Thứ Bảy, 9 tháng 7, 2022

Cần có cơ chế đặc thù, vượt trội cho TPHCM và cả vùng Đông Nam bộ

 

Cần có cơ chế đặc thù, vượt trội cho TPHCM và cả vùng Đông Nam bộ

Chủ tịch UBND TPHCM Phan Văn Mãi nhấn mạnh, TPHCM cũng như vùng Đông Nam bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam cần có cơ chế đặc thù, vượt trội để tăng thêm nguồn lực, điều kiện để làm tốt vai trò đầu tàu đối với nền kinh tế của cả nước.

Ngày 9-7, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Thành ủy – UBND TPHCM, Văn phòng Chính phủ tổ chức hội nghị tổng kết Nghị quyết 53 và Kết luận 27 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đông Nam bộ, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.

Tại điểm cầu TPHCM, tham dự và chủ trì hội nghị có các đồng chí: Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ; Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Nguyễn Văn Nên, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TPHCM; Nguyễn Chí Dũng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Thượng tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an. Cùng dự hội nghị còn có lãnh đạo các bộ, ban ngành, lãnh đạo các tỉnh thành vùng Đông Nam bộ và các chuyên gia, nhà khoa học…

Tại điểm cầu trụ sở Chính phủ có đồng chí Lê Minh Khái, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ. 

Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Phan Văn Mãi, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy, Chủ tịch UBND TPHCM đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết 53 của Bộ Chính trị đã giúp cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và vùng Đông Nam bộ giữ vững vai trò đầu tàu kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ, trung tâm tài chính, logistics, đầu mối giao thương quốc tế lớn nhất cả nước.

Tuy nhiên, Chủ tịch UBND TPHCM nhìn nhận, hiện nay vùng đang gặp thách thức, nghiêm trọng nhất là phát triển dưới mức tiềm năng của vùng và chưa phát huy tốt vai trò trung tâm kinh tế - xã hội của cả nước.

Đồng chí Phan Văn Mãi chỉ ra, đó là tốc độ tăng trưởng chậm lại và chậm hơn so với tốc độ tăng trưởng chung của cả nước. Vai trò đầu mối xuất nhập khẩu suy giảm; hiệu quả sử dụng vốn của vùng luôn thấp nhất và thấp hơn so với bình quân của cả nước. Kinh tế của vùng giảm tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế của cả nước. TPHCM đóng góp trên 50% vào tăng trưởng của vùng. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, TPHCM tăng trưởng chậm đã ảnh hưởng rất lớn đến tăng trưởng chung của cả vùng.

Một nguyên nhân khác đó là thể chế hiện hành chưa đủ khuyến khích chính quyền địa phương chủ động, sáng tạo và tăng cường liên kết. Trong khi đó, vai trò của Ban chỉ đạo và Hội đồng vùng chưa được phát huy đúng mức. Quy hoạch vùng và từng địa phương đang tạo nên lực kéo thay vì lực đẩy cho phát triển của vùng; trong đó quy hoạch trùng lắp chức năng dẫn đến cạnh tranh lẫn nhau, thiếu liên kết, thiếu phát huy những thế mạnh hỗ trợ phát triển. Hệ thống giao thông đô thị không theo kịp, gây cản trở sự phát triển nhanh, bền vững của vùng.

Đồng chí Phan Văn Mãi cũng chỉ ra một nguyên nhân nữa, đó là định hướng chiến lược nhiều tham vọng nhưng nguồn lực đầu tư hạn chế và chưa có cơ chế hiệu quả thu hút nguồn lực đầu tư xã hội. Sự phát triển chậm lại của TPHCM trong nhiều lĩnh vực và các vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển có tác động lớn đến vùng.

Theo đồng chí Phan Văn Mãi, khoảng 10 năm trở lại đây, sự vượt trội của TPHCM so với cả nước ở một số mặt đã chậm lại, thậm chí tụt hậu. Các thách thức về giao thông, ngập nước, giáo dục, y tế cũng như không bền vững về lao động và dân số ngày càng gia tăng.

Trước những hạn chế, nguyên nhân trên, Chủ tịch UBND TPHCM đề xuất một số định hướng chính, đó là nhanh chóng triển khai nhiệm vụ lập quy hoạch vùng Đông Nam bộ, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. “Việc này là rất quan trọng”, đồng chí Phan Văn Mãi nhấn mạnh.

Cùng với đó, hoàn thiện cơ chế liên kết, điều phối phát triển vùng; bộ máy giúp việc cần có Ban chỉ đạo và Hội đồng vùng, có tổ giúp việc kể cả tổ tư vấn. “Ở đây cần một cơ chế đồng bộ vượt trội để có thể phát huy được liên kết vùng”, đồng chí Phan Văn Mãi đề nghị.

Bên cạnh đó, đồng chí đề xuất cần có liên kết phát triển giao thông vùng, cả đường bộ từ đường vành đai, quốc lộ, cao tốc kết nối; đường thuỷ phát huy hệ thống sông Sài Gòn, sông Đồng Nai, sông Vàm Cỏ. Đặc biệt kết nối đường thuỷ giữa vùng Đông Nam bộ với đồng bằng sông Cửu Long, kể cả nước bạn Campuchia.

Cùng với đó, đầu tư phát triển đường sắt theo quy hoạch. Trên cơ sở quy hoạch mạng lưới đường sắt, đồng chí Phan Văn Mãi đề nghị thêm, cần tiếp cận triển khai mạng lưới đường sắt kết nối vùng. Đồng thời liên kết trong vấn đề bảo vệ môi trường, bảo vệ sông ngòi, xử lý chất thải sinh hoạt - công nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu.

Chủ tịch UBND TPHCM cũng đề xuất, cần phải có đầu tư mạnh hơn để phát huy trung tâm đào tạo nhân lực của vùng cũng như liên kết phát triển nguồn nhân lực, xây dựng thị trường lao động chung của vùng. Liên kết phát triển hạ tầng chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu vùng kinh tế - xã hội, làm cơ sở hoạch định chiến lược, kế hoạch, chính sách phát triển và điều phối hoạt động liên kết vùng. Đồng chí Phan Văn Mãi đề nghị, nội dung này cần quan tâm đầu tư thoả đáng cho cơ sở hạ tầng chuyển đổi số và cơ sở dữ liệu cho vùng.

Cùng với đó, hoàn thiện cơ chế đặc thù phát triển TPHCM và đầu tư phát triển thành phố để giữ vững vai trò đầu tàu của vùng và cả nước. Trọng tâm là tổng kết Nghị quyết 54 của Quốc hội, ban hành Nghị quyết thay thế Nghị quyết 54 với những cơ chế đặc thù, vượt trội. Đồng thời đầu tư để TPHCM là trung tâm tài chính khu vực và quốc tế; trung tâm logistics; trung tâm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; trung tâm chăm sóc sức khoẻ, đào tạo nhân lực khu vực và quốc tế; triển khai chương trình chuyển đổi số TPHCM.

Trước ý kiến vì sao TPHCM cũng như vùng Đông Nam bộ đã có cơ chế riêng rồi vẫn đề nghị có cơ chế đặc thù, vượt trội, Chủ tịch UBND TPHCM giải thích: "Ở đây không phải xin tiền cho người giàu mà chúng ta tăng thêm nguồn lực, điều kiện để TPHCM và vùng Đông Nam bộ, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam làm tốt vai trò đầu tàu của mình đối với nền kinh tế của cả nước. Từ đây phân bổ nguồn lực cho sự phát triển chung của cả nước".

 

LĨNH VỰC QUỐC PHÒNG, AN NINH, ĐỐI NGOẠI TRONG CUỐN SÁCH CỦA TỔNG BÍ THƯ

        Đề cập đến lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại trong điều kiện mới của đất nước và bối cảnh chung của thế giới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh quan điểm chỉ đạo của Đảng ta đã được thể hiện nhất quán trong các văn kiện của Đại hội XIII là: “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đi đôi với giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn để phát triển đất nước. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường. Xử lý đúng đắn, hiệu quả mối quan hệ với các nước lớn và các nước láng giềng... Khai thác, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Từ quan điểm chỉ đạo chung này, các nội dung về đường lối, định hướng, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đối ngoại cụ thể đã được đồng chí Tổng Bí thư phân tích rất sâu sắc. Trong bài phát biểu tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu Đảng bộ Quân đội cần nhận thức đầy đủ, sâu sắc về vị trí, vai trò của quân đội ta là “Quân đội nhân dân, Quân đội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và được đặt dưới sự lãnh đạo “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” của Đảng”, để thực hiện được 6 nhiệm vụ về: Quán triệt, nhận thức sâu sắc về bản chất, trách nhiệm của quân đội; xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, gương mẫu, tiêu biểu; xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tăng cường mối quan hệ máu thịt của quân đội với nhân dân; sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; phối hợp các bộ, ngành, địa phương để tăng cường tiềm lực quốc phòng và thế trận quốc phòng toàn dân; thực hiện đồng bộ các giải pháp để xây dựng “Quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; một số quân, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại”. Do vậy, “Quân đội phải tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, gắn bó máu thịt với nhân dân”. Về vấn đề an ninh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh yêu cầu tập trung quyết liệt, thực hiện đồng bộ các giải pháp để xây dựng “lực lượng công an thật sự trong sạch, vững mạnh, gần dân, sâu sát cơ sở”; chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng, các bộ, ngành, địa phương và quân đội để “giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình huống; tuyệt đối không chủ quan, lơ là; không để bị động, bất ngờ”.

