Thứ Năm, 7 tháng 7, 2022

Lười học tập lý luận chính trị - một biểu hiện suy thoái tư tưởng của cán bộ, đảng viên

 

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã chỉ ra một cách hệ thống những biểu hiện để nhận diện sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trong đó, Trung ương xác định, việc lười học tập lý luận chính trị (LLCT) là một biểu hiện của suy thoái.

Lười học tập Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước là một thực tế đang diễn ra và rất dễ nhận diện.

Nguy hiểm khôn lường bệnh “gật gù” và “phương phưởng”

Đây không phải lần đầu Đảng ta-một Đảng cộng sản chân chính, trung thành với hệ tư tưởng Chủ nghĩa Mác - Lê-nin thẳng thắn nhận rõ và đề cập đến vấn đề này. Ngay từ sớm V.I.Lê-nin đã khẳng định: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cho rằng: Do "kém về lý luận, hoặc khinh lý luận, hoặc lý luận suông, nhiều cán bộ, đảng viên của ta mắc phải bệnh chủ quan, gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo. Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý mình nghĩ thế nào làm thế ấy. Kết quả thường thất bại". Đảng ta cũng nhiều lần xác định trong các văn kiện quan trọng: LLCT có vai trò đặc biệt quan trọng đối với Đảng và hoạt động của Đảng; là ngọn hải đăng soi đường, chỉ lối; là “kim chỉ nam” cho mọi hành động. Bởi vậy, nếu không chú tâm nghiên cứu lý luận Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, không vững LLCT sẽ dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị. Suy thoái đó diễn ra mà không ngăn chặn sẽ dẫn đến coi thường lý luận, không đủ sức bảo vệ chính mình và dễ tiếp thu tư tưởng trái chiều. Vì thế, việc học tập LLCT có vai trò hết sức quan trọng; là công việc cần thiết, cấp bách, thường xuyên và lâu dài của mỗi tổ chức, cán bộ, đảng viên.

Từ chân lý đó, Đảng ta chỉ rõ: “Học tập là nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của cán bộ, đảng viên. Cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp phải có kế hoạch thường xuyên học tập, nâng cao trình độ LLCT, kiến thức chuyên môn và năng lực hoạt động thực tiễn… Kết quả học tập LLCT là một trong những tiêu chuẩn để xem xét, đánh giá, sử dụng và thực hiện chính sách đối với cán bộ, đánh giá tư cách đảng viên và tổ chức đảng TSVM”. Đảng cũng yêu cầu: “Mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là các cán bộ lãnh đạo chủ chốt phải có kế hoạch thường xuyên học tập, nâng cao trình độ LLCT, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn. Học tập là nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi cán bộ, đảng viên và phải được quy định thành chế độ. Lười học tập, lười suy nghĩ, không thường xuyên tiếp nhận những thông tin mới, những hiểu biết mới, cũng là biểu hiện của sự suy thoái”.

Như vậy, việc lười học tập nghị quyết của Đảng nói riêng, LLCT nói chung là một trong những biểu hiện suy thoái rất nguy hiểm, nó làm cho cán bộ, đảng viên không nắm được đường lối, quan điểm của Đảng, chủ trương, biện pháp lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng, nghị quyết của Đảng dù rất đúng đắn, nhưng chậm được triển khai, cụ thể hóa và trở thành hiện thực. Thậm chí có những trường hợp, cán bộ, đảng viên hiểu sai, làm trái với đường lối, nghị quyết của Đảng, gây ra sự bất bình, lo lắng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Cũng do lười học tập LLCT, không nắm chắc, hiểu sâu chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, nên cán bộ, đảng viên không thể tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân thực hiện. Do không nắm được nghị quyết của Đảng, nên khi tiếp xúc với quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch xuyên tạc, phủ nhận đường lối, quan điểm, nghị quyết của Đảng, thì không ít cán bộ, đảng viên tỏ ra lúng túng, thiếu lý lẽ để “giải thoát” cho chính mình và đấu tranh bác bỏ quan điểm sai trái, phản động, nhằm bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng.

Điều đáng lo ngại là hiện nay vẫn còn những cán bộ, đảng viên chưa dành nhiều thời gian, tâm huyết để nghiên cứu, học tập, nắm vững đường lối, nghị quyết của Đảng nói riêng, LLCT nói chung; tư duy thiếu tự chủ độc lập, sáng tạo, làm việc bằng “tư duy của người khác”... Một bộ phận cán bộ lười học tập, lười suy nghĩ, không thường xuyên tiếp nhận những thông tin, hiểu biết mới; vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân. Biểu hiện rõ nét là khi được triệu tập học tập, nghiên cứu nghị quyết theo hình thức tập trung, không ít cán bộ, đảng viên xuất hiện tư tưởng “có mặt” để điểm danh mà chưa thực tâm chú ý lắng nghe, trăn trở trước những vấn đề quan trọng, cốt lõi của LLCT. Đáng buồn hơn, không ít cán bộ mặc nhiên sử dụng các thiết bị công nghệ thông tin, vô tư trò chuyện mà quên đi việc tập trung chú ý lắng nghe báo cáo viên, giảng viên truyền thụ kiến thức lý luận. Thậm chí, sau mỗi đợt học tập chính trị tập trung, nhiều cán bộ còn “bỏ quên” tài liệu, văn kiện tại giảng đường, dưới gầm bàn… Sau học tập, một số cán bộ “nói” như thể hiểu thấm thía nội hàm nghị quyết, “phán” chủ trương của Đảng một cách chủ quan, phương phưởng, theo lối “đúng thì không hẳn, mà sai thì chưa phải”. Những vấn đề mới, hệ trọng trong nghị quyết vừa được ban hành không được cán bộ, đảng viên chú trọng, lưu tâm nghiên cứu, cập nhật...

"Bệnh" lười học LLCT bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân cả chủ quan và khách quan, nhưng chủ yếu nhất là từ chính cá nhân cán bộ, đảng viên. Trước hết, cán bộ, đảng viên không xác định được mục đích, động cơ đúng đắn của việc học tập LLCT. Học không vì mục đích tự thân mà vì lý do thăng tiến; học để lấy bằng cấp, để đáp ứng tiêu chuẩn được đề bạt, bổ nhiệm. Động cơ học tập LLCT không trong sáng, vì tư lợi cá nhân thì việc học không thể có chất lượng, hiệu quả. Cùng với đó, trong thời đại công nghệ số, truyền thông, internet phát triển nhanh, một bộ phận giới trẻ, trong đó có những cán bộ trẻ bị phân tán bởi giao lưu, chia sẻ trên mạng xã hội. Những thú vui trên không gian mạng khiến nhiều người ngại đọc những cuốn sách, tập giáo trình, nhất là tài liệu LLCT vốn trừu tượng, khô khan. Niềm say mê, hứng thú nghiên cứu LLCT của Đảng ở một bộ phận cán bộ, đảng viên suy giảm...

Thực tiễn luôn vận động, biến chuyển không ngừng với nhiều vấn đề mới nảy sinh, trong khi đó ở nhiều cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cũng như đội ngũ giảng viên, báo cáo viên LLCT vẫn nặng thuyết trình về câu chữ, chậm đổi mới trong biên soạn giáo trình, tài liệu. Nhiều nội dung bị trùng lặp, lạc hậu so với thực tiễn trong và ngoài nước. Chậm cập nhật những tư tưởng lý luận mới của thời đại và trong các nghị quyết mới của Đảng. Nội dung và phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá kết quả còn nhiều bất cập. Tình trạng buông lỏng quản lý của cơ sở đào tạo; nạn chạy bằng cấp còn xuất hiện; mở lớp quá nhiều trong khi không xác định được nhu cầu thực chất của việc đào tạo… dẫn đến chất lượng giảng dạy thấp, không thu hút, thuyết phục được người nghe, gây nhàm chán, đơn điệu khiến người học ngày càng rời xa những vấn đề LLCT. Văn kiện Đại hội XII của Đảng, đánh giá: “Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới. Hệ thống, chương trình đào tạo, bồi dưỡng LLCT còn nhiều bất hợp lý”. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) thẳng thắn thừa nhận: “Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, giảng dạy và học tập Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh chưa đáp ứng yêu cầu”.

