Thứ Sáu, 8 tháng 7, 2022

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Khắc phục bất cập, bịt kín “khoảng trống”, “kẽ hở” để không thể tham nhũng, tiêu cực

 Ngày 30-6-2022, tại Hà Nội, Hội nghị toàn quốc Tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012 - 2022 đã diễn ra với gần 500 đại biểu dự họp trực tiếp và hơn 80.000 đại biểu dự họp trực tuyến tại hơn 4.000 điểm cầu trong cả nước.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; các Ủy viên Bộ Chính trị: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng; Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội Chính Trung ương, Phó trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực Phan Đình Trạc dự hội nghị.

Toàn cảnh hội nghị_Ảnh: TTXVN

Phát huy kết quả và rút kinh nghiệm về công tác đấu tranh, phòng, chống tham nhũng trong các giai đoạn trước, trong 10 năm gần đây, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã được Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, bài bản, ngày càng đi vào chiều sâu, có bước tiến mạnh, đạt nhiều kết quả cụ thể, quan trọng, toàn diện, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội và thực sự “đã trở thành phong trào, xu thế không thể đảo ngược”, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao, được bạn bè quốc tế ghi nhận. Tham nhũng từng bước đã được kiềm chế, ngăn chặn, góp phần quan trọng giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố thêm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, từ thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta thời gian qua, có thể rút ra nhiều bài học quý, có giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn. Tổng Bí thư nhấn mạnh, cần phải nhận thức thật đầy đủ, sâu sắc vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để từ đó có quyết tâm chính trị rất cao, biện pháp rất trúng và phải đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo, tập trung, thống nhất của Đảng, mà trực tiếp, thường xuyên là Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị; Ban Nội chính Trung ương là cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng, phải biến quyết tâm chính trị thành hành động thực tế của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và nhân dân, trước hết là sự gương mẫu, quyết liệt, nói đi đôi với làm của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phòng, chống tham nhũng.

Theo Tổng Bí thư, phòng, chống tham nhũng, là nhiệm vụ rất quan trọng, nhưng cũng vô cùng khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải tiến hành một cách kiên quyết, kiên trì, liên tục, bền bỉ, “không nghỉ”, “không ngừng” ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực; thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự; với những bước đi vững chắc, tích cực, chủ động và có trọng tâm, trọng điểm; phải xây dựng cho được một cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể tham nhũng”; một cơ chế răn đe, trừng trị nghiêm khắc để “không dám tham nhũng”; và một cơ chế bảo đảm để “không cần tham nhũng”.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, phải kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý kịp thời, đồng bộ, nghiêm minh các hành vi tham nhũng; trong đó, phòng ngừa là chính, là cơ bản, lâu dài; phát hiện, xử lý là đột phá, quan trọng. Để chủ động, tích cực phòng ngừa, cần phải tập trung xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách về kinh tế - xã hội, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng, phải gắn công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; gắn phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng... Tổng Bí thư lưu ý, kiểm soát cho được việc thực hiện quyền lực nhà nước, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng; phát huy vai trò nòng cốt và sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, kịp thời, hiệu quả của các cơ quan chức năng phòng, chống tham nhũng. Triển khai có hiệu quả hoạt động phòng, chống tham nhũng ra khu vực ngoài nhà nước; tăng cường hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng”, Tổng Bí thư nhấn mạnh.

Các giải pháp phòng, chống tham nhũng phải phù hợp với bối cảnh, yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và truyền thống văn hóa của dân tộc; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài. Đồng thời, mỗi ngành, cơ quan, đơn vị phải xây dựng được văn hóa công vụ. Văn hóa công vụ sẽ bảo đảm tính chuyên nghiệp, trách nhiệm, minh bạch, hiệu quả trong thực thi nhiệm vụ.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu chỉ đạo tại hội nghị_Ảnh: TTXVN

Về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ, phải tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác giáo dục, tuyên truyền, xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, tiêu cực trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị, phải kiên trì giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức về đức tính liêm khiết, chính trực; xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, tiêu cực. Mọi cán bộ, đảng viên phải ghi nhớ sâu sắc lời căn dặn của Bác Hồ rằng: Đảng ta là đảng cầm quyền; Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Đảng phải luôn luôn dựa vào dân, lắng nghe dân, gắn bó máu thịt với nhân dân; việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm và làm cho bằng được; ngược lại, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh. Việc gì nhân dân không đồng tình, thậm chí căm ghét, phản đối thì phải cương quyết ngăn ngừa, uốn nắn và xử lý nghiêm các sai phạm. Cán bộ, đảng viên, trước hết là người lãnh đạo phải biết trọng liêm sỉ, giữ danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân có hành vi tham nhũng, tiêu cực.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu, phải tăng cường phối hợp, chủ động công khai, kịp thời cung cấp thông tin, định hướng tuyên truyền về phòng, chống tham nhũng; chú trọng thông tin, tuyên truyền về gương người tốt, việc tốt; khắc phục tình trạng thông tin một chiều, thông tin không chính xác, mang tính kích động, gây hoang mang. Những người làm báo tích cực, dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng phải được bảo vệ, khen thưởng, động viên kịp thời; đồng thời kiên quyết vạch trần, phê phán, bác bỏ các luận điệu xuyên tạc, lợi dụng phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để kích động, chia rẽ, chống phá Đảng, Nhà nước ta; xử lý nghiêm việc đưa tin sai sự thật, vu cáo, bịa đặt, gây hậu quả xấu

Thể chế về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, quản lý kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được xây dựng, hoàn thiện đồng bộ; kịp thời khắc phục những bất cập, bịt kín những “khoảng trống”, “kẽ hở” để “không thể tham nhũng, tiêu cực”.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phân tích: “Thể chế nói chung, thể chế về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nói riêng, cùng với chuẩn mực đạo đức trên các lĩnh vực và cơ chế kiểm soát quyền lực là yếu tố cơ bản, nền tảng, có tác dụng ngăn chặn từ gốc hành vi tham nhũng, tiêu cực. Phải xây dựng các quy chế nội bộ của Đảng, các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức áp dụng đối với cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong việc giữ gìn phẩm chất đạo đức, liêm chính, gương mẫu đi đầu trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Phải có cơ chế kiểm soát chặt chẽ việc xây dựng chính sách, pháp luật về quản lý kinh tế - xã hội để hạn chế sự tác động tiêu cực của “nhóm lợi ích”, “sân sau”, “tư duy nhiệm kỳ”; ngăn chặn nguy cơ nảy sinh tham nhũng, tiêu cực ngay từ khi xây dựng chính sách, luật pháp. Khẩn trương hoàn thiện các quy định về kiểm soát quyền lực, trách nhiệm giải trình, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch. Quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu trong kiểm tra, phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực; bảo vệ người tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; khuyến khích và bảo vệ cán bộ, đảng viên, người đứng đầu đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán; đẩy mạnh điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; phát hiện sớm, xử lý nghiêm các vụ việc, vụ án tham nhũng; ngăn chặn có hiệu quả tệ “tham nhũng vặt”; nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lưu ý, tiếp tục hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; cải cách hành chính và xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Tổ chức bộ máy phải tiếp tục kiện toàn, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị có chức năng phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, trước hết là các ban chỉ đạo cấp tỉnh và các cơ quan nội chính từ Trung ương đến địa phương.