        Về lĩnh vực đối ngoại, từ việc tổng kết thực tiễn công tác đối ngoại của Đảng, ngoại giao của Nhà nước ta, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khái quát về trường phái ngoại giao “Cây tre Việt Nam” - mang đậm bản sắc dân tộc, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, “giữ trái tim nóng, cái đầu lạnh”, “kiên quyết, kiên trì” để xử lý các thách thức đối ngoại một cách mềm mại mà hiệu quả, tranh thủ các điểm đồng về lợi ích để thúc đẩy hợp tác và phát triển, bảo vệ tối đa lợi ích của dân tộc. Việc xây dựng, phát triển và phát huy vai trò của trường phái ngoại giao “Cây tre Việt Nam” là điều kiện, cơ sở để hoạt động đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hoàn thành được nhiệm vụ cơ bản đặt ra là: “Tiếp tục phát huy vai trò tiên phong trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”. 

PHAO

Chủ tịch nước dự lễ kỷ niệm 110 năm ngày sinh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ

 

Chủ tịch nước dự lễ kỷ niệm 110 năm ngày sinh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ

Sáng nay, 9/7, tại Thành phố Bắc Ninh đã diễn ra Lễ kỷ niệm 110 năm ngày sinh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ (9/7/1912- 9/7/2022).

Dự buổi lễ có Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc; nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng; đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; đồng chí Đỗ Văn Chiến, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy Ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Phó Thủ tướng Lê Văn Thành; lãnh đạo một số bộ, ngành và tỉnh Bắc Ninh.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ gửi lẵng hoa chức mừng.

Trước khi dự buổi lễ, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dẫn đầu đoàn lãnh đạo Đảng, Nhà nước dâng hương, dâng hoa tại Khu Di tích lưu niệm Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, phường Phù Khê, Thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Viết sổ lưu niệm sau dâng hương, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc bày tỏ thành kính tưởng nhớ, tri ân Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, một chiến sĩ cộng sản ưu tú, nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng và cách mạng Việt Nam, người có tầm nhìn chiến lược, một tấm gương cao đẹp sáng ngời về đạo đức cách mạng và tinh thần tự học tập, rèn luyện và trưởng thành qua thực tiễn đấu tranh cách mạng.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dẫn lại đánh giá của Tổng Bí thư Lê Duẩn, đồng chí Nguyễn Văn Cừ là một trí tuệ lỗi lạc của Đảng, rất sắc sảo và nhạy bén về chính trị, lại có khả năng đoàn kết, thuyết phục anh em. Đồng chí là người cộng sản có phẩm chất đạo đức rất trong sáng, được mọi người kính phục.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc bày tỏ cảm phục đồng chí Nguyễn Văn Cừ, đồng chí đã có những cống hiến to lớn đối với Đảng và dân tộc ta mặc dù hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ. Các tác phẩm của đồng chí, đặc biệt là cuốn “Tự chỉ trích”, đã khái quát những vấn đề tư tưởng, lý luận rất sâu sắc về xây dựng, củng cố Đảng, đấu tranh tự phê bình và phê bình, thực hành dân chủ trong Đảng. Những tư tưởng đó vẫn mang tính thời đại và có giá trị thời đại ngày nay. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ mãi là niềm tự hào của Đảng ta và dân tộc ta.

Đồng chí Nguyễn Văn Cừ sinh ngày 09/7/1912 trong một gia đình nhà Nho nghèo, có truyền thống khoa bảng ở làng Phù Khê, xã Phù Khê, huyện Từ Sơn, nay là phường Phù Khê, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, là hậu duệ đời thứ 17 của Anh hùng dân tộc - Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi. Sớm được giác ngộ cách mạng, với bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ, với trí tuệ và tài năng, Đồng chí đã trưởng thành nhanh chóng trong các phong trào công nhân và được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng khi 26 tuổi (năm 1938) và anh dũng hy sinh năm 29 tuổi (năm 1941). Cuộc đời đồng chí Nguyễn Văn Cừ tuy ngắn nhưng vô cùng trong sáng và tràn đầy lý tưởng cách mạng cao đẹp. Những cống hiến to lớn và sự hy sinh oanh liệt của Đồng chí đã góp phần làm rạng danh Tổ quốc, dân tộc, tô thắm thêm lịch sử và truyền thống vẻ vang của Đảng, đất nước và quê hương Bắc Ninh.

Trên phương diện đấu tranh củng cố nội bộ, tháng 6/1939, với bút danh Trí Cường, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã viết tác phẩm “Tự chỉ trích”. Đây là một văn kiện lý luận quan trọng về công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức.  Trong 13 năm hoạt động cách mạng, đồng chí Nguyễn Văn Cừ nhiều lần bị thực dân Pháp bắt, giam cầm, tra tấn dã man, nhưng Đồng chí luôn nêu cao tinh thần kiên trung, bất khuất. Khi bị giải ra pháp trường, Đồng chí vẫn hiên ngang tỏ rõ khí phách của người cộng sản.

Phát biểu tại lễ kỷ niệm, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh Đào Hồng Lan bày tỏ tự hào về quê hương của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ. Học tập và noi gương các thế hệ đi trước, hơn 92 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã đoàn kết, phấn đấu, đưa tỉnh nhà phát triển, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

nghệ cao - Ảnh VGP/Đức Tuân

Từ một tỉnh nông nghiệp, sau 25 năm tái lập tỉnh, Bắc Ninh đã phát triển toàn diện, cơ bản đáp ứng tiêu chí trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại và đạt được nhiều kết quả trên các lĩnh vực. Trong đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt tốc độ bình quân 13,9%/năm; thu hút đầu tư gần 23 tỷ USD. Thu ngân sách Nhà nước tăng nhanh, đạt gần 33.300 tỷ đồng, là tỉnh tự cân đối thu - chi ngân sách và có điều tiết về Trung ương, đứng thứ 8 toàn quốc. Tỉnh có 2 thành phố, tỷ lệ đô thị hóa đạt gần 40%.

“Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Bắc Ninh phấn đấu đến năm 2030, xây dựng Bắc Ninh là thành phố có nền công nghiệp hiện đại, công nghệ cao; một trong những trung tâm thương mại - dịch vụ, giáo dục, đào tạo nhân lực, chăm sóc sức khỏe, nghiên cứu, ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ, đáp ứng yêu cầu của thành phố trực thuộc Trung ương; là động lực phát triển của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Vùng Thủ đô Hà Nội và của cả nước. Đến năm 2045, đưa Bắc Ninh trở thành thành phố công nghiệp công nghệ cao, thông minh”, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh Đào Hồng Lan nêu rõ.

 

NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ KINH TẾ, VĂN HÓA, XÃ HỘI, CON NGƯỜI TRONG CUỐN SÁCH CỦA TỔNG BÍ THƯ

         Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là kết quả tìm tòi về lý luận, tổng kết thực tiễn của Đảng ta, là mô hình phát triển đặc thù của Việt Nam, phù hợp với điều kiện của giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội và đặc điểm của đất nước. Về nội dung này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Mô hình kinh tế mà chúng ta xây dựng là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây chính là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới. Theo đó, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

Trên cơ sở phân tích, lý giải về kinh tế thị trường nói chung, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm rõ nhận thức của Đảng ta về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chỉ ra và khẳng định thuộc tính quan trọng, đặc trưng cơ bản làm nên sự khác biệt của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam với những nền kinh tế thị trường khác. Đó là nền kinh tế “gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội”. Nói cách khác, đó là sự quan tâm đặc biệt đến chính sách xã hội, chính sách đối với con người, phát triển hài hòa giữa kinh tế với xã hội, không vì tăng trưởng kinh tế mà coi nhẹ tiến bộ, công bằng xã hội, phải tạo điều kiện cho con người được thụ hưởng mọi thành tựu của phát triển, cuộc sống của con người được cải thiện đồng thời với tiến trình xây dựng, phát triển kinh tế.

Bàn về văn hóa trong mối quan hệ với kinh tế nói riêng và với các lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Chúng ta coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; xác định phát triển văn hóa đồng bộ, hài hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Như vậy, văn hóa không chỉ được khẳng định là một trong bốn trụ cột chính sách quyết định của Đảng về xây dựng, phát triển đất nước, mà còn là sự bảo đảm cho định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế, thể hiện tính nhân văn, ưu việt của chế độ với mục đích hướng tới con người, vì hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người.

