Thứ Tư, 6 tháng 7, 2022

Cần xem lại cách nhìn, quan niệm về tự do tôn giáo

    Những năm gần đây, sự sôi động trong đời sống tôn giáo ở Việt Nam được thể hiện ở việc liên tục gia tăng số lượng các cơ sở thờ tự trong tôn giáo và tín đồ. Bất chấp điều đó, các thế lực thù địch vẫn vu cáo Việt Nam ngăn cản tự do tôn giáo, không công nhận các tổ chức tôn giáo.

    Theo số liệu từ Ban Tôn giáo Chính phủ, nếu như năm 1985, số lượng tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam vào khoảng 14 triệu, thì đến năm 2021 đã tăng lên hơn 26,5 triệu. Thành tựu trong bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam còn được thể hiện qua sự gia tăng số lượng các trường đào tạo chức sắc.

    Tính đến tháng 4-2022, các tôn giáo ở Việt Nam có 66 cơ sở đào tạo chức sắc với 10.000 học viên đang theo học, riêng Giáo hội Phật giáo Việt Nam có 47 cơ sở đào tạo, trong đó có 4 học viện Phật giáo. Các cơ sở thờ tự cũng được quan tâm sửa chữa, xây mới. Tính đến ngày 31-12-2021, cả nước có 29.800 cơ sở thờ tự của các tôn giáo, tăng thêm 5.800 cơ sở so với năm 2008.

    Hiện ở Việt Nam cũng có nhiều hệ thống tổ chức giáo hội có tầm hoạt động quốc tế, đặc biệt là Công giáo, Phật giáo và một số tổ chức tôn giáo có nguồn gốc nước ngoài du nhập vào Việt Nam, thể hiện thông qua việc mở rộng quan hệ với các tổ chức tôn giáo các nước và tiến hành các hoạt động thiện nguyện ở nước ngoài. Chẳng hạn như giữa tháng 6 vừa qua, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tổ chức lễ trao tặng tài trợ, giúp đỡ nhân dân Sri Lanka vượt qua khó khăn do cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị tại đất nước này.

    Không chỉ phát triển mạnh mẽ về số lượng, các tổ chức tôn giáo, tín đồ, chức sắc ở Việt Nam đã chứng tỏ tầm ảnh hưởng tích cực đối với đời sống, sẵn sàng đóng góp cho cộng đồng thông qua các hoạt động thiện nguyện và đồng hành với các hoạt động của đất nước, mà những gì diễn ra trong giai đoạn đại dịch Covid-19 phức tạp là một ví dụ điển hình.

    Những con số và ví dụ nói trên một mặt phản ánh sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam trong thực hiện nhất quán quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; mặt khác khẳng định Việt Nam không phân biệt giữa người có tín ngưỡng, tôn giáo hay không; không phân biệt hay kỳ thị bất kỳ tôn giáo nào dù nội sinh hay được truyền từ nước ngoài, dù là tôn giáo đã ổn định lâu dài hay mới được công nhận.

    Thực tế cũng cho thấy, các tín đồ tôn giáo ở Việt Nam ngày càng đông và họ được tự do hành lễ dù ở nhà riêng hay nơi thờ tự. Mỗi người Việt Nam cũng thường có tín ngưỡng riêng, chẳng hạn như thờ cúng tổ tiên, ngày rằm mùng một thắp hương... nhưng vẫn có thể theo tôn giáo. Ngoài ra, nhiều lễ hội tôn giáo diễn ra hằng năm không còn là chuyện riêng của từng tôn giáo mà đã có sức lan tỏa lớn trong cộng đồng xã hội, qua đó làm giàu thêm đời sống tinh thần của nhân dân. 

    Qua đó để thấy rằng, việc một số cá nhân, tổ chức nước ngoài thường xuyên bóp méo hoặc có cái nhìn sai lệch về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam có thể do mưu đồ rắp tâm chống phá Việt Nam thông qua vấn đề dân chủ, tôn giáo và nhân quyền, hoặc cũng có thể do sự khác biệt trong cách nhìn và quan niệm của họ về vấn đề này. 

    Can thiệp sâu vào tình hình tự do nhân quyền cũng như tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các quốc gia khác và cố bắt các quốc gia ấy phải mặc “bộ cánh tự do tôn giáo” mang màu sắc phương Tây là điều không thể chấp nhận được. Bộ cánh ấy qua mô tả thì rất mỹ miều và hợp thời, nhưng liệu đã có ai thừa nhận sự chuẩn mực của nó?

“Mái nhà chung” tri ân đồng đội

“Đồng đội ơi, chúng tôi về thăm các anh đây!”, tiếng lòng của các cựu chiến binh (CCB) Tiểu đoàn K3-Tam Đảo, Bộ CHQS tỉnh Quảng Trị (nay là Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 246, Sư đoàn 346, Quân khu 1) làm bầu không khí trên chuyến xe về dự lễ khánh thành cụm Di tích lịch sử cao điểm 689 (xã Hướng Tân, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị) thêm trầm lắng.

Ký ức không quên

“Cách đây 54 năm, cũng vào mùa hè đỏ lửa trên chiến trường Quảng Trị, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn K3-Tam Đảo trải qua những ngày chiến đấu ác liệt để giành chiến thắng trên cao điểm 689, một vị trí chiến lược quan trọng được coi là “con mắt” của Khe Sanh”, CCB Nguyễn Văn Hợi tâm sự.

Đêm 28, rạng sáng 29-6-1968, nhận lệnh của cấp trên, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn K3-Tam Đảo bắt đầu tập kích tấn công quân Mỹ ở cao điểm 689. Ngay trận đầu ra quân, Trung đội 1, Đại đội 10 do Thiếu úy Phạm Ngọc Khánh, Trung đội trưởng chỉ huy đã tiêu diệt nhiều lính Mỹ, phá hủy nhiều hầm ngầm lô cốt địch. Trong trận đánh này, đồng chí Khánh bị thương rất nặng. Biết mình không thể tiếp tục chiến đấu, anh Khánh đã trao lại nhiệm vụ chỉ huy cho Nguyễn Xuân Ba, Tiểu đội trưởng Tiểu đội 1, rồi anh lết đến hầm đại liên của địch, ấn chùm lựu đạn tiêu diệt hỏa lực của địch và anh dũng hy sinh...

Trải qua những ngày chiến đấu ác liệt, đến tối 7-7-1968, lá cờ giải phóng được đồng chí Nguyễn Hữu Quyền, Tiểu đội trưởng Tiểu đội 8, Trung đội 3, Đại đội 10 cắm trên nóc sở chỉ huy địch ở mỏm A (cao điểm 689).