Cá nhân nghiêm túc, quyết tâm - tổ chức nghiêm khắc, quyết liệt

Xét về nhóm các giải pháp thì việc cần kíp đầu tiên là phải phát huy nhiều hơn nữa vai trò của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị trong quá trình tổ chức học tập, quán triệt bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Để góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng lười học tập nghị quyết và LLCT của Đảng trong cán bộ, đảng viên hiện nay, cần phải tiến hành đồng thời mọi công việc liên quan tới nhận thức và trách nhiệm của nhiều tổ chức, nhiều lực lượng. Trước hết các cấp ủy, tổ chức đảng cần đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục chính trị trong nội bộ. Đội ngũ lãnh đạo, quản lý các cấp, cần tuyên truyền sâu rộng trong cán bộ, đảng viên về tầm quan trọng của việc học tập, nghiên cứu LLCT theo đúng quan điểm chủ trương của Đảng, là: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao nhận thức trong toàn Đảng về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; có kế hoạch học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận bắt buộc hằng năm đối với cán bộ, đảng viên gắn với việc cung cấp thông tin, cập nhật kiến thức mới phù hợp cho từng đối tượng, từng cấp, từng ngành và từng địa phương. Bên cạnh đó, việc tổ chức học tập và bồi dưỡng cần chú trọng cử đối tượng đi học LLCT công khai, minh bạch, đúng tiêu chuẩn để kịp thời động viên, khích lệ tinh thần phấn đấu của tập thể; tuyệt đối tránh sự cả nể, cử không đúng người, gây lãng phí thời gian, nhân lực, tạo bất bình trong cơ quan, đơn vị.

Quá trình giảng dạy, bồi dưỡng LLCT phải lựa chọn nội dung cốt lõi nhất để giảng dạy, truyền thụ. Bài giảng của đội ngũ báo cáo viên phải ngắn gọn, súc tích, cô đọng, dễ nhớ, dễ hiểu và dễ tổ chức thực hiện. Nội dung bài giảng chính trị bám sát nghị quyết các cấp, xác định thật cụ thể, rõ ràng khâu đột phá để giải quyết nhiệm vụ then chốt, khâu yếu, mặt yếu, tạo bước phát triển. Kế hoạch triển khai thực hiện phải cụ thể, xác định rõ lực lượng chịu trách nhiệm thực hiện chính; nguồn lực, kinh phí bảo đảm; thời gian hoàn thành. Kiên quyết khắc phục tình trạng giảng dạy nghị quyết chung chung, dàn trải, kinh viện, xa rời thực tiễn. Trong quá trình giáo dục LLCT và nghị quyết cần coi trọng đổi mới, đa dạng hóa hình thức, phương pháp truyền đạt, quán triệt nghị quyết vừa bảo đảm tính hấp dẫn, tính khoa học, vừa bảo đảm tính thực tiễn; kết hợp tuyên truyền miệng với sử dụng hiệu quả các phương tiện thông tin đại chúng; đội ngũ báo cáo viên phải được lựa chọn kỹ, thực sự là những người có phẩm chất tốt, có kỹ năng và năng lực truyền đạt nghị quyết.

Sau mỗi đợt học tập nghị quyết, cần tiến hành chặt chẽ, nghiêm túc việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, gắn với nhận xét, đánh giá cán bộ, đảng viên; đề cao trách nhiệm chính trị và tính tự giác, gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong học tập và tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng. Cán bộ, đảng viên giữ cương vị càng cao, càng phải gương mẫu học tập, nói và làm theo đúng nghị quyết của Đảng. Liên quan đến vấn đề này, cần nghiêm túc làm tốt công tác đánh giá theo hướng thực chất. Hiện nay, phần việc này còn nặng hình thức, chỉ coi trọng số lượng. Bài kiểm tra, thu hoạch bắt buộc không thể rập khuôn, sao chép và cần công khai kết quả thu hoạch, kiểm tra nhận thức chính trị phải trở thành một trong những tiêu chí quan trọng, làm căn cứ đánh giá chất lượng, phân loại cán bộ, đảng viên.

Đối với đội ngũ giảng viên, báo cáo viên cần không ngừng đổi mới tư duy, phương pháp giảng dạy sao cho giờ học nghị quyết trở nên sinh động, hấp dẫn. "Người huấn luyện của đoàn thể" phải làm kiểu mẫu về mọi mặt: Tư tưởng, đạo đức, lối làm việc… Không chỉ truyền dạy nghị quyết một chiều mà cần phải biết vận dụng tri thức lý luận vào thực tiễn; biết khai thác những tư liệu từ kinh nghiệm thực tiễn của cả người dạy lẫn người học để làm giàu tri thức.

Với mỗi cán bộ, đảng viên cần thấm nhuần sâu sắc lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về mục đích của việc học: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”. Phải thường xuyên học tập, trau dồi phẩm chất chính trị, gắn việc học lý luận với thực tiễn công việc hằng ngày: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”.

Để việc học tập LLCT nói chung, học tập, nghiên cứu nghị quyết của Đảng nói riêng trở thành nhu cầu tự thân, là động lực quan trọng góp phần làm nên thành công của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải ý thức sâu sắc về trách nhiệm, nghĩa vụ của mình trước những đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống. Học tập, nghiên cứu nghị quyết là cách để người cán bộ tự đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo, điều hành, làm chủ hành động của cá nhân; để thay đổi hình ảnh của bản thân theo hướng tích cực, năng động và tiến bộ.

Phòng chống, đấu tranh thói ba phải và thái độ “im lặng đáng sợ”

 

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng chỉ rõ 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

Trong đó có một biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị là: "Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”. Thực tế thấy rằng những thiếu sót, khuyết điểm này đã được gọi đúng tên, cái nọ liên quan đến cái kia, thậm chí là nơi trú ẩn, là chỗ để ngụy biện cho những điều sai trái. Vì vậy, phải đồng thời phân tích, chỉ rõ biểu hiện, nguyên nhân và cách khắc phục nó thế nào cho hiệu quả, để hướng tới xây dựng một bầu không khí trong lành, tin cậy, chân thành, vô tư trong mỗi cơ quan, đơn vị.

Xưa nay có nhiều cách nói về những người dĩ hòa vi quý. Nào là ông ba phải, gió chiều nào che chiều ấy. Nào là ông mũ ni che tai, khôn ăn người. Nặng nề hơn thì cho rằng đó là kẻ “ngậm miệng ăn tiền”. Thời hiện đại, còn có những cụm từ mới xuất hiện: “tai lành tai điếc”, “đi giữa hai hàng”...

Năm 1947, tại Chiến khu Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết cuốn “Sửa đổi lối làm việc”. Bác gọi những kẻ khôn ăn người như thế là “bọn thứ ba”. Đó là những kẻ cơ hội, là khôn mà không ngoan, làm gì cũng nghĩ đến cái lợi riêng mình mà quên đi lợi ích chung, quyền lợi của người khác. Thời nay, "bọn thứ ba" là người ta ám chỉ những người "dĩ hòa vi quý".

Thật ra thành ngữ “dĩ hòa vi quý” khởi thủy của nó là thiện ý tốt. Nôm na rằng, lấy hòa thuận làm vui. Chịu khó nhẫn nhịn một chút, hòa là quý, nhẫn là cao. Đừng vội nổi xung lên, phỉ báng, nhiếc móc nhau, bé xé ra to, mà nên “biến đại sự thành tiểu sự, tiểu sự thành vô sự”. Đúng như cái nghĩa ngọn nguồn này thì quá hay. Thế nhưng, theo thời gian, theo những diễn biến phức tạp trong đời sống hiện đại mà dần dần cái nghĩa của thành ngữ này bị hiểu chệch, hiểu sai, lắm khi chỉ còn được hiểu theo nghĩa đó là tính cách khôn lỏi, chả bao giờ nêu chính kiến, “tránh voi chả xấu mặt nào”, tránh mất lòng người khác, nhất là mất lòng cấp trên.

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng chỉ rõ 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Trong đó có một biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị là: "Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”. Thực tế thấy rằng những thiếu sót, khuyết điểm này đã được gọi đúng tên, cái nọ liên quan đến cái kia, thậm chí là nơi trú ẩn, là chỗ để ngụy biện cho những điều sai trái. Vì vậy, phải đồng thời phân tích, chỉ rõ biểu hiện, nguyên nhân và cách khắc phục nó thế nào cho hiệu quả, để hướng tới xây dựng một bầu không khí trong lành, tin cậy, chân thành, vô tư trong mỗi cơ quan, đơn vị.

