Thứ Sáu, 8 tháng 7, 2022

Tạp chí Lý luận chính trị với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

 Trong những năm qua, đặc biệt là từ khi Bộ Chính trị khóa XII ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, Tạp chí Lý luận chính trị đã đăng tải nhiều bài viết về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, được bạn đọc đặc biệt quan tâm, đánh giá cao. Bài viết làm rõ những đóng góp của Tạp chí với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.


Tạp chí Lý luận chính trị với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Tạp chí Lý luận chính trị - Ảnh minh họa: LLCT

Tạp chí Lý luận chính trị là cơ quan nghiên cứu, ngôn luận khoa học của Học viện, thực hiện tôn chỉ, mục đích: Tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thông tin, phản ánh các thành tựu nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn. Đấu tranh, phê phán các quan điểm, tư tưởng sai trái với đường lối của Đảng.

Trong những năm qua, cùng với báo chí cả nước, Tạp chí Lý luận chính trị luôn bám sát đời sống chính trị của đất nước và định hướng công tác tư tưởng, lý luận của Đảng, nhiệm vụ chính trị của Học viện, đã có những đóng góp quan trọng vào việc nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; cung cấp những luận cứ khoa học cho việc xây dựng, hoàn thiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, tham gia có hiệu quả vào công tác tư tưởng - lý luận của Đảng, góp phần đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đặc biệt, từ khi Bộ Chính trị khóa XII ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 về “tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, Tạp chí Lý luận chính trị xác định đây là một nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, cấp thiết.

1.Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, của Đảng ủy, Ban Giám đốc, Ban Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết số 35 (Ban Chỉ đạo 35) của Học viện, tập thể lãnh đạo Tạp chí đã sớm xác định yêu cầu nhiệm vụ, xây dựng định hướng chủ đề bài viết, tuyên truyền, lan tỏa sự chỉ đạo Ban Chỉ đạo 35 Học viện, tổ chức đặt bài về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đăng trên các chuyên mục Nghiên cứu - Phát triển lý luậnĐào tạo - Bồi dưỡng cán bộDiễn đàn.

Từ tháng 12-2020, Tạp chí chính thức mở chuyên mục “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng” và duy trì ổn định chuyên mục đến nay. Trung bình mỗi số đăng tải 2-3 bài. Bên cạnh đó, tiếp đăng các bài liên quan chủ đề này trong các chuyên mục thường kỳ khác. Chuyên mục “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”, qua gần hai năm đã trở thành chuyên mục chính yếu, là một nét mới tạo nên diện mạo mới, sắc thái mới của Tạp chí.

Ở mỗi số phát hành hàng tháng, Tạp chí Lý luận chính trị có lượng bài dồi dào, phong phú (mỗi số có khoảng 3-5 bài có nội dung liên quan trực tiếp) về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Chỉ tính riêng từ thời điểm Bộ Chính trị khóa XII ban hành Nghị quyết 35 đến nay, Tạp chí đã đăng tải gần 100 bài viết về chủ đề này. Đáng chú ý, ngày càng có nhiều bài viết có nội dung đấu tranh trực diện với những quan điểm sai trái, xuyên tạc, được bạn đọc đặc biệt quan tâm, đánh giá cao.

Các bài viết đăng tải trên Tạp chí về chủ đề bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch tập trung trên một số vấn đề sau:

Một là, nhận diện và đấu tranh phản bác với những quan điểm xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin

Tiêu biểu có các bài: Bảo vệ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước trước những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận, của PGS, TS Trương Hồ Hải, số 1-2020; Phải chăng chủ nghĩa Mác - Lênin lỗi thời, không phù hợp với Việt Nam của PGS, TS Vũ Văn Phúc, số 2-2020; Cần phản bác những quan điểm xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin về đấu tranh giai cấp của TS Lê Thị Chiên số 3-2020; Không thể xuyên tạc những giá trị cốt lõi trong Học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác của PGS, TS Nguyễn Minh Quang, số 5-2020; Phê phán việc đối lập V.I.Lênin với C.Mác trong quan điểm về điều kiện kinh tế của cách mạng vô sản của PGS, TS Đoàn Xuân Thủy, số 7-2020; Nhận diện và đấu tranh với những quan điểm phủ nhận tính khoa học và cách mạng của triết học Mác - Lênin của PGS, TS Đặng Quang Định, số 11-2021; Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của PGS, TS Hồ Trọng Hoài, số 12-2021; Phản bác các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin từ sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu của TS Lê Thị Chiên, số 12-2021...

Các bài viết đã nhận diện, đấu tranh phản bác lại các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về chủ nghĩa Mác - Lênin và khẳng định: Đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ là vạch trần, phê phán những thông tin thù địch, sai lệch mà quan trọng phải khẳng định tính đúng đắn, giá trị bền vững và ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin, hình thành luồng dư luận đúng đắn cho đông đảo bạn đọc...

Đồng thời khẳng định, chủ nghĩa Mác - Lênin mang bản chất khoa học và cách mạng, hơn nữa, lại luôn được bổ sung, phát triển bởi những người mác xít chân chính. Chủ nghĩa Mác - Lênin không lỗi thời mà chính những người cố tình phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin mới là những người nhầm lẫn, cố tình không nhìn thấy bản chất khoa học và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin. Họ cố tình xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, muốn xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin để bảo vệ cho chủ nghĩa tư bản và quyền lợi của một nhóm người tư bản.

Các bài viết khẳng định: cho dù mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu đã sụp đổ; chủ nghĩa đế quốc cùng những lực lượng thù địch dùng nhiều thủ đoạn nhằm chống phá, bôi nhọ, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, nhưng chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết tiên tiến của loài người, mang bản chất cách mạng và khoa học, nó không phải là giáo điều mà là kim chỉ nam cho hành động, nó không phải nhất thành bất biến, vẫn tồn tại, phát triển, vẫn là thế giới quan và phương pháp luận khoa học của giai cấp vô sản và nhân loại tiến bộ. Nhiệm vụ của những người cộng sản là phải vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp với thời đại, điều kiện lịch sử mỗi nước, mỗi giai đoạn.

Nhiều bài viết đã phân tích, làm rõ những lập luận thiếu khoa học, vô căn cứ của các thế lực thù địch. Những ý kiến phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin; những ý kiến không nhận thức đúng bản chất, nội dung của chủ nghĩa Mác - Lênin; thậm chí, có ý kiến quy chủ nghĩa Mác - Lênin về đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản là bạo lực trấn áp; hoặc đối lập chủ nghĩa Mác - Lênin với lợi ích của dân tộc, hoặc đối lập với tư tưởng Hồ Chí Minh… hòng phủ nhận, bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin.

Hai là, nhận diện và đấu tranh phản bác sự xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh; đối lập chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh

Tiêu biểu có các bài: Thực chất của luận điệu Chủ nghĩa Mác - Lênin đối lập với nội dung đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh”, số 10- 2015; Tư tưởng Hồ Chí Minh - Dòng chảy tiếp nối chủ nghĩa Mác -Lênin - Điều không thể xuyên tạc của GS, TS Mạch Quang Thắng, số 7-2020; Nhận diện và đấu tranh phản bác sự xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh của PGS, TS Trần Thị Minh Tuyết, số 3-2021;Công lao to lớn, sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh là không thế lực nào có thể phủ nhận của Nguyễn Văn Đạo, số 4-2022....

Các bài viết góp phần nhận diện động cơ, mục đích và những âm mưu, thủ đoạn thâm độc nhằm chống phá tư tưởng Hồ Chí Minh, hòng làm lung lay nền tảng tư tưởng của Đảng và chế hộ, đi đến lật đổ chế độ, phế bỏ quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là những quan điểm sai trái của những cá nhân thù địch.Thâm độc là, chúng “tôn vinh” tư tưởng Hồ Chí Minh bằng cách so sánh, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin và cho rằng, chủ nghĩa Mác Lênin đã lỗi thời, hiện chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là có giá trị; cắt xén những câu nói, câu viết của Hồ Chí Minh và tách câu nói đó ra khỏi văn cảnh để làm sai lệch tư tưởng của Người; bịa đặt về thân thế, sự nghiệp, đời tư của Người. Một thủ đoạn nữa mà chúng hay dùng là đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với đường lối của Đảng, lấy tấm gương đạo đức, cuộc đời, sự nghiệp của Hồ Chí Minh để thóa mạ Đảng.

Các bài viết chỉ rõ, để phản bác những luận điệu xuyên tạc này, cần thực hiện tốt các giải pháp: nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân về tầm quan trọng và trách nhiệm cá nhân trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đề cao ý thức cảnh giác; đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người, tuyên truyền về giá trị, tầm vóc, sức sống của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Các bài viết cũng vạchtrần mánh khóe đề cao, tôn sùng sự đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh để đối lập chủ nghĩa Mác - Lênin, CNXHKH với tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm dễ bề lôi cuốn, thuyết phục những ai ngây thơ về chính trị hoặc cơ hội, bất mãn với chế độ; phủ nhận trực tiếp chủ nghĩa Mác - Lênin và phủ nhận gián tiếp cả tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thực chất đó là thủ đoạn xuyên tạc, bóp méo nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh để phủ nhận gián tiếp cả tư tưởng Hồ Chí Minh.

Từ việc phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, CNXHKH và gián tiếp phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh với ý đồ sâu xa là gây hoang mang, nghi ngờ, dao động đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân về định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay, làm lu mờ vai trò, uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ.

Ba là, về phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các biểu hiện “tự diễn biến”, “Tự chuyển hóa”  trong cán bộ, đảng viên

Các bài viết về chủ đề này trên Tạp chí đã phản ánh và đấu tranh kịp thời những hành vi, biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, đặc biệt là đấu tranh với các hành vi quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cửa quyền và các vấn đề gây bức xúc trong nhân dân.

Từ việc quán triệt sâu sắc và cụ thể hóa tư tưởng chỉ đạo là kết hợp giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, Tạp chí đã đăng tải các bài đấu tranh trực tiếp, khẳng định các luận điểm cụ thể với đầy đủ luận cứ, luận chứng, thể hiện tinh thần không khoan nhượng trước cái xấu và sự suy thoái.