Mất mỏm A, quân Mỹ điên cuồng tổ chức nhiều đợt phản kích ngay trong đêm 7-7. Chúng chia làm nhiều mũi, hướng tiến công dưới sự yểm trợ của các loại hỏa lực, máy bay lên thẳng vũ trang, đạn cối, rốc-két. Chưa kịp nghỉ ngơi, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn K3-Tam Đảo lợi dụng hầm hào, lô cốt có sẵn của địch kiên cường đánh trả và bẻ gãy các đợt phản kích của địch. Rạng sáng 8-7, sau nhiều nỗ lực phản kích không thành, quân Mỹ rút chạy.

Trong trận đánh lịch sử ở điểm cao 689, tuy ta loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch nhưng hơn 100 cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn K3-Tam Đảo đã anh dũng hy sinh. CCB Nguyễn Văn Hợi nghẹn ngào: "Đau đớn thay, sau khi rút chạy, Mỹ điên cuồng hủy diệt trận địa bằng những trận bom napan làm xương máu của những đồng đội chúng tôi vĩnh viễn tan lẫn vào từng nắm đất, ngọn cỏ nơi đây...".

Sâu đậm nghĩa tình 

Những đám mây trắng che mát không gian đường lên cụm Di tích lịch sử cao điểm 689, làm chúng tôi liên tưởng đến anh linh các anh hùng liệt sĩ đang che chở cho đồng đội giữa tháng hè nắng lửa. Các CCB Tiểu đoàn K3-Tam Đảo kể rằng, trước kia, mọi người phải vạch lối, phát quang đường để lên tới đỉnh thắp nhang tri ân, tưởng nhớ đồng đội.

Làn khói hương quện trong gió làm cho những người còn sống cay xè đôi mắt, dòng lệ tuôn rơi. “Nếu cứ như vậy, chiến công và hình ảnh của đồng đội ở cao điểm 689 sẽ bị thời gian chôn vùi vào quên lãng. Thế hệ con cháu mai sau cũng mất đi một “địa chỉ đỏ” để hun đúc lòng yêu nước. Và nơi cửu tuyền, đồng đội chúng tôi sẽ mãi mãi không có một nơi chốn để về”, CCB Nguyễn Văn Hợi nghẹn lòng nhớ lại.

Hôm nay, tâm nguyện về một "mái nhà chung" cho anh linh các liệt sĩ-những đồng đội đã hy sinh trong các trận đánh trên cao điểm 689 của các CCB Tiểu đoàn K3-Tam Đảo đã thành hiện thực. Với truyền thống "uống nước nhớ nguồn", các cấp, các ngành, chính quyền và cán bộ, chiến sĩ, nhân dân đã chung tay, góp sức để xây dựng cụm Di tích lịch sử cao điểm 689. Quần thể lưu niệm di tích có hai phần.

Phần 1 gồm: Đường dẫn, tiền sảnh, trụ cổng chính và hàng rào, chòi nghỉ chân, hệ thống sân vườn. Hai trụ cổng chính làm bằng bê tông cốt thép, đỉnh trụ là hoa sen; phần thân trụ có khung hình chữ nhật, đắp nổi hai dòng chữ: Công ơn liệt sĩ đời đời nhớ/ Nghĩa tình đồng đội mãi mãi ghi. Phần 2 gồm: Nhà bia, bia di tích. Trên bia khắc ghi chiến công của Tiểu đoàn K3-Tam Đảo trong trận đánh cao điểm 689 và những tổn thất hy sinh của đơn vị trong trận đánh lịch sử.

Bầu không khí lễ khánh thành cụm Di tích lịch sử cao điểm 689 diễn ra trang nghiêm, cảm động. Những giọt nước mắt nhớ thương và hạnh phúc chậm lăn nơi khóe mắt hằn dấu chân chim trên khuôn mặt các CCB Tiểu đoàn K3-Tam Đảo. “Nơi cửu tuyền, đồng đội chúng tôi đã có "mái nhà chung”. Đây cũng là nơi mãi khắc ghi tên tuổi và chiến công của các anh trong lòng dân tộc”, Anh hùng LLVT nhân dân Trần Trọng Can, CCB Tiểu đoàn K3-Tam Đảo bồi hồi xúc động.

Cô giáo ở Quảng Trị chuẩn bị hơn 100 suất ăn sáng tặng thí sinh miền núi trước giờ thi

Thương các học sinh vùng cao còn khó khăn, một cô giáo dạy Văn ở miền núi Quảng Trị đã chuẩn bị sẵn hơn 100 suất quà gồm bánh mì và sữa để gửi tặng các em ăn lót dạ trước khi bước vào làm bài thi của Kỳ thi tốt nghiệp THPT.

Ngày 6/7, cô Nguyễn Thị Kim Hảo - giáo viên dạy môn Ngữ văn Trường THPT A Túc (huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị) đã chuẩn bị xong hơn 100 suất quà tặng cho các thí sinh của trường dự thi tốt nghiệp THPT năm 2022 tại điểm thi THPT A Túc vào sáng ngày mai 7/7.

Theo đó, mỗi gói quà gồm 1 bánh mì và 1 hộp sữa, đủ cho 1 học sinh ăn sáng trước khi bước vào phòng thi tốt nghiệp THPT. Tiền mua hơn 100 gói quà được cô Kim Hảo trích từ tiền lương của mình. Vì phải làm nhiệm vụ coi thi ở điểm thi khác, nên món quà này sẽ được cô Hảo nhờ Đội tiếp sức mùa thi của Đoàn trường THPT A Túc gửi đến tận tay các em thí sinh dự thi vào sáng 7/7.

Cô Hảo chia sẻ, món quà nhỏ này vừa giúp các học sinh dân tộc thiểu số có một bữa sáng đảm bảo trước giờ thi tốt nghiệp, vừa là món quà tinh thần tiếp thêm động lực, may mắn và sự tự tin cho các em.

Được biết, cô Hảo đã công tác tại Trường THPT A Túc được 7 năm và được rất nhiều thế hệ học sinh trong trường kính mến.

Ngày 7/7, gần 1 triệu sĩ tử sẽ dự thi 2 môn Ngữ văn và Toán trong ngày thi đầu tiên của kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2022.

Sáng 7/7, các thí sinh tham dự kỳ thi tốt nghiệp THPT 2022 làm bài thi đầu tiên - môn Ngữ văn bằng hình thức tự luận.

Tại nhiều điểm thi tại Hà Nội, từ 6h, các phụ huynh, thí sinh đã tập trung đông tại cổng các điểm thi. Đây là kỳ thi khá đặc biệt với các thí sinh bởi nhiều thời gian trong cả 3 năm học phải học online do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19. Một số thí sinh không tránh khỏi cảm giác hồi hộp, có chút lo lắng về đề thi.