"Ngậm miệng" tức là ngược lại với những anh hay phán xét, phách lối, a dua, nói năng văng mạng. Đương nhiên, cả hai thái cực này đều cần phê phán. "Ngậm miệng" mà là “một sự nhịn chín sự lành”, giữ kín chuyện nội bộ, khỏi tổn thương người khác thì hẳn là điều tốt. Cái nguy hại ở chỗ “ngậm miệng ăn tiền”, tức là đã có chủ ý xấu rồi. Ở một cơ quan nọ, mấy người bảo nhau, cái ông X lúc nào mồm cũng như rùa ăn sung, chả có chính kiến gì. Khi anh ta có ý kiến thì toàn dựa ý cấp trên, dựa ý tập thể, mong “làm rõ thêm” và “hy vọng rằng”. Còn khi cần nói rõ, vấn đề này sai chỗ nào, đúng chỗ nào, thái độ của anh, sẽ xử lý ra sao, thì anh ta sẽ “ném cát bụi tre” bằng những câu chữ mập mờ, nước đôi, đại loại như: "Cần tính toán thêm, nên hỏi lại cơ sở, vấn đề này nhạy cảm, có thể lùi đến phiên họp sau được không?". Hoặc có anh nói ráo hoảnh: “Tôi biểu quyết theo đa số”. Thế nhưng lúc giải lao thì vẫn là anh, rỉ tai người này, vỗ vai người khác: “Ông nói đi, ông nói khách quan hơn tôi. Tội cậu này đáng chém”. Hoặc: “Oan cho nó quá! Đồng chí gần nó lâu sao không nói. Sau này nó oán chúng ta”. Cái kiểu bày tỏ, vận động hành lang này đã cũ lắm, nhưng nó sống dai dẳng và biến ảo rất tinh vi. Nhất là từ khi nó được sự "phù phép" của chiếc điện thoại thông minh vốn chả có tội vạ gì.

Vì sao căn bệnh này tồn tại dai dẳng thế? Vì sao mà không ít cán bộ, trong đó có cán bộ cấp cao cũng mắc thói tai lành tai điếc. Thậm chí có vị chủ trì cuộc họp sắp diễn ra cũng “khó” nói sự thật, bèn nghĩ ra cách gọi điện cho cấp dưới: "Mai chú đề xuất nhé. Anh nêu 3 phương án, chú theo phương án này. Việc này là anh vì chú!". Nó khiến cho người trong cuộc trằn trọc, mất ngủ không đáng có. Nó là mảnh đất cho cái “cây” suy diễn nảy mầm, suy bụng ta ra bụng người, chủ quan và phiến diện.

Vì sao dai dẳng thế, còn là do thái độ cầu an. Nói ra lúc này thế nào đây, khen cũng chết, chê cũng chết. Đại hội đến nơi rồi, bầu bán sát gần rồi, mất phiếu có khi chỉ vì “lộ thiên cơ”, thế là đành trốn vào một cái tham luận vô thưởng vô phạt “mạnh bước trên đường phát triển”. Im lặng còn vì một thỏa thuận ngầm nào đó, lợi ích của tôi, của anh, của “nhóm tôi”, “nhóm anh”. Và người ta đã chọn im lặng.

Vì sao dai dẳng thế? Vì cái chủ nghĩa cá nhân trong mỗi con người, cái tôi lớn quá. Có khi là vì quá đam mê quyền lực, quá ham muốn về vật chất nên đánh mất mình. Quyền lực và danh vọng thường làm hư hỏng con người. Vụ Việt Á gần đây nhất, cái vô lương hoành hành trên nỗi đau khổ của đồng loại là một minh chứng rõ nhất. Có người rao giảng về đạo đức nhưng đã “im lặng” cho thuộc cấp, cho những đơn vị liên quan nhân danh khoa học vi phạm pháp luật.

Rất mừng là, bên cạnh những chuyện kể trên, có rất nhiều gương sáng quanh ta. Trong các cơ quan, đơn vị có rất nhiều những tấm gương sáng-tấm gương trung thực, dám nói thẳng, nói thật. Thấy đúng thì bảo vệ để khuyến khích người tốt, việc tốt, lên án những kẻ cơ hội, đố kỵ, thúc đẩy công việc hoàn thành. Thấy sai thì lên tiếng mạnh mẽ để làm rõ đúng sai, vạch trần tham nhũng, tiêu cực. Có những cán bộ quân đội, cựu chiến binh suốt mấy chục năm không chịu im lặng, kiên quyết đấu tranh vạch trần cái xấu, cái ác, mặc dù có thể nguy hiểm tới bản thân, gia đình. Như trường hợp cựu chiến binh Trần Văn Bính (sinh năm 1946), 20 năm kiên trì đấu tranh chống tham nhũng và cuối cùng đã thành công. Ông đã thẳng thắn nêu vấn đề tiêu cực ra trước Đại hội Đảng bộ phường Hoàng Liệt (quận Hoàng Mai, Hà Nội). Bị đe dọa, bị đánh trọng thương ông vẫn không lùi bước. Các cán bộ tiêu cực cũng không mua được sự “im lặng” của ông, dù họ trả “giá” rất cao. Thấy sai mà mình im lặng thì càng sai, ông Bính trả lời đơn giản như vậy.

Một câu hỏi đã có nhiều dịp được trả lời, rằng làm sao đây để chống được căn bệnh “điếc có chủ ý”? Xin thưa, chúng ta vẫn phải tiếp tục trả lời, vì thực tiễn luôn vận động, vì sự diễn biến phức tạp của tình trạng này. Thẳng thắn và trung thực, nói như vậy mà làm thì khó thay! Nhưng nhất định phải làm. Trước hết là phải xây dựng được khối đoàn kết, thật sự dân chủ trong sinh hoạt đảng và các tổ chức chính trị-xã hội. Người đứng đầu đơn vị phải thật sự gương mẫu, đề cao trách nhiệm cá nhân, phải có con mắt tinh đời để nhận ra ai chân, ai giả, ai tạm thời im lặng vì cái chung, ai “ngậm miệng ăn tiền”? Khi anh không nói ra, không hẳn mọi người không biết, vì còn có một nhân chứng nữa, đó chính là lương tâm anh. Và điều không bao giờ cũ: Nghiêm túc tự phê bình và phê bình để nội bộ thật sự đoàn kết, hiểu nhau, tin nhau, hướng đến những giá trị tốt đẹp, nhân văn, vì sự phát triển, vững mạnh của cơ quan, đơn vị; đồng thời cũng vì sự tiến bộ, trưởng thành của mỗi cán bộ, đảng viên.

“XÂY DỰNG CNXH LÀ MỘT SỰ NGHIỆP CỰC KỲ VẺ VANG, NHƯNG PHẢI LÂU DÀI VÀ GIAN KHỔ. NHÂN DÂN TA CẦN PHẢI CÓ TINH THẦN PHẤN ĐẤU BỀN BỈ, QUYẾT TÂM VƯỢT MỌI KHÓ KHĂN, ĐỂ GIÀNH LẤY NHỮNG THẮNG LỢI MỚI RỰC RỠ HƠN NỮA”!

 
Câu nói trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong: “Lời phát biểu tại lễ bế mạc kỳ họp thứ nhất, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khóa III”, ngày 03 tháng 7 năm 1964, đăng trên Báo Nhân dân, số 3748, ngày 04 tháng 7 năm 1964.
Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhận rõ việc xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp cực kỳ vẻ vang nhưng cũng nhiều khó khăn, gian khổ và lâu dài. Do đó, cần sự đồng thuận, phấn đấu kiên trì, bền bỉ với một quyết tâm cao độ mới có thể đưa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta đến thắng lợi hoàn toàn. Đồng thời, phải kiên quyết khắc phục tư tưởng chủ quan, nóng vội, duy ý trí.
Thấu triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tính chất của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, là cơ sở lý luận khoa học, cách mạng để Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước; bổ sung, phát triển Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Hiện nay, trước tình hình diễn biến phức tạp, khó lường, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, vững tin vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng vững chắc để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa và lợi ích của quốc gia dân tộc, thực hiện thành công mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn ý thức rõ trách nhiệm chính trị, trọng trách mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân đã giao phó; tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, luôn là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.
--------
PT-TG.st


“ĐƯỢC LÒNG DÂN THÌ VIỆC GÌ CŨNG LÀM ĐƯỢC, TRÁI Ý DÂN THÌ CHẠY NGƯỢC CHẠY XUÔI”!


Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Sẽ được mấy lâu?”, đăng trên Báo Nhân dân, số 122, từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 7 năm 1953; là giai đoạn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta bước vào tổng phản công, quyết giành thắng lợi cuối cùng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải hành động vì dân, thấu hiểu, chia sẻ, quan tâm đến lợi ích chính đáng của nhân dân. Có như vậy, nhân dân mới tin tưởng và ủng hộ Chính phủ thực hiện thắng lợi mục tiêu của cách mạng.
Thực hiện lời dạy của Bác, Đảng, Nhà nước ta luôn xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng của nhân dân để xác định chủ trương, đường lối, chính sách và pháp luật, không ngừng chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; nhân dân tin tưởng, đi theo Đảng, theo cách mạng làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ và đại thắng mùa Xuân năm 1975, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Ngày nay, tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, khó lường; trong nước các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ nhân dân với Đảng... Đòi hỏi Đảng, Nhà nước ta phải sâu sát quần chúng, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, có chủ trương, đường lối hợp lòng dân, tạo được sự đồng thuận giữa ý Đảng với lòng dân. Có như thế, mới tranh thủ được thời cơ, vượt qua thách thức, tiến hành thành công sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa - hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Quán triệt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội ta luôn thực hiện tốt chức năng đội quân công tác trong tình hình mới, quan tâm chăm lo củng cố mối quan hệ đoàn kết nội bộ và làm tốt công tác dân vận; xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, toàn quân đẩy mạnh phong trào thi đua “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới” với nhiều mô hình mới, cách làm sáng tạo, hiệu quả; tiêu biểu: “Nâng bước em tới trường”, “Tết Biên phòng ấm lòng dân bản”, “Tết quân dân”, “Xuân biên cương, Tết hải đảo”, “Tặng bò giống cho đồng bào nghèo”, “Bệnh xá quân dân y kết hợp”, giúp dân xóa đói, giảm nghèo, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh… góp phần củng cố, giữ vững thế trận lòng dân, được cấp ủy, chính quyền, nhân dân ghi nhận, đánh giá cao. Sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi phải tập trung xây dựng quân đội cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; không ngừng tăng cường, củng cố mối quan hệ đoàn kết quân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
------- 
PT-TG.st

CỦNG CỐ VÀ TĂNG CƯỜNG BẢN CHẤT GIAI CẤP CÔNG NHÂN CHO QUÂN ĐỘI TA!

     Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chăm lo xây dựng và phát triển bản chất giai cấp công nhân cho Quân đội, coi đó là sinh mạng chính trị của quân đội cách mạng.
     Bản chất của QĐ tập trung trước hết ở lý tưởng, mục tiêu chiến đấu của Quân đội là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hệ tư tưởng nhất quán của Quân đội là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nguyên tắc tổ chức, xây dựng theo nguyên tắc xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản.
     Phát huy truyền thống "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng".
     Đó là truyền thống vẻ vang, biểu hiện đặc sắc bản chất giai cấp công nhân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" đã trở thành biểu tượng cao đẹp của con người mới Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, những con người được Nhân dân tin yêu, gắn bó, bạn bè quốc tế ngưỡng mộ, kẻ thù khiếp sợ và kính phục./.


Yêu nước ST.

BÀN THÊM VỀ "DĨ BẤT BIẾN", "ỨNG VẠN BIẾN" TRONG SỰ NGHIỆP CM CỦA ĐẢNG TA!

         Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời đến nay mà đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, đã kiên định với lập trường giữ vững “độc lập, tự chủ”, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Đảng đề ra đường lối chủ động tham gia hội nhập quốc tế, phân biệt rõ ràng đối tượng và đối tác. Phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
     Với chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam cân nhắc phát triển mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế.
     Trong bối cảnh tình hình thế giới luôn luôn có những biến đổi nhanh chóng, khó lường, thực tiễn công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa cũng đặt ra những vấn đề cần phải có quyết sách và xử lý linh hoạt theo phương châm: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Những thành tựu đạt được qua hơn 35 năm đổi mới trên các lĩnh vực theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thể hiện vai trò, khả năng và thước đo đánh giá đường lối đổi mới, giữ vững độc lập, tự chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam là đúng đắn, được nhân dân ghi nhận và các nước, tổ chức quốc tế đánh giá cao./.


Yêu nước ST.

Thủ tướng Anh từ chức

 Một vụ bê bối mới xung quanh Thủ tướng Anh đã nổ ra sau khi ông phải xin lỗi người bảo vệ của mình trong Đảng Bảo thủ, Christopher Pincher.  Mọi người biết rằng Pincher, người đang trong tình trạng say xỉn, đã quấy rối tình dục hai người đàn ông trong câu lạc bộ. 

Mỹ sẽ hợp tác với Việt Nam để chống đánh bắt trái phép

 

Mỹ sẽ hợp tác với Việt Nam để chống đánh bắt trái phép

 Chính phủ Mỹ hôm 27/6 cho biết nước này sẽ tăng cường hợp tác với các đối tác, bao gồm Việt Nam, để giải quyết tình trạng đánh bắt trái phép.

Tổng thống Mỹ Joe Biden hôm 27/6 ký Bản ghi nhớ An ninh Quốc gia (NSM) để giải quyết tình trạng đánh bắt bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) cũng như các hoạt động đánh bắt có hại có liên quan khác, theo thông cáo trên Nhà Trắng.

Theo bản ghi nhớ này, Mỹ sẽ thành lập đoàn công tác gồm 21 cơ quan liên bang và sẽ phát hành chiến lược quốc gia 5 năm về chống đánh bắt IUU vào cuối tháng 7.

Nhà Trắng cho biết nhiệm vụ chính của nhóm công tác là "nhằm chống đánh bắt IUU, hạn chế buôn bán toàn cầu đối với cá và sản phẩm từ cá trong các hoạt động này, đồng thời thúc đẩy an ninh hàng hải toàn cầu, hợp tác với các chính phủ và cơ quan chức năng khác, ngành hải sản, học viện và các bên phi chính phủ liên quan".

Trong đó, Việt Nam cùng Ecuador, Panama, Senegal và Đài Loan (Trung Quốc) là năm đối tác sẽ hợp tác với Mỹ giải quyết những vấn đề trên, theo thông cáo của Nhà Trắng.

Phía Mỹ cũng sẽ hợp tác với Anh và Canada để thành lập Liên minh Hành động Đánh bắt IUU nhằm tăng cường động lực trong cuộc chiến chống đánh bắt IUU.

Trong đó, các bên sẽ cam kết thực hiện các hành động khẩn cấp để cải thiện việc giám sát, kiểm soát nghề cá, tăng cường tính minh bạch trong các đội tàu đánh cá và thị trường thủy sản. Phía Washington cho rằng xây dựng các mối quan hệ đối tác mới sẽ khiến các đối tượng xấu sẽ phải chịu trách nhiệm.

Cục Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia Mỹ (NOAA) hôm 27/6 cũng đề xuất quy tắc để giải quyết vấn đề lao động cưỡng bức và các vấn đề về quyền lao động khác trong ngành thủy sản.

Theo đó, các quy tắc mới ban hành của NOAA sẽ đảm bảo tính nhất quán với Kế hoạch hành động quốc tế của Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc nhằm ngăn chặn, xác định và loại bỏ đánh bắt IUU.

Những hành động mới này được xây dựng dựa trên những thông báo quan trọng mà Nhà Trắng đưa ra vào đầu tháng này nhằm bảo tồn và phục hồi sức sống cũng như năng suất của đại dương. Đồng thời, đây cũng được xem là cam kết của Mỹ trước thềm tham dự Hội nghị Đại dương Liên Hợp Quốc diễn ra tại Bồ Đào Nha.

 

Việt Nam quan tâm kế hoạch chống đánh bắt trái phép của Mỹ

 

Việt Nam quan tâm kế hoạch chống đánh bắt trái phép của Mỹ

Bộ Ngoại giao bày tỏ sự quan tâm trước thông tin Mỹ gần đây tuyên bố sẽ tăng cường hợp tác với các đối tác, trong đó có Việt Nam, để giải quyết tình trạng đánh bắt trái phép.

“Chúng tôi quan tâm đến thông tin này”, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng nói trong buổi họp báo thường kỳ chiều 7/7. “Quan điểm của Việt Nam về vấn đề khai thác thủy sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (khai thác IUU) là nhất quán và đã được nêu rõ nhiều lần”.

Bà Hằng trả lời như trên khi được đề nghị cung cấp thêm thông tin về việc Nhà Trắng hôm 27/6 cho biết sẽ hợp tác với các đối tác, trong đó Việt Nam, để chống lại nạn khai thác IUU.

Cụ thể, Tổng thống Mỹ Joe Biden hôm 27/6 đã ký Bản ghi nhớ An ninh Quốc gia (NSM) để giải quyết tình trạng đánh bắt IUU. Trong đó, Việt Nam, Ecuador, Panama, Senegal và Đài Loan (Trung Quốc) là 5 đối tác sẽ hợp tác với Mỹ giải quyết nạn khai thác IUU, theo thông cáo từ Nhà Trắng.

Cũng trong chiều 7/7, người phát ngôn Bộ Ngoại giao nhấn mạnh Việt Nam chủ trương phát triển bền vững kinh tế biển phù hợp với khả năng cho phép khai thác và tuân theo các quy định về chống khai thác IUU và các công ước, thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia là thành viên.

Bà Hằng cũng chỉ ra rằng trong thời gian qua, Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về thủy sản, có nhiều biện pháp hạn chế khai thác IUU, ngăn chặn tình trạng tàu cá và ngư dân Việt Nam khai thác hải sản trái phép ở vùng biển nước ngoài.

Đồng thời, Việt Nam cũng tham gia vào các cơ chế đa phương về chống đánh bắt IUU như diễn đàn quốc tế và kế hoạch hành động của khu vực.