Tiêu biểu là các bài: Nguyễn Hùng Hậu: “Hồ Chí Minh với vấn đề chống giặc nội xâm - suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên” (11-2016); Võ Châu Thảo: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh chống các nguy cơ đối với Đảng Cộng sản cầm quyền và ý nghĩa hiện nay” (6-2020); Lý Việt Quang: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống những biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên” (6-2020); Nguyễn Ngọc Ánh: “Đại hội XIII của Đảng vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên” (6-2021) v.v..

Bốn lànhận diện, đấu tranh phản bác các quan điểm xuyên tạc về tình hình nhân quyền ở Việt Nam

Tiêu biểu có các bài: Bản chất của “nhân quyền” trong “diễn biến hòa bình” của GS, TS Trần Hữu Tiến, số 5-2021; Phê phán quan điểm “Nhân quyền cao hơn chủ quyền” dưới góc nhìn triết học của TS Phạm Thị Mai, số 5-2021; Phản bác các thông tin sai lệch, xuyên tạc về Việt Nam trong “Phúc trình toàn cầu năm 2021” của Tổ chức Theo dõi nhân quyền của PGS, TS Tường Duy Kiên, số 7-2021; Việt Nam thực hiện pháp luật quốc tế về quyền chính trị của công dân của Âu Thị Tâm Minh, số 7-2021; Đối thoại, đấu tranh trên lĩnh vực quyền con người của PGS, TS Nguyễn Thanh Tuấn, số 8-2021; Phê phán luận điệu xuyên tạc nhân quyền ở Việt Nam là hết sức tồi tệ” của PGS, TS Tường Duy Kiên, số 4-2022…

Các bài viết đã vạch trần các thủ đoạn tấn công phá hoại sự nghiệp cách mạng Việt Nam, thông tin sai lệch, thổi phồng, bóp méo vấn đề “dân chủ, nhân quyền” ở nước ta.

Chúng vu cáo Nhà nước ta đã vi phạm quyền con người trong Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự, Chính trị mà Việt Nam đã ký kết, hòng gây sự hoài nghi, xói mói lòng tin, từ từ làm suy yếu chế độ tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội, thay thế vào đó là hệ tư tưởng tư sản. Do vậy, cần đề cao cảnh giác, kịp thời đưa ra những phương pháp thích hợp để vô hiệu hoá những hoạt động này.

Các bài viết đã phân tích, nhận diện và phản bác các luận điệu xuyên tạc, vu cáo của các thế lực phản động, thù địch về nhân quyền ở Việt Nam. Từ những thành tựu trong bảo đảm quyền con người trong hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế, các bài viết đã khẳng định, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người là quan điểm nhất quán, xuyên suốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam

Năm là, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam

Tiêu biểu là các bài viết: Phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là sai lầm của Phạm Văn Giang, số 12 -2019; Phê phán một số quan điểm sai trái,  thù địch về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam của Nguyễn Thị Thu Huyền, số 12-2020...

Bằng thực tiễn những năm tháng Hồ Chí Minh bôn ba tìm đường cứu nước, đến với CNXH khoa học và tìm ra con đường phát triển cho dân tộc Việt Nam; từ thực tiễn lịch sử hơn 90 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, các bài viết đã góp phần làm rõ tính đúng đắn của con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, khẳng định đi lên CNXH là sự lựa chọn đúng đắn và nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng ta và nhân dân ta; trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong đường lối của Đảng, là quy luật của cách mạng Việt Nam. Nhờ đó, cách mạng Việt Nam đã giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đặc biệt là những thành tựu có ý nghĩa lịch sử của 35 năm đổi mới đất nước đây là những minh chứng hùng hồn để bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Sáu là, đấu tranh phản bác quan điểm “quân đội phải trung lập, đứng ngoài chính trị”; “quân đội phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức nào”; xuyên tạc chính sách quốc phòng của Đảng, Nhà nước ta

Tiêu biểu là các bài: Tư tưởng của Ph.Ăngghen về “quyền lực công cộng” - Cơ sở lý luận để chống lại âm mưu phi chính trị hóa lực lượng vũ trang của các thế lực thù địch của PGS, TS Trần Sỹ Phán, số 6-2020; Phản bác quan điểm sai trái, xuyên tạc chính sách quốc phòng của Đảng, Nhà nước ta của PGS, TS Phan Trọng Hào, số 2-2022...

Xét cả trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn, quan điểm trên là vô chính trị, phản khoa học, lừa bịp nhằm vô hiệu hóa quân đội cách mạng, làm lạc hướng quân đội, phục vụ các thế lực thù địch chống CNXH. Thực tiễn tổ chức và hoạt động của quân đội trong lịch sử nhân loại đã khẳng định: Không có quân đội trung lập, đứng ngoài chính trị!

Các thế lực thù địch cho rằng: "Chỉ có liên minh quân sự với một cường quốc thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền, bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc"; "Đảng, Nhà nước ta vẫn kiên định chính sách "bốn không" là sẽ không có bạn chí cốt nên dễ bị cô lập trước những tình huống nguy hiểm"; "Không liên minh với nước nào nhằm chống nước thứ ba là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi"...Từ đó họ nêu những "đề xuất", "kiến nghị" đòi thay đổi chính sách quốc phòng của Việt Nam.

Các tác giả đã phân tích làm rõ những luận cứ khoa học và thực tiễn để phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc đó, đồng thời khẳng định tính đúng đắn trong chính sách quốc phòng "bốn không" của Đảng, Nhà nước ta. Đó là, chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc là thiêng liêng và tối cao không thể phó thác hoàn toàn cho bên ngoài, dù đó là một đồng minh cường quốc; muốn bảo vệ vững chắc chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc thì phải nêu cao tính độc lập, tự chủ, không thể ảo tưởng trông chờ vào liên minh; không phải vì sức mạnh quốc phòng của ta "quá yếu" và "lạc hậu" nên phải liên minh quân sự với nước ngoài; thành công của Việt Nam trong giữ vững chủ quyền, độc lập, bảo vệ lợi ích của quốc gia - dân tộc những năm qua chính là thành công của xây dựng nền quốc phòng, an ninh độc lập, tự chủ, tự cường và thực hiện thắng lợi "đa dạng hóa, đa phương hóa" quan hệ đối ngoại.

Bên cạnh đó còn có rất nhiều bài viết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc, chia rẽ mối quan hệ Việt Nam - Campuchia; xuyên tạc sự thật lịch sử của Cách mạng tháng Tám năm 1945; phê phán những quan điểm sai trái về tự do tôn giáo ở Việt Nam; về bầu cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân; về phòng, chống tham nhũng; xuyên tạc, chống phá công cuộc phòng, chống Covid-19 ở Việt Nam; xuyên tạc tự do báo chí ở Việt Nam...

Bảy là, làm rõ về nội dung, phương thức, hình thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; làm rõ thực trạng và giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Tiêu biểu là các bài: Về một số nội dung, phương thức, hình thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch của PGS, TS Nguyễn Duy Bắc, số 3-2020; Phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội hiện nay của PGS, TS Phạm Huy Kỳ, số 9-2020; Một số giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội của PGS, TS Trần Thị Anh Đào, số 10 -2020; Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên mạng xã hội - Thực trạng và giải pháp...

Trước yêu cầu phải bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội hiện nay, các bài viết đã tập trung làm rõ những phương thức bảo vệ và đấu tranh ngăn chặn hiệu quả. Đó là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, chính quyền từ Trung ương đến cơ sở; sự phối hợp của các tổ chức, cơ quan chức năng; tổ chức lực lượng hợp lý, chất lượng để trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và đấu tranh.

Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội phải được thực hiện bằng nhiều hình thức đa dạng, thiết thực, hiệu quả. Tích cực và chủ động sử dụng không gian mạng trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng và đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái, thù địch.

Tổ chức lực lượng tham gia đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, phản bác các quan điểm sai trái trên mạng xã hội có hiệu quả. Trong đó, trước hết là lực lượng chuyên trách để chủ động nghiên cứu, xây dựng nội dung, lựa chọn phương thức phù hợp với từng loại thông tin sai trái, thù địch trên mạng xã hội.

Tăng cường quản lý, kiểm soát đối với các trang mạng xã hội và chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật, ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng “độc hại” một cách có hiệu quả, đúng pháp luật.

Tăng cường tuyên truyền, giáo dục ý thức trách nhiệm của công dân trong việc sử dụng mạng xã hội, nâng cao khả năng “miễn nhiễm” các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội của người sử dụng.

Đổi mới hình thức đấu tranh, đồng thời đa dạng hóa phương pháp đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội.

Từ đó, các tác giả đề xuất các giải pháp là: xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách đối với chủ thể lãnh đạo, quản lý và người sử dụng mạng xã hội; xây dựng, đổi mới nội dung, phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội; đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nòng cốt bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội; sử dụng sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, các tổ chức xã hội trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội; hoàn thiện pháp luật về sử dụng internet và mạng xã hội, tăng cường ứng dụng khoa học - kỹ thuật và công nghệ trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch...

Tám là, các bài viết về giảng dạy lý luận chính trị với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; tích hợp vào chương trình đào tạo cao cấp lý luận chính trịnội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Tiêu biểu là các bài: Nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng của TS Nguyễn Đình Quỳnh, số 9-2020; Giảng dạy lý luận chính trị với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch của TS Bùi Thị Kim Hậu, số 10 - 2021; Tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong đào tạo cao cấp lý luận chính trị của PGS, TS Lê Văn Lợi, số 1-2022; Giảng dạy chính trị học trong chương trình cao cấp lý luận chính trị với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng của PGS, TS Lê Minh Quân, số 1-2022; Giảng dạy Lịch sử Đảng với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng của PGS, TS Trịnh Thị Hồng Hạnh, số 4-2022...