Bày tỏ tin tưởng, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong thời gian tới sẽ có bước tiến mới, mạnh mẽ hơn nữa, quyết liệt hơn nữa và đạt hiệu quả cao hơn nữa, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, tham nhũng, tiêu cực nhất định sẽ bị ngăn chặn, đẩy lùi; góp phần xây dựng Đảng ta, Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng và xứng đáng với niềm tin yêu, sự mong đợi của nhân dân. Điều quan trọng có ý nghĩa quyết định là: Nhận thức phải chín; tư tưởng phải thông; quyết tâm phải lớn, phương pháp phải đúng; góp phần từng bước làm chuyển biến tình hình, thực sự có kết quả rõ ràng, cụ thể.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng mong muốn tất cả những cán bộ cốt cán của Đảng và Nhà nước hãy nêu cao tinh thần trách nhiệm và dũng khí trước Đảng, trước nhân dân và đất nước, gương mẫu, đi đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực./.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 08 THÁNG 7 NĂM 1958!

     “Vào Đảng, vào Đoàn không phải để làm “quan” cách mạng, hay là để nói chính trị suông. Tất cả đảng viên và đoàn viên phải ra sức tăng gia sản xuất, thực hành các chính sách của Đảng và Chính phủ”!
     Là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Nói chuyện tại hội nghị sản xuất tỉnh Sơn Tây” (nay thuộc thành phố Hà Nội), ngày 08 tháng 7 năm 1958. Đây là thời kỳ đầu sau khi miền Bắc tiến hành cải cách ruộng đất, xây dựng hợp tác xã, khôi phục sản xuất và khắc phục hậu quả chiến tranh. Người muốn nhắc nhở đội ngũ cán bộ, đảng viên, đoàn viên tỉnh Sơn Tây nói riêng, cả nước nói chung về trách nhiệm và quyết tâm trong lãnh đạo phát triển sản xuất; cần phải gương mẫu, tích cực, chủ động, sáng tạo, nói đi đôi với làm, triệt để tham gia vào tổ đổi công, bằng những việc làm cụ thể để “làm đầu tàu lôi cuốn quần chúng tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm” nhằm khắc phục những yếu kém trong sản xuất ở vụ trước để vụ sau giành kết quả cao hơn. Cán bộ, đảng viên, đoàn viên phải thực sự là những người tiền phong, gương mẫu trong thực hành các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, có phong cách làm việc cụ thể, tỉ mỉ, sâu sát quần chúng, biết làm gương và hướng quần chúng vào thực hiện tốt những nhiệm vụ trọng tâm trong từng thời kỳ nhất định.
     Lời dạy của Người đã động viên, khích lệ cán bộ, đảng viên, đoàn viên trong cả nước đề cao trách nhiệm chính trị, tích cực hăng hái tham gia vào các tổ chức ở địa phương, đơn vị, thực sự là nòng cốt thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, nhiệm vụ của địa phương và cơ quan, đơn vị. Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sự làm gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đoàn viên, đến năm 1960 đời sống của nhân dân miền Bắc đã từng bước ổn định, ý thức chính trị được nâng cao, kinh tế được khôi phục, văn hóa, giáo dục, y tế ngày càng phát triển.
     Quán triệt, thực hiện lời dạy của Bác, mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên phụ nữ trong quân đội hiện nay phải luôn gương mẫu đi đầu trong chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật quân đội; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, các cuộc vận động của các cấp, các ngành. Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; những biểu hiện quan liêu, xa dân, vi phạm dân chủ, nói không đi đôi với làm. Cán bộ, đảng viên, nhất là các đồng chí cán bộ chủ trì các cơ quan, đơn vị phải nêu cao tính tiền phong gương mẫu, thực hiện miệng nói tay làm, làm tốt, làm có hiệu quả cao, gương mẫu trong học tập, công tác và trong sinh hoạt, xông pha trong mọi nhiệm vụ nhất là những nhiệm vụ khó khăn, gian khổ để làm gương cho bộ đội noi theo./.
Môi trường ST.

Học viện Lục quân kiên trì, đổi mới công tác hiệp đồng đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 Thời gian qua, Học viện Lục quân (Học viện) đã phối hợp với các học viện, nhà trường, cơ quan, đơn vị, tỉnh, thành phố phía Nam triển khai thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đạt được những kết quả tích cực. Trước yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, Học viện tiếp tục kiên trì, đổi mới công tác hiệp đồng với các lực lượng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiểm tra công tác đào tạo, huấn luyện tại Học viện Lục quân_Ảnh: TTXVN

Một số kết quả nổi bật trong công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ cấp thiết trong giai đoạn cách mạng hiện nay, nhằm bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Đây là nhiệm vụ mang tính sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, là công việc tự giác, thường xuyên của cả hệ thống chính trị, trong đó có sự góp sức của Học viện Lục quân.

Hơn 75 năm qua, Học viện Lục quân đã đào tạo hàng vạn cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong quân đội, nhiều đồng chí trở thành cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước và quân đội; đồng thời đóng góp xứng đáng vào nhiệm vụ đào tạo cán bộ giúp Quân đội nhân dân cách mạng Lào và Quân đội Hoàng gia Campuchia, góp phần xây dựng và vun đắp tình đoàn kết gắn bó giữa ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia. Học viện là cơ sở giáo dục - đào tạo cán bộ trung, cao cấp của quân đội, đồng thời có nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi, hoàn thành nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống, trong đó có sự phối hợp với các học viện, nhà trường, cơ quan, đơn vị các tỉnh, thành phố phía Nam để nhân lên sức mạnh tổng hợp, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiệu quả, đạt được những kết quả tích cực trên một số mặt công tác:

Thứ nhất, tăng cường các biện pháp giáo dục để cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ của Học viện có bản lĩnh chính trị vững vàng, có kiến thức, kỹ năng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhận diện đúng bản chất, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, để từ đó có hình thức, biện pháp đấu tranh phù hợp, hiệu quả. Học viện đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trực thuộc bám sát thực tiễn, tăng cường quản lý nội bộ, chất lượng chính trị, tư tưởng, phẩm chất, năng lực của cán bộ, học viên, nhân viên, chiến sĩ để giáo dục, định hướng nhận thức, tư tưởng đúng đắn, phòng ngừa những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Tập huấn kỹ năng, phương pháp và tổ chức hoạt động đấu tranh chặt chẽ, do đó các chủ thể tham gia đấu tranh, nhất là lực lượng nòng cốt, chuyên sâu của Học viện luôn có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, nhạy bén trong việc nắm thông tin, kịp thời, sắc bén trong phản bác các quan sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ hai, tổ chức tốt hoạt động nghiên cứu khoa học, góp phần làm sáng rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong những năm qua, công tác nghiên cứu khoa học quân sự, khoa học xã hội và nhân văn quân sự của Học viện đạt được kết quả tốt, nhiều đề tài khoa học, tài liệu, giáo trình đã biên soạn được đánh giá xuất sắc; trong đó có những đề tài, hội thảo khoa học trực tiếp góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận, thực tiễn và cung cấp những luận cứ khoa học để cập nhật bổ sung vào bài giảng truyền thụ cho học viên nội dung mới về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời kỳ mới. Công tác thông tin chuyên đề khoa học quân sự có nền nếp, hoạt động đấu tranh trên không gian mạng, trên chuyên trang thông tin điện tử của Học viện đã kịp thời lan tỏa những thông tin tích cực, chính thống, góp phần nâng cao nhận thức, định hướng tư tưởng và hành động đúng đắn của cán bộ, chiến sĩ.

