Thứ Tư, 6 tháng 7, 2022

Thi đua ái quốc là làm cho nhân dân no, ấm, biết chữ; làm cho Tổ quốc độc lập, tự do

Trong bài: “Thi đua ái quốc, hiện tại và tương lai vẻ vang của nước ta”, đăng trên Báo Nhân dân, số 15, ngày 5-7-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Thi đua ái quốc nhằm ba mục đích chính là diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm. Tức là làm cho nhân dân no, ấm, biết chữ, làm cho Tổ quốc độc lập, tự do".

Đây là giai đoạn đầu thực hiện đường lối trường kỳ kháng chiến do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II xác định, với phương châm: Đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân, đẩy mạnh biện pháp thi đua yêu nước, khơi dậy, huy động sức dân tham gia cuộc kháng chiến kiến quốc mau giành thắng lợi. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ ba mục đích cụ thể của thi đua ái quốc là: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm. Tức thi đua ái quốc làm cho nhân dân no, ấm, biết chữ, làm cho Tổ quốc độc lập, tự do. Theo Người, thi đua ái quốc phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng của dân, bám sát mục tiêu, nhiệm vụ chính trị cụ thể của từng thời kỳ cách mạng.

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thúc đẩy các phong trào thi đua ái quốc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược phát triển rộng khắp, động viên, cổ vũ toàn quân và thu hút mọi tầng lớp nhân dân đoàn kết tham gia. Tiêu biểu như các phong trào “Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”, “Bình dân học vụ”, “Hũ gạo kháng chiến”… Qua đó đã cuốn hút, cổ vũ, động viên đồng bào và chiến sĩ cả nước hăng say lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm chống giặc đói; thi đua học tập xóa nạn mù chữ, chống giặc dốt và dũng cảm ngoan cường trong chiến đấu diệt giặc ngoại xâm làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc vẫn còn nguyên giá trị, đã cổ vũ, khích lệ quân và dân ta thi đua lao động sản xuất, xóa đói giảm nghèo, chung sức xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống của nhân dân, bảo đảm tốt an sinh xã hội; tăng cường, củng cố quốc phòng - an ninh; nâng cao cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, phong trào thi đua yêu nước được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị cụ thể hóa thành phong trào thi đua Quyết thắng phù hợp với đặc điểm, tình hình, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội đã được cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai quyết liệt, với các nội dung, chỉ tiêu thi đua thiết thực, được cán bộ, chiến sĩ tích cực hưởng ứng thực hiện với quyết tâm cao.

Phong trào thi đua Quyết thắng được gắn kết chặt chẽ với việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, các cuộc vận động của các cấp, các ngành đã góp phần quan trọng vào kết quả hoàn thành nhiệm vụ chính trị, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện.

Phủ nhận “kiểu mẫu” để chống đối

Mới đây, trên mạng xã hội xuất hiện ý kiến phủ nhận “kiểu mẫu”; qua đó, thể hiện rõ thái độ chống đối chủ trương xây dựng “kiểu mẫu” để nhân rộng cái tốt đẹp trong đời sống xã hội. Vì vậy, cần cảnh giác và đấu tranh với loại ý kiến này.

Họ viết: “Khi thấy Tổng Bí thư gật đầu và khoát tay mạnh mẽ, dứt khoát nói như đinh đóng cột, rằng Thanh Hóa nhất định trở thành một tỉnh kiểu mẫu, tôi buột miệng: Kiểu mẫu để làm gì nhỉ? Câu ấy bị ngay người nhà phê phán: Ông lẩm cẩm rồi, kiểu mẫu là để nêu gương chứ còn để làm gì nữa. Thế nhưng, như ông cha ta có câu: “Đánh chết cái nết không chừa”, nó rất đúng với trường hợp của người đặt câu hỏi: Kiểu mẫu để làm gì?”. Họ vừa bị người nhà phê phán là “lẩm cẩm”, lại quay xe ngay sau đó khi cho rằng: “Nhưng rồi đêm nằm suy nghĩ mới thấy mình chưa lẩm cẩm”. Đúng là “Cà cuống chết đến đít còn cay”, mà ông cha ta đã tổng kết chẳng sai vào đâu được.

Mặc dù, họ đã đúng khi khẳng định: “Người ta, làm việc tốt, việc thiện thì cố mà làm hết khả năng rồi được đến đâu hay đến đó, hưởng đến đó. Đã làm tốt rồi còn cần làm tốt hơn. Việc tốt sẽ phát huy tác dụng mà người khác có thể noi theo, làm theo”, nhưng ngay sau đó lại cho rằng “kiểu mẫu” “là tác dụng nêu gương, một tác dụng phụ”. Không hiểu họ cố tình không biết hay không biết là trong huấn luyện có phần lý thuyết và thực hành.

Phần thực hành thường có đội mẫu, động tác mẫu để người được huấn luyện quan sát đối chiếu với phần lý thuyết đã được học để khi thực hiện được chuẩn xác. Trong trường hợp này, sao lại nói “đội mẫu”, “động tác mẫu” là “tác dụng phụ”, mà nó thuộc một nội dung quan trọng, một khâu không thể thiếu của công tác huấn luyện. “Học đi đôi với hành” có ngay từ khâu huấn luyện nên không thể nói “kiểu mẫu” là phụ được!

Họ cũng đã đúng khi viết: “Làm tốt là vì lương tâm, vì trách nhiệm chứ mục đích chính không phải để làm gương, không nhằm nêu gương”. Thế nhưng, họ lại “quên” đã là “kiểu mẫu” thì nhất định phải chuẩn xác, mẫu mực về mọi phương diện để người khác, tập thể khác lấy đó làm gương mà học tập, làm theo. Dân gian thường nói “chuẩn men” là nói về cái gì đó rất mẫu mực, chính xác mà người khác phải ngưỡng mộ, phấn đấu để đạt được.

Để đạt được kiểu mẫu, “chuẩn men” thì phải đạt được các tiêu chí của nó đưa ra, mỗi lần đạt được một tiêu chí là một lần tiệm cận dần đến kiểu mẫu, “chuẩn men”. Vì thế mà phải phấn đấu từng bước, không ngừng nghỉ để đạt được kiểu mẫu. Khi đã đạt được “kiểu mẫu” không có nghĩa là mọi thứ đã xong xuôi, thỏa mãn dừng lại, mà tiếp tục củng cố, không ngừng hoàn thiện kiểu mẫu ngày càng tốt hơn, đạt được sự mẫu mực, tiêu biểu. Nói cách khác, khi đã đạt được đỉnh cao này lại tiếp tục phấn đấu để chinh phục đỉnh cao khác, mà mục đích cuối cùng là không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần ngày càng cao của con người.

Qua đó cho thấy, sự nguy hiểm ở chỗ cứ có một ý đúng họ lại cố tình kèm theo một ý sai để dẫn dụ người đọc đi theo ý sai trái của mình, nên cần cảnh giác. Thanh Hóa phấn đấu để trở thành tỉnh “kiểu mẫu” không phải Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là người đầu tiên, mà đã được Bác Hồ, vị lãnh đạo thiên tài của dân tộc trong cuộc “Kinh lý đặc biệt” lần đầu tiên về thăm Thanh Hóa ngày 20/2/1947 đề cập.