Các bài viết khẳng định, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung quan trọng trong giảng dạy lý luận chính trị, đòi hỏi giảng viên cần nhận thức rõ vị trí, vai trò và trách nhiệm từ đó xác định được phương pháp, cách thức có hiệu quả.

Trên cơ sở làm rõ sự cần thiết, thực trạng tích hợp, các tác giả đã đề xuất giải pháp tăng cường có hiệu quả việc tích hợp này trong bối cảnh hiện nay. Đó là, bám sát nội dung, chương trình đào tạo để tích hợp những nội dung liên quan trực tiếp đến vấn đề bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; bảo đảm tính đồng bộ, hệ thống, nhất quán trong việc tích hợp; đội ngũ giảng viên cần chủ động, tích cực áp dụng các biện pháp giảng dạy hiện đại trong việc thiết kế giáo án, bài giảng, tích hợp bằng các thông tin có nội dung cập nhật, hình ảnh minh họa sinh động để thu hút sự chú ý của học viên; tăng cường phối hợp giữa các đơn vị trong việc tổ chức triển khai tích hợp trong đào tạo cao cấp cấp lý luận chính trị; tăng cường các hoạt động kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả việc tích hợp nội dung đối với các đơn vị giảng dạy và giảng viên; phát huy vai trò chủ động, tích cực và trách nhiệm của, giảng viên khi tham gia giảng dạy các lớp cao cấp lý luận chính trị.

Tích hợp vào chương trình đào tạo lý luận chính trị là một nhiệm vụ rất quan trọng trong việc thực hiện Nghị quyết số 35, góp phần bồi dưỡng thế giới quan khoa học, nâng cao bản lĩnh cách mạng của học viên các lớp cao cấp lý luận chính trị.

Có thể nói, Tạp chí Lý luận chính trị đã phát huy được vai trò tiên phong trong việc thực hiện sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo 35 Học viện về việc đẩy mạnh tuyên truyền, lan tỏa công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Nhờ đó, uy tín, vị thế của Tạp chí cũng ngày càng được nâng cao hơn.

Cùng với Tạp chí in thường kỳ, trên các số Chuyên đề, trên Tạp chí điện tử cũng có nhiều bài đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng của các cây bút trẻ tiềm năng.

Trên Tạp chí điện tử, bên cạnh việc đăng lại các bài đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái trên tạp chí in đã biên tập, đăng tải hàng chục bài mới về chủ đề này. Những bài viết đấu tranh trên tạp chí điện tử luôn được nhiều bạn đọc quan tâm theo dõi. Có nhiều bài đã có hàng nghìn người đọc chỉ trong thời gian ngắn đăng tải.

Không chỉ sản xuất các sản phẩm báo chí, trong thời gian qua Tạp chí luôn quan tâm lồng nghép nội dung phổ biến kỹ năng, định hướng chủ đề về đấu tranh bảo vệ nên tảng tư tưởng của Đảng trong chương trình các lớp bồi dưỡng cán bộ hệ thống tạp chí của Học viện. Lớp tập huấn năm 2020, có chuyên đề bồi dưỡng kỹ năng viên tập, xuất bản, viết bài chính luận, phản bác các quan điểm sai trái.

Trong cuộc thi viết chính luận lần thứ nhất năm 2021, đã có 15/16 cán bộ tham gia dự thi.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc xây dựng và đăng tải các tuyến bài về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở Tạp chí Lý luận chính trị còn có một số hạn chế, bất cập nhất định. Hiện nay, mặc dù Tạp chí Lý luận chính trị đã có bản điện tử nhưng nhìn chung mới chỉ chủ yếu đăng tải lại các bài trên Tạp chí in, số lượng bài mới còn khiêm tốn.

Công nghệ, giao diện tạp chí điện tử chưa được đầu tư đổi mới, chưa ứng dụng các công nghệ mới nên khả năng lan tỏa chưa cao, chưa trở thành một kênh truyền thông điện tử có độ tương tác lớn, tương xứng với vị thế Tạp chí của Học viện.

Tạp chí cũng chưa đa dạng hóa được các hình thức tuyên truyền, chủ yếu mới đăng tải các bài viết dài, chưa có các bài chắt lọc những nội dung cốt lõi, chưa có những tin bài bám sát các sự kiện chính trị - xã hội nổi bật trong nước và quốc tế nên việc tuyên truyền, lan tỏa trên không gian mạng còn hạn chế…

2. Để có nguồn bài chất lượng tốt, duy trì thường xuyên chuyên mục và các tuyến bài về chủ đề này, Tạp chí Lý luận chính trị đã thực hiện đồng thời nhiều biện pháp thiết thực

Một là, luôn thực hiện nghiêm tôn chỉ mục đích, định hướng tư tưởng của Đảng; bám sát sự chỉ đạo của Đảng ủy, Giám đốc Học viện về công tác này

Bám sát sự chỉ đạo, định hướng của Ban Chỉ đạo 35 Học viện để xây dựng các tuyến bài có chất lượng, gắn trực tiếp với thực tiễn công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phải bác các quan điểm sai trái, thù địch ở từng giai đoạn nhất định. Thực tiễn luôn vận động, biến đổi không ngừng, đặt ra yêu cầu, đòi hỏi công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cũng phải thường xuyên có cập nhật, điều chỉnh cho phù hợp.

Về nội dung, bám sát hệ thống các chủ đề của Ban Chỉ đạo 35 Học viện để đặt bài, bao gồm nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch, những nhận thức lệch lạc trong lập trường tư tưởng chính trị; những vấn đề nóng bỏng mà các thế lực thù địch đang tập trung chống phá; chủ động đặt bài các nhà nghiên cứu nhằm có được lượng bài phong phú, có chất lượng.

Hai là, phát huy trí tuệ của Hội đồng biên tập, Hội đồng khoa học Tạp chí, quán triệt yêu cầu nhiệm vụ chính trị đặc biệt này trong Ban biên tập, tòa soạn, không ngừng quan tâm xây dựng đội ngũ công tác viên, mời các nhà khoa học có trình độ lý luận cao, giàu kinh nghiệm, kỹ năng viết bài chính luận tham gia viết bài đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái.  

Ngoài các bài tiếp nhận từ đội ngũ cộng tác viên gửi tới, Tạp chí tăng cường việc đặt bài các chuyên gia, những người có kinh nghiệm thực tiễn để có số lượng bài ổn định, theo đúng kế hoạch của Tạp chí.

Ban Biên tập phân công cán bộ biên tập, bám sát đôn đốc các nhà khoa học để bảo đảm tiến độ.

Ba là, phối hợp chặt chẽ giữa Tạp chí và Ban Chỉ đạo 35 Học viện, tạp chí phối hợp chặt chẽ với Văn phòng Ban Chỉ đạo để tham mưu cho Thường trực Ban Chỉ đạo 35 Học viện danh mục đặt hàng các nhà khoa học viết bài và đăng tải các bài viết được đặt hàng có chất lượng. Thực hiện nhiệm vụ phân công, các cán bộ Tạp chí Lý luận chính trị tích cực tham gia thẩm định, đánh giá chất lượng các chuyên đề đặt hàng của Ban Chỉ đạo 35 Học viện. Nhờ đó, các tuyến bài về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch của Tạp chí ngày càng phong phú, bám sát sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo 35 Học viện.

Nhiều bài sau khi đăng trên Tạp chí in, được Ban Chỉ đạo 35 Học viện đăng lại hoặc chắt lọc để đăng tải trên trang Việt Nam thịnh vượng; nhiều bài đăng tải trên Tạp chí Lý luận chính trị điện tử được các tạp chí điện tử, trang thông tin điện tử dẫn lại, một số bài được tuyển in sách.

Bốn là, không ngừng hoàn thiện quy trình xuất bản tạp chí, trong đó tập trung ưu tiên hoàn thiện quy trình biên tập, sản xuất nội dung sản phẩm tạp chí. Thực hiện chặt chẽ các khâu, các bước của quy trình xuất bản tạp chí khoa học, thẩm định, phản biện, biên tập chặt chẽ.

Các bài viết về chủ đề này đều được sàng lọc, thẩm định kỹ lưỡng. Tham gia thẩm định, phản biện đều là những nhà khoa học có uy tín, có chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn từ công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên các lĩnh vực cụ thể.

Do đó, chất lượng các bài viết về chuyên mục này nhìn chung đều tốt, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của việc đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 35 của Bộ Chính trị trong giai đoạn mới.

Trong thời gian tới, Tạp chí cần phối hợp với cơ quan hữu quan xây dựng phương án nhuận bút đặc biệt cho các bài viết thuộc thể loại này. Bởi xây dựng tuyến bài đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, đòi hỏi sự đầu tư công sức, trí tuệ, đặc biệt là phải nắm được nhiều nguồn tư liệu, thậm chí là tư liệu mật, không công khai; cần tranh thủ các chuyên gia trên các lĩnh vực ngoại giao, an ninh, quốc phòng, để phản biện, góp ý nâng cao chất lượng bài viết. Bởi họ là những người nắm rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; nắm trong tay các nguồn tư liệu xác thực.


CHẤP MÊ BẤT NGỘ VÀ CÁI KẾT CỦA NGUYỄN LÂN THẮNG!