Từ những nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định một lần nữa quyết tâm chính trị của toàn Đảng, toàn dân: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đây chính là những tư tưởng, định hướng chỉ đạo xuyên suốt về các nhiệm vụ xây dựng, phát triển đất nước trong giai đoạn tới, trước mắt là tư tưởng chỉ đạo đối với các nhiệm vụ và giải pháp triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Để thực hiện thành công định hướng chung đó, 4 nhiệm vụ như 4 trụ cột chính sách của Đảng là: Phát triển kinh tế là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu và thường xuyên.

Nội dung về phát triển kinh tế - xã hội được thể hiện ở nhiều bài phát biểu, bài viết của Tổng Bí thư trong cuốn sách. Khi phát biểu trước Chính phủ nhiệm kỳ mới, đồng chí Nguyễn Phú Trọng đề cập toàn diện, khái quát về những nội dung, nhiệm vụ kinh tế - xã hội chung nhất. Đó là phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật, bình đẳng trước pháp luật, thực hiện chế độ phân phối công bằng và tạo động lực cho phát triển. Đó là phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thể hiện vai trò bảo đảm cho định hướng xã hội chủ nghĩa của tăng trưởng kinh tế. Đó là con người giữ vị trí trung tâm của chiến lược phát triển; phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới. Tinh thần chung ấy được cụ thể hóa một bước trong những nội dung, yêu cầu xây dựng, phát triển các giai cấp, các tầng lớp trong xã hội. Đó là xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam lớn mạnh - “một điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Đó là “Xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam không ngừng lớn mạnh, thực sự là chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới”. Đó là chăm lo cho thanh niên là trách nhiệm của Đảng, hệ thống chính trị và toàn dân, vì “thanh niên là một bộ phận quan trọng của dân tộc, rường cột của quốc gia. Thanh niên có mạnh thì dân tộc mới mạnh; trong sức mạnh của dân tộc có sức mạnh của thanh niên”.

Nội dung kinh tế - xã hội cũng được gắn với trách nhiệm của từng ngành, từng lĩnh vực trong việc trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ví dụ, trong bài phát biểu tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc ngày 14-12-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh yêu cầu, nhiệm vụ của ngoại giao trong phát triển kinh tế đất nước. Đó là “Ưu tiên tìm kiếm và mở rộng thị trường cho hàng hóa, dịch vụ và lao động Việt Nam, thu hút nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý, nhất là FDI hướng vào các lĩnh vực ưu tiên của đất nước”. Cho dù là các luận điểm lý luận có tính khái quát hay các nội dung nhiệm vụ cụ thể của từng lĩnh vực, ngành, nghề, thì tất cả đều bị chi phối bởi nguyên tắc: “Mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”.

Về phát triển văn hóa, con người, xuất phát từ luận điểm nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phân tích, chỉ ra quá trình phát triển, hoàn thiện nhận thức của Đảng ta về văn hóa và con người, trong đó, văn hóa được coi là một trong 4 trụ cột chính sách, là nền tảng tinh thần, đồng thời cũng là nguồn lực nội sinh, động lực phát triển kinh tế - xã hội. Từ đó, đồng chí Tổng Bí thư đi đến nhận định: “Đảng ta khẳng định: Trọng tâm xây dựng và phát triển văn hóa là xây dựng con người có nhân cách và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh”. Đây là một vấn đề có tính quy luật, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Bởi xét cho cùng, mọi sự phát triển đều do con người và vì con người. Mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội là mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc, tiến bộ và công bằng cho mọi thành viên xã hội không phân biệt đẳng cấp, địa vị xã hội. Việc nhận thức rõ và đầy đủ về vai trò, tính chất và mục đích của phát triển văn hóa là điều kiện để Đảng đưa ra những chủ trương, nhiệm vụ hợp lý, có hiệu quả về phát triển văn hóa, xây dựng con người đối với các khu vực, các lứa tuổi, các tầng lớp dân cư.

PHAO

NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI ĐỀ CẬP TRONG CUỐN SÁCH CỦA TỔNG BÍ THƯ

     Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khái quát những thành tựu quan trọng, cơ bản của Đảng ta trong việc vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của nước ta. Từ lý thuyết khoa học của C. Mác và Ph. Ăng-ghen, sau Cách mạng Tháng Mười Nga, chủ nghĩa xã hội hiện thực đã ra đời, trở thành một động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của lịch sử nhân loại theo con đường tiến bộ, nhân văn, vì công bằng, hạnh phúc cho con người. Do những giá trị vô cùng tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các nhà cách mạng tiền bối nước ta đã lựa chọn con đường phát triển theo chủ nghĩa xã hội cho Việt Nam, tổ chức và rèn luyện Đảng Cộng sản để lãnh đạo nhân dân ta vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, từng bước hiện thực hóa những giá trị đó thành thực tế sinh động trên đất nước ta. Những giá trị ấy không chỉ được tổng kết về lý luận, mà đã được kiểm chứng bằng chính thực tiễn công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Đó là: i) “một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người”; ii) “sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội”; iii) “một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn”; iv) “sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai”; v) “một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân”. Chính những giá trị đích thực ấy của chủ nghĩa xã hội đã trở thành mục tiêu, định hướng con đường cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn, tin tưởng và đang kiên định thực hiện.

        Trên con đường từng bước xây dựng chủ nghĩa xã hội, từ thực tiễn công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta đã tổng kết, rút ra những nhận thức tổng quát về chủ nghĩa xã hội với 8 đặc trưng cơ bản: “Một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”. Các đặc trưng ấy là nội dung của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam, một thành tựu phát triển sáng tạo lý luận riêng có của Đảng ta. Để hiện thực hóa mô hình đó, đòi hỏi cả một sự nghiệp lâu dài, gian khổ, phải đầu tư sức người, sức của to lớn, phải sáng tạo không mệt mỏi, đặc biệt là phải suy nghĩ, tìm tòi lộ trình và bước đi hợp lý, cách làm đúng đắn để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra.

PHAO

Mục đích xuất bản cuốn sách Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 Mục đích xuất bản cuốn sách Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhằm phục vụ công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, đặc biệt là tổng kết lý luận về đường lối đổi mới và những bài học kinh nghiệm, những vấn đề có tính quy luật từ thực tiễn công cuộc xây dựng, phát triển đất nước ta. Đồng thời, đây cũng là tài liệu để quán triệt, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và đông đảo nhân dân về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa ở Việt Nam, tạo sự thống nhất tư tưởng trong toàn xã hội, “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc thực hiện những mục tiêu chiến lược Đại hội XIII của Đảng đã đề ra.

Theo tinh thần ấy, cuốn sách tuyển chọn 29 bài viết, bài phát biểu tiêu biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong thời gian từ khi chuẩn bị xây dựng Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đến nay. Những bài viết, bài phát biểu này đã đúc kết những thành tựu phát triển lý luận, những kết quả tổng kết thực tiễn mới nhất của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” có ý nghĩa như cơ sở dẫn dắt việc tuyển chọn và sắp xếp các bài viết, bài phát biểu trong cuốn sách, với bốn nội dung cơ bản mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đặt ra trong bài viết:
 1) Chủ nghĩa xã hội là gì?
 2) Vì sao Việt Nam lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa? 
3) Làm thế nào và bằng cách nào để từng bước xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam? 
4) Thực tiễn công cuộc đổi mới, đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua có ý nghĩa gì và đặt ra vấn đề gì? Các bài viết, bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư trong cuốn sách này hướng đến đối tượng tiếp nhận là cán bộ, đảng viên và đông đảo nhân dân, nhằm làm rõ những cơ sở khoa học, thực tiễn, định hướng nhận thức và thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng. Mỗi bài viết, bài phát biểu đều có những nội dung thể hiện các vấn đề lý luận chung, đồng thời cũng phân tích tình hình thực tế, tổng kết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra của đất nước, của các lĩnh vực trong đời sống xã hội.
PHAO

Đẩy mạnh học tập tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

  “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là một nội dung đặc biệt quan trọng cần được quán triệt và học tập nghiêm túc

    Tác phẩm gồm tập hợp 29 bài viết, bài phát biểu, chỉ đạo quan trọng của đồng chí Tổng Bí thư trước, trong và sau Đại hội lần thứ XIII của Đảng, là sự phân tích biện chứng, lý giải thấu đáo, toàn diện những câu hỏi lớn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Các bài viết đã thể hiện rõ và làm sâu sắc thêm bản chất, giá trị cốt lõi của CNXH trên các bình diện chính trị, kinh tế, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh. Đây là tài liệu quý, một công trình có tầm khái quát lý luận cao, tổng kết thực tiễn sâu sắc về những phát triển sáng tạo riêng của Đảng ta về mô hình CNXH Việt Nam, trên cơ sở vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thể hiện trí tuệ, tầm nhìn tư tưởng người đứng đầu Đảng ta.