Trong thời gian thăm Thanh Hóa, Bác đã gặp gỡ, nói chuyện với cán bộ, nhân sĩ, trí thức, các tầng lớp nhân dân trong tỉnh. Bác giao nhiệm vụ: “Tỉnh Thanh Hóa phải trở nên một tỉnh kiểu mẫu... thì phải làm sao cho mọi mặt chính trị, kinh tế, quân sự phải là kiểu mẫu. Làm một người kiểu mẫu, một nhà kiểu mẫu, một làng kiểu mẫu, một huyện kiểu mẫu, một tỉnh kiểu mẫu. Quyết tâm làm thì sẽ thành kiểu mẫu”. Chia tay trong lần gặp ấy, Bác nhắn gửi tha thiết với lời hẹn ngày trở lại: “Đồng bào trong tỉnh hãy xắn tay áo làm đi, lần sau về đây tôi sẽ thấy mỗi người dân Thanh Hóa là một người “kiểu mẫu”.

Thế mà họ lại cho rằng: “Phải chăng phấn đấu trở thành kiểu mẫu để nêu gương là một trá hình của thói thích hư danh, thích được ca ngợi, thích được nổi tiếng... Thanh Hóa trở thành kiểu mẫu thì chủ yếu lãnh đạo được tiếng khen, còn một số cán bộ cấp dưới và dân chúng không khéo sẽ ho hen suốt đời”. Viết thế là họ cố tình bẻ lái sang hướng khác với ý của người nói, viết nhằm mục đích xấu của mình.

Họ cho rằng, “kiểu mẫu” là “một trá hình của thói thích hư danh, thích được ca ngợi, thích được nổi tiếng” là sự không tường minh. Bởi không ai sống bằng danh mà phải sống bằng thực. Đạt được thực thì sẽ có danh, mà muốn có danh thì phải có thực. Muốn trở thành tỉnh kiểu mẫu thì các mặt về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh... đều phải tốt đẹp, đạt được tiêu chí của ngành, lĩnh vực đưa ra. Các mặt đó tốt lên, đương nhiên phục vụ nhân dân sẽ tốt hơn, đời sống vật chất, tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện và ngày càng được nâng cao hơn.

Thế mà họ lại nói “kiểu mẫu” là “thói hư danh”, “chủ yếu lãnh đạo được tiếng khen, còn một số cán bộ cấp dưới và dân chúng không khéo sẽ ho hen suốt đời” là họ đã lờ đi các mặt của đời sống xã hội đều tốt lên, phục vụ nhân dân được tốt hơn, là xã hội ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng cao của nhân dân. Vậy mà họ lại cho rằng, chỉ lãnh đạo được “tiếng khen”, còn cán bộ cấp dưới và nhân dân thì “ho hen suốt đời” là sao?

Người ta đang đề cập đến phải xây dựng các tiêu chí - nội hàm của “kiểu mẫu”, nghĩa là xây dựng các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh... ngày một tốt hơn, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân để không ngừng hoàn thiện, trở thành tỉnh “kiểu mẫu”, mà họ lại bỏ qua các yếu tố nội hàm đó, chỉ đề cập đến danh xưng “kiểu mẫu” để giả bộ “lẩm cẩm” đặt câu hỏi “Kiểu mẫu để làm gì?”. Đó là câu hỏi hàm chứa đầy sự chống đối tư tưởng chỉ đạo của người đứng đầu Đảng ta, cần cảnh giác, đấu tranh với loại ý kiến này.

Giải pháp quan trọng nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng

10 năm qua, sự ra đời và hoạt động của Ban Chỉ đạo (BCĐ) Trung ương về phòng, chống tham nhũng (PCTN), tiêu cực đã góp phần quan trọng từng bước kiềm chế, ngăn chặn được tham nhũng, tiêu cực.

Kết quả trong đấu tranh PCTN, tiêu cực góp phần quan trọng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cảnh tỉnh, răn đe, góp phần ngăn chặn tình trạng "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế-xã hội.

10 năm trôi qua, nhưng hẳn nhiều người chưa thể quên câu chuyện diễn ra tại Hội nghị Trung ương 6, khóa XI (tháng 10-2012). Đó là hình ảnh Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nghẹn ngào phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương. Trên cương vị người đứng đầu Đảng, thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư nhận lỗi trước toàn Đảng, toàn dân về "một số khuyết điểm lớn" cả hiện tại lẫn ở các nhiệm kỳ trước. Bởi, thời điểm trước đó, hàng loạt sai phạm của cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng, gây nhiều hệ lụy, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của đất nước. Tham nhũng, tiêu cực, sai phạm do đội ngũ cán bộ gây ra làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Trong hàng ngũ của Đảng khi ấy, nhiều người rất quyết liệt chống tham nhũng, nhưng chống từ đâu, chống bằng cách nào? Để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh PCTN trong toàn Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội, chỉ sau Hội nghị Trung ương 6, khóa XI chưa đầy 4 tháng, vào ngày 1-2-2013, Bộ Chính trị ban hành Quyết định số 162-QĐ/TW thành lập BCĐ Trung ương về PCTN, do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng ban để chỉ đạo toàn diện công tác PCTN trên phạm vi cả nước. Ngay trong phiên họp đầu tiên của BCĐ (ngày 4-2-2013), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc nhở: “Chúng ta phải cam kết với nhau, mỗi thành viên BCĐ phải là một tấm gương về liêm sáng, trung thực, công tâm, khách quan, nếu không dân không tin”. Thực tiễn 10 năm qua minh chứng: Sự ra đời của BCĐ Trung ương về PCTN là việc làm cần kíp, là sản phẩm trí tuệ, trách nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị trước một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng và chế độ.

Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác PCTN giai đoạn 2013-2020 (tháng 12-2020) thống nhất đánh giá: Từ khi BCĐ được thành lập đến nay, công tác PCTN có bước tiến mạnh, đột phá, đạt nhiều kết quả rất quan trọng, toàn diện, rõ rệt, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, hưởng ứng, đánh giá cao, cộng đồng quốc tế ghi nhận.

Chính sự nêu gương, trách nhiệm và quyết tâm chính trị cao trước Đảng, trước dân, các thành viên BCĐ đã thực hiện triệt để, hiệu quả quan điểm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là: “Không có vùng cấm trong đấu tranh PCTN, tiêu cực”, trong 10 năm qua, BCĐ đã thực hiện tốt một số nhiệm vụ, như: Phát hiện và trừng trị những tập thể, cá nhân có hành vi tham nhũng; chỉ đạo tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán; xây dựng và hoàn thiện thể chế về kinh tế-xã hội và PCTN. Kết quả công tác đấu tranh PCTN đã góp phần rất quan trọng củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước.

10 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, trực tiếp là BCĐ, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, thanh tra, kiểm toán của Nhà nước được tăng cường, phát hiện và xử lý nghiêm minh các sai phạm, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, góp phần nâng cao hiệu quả công tác PCTN, tiêu cực. 10 năm qua, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên, trong đó có hơn 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật hơn 170 cán bộ cấp cao diện Trung ương quản lý, trong đó có 33 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, hơn 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang... Riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, đã kỷ luật 50 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 8 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 20 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. 

Qua công tác thanh tra, kiểm toán đã kiến nghị xử lý trách nhiệm gần 44.700 tập thể, cá nhân sai phạm; kiến nghị thu hồi, xử lý tài chính hơn 975.000 tỷ đồng, gần 76.000ha đất; chuyển cơ quan điều tra gần 1.200 vụ việc có dấu hiệu tội phạm để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật; kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, thay thế hơn 2.000 văn bản pháp luật.