         Giới “hoạt động dân chủ” thường có hai kiểu người, một là nhóm có học thức hoặc gia thế như Cù Huy Hà Vũ, Lê Quốc Quân… và thứ hai là nhóm “Chí Phèo” như Bùi Hằng. Trong đó, Nguyễn Lân Thắng thuộc diện “hiếm hoi” khi thuộc cả hai kiểu người trên.
     Chuyện Nguyễn Lân Thắng bất mãn, hay thậm chí chẳng còn mặn mà với chế độ, suy cho cùng cũng là điều không quá nặng nề. Bởi lẽ đó là quan điểm của cá nhân, tùy do bản thân người đó chọn lựa, phụ thuộc cả vào tri thức, trình độ và bản lĩnh của mỗi người. Nhưng nếu chọn cách thể hiện ra bên ngoài quá đáng, có động cơ phá hoại vì vụ lợi cá nhân, thậm chí mầm mống kết nối gây bất ổn, thì dứt khoát không chấp nhận.
     Thẳng thắn mà nói thì với việc thường xuyên đăng tải, chia sẻ những bài viết, hình ảnh xuyên tạc, chống phá, ngông cuồng ngang ngược thì việc Nguyễn Lân Thắng bị khởi tố, bắt giam dường như là một kết cục đã được báo trước. Bởi thực tế đây không phải lần đầu, cũng không phải lần thứ hai, mà đã rất nhiều lần y “xộ khám” với danh sách dài thành tích bất hảo của mình.
     Hơn nữa, Nguyễn Lân Thắng còn được nhiều người biết đến là gương mặt quen thuộc của một số tổ chức, hội, nhóm chuyên chống đối như Hội anh em dân chủ, No-U FC và Voice – cánh tay nối dài của tổ chức khủng bố Việt Tân. Bỏ qua lý do về thân thế gia đình, phải kể đến việc Thắng luôn có bên mình tờ giấy chứng nhận tâm thần như một lá bài “miễn tử” được y trưng ra mỗi khi bị truy hỏi hòng thoát tội.
     Đáng nói, bất chấp việc hết lần này đến lần khác được nhân nhượng bỏ qua, nhắc nhở, nhưng Thắng vẫn chấp mê bất ngộ, liên tục loạn ngôn chống phá đất nước. Bệnh nhân tâm thần thực sự mà hăng say phá hoại xã hội thì phải được đưa vào đúng chỗ dành cho người bệnh, chứ không thể để một anh mắc bệnh tâm thần ngang nhiên làm “nhà dân chủ”, tính chuyện “dời non lấp bể”, phá làng phá xóm được. Vậy nên thiên hạ chẳng ai sầu bi, thương xót mà chỉ cười khẩy bởi cái kết cho kẻ ảo vọng chính trị.
     Luật nhân quả không chừa một ai, chỉ là đến sớm hay muộn. Liên tiếp tái diễn những hành vi sai trái, thì lần này chắc chắn cái giá mà Thắng phải trả là những năm tháng dài trong lao tù, nhưng đồng thời cũng là bài học cho những ai đang còn ảo tưởng với thủ đoạn tuyên truyền của những nhà dân chủ dỏm, để rồi vô tình trở thành phương tiện, tay chân cho những mưu đồ phản động, bán nước, hại dân./.
Môi trường ST.

Thứ Năm, 7 tháng 7, 2022

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 06/7/1953: “Được lòng dân, thì việc gì cũng làm được, trái ý dân, thì chạy ngược chạy xuôi”. Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Sẽ được mấy lâu?”, đăng trên Báo Nhân dân, số 122, từ ngày 06 đến ngày 10/7/1953; là giai đoạn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta bước vào tổng phản công, quyết giành thắng lợi cuối cùng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải hành động vì dân, thấu hiểu, chia sẻ, quan tâm đến lợi ích chính đáng của nhân dân. Có như vậy, nhân dân mới tin tưởng và ủng hộ Chính phủ thực hiện thắng lợi mục tiêu của cách mạng. Thực hiện lời dạy của Bác, Đảng, Nhà nước ta luôn xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng của nhân dân để xác định chủ trương, đường lối, chính sách và pháp luật, không ngừng chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; nhân dân tin tưởng, đi theo Đảng, theo cách mạng làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ và đại thắng mùa Xuân năm 1975, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Ngày nay, tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, khó lường; trong nước các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ nhân dân với Đảng... Đòi hỏi Đảng, Nhà nước ta phải sâu sát quần chúng, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, có chủ trương, đường lối hợp lòng dân, tạo được sự đồng thuận giữa ý Đảng với lòng dân. Có như thế, mới tranh thủ được thời cơ, vượt qua thách thức, tiến hành thành công sự nghiệp đổi mới, CNH-HĐH, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Quán triệt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội ta luôn thực hiện tốt chức năng đội quân công tác trong tình hình mới, quan tâm chăm lo củng cố mối quan hệ đoàn kết nội bộ và làm tốt công tác dân vận; xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, toàn quân đẩy mạnh phong trào thi đua “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới” với nhiều mô hình mới, cách làm sáng tạo, hiệu quả; tiêu biểu: “Nâng bước em tới trường”, “Tết Biên phòng ấm lòng dân bản”, “Tết quân dân”, “Xuân biên cương, Tết hải đảo”, “Tặng bò giống cho đồng bào nghèo”, “Bệnh xá quân dân y kết hợp”, giúp dân xóa đói, giảm nghèo, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh… góp phần củng cố, giữ vững thế trận lòng dân, được cấp ủy, chính quyền, nhân dân ghi nhận, đánh giá cao. Sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi phải tập trung xây dựng quân đội cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; không ngừng tăng cường, củng cố mối quan hệ đoàn kết quân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp để thực hiện thành công sự nghiệp CNH-HĐH, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN./.

Không liệt sĩ nào là vô danh

 

Không liệt sĩ nào là vô danh

Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung khẳng định các liệt sĩ đều có tên tuổi, quê quán, vì thế việc ghi tên bia mộ cần nghiêm túc thực hiện. Với những liệt sĩ chưa xác định được danh tính, cần thống nhất tên trên những tấm bia này là "Liệt sĩ chưa xác định được thông tin"

Tại buổi làm việc với Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ-TB-XH) Đào Ngọc Dung về công tác lao động, người có công nhân kỷ niệm 75 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ, diễn ra sáng 5-7 tại TP Hà Nội, đoàn công tác của tỉnh Quảng Trị do Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị Lê Quang Tùng dẫn đầu đã kiến nghị, đề xuất Bộ LĐ-TB-XH quan tâm hỗ trợ trong việc điều chỉnh thông tin trên bia mộ liệt sĩ; chỉnh trang, tôn tạo, nâng cấp Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Trường Sơn và nâng cấp Trung tâm Điều dưỡng người có công…

Đề xuất điều chỉnh thông tin

Liên quan tới việc điều chỉnh thông tin trên bia mộ liệt sĩ mà đoàn công tác tỉnh Quảng Trị kiến nghị, Bộ trưởng Bộ LĐ-TB-XH Đào Ngọc Dung nói tỉnh Quảng Trị hãy quyết liệt thực hiện việc đổi tên bia mộ. "Không liệt sĩ nào là vô danh. Các liệt sĩ đều có tên tuổi, quê quán, vì thế việc ghi tên bia mộ cần nghiêm túc thực hiện. Với những liệt sĩ chưa xác định được danh tính, cần thống nhất tên trên những tấm bia này là "Liệt sĩ chưa xác định được thông tin". Bia mộ nên làm với cùng một loại đá, làm đẹp, dày dặn, chữ khắc sâu, rõ ràng" - Bộ trưởng Đào Ngọc Dung nhấn mạnh và yêu cầu đến năm 2023, tỉnh Quảng Trị phải hoàn thành việc điều chỉnh thông tin trên bia mộ liệt sĩ. Trong quá trình tu sửa và khắc lại tên trên bia mộ liệt sĩ cần có sự bàn bạc với địa phương. Bộ trưởng đặc biệt lưu ý không để xảy ra tiêu cực trong việc này.

Trước đó, tại buổi sơ kết của ngành diễn ra sáng 16-7-2020, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cũng đã yêu cầu các địa phương khẩn trương hoàn thành việc sửa nội dung ghi trên bia mộ liệt sĩ, không để từ "Liệt sĩ vô danh" nữa mà sửa lại là "Liệt sĩ chưa xác định được thông tin". Theo Bộ trưởng Đào Ngọc Dung: "Chúng ta làm việc này vì lương tâm, vì trách nhiệm và vì danh dự của mình, không phải vì bệnh thành tích hay bất cứ một vấn đề nào khác".

Thứ trưởng Bộ LĐ-TB-XH Lê Tấn Dũng nhiều lần bày tỏ việc định danh tính của liệt sĩ còn thiếu thông tin là nỗi trăn trở của Đảng, Nhà nước, nhân dân và người thân, gia đình liệt sĩ. Trong suốt những năm qua, ngành LĐ-TB-XH phối hợp với Bộ Quốc phòng thực hiện công tác quy tập hài cốt liệt sĩ, lấy mẫu sinh phẩm giám định ADN. "Chúng tôi luôn canh cánh, sẵn sàng vào cuộc để cùng với các địa phương, các ngành, các ban ngành, đoàn thể và toàn thể nhân dân làm hết sức mình để xác định danh tính của liệt sĩ. Mỗi một bia mộ xác định danh tính được gắn lên là lại bớt đi một mộ liệt sĩ chưa biết được thông tin, xoa dịu phần nào nỗi đau mất mát của thân nhân, gia đình liệt sĩ" - Thứ trưởng Lê Tấn Dũng nói.

Còn gần 300.000 liệt sĩ chưa xác định được thông tin

Trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động vào chiều 7-7, Bộ trưởng Bộ LĐ-TB-XH Đào Ngọc Dung cho biết hiện cả nước vẫn còn gần 300.000 người khi sinh ra có tên, có họ nhưng khi hy sinh nằm xuống trên bia mộ chỉ khắc chữ "Liệt sĩ vô danh", "Liệt sĩ chưa biết tên", "Mộ liệt sĩ chưa xác định được thông tin"…

Theo Bộ trưởng Đào Ngọc Dung, vấn đề bia mộ liệt sĩ, tại mục 3 Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC đã thống nhất: "Đối với những mộ liệt sĩ chưa có đủ các thông tin thì bia mộ chỉ ghi thông tin đã rõ vào dòng tương ứng; trường hợp không có thông tin thì trên bia mộ ghi "Mộ liệt sĩ chưa xác định được thông tin". Ngoài ra tại điểm c, khoản 2 điều 152 Nghị định 131/CP ngày 30-12-2021 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng cũng đã quy định rõ việc trên bia mộ được ghi thống nhất như sau: Đối với những mộ liệt sĩ chưa có đủ các thông tin theo quy định thì bia mộ chỉ ghi thông tin đã rõ vào dòng tương ứng; trường hợp không có thông tin thì trên bia mộ ghi "Mộ liệt sĩ chưa xác định được thông tin".