    Tổ chức Hội nghị học tập quán triệt là bước quan trọng triển khai đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng làm cho đội ngũ cán bộ chủ chốt, cán bộ, đảng viên và quần chúng trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân nhận thức sâu sắc hơn những vấn đề lý luận về CNXH, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam và thực tiễn sự nghiệp đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam hơn 90 năm qua, đặc biệt qua hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới. Thông qua hội nghị nhằm nâng cao ý thức, bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, kiên định, vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào tình hình thực tiễn của nước ta; củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý và điều hành của Nhà nước; sự thống nhất tư tưởng, ý chí, hành động trong toàn quân và toàn xã hội.

    Sau hội nghị, tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo việc quán triệt, học tập sâu rộng tới cán bộ, đảng viên, quần chúng trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân với hình thức phong phú, đa dạng, sáng tạo, hiệu quả, gắn với đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, quân đội, cơ quan, đơn vị. 

Phao

Phát huy sức mạnh tổng hợp phòng ngừa, ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống


Những mối đe dọa an ninh phi truyền thống có liên kết chặt chẽ với an ninh truyền thống, là đối tượng quan trọng của chiến lược an ninh quốc gia, chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Phòng ngừa, ứng phó với thách thức an ninh phi truyền thống là vấn đề chiến lược, đặc biệt hệ trọng của quốc gia, rất phức tạp và liên quan đến nhiều tổ chức, lực lượng, sử dụng nhiều công cụ, hình thức, biện pháp… cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chặt chẽ, thống nhất, đồng bộ với chiến lược, lộ trình bài bản, dài hơi. Theo đó, phải phát huy được vai trò của các cơ quan, tổ chức, lực lượng, nhất là các cơ quan, tổ chức, lực lượng quản lý chuyên trách trong nghiên cứu chuyên sâu, tham mưu và tổ chức thực hiện quản lý nhà nước đối với vấn đề an ninh phi truyền thống.

Mục tiêu hàng đầu của quốc phòng, an ninh hiện nay là phải giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, thuận lợi cho xây dựng và phát triển đất nước nhanh và bền vững. Trong khi đó, các thách thức an ninh phi truyền thống đều đe dọa đến sự ổn định và phát triển bền vững của quốc gia. Mặt khác, quốc phòng, an ninh có những thế mạnh như lực lượng, phương tiện, trình độ tổ chức, tính kỷ luật, khả năng cơ động, phản ứng, thực hiện nhiệm vụ trong những điều kiện khó khăn, phức tạp… Vì vậy, phải xây dựng các kế hoạch, phương án quản trị, phòng ngừa, ứng phó các nguy cơ, thách thức, mối đe dọa, thảm họa an ninh phi truyền thống từ cơ sở với sự tham gia của toàn thể hệ thống chính trị và nhân dân, trong đó lực lượng Công an nhân dân và Quân đội nhân dân đóng vai trò nòng cốt.

Phao

Chủ động phòng ngừa, sẵn sàng ứng phó kịp thời, có hiệu quả với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống,

     Chủ động phòng ngừa là chính, đồng thời sẵn sàng ứng phó kịp thời, có hiệu quả với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống, không để bị động, bất ngờ

Đây là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng. Thực tiễn những năm qua cho thấy, mặc dù các vấn đề về an ninh phi truyền thống đã diễn ra hết sức phức tạp và để lại hậu quả nặng nề, nhưng vẫn còn những tổ chức, lực lượng và người dân chưa nhận thức đầy đủ, chưa thấy rõ các nguy cơ, hậu quả do an ninh phi truyền thống gây ra nên ý thức, tinh thần chủ động, công tác chuẩn bị để phòng ngừa, ứng phó còn chủ quan, bị động; sự phối hợp giữa các tổ chức, lực lượng trong thực tiễn khi xảy ra tình huống còn lúng túng, thiếu hiệu quả. Hơn nữa, các mối đe dọa từ an ninh phi truyền thống ở nước ta hiện nay có thể do con người, hoặc thiên nhiên, hoặc kết hợp con người và thiên nhiên tạo ra, có thể hình thành ngay trong nước hoặc lây lan, ảnh hưởng từ bên ngoài do tính chất xuyên quốc gia tạo ra, hậu quả của nó gây ra rất nặng nề và kéo dài. Do đó, Đảng, Nhà nước xác định phải lấy chủ động tự phòng ngừa, ngăn chặn là chủ yếu, đồng thời tích cực chuẩn bị và ứng phó kịp thời, hiệu quả với những tác động của nó, không để bị động bất ngờ trong mọi tình huống.

Phương châm “chủ động phòng ngừa” được thể hiện bằng những những quan điểm, định hướng chiến lược của Đảng trong phát triển đất nước bền vững, nhất là chiến lược phát triển kinh tế - xã hội bền vững; các chiến lược về quốc phòng, an ninh, bằng hoạt động quản lý chặt chẽ của Nhà nước theo pháp luật và chủ động, tích cực xây dựng, triển khai thực hiện chương trình, dự án quốc gia để chủ động đối phó với các thảm họa do thiên tai gây ra. Quan tâm xây dựng, phát triển các lực lượng chuyên trách để tổ chức phòng ngừa, ứng phó có phương án chuẩn bị trước, bảo đảm ứng phó kịp thời, hiệu quả; tăng cường kiểm tra và xử lý nghiêm minh với những hành vi vi phạm pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng.

PHAO

TÌM HIỂU CN MÁC-LÊNIN, TT HỒ CHÍ MINH-NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TA!

         Đảng Cộng Sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng kim chỉ nam cho mọi hành động. Khẳng định như vậy bởi vì:
- Chủ nghĩa Mác-Lênin là một hệ thống các quan điểm lý luận và phương pháp khoa học được kết tinh và là đỉnh cao thành tựu trí tuệ của loài người, của tinh hoa văn hoá mà nhân loại đã sáng tạo ra. Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết duy nhất từ trước tới nay đặt ra mục tiêu, chỉ rõ con đường giải phóng triệt để giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới thoát khỏi tình trạng bị nô dịch và bóc lột, thoát khỏi đói nghèo và tha hoá về nhiều mặt. Đồng thời, học thuyết đó chỉ ra lực lượng cách mạng thực hiện sự nghiệp giải phóng và phát triển xã hội là giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đem lại cho họ niềm tin vào khả năng và sức mạnh của chính mình.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của, đó là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại.
- Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ chí Minh là một nhân tố quan trọng quyết định sự ra đời của Đảng: Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bộ phận cấu thành, giữ vai trò then chốt, quyết định sự ra đời của Đảng.
- Từ thực tiễn hoạt động xây dựng Đảng và các Đảng cộng sản trên thế giới: Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước ta, coi đây là cơ sở lý luận, nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam trong xây dựng, tổ chức và hoạt động của Đảng. Mọi thành công hay thất bại của cách mạng đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng, bất cứ nơi nào và lúc nào, đảng nào xa rời những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin, vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin một cách giáo điều, duy ý chí, vi phạm những nguyên lý về đảng của giai cấp công nhân, thì nhất định trước sau đảng đó sẽ phạm sai lầm, đội ngũ đảng viên sẽ chia rẽ, mất uy tín trước quần chúng và có thể đưa cách mạng đến thất bại. Tuyệt đối trung thành và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã vượt qua nhiều thử thách, biến cố vô cùng to lớn của lịch sử, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
     Từ sự hiểu biết như vậy, chúng ta có cơ sở để luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, tích cực đấu tranh bác bỏ luận điệu phản động của kẻ thù, góp phần bảo vệ vững chắc Đảng và Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.


Môi trường ST.

Thứ Sáu, 8 tháng 7, 2022

Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và Đông Nam Bộ: Thành tựu và sứ mệnh phát triển mới

 

Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và Đông Nam Bộ: Thành tựu và sứ mệnh phát triển mới

Việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 53 và Kết luận số 27 thể hiện sự quan tâm đặc biệt và là chủ trương có ý nghĩa chiến lược nhằm huy động cao nhất các nguồn lực, khai thác có hiệu quả tiềm năng và lợi thế của vùng để phát triển mạnh, đi đầu cả nước, là cầu nối để hội nhập, hợp tác kinh tế có hiệu quả với các nước trong khu vực.

Ngày 9/7, tại TP Hồ Chí Minh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Thành ủy, UBND Thành phố Hồ Chí Minh, Văn phòng Chính phủ tổ chức Hội nghị tổng kết thực hiện Nghị quyết số 53-NQ/TW ngày 29/8/2005 và Kết luận số 27-KL/TW ngày 02/8/2012 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đông Nam Bộ và vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam (KTTĐPN) đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 nhằm đánh giá những kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân triển khai thực hiện Nghị quyết 53 và Kết luận 27 của Bộ Chính trị, từ đó đề ra mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng an ninh vùng Đông Nam Bộ đến năm 2030 và tầm nhìn 2045. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì Hội nghị.

