Chủ Nhật, 10 tháng 7, 2022

 

Phát huy các năng lượng tích cực của con người Việt Nam để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc

Muốn đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc cường thịnh, trường tồn thì một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là giải phóng, phát huy được những năng lượng tích cực của con người Việt Nam. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra các giải pháp lớn cho vấn đề này. Trong thời gian tới, cần hiện thực hóa các giải pháp đó bằng các hành động cụ thể, thiết thực để đưa Nghị quyết Đại hội XIII vào cuộc sống.

1- Năng lượng tích cực của con người Việt Nam trong suốt dòng chảy lịch sử được nhìn nhận, đánh giá dưới nhiều góc độ, như tinh thần yêu nước; ý chí tự cường, tự tôn dân tộc; tinh thần đoàn kết; khát vọng độc lập, tự do, cường thịnh, trường tồn; tinh thần sáng tạo...

Có một đặc thù nổi bật trong lịch sử là dân tộc Việt Nam luôn phải chống giặc ngoại xâm. Nạn ngoại xâm là một nguy cơ gần như có tính chất thường trực đối với đất nước ta. Chỉ tính từ cuộc kháng chiến chống quân Tần ở thế kỷ thứ III trước Công nguyên đến nay, dân tộc ta đã phải tiến hành gần 20 cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc; trong đó, 14 cuộc chiến tranh thắng lợi hiển hách, chỉ có 3 cuộc kháng chiến bị thất bại tạm thời, và hàng trăm cuộc khởi nghĩa nhằm giải phóng dân tộc. Thời gian chống ngoại xâm của dân tộc ta cộng lại chiếm hơn nửa thời gian lịch sử (tính từ thế kỷ thứ III trước Công nguyên đến nay). Chỉ qua những số liệu tính toán sơ bộ đó thôi đã cho thấy, trên con đường sinh tồn và phát triển, dân tộc ta đã phải liên tiếp chống ngoại xâm; vì thế, tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, tự tôn dân tộc là đặc trưng nổi bật nhất của dân tộc Việt Nam.

Theo Giáo sư Phan Huy Lê, không có mấy thế kỷ mà dân tộc ta không phải chống xâm lược. Thời Bắc thuộc là hơn 10 thế kỷ liên tục chống xâm lăng. Có những thế kỷ mặc dù độc lập, nhưng dân tộc ta phải tiến hành hai đến ba cuộc chiến tranh hết sức quyết liệt để bảo vệ Tổ quốc. Chẳng hạn, thế kỷ XIII vào thời nhà Trần, chỉ trong vòng 30 năm (1258 - 1288) nước Đại Việt phải đương đầu với ba cuộc xâm lăng của đế quốc Mông - Nguyên khét tiếng trên thế giới đương thời. Cuối thế kỷ XVIII, trong vòng 5 năm (1784 - 1789), dân tộc ta được sự cổ vũ của phong trào Tây Sơn đã vùng lên quét sạch hai đạo quân xâm lược: Xiêm từ phía Nam và Thanh từ phía Bắc. Riêng thế kỷ XX, dân tộc ta đã phải tiến hành bốn cuộc kháng chiến chống xâm lược.

Cần nhấn mạnh rằng, trong hầu hết các trường hợp, nước đi xâm lược lại mạnh hơn ta nhiều lần về nhiều mặt, do đó, cuộc chiến đấu vì độc lập tự do của dân tộc ta thường diễn ra trong so sánh lực lượng rất chênh lệch. Điều đó càng làm nổi bật tính chất khốc liệt, gian khổ của các cuộc kháng chiến này. Điều này được minh chứng trong các cuộc kháng chiến chống quân Tần, Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, Pháp, Nhật, Mỹ... Trên thế giới có năm châu thì có đến ba châu đã từng có quốc gia đến xâm lược nước ta. Sở dĩ có hiện tượng này là do nước ta nằm trên một vị trí địa - chính trị vô cùng quan trọng. Mảnh đất hình chữ S này là nơi nối liền đại lục với hải đảo, đại dương; là đầu mối giao thông giữa Bắc và Nam, Đông và Tây của địa cầu. Ngay từ thời rất xa xưa, nơi đây đã là cầu nối, điểm trung chuyển, giao lưu giữa các luồng văn minh, văn hóa. Với vị trí đó, nước ta là nơi “đầu sóng ngọn gió”, là “tiền đồn” của vùng Đông Nam Á.

Xưa nay, từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, bất kỳ một nước nào có tham vọng chinh phục, bành trướng ra vùng Đông Nam Á, đều coi nước ta là một địa bàn chiến lược cần phải chiếm lấy. Trong ý đồ của các thế lực thực dân, chiếm nước ta không phải chỉ để cướp đoạt những của cải tài nguyên giàu có, mà còn hòng biến xứ sở này thành “bàn đạp” để lan tỏa ra các nước Đông Nam Á, tiến vào đại lục và tràn ra đại dương, hải đảo. Như vậy, chiếm được nước ta sẽ khống chế được toàn bộ vùng Đông Nam Á, án ngữ được ba hướng: Nam, Đông và Đông Nam của châu Á. Giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng, tạo hóa vô tri đặt để Việt Nam nhỏ yếu mà trù phú ở bên cạnh người khổng lồ và ở trên ngã ba đường thông thương quốc tế Bắc - Nam, Đông - Tây. Ở vị trí địa lý ấy, Việt Nam khác nào “món thịt ngon phơi trước mồm hổ đói”, tránh sao khỏi “cấu xé, lắm phen bị dẫm đạp”. Trong cảnh ngộ đó, Việt Nam hoặc phải bị nghiền nát như tương, hoặc phải trở nên rắn như thép. Lựa chọn thứ hai đã trui rèn, làm nên bản lĩnh Việt Nam. Do hoàn cảnh nước ta luôn thường trực phải chống giặc ngoại xâm, nên chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử tư tưởng Việt Nam; và, cũng phần nào quy định ý chí tự cường, tự tôn dân tộc; tinh thần đoàn kết; khát vọng độc lập, tự do, cường thịnh, trường tồn; tinh thần sáng tạo của con người Việt Nam.