Chia sẻ về đề thi năm nay, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Hữu Độ cho biết, thí sinh năm nay là những học sinh chịu tác động bởi Covid-19 trong cả ba năm học THPT. Để phù hợp với điều kiện, thời gian học tập của các em, đề thi năm nay sẽ tập trung vào những kiến thức mang tính cơ bản và vẫn sẽ có độ phân hóa để qua đó phân loại được thí sinh, phù hợp với yêu cầu của nhiều trường đại học dùng kết quả của kỳ thi để xét tuyển.

Đề thi sẽ bảo đảm không có các phần đã tinh giản theo các hướng dẫn về dạy và học trong các năm học vừa qua của Bộ GD&ĐT.

Sáng nay, thí sinh làm bài Ngữ văn trong 120 phút, bắt đầu từ 7h35. Buổi chiều, thí sinh tiếp tục làm bài môn Toán trong 90 phút, bắt đầu từ 14h30.

Sáng 8/7, thí sinh sẽ thi Khoa học tự nhiên (Vật lý, Hóa học, Sinh học) hoặc Khoa học xã hội (Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân) và kết thúc kỳ thi với môn Ngoại ngữ vào chiều 8/7.

Riêng Ngữ văn thi tự luận, các môn thi còn lại dưới dạng trắc nghiệm khách quan.

Trong chiều 6/7, các thí sinh cả nước đã là thủ tục dự thi tại các điểm thi. Theo ghi nhận của Báo Giao thông, các thí sinh có tâm lý khá thoải mái và tự tin; trong khi nhiều phụ huynh lại bày tỏ sự lo lắng trước kỳ thi này.

Theo đánh giá chung của Cục Quản lý thi, Bộ GD&ĐT, ngày làm thủ tục dự thi (chiều 6/7) đã diễn ra an toàn, nghiêm túc tạo điều kiện thuận lợi cho thí sinh cũng như cho công tác tổ chức Kỳ thi tại tất cả các địa phương trên cả nước.

Báo cáo từ các Hội đồng thi, toàn quốc có 63 Hội đồng thi gồm 2.243 Điểm thi, 42.293 phòng thi.

Tổng số thí sinh đã đến làm thủ tục dự thi là 989.863 thí sinh đạt tỷ lệ 98,75% so với số đăng ký dự thi. Trong đó, có 38 thí sinh thuộc diện F0, được các điểm thi bố trí thi tại phòng riêng biệt. Công tác coi thi tại các phòng này cũng sẽ được triển khai theo đúng Quy chế cùng với các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 cho cán bộ coi thi và thí sinh.

Các Hội đồng thi đã thực hiện tốt các giải pháp hỗ trợ thí sinh làm thủ tục dự thi thuận lợi; phổ biến Quy chế thi, nội quy phòng thi đầy đủ; hướng dẫn thí sinh sửa chữa các sai sót trong quá trình đăng ký dự thi, tạo tâm lý tốt để thí sinh an tâm, sẵn sàng tham gia Kỳ thi; Đồng thời, có các phương án dự phòng ứng phó với các tình huống bất thường, bảo đảm tổ chức Kỳ thi an toàn, nghiêm túc.

ĐẤU TRANH VỚI LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, XUYÊN TẠC VỀ CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM

 

Thời gian qua, lợi dụng việc cơ quan chức năng khởi tố, điều tra một số vụ án tham nhũng, tiêu cực được dư luận xã hội quan tâm, các đối tượng cơ hội chính trị, phản động tiếp tục phát tán các bài viết trên các trang mạng phản động với những luận điệu sai trái, xuyên tạc công tác cán bộ và công tác phòng chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước. Đây là những luận điệu vô cùng nham hiểm, phủ nhận thành quả của cuộc đấu tranh làm trong sạch bộ máy do Đảng lãnh đạo, gây hoang mang trong dư luận, gây mất đoàn kết nội bộ, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

NÂNG CAO NHẬN THỨC TRƯỚC NHỮNG THÔNG TIN XẤU ĐỘC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

Trong thời thời gian gần đây các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đang ráo riết thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, đã triệt để lợi dụng các trang mạng xã hội để chống phá Việt Nam với nhiều phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Các hoạt động chống phá của chúng diễn ra trên phạm vi rộng, cường độ cao, cả ở trong và ngoài nước. Về nội dung, chúng tập trung tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá đường lối lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta bằng các luận điệu sai trái, thù địch phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đối lập Đảng với Nhà nước, tiến tới xóa bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; đồng thời, lợi dụng một bộ phận cán bộ đảng viên yếu kém, suy thoái về đạo đức lối sống để đồng nhất cả về tổ chức, sự lãnh đạo của Đảng và phẩm chất của cán bộ, đảng viên. Đối với các lực lượng vũ trang, chúng tìm mọi thủ đoạn, biện pháp để gây mâu thuẫn giữa Quân đội và Công an, cổ súy cho việc xây dựng một quân đội nhà nghề, nhằm phi chính trị hóa quân đội.

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN CÓ CẦN ĐƯỢC TUYÊN TRUYỀN, VẬN ĐỘNG HAY KHÔNG???

 

          Hiện tượng cán bộ, Đảng viên thờ ơ với chính trị được chỉ ra là nguy cơ tồn vong của đảng, bởi Đảng Cộng sản là một tổ chức Chính trị mà Đảng viên lại thờ ơ với chính trị thì ai làm chính trị? Khi quần chúng nhân dân bàn luận chính trị mọi lúc, mọi nơi… từ mạng xã hội tới hoạt động thực tế đời sống của mình, mà Đảng viên chẳng ngó ngàng gì, chẳng quan tâm gì… thì liệu nhân dân có còn tin Đảng Cộng sản sẽ đảm bảo được quyền lợi chính trị của mình hay không?

          Vấn đề đã được đặt ra nhưng lại không nêu được nguyên nhân để giải quyết vấn đề thì sẽ vẫn “dậm chân tại chỗ”, vẫn là khuyết điểm nguy hiểm chưa được giải quyết từ nhiệm kỳ này tới nhiệm kỳ khác, từ giai đoạn này tới giai đoạn khác mà thôi. Vậy, để cán bộ Đảng viên không còn thờ ơ với chính trị nữa thì cần giải quyết mấy yếu tố:

          1- Thực hiện tốt nội hàm “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” trong các đơn vị tế bào của Đảng. Nội dung này nói dễ nhưng làm lại khó, bởi trong buổi họp thì không nói, hoặc quan điểm nằm ở thiểu số… nhưng khi ra ngoài quần chúng thì lại nói quan điểm cá nhân, không tuyên truyền quan điểm đã thống nhất, đã triển khai của Chi bộ, Đảng uỷ, Đảng bộ, cấp trên.