Ông Lưu Bình Nhưỡng, Phó Ban Dân nguyện thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cho rằng trước đây chúng ta hơi đơn giản khi đặt tên "Liệt sĩ vô danh". "Làm gì có ai là vô danh? Rõ ràng những người hy sinh có tên, có tuổi, có quê quán đàng hoàng, thậm chí nhiều người còn có chức vụ, nên không thể gọi là vô danh được. Ghi "Liệt sĩ vô danh" là không đúng, thậm chí còn là xúc phạm" - ông Lưu Bình Nhưỡng nêu quan điểm.

Theo Phó Ban Dân nguyện Lưu Bình Nhưỡng, ông đồng tình với đề nghị của Bộ trưởng Đào Ngọc Dung rằng không liệt sĩ nào là vô danh. Vì vậy, với những liệt sĩ chưa xác định được danh tính, cần thống nhất tên trên những tấm bia này là "Liệt sĩ chưa xác định được thông tin". "Bản thân gia đình tôi có 2 chú ruột là liệt sĩ, anh ruột mẹ tôi cũng là liệt sĩ. Ba người thân đó của tôi đến nay vẫn chưa tìm được hài cốt. Chính vì vậy, tôi rất thấu hiểu chuyện này. Tôi đã đi khắp các nghĩa trang liệt sĩ trên cả nước, đến các đơn vị quân đội để tìm thông tin nhưng đều không có. Chính vì vậy, tôi chia sẻ, đồng cảm và đồng tình với quan điểm của Bộ trưởng Đào Ngọc Dung về vấn đề ghi bia mộ liệt sĩ" - ông Lưu Bình Nhưỡng nói. 

 

Tấm gương về: NỖI ĐAU CỦA KẺ PHẢN BỘI Bùi Tín - Nguyên Đại tá quân đội, Phó tổng biên tập Báo Nhân dân. Sinh năm 1927 tại Huế, trước khi lầm đường lạc lối, Bùi Tín từng được mệnh danh là người chiến sĩ, sĩ quan, nhà báo cách mạng kiên trung, với những bài viết khiến hàng triệu người nể phục. Cha của Bùi Tín là cụ Bùi Bằng Đoàn, nguyên Thượng thư Bộ Hình của triều đình Huế và nguyên Chủ tịch Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cuộc đời và sự nghiệp của Bùi Tín có lẽ đã rất rực rỡ, nếu như không xảy ra một bị kịch: Tháng 9 năm 1990, Bùi Tín sang Pháp dự hội thảo hàng năm của báo “L’Humanité” (Nhân Đạo - báo của Đảng Cộng sản Pháp) và không bao giờ quay đầu lại. Do đã cấu kết với các tổ chức chống cộng từ trước, Bùi Tín trốn ở lại, rồi xin tị nạn chính trị tại Pháp, với lý do là để “đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền”. Bùi Tín đã bị lôi kéo, dụ dỗ với lời hứa: một vị trí xứng đáng trong bộ máy nhà nước Việt Nam Cộng hòa. Từ một chiến sỹ cách mạng, một ngòi bút với lập luận sắc bén nhưng bản lĩnh chính trị thiếu vững vàng, niềm tin bị lung lay, đã quay đầu chống lại nhà nước, chống lại nhân dân và cách mạng. Nhà thơ Phan Xuân Hạt từng nói: “Bùi Tín là người có tham vọng chính trị cực lớn. Với óc nhạy cảm thái quá, Bùi Tín cho là phe XHCN sẽ tan rã, Liên bang Xô viết sụp đổ, Trung Quốc rối loạn - Bùi Tín tin là, Việt Nam cũng sẽ nằm trong quỹ đạo đó. Và Bùi Tín đã nhanh chóng nhảy sang phía đối lập, giương cờ để chờ cơ hội quay lại làm người số 1 của Việt Nam”. Ảo tưởng về sự sụp đổ của Chủ nghĩa Cộng sản đã giết chết lý trí, tinh thần và bản lĩnh của Bùi Tín. Ông ta điên cuồng lao vào viết bài như một con thiêu thân. Không trừ một câu từ, bài viết nào, kể cả viết về những cái không có thật, những bài viết nói xấu Chủ tịch Hồ Chí Minh... miễn sao “bôi nhọ” chế độ, Đảng, Nhà nước, và có tiền để sống và nuôi bồ nhí. Những tháng năm cuối cùng của cuộc đời, Bùi Tín đã nhận ra một điều rằng: “tiền bạc và danh vọng nó bạc như vôi”. Khi không còn có thể viết bài, khi đã hết giá trị lợi dụng, Bùi Tín chờ chết trong sự ghẻ lạnh, hắt hủi của những kẻ từng được ông ta coi là “cùng chiến tuyến”. Ở Paris, Bùi Tín sống trên căn gác xép chật chội cùng một người phụ nữ, và bị người Việt ở hải ngoại nghi kỵ, dò xét. Những đối tượng phản động nhất cũng coi Bùi Tín là một kẻ không đáng để kết giao. Chúng luôn cho rằng, Bùi Tín được cách mạng Việt Nam nuôi lớn nhưng phản bội lại, đó là hành động của một kẻ “ăn cháo đá bát”, là bất hảo. Chúng cho rằng, Bùi Tín có thể là một tên gián điệp của Cộng sản Việt Nam, nên luôn bị tẩy chay, nghi ngờ. Ngay đến Võ Văn Ái, chủ biên tờ Quê mẹ và Nguyễn Gia Kiểng tờ Thông luận cũng viết bài miệt thị coi Bùi Tín là “phần tử bất hảo không đáng tin”. Ngay cả ở Mỹ, trong một buổi nói chuyện tại San Joses ngày 23/6/2012, chính Bùi Tín đã bị cộng đồng người Việt tẩy chay, chửi rủa, đuổi khỏi diễn đàn. St PQ
NHẬN DIỆN NHỮNG THÔNG TIN XẤU ĐỘC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG Thông tin xấu độc trên không gian mạng gây tác động tiêu cực đến dư luận xã hội, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ; ảnh hưởng xấu đến đạo đức, lối sống, nhân cách của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân. Do vậy, cần nhận diện những thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng không gian mạng đưa thông tin xấu độc, giả mạo, qua đó chủ động phòng ngừa, đấu tranh, năng cao sức đề kháng cho mỗi cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân góp phần đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam. Các thế lực thù địch lợi dụng mạng xã hội để đăng tải, đưa các thông tin sai sự thật hoặc các thông tin có phần đúng nhưng sai lệch về bản chất trên các trang mạng xã hội để đánh lừa người đọc, làm người đọc lầm tưởng là thông tin chính thống để đăng nhập, chia sẻ, bình luận gây hiệu ứng tâm lý xã hội trước những vấn đề có tính thời sự của đất nước. Khi đã thu hút được sự quan tâm, theo dõi của người đọc, các thế lực thù địch và phần tử xấu sẽ lồng ghép những thông tin giả mạo, xấu độc với các nội dung chống Đảng, Nhà nước, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối phát triển kinh tế, làm người đọc không phân biệt được thông tin thật - giả, gây hoang mang, tiềm ẩn nguy cơ gây bất ổn về an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội. Ngoài ra, chúng lợi dụng tiến bộ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, ứng dụng miễn phí trong các trang mạng xã hội để chia sẻ, kết bạn, quản lý nhóm bạn bè trên không gian mạng. Từ đó, đưa thông tin xấu độc, thông tin thật, giả lẫn lộn nhằm tuyên truyền, gây hoài nghi trong xã hội, tác động đến tư tưởng, tình cảm, đạo đức của cán bộ, đảng viên và nhân dân, gây mơ hồ, mất cảnh giác, dao động mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước... Để mỗi cán bộ đảng và quần chúng nhân dân chủ động phòng ngừa, đấu tranh, năng cao sức đề kháng, góp phần đấu tranh phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cần phải nhận diện những thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng không gian mạng đưa thông tin xấu độc, giả mạng.

Nghiên cứu và vận dụng Hồ Chí Minh toàn tập vào giảng dạy và học tập tại Lào

 

Nghiên cứu và vận dụng Hồ Chí Minh toàn tập vào giảng dạy và học tập tại Lào

Ngày 1/7, tại Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Lào diễn ra hội nghị tuyên truyền, hướng dẫn nghiên cứu và áp dụng Hồ Chí Minh toàn tập vào công tác giảng dạy và học tập.

Hội nghị có sự tham gia của hàng trăm học viên, giảng viên của Học viện. Phó giám đốc Học viện Tiến sỹ Khamla Keoounkham chủ trì và trực tiếp thuyết trình.

Tại hội nghị, Tiến sỹ Khamla khẳng định, tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện trong tác phẩm toàn tập là toàn bộ những hệ thống quan điểm sâu sắc bao gồm: Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc về tội ác, sự bóc lột của chế độ thực dân đối với người dân thuộc địa.

Trong quá trình ra đi tìm đường cứu nước, Người đã tiếp cận được Chủ nghĩa Mác-Lênin và nhận ra rằng, đây chính là nền tảng lý luận chính trị sâu sắc cho con đường giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại. Người đã vận động quần chúng nhân dân tham gia vào các phong trào đấu tranh, tích cực truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lê nin.

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với các vị tiền bối đã lãnh đạo cách đất nước đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, đưa Việt Nam thoát khỏi thế “ngàn cân treo sợi tóc” và khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người định hướng đất nước Việt Nam đi theo con đường Chủ nghĩa Xã hội và lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin làm lý luận cách mạng. 

Để tổ chức và thực hiện một cách hiệu quả mục tiêu xây dựng đất nước đi theo con đường đi lên Chủ nghĩa Xã hội, Người coi trọng công tác xây dựng Đảng, phát triển Đảng, xây dựng sự mẫu mực trong công tác cán bộ, đảng viên, tất cả vì nhân dân, hy sinh, cống hiến cả cuộc đời mình cho cách mạng Việt Nam cũng như phong trào cộng sản quốc tế. Trong các bài viết của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói nhiều về công tác ngoại giao, với một tinh thần vô tư trong sáng.

