp nhất Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng chỉ huy do đồng chí Võ Nguyên Giáp đảm nhận chức vụ Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Ngày 6-7-1954, trả lời Thông tấn xã Việt Nam về những vấn đề liên quan đến Hội nghị Genève đang diễn ra, Bác khẳng định: “Lập trường của ta từ trước đến nay, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ tiếp tục đấu tranh cho hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ của Tổ quốc”.
Ngày 6-7-1967, Bác ký lệnh truy tặng Huân chương Quân công hạng nhất cho Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, một học trò gần gũi và nhiều năng lực vừa mới từ trần.

NHỮNG ĐÊM TRẮNG TẠI TRUNG TÂM CHỈ HUY CỨU HỘ-CỨU NẠN

 Các tình huống thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn diễn ra bất ngờ, chỉ trong tích tắc có thể để lại hậu quả khôn lường về người và tài sản.

Bởi vậy, đòi hỏi cán bộ, nhân viên Trung tâm Quốc gia điều hành tìm kiếm cứu nạn (TKCN), Cục Cứu hộ-cứu nạn (Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam) phải trực 24/24 giờ, luôn sẵn sàng “tác chiến” để khi nhận được thông tin thì nhanh chóng xác minh, đánh giá mức độ ảnh hưởng, kịp thời đề xuất phương án, báo cáo cấp có thẩm quyền huy động lực lượng, phương tiện ứng phó các sự cố bảo đảm hiệu quả nhất.
Sẵn sàng “tác chiến” 24/24 giờ
23 giờ ngày thứ bảy (2-7), chúng tôi vượt mưa dông để đến Sở chỉ huy Trung tâm Quốc gia điều hành TKCN. Lúc này, bão số 1 (tên quốc tế là Chaba) đã suy yếu và đi vào đất liền Trung Quốc nhưng Đại tá Nguyễn Việt Hoa, Trực ban trưởng Trung tâm Quốc gia điều hành TKCN cùng kíp trực vẫn tất bật với công việc. Trước mặt anh Hoa là bản đồ tác nghiệp, máy cơ yếu; các màn hình hiển thị theo dõi cấp độ sóng biển, dòng hải triều, hoạt động của tàu cá ở các khu vực trên Biển Đông. Vừa "dán mắt" vào màn hình, anh Hoa vừa chú ý nghe tín hiệu từ những máy fax quân sự, dân sự, hệ thống thông tin liên lạc... ở sau lưng, sẵn sàng nhận thông tin để kịp thời ứng phó với các sự cố.
Quan sát kíp trực làm việc đến lúc bớt bận rộn, tôi hỏi anh Hoa: “Bão số 1 không đổ vào nước ta mà trực vẫn căng anh nhỉ?”.
Anh Hoa cúi xuống, kéo sọt rác to đựng đầy giấy in ra và nói: “Gần 2/3 gram giấy A4 về xử lý thông tin, văn bản của ca trực này đấy đồng chí ạ! Nhưng hôm nay vẫn chưa là gì so với những lần bão lớn đổ bộ vào nước ta đâu”..
Tôi thấy trên mặt bàn làm việc của anh, hệ thống văn bản được sắp xếp ngay ngắn theo thứ tự: Thông tin diễn biến hoạt động TKCN trên biển; báo cáo nhanh tình hình triển khai ứng phó bão số 1 của các đơn vị, địa phương; tình hình nắng nóng khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ; tình hình cháy nổ, cứu nạn, cứu hộ; báo cáo tình hình thiên tai, cứu nạn, cứu hộ trong ngày; cập nhật diễn biến dịch Covid-19...
Công việc của Đại tá Nguyễn Việt Hoa và các cán bộ, nhân viên tại Trung tâm Quốc gia điều hành TKCN thường xuyên như vậy. Kể cả những ngày không có bão tố, lũ lụt, họ vẫn lặng thầm trực thâu đêm với nhiệm vụ cứu người, cứu tài sản, bởi các tình huống tai nạn, sự cố trên biển, trên đất liền và trên không vẫn có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Đưa tay vuốt ngược mái tóc, anh Hoa cho hay: “Cả hai bên nội ngoại nhà tôi không ai tóc bạc sớm. Nhưng chỉ sau 5 năm công tác tại trung tâm, mái tóc của tôi đã bạc gần hết, nhiều người bảo nguyên nhân là do trực đêm thường xuyên. Đã mấy lần đang ngủ say ở nhà, nghe hoặc mơ thấy âm thanh như tiếng máy fax, chuông điện thoại, theo phản xạ, tôi bật dậy nhanh như điện khiến vợ giật mình hỏi “Anh bị làm sao đấy?”. Lúc ấy, tôi mới biết mình đang ngủ ở nhà”.
Kim đồng hồ chuyển sang ngày 3-7, bão số 1 đã suy yếu thành áp thấp ở Trung Quốc, nhưng Đại tá Nguyễn Ngọc Sơn, Chỉ huy trưởng Trung tâm Quốc gia điều hành TKCN cùng kíp trực vẫn không rời mắt khỏi màn hình và để ý các thông tin, bởi mưa lớn sau bão dễ gây sạt lở, lũ quét, ngập lụt... Đang trao đổi với chúng tôi, điện thoại của anh kêu “Teng! Teng!”. Đọc xong dòng tin nhắn: “Cả 3 tàu cá và các thuyền viên vừa về đến đất liền an toàn rồi anh à”, anh Sơn cười rồi chia sẻ: “Trưa ngày 1-7, nhận được thông tin tại khu vực cách phía đông Đà Nẵng khoảng 80 hải lý, có 2 tàu cá QT 92399TS và QT 90139TS bị sóng đánh chìm, trên 2 tàu có 8 ngư dân, chúng tôi lập tức xác định tọa độ, gửi thông báo đến Trung tâm Phối hợp TKCN hàng hải Việt Nam, đề nghị tàu, thuyền trong khu vực đến ứng cứu hai tàu cá bị nạn kịp thời. Nay họ đã trở về an toàn, mừng quá. Đối với những người lính cứu hộ, cứu nạn, niềm vui lớn nhất là nhận tin báo đã cứu thành công người gặp nạn”.
Tìm hiểu chúng tôi được biết, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu nên thời tiết ngày càng diễn biến phức tạp, cực đoan và khó lường, dẫn đến nhiều thiên tai, sự cố. Nhưng với tinh thần chủ động nắm chắc tình hình, bất kể ngày hay đêm, khi nhận được thông tin đề nghị cứu hộ, cứu nạn thì ngay lập tức cán bộ, nhân viên ứng trực tại trung tâm kịp thời xử lý mọi tình huống; tham mưu với các cấp có thẩm quyền nhanh chóng ra các văn bản, công điện chỉ đạo, huy động lực lượng, phương tiện để ứng phó với các sự cố kịp thời, hiệu quả.
Cần thông tin chính xác, kịp thời
"Alô! Alô! Tôi là Nguyễn Tiến Phong ở thôn... Bão đang vào gần đất liền, đề nghị Trung tâm Quốc gia điều hành TKCN chỉ đạo cho người đến nhà tôi chặt giúp cây dừa, sợ nó đổ vào nhà...”.
Theo các đồng chí trực tại Trung tâm Quốc gia điều hành TKCN, thi thoảng vẫn có những cuộc điện thoại như vậy gọi về trung tâm, thậm chí, có ngư dân chỉ bị trầy xước nhẹ ở chân, tay cũng đề nghị giúp đỡ. Khá nhiều tin báo không đúng thực tế nhưng làm cán bộ, nhân viên trung tâm phải mất thời gian liên hệ điều tra, xác minh.
Trung tâm Quốc gia điều hành TKCN là nơi tham mưu cho chỉ huy các cấp và Ủy ban Quốc gia Ứng phó sự cố, thiên tai và TKCN chỉ đạo, điều hành và phối hợp các lực lượng trên phạm vi cả nước trong thực hiện nhiệm vụ TKCN. Tuy nhiên, có văn phòng ban chỉ huy phòng, chống thiên tai các địa phương duy trì trực chưa thường xuyên nên việc liên lạc để triển khai ứng phó với những sự cố phức tạp, khẩn cấp, cần huy động lực lượng tại chỗ ngay có lúc còn khó khăn.
Đại tá Nguyễn Ngọc Sơn cho biết: "Để ứng cứu kịp thời các sự cố thiên tai, tai nạn đắm tàu hay người đi biển bị bệnh hiểm nghèo... cán bộ, nhân viên của trung tâm luôn sẵn sàng trực 24/24 giờ. Nhất là khi có bão, áp thấp nhiệt đới vào Biển Đông hay các sự cố thiên tai, hỏa hoạn... chúng tôi luôn bảo đảm 100% quân số thực hiện nhiệm vụ cả ngày lẫn đêm. Quy trình xử lý bắt đầu từ nhận thông tin; tác nghiệp trên bản đồ, hải đồ; xác minh; đề xuất các phương án xử lý... Các bước đều phải tiến hành nhanh chóng, chính xác để ứng cứu kịp thời, hiệu quả nhất nên rất mong mọi thông tin gửi đến phải đúng sự việc và kịp thời. Trên thực tế, nhiều trường hợp báo nạn quá muộn nên khi lực lượng cứu hộ, cứu nạn cơ động được đến nơi thì không thể cứu được nữa. Chúng tôi mong nhận được thông tin báo nạn nhanh chóng và chính xác để bảo đảm công tác cứu hộ, cứu nạn thành công".
Theo Báo QĐND