          Giải quyết được nội hàm vấn đề này thì mới giải quyết được mối quan hệ giữa “trách nhiệm phát ngôn” của Đảng viên với đơn vị của mình.

          2- Cập Nhật và cung cấp thông tin thời sự nóng về tình hình kinh tế - chính trị - văn hoá - xã hội - an ninh trật tự an toàn xã hội… và những vấn đề nổi bật trên mạng xã hội. Để làm gì?

          Để cán bộ Đảng viên có đầy đủ thông tin, thông tin chính xác nhằm phản bác dư luận xã hội tiêu cực, phản bác thông tin xấu độc, tuyên truyền và định hướng dư luận xã hội bằng thông tin tích cực. Cán bộ Đảng viên không nắm thông tin thì sao tuyên truyền, bản thân chưa hiểu và chưa thông thì sao định hướng được dư luận xã hội… làm sao quan tâm được đời sống chính trị của nhân dân.

          3- Cán bộ Đảng viên phải biết sử dụng mạng xã hội, từ chối sử dụng mạng xã hội là xa rời quần chúng nhân dân.

          Ở giai đoạn hiện tại, công nghệ 4.0 đã đi vào đời sống xã hội, nhân dân rộng khắp. Quần chúng nhân dân kinh doanh, học tập, giao tiếp, hoạt động chính trị - xã hội… chiếm hầu hết thời gian trên không gian mạng,

          Vậy,

          - Cán bộ Đảng viên không sử dụng mạng xã hội thì ”gặp” quần chúng nhân dân như thế nào?

          - Làm sao hiểu được quần chúng nhân dân?

          - Làm sao nắm bắt được đời sống chính trị của quần chúng nhân dân để kịp thời định hướng?

          - Làm sao nắm bắt được kịp thời những thông tin về tình hình chính trị - xã hội để xác minh và định hướng dư luận, ngăn chặn hiệu quả những thông tin sai lệch trái với quan điểm của Đảng và nhà nước, thông tin xấu độc bịa đặt và xuyên tạc về chủ trương của Đảng và nhà nước, cán bộ lãnh đạo các cấp???

          Cuối cùng, muốn cán bộ Đảng viên không thờ ơ với chính trị thì phải thường xuyên sinh hoạt chính trị, phân công nhiệm vụ chính trị. Đây là thời đại công nghệ và thông tin thì phải nắm công nghệ, nắm thông tin… chỉ như vậy mới không lạc hậu, mới không mù thông tin mà từ đó mạnh dạn đấu tranh, không dễ dàng bị lừa phỉnh chính trị.

          Cần phải luôn nhớ rằng, nhân dân đang ở trên mạng xã hội, muốn gặp nhân dân, muốn gần nhân dân thì phải ở trên mạng xã hội với họ. Tháo gỡ những vướng mắc của cán bộ Đảng viên đối với việc sử dụng mạng xã hội bằng việc trao cơ chế thông tin cho họ, thông tin hai chiều và đa chiều, có báo cáo khi gặp vướng mắc… có trách nhiệm với thông tin, có thi đua xử lý thông tin… thì mới mong xã hội được lành mạnh.

          Con người nói chung, tổ chức Đảng và Đảng viên nói riêng đều không nằm ngoài quy luật của sự vận động và phát triển. Nếu sự phát triển của xã hội đã vượt qua Đảng và Đảng viên mà bản thân Đảng và Đảng viên vẫn “dặm chân tại chỗ” không chịu phát triển… thì chắc chắn sẽ bị đào thải bởi quy luật vận động của các bánh răng, những bánh răng khớp nhau thì sẽ tạo nên cỗ máy mạnh mẽ, lệch nhau sẽ phá hỏng cả bộ máy./.

                                                                                      St.

SỰ PHI LÝ PHÍA SAU "BỘ CÁNH TỰ DO TÔN GIÁO"

 

          Một trong những nguyên nhân khiến các thế lực thù địch và đối tượng xấu thường xuyên bịa đặt, vu cáo về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam là nhằm bẻ lái luật pháp về tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam theo các tiêu chuẩn phương Tây.

          Làm thất bại chiến lược "Diễn biến hòa bình": Sức mạnh trong sự đồng thuận xã hội

          Những năm qua, do cách nhìn thiên lệch, thiếu thiện chí nên một số cá nhân, tổ chức hoạt động dưới danh nghĩa “người bảo vệ” tự do tôn giáo và nhân quyền thế giới vẫn tung ra những thông tin thiếu khách quan, những nhận định sai trái về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam.

          Điển hình là gần đây, Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ (USCIRF) công bố báo cáo về tình hình tự do tôn giáo quốc tế năm 2021, trong đó nêu tình hình và kết quả thực hiện tôn giáo của 27 nước và một số thực thể, tổ chức trên thế giới mà USCIRF đánh giá là có những vi phạm “nghiêm trọng” hoặc “đặc biệt nghiêm trọng” để đề xuất Bộ Ngoại giao Mỹ đưa vào “danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt” hoặc “danh sách cần theo dõi đặc biệt” về tự do tôn giáo, từ đó nhằm áp đặt chế tài với các quốc gia này trong hỗ trợ tài chính và hợp tác trên một số lĩnh vực.

          Trong nội dung báo cáo về Việt Nam, USCIRF đưa ra nhận xét với giọng điệu đầy kẻ cả rằng điều kiện tự do tôn giáo của Việt Nam trong năm 2021 không có gì khác biệt so với năm 2020. Và, thông qua việc đả kích tình hình bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, USCIRF thậm chí còn đòi sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam.

          Tính đến hết năm 2021 đã có 16 tôn giáo được Nhà nước Việt Nam công nhận, trong đó có Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Phật giáo Hòa hảo...

          Phải khẳng định rằng, không chỉ riêng báo cáo năm 2021 mà các báo cáo thường niên của USCIRF đưa ra trong những năm gần đây đều được đánh giá là chưa chính xác, thiếu thiện chí, thiếu khách quan về tình hình tự do tôn giáo ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Thậm chí, ngay cả trong chính giới Mỹ và các tổ chức nhân quyền ở Mỹ cũng xuất hiện những ý kiến cho rằng, cách tiếp cận của USCIRF nặng về chỉ trích, không giúp cải thiện tự do tôn giáo trên toàn cầu đúng với mục đích mà Quốc hội và Chính phủ Mỹ đặt ra.