Phát biểu khai mạc, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh Đông Nam Bộ và vùng KTTĐPN có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; diện tích trên 30,5 ngàn km2 (9,2% diện tích của cả nước); dân số khoảng 21,9 triệu người (22% dân số cả nước); GRDP chiếm hơn 35% cả nước; đóng góp trên 40% tổng thu ngân sách; thu nhập bình quân đầu người cao gấp 1,58 lần, đô thị hóa gấp 1,8 lần trung bình cả nước.

Thủ tướng đề nghị các đại biểu bám sát nội dung Nghị quyết số 53 và Kết luận số 27 của Bộ Chính trị để đánh giá khách quan, thẳng thắn, trung thực, tập trung thảo luận, làm rõ một số nội dung trọng tâm.

Theo đó, đánh giá, nêu bật những kết quả đã làm được, những tồn tại, hạn chế trên tất cả các lĩnh vực, chỉ ra những điểm nghẽn, nút thắt hiện nay của vùng và nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan, bài học kinh nghiệm; phân tích bối cảnh, tình hình trong nước và quốc tế, tác động tới sự phát triển của vùng và cả nước, những yếu tố ảnh hưởng, cơ hội và thách thức đối với sự phát triển của vùng; nhận diện, làm rõ hơn tiềm năng khác biệt, cơ hội nổi trội, lợi thế cạnh tranh của vùng; đề xuất những quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đúng, trúng, đột phá, các đề xuất kiến nghị cụ thể để đáp ứng được yêu cầu phát triển vùng và phù hợp với tình hình thực tiễn.

Những nội dung này liên quan đến nhận thức, cách làm, nguồn lực trên tất cả các lĩnh vực văn hóa, xã hội, kinh tế, quốc phòng, an ninh và xây dựng hệ thống chính trị. Thủ tướng đề nghị các đại biểu phát huy tinh thần dân chủ với trách nhiệm cao nhất, phát huy trí tuệ tập thể, kinh nghiệm, gắn nghiên cứu khoa học và thực tiễn tại các địa phương để thảo luận kỹ, góp ý, đề xuất các giải pháp phù hợp, khả thi, hiệu quả và đi thẳng vào các vấn đề chính.

Phát biểu đề dẫn tại Hội nghị, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng nhấn mạnh, sau 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 1991 - 2000 và 15 năm đổi mới, vùng Đông Nam Bộ và vùng KTTĐPN đã đạt được một số thành tự đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Vùng vẫn còn một số yếu kém: kinh tế của vùng còn những yếu tố thiếu vững chắc; phát triển còn mang tính tự phát, chất lượng quy hoạch thấp; sự liên kết, phối hợp giữa các tỉnh trong vùng chưa tốt; công nghiệp về cơ bản vẫn là gia công, giá trị gia tăng thấp; năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nhiều sản phẩm chưa cao; ô nhiễm môi trường gia tăng; một số vấn đề xã hội còn nhiều phức tạp.

Cũng theo Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng, kết quả đánh giá 05 năm thực hiện Nghị quyết 53 cho thấy, vùng đã đạt được những bước phát triển quan trọng nhưng chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của vùng, quá trình phát triển vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém. Do vậy, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 27 ngày 02/8/2012 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 53 để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đông Nam Bộ và vùng KTTĐPN đến năm 2020, trong đó nhấn mạnh mục tiêu “duy trì tốc độ tăng trưởng cao, tạo chuyển biến rõ rệt về chất, nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả các ngành kinh tế, chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, đóng góp hiệu quả vào quá trình tái cấu trúc nền kinh tế của cả nước. Chủ động khai thác cơ hội, phát huy tối đa lợi thế và hạn chế các mặt bất lợi trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững kinh tế, xã hội, môi trường và bảo đảm quốc phòng, an ninh”.

Tại Hội nghị, Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh Phan Văn Mãi cho biết, kết quả thực hiện Nghị quyết 53/NQ-TW đã giúp vùng KTTĐPN và vùng Đông Nam Bộ giữ vững vai trò đầu tàu về kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ; là trung tâm tài chính, logistics, đầu mối giao lưu quốc tế lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, vùng KTTĐPN và vùng Đông Nam Bộ đang gặp nhiều thách thức, mà nghiêm trọng nhất là việc phát triển dưới mức tiềm năng và chưa phát huy tốt vai trò trung tâm kinh tế-xã hội của cả nước.

Dịp này, đồng chí Phan Văn Mãi đề xuất các định hướng chính của Nghị quyết mới về vùng KTTĐPN và vùng Đông Nam Bộ, gồm có: Nhanh chóng triển khai nhiệm vụ lập quy hoạch vùng Đông Nam Bộ theo quyết định số 463/QĐ-TTg ngày 15/4/2022; Hoàn thiện cơ chế liên kết, điều phối phát triển vùng và bộ máy giúp việc; Liên kết triển giao thông vùng: Đường bộ (vành đai, quốc lộ, cao tốc kết nối); đường thuỷ; đường sắt; Liên kết trong vấn đề bảo vệ môi trường, xử lý chất thải công nghiệp, sinh hoạt, thích ứng biến đổi khí hậu; Liên kết phát triển nguồn nhân lực và xây dựng thị trường lao động chung của vùng.

 

 TÌNH CẢM CỦA BÁC HỒ VỚI LIỆT SĨ VÀ CHIẾN SĨ


Năm 1946, trong cuộc chiến đấu 60 ngày đêm bảo vệ Hà Nội, Vũ Văn Thành, một chiến sĩ tự vệ Thủ đô đã anh dũng hi sinh. Biết tin, Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp viết lá thư gửi bác sĩ Vũ Đình Tụng, người cha của liệt sĩ, nhằm bày tỏ sự cảm thông và chia sẻ nỗi mất mát đau thương với một người cha, một trí thức lớn của đất nước lúc bấy giờ.

 

Bức thư có đoạn vô cùng xúc động: “Ngài biết rằng, tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là cả đại gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột...”. 

 

Thư Bác khiến bác sĩ Vũ Đình Tụng “nhớ đinh ninh từng lời”. Sau này, trong hồi ký, có đoạn ông viết, đại ý là chính Bác Hồ đã dạy cho ông một bài học lớn lao, biết đem tình cảm riêng của mình, của gia đình mình đặt vào trong tình cảm thiêng liêng của Tổ quốc, của dân tộc ! 

 

Xin được nói thêm: Bác sĩ Vũ Đình Tụng (1895 - 1973) quê Vụ Bản, Nam Định, một trí thức Công giáo giàu lòng yêu nước và sớm giác ngộ đi theo cách mạng. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhờ đức độ, lòng yêu nước và tài năng, bác sĩ được cất nhắc vào nhiều vị trí quan trọng trong bộ máy của chính quyền mới, trong đó có chức vụ Bộ trưởng Bộ Thương binh, Giám đốc Nha Y tế Bắc Bộ, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, Phó chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Hòa bình thế giới của nước ta... Một người cha có vị thế chính trị - xã hội như thế, mà con hi sinh oanh liệt ngoài mặt trận, điều ấy khiến chúng ta hôm nay càng bội phần cảm phục.

 

Với liệt sĩ thì vậy, với các chiến sĩ đang trực tiếp cầm súng ngày đêm đối mặt với quân thù, tình cảm của Bác Hồ biểu hiện ra sao? Có lần, tự đáy lòng mình, Bác thốt lên: “Chiến sĩ còn đói khổ, tôi ăn sao ngon được”. Mùa hè năm 1967, thời tiết Hà Nội nóng nực. Phòng Bác ở chủ trương không dùng điều hòa. Bác bàn với thư ký Vũ Kỳ: “Nắng nóng thế này, các chú bộ đội trực phòng không trên nóc Hội trường Ba Đình thì chịu sao được? Chú thử lên tìm hiểu xem, rồi về báo cho Bác ?”. Khi biết các cháu của mình đến nước chè còn chưa đủ uống, lấy đâu ra nước ngọt, Bác dùng số tiền tiết kiệm (chủ yếu là nhuận bút các bài báo của Bác), tất cả còn hơn 25 ngàn đồng (lúc đó tương đương với 60 lạng vàng); và Người yêu cầu mua nước ngọt cho các chiến sĩ đang trực chiến trên mâm pháo ở khắp miền Bắc. Số tiền đó chắc không đủ, Bác gợi ý thêm là địa phương nào có bộ đội phòng không trực chiến, thì cùng góp sức vào mà lo cho trọn vẹn.

 

Thời đất nước có chiến tranh, anh bộ đội trở thành nhân vật trung tâm, được mọi người nâng niu, quý trọng, dành mọi tình cảm và vật chất có thể để các anh hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang Tổ quốc giao phó. Người cán bộ lãnh đạo của Đảng, từ vị trí, trách nhiệm và điều kiện của mình, càng cần phải biết quan tâm hơn nữa tới người chiến sĩ. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đó là một trong những phẩm chất không thể thiếu ở người cán bộ cách mạng. 