Đặc biệt, BCĐ đã đưa 977 vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm vào diện theo dõi, chỉ đạo ở 3 cấp độ; trong đó BCĐ trực tiếp theo dõi, chỉ đạo 180 vụ án, 133 vụ việc; các cơ quan chức năng đã kết thúc điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm 120 vụ án/1.083 bị cáo, có 37 bị cáo nguyên là cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý.

Đồng chí Phan Đình Trạc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương, Phó trưởng ban Thường trực BCĐ Trung ương về PCTN, tiêu cực, khẳng định: "Có thể nói, chưa bao giờ chúng ta xử lý nghiêm minh nhiều cán bộ cấp cao như vừa qua. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần phát biểu, rất đau xót khi phải xử lý kỷ luật đồng chí, đồng đội của mình, nhưng vì sự nghiêm minh kỷ luật của Đảng, sự nghiêm minh của pháp luật, vì niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, nên buộc phải làm".

THỰC HIỆN TỐT SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI VÙNG DÂN TỘC THỂU SỐ

 

Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về dân tộc, tôn giáo và phòng chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá là cơ sở lý luận, pháp lý rất quan trọng để quân đội tiến hành các nội dung, biện pháp phòng chống phủ hợp, đạt hiệu quả cao, không để các thế lực thù địch, phản động tạo cớ can thiệp. Nắm vững và vận dụng sáng tạo quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phòng chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá

Thực hiện yêu cầu này, phải thường xuyên tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ về công tác dân tộc, tôn giáo, chính sách dân tộc, tôn giáo; tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành tốt quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tôn giáo, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng trước âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá.

 Tích cực tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, giúp dân phòng chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, thực hiện các chính sách xã hội, các phong trào, các cuộc vận động cách mạng của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và của địa phương, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

 Tham gia xây dựng, củng cố hệ thống chính trị; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên vùng dân tộc thiểu số, tôn giáo vững mạnh; thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo đối với quân nhân người dân tộc thiểu số, quân nhân có đạo đang công tác trong Quân đội, quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nguồn cán bộ dân tộc thiểu số trong quân đội; lựa chọn cán bộ có năng lực, tâm huyết, kinh nghiệm là người dân tộc thiểu số, tôn giáo tại địa phương làm công tác dân vận./.

                                                                                                                             VHT.

Bước tiến về tầm nhìn và tư duy

Trước thềm Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng chống tham nhũng (PCTN), tiêu cực giai đoạn 2012-2022, đại biểu nhiều địa phương bày tỏ niềm tin tưởng, lạc quan trước quy mô, tầm mức và phương thức tổ chức hội nghị lần này. Đặc biệt, dư luận kỳ vọng, BCĐ Trung ương về PCTN, tiêu cực sẽ tiếp tục có những tham mưu, sáng kiến mới, hiến kế cho Trung ương Đảng, Bộ Chính trị chỉ đạo cuộc đấu tranh đẩy lùi “giặc nội xâm”; đồng thời gửi thông điệp, tạo sự thống nhất, quyết tâm cao hơn nữa cho mọi cấp, mọi ngành và đội ngũ cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân trong đấu tranh PCTN, tiêu cực.

10 năm qua, BCĐ luôn hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của một cơ quan tham mưu chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách về công tác PCTN, tiêu cực với cách làm bài bản, đồng bộ, khoa học. Sự tham mưu “đúng” và “trúng” là căn cứ quan trọng giúp xây dựng, hoàn thiện cơ chế phòng ngừa chặt chẽ. Trên cơ sở đó, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành hơn 250 văn bản về xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và PCTN. Từ chủ trương của Trung ương và yêu cầu thực tiễn, Quốc hội sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hơn 300 luật, pháp lệnh, nghị quyết; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành hơn 2.000 nghị định, quyết định; các bộ, ngành, địa phương ban hành hàng nghìn văn bản quy phạm pháp luật để kịp thời thể chế hóa và triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng về quản lý kinh tế-xã hội, PCTN, tiêu cực, góp phần phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý tham nhũng, tiêu cực hiệu quả. Đây chính là việc chúng ta “nhốt quyền lực vào lồng cơ chế”. Và tính hiệu quả của nó được chứng thực rõ rệt, vì gần đây, nhiều hành vi tham nhũng, tiêu cực dù rất tinh vi, xảo quyệt cũng đều bị phơi bày sự thật và xử lý triệt để, nghiêm minh.

PCTN đã thực sự trở thành phong trào hành động cách mạng rộng khắp trong Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội. Công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực ở địa phương, cơ sở được quan tâm nhiều hơn, từng bước khắc phục biểu hiện "trên nóng, dưới lạnh". Riêng năm 2021, tất cả địa phương đã khởi tố những vụ án mới về tham nhũng. Một số địa phương phát hiện, khởi tố vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực lớn như: Hà Nội, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Đà Nẵng, Phú Yên, Khánh Hòa, TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, An Giang, Thái Nguyên...

Việc PCTN, tiêu cực được triển khai toàn diện cả theo trục dọc lẫn chiều ngang, trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, PCTN, tiêu cực trong công tác cán bộ có nhiều đổi mới, dân chủ, công khai, minh bạch; nhiều vấn đề tồn tại trước đây trong công tác cán bộ được chỉ đạo giải quyết quyết liệt.

Như vậy, qua 10 năm hoạt động, dưới sự chỉ đạo của Tổng Bí thư, Trưởng BCĐ, hoạt động của BCĐ có nhiều đổi mới, nền nếp, bài bản, khoa học, quyết liệt và hiệu quả. Vừa tập trung lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thiện thể chế, phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực; vừa quyết liệt chỉ đạo xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực, với nhiều cơ chế, giải pháp, cách làm bài bản, hiệu quả và không chịu tác động không trong sáng của tổ chức, cá nhân nào; vừa chọn những khâu yếu, việc khó trong công tác PCTN, tiêu cực để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo khắc phục.

Đặc biệt, ngày 16-9-2021, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 32-QĐ/TW bổ sung, mở rộng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của BCĐ để chỉ đạo cả công tác PCTN và công tác phòng, chống tiêu cực.

Mới đây, thực hiện kết luận của Hội nghị Trung ương 5, khóa XIII, Ban Bí thư ban hành Quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, chế độ làm việc, quan hệ công tác của BCĐ PCTN, tiêu cực cấp tỉnh. Hiện nay, tất cả các tỉnh ủy, thành ủy đang khẩn trương quyết định thành lập và triển khai hoạt động của BCĐ cấp tỉnh nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong công tác PCTN, tiêu cực ở địa phương, cơ sở. Tính đến ngày 27-6-2022, đã có 34 tỉnh, thành phố thành lập BCĐ PCTN, tiêu cực cấp tỉnh.

Dù đã đạt được những kết quả quan trọng, nhưng công bằng mà nói, tham nhũng, tiêu cực trên một số lĩnh vực hiện nay vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp, có sự cấu kết, móc nối giữa cán bộ thoái hóa, biến chất với các doanh nghiệp, tổ chức để trục lợi, gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Vì vậy, hôm nay (30-6), Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác PCTN, tiêu cực giai đoạn 2012-2022 sẽ là cơ hội để cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy trao đổi nhằm tiếp tục thống nhất nhận thức, trao đổi kinh nghiệm, đề xuất giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, bất cập trong công tác PCTN, tiêu cực; đồng thời thể hiện quyết tâm chính trị trong cuộc chiến với “giặc nội xâm” của toàn Đảng, hệ thống chính trị và toàn dân.