          Trên thực tế, Việt Nam là quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng tôn giáo, trong đó có cả tôn giáo nội sinh và tôn giáo ngoại nhập và từng được ví như một “bảo tàng” về tín ngưỡng, tôn giáo của thế giới. Theo thống kê cập nhật từ Ban Tôn giáo Chính phủ, hiện nay ở Việt Nam có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng và hơn 26,5 triệu tín đồ, chức sắc của các tôn giáo. Tính đến hết năm 2021 đã có 16 tôn giáo được Nhà nước Việt Nam công nhận, trong đó có Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Phật giáo Hòa hảo...

          Chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là bảo đảm và thúc đẩy quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân, bảo đảm công bằng, không phân biệt đối xử với các tôn giáo. Việt Nam cũng là một trong số ít các quốc gia trên thế giới có đạo luật về tôn giáo, cụ thể là Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội thông qua ngày 18-11-2016, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2018. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam quy định rất rõ các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật, không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.

          Đồng thời, Nhà nước Việt Nam tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước và cộng đồng, đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân. Nhà nước cũng bảo hộ các cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo và tài sản hợp pháp của các cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo. Đồng thời, nghiêm cấm các hành vi phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo, ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo, xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; các hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường, xâm phạm đời sống xã hội cũng như thân thể, tính mạng, sức khỏe của nhân dân... Và việc xử lý đối với các hoạt động vi phạm pháp luật liên quan đến tôn giáo cũng dựa trên những quy định này.

          Quyền tự do tôn giáo là vấn đề có tính lịch sử, nghĩa là phụ thuộc vào từng thời điểm lịch sử cụ thể ở từng quốc gia, gắn với từng thể chế chính trị-xã hội và điều kiện kinh tế-văn hóa-xã hội cụ thể nhất định. Nói cách khác, không thể tồn tại một khái niệm về quyền tự do tôn giáo chung chung, trừu tượng mà không gắn với một bối cảnh và thực thể nhất định.

          Vì lẽ đó, không thể đem giá trị, quan niệm về tự do tôn giáo ở một quốc gia này để áp dụng hay đo lường, đánh giá mức độ quyền tự do tôn giáo ở một quốc gia khác. Đặc biệt, trên phương diện quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia, thể chế chính trị bình đẳng, độc lập thì càng không thể đem tiêu chuẩn về tự do tôn giáo ở quốc gia này để áp đặt lên một quốc gia khác và buộc quốc gia đó phải tuân theo.

          Đây cũng là những điều mà USCIRF hay bất cứ cá nhân, tổ chức nào đang muốn đưa ra những đòi hỏi quá trớn đối với việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam cần phải học thuộc!

          Những năm gần đây, sự sôi động trong đời sống tôn giáo ở Việt Nam được thể hiện ở việc liên tục gia tăng số lượng các cơ sở thờ tự trong tôn giáo và tín đồ. Bất chấp điều đó, các thế lực thù địch vẫn vu cáo Việt Nam ngăn cản tự do tôn giáo, không công nhận các tổ chức tôn giáo.

          Theo số liệu từ Ban Tôn giáo Chính phủ, nếu như năm 1985, số lượng tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam vào khoảng 14 triệu, thì đến năm 2021 đã tăng lên hơn 26,5 triệu. Thành tựu trong bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam còn được thể hiện qua sự gia tăng số lượng các trường đào tạo chức sắc.

          Tính đến tháng 4-2022, các tôn giáo ở Việt Nam có 66 cơ sở đào tạo chức sắc với 10.000 học viên đang theo học, riêng Giáo hội Phật giáo Việt Nam có 47 cơ sở đào tạo, trong đó có 4 học viện Phật giáo. Các cơ sở thờ tự cũng được quan tâm sửa chữa, xây mới. Tính đến ngày 31-12-2021, cả nước có 29.800 cơ sở thờ tự của các tôn giáo, tăng thêm 5.800 cơ sở so với năm 2008.

          Hiện ở Việt Nam cũng có nhiều hệ thống tổ chức giáo hội có tầm hoạt động quốc tế, đặc biệt là Công giáo, Phật giáo và một số tổ chức tôn giáo có nguồn gốc nước ngoài du nhập vào Việt Nam, thể hiện thông qua việc mở rộng quan hệ với các tổ chức tôn giáo các nước và tiến hành các hoạt động thiện nguyện ở nước ngoài. Chẳng hạn như giữa tháng 6 vừa qua, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tổ chức lễ trao tặng tài trợ, giúp đỡ nhân dân Sri Lanka vượt qua khó khăn do cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị tại đất nước này.

          Không chỉ phát triển mạnh mẽ về số lượng, các tổ chức tôn giáo, tín đồ, chức sắc ở Việt Nam đã chứng tỏ tầm ảnh hưởng tích cực đối với đời sống, sẵn sàng đóng góp cho cộng đồng thông qua các hoạt động thiện nguyện và đồng hành với các hoạt động của đất nước, mà những gì diễn ra trong giai đoạn đại dịch Covid-19 phức tạp là một ví dụ điển hình.

          Những con số và ví dụ nói trên một mặt phản ánh sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam trong thực hiện nhất quán quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; mặt khác khẳng định Việt Nam không phân biệt giữa người có tín ngưỡng, tôn giáo hay không; không phân biệt hay kỳ thị bất kỳ tôn giáo nào dù nội sinh hay được truyền từ nước ngoài, dù là tôn giáo đã ổn định lâu dài hay mới được công nhận.

Thực tế cũng cho thấy, các tín đồ tôn giáo ở Việt Nam ngày càng đông và họ được tự do hành lễ dù ở nhà riêng hay nơi thờ tự. Mỗi người Việt Nam cũng thường có tín ngưỡng riêng, chẳng hạn như thờ cúng tổ tiên, ngày rằm mùng một thắp hương... nhưng vẫn có thể theo tôn giáo. Ngoài ra, nhiều lễ hội tôn giáo diễn ra hằng năm không còn là chuyện riêng của từng tôn giáo mà đã có sức lan tỏa lớn trong cộng đồng xã hội, qua đó làm giàu thêm đời sống tinh thần của nhân dân.

          Qua đó để thấy rằng, việc một số cá nhân, tổ chức nước ngoài thường xuyên bóp méo hoặc có cái nhìn sai lệch về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam có thể do mưu đồ rắp tâm chống phá Việt Nam thông qua vấn đề dân chủ, tôn giáo và nhân quyền, hoặc cũng có thể do sự khác biệt trong cách nhìn và quan niệm của họ về vấn đề này.

          Can thiệp sâu vào tình hình tự do nhân quyền cũng như tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các quốc gia khác và cố bắt các quốc gia ấy phải mặc “bộ cánh tự do tôn giáo” mang màu sắc phương Tây là điều không thể chấp nhận được. Bộ cánh ấy qua mô tả thì rất mỹ miều và hợp thời, nhưng liệu đã có ai thừa nhận sự chuẩn mực của nó./.