 

Tại Hội nghị kiểm thảo chiến dịch đường số 18, tháng 5/1951, Bác căn dặn các cán bộ quân đội: “Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ chưa được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa có chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt...”. Cái ăn, cái mặc, cái ở thì ai ai cũng cần. Nhưng bộ đội phải được ưu tiên trước nhất. Người cán bộ suốt đời nên nhớ điều này.

 

Tình thương của Bác Hồ với liệt sĩ, thương binh và với chiến sĩ là tình cảm thật sự của một người cha đối với các con yêu của mình - rộng lớn, bao dung, ân cần, chi chút, máu thịt vô cùng... Nhờ vậy, không riêng gì Bác sĩ Vũ Đình Tụng, mà hầu hết đều tự nhiên thấy mình được an ủi, thấy nỗi đau và sự hi sinh của mình, của gia đình mình trở thành bé nhỏ trong tình thương mênh mông, trong sự hi sinh cao cả của vị Chủ tịch nước và của cả dân tộc Việt Nam!


 HẠNH PHÚC CỦA NHÂN DÂN LÀ MỤC TIÊU PHẤN ĐẤU CỦA ĐẢNG TA

🌸🏵🌼🌻🌺💐🌸🏵🌼🌻🌺💐


Với sự nỗ lực của Đảng, sự hưởng ứng tích cực của quần chúng nhân dân, hạnh phúc ấm no của nhân dân ngày càng được hoàn thiện. Kể từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lấy hạnh phúc của Nhân dân là mục tiêu phấn đấu cao cả và xuyên suốt các nhiệm kỳ Đại hội Đảng, mọi chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đều hướng tới hiện thực hóa mục tiêu đó.


Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định “quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền lợi và lợi ích chính đáng của nhân dân; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(5). Để hướng tới bảo đảm hạnh phúc cho nhân dân, Đại hội XIII xác định “Thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân”(6) trên cơ sở tập trung khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào, ý chí tự cường, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội và khát vọng phát triển đất nước của toàn dân tộc; xây dựng các cơ chế, chính sách, phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam; phát huy tối đa nhân tố con người - coi con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển.


Phát biểu tại phiên bế mạc Đại hội XIII của Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tiếp tục nhấn mạnh, không phải Đại hội xong là coi như xong. Đây chỉ là mở đầu, làm được hay không, có biến Nghị quyết Đại hội thành hiện thực sinh động hay không, có làm ra của cải vật chất, mang lại “giàu có và hạnh phúc” cho nhân dân hay không mới là thành công thực tế của Đại hội.


Theo đó, hạnh phúc của nhân dân chỉ có thể được thực hiện một cách thực chất khi Đảng, Nhà nước quan tâm lãnh đạo, xây dựng các chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội phù hợp, giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, kiểm soát sự phân hóa giàu nghèo, kiểm soát và xử lý kịp thời, hiệu quả các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Bảo đảm phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, tiến tới bao phủ toàn dân để “không ai bị bỏ lại phía sau”. Thực hiện cải cách hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng dựa trên nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ - bền vững. Triển khai, thực hiện chính sách giảm nghèo, tập trung giải quyết nhóm nghèo, vùng nghèo, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, miền, dân tộc đây là cơ sở vững chắc nhất bảo đảm hạnh phúc cho nhân dân.


Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu tổng quát: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(7). Đồng thời, tại Đại hội XIII của Đảng đã xác định: Đến năm 2025, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030 phấn đấu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 phấn đấu trở thành nước phát triển, thu nhập cao.


Để công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì hạnh phúc của nhân dân đạt kết quả tốt, cần không ngừng chú trọng, thực hiện chất lượng, hiệu quả một số nhiệm vụ, giải pháp sau:


♦️ Một là, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phải làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh toàn diện. Kiên định, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Đảng phải lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu, động lực để phấn đấu trên cơ sở tăng cường khối đại đoàn kết, gắn bó chặt chẽ giữa Đảng với nhân dân, đề cao lợi ích của nhân dân bảo đảm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.


♦️ Hai là, quán triệt sâu sắc và thực hiện quan điểm “dân là gốc”, thực sự vì hạnh phúc của nhân dân; tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm; mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; thắt chặt mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân; củng cố và ang cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, vì chỉ có chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm hạnh phúc lâu dài cho nhân dân.


♦️ Ba là, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, cần có quyết tâm cao, nỗ lực lớn, năng động, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhằm phát huy mọi nguồn lực, tính ưu việt của chế độ và sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân.


♦️ Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ. Kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.


♦️ Năm là, phát huy tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và hệ thống chính trị giữ vững kỷ cương; bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế gắn với tiến bộ, công bằng xã hội; coi trọng nhân tố con người, luôn coi hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu, động lực phấn đấu của Đảng… Cụ thể hóa và triển khai thực hiện chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ “6 dám”: dám nghĩ, dám làm, dám nói, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá, sáng tạo và dám đương đầu theo Kết luận số 14-KL/TW Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung.


Lý luận và thực tiễn đều cho thấy công cuộc cách mạng xây dựng xã hội chủ nghĩa, đất nước Độc lập – Tự do – Hạnh phúc của Đảng Cộng sản Việt Nam là một sự nghiệp sáng tạo và vĩ đại. Và hơn 90 năm qua, Đảng luôn lấy ấm no, hạnh phúc của nhân dân là thước đo giá trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, không gắn bó với nhân dân và không thật sự chăm lo cho ấm no, hạnh phúc của nhân dân thì Đảng không còn lý do để tồn tại. Đó là sự nhất quán trong tư tưởng và hành động của Đảng ta, trong suy nghĩ và việc làm của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đó cũng là cội nguồn làm nên sức sống, sự trường tồn của Đảng Cộng sản Việt Nam, khi ý Đảng – lòng dân luôn hòa quyện và trở thành sức mạnh vô địch đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn nhằm chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân.


Mục tiêu cao cả tối thượng của Đảng Cộng sản Việt Nam là vì Hạnh phúc của nhân dân. Do vậy, mỗi cán bộ đảng viên cần tuyệt đối trung thành với con đường mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã lựa chọn, thực hiện trọn vẹn 4 nhiệm vụ của người đảng viên đã thề khi đứng dưới lá cờ Đảng, cần không ngừng học tập, rèn luyện để có “đôi chân vững và đôi bàn tay sạch” đúng như lời Tổng Bí thư căn dặn. Bảo vệ Đảng là bảo vệ chính mình, nhất là trong tình hình hiện nay, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản tại Việt Nam. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nêu cao tinh thần cách mạng, rèn đức luyện tài, trở thành người cán bộ vừa hồng, vừa chuyên, không ngừng rèn luyện đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy.


Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: Chúng ta - những người chiến sĩ cách mạng sẽ vì danh dự của Đảng Cộng sản Việt Nam, danh dự của người đảng viên mà sống, chiến đấu, học tập, lao động vì sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, vì mục tiêu cao cả nhất, nhân văn nhất mà Đảng ta đã lựa chọn đó là: Mang lại Hạnh phúc cho nhân dân./.


ĐỨC VINH- KHXH&NV.

__________

(5) (6) (7) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.I, tr.27-28, 47, 111-112.


Nguồn: https://www.tuyengiao.vn/dua-nghi-quyet-cua-dang-vao-cuoc-song/hanh-phuc-cua-nhan-dan-la-muc-tieu-phan-dau-cua-dang-ta-139633

 PHÁT HUY TINH THẦN TÁC PHẨM "TỰ CHỈ TRÍCH" TRONG XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG (P1)

🌸🏵🌼🌻🌺💐🌸🏵🌼🌻🌺💐


Đồng chí Nguyễn Văn Cừ (1912-1941) là lớp đảng viên thuộc thế hệ đầu tiên và trở thành Tổng Bí thư của Đảng vào tháng 3/1938, khi chưa đầy 26 tuổi. Với 29 tuổi đời, hơn 13 năm hoạt động cách mạng, hai lần bị tù với 7 năm giam cầm trong nhà tù đế quốc, hơn 2 năm làm Tổng Bí thư, cuộc đời của đồng chí tuy ngắn ngủi nhưng “cống hiến của đồng chí thì sáng rực như một ánh sao băng trên bầu trời cách mạng Việt Nam ở một thời đoạn lịch sử mang tính bước ngoặt lớn, phức tạp”(1). Đồng chí đã để lại tấm gương sáng ngời về tinh thần cách mạng và nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, đặc biệt là đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng thể hiện qua tác phẩm “Tự chỉ trích”.