Chính sách phục hồi kinh tế Việt Nam sau tác động của đại dịch Covid-19

 Đại dịch Covid-19 đã tác động lớn đến kinh tế - xã hội Việt Nam. Nền kinh tế phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trong sản xuất kinh doanh, đứt gãy chuỗi cung ứng và tiêu thụ, áp lực lạm phát và chi phí đầu vào tăng, vấn đề lao động, việc làm, an sinh xã hội... Mặc dù đến nay, dịch bệnh cơ bản đã được kiểm soát cùng với tiến trình đẩy mạnh tiêm chủng vắcxin, nhưng để nền kinh tế trở lại quỹ đạo tăng trưởng, Việt Nam cần phải có chính sách phục hồi kinh tế kịp thời, phù hợp, đúng căn nguyên, đủ liều lượng và thể chế thực thi hiệu quả. Bài viết tập trung nghiên cứu tác động của đại dịch Covid-19 đến kinh tế Việt Nam và đề xuất một số khuyến nghị chính sách phục hồi kinh tế Việt Nam trong thời gian tới.

Chính sách phục hồi kinh tế Việt Nam sau tác động của đại dịch Covid-19

Trước tác động nghiêm trọng của đại dịch Covid-19, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp nhằm kiểm soát dịch bệnh và phục hồi kinh tế - Ảnh: dangcongsan.vn

1. Tác động của đại dịch Covid-19 đến nền kinh tế Việt Nam 

Việt Nam đã trải qua 4 đợt bùng phát dịch bệnh Covid-19. Nghiêm trọng và phức tạp hơn cả là đợt bùng phát dịch thứ tư (từ ngày 27-4-2021 đến nay) với những biến thể mới nguy hiểm, lây lan nhanh trong cộng đồng. Các đợt dịch đã tác động lớn đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội, hoạt động sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là tại các vùng kinh tế trọng điểm, nơi tập trung đông dân cư, khu công nghiệp, khu chế xuất và các doanh nghiệp lớn. Tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong hai năm 2020 và 2021 chỉ đạt tương ứng 2,91% và 2,58%(1), mức thấp nhất kể từ khi đổi mới đến nay. Tuy nhiên, nếu so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, việc duy trì tốc độ tăng trưởng dương là một thành công lớn của Việt Nam trong bối cảnh suy giảm kinh tế toàn cầu do ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch Covid-19.

Các ngành kinh tế chịu tác động lớn bởi dịch bệnh là công nghiệp và thương mại, dịch vụ. Trong năm 2021, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng trưởng 4,05%, bằng khoảng 1/2 tốc độ tăng trưởng so với trước đại dịch; khu vực thương mại dịch vụ tăng 1,22%, chỉ bằng 1/7 tốc độ tăng trưởng so với trước đại dịch(2). Đáng chú ý có nhiều lĩnh vực chịu tác động nặng nề và có sự suy giảm sâu so với thời điểm trước đại dịch như du lịch lữ hành, dịch vụ lưu trú, ăn uống, bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng... 

Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản có sự tăng trưởng khá ổn định, trở thành bệ đỡ vững chắc cho nền kinh tế, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Năm 2021, ngành này tăng trưởng 2,9%, đóng góp 13,97% vào tăng trưởng kinh tế(3). Tuy nhiên, do đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp và kéo dài nên việc tiêu thụ các mặt hàng nông sản, thủy sản cũng bị ảnh hưởng lớn.

Hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam tiếp tục tăng trưởng, là điểm sáng của nền kinh tế nhưng tốc độ chậm hơn so với giai đoạn trước đại dịch do các nước đối tác gặp nhiều khó khăn và sự đứt gãy của một số chuỗi cung ứng toàn cầu. Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam phụ thuộc phần lớn vào khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với kim ngạch xuất khẩu năm 2021 đạt 245,22 tỷ USD, chiếm 72,9% tổng kim ngạch xuất khẩu. Khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu đạt 91,09 tỷ USD, chiếm 27,1% tổng kim ngạch xuất khẩu. Cán cân thương mại Việt Nam tiếp tục thặng dư, với mức xuất siêu năm 2021 đạt 4,08 tỷ USD, nhưng không bền vững và có xu hướng giảm so với các năm trước(4)

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội và đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt thấp do đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trên diện rộng. Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành năm 2021 đạt 2.891,9 nghìn tỷ đồng, chỉ tăng 3,2% so với năm 2020(5). Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có dấu hiệu phục hồi, vốn đăng ký mới và vốn đăng ký tăng thêm là 31,15 tỷ USD, tăng 9,2%, nhưng vốn thực hiện chỉ đạt 19,74 tỷ USD, giảm 1,2% so với năm 2020(6)

Dịch bệnh kéo dài ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp phải lựa chọn phương án sản xuất “3 tại chỗ” hoặc “1 cung đường, 2 điểm đến” nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh, gây nên chi phí vận hành rất lớn. Lao động thiếu hụt do nghỉ việc, cung ứng nguyên vật liệu bị gián đoạn nên nhiều doanh nghiệp đã không thể hoàn thành đơn hàng đúng hạn, phải giãn hoặc hủy bỏ hợp đồng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến tăng trưởng sản xuất, mà còn tác động đến tiến độ hoàn thành nhiều dự án, công trình hạ tầng quan trọng mang tính chiến lược quốc gia. Hoạt động sản xuất kinh doanh gặp khó khăn khiến không ít doanh nghiệp phải tạm ngừng kinh doanh hoặc kinh doanh cầm chừng. Năm 2021 có 119.828 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động và giải thể, tăng 17,8% so với năm 2020(7). Phần lớn các doanh nghiệp phải tạm ngừng kinh doanh và giải thể hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ.

Nhiều lao động bị mất việc làm, nghỉ việc không lương. Tỷ lệ thất nghiệp năm 2020-2021 cao nhất trong vòng 10 năm qua. Năm 2021, tỷ lệ thất nghiệp là 3,22%, trong đó tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 4,42%, khu vực nông thôn là 2,48%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động là 3,1%, trong đó ở khu vực thành thị là 3,33% và ở khu vực nông thôn là 2,96%(8). Đây là điều bất thường và trái ngược với xu hướng thị trường lao động của Việt Nam so với những năm trước đại dịch Covid-19.

Cùng với tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm gia tăng, thu nhập của người lao động có xu hướng giảm. Năm 2020, thu nhập thực tế bình quân hằng tháng của người lao động là 5,5 triệu đồng, giảm 2,3% so với năm 2019 (giảm 128 nghìn đồng)(9). Năm 2021, thu nhập của người lao động tiếp tục giảm sâu, đời sống của người lao động gặp nhiều khó khăn. Mức thu nhập bình quân tháng của người lao động trong quý IV năm 2021 là 5,3 triệu đồng, giảm 10,5% so với cùng kỳ năm trước (giảm 624 nghìn đồng)(10). Mặc dù sự suy giảm thu nhập nhỏ so với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới, nhưng đây là sự thay đổi chưa từng thấy trong thời gian qua khi mà thu nhập thực tế của người lao động Việt Nam luôn tăng hằng năm. 

2. Chính sách ứng phó với đại dịch Covid-19 của Việt Nam 

Trước tác động nghiêm trọng của đại dịch Covid-19, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp nhằm kiểm soát dịch bệnh và phục hồi kinh tế, tập trung vào 06 nhóm chính sau: 

Thứ nhất, nhóm chính sách mang tính cấp bách, căn cơ để kiểm soát dịch bệnh, bao gồm: đẩy mạnh chiến dịch tiêm vắcxin phòng Covid-19, chuyển từ chiến lược “zero Covid-19” sang thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19. Đây là những chính sách có ý nghĩa rất quan trọng, tạo nền tảng cho quá trình phục hồi sản xuất, kinh doanh trong điều kiện “bình thường mới” sau dịch bệnh.

Thứ hai, nhóm chính sách miễn giảm các loại thuế, phí, lệ phí và áp lực tài chính nhằm hỗ trợ cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh, tổ chức chịu ảnh hưởng bởi dịch bệnh. Cụ thể: (i) giảm, gia hạn nộp tiền thuê đất; gia hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân cho các đối tượng chịu ảnh hưởng của dịch bệnh; (ii) xác định chi phí được trừ khi tính thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản chi ủng hộ, tài trợ của doanh nghiệp, tổ chức cho các hoạt động phòng, chống dịch; (iii) quy định một số chế độ đặc thù cho lực lượng tuyến đầu chống dịch; (iv) giãn, giảm phí công đoàn, bảo hiểm xã hội...

Thứ ba, nhóm chính sách tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh ổn định sản xuất - kinh doanh, phục hồi và tạo đà phát triển, nhất là những lĩnh vực chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh Covid-19(11). Bên cạnh các chính sách hỗ trợ chung về giảm thuế, phí, giảm giá điện, nước, viễn thông... cho người dân, doanh nghiệp, hộ kinh doanh, Chính phủ đã ban hành những chính sách hỗ trợ riêng cho một số ngành, lĩnh vực như: hàng không (giảm thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu bay), sản xuất ô tô (gia hạn nộp thuế tiêu thụ đặc biệt, giảm lệ phí trước bạ đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước). 

Thứ tư, nhóm chính sách thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư quan trọng quốc gia (Nghị quyết số 84/NQ-CP ngày 29-5-2020 của Chính phủ). Thực hiện chuyển đổi hình thức đầu tư một số dự án cấp bách, có thể triển khai ngay (Nghị quyết số 41/NQ-CP ngày 9-4-2020 của Chính phủ); chuyển đổi sang đầu tư công sử dụng toàn bộ vốn ngân sách nhà nước đối với 03 dự án thành phần thuộc Dự án xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2017-2020 (Nghị quyết số 117/2020/QH14 của Quốc hội). Các giải pháp này có ý nghĩa quan trọng, vừa kích thích chi tiêu đầu tư công trong ngắn hạn để đẩy mạnh tăng trưởng, vừa có ý nghĩa tạo ra các kết cấu hạ tầng phục vụ hiệu quả, lâu dài cho nền kinh tế.