Thứ ba, phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương, địa bàn đóng quân nắm chắc tình hình, nhận diện đúng âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch để có hình thức, biện pháp đấu tranh đúng đắn, kịp thời. Học viện đã chỉ đạo các cơ quan chức năng chuyên trách của mình thường xuyên phối hợp nắm chắc tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn đóng quân, địa bàn luyện tập, diễn tập ở một số tỉnh, thành phố miền Đông Nam Bộ để nhận diện đúng thủ đoạn của kẻ thù, kết nối, chia sẻ thông tin, phản bác, đấu tranh với các quan điểm sai trái kịp thời. Trong quý I-2021, Học viện đã viết hơn 60.800 bài viết, hơn 2.000 lượt bình luận, 33.500 lượt chia sẻ, tương tác với các bài viết tích cực, góp phần chủ động trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, “làm loãng” những thông tin xấu, độc. Một số trang, nhóm của Học viện được xếp thứ hạng cao trong toàn quân về số bài viết có chất lượng và lượng truy cập, chia sẻ như: nhóm “Đàn bên súng”, trang “Nhận định sự thật”… Vì vậy, hoạt động đấu tranh đạt kết quả tốt, cả chất lượng và phạm vi trên địa bàn rộng lớn.

Thứ tư, chủ động kiện toàn Ban Chỉ đạo 35 của Đảng ủy, Lực lượng 47 và các lực lượng nòng cốt của Học viện để vừa đấu tranh có hiệu quả, vừa tuyên truyền, giáo dục, định hướng nhận thức, tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị và nhân dân trên địa bàn đóng quân.

GS, TS. Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương chủ trì Hội thảo khoa học với chủ đề “Các tỉnh, thành phố phía Nam với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” theo hình thức trực tuyến do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp với Học viện Lục quân (Bộ Quốc phòng) tổ chức_Ảnh: TTXVN

Để công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới ngày càng hiệu quả và đi vào chiều sâu

Nghị quyết số 35-NQ/TW nêu rõ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Ðó là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân. Trong tình hình mới, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tăng cường chống phá, với âm mưu, thủ đoạn ngày càng thâm độc, tinh vi. Do đó, hoạt động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đặt ra yêu cầu cao hơn, cấp thiết hơn, trực diện hơn cả trong thực tiễn và trên không gian mạng, đòi hỏi ngày càng hiệu quả và đi vào chiều sâu. Vì vậy, Học viện xác định cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tập trung sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chặt chẽ, đạt chất lượng, hiệu quả cao nhất nhiệm vụ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng của cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Học viện Lục quân lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2020 - 2025 xác định: “Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ban Chỉ đạo 35 và Lực lượng 47 trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trên internet, mạng xã hội; không để xảy ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Học viện, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng trong quân đội và Học viện”. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đó, phải triển khai đồng bộ nhiều nội dung, biện pháp, mà trước hết và trên hết là kiên trì giữ vững nguyên tắc, mục tiêu đấu tranh; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng, xây dựng các chủ thể, trực tiếp là lực lượng nòng cốt vững vàng về bản lĩnh, phương pháp đấu tranh sắc bén, nội dung đấu tranh có cơ sở khoa học chặt chẽ, thuyết phục, hình thức đấu tranh phong phú, phù hợp với nhận thức, trình độ của đối tượng tác động.

Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên có chất lượng cao, mẫu mực trong mọi lĩnh vực hoạt động, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên của Học viện là yếu tố quyết định đến chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ cấp chiến thuật, chiến dịch của quân đội ta và công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn; đồng thời là lực lượng “tiên phong” trong hoạt động đấu tranh, giữ vững niềm tin và “truyền lửa” nhiệt huyết cho các thế hệ học viên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Vì vậy, Học viện chú trọng thực hiện đồng bộ, chặt chẽ, khách quan quy trình công tác cán bộ, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, thử thách, quy hoạch, bổ nhiệm chức vụ và giao nhiệm vụ cho cán bộ; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giảng viên trẻ, quan tâm đúng mức đến công tác phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng, bổ nhiệm đối với những nhân tố mới, tích cực. Trong quá trình đó, chú trọng xây dựng môi trường thuận lợi để đội ngũ cán bộ, giảng viên tự giác tu dưỡng lý tưởng cách mạng, rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, trau dồi chuyên môn, nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức, kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, mục tiêu chiến đấu của quân đội.

Ba là, nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo đội ngũ cán bộ chỉ huy tham mưu binh chủng hợp thành cấp trung, sư đoàn, cán bộ quân sự cấp huyện (quận, thành phố thuộc tỉnh), cấp tỉnh, thành phố có đủ phẩm chất, năng lực hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao. Mục tiêu đào tạo cán bộ tại Học viện sau khi tốt nghiệp ra trường đảm nhiệm chức vụ ban đầu là trung (lữ) đoàn trưởng, chỉ huy trưởng cơ quan quân sự cấp huyện; tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng để phát triển ở chức vụ cao hơn. Vì vậy, các đồng chí chỉ huy trưởng bộ chỉ huy quân sự tỉnh, thành phố, cùng cán bộ cấp phó, chỉ huy các cơ quan và hơn 700 chỉ huy trưởng cơ quan quân sự cấp huyện chính là đội ngũ cán bộ nòng cốt, cùng với chính ủy, chính trị viên lãnh đạo, chỉ huy đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ; tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương trong thực hiện nhiệm vụ quân sự - quốc phòng, bảo vệ cấp ủy đảng và hệ thống chính trị, đồng thời đây cũng là lực lượng hùng hậu trên mặt trận đấu tranh tư tưởng. Học viện đã chủ động đổi mới toàn diện chương trình, phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, trọng tâm là xây dựng nội dung, chương trình đào tạo đạt chuẩn, khoa học, sát thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, tăng cường huấn luyện thực hành, năng lực chỉ huy tham mưu tác chiến, trong đó nội dung học tập về công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo đảm học viên tốt nghiệp ra trường có phẩm chất tốt, có tư duy quân sự, năng lực chỉ huy đơn vị hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Bốn là, thực hiện tốt nhiệm vụ phối hợp với các học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội, các cơ quan, đơn vị các tỉnh, thành phố phía Nam đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng, bởi sự gắn kết, hiệp đồng giúp kịp thời chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, phối hợp, tổ chức lực lượng, nguồn lực, phương tiện, tạo ra sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái. Vì vậy, việc ký kết quy chế phối hợp giữa các học viện, nhà trường, cơ quan, đơn vị các tỉnh, thành phố phía Nam nhằm tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới là cấp thiết và mang lại hiệu quả thiết thực./.

Đổi mới cơ chế hoạt động và tài chính của các cơ sở giáo dục đại học công lập, đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát triển giáo dục và đào tạo

 Đổi mới cơ chế hoạt động và tài chính trong các cơ sở giáo dục đại học công lập là một tất yếu khách quan, phù hợp với sứ mệnh đổi mới sáng tạo và xu thế tự chủ đại học trên thế giới. Quá trình này gặp không ít khó khăn, thách thức. Vấn đề quan trọng là làm sao phát huy được vai trò kiến tạo, giám sát, kiểm tra và quản lý của Nhà nước; sự chủ động, tích cực và trách nhiệm của các cơ sở giáo dục đại học.