LỰC LƯỢNG QUÂN ĐỘI THAM GIA PHÒNG CHỐNG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG VẤN ĐỀ TÔN GIÁO

 

Lực lượng quân đội tham gia phòng chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá, bao gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội Biên phòng... mỗi lực lượng có chức năng, nhiệm vụ khác nhau. Vì vậy, tổ chức, sử dụng lực lượng hợp lý, khoa học các lực lượng, phát huy đúng khả năng, sở trường, thế mạnh của từng lực lượng sẽ góp phần tạo thành sức mạnh tổng hợp, hình thành thế trận vững chắc ngăn ngừa, đẩy lùi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá.

Thực hiện yêu cầu này, các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội Biên phòng và bộ đội địa phương hoạt động trên địa bàn phải quán triệt sâu sắc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá, khả năng về lực lượng, phương tiện và thế mạnh của mình.

Đây là yêu cầu chỉ đạo nghệ thuật phát huy sức mạnh tổng hợp trong phòng chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá. Hiệu quả Quân đội tham gia phòng chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó phải phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương để phát huy sức mạnh tổng hợp để phòng chống đạt hiệu quả cao.

Thực hiện yêu cầu này, các đơn vị quân đội hoạt động trên địa bàn phải bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương, tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền, phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể địa phương tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương./.

                                                                                                                  VHT.

 

LỜI BÁC DẠY

 

 Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Xem Viện bảo tàng cách mạng”, đăng trên Báo Nhân dân, số 1936, ngày 04 tháng 7 năm 1959: “Nếu mọi người học tập thấm nhuần tinh thần anh dũng và chí khí kiên cường, học được ở Viện bảo tàng, mà quyết tâm làm đúng chính sách của Đảng, đi đúng đường lối quần chúng, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng, thì chúng ta nhất định thắng lợi trong mọi việc”. Đây là thời kỳ miền Bắc bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện kế hoạch 3 năm cải tạo và bước đầu phát triển kinh tế, văn hóa sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Qua đây, Hồ Chí Minh muốn nhắc nhở mọi người về truyền thống tốt đẹp của dân tộc và trách nhiệm phải phát huy truyền thống đó trong điều kiện mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Mỗi người phải thấm nhuần được tinh thần anh dũng, chí khí kiên cường của dân tộc, của con người Việt Nam được kết tinh trong những hiện vật ở bảo tàng và biết vận dụng tạo nguồn lực tinh thần, nỗ lực thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã phát huy cao độ truyền thống yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, không sợ gian khổ, hi sinh, đoàn kết, đồng lòng, anh dũng chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giải phóng đất nước và giành được những thành tựu bước đầu quan trọng trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa – hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Học tập và làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp trong quân đội luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn và triển khai thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục chính trị, giáo dục truyền thống, xây dựng cho bộ đội có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, tuyệt đối tin tưởng và chấp hành nghiêm đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; yêu nước, yêu chế độ, trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân; tinh thần quyết chiến, quyết thắng, ý chí vượt qua khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, sự gan dạ, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu và công tác; tinh thần đoàn kết nội bộ, tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn, tình đoàn kết máu thịt quân – dân; tính kỷ luật tự giác, nghiêm minh, tinh thần quốc tế cao cả… Mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội có trách nhiệm giữ gìn, vun đắp, tô thắm truyền thống của dân tộc, của quân đội và đơn vị, mãi mãi xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”./.

                                                                                                                                   VHT.

LỢI DỤNG TÔN GIÁO ĐỂ HOẠT ĐỘNG TÀ ĐẠO

 

Để truyền tải các nội dung tuyên truyền đến đối tượng, chúng đã sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng, phát thanh và in ấn các văn hóa phẩm bằng ngôn ngữ, chữ viết các dân tộc; dùng lời tuyên truyền "rỉ tai" từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong thông qua các hoạt động thăm thân, "nghiên cứu khoa học", "hoạt động từ thiện"... của những người từ nước ngoài về hoặc những người có uy tín trong dòng họ, các chức sắc tôn giáo. “Đạo hóa" dân tộc là một trong những thủ đoạn của các thế lực thù địch sử dụng ở nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới. Với một số dân tộc thiểu số Việt Nam chưa theo tôn giáo nào thì việc "đạo hóa" càng có ý nghĩa quyết định đến khả năng lôi kéo, tập hợp nhân dân và hình thành các "khung chính quyền" ngầm núp dưới vỏ bọc tôn giáo, như "khung chính quyền" ngầm của cái gọi là "Tin lành Đề-ga" để đòi ly khai, tự trị ở Tây Nguyên. “Chúng triệt để lợi dụng những khó khăn trong cuộc sống của đồng bào để tổ chức truyền đạo trái pháp luật, đội lốt tôn giáo hoạt động chính trị, móc nối xây dựng cơ sở.

Cùng với việc truyền đạo trái pháp luật đến vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, chúng còn khuyến khích đồng bào các dân tộc duy trì tập tục lạc hậu, phản khoa học, tin, nghe theo các tà đạo; cổ vũ cho lối sống tư sản trong thanh niên, thiếu niên, từng bước làm băng hoại đạo đức, bản sắc văn hóa dân tộc. Kích động mâu thuẫn giữa người dân tộc thiểu số với người Kinh, kích động chống đối chính quyền nhằm phá hoại chính sách đại đoàn kết của Đảng, Nhà nước ta. Cùng với hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, các thế lực thù địch  còn “iợi dụng những tồn tại của lịch sử ra sức kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tư tưởng "ly khai", "tự trị" của các dân tộc trên các địa bàn chiến lược để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại sự đoàn kết thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

 Các hoạt động cụ thể của chúng, như nhen nhóm, khuấy động, thổi bùng cái gọi là "quyền tự trị" của các dân tộc, kích động dân tộc Mông ly khai, bạo loạn thành lập "Nhà nước Mông tự trị", người Thượng ở Tây Nguyên ly khai thành lập “ Nhà nước Đê-ga độc lập”, người dân tộc Khmer ly khai thành lập “Nhà nước Khmer Krôm độc lập”; tung các tin thất thiệt về đời sống tâm linh và hiện thực ở các vùng đồng bào DTTS sinh sống để tạo nên hàng loạt các hoạt động như vượt biên trái phép, di dân tự do, hòng làm cho đời sống của đồng bào mất ổn định.

Lợi dụng trình độ hiểu biết còn hạn chế, đặc điểm tâm lý và lịch sử hình thành, phát triển của mỗi dân tộc để tìm cách khoét sâu những mâu thuẫn, gây nghi kỵ, hận thù, chia rẽ; lợi dụng khó khăn về kinh tế và những tồn tại, hạn chế khuyết điểm của cán bộ, chính quyền trong quá trình thực hiện chính sách của Đảng, Nhà nước để kích động, để xuyên tạc, chia rẽ nhân dân các dân tộc thiểu số với chính quyền, giữa các dân tộc thiểu số với nhau và giữa đồng bào các dân tộc thiểu số với đồng bào dân tộc Kinh, tạo ra sự đối lập giữa các dân tộc với nhau và với cách mạng. Hoạt động này không chỉ ngăn cản việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về phát triển kinh tế, văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi mà còn trực tiếp phá hoại cơ sở kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, làm cho đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng khó khăn để dễ bề không chế họ, phục vụ các mưu đồ chính trị hết sức đen tối, như lợi dụng quần chúng, kích động quần chúng gây bạo loạn chính trị, tạo tiếng vang và thông qua đó kêu gọi các tổ chức quốc tế can thiệp vào Việt Nam./.

                                                                                                   VHT.