Thứ năm, nhóm chính sách tiền tệ mở rộng, bảo đảm thanh khoản trên thị trường tiền tệ, giảm lãi suất cho vay, ổn định lãi suất điều hành ở mức thấp, ban hành quy định về việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ đối với đối tượng vay vốn... Qua đó, giảm chi phí vốn vay, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, tổ chức chịu ảnh hưởng bởi dịch bệnh, đồng thời bảo đảm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô(12).

Thứ sáu, nhóm chính sách an sinh xã hội, bao gồm: (i) hỗ trợ bổ sung và đẩy nhanh chi trả thông qua Quỹ bảo hiểm xã hội, Quỹ bảo hiểm thất nghiệp; (ii) giảm mức đóng bảo hiểm xã hội, hỗ trợ đào tạo và cho vay ưu đãi đối với doanh nghiệp, tổ chức để giữ chân người lao động, trả lương phục hồi sản xuất; (iii) cấp tiền cho các đối tượng phải điều trị Covid-19 và trẻ em, người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, hướng dẫn viên du lịch. Bên cạnh đó, các địa phương cũng ban hành nhiều chính sách hỗ trợ người dân, đặc biệt là người nghèo, đối tượng chính sách tại khu vực cách ly, địa bàn thực hiện giãn cách xã hội như cấp tiền mặt, hỗ trợ lương thực, thực phẩm(13).

Các chính sách ứng phó với đại dịch Covid-19 của Việt Nam thời gian qua cơ bản phù hợp với diễn biến và tác động của dịch bệnh; tương đồng với cách tiếp cận mới của nhiều quốc gia trên thế giới, được người dân và cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao. Các chính sách được thực hiện với chi phí thấp (tổng quy mô các chính sách chi hỗ trợ từ tài khóa và ngoài tài khóa tương đương 3,2% GDP)(14), do vậy không gây ảnh hưởng lớn đến các cân đối lớn của nền kinh tế, đồng thời bảo đảm dư địa tài khóa, tiền tệ để tiếp tục xây dựng, thực hiện các giải pháp trong giai đoạn tiếp theo. Kết quả là đã góp phần quan trọng kiểm soát dịch bệnh, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng dương trong hai năm 2020-2021, duy trì triển vọng kinh tế tích cực trong trung và dài hạn; củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp vào các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đây là nền tảng quan trọng cho quá trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội sau tác động của đại dịch Covid-19.

Tuy nhiên, một số chính sách chưa bảo đảm tính tổng thể, chưa bao quát hết được tính chất, quy mô, mức độ khẩn cấp của đại dịch Covid-19. Bên cạnh đó, việc tổ chức thực hiện một số chính sách còn chậm, hiệu quả chưa cao; quy trình, thủ tục rườm rà, thiếu linh hoạt; thông tin, hướng dẫn chưa kịp thời dẫn đến doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ khó tiếp cận. Nhiều chính sách hiện nay còn mang tính ứng phó trước mắt, có thời hạn áp dụng hạn chế, chưa có những chính sách tập trung cho từng ngành, lĩnh vực cụ thể có quy mô lớn, có tính chất dài hạn theo hướng phục hồi hơn là giải cứu ngắn hạn.

3. Một số khuyến nghị chính sách phục hồi kinh tế 

Hiện nay, đại dịch Covid-19 trên thế giới và ở Việt Nam vẫn đang diễn biến phức tạp, khó lường với nguy cơ xuất hiện những biến chủng mới; kinh tế thế giới phục hồi không đồng đều, nhiều bất định. Bản thân nội tại nền kinh tế Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Để phục hồi và phát triển kinh tế trong điều kiện thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả đại dịch Covid-19, Việt Nam cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, tiếp tục kiểm soát tốt tình hình dịch bệnh, đây là điều kiện tiên quyết, mang tính cốt lõi để tạo nền tảng cho quá trình khôi phục kinh tế, giảm thiểu tổn thất do đại dịch gây ra và phát triển kinh tế bền vững. Cần quyết tâm cao hơn nữa trong việc thực hiện các biện pháp kiểm soát và đẩy lùi dịch bệnh Covid-19, nhất là tại khu vực thành phố lớn, các địa phương có nhiều khu công nghiệp. Đẩy mạnh chiến lược tiêm vắcxin, sử dụng tổng hợp mọi nguồn lực để sớm có đủ vắcxin phòng Covid-19 tiêm miễn phí cho toàn dân; hoàn thành tiêm mũi 3, mũi nhắc lại vắcxin phòng Covid-19 trong thời gian sớm nhất. Đây là điều kiện để kiểm soát hiệu quả dịch bệnh và chuyển đổi nền kinh tế sang giai đoạn phát triển mới thích ứng an toàn, linh hoạt với dịch bệnh. Thực hiện việc công nhận hộ chiếu vắcxin với các nước; duy trì hiệu quả, cập nhật thường xuyên hệ thống thông tin, dữ liệu về tiêm vắcxin phòng Covid-19 để tăng cường phòng bệnh, bảo đảm an toàn xã hội. Thúc đẩy phát triển hoạt động nghiên cứu, phát triển sản xuất vắcxin và thuốc điều trị bệnh trong nước là điều kiện (đủ) để bảo đảm cho việc kiểm soát, thích ứng trước sự phát triển của dịch bệnh; tiến tới đưa Covid-19 là trở thành “bệnh lưu hành” hay “bệnh đặc hữu”.

Hai là, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định thị trường tài chính, tiền tệ, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa, chính sách tín dụng, tiền tệ mở rộng một cách hợp lý, linh hoạt trên tinh thần tận dụng tối đa và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, bảo đảm an toàn tài chính quốc gia; kiểm soát lạm phát, giá cả các mặt hàng nguyên, nhiên vật liệu đầu vào cho sản xuất. Cần giữ lạm phát và lãi suất ở mức thấp, tỷ giá ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm, để sau dịch bệnh nền kinh tế hồi phục nhanh chóng. 

Ba là, triển khai có hiệu quả các gói hỗ trợ doanh nghiệp đã ban hành; thường xuyên đánh giá kết quả thực hiện các gói hỗ trợ và tiến hành tháo gỡ ngay những vướng mắc trong quá trình thực hiện. Nghiên cứu xem xét gói hỗ trợ tổng thể bổ sung trên cơ sở cân nhắc, tính toán dư địa chính sách tài khóa và tiền tệ, mức độ tác động của dịch bệnh, bối cảnh và cơ hội mới để thiết kế chính sách phù hợp. Việc triển khai các gói hỗ trợ doanh nghiệp phải quyết liệt, mạnh mẽ, liên tục, thông suốt, công khai, minh bạch, đúng đối tượng, kịp thời, dễ tiếp cận; quy mô hỗ trợ phải tương xứng với mức độ ảnh hưởng của dịch bệnh; điều kiện, tiêu chuẩn các gói hỗ trợ phải khả thi; các quy trình, thủ tục để hưởng hỗ trợ phải được đơn giản hóa tối đa; đồng thời, có cơ chế giám sát, kiểm tra sát sao việc thực hiện và chế tài xử lý để tránh lợi dụng, trục lợi chính sách và rủi ro đạo đức.