TÁC PHẨM LÝ LUẬN MẪU MỰC VỀ TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH TRONG ĐẢNG


Đồng chí Nguyễn Văn Cừ là Tổng Bí thư của Đảng trong thời kỳ cách mạng thế giới và trong nước có những diễn biến phức tạp, nhất là sau bầu cử Hội đồng quản hạt ở Nam Kỳ (4/1939), nội bộ Đảng và phong trào cách mạng xuất hiện những khuynh hướng khác nhau, có thể gây chia rẽ, phân liệt Đảng. Với bút danh Trí Cường, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã viết cuốn sách “Tự chỉ trích”, do nhà sách Dân chúng ấn hành tại Sài Gòn năm 1939. Thông qua tác phẩm này, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã chỉ đạo triển khai cuộc đấu tranh vạch trần bộ mặt giả danh cách mạng của bọn tờrốtkít, tiến hành tự phê bình và phê bình, thực hiện dân chủ, xây dựng, củng cố sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, đồng thời, cũng là sự chuẩn bị về chính trị, tư tưởng cho Hội nghị Trung ương lần thứ 6, tháng 11/1939 quyết định sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng của Đảng, bước vào giai đoạn đấu tranh giành chính quyền.


Mục đích của tự chỉ trích là “để tìm ra những nguyên nhân thất bại và nghiên cứu phương pháp sửa lỗi và tiên thủ”(2). Đảng mới thành lập còn ít kinh nghiệm, lại hoạt động trong điều kiện bất hợp pháp, bị kẻ thù đàn áp, nên khó tránh khỏi khiếm khuyết, sai lầm, nhưng "Mỗi cuộc thất bại là một dịp cho ta kinh nghiệm, coi những khẩu hiệu ta đề ra có được quảng đại quần chúng hiểu, công nhận và thực hành không"(3). Việc tự chỉ trích “thành thật và mạnh dạn” nhằm “thống nhất tư tưởng, một sự thống nhất thật sự, mạnh mẽ, dựa trên sự giác ngộ và trung thành của mọi người”(4). Phê bình không phải là làm yếu Đảng, mà làm cho Đảng mạnh lên, đáp ứng sự phát triển của phong trào cách mạng trong tình hình mới. Muốn vậy, trước hết những người cộng sản phải hiểu thế nào là “tự chỉ trích Bôsêvích”, phải xuất phát từ động cơ xây dựng Đảng, đồng thời, phải có trình độ lý luận và năng lực thực tiễn dày dặn để “biết phân tích tình hình theo mácxít, phải biết những điều kiện đặc biệt của Đông Dương”(5), không để kẻ thù lợi dụng hạ thấp uy tín và phá hoại Đảng.


Nội dung đấu tranh phê bình và tự phê bình phải gắn liền với nhiệm vụ chính trị quan trọng của Đảng, kịp thời uốn nắn những lệch lạc trong phong trào dân chủ, sai lầm trong phương thức vận động quần chúng. Đồng chí chỉ ra những căn bệnh như bệnh tự ái cá nhân, mơ hồ về lập trường giai cấp, “một bộ phận đồng chí đã chệch hướng sang hữu, đã do dự và hành động ngược lại chính sách của Đảng”; có đồng chí biểu hiện xu hướng “tả khuynh” cô độc nó muốn làm cho Đảng co bé, rút hẹp bởi biệt phái, cách xa quần chúng”(6). Những sai lầm đó “chỉ làm trầm trọng thêm những nguy cơ đang đe dọa chúng ta từ mọi phía”(7), ảnh hưởng tới khối đoàn kết thống nhất trong Đảng, gây tổn thất nghiêm trọng cho sự nghiệp cách mạng.


Tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình của đồng chí Nguyễn Văn Cừ là phải nhìn thẳng vào sự thật, nhận rõ khuyết điểm. Người cộng sản chân chính “dẫu cho có sai lầm, có thất bại thì phải có can đảm “mở to mắt ra nhìn sự thật”, “phải chịu hoàn toàn trách nhiệm..."(8). Sự thống nhất đạt được sau thảo luận, sau tự phê bình và phê bình, sau khi được làm rõ đúng sai, phải trái sẽ trở thành sự thống nhất tự giác, là cơ sở cho sự đồng thuận, đoàn kết của tập thể, sự thống nhất ý chí của Đảng. Nếu không dám đấu tranh, chỉ cốt “Giữ cái vỏ thống nhất mà bên trong thì hổ lốn một cục” thì đó “không phải một Đảng tiền phong cách mạng mà là một Đảng hoạt đầu cải lương”. Đảng sẽ mất tính chiến đấu và không còn vai trò tiền phong với quần chúng cách mạng.


“Tự chỉ trích” là văn kiện lý luận chính trị quan trọng của Đảng, đã thể hiện rõ nét năng lực tư duy lý luận, sự am hiểu tình hình thực tiễn, tâm huyết và trách nhiệm lớn lao của người giữ cương vị cao nhất của Đảng bấy giờ. Ra đời cách đây hơn 80 năm, nhưng tinh thần “Tự chỉ trích” của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ vẫn vẹn nguyên giá trị thời sự; là một giải pháp quan trọng, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII để tiếp tục xây dựng, phát triển Đảng trở thành một Đảng cách mạng, chân chính, vững mạnh, xứng đáng với sự hy sinh, cống hiến của lớp lớp các thế hệ đảng viên, sự tin tưởng, kỳ vọng của các tầng lớp nhân dân với Đảng, với cách mạng. 


Phê bình và tự phê bình phải giữ vững nguyên tắc của Đảng mácxít. Trước thành bại của cách mạng, người đảng viên cộng sản “không bi quan hoảng hốt mà cũng không đắc trí tự mãn”. Mỗi đảng viên có quyền tự do thảo luận và chỉ trích, nhưng phải có nguyên tắc, không được “đặt cá nhân mình lên trên Đảng, đem ý kiến riêng - dù là đúng - đối chọi với Đảng, vin vào một vài khuyết điểm mà mạt sát Đảng, phá hoại ảnh hưởng của Đảng, gieo mối hoài nghi lộn xộn trong quần chúng, gây mầm bè phái chia rẽ trong đội ngũ Đảng..."(9). Đó là những hành động mang tính chất hữu khuynh, cơ hội. Nguyên tắc của Đảng cũng không cho phép tranh luận, phô bầy công khai các vấn đề nội bộ. Đó là sự thể hiện của xu hướng “tả” khuynh. Mọi đảng viên đều có quyền tranh luận, phê bình đồng chí, phê bình Đảng, nêu các vấn đề nội bộ, trong khuôn khổ của tổ chức. Và khi đã thảo luận rõ ràng rồi, đã xây dựng thành nghị quyết thì “chỉ có một ý chí duy nhất là ý chí của Đảng, ngàn người sẽ như một để thực hành ý chí ấy”(10). Việc tự phê bình và phê bình cần vượt qua những điều “cãi vã những chuyện nhỏ nhen”, tuyệt đối tránh tình trạng “đả kích hoặc cường điệu những sai lầm khuyết điểm của đồng chí mình”, phải bảo đảm tính giáo dục, giúp nhau tiến bộ; kịp thời sửa chữa, không để khuyết điểm, sai lầm nhỏ thành lớn.


Muốn khắc phục sai lầm, khuyết điểm, phải phân tích đúng nguyên nhân của các sai lầm và có biện pháp giải quyết phù hợp.


Trong lời kết của “Tự chỉ trích”, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã để lại một kinh nghiệm hết sức quý báu cho Đảng: “Chúng ta đã phải chiến thắng những xu hướng sai lầm trong hàng ngũ: xu hướng “tả khuynh” cô độc nó muốn làm cho Đảng co bé, rút hẹp bởi biệt phái, cách xa quần chúng và xu hướng thoả hiệp hữu khuynh, lung lay trước những tình hình nghiêm trọng nhãng quên hoặc che lấp sự tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin, lăm le rời bỏ những nguyên tắc cách mệnh”(11). Hai khuynh hướng ấy luôn là nguy cơ thường trực, làm suy yếu Đảng trong mọi thời kỳ cách mạng.


(Còn tiếp)


ĐỨC VINH- KHXH&NV (st)

___________

(1) Nguyễn Đức Bình: Nguyễn Văn Cừ, nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng và cách mạng Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2002, tr. 47.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2000, t.6, tr. 620

(3) (4) (5) (6) (7) (8) (9) (10) (11) Nguyễn Văn Cừ: Một số tác phẩm, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2010, tr. 221, 216, 215, 242, 243, 220, 219, 216, 242.


© Tạp chí của Ban Tuyên giáo Trung ương

TÌM HIỂU THÊM VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM-CÙNG XÂY DỰNG NIỀM TIN!

         Trong các nghị quyết về đường lối đối ngoại, Đảng, Nhà nước ta đã thống nhất cao về nhận thức và quyết tâm thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Mục tiêu bao trùm của đường lối đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện các nhiệm vụ chiến lược về phát triển kinh tế – xã hội; đồng thời kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích chính đáng của ta phù hợp với luật pháp quốc tế.
     Từ những vấn đề đó đã cho thấy những sự xuyên tạc, bịa đặt của các thế lực thù địch chống phá đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng ta là hoàn toàn sai trái và nguy hại, mỗi chúng ta cần nêu cao cảnh giác, không để mắc mưu các thế lực thù địch làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia dân tộc và cuộc sống hòa bình của Nhân dân ta./.