Những tiềm năng, năng lượng tích cực này, trong thời chiến chúng ta đã giải phóng, phát huy khá tốt, nhưng vấn đề đặt ra là trong thời bình chúng ta cũng cần tiếp tục giải phóng, phát huy để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai cùng các cường quốc năm châu như ước nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những năng lượng tích cực này cũng là sức mạnh mềm của dân tộc. Đã có nhiều bằng chứng cho thấy, một quốc gia sẽ thực sự hùng mạnh khi kết hợp hài hòa sức mạnh “cứng” với sức mạnh “mềm”. Trong khi sức mạnh “cứng” cần nhiều thời gian, sức lực, tiền của để tạo dựng thì sức mạnh “mềm” là những thứ chúng ta hầu như đang có trong tầm tay. Làm sao để khơi dậy và tận dụng được sức mạnh “mềm” nhiều hơn nữa, tận dụng một cách tối ưu sức mạnh này là vấn đề cấp bách hiện nay để có thể đưa đất nước phát triển một cách bền vững. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chú trọng và đề ra những giải pháp căn cơ nhằm phát huy sức mạnh mềm Việt Nam, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

2- Từ những nội dung, giải pháp được trình bày trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, có thể thấy để giải phóng, phát huy những năng lượng tích cực hay sức mạnh “mềm” của con người Việt Nam trong phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, cần tập trung thực hiện những nội dung sau:

Một là, phát huy tinh thần yêu nước, ý chí dân tộc của mỗi người Việt Nam hiện nay. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhiều lần đề cập tới việc cần phải phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc của mỗi người Việt Nam hiện nay. Đặc biệt, trong bối cảnh đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay, thì hơn lúc nào hết, chúng ta cần tập trung khơi dậy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc - động lực quan trọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Yêu nước, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, là mỗi người phải hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trên cương vị của mình, phải đặt lợi ích của Tổ quốc, dân tộc lên trên hết, trước hết. Ngay từ những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thấy rõ, ở Việt Nam, chủ nghĩa dân tộc là một động lực to lớn. Người cho rằng, đã là người Việt Nam, thì ít hay nhiều ai cũng có lòng yêu nước: “Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc”(1). Có thể có người, ở lúc nào đó, trong một hoàn cảnh nào đó, vì lợi nhỏ mà quên nghĩa lớn, nhưng nhìn chung trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, đã là người Việt Nam thì dù ít hay nhiều, dù lúc này hay lúc khác, đều có lòng yêu nước. Yêu nước, theo Người, không chỉ bằng hành động cầm súng đứng ở tiền tuyến trực diện tiêu diệt quân thù, mà còn thể hiện bằng sự đóng góp ở những công việc cụ thể, nhỏ bé nhưng vô cùng quan trọng và phong phú, đa dạng diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc, ở mọi lứa tuổi, đều nhằm một mục đích là giúp cho kháng chiến mau chóng đi đến thắng lợiNgày nay, quán triệt tư tưởng của Người, trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta chỉ rõ, động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc; phải bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi.

Bối cảnh Việt Nam hiện nay cũng khác nhiều so với trước kia, bởi vậy, chủ nghĩa yêu nước hiện nay cũng có những điểm đặc thù khác trước. Nếu như yêu nước trước kia có trọng tâm là đánh đuổi quân xâm lược, thì ngày nay, trọng tâm là phải làm sao cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; dân tộc trường tồn, đất nước hùng mạnh. Vì thế, hiện nay, chúng ta cần phải có cơ chế giải phóng, phát huy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí dân tộc để phát triển đất nước nhanh, bền vững, như mục tiêu Đại hội XIII của Đảng đã đề ra.

Hai là, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh, thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; bảo đảm công khai, minh bạch thông tin, quyền được thông tin và cơ hội tiếp cận thông tin của mọi tầng lớp nhân dân; thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, nhất là dân chủ ở cơ sở; chống các biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức; hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân.

Có dân chủ thì mới phát huy được tiềm năng, thế mạnh của từng người; có dân chủ thì mọi sáng kiến mới được đưa ra; còn mất dân chủ, chuyên quyền, độc đoán thì không ai dám nói, dám làm và sẽ làm thui chột mọi khả năng sáng tạo. Muốn phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, thì yêu cầu đặt ra là phải thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy cao độ quyền làm chủ của nhân dân, chống lại các biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức. Hiện nay, ở một số nơi, một số tổ chức, bề ngoài thì tỏ ra dân chủ, nhưng thực chất bên trong lại mất dân chủ; nếu như thế thì việc hô hào phát huy tiềm năng, thế mạnh của từng người cũng chỉ là khẩu hiệu trống rỗng mà thôi. Không phải ngẫu nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại căn dặn, đó là dân chủ phải “thật”, “thực”, “thực sự”, chứ không phải là hình thức. Từ đó, việc hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, có vai trò, ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng còn thẳng thắn chỉ ra, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa có lúc, có nơi chưa được quan tâm phát huy đầy đủ... vì thế, phải khắc phục những hạn chế này một cách nhanh chóng.