Bốn là, tiếp tục thúc đẩy triển khai các dự án đầu tư công - đây là nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới. Do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, cầu chi tiêu từ khu vực doanh nghiệp và người dân giảm mạnh, Nhà nước cần đóng vai trò kích cầu. Tuy nhiên, việc thúc đẩy đầu tư công không được dàn trải, vội vàng; cần tập trung đầu tư các dự án lớn, quan trọng, phát triển hạ tầng trọng điểm, có sức lan tỏa, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là các dự án liên vùng, các dự án nhằm phòng, chống và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu và thảm họa thiên nhiên, các dự án chuyển đổi số quốc gia.

Năm là, tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong sản xuất, kinh doanh; nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền các cấp, tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế. Đây vừa là đột phá chiến lược của Việt Nam trong giai đoạn 10 năm tới, vừa là một trong những động lực phục hồi kinh tế với chi phí thấp nhưng hiệu quả và tính bền vững cao.

Sáu là, tập trung phát triển mạnh thị trường trong nước thông qua các chính sách bình ổn thị trường, xúc tiến thương mại và giảm thuế, phí. Thực hiện có hiệu quả các giải pháp kích thích tiêu dùng nội địa; tăng cường công tác thông tin tuyên truyền hưởng ứng cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Tập trung kích cầu một số ngành, lĩnh vực như du lịch, bán lẻ, vận tải, lưu trú, ăn uống. Phát triển ngành du lịch hướng đến an toàn với dịch bệnh, thân thiện với môi trường.

Bảy là, tăng cường theo dõi, cập nhật, đánh giá tình hình và dự báo xu hướng thương mại quốc tế. Thực thi có hiệu quả các hiệp định thương mại tự do nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, nhất là các thị trường còn nhiều dư địa; các hiệp định thương mại tự do mới ký kết hứa hẹn tạo ra những thay đổi lớn trong định hình chuỗi cung ứng. Tận dụng cơ hội từ các xu hướng kinh tế thế giới, đồng thời chủ động ứng phó với các ảnh hưởng tiêu cực bởi cạnh tranh thương mại và xung đột thương mại.

Tám là, thu hút, khuyến khích lực lượng lao động quay trở lại nơi làm việc tại các khu công nghiệp, thành phố lớn để khôi phục sản xuất. Đồng thời, các địa phương cần chủ động xây dựng phương án giải quyết việc làm cho người lao động trở về địa phương chưa sẵn sàng quay lại các khu công nghiệp, thành phố lớn do tâm lý e ngại đại dịch còn diễn biến phức tạp; chú trọng vấn đề an ninh, trật tự, tránh những bất ổn về xã hội.

Chín là, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và nền kinh tế không tiếp xúc. Đại dịch Covid-19 đặt nền kinh tế nước ta trước những thách thức vô cùng to lớn, đồng thời đem lại những cơ hội thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số của nền kinh tế. Để phát triển kinh tế số cần phát triển kết cấu hạ tầng của nền kinh tế số và triển khai các chính sách thay đổi thói quen sử dụng tiền mặt; tạo dựng nền tảng vững chắc cho phát triển thương mại điện tử với ba yếu tố có tính chất quyết định là logistic, thanh toán điện tử và an ninh mạng. Chính phủ cần sớm ban hành chính sách quản lý phát triển nền kinh tế số, tạo cơ sở cho việc triển khai trên thực tế các mô hình kinh doanh mới, sản phẩm kinh doanh mới, tiền điện tử, dịch vụ ngân hàng điện tử, công nghệ tài chính (FinTech)... Bên cạnh đó, Chính phủ cần có những giải pháp hỗ trợ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp/cá nhân tham gia xây dựng nội dung số, đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số của nền kinh tế.

__________________

(1), (2), (3), (5), (6), (7), (8) Tổng cục Thống kê: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội Quý IV và năm 2021, ngày 29-12-2021 

(4) https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2022/01/vuot-qua-kho-khan-xuat-nhap-khau-nam-2021-ve-dich-ngoan-muc/

(9) Tổng cục Thống kê: Báo cáo tác động của dịch Covid-19 đến tình hình lao động, việc làm Quý IV và năm 2020, ngày 06-01-2021

(10) Tổng cục Thống kê: Báo cáo tác động của dịch Covid-19 đến tình hình lao động, việc làm Quý IV và năm 2021, ngày 06-01-2022

(11), (13) Xem Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 4-3-2020 của Thủ tướng Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch Covid-19; Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 9-4-2020 và Nghị quyết số 154/NQ-CP ngày 19-10-2020 của Chính phủ về biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19; Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 01-7-2021 của Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19; Quyết định 23/2021/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 7-7-2021 quy định về việc thực hiện một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19; Nghị quyết số 116/NQ-CP ngày 24-9-2021 về chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp; Văn bản số 245/TLĐ ngày 18-3-2020 về việc lùi thời điểm đóng kinh phí công đoàn đối với các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19...

(12) Xem Thông tư 01/2020/TT-NHNN ngày 13-3-2020; Thông tư số 03/2021/TT-NHNN ngày 02-4-2021 và Thông tư số 14/2021/TT-NHNN ngày 7-9-2021 của Ngân hàng Nhà nước quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng do dịch Covid-19; Thông tư số 05/2020/TT-NHNN ngày 7-5-2020 quy định tái cấp vốn đối với ngân hàng chính sách xã hội và Thông tư số 12/2020/TT-NHNN ngày 11-11-2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 05/2020/TTNHNN; Thông tư số 08/2020/TT-NHNN ngày 14-8-2020 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 22/2019/TT-NHNN ngày 15-11-2019 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Thông tư số 04/2020/TT-NHNN ngày 31-3-2020 (áp dụng từ ngày 01-4 đến 31-12-2020), Thông tư số 19/2020/TT-NHNN ngày 30-12-2020 (áp dụng từ ngày 01-01 đến 30-6-2021) và Thông tư số 23/2021/TT-NHNN ngày 23-8-2021 (áp dụng từ ngày 01-9-2021 đến 30-6-2022) sửa đổi Thông tư 26/2013/TT-NHNN về Biểu phí dịch vụ thanh toán qua Ngân hàng Nhà nước Việt Nam....