Cơ sở lý luận, chính trị - pháp lý và thực tiễn

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động đến hầu hết ngành, lĩnh vực sản xuất dựa trên nền tảng kỹ thuật, công nghệ đặc trưng (trí tuệ nhân tạo (AI), internet kết nối vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (big data), công nghệ chuỗi khối (blockchain)); do vậy, tạo nên chuỗi sản phẩm với năng suất, chất lượng cao, làm biến đổi mạnh mẽ, nhanh chóng nền kinh tế thế giới. Mô hình tăng trưởng theo chiều rộng (dựa vào tài nguyên, lao động, vốn) đang chuyển sang tăng trưởng theo chiều sâu (dựa trên kinh tế tri thức) dẫn đến thay đổi cung - cầu, đòi hỏi nguồn nhân lực trình độ cao, tư duy sáng tạo và kỹ năng làm việc hiệu quả.

Đổi mới cơ chế hoạt động và tài chính trong các cơ sở giáo dục đại học công lập phù hợp với sứ mệnh đổi mới sáng tạo và xu thế tự chủ đại học trên thế giới_Ảnh: TTXVN

Bối cảnh đó đặt ra yêu cầu mới và cao hơn đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục. Xét ở góc độ người học đòi hỏi chất lượng giáo dục với mức học phí phù hợp. Xét ở góc độ doanh nghiệp đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao, có sức cạnh tranh trên thị trường lao động toàn cầu. Đặc biệt, bối cảnh, yêu cầu phát triển mới đòi hỏi phải đổi mới cơ chế hoạt động và tài chính của các cơ sở giáo dục công lập đáp ứng yêu cầu chuyển đổi mô hình đại học truyền thống sang mô hình giáo dục đại học 4.0 (Education 4.0) dựa trên nền tảng đổi mới sáng tạo.

Về cơ sở lý luận, cơ chế hoạt động và tài chính gắn với mô hình tổ chức, cơ chế quản trị nội bộ nhằm thực hiện sứ mệnh, mục tiêu chiến lược phát triển của cơ sở giáo dục đại học. Theo lý thuyết hệ thống, quản trị đại học là sự phối hợp giữa nhà nước, thị trường và giới học thuật trong tổ chức, vận hành các mô hình quản trị đại học để thích ứng với bối cảnh, yêu cầu phát triển.

Về cơ sở chính trị - pháp lý, Nhà nước đã thể chế hóa đường lối, chủ trương đổi mới giáo dục và đào tạo theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4-11-2013, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” (gọi tắt là Nghị quyết số 29-NQ/TW), ban hành Luật số 34/2018/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học năm 2012, Nghị quyết số 77/NQ-CP, ngày 24-10-2014, của Chính phủ, “Về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập giai đoạn 2014 - 2017” và các văn bản khác.

Về cơ sở thực tiễn, kết quả đổi mới cơ chế hoạt động và tài chính của các cơ sở giáo dục đại học công lập qua gần 10 năm đổi mới giáo dục và đào tạo theo Nghị quyết số 29-NQ/TW có thể khái quát như sau: 

Một là, tạo chuyển biến về nhận thức, nâng cao năng lực tự chủ gắn với đổi mới quản trị đại học; công nhận các hình thức sở hữu, đầu tư; từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý, trong đó xác lập vị trí, vai trò của hội đồng trường trong cơ chế hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học.

Hai là, bước đầu hình thành hành lang pháp lý, cơ chế hoạt động chuyển từ “tập trung, quan liêu, bao cấp” sang tăng quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học (các đại học quốc gia có quyền tự chủ cao nhất, các đại học vùng có quyền tự chủ cao, từ đó phân quyền cho các cơ sở giáo dục thành viên), tạo điều kiện cho các cơ sở giáo dục đại học công lập cân đối nguồn lực và yêu cầu phát triển.

Ba là, thúc đẩy, khuyến khích, tạo điều kiện đổi mới quản trị và tự chủ đại học của các cơ sở giáo dục đại học; tạo chuyển biến từng bước nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học, phát triển tiềm lực đội ngũ, bảo đảm chất lượng, kiểm định và hội nhập theo chuẩn quốc tế. Một số trường đại học đã tiên phong triển khai các chương trình chất lượng cao, chương trình tiên tiến, liên kết quốc tế. Đây là tiền đề, kinh nghiệm tốt để đào tạo nhân lực chất lượng cao.

Bên cạnh đó, thực tế đổi mới cơ chế hoạt động và tài chính của các cơ sở giáo dục đại học công lập những năm qua cũng bộc lộ không ít khó khăn, bất cập cần nhận diện, tháo gỡ, đó là: 

Nhận thức về quản trị đại học chưa được nghiên cứu đầy đủ để vận dụng phù hợp hoặc chỉ chú trọng các hoạt động bên trong của cơ sở giáo đục đại học mà coi nhẹ mối quan hệ, tương tác với các bên liên quan hoặc chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, chưa huy động được nhiều nguồn lực xã hội đáng kể ngoài ngân sách nhà nước. Đội ngũ lãnh đạo, quản lý của các cơ sở giáo dục đại học mới chú trọng tiêu chuẩn về trình độ, năng lực lãnh đạo nội bộ, chưa được bồi dưỡng, đánh giá năng lực thực tiễn thực thi cơ chế, chính sách quản trị đại học với đặc thù là doanh nghiệp giáo dục - khoa học, đổi mới sáng tạo.

Đổi mới quản trị đại học chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học. Hiện nay, Việt Nam chưa có trường đại học xếp thứ hạng cao trong các bảng xếp hạng đại học uy tín thế giới (các đại học quốc gia cũng mới hiện diện trong tốp trên dưới 1.000).

Hệ thống pháp lý chưa thực sự đồng bộ, hoàn thiện, để phát huy hiệu quả tự chủ đại học. Nhận thức về tự chủ đại học của các bộ, ngành, của cán bộ lãnh đạo, quản lý các cơ sở giáo dục đại học còn khác nhau, có trường hợp chỉ thiên về đòi quyền tự chủ, nhưng vẫn muốn duy trì cơ chế quản trị nội bộ như trước hoặc chỉ chú trọng tự chủ tài chính trong khi năng lực chưa đáp ứng yêu cầu tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình, nhưng cũng có quan điểm “tự chủ” là “tự lo”. Luật số 34/2018/QH14 mở rộng quyền tự chủ trong khi một số luật khác chưa điều chỉnh theo kịp khiến việc tổ chức thực hiện thiếu đồng bộ, lúng túng, bất cập (bộc lộ sai sót, bất cập ở một số cơ sở giáo dục đại học được thí điểm tự chủ; có vấn đề nhận thức theo Luật số 34/2018/QH14 là đúng nhưng chiếu theo các luật, quy định khác thì không đúng dẫn đến rủi ro khi triển khai tự chủ đại học theo đúng nghĩa của phạm trù này).

Cần xây dựng cơ chế phân định rõ mối quan hệ giữa đảng ủy, ban giám hiệu, hội đồng trường. Đảng ủy trong các cơ sở giáo dục đại học công lập lãnh đạo toàn diện về chủ trương, đường lối, công tác tổ chức, nhân sự, kiểm tra, giám sát... Đây là tính đặc thù của các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam. Do đó, hội đồng trường dù luật quy định là thể chế quan trọng, nhưng chức năng, quyền hạn nhiều mặt có sự chồng chéo với vai trò lãnh đạo của cấp ủy nên hội đồng trường khó phát huy vai trò của mình. Hơn nữa, cần có quy định có tính ràng buộc giữa tự chủ với trách nhiệm giải trình, công khai, minh bạch toàn bộ hoạt động của nhà trường để xã hội và người học tham gia giám sát.