Yêu nước ST 

ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI CL "DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH" CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH!

         Internet và mạng xã hội là một sản phẩm của văn minh nhân loại. Tham gia mạng xã hội là xu thế tất yếu trong thời đại cách mạng số. Tuy nhiên, trước việc các thế lực thù địch đang lợi dụng mạng xã hội để chống phá cách mạng nước ta ngày càng tinh vi, phức tạp, thì vấn đề tham gia mạng xã hội như thế nào để vừa phục vụ nhu cầu tốt đẹp của cuộc sống hiện đại, nhưng lại không sa vào cạm bẫy của các thế lực thù địch, làm phương hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc, ảnh hưởng đến nhận thức, tâm tư, tình cảm, quan điểm lập trường, niềm tin là việc làm cần thiết đối với mỗi chúng ta khi tham gia mạng xã hội.
    Để nâng cao “sức đề kháng”, làm thất bại âm mưu, hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội của các thế lực thù địch, CB,CS trong Quân đội cần thực hiện tốt một số giải pháp sau đây: (1) Thực hiện nghiêm mọi quy định khi tham gia mạng xã hội, “Bộ quy tắc ứng xử cho mạng xã hội Việt Nam”; nâng cao cảnh giác trước những hành vi lợi dụng mạng xã hội làm tổn hại lợi ích quốc gia, dân tộc, xâm phạm quyền riêng tư của con người… Tất cả những kẻ lợi dụng mạng xã hội để bịa đặt, xuyên tạc, xúc phạm cá nhân, tổ chức, xâm phạm an ninh quốc gia, chống phá Đảng, Nhà nước đều phải bị nghiêm trị. (2) Chủ động cung cấp thông tin chính thống để định hướng dư luận, nâng cao nhận thức và sàng lọc thông tin của người dân; tuyên truyền, giáo dục để mọi người cùng nâng cao lòng yêu nước, bản lĩnh chính trị, biết cách lựa chọn và tiếp nhận thông tin thiết thực, bổ ích. (3) Tích cực tham gia các bài viết đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ, chống phá của các thế lực thù địch, những thông tin giả mạo, sai lệch (4) Tham gia mạng xã hội cần tự trang bị cho mình kiến thức an ninh mạng cơ bản, biết nhận diện những trang thông tin, những diễn đàn trên mạng xã hội đăng tải những thông tin xấu độc, phản động; cảnh giác, thận trọng, sàng lọc, tiếp nhận thông tin hữu ích, chính thống, đồng thời có khả năng tiếp nhận thông tin hữu ích, chính thống, đồng thời có khả năng “miễn dịch” với những thông tin xấu, độc, phản động; có ý thức ngăn chặn, phản bác cái xấu một cách có lý, có tình, thuyết phục. Đối với những bài viết, video có nội dung xấu, độc, phản động được phát tán trên mạng xã hội, mỗi cá nhân cần lên tiếng phản bác hoặc hạn chế sự lan truyền của chúng bằng cách lựa chọn ẩn bài viết để quản trị mạng xử lý; không nên nghe, đọc, xem những đài, báo, trang mạng, bài viết, blogs, video của những phần tử chống đối, phản động./.




Môi trường ST.

 KHÔNG MỘT AI TỔ CHỨC NÀO NÓI XUYÊN TẠC VỀ BÁC KÍNH YÊU CỦA CHÚNG TA

 ADMIN “THANH NIÊN CÔNG GIÁO” LỢI DỤNG TIN ĐỒN VỀ HAI NGHỆ SĨ NGƯỜI VIỆT ĐỂ BỒI BÚT XUYÊN TẠC


Vừa qua, câu chuyện về việc dễn viên Hồng Đăng và nhạc sĩ Hồ Hoài Anh có chuyến đi Ý và Tây Ban Nha, đặc hai nghệ sĩ này đã vướng phải những ồn ào đi nước ngoài không xin phép cơ quan quản lý. Đặc biệt, nhiều trang mạng xã hội còn tiết lộ tìn đồn hai nghệ sĩ này còn vướng phải cáo buộc "xâm hại tình dục đối với trẻ vị thành niên 17 tuổi" và "xâm phạm quyền riêng tư" ở Tây Ban Nha.


Theo thông tin từ Bộ Ngoại giao Việt Nam, họ đã cung cấp thông tin về 2 trường hợp này. Đại sứ quán Việt Nam tại Tây Ban Nha đã nhận được thông báo từ cảnh sát Tây Ban Nha. Đại sứ quán đã khẩn trương bước đầu triển khai các biện pháp bảo hộ công dân. Hiện nay đại sứ quán vẫn tiếp tục theo dõi vụ việc, sẵn sàng triển khai các biện pháp bảo hộ công dân theo đúng quy định của pháp luật sở tại và của Việt Nam.


Phía Bộ Ngoại giao cũng cho biết thêm, các cơ quan chức năng Tây Ban Nha đang trong quá trình thu thập thông tin, chứng cứ phục vụ điều tra vụ án. Hai công dân nói trên sức khoẻ bình thường, được hỗ trợ pháp lý theo đúng quy định.


Sự việc hiện tại vẫn chưa rõ đầu đuôi cụ thể như nào, nhưng độ hấp dẫn của sự việc vì liên quan đến hai nghệ  sĩ rất nổi tiếng của Việt Nam đã trở thành chủ đề của dư luận. Người chia sẻ, đồng cảm cũng có, lên án thì cũng không ít.


Thế nhưng, lạ thay, admin “Thanh niên Công giáo” lại quan tâm đến sự việc theo đúng phong cách mà họ vẫn làm lâu nay đó là lợi dụng mọi vấn đề nhạy cảm trong xã hội để “mượn gió bẻ măng”, bôi nhọ những đối tượng mà họ coi là “thiếu thân thiện”. 


Nhưng đáng lên án hơn cả là nhiều lần admin “TNCG” cố tình bẻ lái, tát bùn sang ao để xúc phạm đến anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Liên quan đến những lùm xùm từ phia hai nghệ sĩ kia, admin “TNCG” xuyên tạc rằng: Các cháu đảng viên trẻ học tập và làm theo lời bác, đêm khuya lọ mọ đi tìm cục gạch để sưởi ấm, ai ngờ...


Một lần nữa chúng ta lên án những luận điệu xuyên tạc như vậy và đó là hành động xấu xí của những người vô ơn khi bôi lem hình ảnh Vị Cha già kính mến của dân tộc Việt Nam và họ cũng không xứng đáng là công dân nước Việt Nam. Việc hai nghệ sĩ ra nước ngoài và những tin đồn về scandal mà họ đang vướng phải (nếu có) thì đều xuất phát từ hành vi cá nhân, chẳng có chút liên hệ giữa giữa nghệ sĩ với đảng viên.


Vậy nhưng với não trạng của những người mang tâm tưởng cực đoan tôn giáo, thì bất cứ sự việc nhạy cảm, thu hút sự quan tâm chú ý của dư luận, thì y như rằng, qua sự nhào nặn của admin “TNCG”, những sự việc đó đều bị bẻ lái, xuyên tạc theo mục đích chống nhà cầm quyền hoặc bôi nhọ, xúc phạm Lãnh tụ Hồ Chí Minh.Không chỉ ở nước ta mà cả thế giới trân quý ngưỡng mộ Bác Hồ! 

Nguồn:St

 LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 09/7


        “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại. Muốn thành công, phải biết cách tuyên truyền”.


          Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Người tuyên truyền và cách tuyên truyền”, đăng trên Báo Sự thật, số 79, từ ngày 26 tháng 6 đến ngày 09 tháng 7 năm 1947.


         Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp trong toàn quân luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác tuyên truyền, xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân có lý tưởng chiến đấu cao đẹp, yêu nước, yêu chế độ, trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân; đề cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, ý chí vượt qua khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, gan dạ, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu và công tác; có tinh thần đoàn kết nội bộ tốt, tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn; tính kỷ luật tự giác, nghiêm minh, tinh thần quốc tế cao cả; gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân hết lòng giúp đỡ, tin yêu, ghi nhận và trao tặng danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. Hằng năm, toàn quân có hàng chục nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ tham gia làm công tác dân vận, các đoàn kinh tế - quốc phòng, cán bộ Bộ đội Biên phòng tăng cường xã… đã trực tiếp tham gia làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xây dựng hệ thống chính trị, tăng cường quốc phòng - an ninh, phát triển kinh tế - xã hội; giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; thực hiện công tác dân tộc, tôn giáo trên các địa bàn, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, mối quan hệ máu thịt quân - dân và “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc./.