Phòng chống, đấu tranh thói ba phải và thái độ “im lặng đáng sợ”

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng chỉ rõ 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

Trong đó có một biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị là: "Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”. Thực tế thấy rằng những thiếu sót, khuyết điểm này đã được gọi đúng tên, cái nọ liên quan đến cái kia, thậm chí là nơi trú ẩn, là chỗ để ngụy biện cho những điều sai trái. Vì vậy, phải đồng thời phân tích, chỉ rõ biểu hiện, nguyên nhân và cách khắc phục nó thế nào cho hiệu quả, để hướng tới xây dựng một bầu không khí trong lành, tin cậy, chân thành, vô tư trong mỗi cơ quan, đơn vị.

Xưa nay có nhiều cách nói về những người dĩ hòa vi quý. Nào là ông ba phải, gió chiều nào che chiều ấy. Nào là ông mũ ni che tai, khôn ăn người. Nặng nề hơn thì cho rằng đó là kẻ “ngậm miệng ăn tiền”. Thời hiện đại, còn có những cụm từ mới xuất hiện: “tai lành tai điếc”, “đi giữa hai hàng”...

Năm 1947, tại Chiến khu Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết cuốn “Sửa đổi lối làm việc”. Bác gọi những kẻ khôn ăn người như thế là “bọn thứ ba”. Đó là những kẻ cơ hội, là khôn mà không ngoan, làm gì cũng nghĩ đến cái lợi riêng mình mà quên đi lợi ích chung, quyền lợi của người khác. Thời nay, "bọn thứ ba" là người ta ám chỉ những người "dĩ hòa vi quý".

Thật ra thành ngữ “dĩ hòa vi quý” khởi thủy của nó là thiện ý tốt. Nôm na rằng, lấy hòa thuận làm vui. Chịu khó nhẫn nhịn một chút, hòa là quý, nhẫn là cao. Đừng vội nổi xung lên, phỉ báng, nhiếc móc nhau, bé xé ra to, mà nên “biến đại sự thành tiểu sự, tiểu sự thành vô sự”. Đúng như cái nghĩa ngọn nguồn này thì quá hay. Thế nhưng, theo thời gian, theo những diễn biến phức tạp trong đời sống hiện đại mà dần dần cái nghĩa của thành ngữ này bị hiểu chệch, hiểu sai, lắm khi chỉ còn được hiểu theo nghĩa đó là tính cách khôn lỏi, chả bao giờ nêu chính kiến, “tránh voi chả xấu mặt nào”, tránh mất lòng người khác, nhất là mất lòng cấp trên.

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng chỉ rõ 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Trong đó có một biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị là: "Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”. Thực tế thấy rằng những thiếu sót, khuyết điểm này đã được gọi đúng tên, cái nọ liên quan đến cái kia, thậm chí là nơi trú ẩn, là chỗ để ngụy biện cho những điều sai trái. Vì vậy, phải đồng thời phân tích, chỉ rõ biểu hiện, nguyên nhân và cách khắc phục nó thế nào cho hiệu quả, để hướng tới xây dựng một bầu không khí trong lành, tin cậy, chân thành, vô tư trong mỗi cơ quan, đơn vị.

"Ngậm miệng" tức là ngược lại với những anh hay phán xét, phách lối, a dua, nói năng văng mạng. Đương nhiên, cả hai thái cực này đều cần phê phán. "Ngậm miệng" mà là “một sự nhịn chín sự lành”, giữ kín chuyện nội bộ, khỏi tổn thương người khác thì hẳn là điều tốt. Cái nguy hại ở chỗ “ngậm miệng ăn tiền”, tức là đã có chủ ý xấu rồi. Ở một cơ quan nọ, mấy người bảo nhau, cái ông X lúc nào mồm cũng như rùa ăn sung, chả có chính kiến gì. Khi anh ta có ý kiến thì toàn dựa ý cấp trên, dựa ý tập thể, mong “làm rõ thêm” và “hy vọng rằng”. Còn khi cần nói rõ, vấn đề này sai chỗ nào, đúng chỗ nào, thái độ của anh, sẽ xử lý ra sao, thì anh ta sẽ “ném cát bụi tre” bằng những câu chữ mập mờ, nước đôi, đại loại như: "Cần tính toán thêm, nên hỏi lại cơ sở, vấn đề này nhạy cảm, có thể lùi đến phiên họp sau được không?". Hoặc có anh nói ráo hoảnh: “Tôi biểu quyết theo đa số”. Thế nhưng lúc giải lao thì vẫn là anh, rỉ tai người này, vỗ vai người khác: “Ông nói đi, ông nói khách quan hơn tôi. Tội cậu này đáng chém”. Hoặc: “Oan cho nó quá! Đồng chí gần nó lâu sao không nói. Sau này nó oán chúng ta”. Cái kiểu bày tỏ, vận động hành lang này đã cũ lắm, nhưng nó sống dai dẳng và biến ảo rất tinh vi. Nhất là từ khi nó được sự "phù phép" của chiếc điện thoại thông minh vốn chả có tội vạ gì.

Vì sao căn bệnh này tồn tại dai dẳng thế? Vì sao mà không ít cán bộ, trong đó có cán bộ cấp cao cũng mắc thói tai lành tai điếc. Thậm chí có vị chủ trì cuộc họp sắp diễn ra cũng “khó” nói sự thật, bèn nghĩ ra cách gọi điện cho cấp dưới: "Mai chú đề xuất nhé. Anh nêu 3 phương án, chú theo phương án này. Việc này là anh vì chú!". Nó khiến cho người trong cuộc trằn trọc, mất ngủ không đáng có. Nó là mảnh đất cho cái “cây” suy diễn nảy mầm, suy bụng ta ra bụng người, chủ quan và phiến diện.

Vì sao dai dẳng thế, còn là do thái độ cầu an. Nói ra lúc này thế nào đây, khen cũng chết, chê cũng chết. Đại hội đến nơi rồi, bầu bán sát gần rồi, mất phiếu có khi chỉ vì “lộ thiên cơ”, thế là đành trốn vào một cái tham luận vô thưởng vô phạt “mạnh bước trên đường phát triển”. Im lặng còn vì một thỏa thuận ngầm nào đó, lợi ích của tôi, của anh, của “nhóm tôi”, “nhóm anh”. Và người ta đã chọn im lặng.

Vì sao dai dẳng thế? Vì cái chủ nghĩa cá nhân trong mỗi con người, cái tôi lớn quá. Có khi là vì quá đam mê quyền lực, quá ham muốn về vật chất nên đánh mất mình. Quyền lực và danh vọng thường làm hư hỏng con người. Vụ Việt Á gần đây nhất, cái vô lương hoành hành trên nỗi đau khổ của đồng loại là một minh chứng rõ nhất. Có người rao giảng về đạo đức nhưng đã “im lặng” cho thuộc cấp, cho những đơn vị liên quan nhân danh khoa học vi phạm pháp luật.