Về cơ chế tài chính. Để phát triển cơ sở giáo dục đại học đòi hỏi đầu tư lớn, nhất là cho việc phát triển đội ngũ, cơ sở vật chất... Hiện nguồn thu của các cơ sở giáo dục đại học công lập bao gồm: kinh phí của Nhà nước (chủ yếu phục vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học), kinh phí các đề tài, dự án khoa học - công nghệ (từ các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp), kinh phí tư vấn, chuyển giao khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, học phí và các loại phí (có mức trần học phí và lộ trình tăng học phí theo quy định của Nhà nước), nguồn thu từ hoạt động dịch vụ, tài trợ và xã hội khác.

Trong điều kiện ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, đòi hỏi phải có cơ chế tài chính phù hợp để các cơ sở giáo dục đại học công lập huy động các nguồn lực khác phát triển. Nghị định số 60/2021/NĐ-CP, ngày 21-6-2021, của Chính phủ, “Quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập” đã phân loại các đơn vị sự nghiệp công lập thành 4 nhóm tương ứng với quyền tự chủ khác nhau theo 4 nhóm tương ứng, đó là: 1- Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; 2- Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên; 3- Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm một phần chi thường xuyên; 4- Đơn vị sự nghiệp công do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên. Đây là cơ hội để cơ cấu lại, sắp xếp các cơ sở giáo dục đại học công lập hiệu quả, giảm bớt “gánh nặng” cho ngân sách nhà nước.

Hiện nay, nguồn thu của các cơ sở giáo dục đại học chủ yếu là từ học phí chính quy dẫn đến bất cập muốn tăng nguồn thu thì phải tăng quy mô đào tạo, điều này ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo. Việc khống chế trần học phí để bảo đảm cơ hội học tập cho mọi đối tượng người học nhưng trên thực tế, khi các cơ sở giáo dục đại học công lập “thu không đủ chi”, chênh lệch học phí đáng kể giữa đại học công, tư hoặc các đại học thí điểm tự chủ với chưa tự chủ dẫn đến hiện tượng “vượt rào” thu các khoản ngoài quy định hoặc thiếu công khai, minh bạch trong thu - chi. Việc duy trì mức học phí thấp trong thời gian dài cùng với tác động do đại dịch COVID-19 dẫn đến thiếu hụt tài chính để thu hút, “giữ chân” giảng viên giỏi, dẫn đến “chảy máu chất xám”. Nhận thức tự chủ tài chính đồng nghĩa với “tự lo” về chi thường xuyên và đầu tư nên các cơ sở giáo dục đại học công lập tự chủ thường chỉ quan tâm đến tăng học phí để bù đắp kinh phí cắt giảm từ ngân sách mà ít quan tâm đến các vấn đề khác. Như vậy, mục tiêu bảo đảm công bằng giáo dục theo định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ dần thay đổi về bản chất.

Định hướng và giải pháp

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh: “Xây dựng đồng bộ thể chế, chính sách để thực hiện có hiệu quả chủ trương giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước”(1). Trên cơ sở đó, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 xác định phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển nguồn nhân lực, giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế.

Sinh viên Đại học Kinh tế quốc dân trong ngày tốt nghiệp_Ảnh: TTXVN

Để khắc phục hạn chế, bất cập trên; thúc đẩy kiến tạo cơ chế, chính sách cho các cơ sở giáo dục đại học thực hiện hiệu quả cơ chế hoạt động và tài chính làm “đòn bẩy” đáp ứng yêu cầu phát triển, hội nhập quốc tế, cần tập trung thực hiện một số nhóm giải pháp chủ yếu sau:

Thứ nhất, quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục đại học.

Hệ thống cơ sở giáo dục đại học nước ta hiện nay có quá nhiều trường đại học, phần lớn quy mô nhỏ, đơn ngành nên không phù hợp với bối cảnh thế giới đầy biến động và xếp hạng quốc tế. Trước đây, địa phương nào cũng muốn có trường đại học để đào tạo nhân lực tại chỗ, đến nay hầu hết các trường đại học của địa phương gặp khó khăn trong tuyển sinh, hoạt động, khó bảo đảm năng lực đổi mới cơ chế hoạt động và tài chính. Tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến lãng phí về nguồn lực trong giáo dục đại học.

Để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là thích ứng với bối cảnh của thế giới nhiều thay đổi, Chính phủ cần quy hoạch lại mạng lưới trường đại học một cách hợp lý về số lượng, bảo đảm cân đối, hài hòa giữa các vùng, miền trên cơ sở sắp xếp, sáp nhập để hình thành các đại học lớn, đa ngành, đa lĩnh vực, nhất là ưu tiên tập trung đầu tư phát triển các đại học quốc gia, đại học vùng và một số trường đại học trọng điểm làm nòng cốt cho hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.

Trong điều chỉnh quy hoạch mạng lưới lần này, cần phát triển Đại học Đà Nẵng thành Đại học Quốc gia Đà Nẵng để đảm nhận sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho khu vực miền Trung - Tây Nguyên. Đầu tư trọng tâm, trọng điểm để các trường đại học phải thực sự là một trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trung tâm nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ. Trường đại học phải có vai trò quan trọng trong việc xây dựng, góp ý, phản biện chính sách phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nói riêng và đất nước nói chung. 

Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý về tự chủ đại học.

Để đổi mới cơ chế hoạt động và tài chính, hoàn thiện cơ sở pháp lý về tự chủ đại học, cần tiếp cận dựa trên quan điểm sở hữu. Đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập do Nhà nước đầu tư, bảo đảm điều kiện hoạt động và là đại diện chủ sở hữu nên phải chịu sự quản lý của Nhà nước về tiêu chuẩn cán bộ, định mức; chịu sự thanh tra, giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước về thực hiện chức năng, nhiệm vụ, không thể giao phó chỉ cho một người là hiệu trưởng hoặc một số người (hội đồng).

Vì vậy, quan điểm xóa bỏ chủ quản của các bộ, ngành liên quan mà giao quyền chủ quản cho hội đồng trường là vấn đề lớn, cần được tiếp tục quan tâm nghiên cứu thấu đáo, phải có thí điểm, có tổng kết, đánh giá nghiêm túc trước khi thực hiện đại trà. Tuy nhiên, để phát huy tính tự chủ, năng động, sáng tạo, “dám nghĩ, biết làm” của các cơ sở giáo dục đại học công lập, cần phải đổi mới cơ chế tài chính nhằm huy động và sử dụng các nguồn lực xã hội có hiệu quả để phát triển giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập. Đối với các cơ sở giáo dục đại học tư thục và các trường quốc tế, do tài sản thuộc về các cổ đông, người góp vốn nên nhà nước chỉ quan tâm đến việc tăng cường thanh tra, giám sát để bảo đảm chất lượng giáo dục theo đúng mục tiêu, yêu cầu trong toàn hệ thống.

Hội đồng trường trong các cơ sở giáo dục đại học công lập cần được hoàn thiện theo quy định của Luật số 34/2018/QH14 sửa đổi, bổ sung và tạo điều kiện để hội đồng trường phát huy vai trò của mình, góp phần bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch các chủ trương, chính sách quan trọng của nhà trường và có thêm cơ chế tham gia giám sát nhưng cũng không tuyệt đối hóa vai trò của hội đồng trường vì đặc thù ở các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam còn có vai trò lãnh đạo và giám sát của các cấp ủy.

Thứ ba, đổi mới cơ chế hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học công lập.

Đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức về tự chủ đại học gắn liền với trách nhiệm giải trình, trách nhiệm xã hội; bảo đảm các điều kiện, năng lực cần thiết mới giao quyền tự chủ. Nội dung tự chủ đại học không thiên về tài chính mà cần đồng bộ, toàn diện các mặt từ tổ chức, nhân sự, học thuật đến quản lý tài chính, cơ sở vật chất và đầu tư.

Giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học trong tuyển sinh theo Luật số 34/2018/QH14, tạo điều kiện bảo đảm nguồn thu chủ yếu từ học phí nhưng phải cam kết các điều kiện, năng lực tuyển sinh và chất lượng đào tạo, công khai, minh bạch, chịu sự đánh giá, giám sát của xã hội. Cơ quan quản lý nhà nước đưa ra “thước đo” làm cơ sở giao quyền tự chủ.

Xây dựng cơ chế, chính sách đổi mới cơ chế hoạt động trong chiến lược phát triển cơ sở giáo dục đại học để kiến tạo hệ sinh thái đổi mới quản trị và tự chủ đại học gắn với văn hóa chất lượng; chú trọng kiểm định chất lượng giáo dục và xếp hạng đại học phải thực chất hơn nữa, chú trọng cải tiến, khắc phục hạn chế đã nhận diện sau kiểm định vì mục tiêu phát triển bền vững.

Xây dựng cơ chế phối hợp giữa trường đại học và các viện nghiên cứu trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ và các viện hàn lâm để tận dụng thế mạnh về con người và trang thiết bị của mỗi đơn vị nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, nghiên cứu khoa học. Điều này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư.

Sinh viên Trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh thực nghiệm khoa học_Nguồn: thanhnien.vn

Thứ tư, đổi mới cơ chế tài chính các cơ sở giáo dục đại học công lập.

Xây dựng cơ chế tài chính theo hướng cơ sở giáo dục đại học được tính đủ chi phí trả lương, chi thường xuyên tương ứng với khung giá dịch vụ quy định trên nguyên tắc “lấy thu bù chi” để cân đối, có tích lũy để phát triển; được quyết định mức thu - chi học phí nhưng phải tương xứng với chất lượng, dịch vụ được các bên liên quan và xã hội giám sát, công nhận.

Cải tiến cơ cấu đầu tư từ ngân sách nhà nước theo hướng giảm dần chi thường xuyên theo nguyên tắc cơ sở giáo dục đại học nào đủ năng lực tự chủ, bảo đảm kinh phí thường xuyên, đầu tư thì được giao quyền tự chủ theo cơ chế doanh nghiệp đặc thù trong giáo dục và đào tạo. Bên cạnh đó, tạo cơ chế để các trường chủ động, sáng tạo huy động các nguồn lực thay thế.

Nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế phân bổ ngân sách dựa trên hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật, kết quả đánh giá, kiểm định chất lượng giáo dục các cơ sở giáo dục đại học công lập để phân bổ đầu tư, hướng đến cơ chế “đặt hàng” đào tạo, thực hiện các nhiệm vụ quốc gia.

Tham khảo kinh nghiệm các nước giao ngân sách theo cơ chế cạnh tranh, tạo cơ hội bình đẳng tiếp cận ngân sách không phân biệt mô hình đại học quốc gia, đại học vùng hay các trường đại học khác. Trường nào đào tạo và nghiên cứu khoa học tốt, kết quả kiểm định và xếp hạng theo chuẩn quốc gia/quốc tế cao thì ưu tiên đầu tư để khuyến khích, nâng cao chất lượng.

Nhà nước hỗ trợ các đối tượng chính sách, khó khăn chuyển từ gián tiếp thông qua cơ sở giáo dục đại học sang trực tiếp người học để tuỳ điều kiện chọn cơ sở đào tạo phù hợp; tăng học bổng cho học sinh, sinh viên tài năng thể hiện tính ưu việt, công bằng trong giáo dục.

Thứ năm, tăng cường công tác kiểm định chất lượng giáo dục.

Hoàn thiện hệ thống kiểm định, coi đây là công cụ để đánh giá, giám sát cơ chế hoạt động và hiệu quả cơ chế tài chính của các cơ sở giáo dục đại học công lập, do đó cần tổ chức thực hiện nghiêm túc bởi các tổ chức uy tín, chịu sự giám sát, thẩm định độc lập của các cơ quan, tổ chức, không để hình thức, nể nang, thiếu thực chất. 

Định chế hóa phát huy vai trò của hội đồng trường, sự giám sát, phản biện của người học và cộng đồng thông qua tổ chức, hội đoàn. Kiên quyết, kiên trì xử lý các cơ sở giáo dục đại học không bảo đảm năng lực, điều kiện tuyển sinh, đào tạo, nghiên cứu khoa học; dừng tuyển sinh, sáp nhập, giải thể các cơ sở đào tạo vi phạm nghiêm trọng, kéo dài, mất uy tín, không có khả năng khắc phục; chuyển đổi các ngành không thể tuyển sinh, bảo đảm chất lượng.

Để thực hiện các nhóm giải pháp nêu trên, Nhà nước cần tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách quản lý, giám sát, kiểm tra; thể hiện rõ vai trò kiến tạo, hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy, làm “bà đỡ” cho đổi mới cơ chế hoạt động và tài chính; xây dựng cơ chế quản lý dựa trên chủ sở hữu đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập. Các cơ sở giáo dục đại học tích cực, chủ động chuẩn bị các điều kiện phù hợp với cơ chế thị trường; phát huy sự năng động, sáng tạo nhưng phải tuân thủ nghiêm quy định của pháp luật, sử dụng hiệu quả các nguồn lực để nâng cao năng lực cạnh tranh, hội nhập quốc tế./.

-----------------

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 136

Phát huy hiệu quả nguồn lực tôn giáo ở Việt Nam

 Nguồn lực tôn giáo (NLTG) có ý nghĩa to lớn trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, việc phát huy NLTG ở Việt Nam vẫn còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng. Bài viết đề xuất các kiến nghị đối với Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các địa phương và các tổ chức tôn giáo nhằm phát huy hơn nữa hiệu quả NLTG ở Việt Nam.

Phát huy hiệu quả nguồn lực tôn giáo ở Việt Nam

Các đại biểu tại cuộc gặp mặt chức sắc, chức việc tôn giáo tiêu biểu, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc năm 2019 - Ảnh: xaydungdang.org.vn

Quan điểm, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là khẳng định những giá trị văn hóa, đạo đức của tôn giáo, tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo pháp luật, đóng góp cho lĩnh vực giáo dục, y tế, từ thiện, nhân đạo. Đảng nêu rõ: “Giải quyết việc tôn giáo tham gia thực hiện chủ trương xã hội hóa các hoạt động y tế, văn hóa, xã hội, giáo dục... của Nhà nước, theo nguyên tắc: Khuyến khích các tôn giáo đã được thừa nhận tham gia phù hợp với chức năng, nguyên tắc tổ chức của mỗi tôn giáo và quy định của pháp luật. Cá nhân tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành tham gia với tư cách công dân thì được khuyến khích và tạo điều kiện thực hiện theo quy định của pháp luật”(1). Tại Đại hội XIII, Đảng tiếp tục khẳng định: “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước”(2). Đây là quan điểm mới, có tính đột phá của Đảng về NLTG và phát huy NLTG cần được triển khai sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và xã hội, đặc biệt thể chế hóa thành chính sách, pháp luật về NLTG.