Ba là, kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn, vướng mắc, không chỉ trong hoạt động kinh tế mà cả trong các cơ chế, chính sách, cách tổ chức quản lý, trong bộ máy lãnh đạo, quản lý nhằm giải phóng, phát huy tiềm năng thế mạnh của mỗi người. Trong Văn kiện Đại hội XIII có nhấn mạnh đến hạn chế là, chúng ta chưa tạo được nhiều cơ chế, chính sách, giải pháp có tính đột phá, đồng bộ để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc; nhằm khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước. Cần tập trung nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn để làm rõ: Trong việc giải phóng, phát huy tiềm năng thế mạnh của từng con người, chúng ta đang gặp phải những điểm nghẽn, vướng mắc nào? Đồng thời, phải trả lời câu hỏi: Trong các cơ quan nhà nước, chúng ta đã phát huy được tiềm năng, thế mạnh của từng người chưa?

Bốn là, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Không có sáng tạo thì cũng không có sự phát triển, sáng tạo sẽ thúc đẩy phát triển; như vậy, muốn phát triển thì phải sáng tạo. Theo học giả Đào Duy Anh, nhiều người cho rằng dân tộc Việt Nam là dân tộc thực dụng, chỉ biết thu nhận, tiếp biến các hệ thống tư tưởng, tôn giáo từ bên ngoài cho phù hợp với mình, chứ không có sự sáng tạo. Theo đó, họ nêu ra quan điểm cho rằng, dân tộc ta không tạo nên được những hệ thống lý luận triết học, không có các nhà triết học và tôn giáo lớn; người Việt Nam chỉ giỏi bắt chước, tín ngưỡng tâm linh của người Việt Nam nhẹ nhàng, nhưng không sâu sắc(?!)... Nhưng việc tiếp thu rồi cải biến các học thuyết, tôn giáo cho phù hợp với thực tiễn của dân tộc và mang lại lợi ích thiết thực cho đất nước, thì điều đó cũng là một sáng tạo lớn.

Thực tế cho thấy, dân tộc Việt Nam đâu phải chỉ biết tiếp thu, cải biến đơn thuần như vậy. Trong Phật giáo, các Thiền sư Việt Nam trên cơ sở “cái phông” Phật giáo Ấn Độ, Trung Hoa, đã tạo nên một hệ thống lý luận mới, chẳng hạn như triết lý “Nhậm vận”, “Vô bố úy” của Vạn Hạnh, “Lục thì sám hối khóa nghi tự” của vua Trần Thái Tông... Nhưng điểm đáng chú ý nhất ở đây không phải chỉ là những thành tựu đó, mà là con đường đi đến giác ngộ bằng hành động thực tiễn hằng ngày của Phật giáo Trúc Lâm Việt Nam. Không sáng tạo thì làm sao dân tộc ta có thể đánh thắng nổi những đội quân xâm lược hùng mạnh, nếu không muốn nói là hùng mạnh nhất thế giới thời đó. Ngày nay, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ vận dụng sáng tạo, mà còn làm giàu và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin lên một bước mới trong điều kiện hoàn cảnh lịch sử - cụ thể của Việt Nam. Do đó, có thể khẳng định tinh thần sáng tạo là một tiềm năng tích cực, một sức mạnh mềm của Việt Nam. Sáng tạo trong chiến tranh nhằm đánh thắng quân xâm lược; còn sáng tạo trong hòa bình nhằm phát triển đất nước hùng cường, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng đã chỉ ra, năng lực sáng tạo của các nhà khoa học chưa được phát huy đầy đủ. Vì thế, để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, trước hết phải nỗ lực hơn nữa nhằm tạo ra được bầu không khí, môi trường, điều kiện phù hợp cho sáng tạo, đặc biệt là đẩy mạnh dân chủ hóa đời sống xã hội; có cơ chế thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Năm là, thu hút và trọng dụng nhân tài. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng chỉ rõ, phải tạo bước chuyển biến căn bản, mạnh mẽ, toàn diện về chất lượng giáo dục, đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ người tài; phải có cơ chế đột phá để lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài. Nhân tài là nguyên khí của quốc gia; thiếu nhân tài thì đất nước không thể phát triển nhanh, bền vững được. Trước đây, nhà nho Nguyễn Đức Đạt (1823 - 1887), trong tác phẩm Nam sơn tùng thoại đã cho rằng: Vua phải trọng dụng hiền thần mà xa lánh kẻ nịnh bợ. Vua có trực thần, là gốc của việc trị. Vua có nịnh thần là gốc của việc loạn. Tài năng của ông vua là biết dùng người, và vì không cho mình là tài năng nên lại trở thành người có tài năng.

Từ những kinh nghiệm của cha ông, chúng ta cần nhanh chóng xây dựng, hoàn thiện những cơ chế mang tính đột phá để thu hút, lựa chọn, đào tạo, trọng dụng nhân tài. Tuy nhiên, như trong Văn kiện Đại hội XIII đã chỉ ra, chúng ta “chưa tạo được môi trường thuận lợi để phát huy sức sáng tạo, thu hút nhân tài”. Đây là những hạn chế cần nhanh chóng được khắc phục, để có thể hiện thực hóa các chủ trương lớn của Đại hội XIII của Đảng, nhằm thu hút, trọng dụng, sử dụng có hiệu quả nhân tài cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Sáu là, xây dựng các cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam; xây dựng cơ chế giải phóng mọi tiềm năng, sức mạnh, khả năng sáng tạo; phát huy tối đa nhân tố con người, vì con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển. Việc phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước, giải phóng mọi tiềm năng, sức mạnh, khả năng sáng tạo của người Việt Nam phải gắn liền với cơ chế thu hút và trọng dụng nhân tài, cơ chế phát huy dân chủ để chuyển hóa thành nguồn lực phát triển đất nước. Đây là những chủ trương vô cùng đúng đắn, nhưng cần vận dụng, cụ thể hóa một cách hợp lý, mang tính tổng thể để chủ trương sớm biến thành hiện thực và là một nhiệm vụ quan trọng của nhiều cấp, nhiều ngành, trong thời gian dài. Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta cũng chỉ ra rằng các nguồn lực, tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc chưa được phát huy tốt.