 

NHẬN DIỆN ĐỂ ĐẤU TRANH VỚI VẤN ĐỀ “ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG”!

         Trong thời gian vừa qua bất chấp thực tế lịch sử mang tính quy luật, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã tìm mọi cách, áp dụng mọi thủ đoạn để tuyên truyền, phát tán các tài liệu phản động đòi “đa nguyên, đa đảng” nhằm thực hiện mưu đồ chính trị đen tối của chúng đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của Việt Nam ta.
     Như chúng ta đã nhận thức: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại cho cách mạng Việt Nam. Đó là thời kỳ kết thúc cuộc khủng hoảng đường lối cứu nước và mở đầu thời kỳ cả dân tộc đi theo ngọn cờ của Đảng. Điều đó chứng tỏ dân tộc ta sớm khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Và trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, với đường lối đúng đắn, dựa trên cơ sở lý luận Mác - Lênin, phù hợp với điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử loài người, Đảng ta đã quy tụ, đoàn kết chung quanh mình tất cả các giai cấp và các tầng lớp nhân dân yêu nước, xây dựng lực lượng cách mạng to lớn và rộng khắp, đấu tranh chống thực dân, phong kiến vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng lãnh đạo sự nghiệp CM toàn diện và đã thu được nhiều thành tựu trên các mặt của đời sống xã hội. Lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đấu tranh với các thế lực phản động trên mọi phương diện. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh trong tình hình mới, trong đó, xác định cần chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị ngăn chặn từ sớm từ xa, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái, đặc biệt, cần chỉ rõ những biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trong đó có biểu hiện “đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”.
     Đặt ra cho mỗi CB,CS trong Quân đội cần nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tích cực đấu tranh loại bỏ âm mưu thủ đoạn của địch./.




Yêu nước ST.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 07 THÁNG 7 NĂM 1958!

“Anh hùng, chiến sĩ thi đua đã là những người tiên phong trong sản xuất, mà cũng là gương mẫu về đạo đức cách mạng. Họ đặt lợi ích chung của dân tộc trên lợi ích riêng của cá nhân”.
         Kết luận nêu trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Lời chào mừng Đại hội anh hùng và chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ II”, đọc ngày 07/7/1958. Đây là thời kỳ miền Bắc bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện kế hoạch 3 năm cải tạo và phát triển kinh tế - văn hóa (1958 - 1960). Nhiệm vụ trọng tâm lúc này là phát triển sản xuất, khôi phục kinh tế và xây dựng chế độ mới trên tất cả các lĩnh vực. 
     Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ghi nhận, biểu dương, khích lệ thành tích của các anh hùng, chiến sĩ thi đua đã đạt được trong những năm đầu đất nước hoà bình, khôi phục kinh tế ở miền Bắc. Lời dạy của Người đã cổ vũ, động viên, kêu gọi mọi người hăng hái phấn đấu học tập và làm theo tấm gương của các anh hùng, chiến sĩ thi đua trong Đại hội. Mặt khác, đã chỉ ra cách thức rèn luyện, phấn đấu cho mỗi cán bộ, đảng viên, phải luôn đặt lợi ích chung của dân tộc, của đất nước lên trên lợi ích riêng của cá nhân, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân, không sợ gian nguy, ra sức vượt mọi khó khăn, gian khổ để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, mẫu mực về đạo đức, lối sống, không tự kiêu, tự mãn, tự tư, tự lợi về lợi ích và hưởng thụ, luôn giúp đỡ mọi người cùng tiến bộ. Đồng thời, Bác chỉ rõ tầm quan trọng của đạo đức cách mạng và vai trò của thi đua yêu nước đối với sự nghiệp xây dựng CNXH - một chế độ xã hội mà con người được đặt ở vị trí trung tâm, được bảo đảm về mọi quyền lợi chính đáng, được phát triển toàn diện bản thân.
     Thực hiện lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ toàn quân đẩy mạnh phong trào thi đua Quyết thắng và các cuộc vận động của các cấp, các ngành, tập trung đột phá, khắc phục khâu yếu, mặt yếu, khơi dậy ý thức tự lực, tự cường, vượt qua khó khăn, thách thức, phát huy truyền thống “quyết chiến, quyết thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam Anh hùng và phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới, biển, đảo của Tổ quốc. Toàn quân xuất hiện ngày càng nhiều tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, gương “người tốt, việc tốt” trên các lĩnh vực công tác, trực tiếp góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tổ chức đảng TSVM; cơ quan, đơn vị VMTD, các tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc; không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và Nhân dân./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU CHỦ NGHĨ XÃ HỘI TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH!

     Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế thừa lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin vận dụng sáng tạo vào thực tiễn CM Việt Nam ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh là lý luận khoa học toàn diện, trong đó có tư tưởng về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
     Trong tư tưởng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, để đấu tranh chống ách áp bức, bóc lột tàn bạo, vô nhân đạo, đấu tranh xóa bỏ nghèo nàn, “giặc dốt” và lạc hậu, nhằm tạo ra một xã hội mới theo mục tiêu, lý tưởng tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội. Đây là vấn đề hiện hữu trên thế giới, có ý nghĩa thời đại cấp bách cần phải giải quyết. Cống hiến lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho cách mạng Việt Nam là tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là sự lựa chọn duy nhất đúng, một đột phá lý luận rất cơ bản về con đường, mục tiêu và phương thức phát triển của cách mạng. Từ cách mạng giải phóng dân tộc phải đi tới cách mạng xã hội chủ nghĩa và trong khi tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa vẫn tiến hành giải phóng dân tộc theo phương thức thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng.
     Theo Người, trong hoàn cảnh một nước thuộc địa thì trước hết phải giành cho kỳ được độc lập dân tộc. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì. Muốn có độc lập, tự do thực sự thì phải xây dựng chủ nghĩa xã hội. Người chỉ rõ: “Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lê-nin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”./.


Môi trường ST.

KHẮC PHỤC BỆNH “NÉ” TRÁCH NHIỆM



Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đã nhận diện và chỉ rõ căn bệnh né tránh trách nhiệm, sợ trách nhiệm là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị. Tuy nhiên, cho đến nay căn bệnh này vẫn chưa được “điều trị” hiệu quả, trong khi đó tác hại do căn bệnh này gây ra là rất lớn, là một trong những trở lực của phát triển, gây lãng phí lớn, thậm chí gây mất niềm tin của nhân dân.
Biểu hiện “né” trách nhiệm trong thời gian qua thể hiện ở chỗ, nhiều việc lẽ ra phải được giải quyết ở cấp dưới, ở cấp cơ sở, nhưng lại bị dồn lên cấp trên. Điều này rõ ràng làm giảm hiệu quả quản lý, điều hành. Chúng ta đều biết, mỗi cán bộ, công chức, viên chức đều có trách nhiệm công vụ được giao. Trách nhiệm công vụ đó đòi hỏi cán bộ, công chức, viên chức phải thực hiện nhiệm vụ được giao đến cùng, không được thoái thác hoặc giao lại cho ai khác; cán bộ, công chức, viên chức phải gắn mình với thực hiện công vụ cho đến khi có kết quả. Vì thế, khi đánh giá cán bộ, công chức, viên chức hàng năm, cụm từ “hoàn thành nhiệm vụ”, “hoàn thành tốt nhiệm vụ” thường được dùng để nói về việc đã thực hiện đúng, đủ, tốt nhiệm vụ theo chức trách được phân công.
Hiện nay, quá trình cải cách thể chế, cải cách hành chính đang được thực hiện quyết liệt nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ của đất nước và mỗi địa phương trong tình hình mới. Vì thế, mỗi cán bộ, công chức, viên chức luôn phải lắng nghe cuộc sống, nắm bắt cuộc sống, trên tinh thần phục vụ nhân dân tốt nhất. Mỗi cán bộ, đảng viên phải mở rộng tầm nhìn, vui khi hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ, nhưng cũng phải biết buồn khi chưa hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, hoặc những việc không giao cho mình, nhưng nhìn thấy chưa được giải quyết tốt. Cần phải khắc phục suy nghĩ “việc mình mình làm”, “mũ ni che tai” làm việc máy móc, cứng nhắc, không cần quan tâm đến hiệu quả và hậu quả của việc mình làm, bởi điều này sẽ dẫn đến sự vô cảm trong giải quyết công việc.
Để khắc phục triệt để căn bệnh “né trách nhiệm” , đùn đẩy trách nhiệm, khuyến khích tinh thần chủ động, tự giác, dám đương đầu với khó khăn, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm thì việc đánh giá cán bộ hàng năm cũng cần được đổi mới, đảm bảo đánh giá khách quan, chính xác mức độ cống hiến của mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Từ đó tiến tới xóa bỏ tư tưởng “an phận thủ thường” vì “làm nhiều sai nhiều, làm ít sai ít, không làm không sai” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức hiện nay. Đánh giá cần phải giúp cho cán bộ, đảng viên vững tâm rằng nếu mình hành động vì cái chung, vì lợi ích chung thì sẽ được nhìn nhận đúng, không để tồn tại việc “làm ít” hoặc “không làm”, có như vậy mới phát huy được tinh thần chủ động, sáng tạo, trách nhiệm, điều trị dứt điểm căn bệnh né tránh trách nhiệm, sợ trách nhiệm.