Trong thời gian qua, Việt Nam đã phát huy được nhiều NLTG cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, góp phần chăm lo đời sống tinh thần, vật chất của nhân dân, đặc biệt là người nghèo, trẻ em mồ côi, người già không nơi nương tựa, người nhiễm HIV/AIDS, bệnh nhân nặng thông qua hoạt động xã hội, giáo dục, y tế, từ thiện, nhân đạo do các tôn giáo đảm nhiệm. Tuy nhiên, việc phát huy NLTG vẫn còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng của các tôn giáo. Để nâng cao hơn nữa hiệu quả phát huy NLTG cần giải quyết một số vấn đề cụ thể sau:

1. Đối với Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Một là, bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật về tôn giáo, tín ngưỡng

Trong những năm qua, chính sách, pháp luật về NLTG đã có nhiều đổi mới, nhưng vẫn còn thiếu cụ thể, nên khó áp dụng trong phát huy NLTG. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã được ban hành và thực hiện từ đầu năm 2018, nhưng không ít đồng bào tôn giáo và một số nhà quản lý, nhà khoa học vẫn nhận thấy luật còn nặng về quản lý hành chính thuần túy đối với tôn giáo, chưa thật sự coi trọng việc phát huy những giá trị tốt đẹp, tích cực của tôn giáo; một số quy định tính khả thi thấp. Cụ thể: Luật quy định tổ chức tôn giáo được tham gia các hoạt động giáo dục, đào tạo, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo theo quy định của pháp luật có liên quan, song Quốc hội, Chính phủ chưa sửa đổi, bổ sung, xây dựng mới một số luật, văn bản dưới luật liên quan đến tôn giáo, tín ngưỡng, như Luật Giáo dục, Luật Phòng chống HIV, AIDS, Luật Khám, chữa bệnh và một số quy định về bảo trợ xã hội... nên các tôn giáo chưa có đủ cơ sở pháp lý toàn diện và rộng mở cho việc phát huy nguồn lực của mình.

Về quan điểm, cần khẳng định NLTG là một nguồn lực xã hội quan trọng và khuyến khích các tổ chức tôn giáo hoạt động từ thiện, nhân đạo, kinh tế, văn hóa, xã hội như những thành phần xã hội khác. Quan điểm này thể hiện sự nhìn nhận khách quan và giúp thống nhất nhận thức của hệ thống chính trị và nhân dân về vai trò của NLTG. Trên tinh thần huy động mọi nguồn lực cho phát triển, tôn giáo cần được khuyến khích không chỉ trong các hoạt động từ thiện, nhân đạo, mà còn trong các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội - những lĩnh vực mà tôn giáo có khả năng. Điều đó sẽ mang lại nhiều lợi ích cho xã hội và các tôn giáo.

Về nội dung chính sách, pháp luật, cần khẳng định rõ hơn địa vị pháp lý của các tổ chức tôn giáo như các tổ chức phi lợi nhuận, tổ chức xã hội hay doanh nghiệp xã hội. Theo đó, cần bổ sung Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và các luật liên quan đến các lĩnh vực dân sự, kinh tế, đất đai, giáo dục, khám bệnh, chữa bệnh, dạy nghề, từ thiện, nhân đạo, bảo trợ xã hội, với những điều khoản cụ thể về hoạt động của các tôn giáo, trong đó quy định các tổ chức tôn giáo được thực hiện các hoạt động này với tư cách là chủ đầu tư và quản lý theo quy định của pháp luật. Cụ thể hóa Điều 55 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo “Tổ chức tôn giáo được tham gia các hoạt động giáo dục, đào tạo, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo theo quy định của pháp luật có liên quan” theo hướng tạo thuận lợi hơn nữa đóng góp của tôn giáo cho xã hội. 

Công nhận tư cách pháp nhân đầy đủ hơn của các tổ chức tôn giáo như tổ chức xã hội để họ có thể tham gia tích cực hơn vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt là hoạt động y tế, giáo dục, từ thiện, nhân đạo. Trên cơ sở đó, có chính sách hướng dẫn, giúp đỡ họ về mặt pháp lý, tài chính, thuế... theo quy định của pháp luật; xây dựng chính sách đặc thù đối với các cơ sở từ thiện, nhân đạo của các tôn giáo phù hợp với hiến chương của họ và quy định của pháp luật; tạo điều kiện cho tổ chức tôn giáo cử người tham gia học tập, nâng cao trình độ đáp ứng yêu cầu về chuyên môn.

Hai là, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tôn giáo

Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Quản lý nhà nước về văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng có mặt còn hạn chế. Có hiện tượng thương mại hóa các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở một số nơi”(3). Vì vậy, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tôn giáo là rất cần thiết. Điều này được thể hiện qua một số hoạt động cụ thể:

Cải cách thủ tục hành chính. Một trở ngại đối với hoạt động xã hội, từ thiện, nhân đạo của tôn giáo là các thủ tục hành chính liên quan như: giấy phép hoạt động từ thiện cho các cơ sở y tế, lớp học, cơ sở nuôi dưỡng; xét cấp giấy khai sinh, hộ khẩu, chứng minh nhân dân cho trẻ mồ côi; chứng chỉ hành nghề trong y tế, giáo dục; việc mở trường học, bệnh viện đa khoa của các tổ chức tôn giáo... Vì vậy, Chính phủ cần hướng dẫn chính quyền các cấp mạnh dạn, linh hoạt tháo gỡ những khó khăn, trở ngại về các thủ tục hành chính, pháp lý này để thuận lợi cho phát huy NLTG.

Cần phân biệt các hoạt động xã hội, từ thiện, nhân đạo, bảo trợ xã hội, y tế, giáo dục của tôn giáo với hoạt động tôn giáo để quản lý hiệu quả. Hoạt động tôn giáo chủ yếu liên quan đến tổ chức tôn giáo, người theo đạo, chính sách, pháp luật đối với tôn giáo, tín ngưỡng và phi lợi nhuận. Trong khi đó, các hoạt động xã hội liên quan đến nhiều lực lượng xã hội, nhiều chính sách, pháp luật thuộc các lĩnh vực khác nhau và bao gồm cả những hoạt động kinh tế, có lợi nhuận, nên dễ nảy sinh những vấn đề phức tạp.

Ba là, tăng cường tuyên truyền, giáo dục, vận động tín đồ, chức sắc tôn giáo tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Cần tăng cường tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức của các tổ chức, tín đồ và chức sắc tôn giáo về chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chú trọng đổi mới cả nội dung và phương pháp vận động theo phương châm “chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, tế nhị, vững chắc” và phong cách “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân”. Với trên 26 triệu tín đồ (chiếm 27% dân số), NLTG góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế. Do đó, cần tăng cường động viên, khuyến khích đóng góp của các tín đồ, tổ chức tôn giáo đối với xã hội.

Bốn là, đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần tiếp tục các chương trình phối hợp trong hoạt động của tôn giáo tham gia trợ giúp xã hội, giáo dục, khám chữa bệnh miễn phí cho những người yếu thế; ban hành các văn bản hướng dẫn các địa phương và các tôn giáo trong các hoạt động này, góp phần cùng xã hội chăm lo đời sống nhân dân. Phối hợp với các bộ, ngành liên quan định kỳ tổ chức tham quan, giao lưu giữa những cơ sở giáo dục đào tạo, khám chữa bệnh, trợ giúp xã hội điển hình do tôn giáo thành lập, điều hành; nhân rộng các mô hình; chia sẻ kinh nghiệm với các tổ chức tôn giáo trong khu vực và trên thế giới; kịp thời phát hiện, biểu dương, khen thưởng các cá nhân, tổ chức tôn giáo làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội. Đồng thời, quán triệt và thực hiện nghiêm túc, sáng tạo chủ trương của Đảng tại Đại hội lần thứ XIII: “Phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo vào giữ gìn và nâng cao đạo đức truyền thống xã hội, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư góp phần ngăn chặn các tệ nạn xã hội”(4).