          QĐND

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 

Trong thời thời gian gần đây các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đang ráo riết thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, đã triệt để lợi dụng các trang mạng xã hội để chống phá Việt Nam với nhiều phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Các hoạt động chống phá của chúng diễn ra trên phạm vi rộng, cường độ cao, cả ở trong và ngoài nước. Về nội dung, chúng tập trung tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá đường lối lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta bằng các luận điệu sai trái, thù địch phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đối lập Đảng với Nhà nước, tiến tới xóa bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; đồng thời, lợi dụng một bộ phận cán bộ đảng viên yếu kém, suy thoái về đạo đức lối sống để đồng nhất cả về tổ chức, sự lãnh đạo của Đảng và phẩm chất của cán bộ, đảng viên. Đối với các lực lượng vũ trang, chúng tìm mọi thủ đoạn, biện pháp để gây mâu thuẫn giữa Quân đội và Công an, cổ súy cho việc xây dựng một quân đội nhà nghề, nhằm phi chính trị hóa quân đội.

NHẬN THỨC MỚI CỦA ĐẠI HỘI XIII VỀ ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 

Cùng với sự chống phá trên các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, mấy năm gần đây, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng interrnet, mạng xã hội để tuyên truyền chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng với những thủ đoạn rất tinh vi, thâm độc.

PHÒNG CHỐNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 

Mạng xã hội là một phương tiện phổ biến và có sức tác động lớn nhất trong các phương tiện truyền thông xã hội, là một trong những phát minh vĩ đại của nhân loại, có nhiều ưu thế, tính năng ưu việt trong thông tin, giao tiếp, kết nối xã hội, mà các phương tiện truyền thông truyền thống không thể có như tính siêu kết nối xã hội (kết nối xã hội vượt mọi không gian, thời gian)…. và cũng là 1 mảnh đất màu mỡ để các thế lực thù địch biến thành công cụ đắc lực chống phá Đảng, Nhà nước ta. Phòng chống diễn biến hòa bình trên không gian mạng mà cụ thể là mạng xã hội là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, trong đó có lực lượng vũ trang quân khu 2

CÓ MỘT NGHỀ ĐƯỢC GỌI LÀ "LƯƠNG CAO"?

         Đọc bài viết của tác giả Đỗ Phú Thọ đăng trên Báo Quân đội nhân dân ngày 21-11-2021 với nhan đề “Góc khuất của gia đình quân nhân”, cá nhân tôi không tránh khỏi những suy nghĩ vừa vui, vừa buồn.
     Vui, bởi hiện nay, tôi đang công tác tại một nhà trường chính quy, hiện đại của quân đội, đóng quân trên địa bàn Hà Nội. Tôi được sống, được cống hiến bằng kiến thức, khả năng của mình cho đất nước, cho quân đội. Bên cạnh đó, hằng ngày tôi có thời gian, điều kiện để chăm sóc gia đình. Với đồng lương của một sĩ quan cấp đại tá trong quân đội, vấn đề cơm áo gạo tiền đã vơi bớt, nhưng sống giữa Thủ đô vẫn không khỏi có những phút giây chạnh lòng khi nhìn ra xung quanh...

Cũng như đại đa số sĩ quan quân đội, thu nhập chính của tôi phụ thuộc chủ yếu vào đồng lương. Với mức lương như tôi (thuộc loại cao trong khối nhà trường quân đội), thì ước mơ một căn nhà của riêng mình tại Thủ đô vẫn là thứ xa xỉ, nếu không có sự trợ giúp từ gia đình, người thân. Còn những ngày nghỉ, ngày lễ, ngày cuối tuần, hạnh phúc lớn nhất chỉ là bữa cơm bên gia đình, chứ không dám nghĩ đến chuyện đi du lịch, ăn nhà hàng... Tuy nhiên, so với đa số đồng đội của tôi, đó vẫn là điều hạnh phúc mà nhiều đồng chí phấn đấu cả đời binh nghiệp chưa chắc có được.

Đọc bài viết, tôi cũng buồn, bởi thực trạng hiện nay ở các đơn vị, đặc biệt là đơn vị làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, các sĩ quan trẻ, quân nhân chuyên nghiệp (QNCN) và công nhân viên quốc phòng có cuộc sống rất khó khăn. Hơn 20 năm làm công tác giảng dạy trong trường quân đội, tôi đã nhiều lần được đi thực tế ở các đơn vị và nghe các học viên tâm sự, tôi thấu hiểu sự vất vả của đội ngũ sĩ quan ở các đơn vị cơ sở, nhất là cán bộ cấp tiểu đoàn trở xuống. Với họ, 24/24 giờ trong ngày, 7/7 ngày trong tuần họ đều bám nắm đơn vị. Nhiều người nói bộ đội chúng tôi lương cao, nhưng tất cả thu nhập của chúng tôi chỉ trông vào đồng lương. Đồng chí nào đóng quân xa gia đình, bố mẹ hai bên không có điều kiện giúp đỡ, thì lại càng khó khăn. Cấp đại úy lương hơn 10 triệu đồng, trừ tiền ăn gần 2 triệu đồng, gửi tiền về giúp bố mẹ, vợ con, hiếu hỉ... Nếu không có việc gì đột xuất, mỗi tháng gửi cho vợ con từ 2 đến 3 triệu đồng, còn tháng nào nhiều việc, hoặc khi bố mẹ ốm đau thì không có tiền gửi về cho vợ con cũng là... bình thường. Không chỉ vậy, đối với đội ngũ sĩ quan trẻ này, mong muốn hằng ngày được về ăn cơm với vợ con là điều quá xa xỉ.

Thực trạng đó dẫn đến việc, nhiều đồng chí không giữ được hạnh phúc gia đình, hoặc "ế vợ" là điều khó tránh khỏi. Chính vì vậy, như tác giả bài viết đề nghị, rất cần một chính sách để tháo gỡ vướng mắc đó cho đội ngũ sĩ quan, nhất là sĩ quan trẻ trong quân đội-những con người dũng cảm đã coi binh nghiệp (một nghề lao động đặc biệt) là sự lựa chọn của mình.
Nguồn bài viết: Đại tá, TS HÀ MINH PHƯƠNG, Phó chủ nhiệm Khoa Tâm lý học quân sự, Học viện Chính trị./.

Yêu nước ST.

ÂM MƯU “BIẾN DỐI TRÁ THÀNH SỰ THẬT” CẦN PHẢI BỊ LÊN ÁN VÀ PHÊ PHÁN!