Vì vậy, một trong những cơ chế, giải pháp nhằm phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam, giải phóng mọi tiềm năng, sức mạnh, khả năng sáng tạo là: “tạo môi trường, điều kiện làm việc để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phục vụ phát triển; có cơ chế lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài, khuyến khích bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”(2)./.

-----Nguồn: TCCS-----------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. 280
(2) 
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 179

 

ĐẠI LỄ CẦU SIÊU, TƯỞNG NIỆM CÁC ANH HÙNG LIỆT SĨ TẠI NGHĨA TRANG LIỆT SĨ QUỐC GIA VỊ XUYÊN!

         Tối 9-7, tại Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Vị Xuyên, Ban trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Hà Giang và Ban trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với UBND tỉnh Hà Giang tổ chức Đại lễ cầu siêu, tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ, nhân kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27-7-1947/27-7-2022). Đồng chí Trương Tấn Sang, nguyên Chủ tịch nước dự buổi lễ.
 
Tại buổi lễ, đồng chí Nguyễn Văn Sơn, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang gửi tới các gia đình thương binh, liệt sĩ, các cựu chiến binh, các chư tôn giáo phẩm, đại đức tăng ni, các phật tử Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Hà Giang lòng thành kính và biết ơn sâu sắc.

Với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây”, trong những năm qua, Đảng bộ, chính quyền các cấp tỉnh Hà Giang luôn dành tình cảm, thăm hỏi, động viên các gia đình thương binh, liệt sĩ, người có công với cách mạng và tổ chức nhiều hoạt động, việc làm ý nghĩa như: Xây dựng nhà tình nghĩa, hỗ trợ làm nhà ở cho người có công, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, cựu chiến binh có hoàn cảnh khó khăn... Đây là những hoạt động thiết thực góp phần cùng toàn xã hội chăm lo, đền ơn đáp nghĩa, qua đó giáo dục thế hệ trẻ biết sống nhân ái, biết trân quý những giá trị cao đẹp của lịch sử, để từ đó phấn đấu học tập, rèn luyện xứng đáng với truyền thống vẻ vang của các lớp cha anh đi trước.
 
Lễ cầu siêu được tổ chức nhằm tri ân, tưởng niệm anh linh các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh, đồng bào tử nạn qua các cuộc chiến tranh của dân tộc và cầu quốc thái dân an, kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ. Lễ cầu siêu là dịp để các thế hệ hôm nay thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, tri ân các anh hùng liệt sĩ. Đây cũng là dịp để giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống yêu nước, biết ơn những công lao hy sinh của các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống vì nền độc lập của Tổ quốc.
Theo: Báo QDND./.



Môi trường ST.

CÙNG TÌM HIỂU VỀ NÉT ĐẸP VĂN HOÁ VIỆT NAM ĐỂ TỰ HÀO VÀ ĐỀ CAO TRÁCH NHIỆM!

         Một trong nhiều những giá trị văn hóa Việt Nam phản ánh bản chất, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam ta theo suy nghĩ của cá nhân đó chính là: Khát vọng Tổ quốc ta hoàn toàn độc lập, thống nhất, dân tộc ta hoàn toàn tự do, nhân dân ta được hưởng hạnh phúc trọn vẹn.
     Đảng ta đã chỉ rõ: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Trước thời cơ đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Chính vì vậy, khát vọng đất nước phát triển phồn vinh càng trở nên mạnh mẽ, cháy bỏng hơn bao giờ hết. Xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tài năng, trí tuệ, phẩm chất con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước. Nét nổi bật là Đảng, Nhà nước đang tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, ý chí tự cường, niềm tin, tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam. Qua đó, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều đó đang cổ vũ mạnh mẽ tinh thần của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa./.




Môi trường ST.

NGHIÊN CỨU VỀ "TỰ DO NGÔN LUẬN" TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG!