2. Đối với các địa phương

Một là, phát huy các di sản tôn giáo, tín ngưỡng phục vụ phát triển du lịch, qua đó phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội các địa phương

Các di sản tôn giáo, tín ngưỡng của Việt Nam rất phong phú, đa dạng. Đây là nguồn lực to lớn có thể khai thác phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời giữ gìn, bảo tồn các di sản này. Trong thời gian qua, các tỉnh, thành phố đã chú ý phát huy giá trị của các công trình tôn giáo, tín ngưỡng trong quy hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt là du lịch của địa phương và đã mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao. Các cơ sở tôn giáo như chùa Dâu, chùa Phật Tích (tỉnh Bắc Ninh), chùa Bái Đính, nhà thờ đá Phát Diệm (tỉnh Ninh Bình), chùa Thiên Mụ (tỉnh Thừa Thiên - Huế), nhà thờ Đức Bà, chùa Giác Lâm, chùa Minh Hương (Thành phố Hồ Chí Minh), chùa Dơi, chùa Chén Kiểu (tỉnh Sóc Trăng)... thu hút rất nhiều du khách đến tham quan, chiêm bái, đem lại giá trị kinh tế ngày càng tăng cho các địa phương. Trong khi ở nhiều tỉnh, thành phố chưa ý thức rõ về tầm quan trọng của các công trình tôn giáo đối với phát triển.

Hai là, phát huy NLTG trong xây dựng nông thôn mới

Thực tiễn cho thấy, NLTG đóng góp rất nhiều cho quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, xây dựng nông thôn mới. Trong những năm qua, Phật giáo Hòa Hảo đã sửa chữa và xây dựng mới trên 2.000 cây cầu ở vùng Tây Nam Bộ, góp phần xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông nông thôn, vừa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của người dân, vừa góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Trong 5 năm (2013-2018), Công giáo Nghệ An đã hiến 99.142 m2 đất, chặt bỏ 4.380 cây các loại, tháo dỡ 12.990m tường bao, đóng góp 38,512 tỷ đồng và 71.895 ngày công xây dựng nông thôn mới(5); năm 2019 đã hiến trên 14.000 m2 đất, tháo dỡ 6.700m2 tường bao, tham gia 19.901 ngày công, đóng góp trên 20,508 tỷ đồng, xây dựng 150 km đường bê tông nông thôn(6). Tại tỉnh Đồng Nai, trong giai đoạn 2016 - 2020 đồng bào Công giáo đóng góp xây dựng nông thôn mới với số tiền 134 tỷ đồng(7). Những mô hình như vậy cần được phát huy trong thời gian tới. 

3. Đối với các tổ chức tôn giáo 

Một là, chuẩn bị nguồn nhân lực, nhất là nhân lực có trình độ cho các lĩnh vực hoạt động giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội và từ thiện, nhân đạo, để nâng cao tính chuyên nghiệp của các hoạt động xã hội

Hoạt động xã hội của các tôn giáo hiện nay chủ yếu dựa vào khả năng sẵn có của mỗi tôn giáo, phần lớn thiếu tính chuyên nghiệp. Một bộ phận đáng kể người lao động trong các cơ sở giáo dục, y tế, từ thiện, bảo trợ xã hội thuộc các tôn giáo chưa được đào tạo cơ bản, thiếu chuyên môn, nghiệp vụ dẫn tới khó khăn trong công việc, đồng thời các cơ sở này khó đáp ứng được những điều kiện cần thiết để tiến hành các hoạt động y tế, giáo dục. Để có thể tham gia các hoạt động xã hội quy mô lớn hơn, hiệu quả hơn, các tổ chức tôn giáo cần có sự điều chỉnh để đáp ứng được những quy định hiện hành về chuyên môn, nghiệp vụ, nhất là đào tạo các tình nguyện viên, nhà tu hành, chức sắc để họ nắm chắc pháp luật, đáp ứng các yêu cầu về kỹ thuật, tổ chức, nghiệp vụ tài chính, y tế, giáo dục và hoạt động xã hội theo quy định của pháp luật.

Những năm gần đây, một số tổ chức tôn giáo đã chuẩn bị kế hoạch khá bài bản, dài hơi cho việc tham gia mạnh hơn vào lĩnh vực giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội thông qua quan tâm đào tạo nhân sự. Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã thành lập Khoa Sư phạm mầm non thuộc Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh và liên kết với Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh mở lớp đào tạo cử nhân sư phạm mầm non cho các ni và một số cư sĩ Phật giáo. Năm 2019 đã có 49 nhà sư tốt nghiệp chuẩn bị cho việc tham gia quản lý, giảng dạy các trường, lớp mầm non do Giáo hội thành lập. Giáo phận Công giáo Xuân Lộc đã cử các nữ tu theo học tại Khoa Mầm non của Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, đến đầu năm 2019 đã chính thức khai giảng khóa đầu tiên đào tạo cử nhân sư phạm mầm non tại Trường Cao Đẳng Hòa Bình với 50 học viên tham gia (liên kết với Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh). Những hoạt động như thế cần được thúc đẩy trong thời gian tới.

Hai là, đa dạng hóa hoạt động xã hội, từ thiện, nhân đạo

Hiện nay, người cần được hỗ trợ, giúp đỡ rất đa dạng như: người nghèo, người già không nơi nương tựa, cơ nhỡ, người khuyết tật, trẻ em mồ côi, công nhân nghèo trong các khu công nghiệp, người thiếu việc làm, người bị thiên tai, dịch bệnh, người mắc bệnh hiểm nghèo, người nhập cư khó khăn... Vì vậy, hoạt động từ thiện của tôn giáo không nên chỉ dừng lại ở phương diện hỗ trợ vật chất nhất thời, mà cần có kế hoạch lâu dài để đáp ứng nhu cầu của người dân. Tôn giáo không chỉ đến với họ bằng vật chất mà cả bằng tinh thần, không chỉ đóng góp cho xã hội những gì tôn giáo có mà hướng tới đáp ứng những gì mà xã hội cần.

Ba là, nâng cao ý thức tự chủ hoạt động và tài chính

Nhìn chung, NLTG hiện thiếu ổn định do kinh phí phụ thuộc nhiều vào sự tự nguyện, hảo tâm, cúng dường của các tổ chức, cá nhân. Do đó, xây dựng ý thức tự chủ hoạt động, tài chính của tôn giáo là hết sức quan trọng trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay. Chỉ có như vậy mới làm cho các tôn giáo “đứng vững trên đôi chân của mình”, có được thực lực để ổn định, phát triển hoạt động tôn giáo và hoạt động xã hội, đồng thời tránh được những tác động tiêu cực từ xã hội. Muốn làm được như vậy, các tôn giáo cần năng động, tích cực hơn để ngày càng nâng cao ảnh hưởng, sự hiện diện, vị thế của mình và hơn nữa là chủ động nguồn kinh phí hoạt động.

__________________

(1) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.62, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr.65.

(2), (4) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.171, 272.

(3) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.73.

(5) Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu người Công giáo Việt Nam xây dựng và bảo vệ Tổ quốc lần thứ VII (nhiệm kỳ 2018-2023), Hà Nội, 2018, tr.87.

(6) Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam: Báo cáo tổng kết công tác năm 2019, phương hướng, nhiệm vụ năm 2020, Hà Nội, ngày 27-12-2019, tr.6.

(7) Hồ Thảo: Công tác tôn giáo góp phần vào sự phát triển, http://www.baodongnai.com.vn/, ngày 12-10-2020.