     Phải khẳng định rằng; Cuộc chiến tranh phi nghĩa mà Đế quốc Mỹ đã gây ra cho Nhân dân Việt Nam là một cuộc chiến tranh tàn bạo và độc ác nhất trong thế kỷ hai mươi mà một Dân tộc phải gánh chịu. Tuy cuộc chiến đó đã chấm dứt cách đây 46 năm, nhưng các thế lực thù địch trong và ngoài nước vẫn không ngừng xuyên tạc, phủ nhận một thực tế không gì lay chuyển nổi như lời của Bác Hồ kính yêu :

“VÌ ĐỘC LẬP VÌ TỰ DO, ĐÁNH CHO MỸ CÚT ĐÁNH CHO NGUỴ NHÀO”. 

Từ việc ; Xuyên tạc lịch sử, đánh tráo khái niệm, hạ bệ thần tượng, đến việc; xuyên tạc, đánh tráo khái niệm về công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Đảng ta, của Nhân dân ta, tất cả cùng có chung một mục đích là thực hiện âm mưu DBHB trên Đất nước ta. Chúng tuyên truyền rằng; Đây là cuộc chiến tranh “uỷ nhiệm” theo học thuyết Domino của Mỹ, và là một cuộc chiến tranh “Huynh đệ tương tàn” Miền bắc đi xâm lược Miền nam. 

Tuy rằng, những luận điêu xuyên tạc này không có gì mới, chỉ là “Bản cũ soạn lại”, nhưng đã không ít giới trẻ Việt Nam hiện nay hùa theo luận điệu này và cổ xuý cho chúng. Không khó để nhận biết qua các cuộc Hội thảo của các hội, nhóm phản động ở trong và ngoài nước, trong cái gọi là “Vì Dân chủ cho Việt Nam” nhưng trên thực tế là Họ vẫn đang cố tình tìm mọi cách xuyên tạc bản chất thực sự của cuộc chiến tranh tại Việt Nam, qua đó phủ nhận tính chính nghĩa của Đảng ta, của Dân tộc ta.
 
Qua bài viết này, tôi xin đăng lại một số đánh giá và nhận định của các vị lãnh đạo, các tướng lĩnh, các chính trị gia, các sử gia, người trong cuộc chiến, người ngoài cuộc chiến, của ta, của địch, trên toàn Thế giới nói về cuộc chiến tranh này như thế nào :

• Đại tướng Maxwell D. Taylor, cố vấn đặc biệt của Tổng thống Johnson, từng chỉ huy quân viễn chinh Mỹ ở Việt Nam đã khái quát và khẳng định:

“Tất cả chúng ta đều có phần của mình trong thất bại của Mỹ ở Việt Nam và chẳng có gì là tốt đẹp cả. Chúng ta (nước Mỹ) không hề có một anh hùng nào trong cuộc chiến tranh này mà toàn là những kẻ ngu xuẩn. Chính tôi cũng nằm trong số đó”

Đây là phán quyết mà tôi tâm đắc nhất. Vâng, xin cảm ơn Đại tướng đã nhìn nhận và nói thẳng nói thật. Sự “ngu xuẩn” đó đến từ Học thuyết Domino mà nước Mỹ cố vịn vào để gây ra một cuộc chiến tranh Tàn bạo và Độc ác này. 

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, Truyền thông và sách vở chính thống của Việt Nam Dân chủ cộng hoà khẳng định rằng; Đây là kháng chiến của dân tộc Việt Nam nhằm chống lại sự xâm lược của Mỹ và đánh đổ chế độ nguỵ quyền Sài Gòn, một chính phủ tay sai của Mỹ. Các nguồn tài liệu của Nhà nước Việt Nam khẳng định rằng đó là cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc chống lại âm mưu chia cắt đất nước Việt Nam của Chính phủ Mỹ và các lực lượng tay sai bản xứ. 

• Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố :
"Chúng tôi bắt buộc phải kháng cự lại lũ xâm lăng ấy để bảo vệ gia đình, Tổ quốc chúng tôi... Miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam... Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi” 

• Ngoại trưởng Xuân Thủy, Trưởng Phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris về Việt Nam tuyên bố:
"Mỹ không tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân Miền nam Việt Nam mà trái lại đã tiến hành có hệ thống một chính sách can thiệp, xâm lược và chiến tranh, chà đạp lên các quyền đó" 

• Ngày 20 tháng 9 năm 1969, Trưởng đoàn đàm phán của Cộng hòa miền Nam Việt Nam (giai đoạn 1968-1970) tại Hội nghị Paris về Việt Nam Trần Bửu Kiếm tuyên bố:
"Sự can thiệp đơn phương của Hoa Kỳ tại Việt Nam đã vi phạm Hiến chương Liên hợp quốc; sự có mặt của Quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam đã vi phạm Hiệp định Genève 1954; cường độ và tính chất tàn phá của cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ tại Việt Nam là trái với luật pháp quốc tế; những hành động của Hoa Kỳ tại Việt Nam đã vi phạm cả Hiến pháp của Hoa Kỳ... Nước Việt Nam là của người Việt Nam, Hoa Kỳ không có quyền đem quân đội tới và lại càng không có quyền bắt buộc người dân Việt Nam phải trả một cái giá nào đó cho việc triệt thoái hoàn toàn quân đội Hoa Kỳ"

• Năm 2002 tiến sĩ Daniel Ellsberg, sĩ quan Lầu Năm Góc và là cố vấn Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ trong buổi phỏng vấn với CNN và trong sách "Những Bí mật về Chiến tranh Việt Nam" đã viết:
"Không hề có chiến tranh Đông Dương thứ nhất và thứ nhì, chỉ có một cuộc xung đột nối tiếp trong một phần tư thế kỷ. Dùng ngôn từ thực tế, đứng về một phía (Mỹ), ngay từ đầu nó đã là một cuộc chiến của Mỹ: mới đầu là Pháp-Mỹ, sau đến toàn là Mỹ. Trong cả hai trường hợp, nó là một cuộc đấu tranh của người Việt Nam – không phải là tất cả người Việt Nam nhưng cũng đủ để duy trì cuộc đấu tranh – chống chính sách của Mỹ và những kinh viện, ủy nhiệm, kỹ thuật gia, hỏa lực, và cuối cùng, quân đội và phi công, của Mỹ... Cuộc chiến đó không có gì là "nội chiến", như nó đã không là nội chiến trong cuộc tái chiếm thuộc địa của Pháp được Mỹ ủng hộ. Một cuộc chiến mà trong đó một phía hoàn toàn được trang bị và trả lương bởi một quyền lực ngoại quốc – một quyền lực nắm quyền quyết định về bản chất của chế độ địa phương vì những quyền lợi của mình – thì không phải là một cuộc nội chiến... Theo tinh thần Hiến chương Liên Hiệp Quốc và theo những lý tưởng mà chúng ta (nước Mỹ) công khai thừa nhận, đó là một cuộc ngoại xâm, sự xâm lược của Mỹ" Theo ông, nguyên nhân sâu xa của việc Mỹ áp đặt sự chiếm đóng lên miền Nam Việt Nam là để điều khiển và kiểm soát thị trường kinh tế, nhân lực, sức lao động và tài nguyên ở vùng Đông Nam Á.”