Rất mừng là, bên cạnh những chuyện kể trên, có rất nhiều gương sáng quanh ta. Trong các cơ quan, đơn vị có rất nhiều những tấm gương sáng-tấm gương trung thực, dám nói thẳng, nói thật. Thấy đúng thì bảo vệ để khuyến khích người tốt, việc tốt, lên án những kẻ cơ hội, đố kỵ, thúc đẩy công việc hoàn thành. Thấy sai thì lên tiếng mạnh mẽ để làm rõ đúng sai, vạch trần tham nhũng, tiêu cực. Có những cán bộ quân đội, cựu chiến binh suốt mấy chục năm không chịu im lặng, kiên quyết đấu tranh vạch trần cái xấu, cái ác, mặc dù có thể nguy hiểm tới bản thân, gia đình. Như trường hợp cựu chiến binh Trần Văn Bính (sinh năm 1946), 20 năm kiên trì đấu tranh chống tham nhũng và cuối cùng đã thành công. Ông đã thẳng thắn nêu vấn đề tiêu cực ra trước Đại hội Đảng bộ phường Hoàng Liệt (quận Hoàng Mai, Hà Nội). Bị đe dọa, bị đánh trọng thương ông vẫn không lùi bước. Các cán bộ tiêu cực cũng không mua được sự “im lặng” của ông, dù họ trả “giá” rất cao. Thấy sai mà mình im lặng thì càng sai, ông Bính trả lời đơn giản như vậy.

Một câu hỏi đã có nhiều dịp được trả lời, rằng làm sao đây để chống được căn bệnh “điếc có chủ ý”? Xin thưa, chúng ta vẫn phải tiếp tục trả lời, vì thực tiễn luôn vận động, vì sự diễn biến phức tạp của tình trạng này. Thẳng thắn và trung thực, nói như vậy mà làm thì khó thay! Nhưng nhất định phải làm. Trước hết là phải xây dựng được khối đoàn kết, thật sự dân chủ trong sinh hoạt đảng và các tổ chức chính trị-xã hội. Người đứng đầu đơn vị phải thật sự gương mẫu, đề cao trách nhiệm cá nhân, phải có con mắt tinh đời để nhận ra ai chân, ai giả, ai tạm thời im lặng vì cái chung, ai “ngậm miệng ăn tiền”? Khi anh không nói ra, không hẳn mọi người không biết, vì còn có một nhân chứng nữa, đó chính là lương tâm anh. Và điều không bao giờ cũ: Nghiêm túc tự phê bình và phê bình để nội bộ thật sự đoàn kết, hiểu nhau, tin nhau, hướng đến những giá trị tốt đẹp, nhân văn, vì sự phát triển, vững mạnh của cơ quan, đơn vị; đồng thời cũng vì sự tiến bộ, trưởng thành của mỗi cán bộ, đảng viên.

NHẬN DIỆN, THỰC HIỆN QUYẾT LIỆT VÀ ĐỒNG BỘ CÁC GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH”

 

Hiện nay, với những âm mưu, thủ đoạn vô cùng nguy hiểm của các thế lực thù địch, đòi hỏi mỗi chúng ta phải luôn chủ động, kiên quyết trong nhận diện, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”. Để đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc, chúng ta cần triển khai và thực hiện quyết liệt, đồng bộ một số nhiệm vụ, giải pháp vừa mang tính cấp bách, vừa thường xuyên, liên tục. Đó là:

Một là, cần xác định công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là chính. Tuyên truyền giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân nâng cao cảnh giác, tạo sức đề kháng trước những thông tin, quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, thường xuyên chỉ đạo, định hướng công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là giáo dục thế hệ trẻ nhận thức rõ về vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng, về mô hình chính trị mà nước ta đã kiên định. Đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

Hai là, cấp uỷ, chính quyền các cấp nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững lập trường tư tưởng, chính trị cho cán bộ, đảng viên. Bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên là yếu tố cơ bản, then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu của các đơn vị; đồng thời, giữ vai trò định hướng thúc đẩy hành động và hành vi tích cực của cán bộ, đảng viên. Đối với tổ chức đảng phải thường xuyên chăm lo xây dựng nội bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện, chủ động nắm bắt tình hình, định hướng dư luận không để bị động, bất ngờ khi có tình huống xảy ra, coi đây là yếu tố then chốt quyết định đến thắng lợi của nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình”. Để thực hiện nhiệm vụ này, cần quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tăng cường công tác kiểm tra, bảo đảm cho nghị quyết của tổ chức đảng được thực hiện thắng lợi. Đồng thời, xây dựng đội ngũ cán bộ, lãnh đạo các cấp mạnh về số lượng và chất lượng, thể hiện ở các khâu từ lựa chọn, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí đúng người, đúng việc, phát huy vai trò, tính chủ động trong việc ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm tư tưởng sai trái và phản động, các biểu hiện mơ hồ, ảo tưởng, hoài nghi, dao động, lơ là mất cảnh giác trong thực hiện nhiệm vụ.

Ba là, quán triệt sâu sắc phương châm, gắn “xây dựng với bảo vệ”, “bảo vệ với xây dựng”; xây dựng là một nội dung của bảo vệ và là biện pháp chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội hiệu quả nhất. Mục đích của các thế lực thù địch nhằm thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội, công an hòng làm ta từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, phai nhạt bản chất giai cấp, lý tưởng cách mạng, xa rời phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu và cuối cùng dẫn tới xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Âm mưu của họ rất thâm hiểm. Do đó, cần phải tập trung xây dựng lực lượng quân đội và công an vững mạnh về chính trị trong tình hình mới. Bởi đây là lực lượng chủ công, nòng cốt trong việc đảm bảo an ninh trật tự và an ninh quốc gia, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và Nhân dân.

Bố là, xây dựng tốt lực lượng nòng cốt trong công tác đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình”. Lực lượng tham gia đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” phải được tổ chức bài bản và có các phương án, xây dựng, bố trí lực lượng chủ công trên từng lĩnh vực tư tưởng, chính trị, văn hóa, văn học, nghệ thuật, kết hợp giữa tin bài trên các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả mạng xã hội, báo cáo viên, thông tin chuyên đề thời sự trong sinh hoạt đảng, đoàn thể. Tổ chức các diễn đàn đối thoại, các hoạt động khoa học có tính chuyên sâu, tập hợp được chuyên gia, trí thức, văn nghệ sỹ bàn về những vấn đề đang được dư luận xã hội quan tâm, có liên quan đến lợi ích của đất nước, qua đó thu hẹp khoảng cách bất đồng quan điểm, chính kiến, không để xuất hiện các tổ chức, quan điểm chính trị đối lập. Để thực hiện nhiệm vụ đó trước hết phải tăng cường và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu quả và chất lượng của công tác giáo dục, phải coi trọng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục lý luận chính trị, cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác những thông tin cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trước những vấn đề mà dư luận, xã hội đang quan tâm, không để các vụ việc xảy ra nội cộm, bức xúc.

Năm là, phát huy mạnh mẽ vai trò của báo chí, truyền thông đối với công cuộc đấu tranh phòng, chống “Diễn biến hoà bình”. Kiên quyết đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, khắc phục các biểu hiện thương mại hoá, xa rời tôn chỉ, mục đích và các biểu hiện tiêu cực, lệch lạc. Để chống “diễn biến hoà bình”, báo chí cần tăng cường giáo dục ý thức xã hội chủ nghĩa cho quần chúng nhân dân, đặc biệt là thanh niên, sinh viên hiểu và nhận thức rõ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng… Thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ vững phương hướng đúng đắn, làm thất bại những âm mưu của “diễn biến hoà bình”.

Sáu là, trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” tập trung, kiên quyết vạch trần những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, đồng thời tập trung sâu hơn vào việc hình thành khả năng “miễn nhiễm”, nâng cao “sức đề kháng” của xã hội trước những thông tin xấu độc. Trong đó, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thế hệ trẻ cần trang bị những có kiến thức, kỹ năng để làm tốt công tác tham mưu, công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, phải thể hiện rõ bản lĩnh chính trị không được phép phát ngôn mang tính hoài nghi, a dua với những thông tin xấu độc. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự nghiên cứu, học tập, nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị, trước những sai trái, lệch lạc, không để mình bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn phát huy vai trò "hạt nhân" tích cực, trở thành tấm gương sáng góp phần tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng, để từ đó khiến các thế lực thù địch không còn "đất" để xuyên tạc, chống phá./.