         Tự do nói chung, tự do ngôn luận nói riêng đều cần được hiểu là tự do trong khuôn khổ pháp luật. Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948, Công ước nhân quyền châu Âu năm 1953, Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 đều khẳng định quyền tự do ngôn luận, nhưng cũng nhấn mạnh tự do ngôn luận là tự do trong những giới hạn của đạo đức và pháp luật.
     Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận của công dân. Tự do ngôn luận được xem là quyền hiến định ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946: “Công dân Việt Nam có quyền: tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài” (Điều 10). Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 tiếp tục khẳng định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” (Điều 25). Cũng giống như các quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam có những quy định để hạn chế và ngăn chặn những hành vi lợi dụng tự do ngôn luận, xâm hại tới lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.
     Nhận thức rõ tầm quan trọng, lợi ích cũng như những hiểm họa từ mặt trái của internet và mạng xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách phù hợp nhằm phát triển internet và mạng xã hội; đồng thời bảo vệ an ninh mạng và phòng, chống lợi dụng internet, mạng xã hội để xuyên tạc, chống phá chính quyền, xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Trong đó phải kể đến Chỉ thị số 28-CT/TW, ngày 16-9-2013, của Ban Bí thư khóa XI, về “Tăng cường công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng”; Nghị định số 72/2013/NĐ-CP, ngày 15-7-2013, của Chính phủ, về “Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng”; Chỉ thị số 15/CT-TTg, ngày 17-6-2014, của Thủ tướng Chính phủ, về “Tăng cường công tác bảo đảm an ninh và an toàn thông tin mạng trong tình hình mới”. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-1-2018, của Bộ Chính trị, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian mạng (Bộ Quốc phòng) được thành lập theo Quyết định số 1198/QĐ-TTg, ngày 15-8-2017, của Thủ tướng Chính phủ, đóng vai trò nòng cốt trong việc bảo đảm an ninh, an toàn không gian mạng quốc gia, đấu tranh phòng, chống tội phạm công nghệ cao và “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng. Luật Báo chí năm 2016, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Luật An ninh mạng năm 2018, đều quy định rõ những hành vi như đăng tải, phát tán thông tin sai lệch, xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền; bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc; thông tin sai sự thật, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân... đều bị pháp luật xử lý./.




Yêu nước ST.

Thứ Bảy, 9 tháng 7, 2022

Bộ Chính trị ra quy định mới về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm

 

Bộ Chính trị ra quy định mới về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm

Thay mặt Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng vừa ký ban hành quy định 69 ngày 6-7-2022 về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm.

Quy định mới do Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng thay mặt Bộ Chính trị ký thay thế quy định số 7 năm 2018 của Bộ Chính trị khóa XII về xử lý tổ chức đảng vi phạm và quy định số 102 năm 2017 của Bộ Chính trị khóa XII về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm. Quy định có 4 chương với 58 điều. 

Về nguyên tắc xử lý kỷ luật, quy định nêu rõ một hành vi vi phạm chỉ bị kỷ luật một lần bằng một hình thức kỷ luật.

Khi cùng một thời điểm xem xét kỷ luật, nếu có từ hai hành vi vi phạm trở lên thì xem xét, kết luận từng hành vi và quyết định chung bằng một hình thức kỷ luật cao nhất, không tách riêng từng hành vi để thi hành các hình thức kỷ luật khác nhau, kỷ luật nhiều lần.

Sau 12 tháng từ ngày công bố quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật (trừ quyết định kỷ luật khai trừ đối với đảng viên hoặc quyết định kỷ luật giải tán đối với tổ chức đảng), nếu tổ chức đảng, đảng viên không khiếu nại, không tái phạm hoặc không có vi phạm mới đến mức phải kỷ luật thì quyết định kỷ luật đương nhiên chấm dứt hiệu lực.

Kỷ luật tổ chức đảng phải xem xét rõ trách nhiệm của tổ chức, đồng thời xem xét trách nhiệm của từng cá nhân liên quan để kỷ luật đảng viên vi phạm, nhất là trách nhiệm người đứng đầu.

Cũng theo quy định, nguyên tắc đảng viên sau khi chuyển công tác, nghỉ việc hoặc nghỉ hưu mới phát hiện có vi phạm ở cơ quan, đơn vị cũ đến mức phải kỷ luật thì xem xét kỷ luật theo đúng quy định.

Trong thời gian đảng viên đang bị xem xét xử lý kỷ luật, không điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, phong, thăng quân hàm; phong, tặng, công nhận các danh hiệu của Đảng, Nhà nước với đảng viên đó.

Cạnh đó quy định nêu đảng viên thực hiện đề xuất về đổi mới, sáng tạo theo kết luận số 14 của Bộ Chính trị được cơ quan có thẩm quyền cho phép nhưng xảy ra thiệt hại thì cơ quan có thẩm quyền xác định rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan, đánh giá khách quan, toàn diện, nếu đã thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng vì lợi ích chung thì miễn kỷ luật hoặc giảm nhẹ trách nhiệm.

Quy định mới của Bộ Chính trị quy định rõ các hành vi vi phạm, tương ứng là các hình thức kỷ luật với tổ chức đảng, đảng viên.

Một trong những điểm mới khác là quy định kỷ luật với đảng viên vi phạm quy định về chống chạy chức, chạy quyền.

Theo quy định, đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau mà gây hậu quả ít nghiêm trọng thì bị kỷ luật khiển trách: 

Tiếp cận, thiết lập quan hệ, tặng quà người có trách nhiệm, chức vụ, quyền hạn hoặc người có liên quan để được ưu ái, ủng hộ nhằm mục đích có được vị trí công tác, chức vụ, quyền hạn. 

Tác động, mua chuộc, gây sức ép với người có thẩm quyền, trách nhiệm trong việc giới thiệu, bổ nhiệm mình hoặc người khác vào vị trí, chức vụ có lợi cho cá nhân mà gây hậu quả ít nghiêm trọng thì bị kỷ luật khiển trách…

Trường hợp đã kỷ luật mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau đây thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ): 

Không chỉ đạo xem xét, xử lý kiến nghị của MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội về hành vi tiêu cực trong công tác cán bộ hoặc bao che, tiếp tay cho hành vi tiêu cực này.

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thao túng, bao che hành vi tiêu cực trong đánh giá cán bộ, bố trí, bổ nhiệm cán bộ, bầu cử; quyết định không đúng cho người khác có được vị trí, chức vụ, quyền lợi trái quy định. 

Can thiệp, tác động trái quy định vào công tác cán bộ; bổ nhiệm, bố trí cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, theo quy định. Để cho người khác lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để bố trí, bổ nhiệm cán bộ. 