• Thượng nghị sĩ Công đảng (Úc) Gietzelt cho rằng:
"Nói miền Bắc (Việt Nam) cưỡng chiếm miền Nam (Việt Nam) vô lý không kém việc nói Queensland cưỡng chiếm New South Wales".

* Tờ báo Nhà kinh tế Luân Đôn nhận định chính xác :
"Một kẻ xâm lược là một kẻ xâm lược, trừ khi được mời bởi một Chính phủ hợp pháp, Mỹ chưa bao giờ coi những tay sai mà mình dựng lên là có quyền hợp pháp"

• Nhà sử học Stanley Karnow nhận xét:
“Tất cả những cựu chiến binh Việt Nam mà tôi có dịp phỏng vấn sau chiến tranh đều nói lên lý tưởng của họ. Họ nói rằng, bất chấp gian khổ hy sinh, nhiệm vụ của họ là “giải phóng Tổ quốc”. Khẩu hiệu nghe có vẻ rập khuôn sáo rỗng, nhưng tôi biết khá rõ về lịch sử Việt Nam đến mức tôi có thể hiểu được điều họ muốn nói. Đất nước này, bãi chiến trường trong suốt hàng ngàn năm, luôn tôn kính những vị anh hùng – những anh hùng có thật và anh hùng huyền thoại – những người đã chống lại sự xâm lăng của ngoại bang, chủ yếu là Trung Quốc. Bên cạnh việc sản sinh ra một quan niệm rằng trong mỗi con người Việt Nam tiềm tàng một chiến binh, ký ức về những trận chiến đấu ấy đã tôi luyện nên một ý thức mãnh liệt về bản sắc dân tộc vẫn đập đều đặn trong văn chương, kịch nghệ và nghệ thuật dân gian ở Việt Nam. Tôi nhận thấy hiện tượng này khi thăm một ngôi chùa gần Hà Nội, nơi trẻ con quỳ lạy và thắp hương trước tượng của những vị anh hùng truyền thuyết đã chiến đấu cho đất nước. Đại tướng Giáp nói với tôi: “Cái ý thức hệ sâu sắc nhất, cái tình cảm sâu rộng nhất của nhân dân chúng tôi là chủ nghĩa yêu nước".

• Nhà báo, nhà sử học người Mỹ Frances Fitzgerald đã viết :
"Chiến thắng của họ (Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam) là chiến thắng của dân tộc Việt Nam - người Bắc cũng như người Nam. Khác xa với một cuộc nội chiến, cuộc đấu tranh của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam là một sự khẳng định nguyên tắc thống nhất dân tộc mà chính quyền Sài Gòn đã tuyên bố ủng hộ rồi phản bội"

• Cựu Bộ trưởng Quốc phòng và Cố vấn An ninh Quốc gia Nhật Bản, Chủ tịch Hội đồng Đảng Dân chủ Tự do (LDP), hiện là thành viên của Quốc hội Nhật Bản Yuriko Koike khẳng định : 
"Chiến thắng của nước này [Việt Nam] trước Pháp và Hoa Kỳ đã trở thành định nghĩa cho những cuộc chiến giành độc lập trong thời kỳ hậu thực dân".

• Cự Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mcnamara đã viết trong cuốn hồi ký “Nhìn lại quá khứ” của mình, đã thừa nhận :
“Chúng ta đánh giá thấp sức mạnh của chủ nghĩa Dân tộc thúc đẩy một Dân tộc ( trong trường hợp này, Bắc việt và việt cộng ) đấu tranh và hy sinh cho lý tưởng và các giá trị của nó”

Đó là những nhận định chính xác về cuộc chiến tranh phi nghĩa của Mỹ tại Việt Nam, qua đây bác bỏ những luận điệu xuyên tạc khi cho rằng, đây là cuộc “Nội chiến“, hay là cuộc chiến tranh “Ủy nhiệm“.

LỜI KẾT :

Bốn mươi mốt năm sau chiến tranh, tổng thống Mỹ Barack Obama đã phát biểu về bài học mà Mỹ rút ra trong chiến tranh Việt Nam:

“Chúng ta (Việt Nam và Mỹ) là 2 nước độc lập và dù lớn hay nhỏ cũng đều có chủ quyền của mình, phải được tôn trọng tuyệt đối. Nước lớn không thể “ăn hiếp” nước nhỏ... Bài học của chúng ta trong chiến tranh, trong quá khứ cũng là bài học của cả nhân loại. Những chân giá trị của hòa bình đã được chỉ ra. Chúng ta cũng thấy một điều có tính nguyên lý là độc lập, không một quốc gia nào có thể áp đặt ý chí lên Việt Nam và số phận của Việt Nam là do người dân Việt Nam quyết định.”

Thế nên, những kẻ (cả ta lẫn tây) đang cố giao giảng về những giá trị Dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam, thì hãy biết nhục mà câm miệng lại. Còn cứ tiếp tục giao giảng thì chỉ làm cho chính người Mỹ thêm hổ thẹn mà thôi. Khép lại quá khứ, hướng đến tương lai không đồng nghĩa với việc xuyên tạc lịch sử, phủ nhận những giá trị chân chính của lịch sử hay lãng quên quá khứ. 

Chính Tom Polgar, nhân viên cao cấp tòa Đại sứ Mỹ ở Việt Nam, một trong những người Mỹ cuối cùng di tản, đã ghi lại cảm tưởng của mình :
"Đó là một cuộc chiến tranh lâu dài và khó khăn mà chúng ta đã thua. Thất bại độc nhất của lịch sử Hoa Kỳ chắc sẽ không báo trước sức mạnh bá chủ toàn cầu của nước Mỹ đã chấm dứt. Nhưng... Ai không học được gì ở lịch sử, bắt buộc sẽ phải lặp lại sai lầm trong lịch sử". 

Tôi xin mời các bạn xem và nghe băng hình của Đài truyền hình Nhân dân, trong chương mục Bình luận-phê phán với têu đề “Mục đích duy nhất là giành Độc lập, thống nhất nước nhà”./.

Yêu nước ST.