Tiến sỹ Khamla phân tích, mỗi một tác phẩm Hồ Chí Minh Toàn tập có một giá trị lý luận mang tính kinh điển và thực tiễn sâu sắc, phản ánh quá trình hoạt động của Người về những giai đoạn của lịch sử cách mạng Việt Nam và thế giới, là những bài học giá trị không chỉ cho nhân dân Việt Nam mà còn dành cho cả nhân loại, những người yêu chuộng hòa bình nghiên cứu, tham khảo. Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về sự hy sinh vì nhân dân, vì lợi ích chung, vì đất nước, vì con người. Người khi nào cũng quan tâm đến đời sống của nhân dân bởi Người nhận thức sâu sắc rằng có quần chúng nhân dân thì sự nghiệp cách mạng mới đi đến thành công./.

 

Cấp độ dịch mới nhất ở nước ta khi ca COVID-19 tăng; Biến thể phụ BA.5 có thể tiếp tục xâm nhập

 

Cấp độ dịch mới nhất ở nước ta khi ca COVID-19 tăng; Biến thể phụ BA.5 có thể tiếp tục xâm nhập

SKĐS - Bộ Y tế vừa có công văn hoả tốc gửi 9 Bộ về việc tăng cường tiêm vaccine COVID-19 cho quân nhân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động; cập nhật cấp độ dịch mới nhất của Bộ Y tế cho biết, có 1,5% số xã phường thuộc vùng cam, đỏ; Biến thể phụ BA.5 có thể tiếp tục xâm nhập vào nước ta...

Bộ Y tế đề nghị 9 Bộ tổ chức tiêm vaccine COVID-19 mũi 3, mũi 4 cho cán bộ, nhân viên

Bộ Y tế vừa có công văn hỏa tốc gửi 9 Bộ về việc tăng cường tiêm vaccine COVID-19 cho quân nhân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động. 9 Bộ nhận công văn gồm: Bộ Quốc phòng; Bộ Công an; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Công thương; Bộ Giao thông Vận tải; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; Bộ Xây dựng; Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Trong công văn, Bộ Y tế nhận định tình hình dịch bệnh vẫn còn diễn biến phức tạp, khó lường, có thể xuất hiện các biến chủng mới, vaccine COVID-19 giảm khả năng miễn dịch theo thời gian.

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và để tăng cường miễn dịch cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân, người lao động, quân nhân, chiến sĩ, Bộ Y tế đề nghị các Bộ quan tâm, chỉ đạo các đơn vị liên quan tăng cường truyền thông, vận động cán bộ, công nhân viên trong ngành tham gia tiêm chủng đầy đủ, kịp thời để bảo vệ sức khỏe của bản thân và cộng đồng theo hướng dẫn của Bộ Y tế.

Các Bộ chỉ đạo các đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý liên hệ với cơ sở tiêm chủng trên địa bàn để được tiêm chủng. Bộ Y tế đề nghị các Bộ tổ chức Lễ phát động chiến dịch tiêm vaccine COVID-19 mũi 3, mũi 4 cho cán bộ, công nhân viên trong ngành ngay trong tuần đầu tháng 7/2022.

Tại Việt Nam, Hệ thống quản lý điều trị COVID-19 của Cục Quản lý khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) ghi nhận, trong số 32.212 trường hợp tử vong do COVID-19, có tới 52,8% số ca tử vong chưa tiêm vaccine; 29,8% đã tiêm 1 mũi hoặc 2 mũi và chỉ có 7,3% đã tiêm 3 mũi.

Ngoài ra, Cục Quản lý khám, chữa bệnh cho hay các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, kháng thể kháng virus SARS-CoV-2 sau tiêm mũi 3 sẽ suy giảm đáng kể khoảng 15 tuần sau khi tiêm, nhất là kháng thể kháng biến chủng Omicron.

Do vậy, việc tiêm vaccine mũi 4 đặc biệt hữu ích đối với người từ 50 tuổi trở lên; người từ 18 tuổi trở lên có suy giảm miễn dịch từ thể vừa đến thể nặng; người từ 18 tuổi trở lên thuộc nhóm nguy cơ cao phơi nhiễm với Covid-19, như: Cán bộ y tế, cán bộ tuyến đầu: Lực lượng công an, quân đội, giáo viên, người làm việc trong lĩnh vực giao thông vận tải, người cung cấp dịch vụ thiết yếu, người làm việc tại các cơ sở dịch vụ du lịch, trung tâm thương mại, siêu thị, chợ, công nhân, người làm việc tại các khu công nghiệp

Còn 25 bệnh nhân COVID-19 nặng

Bản tin phòng chống dịch COVID-19 ngày 1/7 của Bộ Y tế cho biết có 927 ca mắc mới COVID-19, tăng 88 ca so với ngày trước đó. Trong ngày có 8.345 F0 khỏi, gấp 9 lần số mắc mới. Tiếp tục không có bệnh nhân tử vong.

Kể từ đầu dịch đến nay Việt Nam có 10.747.397 ca nhiễm, đứng thứ 12/227 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong khi với tỷ lệ số ca nhiễm/1 triệu dân, Việt Nam đứng thứ 112/227 quốc gia và vùng lãnh thổ (bình quân cứ 1 triệu người có 108.475 ca nhiễm).

Tổng số người mắc COVID-19 đã khỏi ở nước ta là 9.689.663 ca. Hiện nay đang điều trị, giám sát 1.022.992 trường hợp, trong đó có 25 trường hợp nặng đang điều trị, gồ: Thở ô xy qua mặt nạ: 19; Thở ô xy dòng cao HFNC: 5; thở máy xâm lấn 1. Hiện cả nước không còn bệnh nhân nặng nào phải can thiệp ECMO.

Ca COVID-19 trong vài ngày nay có chiều hướng gia tăng, cập nhật cấp độ dịch mới nhất của Bộ Y tế cho biết trong số 10.604 xã phường cả nước, đến nay 98,5% xã, phường được xếp nhóm vùng xanh (nguy cơ thấp) và vùng vàng (nguy cơ trung bình); 1,5% còn lại là số xã phương thuộc vùng cam và đỏ. So với 2 tuần trước thi cấp độ dịch có sự thay đổi, bới trước đó cả nước không còn xã, phường xếp vào nhóm vùng màu cam, đỏ.

Biến thể phụ BA.5 lây lan nhanh hơn biến thể BA.2 từ 10-13%

Theo Bộ Y tế, trên thế giới, biến thể phụ BA.5 của Omicron đã ghi nhận tại nhiều quốc gia và có khả năng tiếp tục xâm nhập vào Việt Nam; đồng thời nước ta cũng đã ghi nhận các trường hợp nhiễm biến thể phụ BA.5. Như vậy, số ca mắc có thể gia tăng trong thời gian tới do sự xuất hiện của biến thể phụ BA.5.

Số liệu báo cáo từ các nước châu Âu, Nam Phi khi biến thể phụ BA.5 xuất hiện thì mức độ lây lan nhanh với tốc độ tăng số mắc hàng ngày của biến thể phụ BA.5 khoảng 10-13% so với biến thể BA.2 và sẽ từng bước thay thế biến thể phụ BA.2.

Do vậy, tiếp tục theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh trên thế giới; giám sát sự lưu hành của virus SARS-CoV-2 để phát hiện các biến thể và các biến thể phụ khác của virus. Hệ thống giám sát, đáp ứng phòng chống dịch từ trung ương đến địa phương cần tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch.

Bộ Y tế khuyến cáo người dân, đặc biệt là những nhóm có nguy cơ cần tiêm đúng lịch, đủ liều các mũi vaccine COVID-19 nhắc lại theo khuyến cáo để có thể tăng cường miễn dịch chống lại các biến thể mới của dịch bệnh.

 

ĐẶNG ĐĂNG PHƯỚC, TỘI CỦA HẮN THIÊN LÝ BẤT DUNG!

     Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài của cách mạng, Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam. Người đã dành cả đời mình, hi sinh, hóa thân trọn vẹn vào dân tộc. Chúng ta có thể thấy số phận của mỗi người dân Việt Nam trong từng suy nghĩ của người và hình ảnh của Người trong từng hơi thở của mỗi người dân Việt Nam. Bác là hình ảnh thiêng liêng, cao quý mà ngay cả kẻ thù cũng phải kính nể.
     Vậy mà, Đặng Đăng Phước một giáo viên Trường CĐSP Đăk Lăk lại dùng lời lẽ bôi nhọ, xúc phạm  Người trên Facebook của hắn.
Xét về lương tâm, phẩm giá, hắn không đủ tư cách làm người, chứ chưa nói làm một giáo viên.
     Xét theo pháp luật hắn đã vi phạm điều 331 Bộ Luật hình sự về Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
1. Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Như vậy, có thể thấy theo tình hay lý thì hành vi của Phước là không thể chấp nhận. 
Pháp luật rất công bằng, thưởng phạt phân minh, nhưng điều quan trọng hơn là mong cộng đồng MXH lên án hành vi ti tiện, bỉ ổi của Đặng Đăng Phước kể trên./.
Yêu nước ST.

 

RSF LẠI PHỚT LỜ SỰ THẬT

 

Xuyên tạc, suy diễn về tình hình tự do báo chí ở nước ta là một chiêu trò luôn được một số tổ chức, đối tượng cực đoan, thiếu thiện chí với Việt Nam sử dụng. Một trong số đó là tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF).

 

Ngày 3/5/2022, tổ chức RSF công bố cái gọi là “Bảng xếp hạng thường niên về tự do báo chí” xếp hạng tự do báo chí toàn cầu. Chỉ số tự do báo chí thế giới năm 2022 do RSF công bố xếp Việt Nam ở vị trí 174 trên 180 quốc gia và vùng lãnh thổ. Các chỉ số cụ thể của Việt Nam được nêu ra gồm chỉ số chính trị ở hạng 173, chỉ số kinh tế xếp hạng 176, chỉ số lập pháp 172, chỉ số xã hội 170 và chỉ số an ninh 170.