                                                                                                          VHT.

LỜI BÁC DẠY

 

“Yêu nước thì việc gì có lợi cho nhân dân, dù khó mấy cũng phải ra sức làm cho kỳ được. Điều gì có hại cho nhân dân, dù khó mấy cũng phải ra sức trừ cho kỳ hết.”. Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài:“Vệ sinh yêu nước” (Phong trào diệt ruồi, muỗi), đăng trên Báo Nhân dân, số 1572, ngày 02 tháng 7 năm 1958. Đây là năm đầu tiên thực hiện kế hoạch 3 năm cải tạo và bước đầu phát triển kinh tế, văn hóa sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, miền Bắc bắt đầu bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Theo Hồ Chí Minh, yêu nước không thể tách rời thương yêu nhân dân, yêu nước không phải là cái gì chung chung, trừu tượng, mà nó được bắt đầu từ những việc nhỏ nhất và thể hiện ở việc làm cụ thể của mỗi người trong đời sống hằng ngày. Người có tinh thần yêu nước sẽ luôn đặt lợi ích của nhân dân lên trên, lên trước lợi ích cá nhân và dù khó khăn, gian khổ thế nào cũng ra sức làm cho kỳ được, còn việc gì có hại cho nhân dân phải ra sức trừ cho kỳ hết. Người cho rằng, ruồi muỗi là bạn đồng minh của giai cấp bóc lột. Nó gây ra nhiều tật bệnh, làm cho nhân dân ta ốm đau. Người ốm đau thì sức lao động bị giảm sút, công cuộc phát triển kinh tế và văn hóa bị hạn chế. Vì vậy, chúng ta phải ra sức tiêu diệt những kẻ địch độc ác bảo vệ sức khỏe, tính mạng và tài sản của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân mẫu mực của một người chiến sĩ cách mạng đã hiến dâng trọn vẹn cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang và cuộc sống hòa bình, ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

Quán triệt và thực hiện lời dạy trên của Người, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam đã luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hi sinh để bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, chấp hành nghiêm 12 điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân, được nhân dân tin yêu, ghi nhận và trao tặng danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. Tích cực làm công tác dân vận, tham gia xây dựng hệ thống chính trị, tăng cường quốc phòng – an ninh, phát triển kinh tế – xã hội; giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; thực hiện công tác dân tộc, tôn giáo trên các địa bàn, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo,…. Các binh đoàn, đoàn kinh tế – quốc phòng đã gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với tăng cường quốc phòng – an ninh, giúp nhân dân xóa đói, giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, chuyển đổi vật nuôi, cây trồng, bao tiêu sản phẩm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, xây dựng đời sống văn hóa mới, làm thay đổi bộ mặt nông thôn trên địa bàn đóng quân. Đồng thời, chủ động tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác cho các tầng lớp nhân dân, đấu tranh có hiệu quả với mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, góp phần xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh; củng cố, phát huy tinh thần đoàn kết các dân tộc anh em, xây dựng quê hương giàu mạnh, văn minh./.

                                                                                                          VHT.

 

ÂM MƯU VÀ THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH KHÔNG MỚI NHƯNG ĐƯỢC ĐẨY MẠNH VÀ ĐIỀU CHỈNH

 

Khái niệm “Diễn biến hòa bình” không mới và cũng không lạ đối với mọi người. Chúng ta biết đến cụm từ này từ những thập niên 20 của thế kỷ XX, khi chủ nghĩa đế quốc sử dụng “Diễn biến hòa bình” để chống phá các nước đối địch, nhất là nước Nga - Nhà nước Xô-viết công nông đầu tiên trên thế giới vừa ra đời từ sau Cách mạng Tháng Mười vĩ đại. Hiện nay, “Diễn biến hòa bình” có nhiều cách gọi khác nhau, đó là “chuyển hóa hòa bình”, “biến đổi hòa bình”,“cạnh tranh hoà bình”, “vượt trên hòa bình”, “chính sách giải phóng”, “chiến thắng không cần chiến tranh”, “chiến tranh không có tiếng súng”, “phương pháp phi vũ trang”… Có thể khẳng định “Diễn biến hòa bình” là cuộc chiến tranh - cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng, thể chế chính trị. Chiến lược “diễn biến hòa bình” liên tục được điều chỉnh, bổ sung trở thành một chiến lược tổng hợp, dùng biện pháp “phi vũ trang” là chủ yếu nhằm chống phá, tiến tới lật đổ chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa.

Thực tế “Diễn biến hòa bình” không phải do chủ nghĩa đế quốc phát kiến, nhưng hiện nay là “sản phẩm” của họ và trên cơ sở tiếp thu tư tưởng quân sự cổ đại của nhân loại, vận dụng phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng thời điểm, từng giai đoạn, nhằm giành thắng lợi quyết định trong “cuộc chiến” sống còn với các quốc gia khác hệ tư tưởng, đối địch. Mục tiêu của chiến lược “diễn biến hòa bình” là nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn cầu. Để đạt được mục đích đó, các thế lực thù địch đặt ra những mục tiêu cụ thể như: Xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, thay thế bằng hệ tư tưởng tư sản; Âm mưu thực hiện “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” trong các nước xã hội chủ nghĩa; Gây mâu thuẫn nội bộ, phá vỡ sự đồng thuận xã hội và khi có thời cơ thì lôi kéo, tiến hành bạo loạn chính trị; Làm suy yếu, chệch hướng phát triển của nền kinh tế, tiến tới chi phối, lũng đoạn, khống chế kinh tế trong các nước xã hội chủ nghĩa; Chuyển hoá văn hoá, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo “giá trị Mỹ”, phương Tây; Thực hiện âm mưu “phi chính trị hoá” để “vô hiệu hoá” quân đội trong các nước xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, có thể hiểu “Diễn biến hoà bình” là chiến lược cơ bản nhằm lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, đứng đầu là Mỹ tiến hành. Ở Việt Nam, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” các thế lực thù địch đặc biệt coi trọng việc phá hoại tư tưởng, coi đó là mũi nhọn, là con đường ngắn nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh các đặc trưng chủ yếu như: tuyên truyền xuyên tạc nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đẩy mạnh hoạt động xuyên tạc lịch sử; thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội và công an… Đáng chú ý, thời gian gần đây, các thế lực thù địch tích cực đẩy mạnh thực hiện một số thủ đoạn chống phá mới, đó là: Tìm cách đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đưa ra những luận điệu lập lờ, lẫn lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực, giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đến đảng viên và nhân dân. Khuyến khích những quan điểm lệch lạc và những khuynh hướng xã hội “dân chủ” kiểu Mỹ và phương Tây hòng làm cho người dân thấy hoài nghi về “xã hội Việt Nam” và mơ tưởng về một “xã hội khác” được cổ xúy là tốt đẹp hơn.