(14) https://tuyengiao.vn/van-hoa-xa-hoi/xa-hoi/phuc-hoi-va-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-co-hoi-yeu-cau-va-thach-thuc-137968.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ môi trường trong xây dựng đất nước phát triển bền vững

 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành trọn cuộc đời đấu tranh và hiện thực hóa khát vọng Độc lập - Tự do - Hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam. Người sớm hoạch định những định hướng chiến lược phát triển đất nước, trong đó có vấn đề bảo vệ môi trường. Những quan điểm, chỉ dẫn và thực hành của Người về bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững vẫn vẹn nguyên giá trị trong công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ môi trường trong xây dựng đất nước phát triển bền vững

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm công trường đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải (ngày 25-12-1958) - Ảnh: hochiminh.vn

1. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bảo vệ môi trường 

Vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường khi nào và ở đâu cũng có vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng, con người muốn tồn tại, cần phải sống hòa hợp với tự nhiên, mặt khác còn phải biết cải tạo, chinh phục tự nhiên để phục vụ tốt hơn cho cuộc sống. Môi trường, tài nguyên thiên nhiên tạo cơ sở vật chất để phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội, góp phần làm phong phú cuộc sống tinh thần của con người. 

Môi trường có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển xã hội và ổn định chính trị của đất nước, góp phần phát triển kinh tế, xây dựng CNXH. Vì lẽ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường: “Việt Nam ta có hai tiếng Tổ quốc, ta cũng gọi Tổ quốc là đất nước; có đất và có nước, thì mới thành Tổ quốc. Có đất lại có nước thì dân giàu, nước mạnh […]. Nhiệm vụ của chúng ta là làm cho đất với nước điều hòa với nhau để nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội”(1). Sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường được thể hiện chủ yếu ở những nội dung sau:

Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề trồng cây gây rừng gắn với bảo vệ rừng, giữ cân bằng sinh thái tự nhiên

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, với tầm nhìn chiến lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm quan tâm đến môi trường và bảo vệ môi trường. Trong thờikỳ xây dựng CNXH ở miền Bắc, hằng năm, vào dịp đầu Xuân, thời tiết thuận lợi cho cây cối sinh sôi, phát triển, Người phát động phong trào “Tết trồng cây”: “Mùa xuân là Tết trồng cây/Làm cho đất nước càng ngày càng Xuân”. Phong trào thi đua trồng cây do Người phát động đã dần trở thành một thói quen, nếp sinh hoạt tốt đẹp của nhân dân ta mỗi dịp Tết đến Xuân về, mang lại hiệu quả thiết thực cho phát triển kinh tế và cải thiện môi trường sống. 

Để cổ vũ phong trào trồng cây, Người đã viết nhiều bài đăng trên báo Nhân Dân, như Nông dân phải trồng cây chuẩn bị làm nhà ở (ngày 30-5-1959), Tết trồng cây (28-11-1959), Tết trồng cây đã thắng lợi bước đầu (19-1-1960), Bài phát biểu tại Hội nghị tổng kết phong trào sản xuất nông lâm, ngư nghiệp năm 1959 (18-2-1960), Thêm vài ý kiến về Tết trồng cây (25-3-1960),Tết trồng cây (28-1-1961), Năm mới hãy nhiệt liệt tổ chức Tết trồng cây (01-1-1965), Tết trồng cây (05-2-1969)...

Người căn dặn bộ đội, chiến sỹ phải hạn chế tối đa việc chặt cây, phá rừng, săn bắn chim thú: “Chiến tranh, bộ đội thường phải trú quân trong rừng nên phải hướng dẫn cho anh em tận dụng hang động, hạn chế tối đa việc chặt cây, phá rừng. Chặt cây động rừng, muông thú không có nơi ở phải bỏ đi lang thang. Bộ đội ở rừng gặp thú rừng là đương nhiên. Trong tay lại có súng, có đạn nên việc sát hại thú rừng là dễ xảy ra lắm… Ta lại còn săn bắn nữa thì nay mai đất nước hòa bình, giang sơn đâu còn là rừng, rừng đâu còn muông thú? Thế chẳng khác gì đất không có người, sông không có cá”(2).

Mục đích trồng cây gây rừng góp phần nâng cao đời sống cho nhân dân, mang lại lợi ích kinh tế, cảnh quan đẹp, vừa bảo đảm an ninh, quốc phòng, vừa mang tầm chiến lược lâu dài; lợi ích của những hoạt động này không chỉ có ý nghĩa với cuộc sống của mỗi cá nhân, từng gia đình mà là của toàn xã hội; có ý nghĩa không chỉ với một quốc gia mà là lợi ích toàn cầu. Theo người, toàn thể nhân dân, từ cụ già đến em nhỏ, nhất là các đoàn viên, thanh niên, các cơ quan, đoàn thể... đều nên tham gia phong trào “Tết trồng cây”. 

Nói chuyện với hơn 2000 đồng bào, cán bộ, bộ đội đảo Cô Tô (Hải Ninh, nay thuộc tỉnh Quảng Ninh), Người căn dặn: “Cần trồng nhiều cây ăn quả, cây lấy gỗ, cây ngăn gió. Trồng cây sẽ đưa lại cho nhân dân một nguồn lợi to, lại làm cho xứ sở ta thêm tươi đẹp”(3). Người nhắc nhở nhân dân trồng cây ven biển để bảo vệ đê, làm rừng phòng hộ, chống gió cát, chống xói mòn…, chú ý hiệu quả chứ không phải chỉ là kêu gọi phong trào, làm cho có: “Trồng cây nào, tốt cây ấy”, coi đó là “một kế hoạch kinh tế lâu dài và liên tục”, “một việc quan trọng chuẩn bị cho công việc xây dựng nông thôn mới nay mai”(4)

Tại Hội nghị Tuyên giáo miền núi năm 1963, Người nhắc nhở: “Các cô, các chú cần hết sức chú ý vấn đề bảo vệ rừng. Nếu cứ để tình trạng đồng bào phá một ít, nông trường phá một ít, công trường phá một ít, thậm chí đoàn thăm dò địa chất cũng phá một ít, thì rất tai hại. Phá rừng thì dễ, nhưng gây lại rừng thì phải mất hàng chục năm. Phá rừng nhiều như vậy sẽ ảnh hưởng đến khí hậu, ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống rất nhiều”(5). Người coi đó là hành vi “đem vàng đổ xuống biển”, làm thất thoát tài nguyên của đất nước, gây nhiều hệ lụy cho cuộc sống con người và các thế hệ mai sau. 