Trong bảng xếp hạng này, RSF đã vu cáo rằng: “các phóng viên và blogger độc lập thường bị bỏ tù”. Tổ chức này còn tỏ vẻ bênh vực, cổ xúy cho một số hội nhóm, cá nhân lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để chống phá Việt Nam như “nhóm Báo sạch”, “Hiệp hội Nhà báo Độc lập Việt Nam”, ca ngợi những đối tượng như Phạm Thị Đoan Trang. Ngay sau khi công bố của RSF được đưa ra, một số tổ chức phản động, đối tượng cơ hội chính trị, những hãng truyền thông hải ngoại vốn định kiến với Việt Nam được dịp trích dẫn, bình luận kiểu “tát nước theo mưa”.

 

KÍCH ĐỘNG KỲ THỊ DÂN TỘC - ÂM MƯU PHÁ HOẠI

KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

 

Kỳ thị thường gắn liền với phân biệt đối xử. Kỳ thị, phân biệt đối xử là một khái niệm giao thoa giữa chính trị - văn hóa và xã hội. Kỳ thị dân tộc, chủng tộc là sự nhìn nhận, đánh giá làm giảm giá trị đối với một một dân tộc, một chủng tộc từ một quan niệm chính trị, văn hóa hoặc xã hội nào đó.

 

Ở Việt Nam, kể từ khi bắt đầu xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã thực hiện chính sách chia để trị và chia cắt nước ta thành ba miền (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) với những chính sách khác nhau trên các lĩnh vực chính trị, xã hội và kinh tế nhằm tạo ra sự khác biệt cơ bản giữa ba miền với âm mưu chia cắt vĩnh viễn. Thay chân thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tay sai cũng từng thực hiện chiến lược chia cắt lâu dài hai miền Nam, Bắc hòng tiến đến xóa bỏ chế độ xã hội XHCN và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

 

Đánh giá sai lệch của Nghị viện châu Âu

Vừa qua, cơ quan nghiên cứu của Nghị viện châu Âu công bố bản báo cáo về các hoạt động hỗ trợ những nhà hoạt động nhân quyền trên toàn thế giới của Liên minh châu Âu (EU Support for human rights defenders around the world). Đáng tiếc, nội dung của bản báo cáo nàychứa đựng những thông tin không khách quan, sai lệch về tình hình nhân quyền tại Việt Nam.

Theo nội dung của báo cáo mới được đưa ra, Liên minh châu Âu cho rằng, họ đã gặp nhiều giới hạn trong việc bảo vệ những nhà hoạt động nhân quyền ở Việt Nam; vu cáo những cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền bị kiểm soát ngặt nghèo, chính quyền Việt Nam sẵn sàng đàn áp những người hoạt động nhân quyền “một cách trắng trợn”.

 

KHÔNG THỂ NHÂN DANH “HOẠT ĐỘNG VÌ MÔI TRƯỜNG”

ĐỂ VI PHẠM PHÁP LUẬT

 

Ngày 17/6, TAND TP Hà Nội đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, tuyên phạt 24 tháng tù giam đối với bà Ngụy Thị Khanh – cựu Giám đốc Trung tâm phát triển sáng tạo xanh Green ID về tội trốn thuế theo Điều 200, Bộ luật Hình sự.

Ngay sau đó, một số cá nhân, tổ chức thù địch, chống đối đã tung ra nhiều bài viết với thông tin không chính xác, bẻ lái theo hướng tiêu cực, tạo cớ can thiệp vào công việc của các cơ quan thực thi pháp luật Việt Nam, đả kích chính quyền.

Những luận điệu ngụy biện, trái bản chất

Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị được dịp hùa vào “ăn theo”. Tổ chức Việt Tân xuyên tạc, suy diễn khi cho rằng “chính quyền bỏ tù các nhà hoạt động môi trường”, rồi kêu gọi Việt Nam “trả tự do cho bà Ngụy Thị Khanh”. Đài Á Châu tự do (RFA) đăng bài viết “Giám đốc xã hội dân sự Green ID bị bắt với cáo buộc trốn thuế”, tung ra những thông tin lập lờ nhằm đánh lận bản chất vụ án. Thay vì đưa thông tin đúng về vụ việc, RFA lại dẫn dắt người đọc đến các vấn đề “xã hội dân sự”.

 

Không thể phủ nhận vị thế, vai trò 

của Việt Nam


Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 3 Việt Nam phối hợp Bệnh viện dã chiến cấp 1 Pakistan lấy máu, test nhanh, tư vấn cho người dân Nam Sudan cách phòng, chống HIV-AIDS. (Ảnh: mod.gov.vn)

Ngày 7/6, Đại hội đồng Liên hợp quốc đồng thuận bầu Việt Nam trở thành một trong những Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77 đại diện cho khu vực châu Á-Thái Bình Dương với nhiệm kỳ một năm. Điều này tiếp tục khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của Việt Nam trên trường quốc tế.

Một trong những yếu tố quan trọng làm nên vị thế quốc gia của Việt Nam chính là sự phát triển ổn định của nền kinh tế. Ngày 26/5/2022, Tổ chức xếp hạng tín nhiệm S&P Global Ratings (một trong ba cơ quan xếp hạng tín dụng lớn và uy tín nhất thế giới) đã nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia dài hạn của Việt Nam lên mức BB+ với triển vọng “ổn định”. Trong bảng đánh giá mới nhất của tổ chức này, Việt Nam là nước duy nhất trong khối ASEAN được nâng hạng trong năm 2022. 

Một số giải pháp phát huy sức mạnh nhân tố tinh thần trong bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia hiện nay

 

Sức mạnh nhân tố tinh thần trong bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia là sức mạnh nhân tố tinh thần của toàn dân, trong đó sức mạnh nhân tố tinh thần của bộ đội biên phòng là nòng cốt, được hình thành trên cơ sở nhận thức đúng đắn, tình cảm cao đẹp, niềm tin vững chắc vào sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia. Sức mạnh ấy thể hiện ở sự đồng tâm, nhất trí của toàn dân, toàn quân; thể hiện ở bản lĩnh, ý chí quyết tâm, tinh thần chịu đựng khó khăn, gian khổ, sẵn sàng hy sinh lợi ích bản thân mình để bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Để tạo nên và không ngừng bồi đắp, phát huy sức mạnh đó, cần thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho nhân dân, các ban, ngành, đoàn thể địa phương, cán bộ, chiến sĩ quân đội ở khu vực biên giới về yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế hiện nay.

Nội dung tuyên truyền, giáo dục tập trung vào lịch sử truyền thống hào hùng của dân tộc, đặc biệt là truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, tinh thần độc lập, tự chủ, tự hào, tự tôn dân tộc; ý chí kiên cường, bất khuất, sáng tạo của con người Việt Nam; các chỉ thị, nghị quyết, các chủ trương, chương trình, kế hoạch của các cấp liên quan đến bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia;  các hiệp định, nghị định thư về biên giới đã ký kết giữa Việt Nam và các nước có chung đường biên giới; các quy chế về khu vực biên giới; ý thức chủ quyền biên giới quốc gia. Giáo dục hệ thống pháp luật về biên giới quốc gia, nhất là Luật Biên giới quốc gia, Luật Biên phòng Việt Nam. Nâng cao nhận thức về tác động mang tính hai mặt của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, các thách thức của an ninh phi truyền thống đến bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia đến mỗi người dân và cán bộ, chiến sĩ ở khu vực biên giới nhằm nâng cao ý thức và trách nhiệm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.

Hai là, củng cố niềm tin của nhân dân, của cán bộ, chiến sĩ quân đội và bộ đội biên phòng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc ở khu vực biên giới.

Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với củng cố, tăng cường quốc phòng an ninh trên từng vùng lãnh thổ, trên các địa bàn chiến lược, biên giới, biển, đảo” và “xây dựng thế trận lòng dân, phát huy sức mạnh đoàn kết, đồng thuận của nhân dân trong và ngoài nước để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Trong giai đoạn hiện nay, niềm tin của nhân dân, quân đội và bộ đội biên phòng được hình thành dựa trên những thành tựu trong xây dựng và phát triển đất nước nói chung, phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực biên giới nói riêng. Do đó, bên cạnh công tác giáo dục, nâng cao nhận thức về mọi mặt, bồi đắp lý tưởng cách mạng, cần đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân khu vực biên giới; quan tâm, chăm lo đời sống của cán bộ, chiến sĩ, thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội, làm cho người dân và cán bộ, chiến sĩ yên tâm gắn bó với địa bàn biên giới. Cùng với đó, cần đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân, vì dân, tạo cơ sở động lực để đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.

Ba là, khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, sức mạnh của truyền thống yêu nước và niềm tự hào dân tộc trở thành ý thức, trách nhiệm và hành động thực tế trong bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia.

Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân đối với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc” và “xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước”.

Truyền thống yêu nước, tinh thần dân tộc là yếu tố cơ bản, quyết định nhất tạo ra sức mạnh tinh thần to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia nói riêng. Lòng yêu nước, tinh thần dân tộc là cơ sở để hình thành nên ý thức bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia và bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, thể hiện ở tình yêu mãnh liệt đối với Tổ quốc, coi độc lập, chủ quyền của Tổ quốc là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, nguyện cống hiến hết sức lực và trí tuệ của mình cho sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, coi đó là mục tiêu, lý tưởng, lẽ sống và giá trị đạo đức của công dân và quân nhân ở khu vực biên giới.

Bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia trong tình hình mới đòi hỏi phải biết phát huy lòng yêu nước nồng nàn, ý thức tự hào dân tộc của mỗi người dân, tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn, giúp cán bộ, chiến sĩ và nhân dân vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia. Lòng yêu nước sâu sắc, ý thức, trách nhiệm trong bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia sẽ định hướng giá trị cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân xử lý chính xác, nhanh nhạy mọi quan hệ và tình huống trên biên giới theo tinh thần bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc.