Hiện nay các thế lực thù địch điều chỉnh âm mưu, thủ đoạn chống phá, bằng cách ngoài việc công kích trực diện vào nền tảng tư tưởng, chúng tuyên truyền kích động gây mâu thuẫn, chia rẽ trong nội bộ. Với mưu đồ gây chia rẽ nội bộ, làm cho Đảng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, chúng ra sức tuyên truyền, bịa đặt về các phe phái trong Đảng, nhất là lợi dụng việc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc là thanh trừng nội bộ. Chúng còn thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh, trật tự... Sử dụng nhiều cách thức tác động tinh vi, xảo quyệt đối với từng đối tượng cụ thể, trong đó đối với các tầng lớp nhân dân, chúng lợi dụng việc tiếp cận thông tin còn hạn chế, đưa những thông tin sai lệch, nhằm tạo khoảng trống trong tư tưởng nhân dân, làm cho nhân dân hoài nghi, mất niềm tin với chế độ, Đảng và nhà nước, từ đó chúng kích động các hoạt động gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Âm mưu, thủ đoạn của chúng còn xuyên tạc, bóp méo các sự kiện chính trị, các vụ việc phức tạp, nhạy cảm. Lợi dụng các sự kiện chính trị quan trọng liên quan đến các vấn đề phân định biên giới, lãnh thổ, tranh chấp Biển Đông, ô nhiễm môi trường, hay những vấn đề liên quan đến công tác phòng chống Covid-19, để lợi dụng tung tin thất thiệt trên các trang mạng xã hội gây hoang mang trong dư luận, tạo nên sự hiểu nhầm của người dân, sự hoài nghi vào cấp ủy, chính quyền các cấp.

Những biểu hiện trên tuy không hoàn toàn là những thủ đoạn mới trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của chúng, nhưng về cơ bản đó là những dấu hiệu đặc trưng, nổi bật nhất, thể hiện tính chất tinh vi, xảo quyệt và sự nguy hiểm, thâm độc của nó đã và đang không ngừng tăng lên. Hiện nay, các thế lực thù địch thường xuyên thay đổi các chiến lược. Vì vậy, chúng ta phải luôn tỉnh táo, nhận diện đúng, bình tĩnh xem xét, phân tích, để vạch trần bản chất và có biện pháp phòng, chống hiệu quả. Tuyệt đối không được mơ hồ, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng” nhưng đầy cam go, quyết liệt này.

Cuộc đấu tranh này luôn được Đảng và nhà nước ta xác định là vẫn còn tiếp tục. Vì thế, chúng ta cần đề cao cảnh giác, chủ động tấn công, đổi mới tư duy, có phương thức, biện pháp thích hợp, tăng cường tuyên truyền sâu rộng, kịp thời, chính xác các quan điểm, tư tưởng, lý luận của Đảng, phản bác một cách mạnh mẽ, quyết liệt để kịp thời ngăn chặn sự chống phá về tư tưởng, lý luận của các thế lực thù địch dưới bất cứ hình thức nào. Điều quan trọng là làm cho tư tưởng, lý luận của Đảng thấm sâu trong mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là với thế hệ trẻ để chính họ là những chủ thể tương lai của đất nước luôn mạnh mẽ, vững chắc làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn cũng như phương thức chống phá của các thế lực thù địch./.

                                                                                                             VHT.

 

Những đòi hỏi vô lý, quá trớn

Những năm qua, do cách nhìn thiên lệch, thiếu thiện chí nên một số cá nhân, tổ chức hoạt động dưới danh nghĩa “người bảo vệ” tự do tôn giáo và nhân quyền thế giới vẫn tung ra những thông tin thiếu khách quan, những nhận định sai trái về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. 

Điển hình là gần đây, Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ (USCIRF) công bố báo cáo về tình hình tự do tôn giáo quốc tế năm 2021, trong đó nêu tình hình và kết quả thực hiện tôn giáo của 27 nước và một số thực thể, tổ chức trên thế giới mà USCIRF đánh giá là có những vi phạm “nghiêm trọng” hoặc “đặc biệt nghiêm trọng” để đề xuất Bộ Ngoại giao Mỹ đưa vào “danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt” hoặc “danh sách cần theo dõi đặc biệt” về tự do tôn giáo, từ đó nhằm áp đặt chế tài với các quốc gia này trong hỗ trợ tài chính và hợp tác trên một số lĩnh vực.

Trong nội dung báo cáo về Việt Nam, USCIRF đưa ra nhận xét với giọng điệu đầy kẻ cả rằng điều kiện tự do tôn giáo của Việt Nam trong năm 2021 không có gì khác biệt so với năm 2020. Và, thông qua việc đả kích tình hình bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, USCIRF thậm chí còn đòi sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam.

Phải khẳng định rằng, không chỉ riêng báo cáo năm 2021 mà các báo cáo thường niên của USCIRF đưa ra trong những năm gần đây đều được đánh giá là chưa chính xác, thiếu thiện chí, thiếu khách quan về tình hình tự do tôn giáo ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Thậm chí, ngay cả trong chính giới Mỹ và các tổ chức nhân quyền ở Mỹ cũng xuất hiện những ý kiến cho rằng, cách tiếp cận của USCIRF nặng về chỉ trích, không giúp cải thiện tự do tôn giáo trên toàn cầu đúng với mục đích mà Quốc hội và Chính phủ Mỹ đặt ra.

Trên thực tế, Việt Nam là quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng tôn giáo, trong đó có cả tôn giáo nội sinh và tôn giáo ngoại nhập và từng được ví như một “bảo tàng” về tín ngưỡng, tôn giáo của thế giới. Theo thống kê cập nhật từ Ban Tôn giáo Chính phủ, hiện nay ở Việt Nam có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng và hơn 26,5 triệu tín đồ, chức sắc của các tôn giáo. Tính đến hết năm 2021 đã có 16 tôn giáo được Nhà nước Việt Nam công nhận, trong đó có Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Phật giáo Hòa hảo...

Chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là bảo đảm và thúc đẩy quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân, bảo đảm công bằng, không phân biệt đối xử với các tôn giáo. Việt Nam cũng là một trong số ít các quốc gia trên thế giới có đạo luật về tôn giáo, cụ thể là Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội thông qua ngày 18-11-2016, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2018. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam quy định rất rõ các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật, không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.

Đồng thời, Nhà nước Việt Nam tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước và cộng đồng, đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân. Nhà nước cũng bảo hộ các cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo và tài sản hợp pháp của các cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo. Đồng thời, nghiêm cấm các hành vi phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo, ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo, xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; các hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường, xâm phạm đời sống xã hội cũng như thân thể, tính mạng, sức khỏe của nhân dân... Và việc xử lý đối với các hoạt động vi phạm pháp luật liên quan đến tôn giáo cũng dựa trên những quy định này.

Quyền tự do tôn giáo là vấn đề có tính lịch sử, nghĩa là phụ thuộc vào từng thời điểm lịch sử cụ thể ở từng quốc gia, gắn với từng thể chế chính trị-xã hội và điều kiện kinh tế-văn hóa-xã hội cụ thể nhất định. Nói cách khác, không thể tồn tại một khái niệm về quyền tự do tôn giáo chung chung, trừu tượng mà không gắn với một bối cảnh và thực thể nhất định.

Vì lẽ đó, không thể đem giá trị, quan niệm về tự do tôn giáo ở một quốc gia này để áp dụng hay đo lường, đánh giá mức độ quyền tự do tôn giáo ở một quốc gia khác. Đặc biệt, trên phương diện quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia, thể chế chính trị bình đẳng, độc lập thì càng không thể đem tiêu chuẩn về tự do tôn giáo ở quốc gia này để áp đặt lên một quốc gia khác và buộc quốc gia đó phải tuân theo.

Đây cũng là những điều mà USCIRF hay bất cứ cá nhân, tổ chức nào đang muốn đưa ra những đòi hỏi quá trớn đối với việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam cần phải học thuộc!