Thiếu trách nhiệm trong việc xử lý cán bộ, đảng viên có hành vi tiêu cực trong bố trí, bổ nhiệm cán bộ hoặc không kiến nghị, xem xét xử lý theo quy định đối với hành vi tiêu cực này. 

Bao che, không xử lý, không giải quyết khiếu nại, tố cáo tổ chức đảng, đảng viên có hành vi tiêu cực trong bố trí, bổ nhiệm cán bộ. Tặng, nhận quà biếu cho người có trách nhiệm hoặc người có liên quan quyết định đến việc bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật.

Đảng viên bị kỷ luật bằng hình thức khai trừ trong trường hợp vi phạm các quy định trên gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đưa, nhận hối lộ để được bố trí, bổ nhiệm hoặc bổ nhiệm, bố trí nhiều cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện gây hậu quả rất nghiêm trọng.

 

Nét đặc sắc nghệ thuật quân sự trong chiến dịch Đồng Xoài


Đầu tháng 5-1965, Trung ương Cục và Quân ủy Miền quyết định mở Chiến dịch tiến công Đồng Xoài, nhằm tiêu diệt một bộ phận quân chủ lực ngụy, hỗ trợ quần chúng phá “ấp chiến lược”, mở rộng vùng giải phóng, nối liền các căn cứ miền Nam với Nam Tây Nguyên, tạo điều kiện mở đường vận tải chiến lược từ miền Bắc vào Nam Bộ.

Di sản lớn ông Abe để lại cho quan hệ Việt - Nhật

 

Di sản lớn ông Abe để lại cho quan hệ Việt - Nhật

"Di sản quan trọng nhất mà ông Shinzo Abe để lại cho quan hệ Việt Nam - Nhật Bản chính là mối quan hệ tin cậy, không chỉ ở cấp lãnh đạo mà còn giữa nhân dân hai nước", ông Nguyễn Quốc Cường, người giữ chức đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản nhiệm kỳ 2015-2018, nói với VnExpress về dấu ấn của cựu thủ tướng Nhật Bản đối với quan hệ song phương.

Ông Shinzo Abe chiều 8/7 qua đời sau khi bị bắn trong lúc diễn thuyết tại tỉnh Nara. Nghi phạm sử dụng súng tự chế bắn từ sau lưng ông ở khoảng cách 5 m, ám sát một trong những chính trị gia được đánh giá là quan trọng nhất lịch sử Nhật Bản thời hậu chiến.

Cựu đại sứ Cường vẫn không thể tin vụ ám sát đã xảy ra, bởi Nhật Bản luôn là một đất nước rất yên bình. Ông chưa hết sốc và đau lòng về sự ra đi của cựu thủ tướng Abe, người bạn đã dành rất nhiều tình cảm cho Việt Nam và tâm huyết cho nỗ lực thúc đẩy quan hệ Việt - Nhật.

"Ông Abe luôn nhìn nhận Việt Nam là quốc gia có vai trò quan trọng trong khu vực và trên trường quốc tế. Vì đánh giá cao vai trò và vị thế quốc tế của Việt Nam, ông đã rất mong muốn thúc đẩy quan hệ thực chất giữa hai nước", ông Cường chia sẻ.

Theo cựu đại sứ Cường, trong sự nghiệp của mình, cựu thủ tướng Abe đã nhiều lần chia sẻ với các lãnh đạo Việt Nam rằng ông đặc biệt ấn tượng với con người Việt Nam ở đức tính thủy chung, trước sau như một với bạn bè.

Cả khi ông đương chức hay không còn làm thủ tướng, Việt Nam luôn dành cho ông tình cảm "như giữa những người bạn thân" trong mỗi lần ông thăm Việt Nam hay khi lãnh đạo Việt Nam đến thăm Nhật Bản.

Trong hai nhiệm kỳ thủ tướng Nhật Bản, ông Abe đã đến thăm Việt Nam 4 lần. Chuyến thăm đầu tiên diễn ra vào năm 2006, khi ông tham dự hội nghị thượng đỉnh APEC tại Hà Nội. Ông Abe khi đó 52 tuổi, vừa nhậm chức được hai tháng và là thủ tướng trẻ nhất của Nhật Bản trong thời kỳ hậu chiến.

Tháng 1/2013, Việt Nam trở thành nơi công du nước ngoài đầu tiên của ông Abe khi ông tái đắc cử vào cuối năm 2012, mở đầu giai đoạn cầm quyền liên tiếp 8 năm của ông.

Hai chuyến thăm còn lại của ông Abe diễn ra vào năm 2017, khi Việt Nam - Nhật Bản tiếp tục củng cố "quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á" được thiết lập vào năm 2014. Ông cũng đánh giá cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế khi dự Hội nghị thượng đỉnh APEC tại Đà Nẵng vào cuối năm đó.

"Nếu không tính quan hệ đặc biệt giữa Mỹ và Nhật Bản, Việt Nam có lẽ là nước mà ông Abe đến thăm nhiều nhất với cương vị thủ tướng", cựu đại sứ Cường nhận định.

Ông Cường đánh giá cựu thủ tướng Abe đã đóng góp rất lớn cho quan hệ song phương khi thúc đẩy khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng giữa hai nước trên tất cả các lĩnh vực, từ chính trị, ngoại giao, an ninh, quốc phòng đến kinh tế, giao lưu nhân dân, phát triển nguồn nhân lực.