Bốn là, phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu vực biên giới, tăng cường hợp tác quốc tế.

Củng cố, phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu vực biên giới là cơ sở quan trọng để phát huy sức mạnh nhân tố tinh thần của toàn dân trong bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia. Những bài học lịch sử về xây dựng thế nước cường thịnh, trên dưới đồng lòng trên cơ sở củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động sức mạnh của toàn thể dân tộc trong bảo vệ biên giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế có giá trị đặc biệt đối với quá trình bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa vào dân, thực hiện tốt công tác vận động quần chúng tạo nền tảng xây dựng “thế trận lòng dân” gắn với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc; thiết lập thế trận an ninh liên hoàn bên trong với bên ngoài biên giới quốc gia và trên không gian mạng; đặc biệt coi trọng an ninh mạng”.

Trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, sức mạnh nhân tố tinh thần không chỉ được hình thành từ các yếu tố trong nước, mà còn được hình thành từ các yếu tố quốc tế. Vì vậy, cần tăng cường hợp tác và đoàn kết quốc tế để tạo nền tảng huy động sức mạnh vật chất, tinh thần từ sự giúp đỡ, ủng hộ của quốc tế đối với việc quản lý, khai thác và bảo vệ chủ quyền hợp pháp của Việt Nam. Điều này cũng được thể hiện rõ trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, đó là: “Tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh… Chủ động phối hợp với các quốc gia bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; xử lý các vấn đề an ninh phi truyền thống, tạo vành đai an ninh bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”. Tăng cường hợp tác và hội nhập quốc tế, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta có ý nghĩa to lớn đối với xây dựng và phát huy sức mạnh nhân tố tinh thần của nền quốc phòng toàn dân nói chung và sự nghiệp bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia nói riêng.

Năm là, nâng cao chất lượng xây dựng lực lượng bộ đội biên phòng.

Xây dựng lực lượng bộ đội biên phòng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số bộ phận tiến thẳng lên hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia trước tác động của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. Bởi lẽ, đây là lực lượng chuyên trách thực thi nhiệm vụ biên phòng làm nòng cốt cho nhân dân và các lực lượng khác ở khu vực biên giới tham gia bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia. Cần xây dựng lực lượng bộ đội biên phòng vững mạnh về mọi mặt, trong đó chú trọng xây dựng về tư tưởng, chính trị, đạo đức, có tinh thần trách nhiệm và ý chí quyết tâm cao trong bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, có sức đề kháng trước các tác động tiêu cực của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. Phát huy truyền thống tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới, tạo nền tảng để phát huy sức mạnh nhân tố tinh thần của bộ đội biên phòng trong bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia hiện nay.

HAIVAN

Nhân tố tinh thần trong bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia ngày nay

 

Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, nhân tố tinh thần là một trong những cội nguồn sức mạnh to lớn để dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, chống chọi với thiên tai, địch họa, giữ vững bờ cõi và chủ quyền đất nước. Tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải quyết giành cho được độc lập” của dân tộc ta đã làm nên những chiến công hiển hách, được bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Chính sức mạnh nhân tố tinh thần là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc, là giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc, tạo nên động lực cho toàn bộ tiến trình dựng nước và giữ nước.

Phát huy sức mạnh nhân tố tinh thần của nhân dân và quân đội, đặc biệt là bộ đội biên phòng trong bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia là một trong những vấn đề có tính quy luật đã được chứng minh qua thực tiễn lịch sử dựng và giữ nước của dân tộc ta. Biên giới là nơi xa xôi, hẻo lánh, rừng thiêng, nước độc, nhưng có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, được ví như “phên giậu” của quốc gia. Để giữ vững biên cương, giữ vững từng thước núi, con sông, từng tấc đất, sải biển thiêng liêng của Tổ quốc, các triều đại phong kiến Việt Nam luôn lựa chọn những tướng lĩnh tài giỏi, trung kiên nhất trấn giữ nơi biên ải, vừa đề ra chính sách “biên viễn” để khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc của quân lính và nhân dân biên giới, vừa đề ra các điều luật nghiêm khắc để trừng phạt những kẻ để mất đất đai, sông núi của đất nước. Nhưng luật pháp đôi khi chỉ có tính răn đe, giữa núi rừng, biên giới xa xôi, hẻo lánh, không luật pháp nào có thể kiểm soát tốt hơn hành động của những người trấn ải biên cương bằng chính lương tâm, trách nhiệm và bổn phận của họ đối với đất nước, dân tộc. Muốn có những con người kiên trung trấn ải nơi biên cương, cần phải khơi dậy sức mạnh tinh thần, khơi dậy lòng trung thành và tận tụy, ý chí quyết tâm vượt qua khó khăn, gian khổ, cám dỗ để làm tròn trách nhiệm, bổn phận với Tổ quốc, dân tộc.

Ngày nay, trước tác động của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, phát huy sức mạnh nhân tố tinh thần có vai trò quan trọng, đặc biệt là đối với cán bộ, chiến sĩ quân đội và nhân dân vùng biên giới, bởi những lý do sau:

Thứ nhất, tình hình thế giới và trong nước hiện nay biến động nhanh chóng, khó lường, đang đặt ra những yêu cầu, đặc điểm mới trong việc bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, đòi hỏi những người thực thi nhiệm vụ cũng phải luôn có sự rèn luyện, bồi đắp, nuôi dưỡng nhân tố tinh thần để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Nói về sức mạnh nhân tố tinh thần, V.I. Lê-nin đã từng chỉ rõ: “Trong mọi cuộc chiến tranh rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường. Lòng tin vào cuộc chiến tranh chính nghĩa, sự giác ngộ rằng, cần phải hy sinh đời mình cho những người anh em là yếu tố để nâng cao tinh thần của binh sĩ và làm cho họ chịu được khó khăn chưa từng thấy”. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định, sức mạnh tinh thần của quân và dân ta là một trong những yếu tố cơ bản quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam, vì “không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc”.

Thứ hai, trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế hiện nay, bảo vệ chủ quyền biên giới đang chịu tác động mạnh mẽ của hàng loạt yếu tố thử thách tinh thần, ý chí của nhân dân và quân đội của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam, đó là: 1- Xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ làm cho các quốc gia, dân tộc xích lại gần nhau, nhưng cũng làm gia tăng sự ảnh hưởng, phụ thuộc vào nhau, “biên giới mềm” dần thay thế, làm xóa nhòa ranh giới của “biên giới cứng”, phá vỡ hàng rào ngăn cách giữa các nước, dẫn đến “phai mờ dần các đường biên giới quốc gia”, làm gia tăng nguy cơ đe dọa đến chủ quyền, an ninh của các quốc gia. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, tài nguyên, nguy cơ xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo đòi hỏi nhân dân, quân đội phải tỉnh táo, chủ động đối phó, ngăn chặn; 2- Những thách thức nảy sinh từ các vấn đề an ninh phi truyền thống mang tính cấp bách toàn cầu, như chủ nghĩa khủng bố, an ninh tài chính, tiền tệ, an ninh năng lượng, an ninh môi trường, an ninh thông tin, an ninh xã hội, an ninh con người, biến đổi khí hậu, tội phạm buôn lậu ma túy, tội phạm công nghệ cao, tội phạm xuyên quốc gia (buôn lậu vũ khí, ma túy, rửa tiền, buôn bán người, cướp biển), đói nghèo, di dân tự do, thiên tai, dịch bệnh, nhất là dịch bệnh COVID-19 đang diễn biến hết sức phức tạp; 3- Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển như vũ bão, tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực quân sự, quốc phòng, với sự xuất hiện của hàng loạt vũ khí công nghệ cao, vũ khí thông minh thế hệ mới, độ chính xác cao, tốc độ nhanh, tầm bắn rộng, sức hủy diệt lớn… Để đối phó với chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao, đòi hỏi phải nâng cao ý chí quyết tâm và khả năng tác chiến của quân đội; 4- Những căng thẳng trong tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ dẫn đến xung đột giữa các bên cùng tuyên bố chủ quyền, điều này sẽ tác động rất lớn đến các tuyến biên giới đất liền. Ngoài ra, những biến động về chính trị, kinh tế, xã hội của các nước láng giềng cũng ảnh hưởng nhất định đến khu vực biên giới, làm tình hình khu vực này thêm phức tạp.

Thứ ba, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế luôn nảy sinh những vấn đề cần xử lý, như mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; nguy cơ lệ thuộc vào bên ngoài, lệ thuộc kinh tế dẫn đến lệ thuộc về chính trị; sự xâm lăng văn hóa, sự xâm nhập của các phản giá trị không phù hợp với đất nước… Mặt khác, quá trình giao lưu, hợp tác kinh tế, thương mại, văn hóa, du lịch, phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ở nước ta, nhất là ở khu vực biên giới làm cho lưu lượng người, phương tiện và hàng hóa qua lại biên giới ngày càng lớn, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhưng lại phát sinh những mâu thuẫn mới có thể gây mất ổn định xã hội. Do đó, bên cạnh yêu cầu bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, cần bảo vệ, chống sự mai một, xói mòn các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại phải đi đôi với bảo vệ, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc ở khu vực biên giới; bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc; chống buôn lậu và gian lận thương mại qua biên giới, bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm; bảo vệ môi trường, nguồn tài nguyên, nhân lực, vật lực của đất nước; phòng, chống thiên tai, dịch bệnh...; bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ trong điều kiện còn nhiều tranh chấp, bất đồng, giữ vững môi trường hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển trong quan hệ với chính phủ và nhân dân các nước ở khu vực biên giới.

Giải quyết và ứng phó với các vấn đề trên đòi hỏi nhân dân và bộ đội biên phòng phải đề cao cảnh giác, có kiến thức toàn diện và tinh thần quyết tâm cao, phát huy sức mạnh nhân tố tinh thần để giữ vững độc lập, tự chủ và chủ quyền quốc gia, dân tộc, thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

HAIVAN