CHỐNG THAM NHŨNG KHÔNG BỎ DỞ GIỮA CHỪNG



“Người dân mong Đảng làm mạnh hơn nữa, chống tham nhũng phải quyết tâm, không bỏ dở giữa chừng. Kỳ này, Đảng quyết tâm làm đến cùng chứ không bỏ lửng”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định như vậy tại cuộc tiếp xúc cử tri trước thềm Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XV.
Kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XV diễn ra trong bối cảnh các chính sách phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước sau đại dịch COVID-19 đang đi đúng hướng, mang lại những thành tựu quan trọng, tạo niềm tin cho người dân, doanh nghiệp cũng như cộng đồng quốc tế. Phải thấy rằng, trong điều kiện vừa phải nỗ lực khôi phục phát triển kinh tế, thực hiện các chính sách an sinh xã hội, Đảng ta vẫn dành sự quan tâm đặc biệt, chỉ đạo sát sao công tác phòng, chống tham nhũng. Điều đó được khẳng định tại Hội nghị Trung ương lần 5 khóa XIII diễn ra cách đây chưa lâu, Đảng ta một lần nữa đã thể hiện rõ quyết tâm đấu tranh không khoan nhượng với tệ nạn tham nhũng; đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đổi mới công tác cán bộ...
Rõ nét nhất là một số vụ án làm lũng đoạn thị trường chứng khoán, tiền tệ, đất đai (Tân Hoàng Minh, FLC), mua bán trang thiết bị y tế phục vụ chống dịch (Công ty Việt Á)… được phát hiện, ngăn chặn. Không ít cán bộ có chức quyền, giữ cương vị chủ chốt (từ Trung ương tới cơ sở) “nhúng chàm” đã bị đưa ra ánh sáng; tài sản, tiền bạc thu nhập bất chính của một số cá nhân trục lợi bước đầu được kê biên, phong tỏa, thu hồi.
Những động thái và kết quả bước đầu trong cuộc đấu tranh với tệ nạn tham nhũng thời gian qua đã cho thấy không có vùng cấm, cả cán bộ có chức quyền, dù ở cương vị nào, các vụ tham nhũng liên quan đến lợi ích nhóm, tham ô tiền của dân, tài sản nhà nước làm giàu bất chính… đều bị xử lý nghiêm trước pháp luật. Trong số đó, có cả cán bộ giữ vị trí quan trọng trong bộ máy lãnh đạo Đảng, chính quyền, cả Trung ương cũng như địa phương.
Phát biểu trước cử tri, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đặt câu hỏi đồng thời khẳng định: “Vì sao việc xử lý một số vụ án, xử lý kỷ luật một số cán bộ, kể cả cán bộ cao cấp trong thời gian gần đây lại được đông đảo cán bộ, đảng viên, các lão thành, cán bộ hưu trí và nhân dân đồng tình, ủng hộ đến như thế? Nếu không có sự ủng hộ của nhân dân thì khó có thể không thể thành công. Việc làm hợp lòng dân thì dân tin và dân tin thì chế độ ta còn, Đảng ta còn. Nếu làm việc gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả. Trong đấu tranh phòng chống tham nhũng, không phải xử nặng đã là tốt, mà sao để người bị xử nhìn thấy sai lầm khuyết điểm của mình, cũng như phải thu hồi cho bằng được tài sản tham nhũng thì mới được lòng dân”.
Cũng theo Tổng Bí thư, một trong những căn nguyên của tệ tham nhũng chính là công tác cán bộ thời gian qua còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém, nổi cộm là công tác đề bạt, bổ nhiệm không đúng quy trình. Đảng ta luôn nhấn mạnh cán bộ và công tác cán bộ là vấn đề đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, có ý nghĩa quyết định sự thành bại của cách mạng. Tuy nhiên, trong một thời gian dài công tác này bị buông lỏng, dẫn tới thực trạng nhiều cán bộ được bổ nhiệm không đủ phẩm chất, năng lực; thậm chí cả đối tượng chạy chức chạy quyền, bổ nhiệm người nhà, “cánh hẩu” cũng được bổ nhiệm vào những vị trí quan trọng, then chốt trong bộ máy Đảng, chính quyền các cấp… khiến lòng tin của người dân vào đội ngũ cán bộ bị xói mòn.
Phải nhận thức rằng, chống tham nhũng sẽ không tránh khỏi mất cán bộ, nhưng đó là mất cán bộ hư hỏng, thoái hóa biến chất, mà người dân thường gọi là những “con sâu” đang làm “rầu nồi canh”, làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của Đảng, cản trở quá trình phát triển, đổi mới đất nước. Không phủ nhận, mất cán bộ là mất mát lớn, nhưng loại bỏ được những “con sâu” ra khỏi bộ máy chính là củng cố niềm tin của dân với Đảng, cũng là động lực to lớn để phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Cũng còn không ít băn khoăn khi nhiều vụ việc vi phạm pháp luật nghiêm trọng diễn ra cách đây cả gần chục năm, nhưng đến nay mới bị phát hiện xử lý? Còn nữa, việc kê khai tài sản được thực hiện từ nhiều năm nay, nhưng việc kiểm soát kê khai chưa được quan tâm đúng mức, đến khi phát hiện thì tài sản lại quá lớn, người phạm tội quanh co, thiếu trung thực trong việc giải trình về nguồn gốc tài sản, thu nhập? Không khỏi bất bình khi phát hiện một số cán bộ, công chức có dấu hiệu tham nhũng, cơ quan chức năng vào cuộc điều tra thì thấy không ít tài sản bị tẩu tán, hay được giải trình theo kiểu biệt thự do mẹ già sở hữu, hay con là sinh viên vừa ra trường đã có khối tài sản lớn mà người thu nhập chính đáng khó mà có nổi. Bởi vậy, việc thu hồi tài sản tham nhũng, ngăn chặn tình trạng tẩu tán hoặc chuyển dịch tài sản cho người thân đang là vấn đề dư luận quan tâm, đòi hỏi cơ quan có thẩm quyền phải vào cuộc quyết liệt và làm tới cùng.
Bên cạnh đó, vẫn còn đó thực trạng ở Trung ương “lò đã cháy rực”, nhưng ở địa phương thì lại thiếu quyết liệt, thậm chí thờ ơ. Với quyết tâm mới, được dư luận nhân dân đồng lòng, ủng hộ, tại Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII mới đây, Đảng ta xác định cần phải thành lập các Ban chỉ đạo Phòng chống tham nhũng cấp địa phương (cấp tỉnh) đủ mạnh, trở thành “cánh tay nối dài” của Ban chỉ đạo Trung ương, để đưa “lò lửa” phòng chống tham nhũng tới từng địa phương. Kết quả, tất cả 63/63 tỉnh ủy, thành ủy nhất trí với chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng và bước đầu đã có một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Ban chỉ đạo, như Hà Nội, Thái Bình, Thanh Hóa, Khánh Hòa, Sóc Trăng, An Giang …
Chắc chắn rằng, cuộc đấu tranh với tệ nạn tham nhũng sẽ không có điểm dừng, mang lại kết quả toàn diện, đáp ứng được sự kỳ vọng của nhân dân; là cơ sở để xây dựng hệ thống chính trị từ Trung ương tới địa phương thật sự trong sạch, vững mạnh. Đó cũng là nhân tố tạo thêm sức mạnh và khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới, phát triển, hội nhập sâu rộng của đất nước.