Nhật Bản cũng liên tục đặt Việt Nam ở vị trí then chốt trong tầm nhìn chung của khu vực, trong đó có chính sách Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương Tự do và Mở (FOIP). Nhật Bản ủng hộ Việt Nam tham gia tích cực hơn vào kiến trúc kinh tế khu vực, với những thỏa thuận hợp tác đa phương thế hệ mới như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).

Trong giai đoạn ông Abe cầm quyền, chính phủ Nhật Bản cũng đẩy mạnh hỗ trợ Việt Nam tăng năng lực chấp pháp trên biển, trong đó có những cam kết cung cấp tàu tuần tra cho Cảnh sát Biển Việt Nam.

Theo một nghiên cứu trên tạp chí ISEAS năm ngoái, Việt Nam là đối tác quan trọng trong chiến lược "ngoại giao cảnh sát biển" của Nhật Bản, được khởi động từ giai đoạn ông Abe nắm quyền, trong đó các bên cùng chia sẻ những giá trị chung về hòa bình và ổn định tại khu vực. Chính phủ Nhật Bản cũng nhiều lần nêu rõ lập trường ủng hộ trật tự dựa trên luật pháp ở Biển Đông.

Ông Abe luôn ủng hộ và hưởng ứng tích cực những đề nghị của Việt Nam về tăng cường quan hệ song phương, tăng cường ODA cũng như hợp tác kinh tế giữa hai nước.

Nhật Bản hiện vẫn giữ vị trí nhà tài trợ ODA lớn nhất của Việt Nam. Tính từ năm 1992 đến năm 2021, ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam đạt 1.542 tỷ yen (gần 17 tỷ USD), chiếm khoảng 30% tổng ODA của cộng đồng quốc tế cam kết với Việt Nam, theo một nghiên cứu được đăng trên Tạp chí Công thương vào cuối năm ngoái.

Cựu thủ tướng Abe cũng quan tâm tới hoạt động trao đổi cấp cao, xây đắp sự tin cậy và đẩy mạnh giao lưu hai nước. Lãnh đạo cấp cao hai nước thường xuyên duy trì các chuyến thăm và tiếp xúc tại các diễn đàn quốc tế và khu vực

Ngoài 4 chuyến thăm của ông Abe, lãnh đạo Nhật Bản ở các cấp đã đến thăm Việt Nam trong giai đoạn ông lèo lái chính phủ.

Chủ tịch Thượng viện Nhật Bản đến thăm Việt Nam lần đầu tiên vào năm 2015. Nhà vua và Hoàng hậu Nhật Bản có chuyến thăm lịch sử vào năm 2017. Việt Nam trong cùng năm đã đón Chủ tịch Hạ viện Nhật Bản lần đầu sau 15 năm.

"Những trao đổi cấp cao đã tăng cường, góp phần củng cố quan hệ ngày càng thực chất hơn nữa giữa Việt Nam và Nhật Bản trên mọi mặt", cựu đại sứ Cường nhận định.

 

NGUYÊN TẮC XỬ LÝ KỶ LUẬT THEO QUY ĐỊNH 69

Ngày 6-7-2022, thay mặt Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng đã ký ban hành Quy định 69 về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Quy định này thay thế Quy định số 07-QĐi/TW ngày 28-8-2018 của Bộ Chính trị khóa XII về xử lý kỷ luật tổ chức đảng vi phạm và Quy định số 102-QĐ/TW ngày 15-11-2017 của Bộ Chính trị khóa XII về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm.

CÓ CẦN TIÊM MŨI NHẮC LẠI?

Vừa qua, nhiều người dân còn băn khoăn có nên tiêm nhắc lại vaccine phòng Covid-19 khi bản thân đã nhiễm Covid-19. PGS, TS Phạm Quang Thái, Trưởng Văn phòng tiêm chủng mở rộng miền Bắc, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương đã giải đáp như sau:

TIẾP TỤC PHÁT HUY PHẨM CHẤT BỘ ĐỘI CỤ HỒ

Nhân kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh-liệt sĩ, chiều 9/7, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc tới thăm, tặng quà thương binh, các cán bộ, nhân viên Trung tâm Điều dưỡng thương binh Thuận Thành tại xã Ninh Xá, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Cùng đi có lãnh đạo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, tỉnh Bắc Ninh.

HÀNH TRÌNH CỦA NHỮNG "CON RẮN ĐỘC" MANG TÊN "VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN IDS"!

I. HOÀN CẢNH RA ĐỜI
Ngày 27/9/ 2007 một nhóm các nhà nghiên cứu độc lập tổ chức họp và quyết định thành lập một tổ chức gọi là "Viện Nghiên cứu Phát triển IDS". Hồ sơ được đăng ký tại Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội. Ngày 18/10/2007 Sở Khoa học & Công nghệ Hà Nội cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động khoa học và công nghệ cho Viện IDS.

II. NHỮNG NHÀ
SÁNG LẬP VIỆN PHÁT TRIỂN IDS
1- Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội.
2- Chu Hảo.
3- Phan huy Lê.
4- Phan Hồng Giang, TSKH, nhà nghiên cứu văn hóa, Hà Nội
5- Lê Công Giàu, nguyên Phó Bí thư thường trực Đoàn TNCS HCM TP HCM.
6- Phạm Duy Hiển, GS, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội.
7- Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng Chính phủ, nguyên thành viên Viện IDS, TP HCM.
8- Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng chính phủ, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội.
9- Hồ Uy Liêm, nguyên Phó chủ tịch LH các Hội KH&KT Việt Nam, Hà Nội.
10- Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hà Nội.
11- Huỳnh Tấn Mẫm, BS, Đại biểu Quốc hội khóa 6, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước năm 1975, TP HCM
12- Nguyên Ngọc, nhà văn, nguyên thành viên Viện IDS, Hội An
13- Hoàng Xuân Phú, GS, Viện Toán học, Hà Nội.
14- Nguyễn Trung, nguyên trợ lý của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
15- Tô Nhuận Vỹ, nhà văn, Huế.