Trong Thư gửi Đại hội hợp tác xã và đội sản xuất tiên tiến miền núi và trung du, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Hợp tác xã nào cũng phải có kế hoạch trồng rừng và tích cực bảo vệ rừng. Nếu rừng kiệt thì không còn gỗ và mất nguồn nước thì ruộng nương mất màu, gây ra lụt lội và hạn hán. Vì vậy đồng bào miền núi và trung du cũng như đồng bào miền xuôi lên tham gia phát triển kinh tế ở đây phải bảo vệ rừng như bảo vệ nhà cửa của mình”(6).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho việc trồng cây lan tỏa rộng khắp, trở thành một nét đẹp của văn hóa dân tộc Việt Nam. Ngay cả khi sang thăm các nước, hoặc đón tiếp các nguyên thủ quốc gia, khách quốc tế đến thăm Việt Nam, Người cũng đều tổ chức trồng cây lưu niệm, thể hiện tình hữu nghị, ý thức làm đẹp môi trường sống, nhân dân thế giới yêu mến gọi đó là “cây Bác Hồ”. Bà Katherine Muller-Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Việt Nam đã có những nhận xét rất sâu sắc về Người: “Hồ Chí Minh đã sớm thể hiện sự quan tâm của Người đối với các vấn đề liên quan đến môi trường và tới mối quan hệ hòa hợp giữa con người và thiên nhiên trong sự phát triển của một quốc gia. Người ủng hộ sự cần thiết phải chống thiên tai, duy trì và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên cùng môi trường sinh thái và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trồng rừng, thủy lợi và cải thiện chất đất…Người còn kêu gọi mọi người “trồng và bảo vệ rừng, như bảo vệ ngôi nhà của mình”. Để nêu gương, Người đã tạo ra một môi trường tự nhiên tuyệt vời quanh nơi ở của mình và chăm sóc cây cối, hồ cá, và chim chóc, nhấn mạnh là chúng cần được bảo vệ bởi chúng là những báu vật của thiên nhiên”(7).

Thứ hai, Hồ Chí Minh chú trọng việc xây dựng công trình thủy lợi để điều hòa nước, xây dựng đời sống mới với môi trường sống lành mạnh

Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng đến vấn đề nguồn nước trong sản xuất nông nghiệp và điều hòa khí hậu, quan tâm xây dựng công trình thủy lợi. Với bộ quần áo nâu sẫm màu, mái tóc bạc phơ, mang đôi dép cao su, tác phong giản dị và gần gũi, Người thường xuyên đi đến các địa phương, thăm và kiểm tra các công trình thủy lợi, xắn quần, lội ruộng, cùng tát nước, cùng đạp guồng nước chống hạn, chống úng, xuống sát chân đê ân cần thăm hỏi và hướng dẫn bà con đắp đê chống lụt… 

Người từng nói trong lần về thăm Hưng Yên: “Cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi. Ta đã có đất, nhưng còn thiếu nước. Có đất phải có nước”(8). Từ lời dạy đó của Người, sau ba năm, công trình đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải được hoàn thành, tạo được mạng lưới thủy lợi rộng khắp vùng, tạo nên những cánh đồng phì nhiêu mỗi năm hai vụ, từng bước xóa hẳn nạn đói giáp hạt hằng năm, tiến tới có thóc dự trữ, góp phần đưa nước ta trở thành nước xuất khẩu gạo đứng hàng đầu trên thế giới những năm đổi mới.

Khi cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, năm 1947, giữa bộn bề công việc kháng chiến, kiến quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm Đời sống mới dưới bút danh Tân Sinh. Bắt tay vào xây dựng đời sống mới, nếp sống mới, lối sống mới, Người quan tâm giáo dục, động viên cán bộ, nhân dân đấu tranh bài trừ hủ tục; nhắc nhở, giáo dục nhân dân biết giữ gìn vệ sinh: ăn sạch, uống sạch, ở sạch, mặc sạch: “Sạch sẽ tức là một phần đời sống mới. Sạch sẽ thì ít đau ốm. Sức khỏe thì làm được việc, làm được việc thì có ăn”(9). Để xây dựng môi trường sống lành mạnh, phải chú ý: “đường sá phải sạch sẽ. Ao tắm giặt, giếng nước uống phải phân biệt và săn sóc cẩn thận. Những ao hồ không cần thì lấp đi, cho đỡ muỗi”(10).

Người dạy thiếu niên, nhi đồng luôn phải ghi nhớ thực hiện “Giữ gìn vệ sinh thật tốt”, để rèn luyện nếp sống tốt đẹp, giữ gìn môi trường xung quanh sạch đẹp, văn minh. Đối với cán bộ, công nhân làm việc trong môi trường nhà máy, hầm mỏ, công trường, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở phải chú ý bảo vệ sức khỏe, bảo vệ an toàn lao động và tăng cường công tác vệ sinh. Trong lần Nói chuyện với cán bộ, công nhân nhà máy dệt Nam Định (24-4-1957)(11), Người nhắc nhở anh chị em trong sản xuất phải đeo khẩu trang chống bụi bông, nếu không sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu tấm gương tuyệt vời về phong cách ứng xử, lối sống hòa hợp với thiên nhiên. Theo Người, môi trường sống là yếu tố quan trọng bảo đảm sức khỏe cho cán bộ, chiến sỹ sống, học tập, lao động và chiến đấu. Người luôn gần gũi với thiên nhiên, hòa mình với chim muông cây cỏ, với môi trường sống xung quanh, coi thiên nhiên như người bạn thân thiết, là nguồn cổ vũ, động viên.

Khi ở chiến khu, Người chọn những nơi “trên có núi, dưới có sông, có đất ta trồng, có bãi ta vui”, nhà “thoáng, ráo, kín, mát”... Kháng chiến thắng lợi, trở về Hà Nội, Người sống và làm việc trong ngôi nhà sàn giản dị nằm giữa vườn cây xanh mát. Người trồng rất nhiều loại cây cối trong vườn, chăm chút vun trồng. Phong cách sống giản dị, tiết kiệm, không xa hoa, lãng phí, hòa đồng với thiên nhiên, có ý thức dành dụm tài nguyên thiên nhiên cho thế hệ mai sau của Người là tấm gương sáng cho thế hệ sau học tập và làm theo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cả cuộc đời đấu tranh cho độc lập của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân, đến tận lúc chuẩn bị đi về cõi vĩnh hằng, Người vẫn nghĩ đến những điều có lợi cho nước, cho dân: “Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, nói chữ là “hỏa táng”. Tôi mong rằng cách “hỏa táng” dần dần sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất. Bao giờ ta có nhiều điện, thì “điện táng” càng tốt hơn”(12). Như vậy, cách đây hơn nửa thế kỷ, Người đã có tầm nhìn về việc sử dụng những nguồn năng lượng sạch để bảo vệ môi trường, đó cũng là cách tiết kiệm tài nguyên đất đai cho hiện tại và con cháu mai sau. Người còn mong muốn: “Trên mộ, nên xây 1 cái nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi. Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thăm thì trồng một cây làm kỷ niệm. Trồng cây nào phải tốt cây ấy. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp(13). Dẫu sắp không còn trên đời này nữa, Người vẫn luôn nghĩ đến những điều tích cực cho người sống, nhắc nhở việc trồng cây để làm đẹp môi trường.

2. Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bảo vệ môi trường soi sáng công cuộc xây dựng đất nước phát triển bền vững

Môi trường là vấn đề toàn cầu, bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một nội dung cơ bản của phát triển bền vững. Hiện nay, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu toàn cầu là vấn đề nóng được đặt trên bàn nghị sự quốc tế, là mối đe dọa đến an ninh con người, an ninh nguồn nước, an ninh năng lượng, an ninh lương thực… của tất cả các quốc gia. 

Việt Nam hiện cũng đang phải đối diện với nhiều vấn đề môi trường gay gắt: Thiên nhiên nước ta vốn bị tàn phá bởi chiến tranh trước đây, nay còn bị phá hoại bởi hoạt động vô ý thức, thiếu kế hoạch trong việc khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên; tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái gia tăng vì chất xả thải ra môi trường của các nhà máy; nồng độ bụi ở đô thị vượt quá nhiều lần chỉ tiêu cho phép; các hoạt động khai thác mỏ, vật liệu xây dựng, vàng, đá quý… cũng đã và đang huỷ hoại dần môi trường sinh thái… Thêm vào đó, Việt Nam được đánh giá là một trong năm nước chịu tác động mạnh nhất của biến đổi khí hậu(14). Đó là những vấn đề nóng bỏng, thách thức đối với mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam trong thời gian tới.

Chính phủ Việt Nam sớm nhận rõ vấn đề hài hòa giữa phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường trong mục tiêu phát triển bền vững, từ năm 1991, Chính phủ đã thông qua kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững 1991-2000, sau đó được lồng ghép xuyên suốt các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 5 năm đến hiện nay. 

Thực tế những năm đầu đổi mới, chúng ta vẫn chưa có sự quan tâm đầy đủ đến vấn đề môi trường, vì thế: “Khoảng cách giữa đổi mới chính sách kinh tế và đổi mới chính sách văn hoá, xã hội bộc lộ rõ nét, nhiều vấn đề xã hội nổi lên. Trong chỉ đạo, thường chú ý nhiều hơn các chỉ tiêu vật chất mà ít chú ý các chỉ tiêu về phát triển xã hội và bảo vệ môi trường”(15)

Tại Đại hội XII, sau 30 năm đổi mới, Đảng ta xác định: “bảo đảm sự hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, phát triển con người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển xã hội bền vững”, “Phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên”(16).

Năm 2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 622/QĐ-TTg Về việc ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững, trong đó xác định 17 mục tiêu chung và 115 mục tiêu cụ thể tương ứng với các mục tiêu phát triển bền vững của toàn cầu(17). Chính phủ Việt Nam khẳng định rõ chủ trương không đánh đổi môi trường để phát triển kinh tế. 

Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) đã bổ sung thành tố “bảo vệ môi trường” trong mối quan hệ lớn “giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”(18). Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 tiếp tục khẳng định: “Phát triển nhanh và bền vững […] phát triển hài hòa giữa kinh tế với văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu”(19). Điều này thể hiện nhận thức đầy đủ và toàn diện của Đảng và Nhà nước về các trụ cột của phát triển bền vững theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó cũng chính là các yếu tố căn bản cấu thành sự phát triển bền vững, một định hướng phát triển tất yếu, khách quan, phù hợp với xu thế chung hiện nay của các quốc gia, xu hướng phát triển tiến bộ của nhân loại và thời đại, chú trọng sự hài hòa, toàn diện của các yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường. 

Để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với các mục tiêu phát triển bền vững về tài nguyên, môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, Đại hội XIII của Đảng đã đề ra những nhiệm vụ cơ bản: Nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của các cấp, các ngành và toàn dân về bảo vệ môi trường, từ đó dẫn đến sự thay đổi nhận thức và hành vi của từng cá nhân, cộng đồng; hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững; tập trung khắc phục, cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường ở các đô thị, các cụm công nghiệp, làng nghề…; quản lý chặt chẽ, bảo vệ và phục hồi rừng tự nhiên; phát triển, nâng cao chất lượng rừng; tăng độ che phủ rừng gắn với bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ cảnh quan, môi trường sinh thái; thực hiện có hiệu quả các mục tiêu phát triển bền vững theo Chương trình Nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững của Liên hợp quốc, đó là duy trì tăng trưởng kinh tế bền vững đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; tăng cường hợp tác quốc tế trong quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, nhằm giải quyết hiệu quả những khó khăn vượt khỏi khả năng của một quốc gia…

Trong thời gian tới, ngoài các nhiệm vụ định hướng trên, cần tập trung vào một số giải pháp như: Tuyên truyền sâu rộng về tầm quan trọng của môi trường sinh thái, làm cho mọi người nhận thức một cách tự giác về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên; giải quyết hài hoà giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường theo chủ trương của Đảng; nền sản xuất xã hội cần phải thực hiện thêm chức năng tái sản xuất các nguồn tài nguyên thiên nhiên, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính; triển khai thực hiện đầy đủ Luật Bảo vệ môi trường…

__________________ 

(1), (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.12, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội , 2011, tr.283, 536.

(2) Báo Pháp luật Việt Nam, số 106 (3828), ngày 4-5-2009.

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.129.

(5), (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.14, tr.165, 294.

(7) Katherine Muller-Marin “Những đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực hoạt động của UNESCO”, https://hcma.vn/tintuc/Pages/dien-dan-chinh-tri-tu-tuong.aspx?CateID=201&ItemID=21139, ngày 14-5-2010, truy cập ngày 28-6-2022.

(8) Bác Hồ sống mãi, t.2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2005, tr.762.

(9), (10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.114, 119.

(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.532.

(12), (13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.613, 613.

(14), (17) Trần Nguyễn Tuyên: Một số vấn đề về môi trường ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp, http://hdll.vn/vi/nghien-cuu---trao-doi/mot-so-van-de-ve-moi-truong-o-viet-nam-hien-nay--thuc-trang-va-giai-phap.html, truy cập ngày 28-6-2022.

(15) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.64, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr.60.

(16) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội 2017, tr.104,142.

(18), (19) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.119, 214.