MỞ ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN

 

Kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XV diễn ra trong bối cảnh cả nước đã thực hiện rất tốt phương châm thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19.
Dịch bệnh cơ bản bị đẩy lùi đã mở ra một thời kỳ mới cho đất nước, hầu hết các hoạt động kinh tế-xã hội (KTXH) đã và đang quay trở lại với trạng thái bình thường. Do vậy, phần lớn nội dung mà Quốc hội đã thực hiện, những quyết sách mà Quốc hội đã đưa ra đều hướng tới mục tiêu tối quan trọng của thời kỳ này, đó là đẩy mạnh phục hồi và phát triển KTXH sau đại dịch.
Tại kỳ họp vừa qua, Quốc hội đã thông qua 5 luật, 16 nghị quyết chuyên đề và nghị quyết chung của kỳ họp. Trong đó, có những quyết sách rất quan trọng cho chương trình phục hồi và phát triển KTXH, nhất là việc thực hiện Nghị quyết số 43/2022/QH15 ngày 11-1-2022 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển KTXH. Lần đầu tiên trong lịch sử hoạt động, Quốc hội đã xem xét, quyết định chủ trương đầu tư tới 5 dự án quan trọng quốc gia trong một kỳ họp để xây dựng những tuyến đường giao thông trọng điểm, mang tính kết nối chiến lược giữa các vùng kinh tế. Những dự án này khi được triển khai thực hiện sẽ có tác động rất lớn tới sự phát triển KTXH, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Khi cho ý kiến về tình hình KTXH, ngân sách nhà nước, khi chất vấn các thành viên Chính phủ, các đại biểu Quốc hội đã rất thẳng thắn và trách nhiệm, bàn thảo, đóng góp rất sâu sắc về các khía cạnh của việc phục hồi và phát triển KTXH. Có thể thấy rõ, Kỳ họp thứ ba của Quốc hội khóa XV đã mở ra nhiều hướng đi mới cho sự phục hồi và phát triển kinh tế của đất nước giai đoạn tới.
Những quyết sách của Quốc hội tại Kỳ họp thứ ba được ban hành đã đáp ứng những yêu cầu cấp thiết của thực tiễn cuộc sống. Giờ là lúc những quyết sách ấy phải được thực thi, bảo đảm đúng mục tiêu, công khai, minh bạch, hiệu quả và bảo đảm không xảy ra tình trạng trục lợi chính sách, vun vén cho lợi ích nhóm hay thất thoát, lãng phí.
Đại án Việt Á vẫn đang nóng hổi tính thời sự và còn là vết thương gây nhức nhối lâu dài. Gói chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển KTXH nói chung và các dự án giao thông trọng điểm mà Quốc hội vừa quyết định nói riêng đều có giá trị kinh tế to lớn. Những dự án ấy có thể trở thành mục tiêu, kích thích lòng tham của những kẻ có tâm địa xấu, những cán bộ thoái hóa, biến chất. Do đó, nếu không triển khai bài bản, cẩn trọng, chặt chẽ, đúng quy định của pháp luật thì Đảng, Nhà nước và nhân dân không chỉ bị thất thoát, lãng phí nguồn lực mà còn bị mất đi nhiều cán bộ, làm xói mòn niềm tin của nhân dân. Nhưng tuyệt nhiên không thể vì thế mà trì trệ trong việc thực hiện các quyết sách của Quốc hội, làm mất đi thời cơ vàng cho nỗ lực phục hồi và phát triển kinh tế. Cán bộ không thể vì sợ trách nhiệm mà không dám làm, vì như vậy cũng sẽ gây thiệt hại lớn cho đất nước. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nói: "Xây dựng chỉnh đốn Đảng, phòng chống tham nhũng, ai cảm thấy cản trở, nhụt chí thì dẹp sang một bên cho người khác làm". Đồng thời, Đảng, Nhà nước đã xây dựng các cơ chế, chính sách để bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám nói, dám đột phá sáng tạo và dám đương đầu với khó khăn, thử thách. Nếu cán bộ thực sự “dĩ công vi thượng”; luôn làm đúng quy định của pháp luật; không lợi dụng chính sách để trục lợi cá nhân, gây thiệt hại lớn cho đất nước, cho nhân dân thì không có lý do gì để sợ.

Quân đội ta là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động, sản xuất nên bên cạnh việc thực hiện tốt các nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho đất nước, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần hăng hái lao động, sản xuất, cùng cả nước triển khai thực hiện các nhiệm vụ phục hồi và phát triển KTXH một cách nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả nhất. Không chỉ quán triệt nhiệm vụ trong toàn quân, các cơ quan, đơn vị cần làm tốt công tác dân vận, tuyên truyền, vận động, thuyết phục nhân dân tin tưởng, đồng lòng thực hiện hiệu quả các chủ trương, chính sách phục hồi và phát triển KTXH, sớm đưa Việt Nam trở lại với quỹ đạo phát triển nhanh, bền vững, hướng tới thực hiện thắng lợi các mục tiêu Đại hội XIII của Đảng.

CHỐNG LỢI DỤNG PHẢN BIỆN … ĐỂ PHẢN BỘI

 

Phản biện xã hội là kênh quan trọng giúp đường lối, chủ trương, chính sách ban hành được đúng đắn và đi nhanh vào cuộc sống. Thế nhưng, cũng có không ít người đã lợi dụng phản biện để tạo mâu thuẫn, gây rối, thậm chí chuyển thành phản bội đồng chí, đồng đội; phản bội Tổ quốc; phản bội nhân dân.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, việc kiểm soát quyền lực, “nhốt quyền lực trong lồng cơ chế” là hết sức cần thiết. Để giám sát và kiểm soát quyền lực, Đảng ta luôn tạo thuận lợi nhất để “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đảng khuyến khích Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể và người dân giám sát, phản biện xã hội. Pháp luật Việt Nam cũng tạo những cơ sở pháp lý quan trọng để mọi thành viên trong xã hội đều có thể tham gia phản biện xã hội trước những quyết sách quan trọng của quốc gia. Tất cả các đạo luật trước khi được Quốc hội thông qua đều được đưa ra công khai xin ý kiến đóng góp, phản biện của nhân dân.
Thực tế thời gian qua, đa số các ý kiến phản biện của đảng viên và nhân dân đã được Đảng, Nhà nước trân trọng tiếp thu. Tuy nhiên, vẫn còn có những ý kiến phản biện không mang tính chất xây dựng mà là suy diễn, quy chụp, lợi dụng phản biện để xuyên tạc, bôi nhọ đồng chí, đồng đội; nói xấu Đảng, Nhà nước.
Cuộc sinh hoạt chi bộ khu dân cư X mới đây để chuẩn bị cho Đại hội chi bộ nhiệm kỳ 2022-2025 đã biến thành “diễn đàn kể tội cán bộ” sau khi một đảng viên khơi mào “phản biện” và kêu gọi các đảng viên khác phát biểu góp ý. Đảng viên này đưa ra hàng loạt các “nghi vấn” về tiêu cực, tham nhũng của đội ngũ cán bộ phường, quận rồi phê phán kịch liệt chủ trương của phường trong việc lập lại trật tự xây dựng đô thị. Thế nhưng, các “bằng chứng” đưa ra đều là “nghe nói”, “quần chúng phản ánh”… Rất may, ý kiến này được một đảng viên là cựu chiến binh chặn lại, sau khi chất vấn.
Trước đó, trong dịp đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2020-2025, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, tại một số địa phương cũng đã có những “ý kiến phản biện”, “thư góp ý”, “thư phản ánh”, “ý kiến tâm huyết”, “tâm thư”, "bản kiến nghị"... của đảng viên và quần chúng gửi đến các cơ quan chức năng bày tỏ băn khoăn về ứng cử viên này, ứng cử viên nọ. Đáng chú ý, đã có nhiều thư góp ý thông tin không đúng sự thật. Điều đáng tiếc là một số người nhẹ dạ cả tin đã vô tình mắc vào “bẫy” này. Lợi dụng quyền dân chủ trong các cuộc họp, trong việc góp ý với các tổ chức Đảng, các cơ quan quản lý nhà nước, không ít người thổi phồng, xuyên tạc, bịa đặt nhằm bôi nhọ thanh danh, uy tín của đồng chí, đồng đội, lãnh đạo các cấp, các cơ quan, tổ chức Đảng, địa phương, đơn vị, doanh nghiệp; gây hoài nghi, hoang mang trong dư luận, làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào Đảng và chế độ.
Nguy hiểm hơn, một số đối tượng vì tư lợi hẹp hòi, động cơ chính trị lại lợi dụng danh nghĩa phản biện để gieo rắc thù hận và chia rẽ mối đoàn kết trong nội bộ. Đã có không ít vụ việc lấy danh nghĩa phản biện, các cá nhân đã đưa lên báo chí hoặc mạng xã hội nội dung không đúng sự thật, thiếu công tâm, phản biện sai lệch, kéo theo nhiều hậu quả khôn lường cho cá nhân, tập thể, địa phương.
Đặc biệt, gần đây đã xuất hiện tình trạng một số người lợi dụng danh nghĩa phản biện xã hội để châm chọc, đả kích đường lối, chủ trương, chính sách, giải pháp đúng đắn của Đảng, Nhà nước. Có cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất lợi dụng việc phản biện để đưa lên mạng xã hội những thông tin lệch lạc, trái với quan điểm của Đảng, Nhà nước. Từ phản biện chuyển thành phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân là vấn đề đáng báo động.
Để ngăn chặn tình trạng phản biện chuyển hóa thành phản bội, trước hết, các cơ quan, đơn vị cần làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục. Cần công khai, minh bạch các thông tin liên quan đến cơ quan, đơn vị mình, nhất là về những chủ trương, chính sách trong giải quyết các vấn đề bức xúc của nhân dân. Không nên để những thông tin giả, tin đồn thất thiệt lan truyền và hoành hành trong cộng đồng rồi mới tìm cách khắc phục theo kiểu “chạy theo”.
Các cơ quan, đơn vị cần tăng cường công tác quản lý nội bộ, kịp thời đấu tranh và xử lý đối với những cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; kịp thời phát hiện, ngăn chặn những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị đưa ra thông tin tuyên truyền chống phá, xuyên tạc, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng; đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng, giúp người dân tránh trở thành “con rối”, tiếp tay cho kẻ xấu trục lợi, thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ.
Đã đến lúc phải xây dựng cơ sở pháp lý bảo đảm cho việc thực hiện phản biện xã hội một cách đúng đắn. Phản biện xã hội là điều bắt buộc phải thực hiện một cách nghiêm túc, công khai đối với các dự án pháp luật, các chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng của Đảng và Nhà nước. Đảng và Nhà nước ta luôn khuyến khích các diễn đàn phản biện xã hội với ý thức trách nhiệm cao và tinh thần khoa học, để ngày càng đóng góp nhiều hơn, tốt hơn cho sự phát triển của đất nước.

Mang danh phản biện xã hội để đi ngược lại lợi ích của đất nước, của nhân dân là không thể chấp nhận được. Vì vậy, rất cần có chế tài xử lý nghiêm việc lợi dụng phản biện để gây rối xã hội, phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân.

ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM LUÔN TÔN TRỌNG QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO

 

Thời gian qua trên các trang mạng xã hội các đối tượng phản động có những bài viết xuyên tạc, phản ánh không đúng sự thật, đánh giá phiến diện, tiêu cực về tình hình hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam.
Thực tế cho thấy, chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là: Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiên cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam không chấp nhận việc lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước hay kích động bạo lực, chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, tôn giáo, gây rối trật tự, xâm hại tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự và tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân... Chính sách trên luôn được Nhà nước Việt Nam khẳng định và thực hiện nhất quán. Sự ra đời của các tổ chức tôn giáo một mặt phản ánh sự quan tâm của Nhà nước trong thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mặt khác khẳng định Việt Nam không phân biệt đối xử với những người có tín ngưỡng, tôn giáo, không phân biệt hay kỳ thị bất cứ tôn giáo nào, miễn sao hoạt động của các tôn giáo nằm trong khuôn khổ pháp luật.
Sự thật là thế, vậy mà thời gian qua các thế lực thù địch, phản động luôn đưa ra những thông tin sai lệch, cho rằng Việt Nam hạn chế các hoạt động tôn giáo, cho rằng Việt Nam không có tự do tôn giáo... Những đánh giá ấy chẳng những không phản ánh đúng bản chất tình hình mà còn phớt lờ những thành tựu của nước ta trong tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Thực chất đây là âm mưu lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo để chống phá Đảng và Nhà nước ta. Chúng ta có thể khẳng định chắc chắn rằng ở Việt Nam hoàn toàn không có cái gọi là đàn áp hay hạn chế các hoạt động tôn giáo đúng pháp luật. Những luận điệu xuyên tạc, vu cáo chỉ là chiêu trò của các thế lực thù địch nhằm phục vụ âm mưu chống phá Đảng và Nhà nước ta.

NÂNG CAO TỰ PHÊ BÌNH THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

Trên báo Sự Thật số 109, ra ngày 15/4/1949, trong bài “Thuốc đắng giã tật, sự thật mất lòng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra cách làm sao để kẻ địch không thực hiện được các thủ đoạn tuyên truyền chống phá, đó là: “không có gì hơn là tránh các khuyết điểm, sửa chữa khuyết điểm”, còn nếu khi đã vi phạm khuyết điểm, thì dù “mình muốn bưng bít, người ta cũng biết”. Người còn khẳng định: “Một đoàn thể hoặc chính quyền mà che giấu khuyết điểm của cán bộ mình là một đoàn thể hoặc chính quyền “yếu ớt”, “thoái bộ”. Đoàn thể và chính quyền có can đảm vạch rõ khuyết điểm của cán bộ mình, có phương pháp sửa chữa cho cán bộ thì “uy tín chẳng những không giảm bớt” mà lại thêm cao. Cán bộ nào không dám công khai thừa nhận khuyết điểm của mình, không có can đảm sửa chữa khuyết điểm thì không xứng đáng là cán bộ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh: “Việc phê bình phải từ trên xuống và từ dưới lên. Cấp trên phê bình, chưa đủ. Đồng chí, đồng sự phê bình, chưa đủ. Phải hoan nghênh quần chúng phê bình nữa, thì sự phê bình mới hoàn toàn”.
Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong các giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng công tác tự chỉnh đốn, kiên quyết sửa chữa khuyết điểm, đề cao tự phê bình và phê bình, xác định đây là nguyên tắc quan trọng trong công tác xây dựng Đảng để khắc phục những khuyết điểm đã được chỉ ra sau kiểm điểm tự phê bình và phê bình. Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, vi phạm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng; biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng.
Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII đã xác định triển khai quyết liệt việc tự phê bình và phê bình, kiên quyết đấu tranh với tham nhũng, lãng phí, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tiếp tục củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước. Các cấp ủy đảng cần lãnh đạo thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình, coi đây là cách tốt nhất để tăng cường, củng cố sự đoàn kết và thống nhất trong Đảng. Tự phê bình và phê bình phải được thực hiện nghiêm túc, triệt để, không nể nang, không “dĩ hòa vi quý”, có lý có tình trên cơ sở công vệc.

Tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc tự phê bình, phê bình là tự phê bình mình trước, phê bình người khác sau; cấp trên tự giác, gương mẫu tự phê bình trước để cấp dưới noi theo; phê bình từ trên xuống, từ trong cấp ủy, tổ chức đảng ra ngoài quần chúng, ai cũng thực hiện tự phê bình và phê bình, coi đây là việc làm thường xuyên.

Thứ Tư, 6 tháng 7, 2022

 TỰ HÀO, BIẾT ƠN, TƯỞNG NHỚ CÁC THƯƠNG BINH, ANH HÙNG LIỆT SĨ ĐÃ HY SINH VÌ NƯỚC, VÌ DÂN


Chúng ta tự hào đất nước ta có bề dày lịch sử hào hùng với nền văn hóa mấy nghìn năm, với lòng yêu nước luôn cao vời vợi, với khát vọng, ý chí độc lập, các thương binh, anh hùng liệt sĩ đã hy sinh cho nền văn hiến trường tồn ấy.

Chúng ta có quyền tự hào: là nước nhỏ nhưng bản lĩnh và năng lực giữ nước của dân tộc ta chưa bao giờ vơi cạn. Chúng ta đã vượt qua hơn 1.000 năm xâm lược và luôn đánh bại mọi cuộc xâm lăng của Trung Quốc; đánh bại hai đế chế thực dân, đế quốc rất to là Pháp, Mỹ sau gần 150 năm bị đô hộ, xâm lược. Và trong chiều dài lịch sử ấy còn đánh bại rất nhiều thế lực phản động lân bang xâm lược khác. Lớp lớp thế hệ đã ngã xuống, hàng triệu anh hùng liệt sĩ đã hy sinh cho Đất nước đứng lên và vững chãi bước đi cùng thời đại. Họ đã chết cho Tổ quốc được sống, cho chúng ta được sống!

Chúng ta có quyền tự hào rằng: Sau mỗi cuộc chiến tranh giữ nước, chống xâm lược thì con cháu của những người đã ngã xuống không nhút nhát trốn chạy khó khăn, không ngoảnh lưng với dân tộc, không bỏ mặc thời cuộc, bỏ nước ra đi để giữ lấy an thân, mà biết tiếp nối truyền thống cha ông, kiên cường giữ nước, toàn tâm toàn ý chung tay xây dựng non song nước Việt ngày càng to đẹp hơn. 

Chúng ta luôn tự hào, biết ơn, tưởng nhớ công lao và đức hy sinh của các anh hùng liệt sĩ. Luôn khắc cốt ghi tâm rằng: khi đất nước có chiến tranh, cha anh đã không tiếc máu xương, cống hiến trọn vẹn trí tuệ, tinh thần cho Tổ quốc. Máu, tính mạng của cha anh đã hòa vào đất, trở thành hồn thiêng sông núi, vẫn ngày đêm trấn giữ cho đất nước bình yên.

Tổ quốc ta đời đời ghi nhớ chiến công. Nhân dân ta mãi mãi tri ân Liệt sĩ! Lịch sử nước nhà muôn thuở lưu danh!