 III. NHỮNG THÔNG TIN GÂY NGỘ ĐỘC
CHÍNH TRỊ CHO NHÂN DÂN CỦA IDS
Những tác hại từ các thông tin hoàn toàn sai lệch về lịch sử dân tộc, về các lãnh đạo Đảng, nhà nước, bôi nhọ, phủ định chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ chí Minh, ca ngợi thái quá công lao của một số người nhằm đánh vào tâm lý mê tín, tệ sùng bái cá nhân, trực tiếp ca ngợi Mỹ, sống theo chuẩn Mỹ, phương Tây....Dưới đây là một trong những tin tức độc hại lây lan như con rắn độc trực tiếp hay gián tiếp làm suy giảm lòng tin vào Đảng và nhà nước...!

1. Phủ định XHCN của Việt Nam, ca ngợi thị trường tự do của tư bản phương Tây. Ví dụ như ca ngợi tư tưởng kinh tế của Hayek.

2. Phủ định kết quả cuộc chống Mỹ cứu nước, cho rằng là nội chiến Việt Nam, miền Bắc xâm lược Miền Nam, huynh đệ tương tàn

3. Cho rằng chủ trương cải cách ruộng đất (CCRĐ) là của Đảng nhằm tàn sát địa chủ, chủ trương sai lầm của BCT và Bác Hồ.

4. Dựng lên vụ án oan chống Đảng năm 1967. Bảo đó là đảo chính của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ.

5. Ca ngợi những thành viên phản Đảng.

6. Đòi phi chính trị hóa quân đội nhân dân và CAND.

7. Đòi xóa bỏ điều 4 Hiến pháp nước CHXHCNVN.

8. Dựng chuyện ông Lê Duẩn và ông Sáu Thọ ám sát Bác Hồ thông qua vụ phi công Trần Ngọc Bích đỗ sai đường băng.

9. Chê bai chính sách kinh tế thời cố TBT Lê Duẩn, bảo rằng ông là nguyên nhân dẫn đến Việt Nam nghèo đói.

10. Dựng chuyện Lê Đức Thọ giết 3 tướng của Quân đội nhân dân Việt Nam là: Lê Trọng Tấn, Đinh Đức Thiện và Hoàng Văn Thái.

11. Công khai ủng hộ Pháp, Mỹ đô hộ Việt Nam và bảo rằng đem văn minh đến cho Việt Nam (gần đây Dương Trung Quốc nói Pháp mượn đường Việt Nam để đánh Trung quốc).

12. Mượn danh tiếng cụ Phan Chu Trinh để công khai phê phán Bác Hồ lựa chọn sai đường lối cho đất nước. Cho rằng con đường đấu tranh của Bác Hồ là "bạo lực cách mạng" là không cần thiết, tổn hại đến dân tộc.

13. Năm 2013 những nhà tri thức thuộc viện IDS có gửi tới nhà nước 1 bản kiến nghị thay đổi tên nước Việt 
Nam nhân dịp Quốc hội chuẩn bị thông qua Hiến pháp 2013.

14. Mới đây nhất ra cuốn sách "Gạc Ma vòng tròn bất tử" (GMVTBT), bôi nhọ, cắt ghép câu nói của cố Đại tướng, Chủ tịch nước Lê Đức Anh.

15. Ngày 27-28/02/2019 nhân dịp tổng thống Mỹ đến Hà Nội: gửi thư của 100 nhân sĩ, trí thức và các tổ chức xã hội dân sự (XHDS) gửi Tổng thống Mỹ TRUMP.

16. Ra sức bài tàu thoát hán. Gần Mỹ, me tây, sống chuẩn Mỹ.

IV. KẾT LUẬN KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC IDS
Cả trên giấy tờ lẫn trước dư luận, các cựu lãnh đạo của Viện Nghiên cứu Phát triển IDS luôn tự tuyên bố rằng tổ chức này là một tổ chức khoa học công nghệ, đăng ký pháp nhân trên cơ sở Luật Khoa học – Công nghệ Việt Nam, và hoạt động tư vấn dựa trên cơ sở nghiên cứu khoa học. Nhưng đó có phải là sự thật không? Không chắc.

Trong thực tế, viện IDS có rất ít đặc điểm của một tổ chức khoa học. Trong khi đó nó lại có thừa đặc điểm của một tổ chức chính trị mạo danh. Thực tế đó thể hiện rõ ràng qua những bằng chứng này:

- Từ khi sáng lập đến khi giải thể, viện IDS chưa từng đưa ra được một công trình nghiên cứu khoa học nào.

- Dù viện IDS tuyên bố rằng họ hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu và tư vấn về phát triển cho các tổ chức có nhu cầu, hoạt động thực tế của viện lại hoàn toàn tập trung vào việc tổ chức sự kiện và trả lời phỏng vấn báo chí hay đứng hơn là hoạt động chính trị.

- Trong ba đề tài nghiên cứu mà viện IDS từng chọn, đề tài đầu tiên mang tên Cải cách Giáo dục và Y tế nhìn từ góc độ kinh tế học. Tuy vậy, trong số những thành viên viên viện tham gia “nghiên cứu” trong đề tài này, không ai có kiến thức chuyên môn về giáo dục và y tế. Như vậy, phải khẳng định rằng ngay từ đầu, các kết luận và tư vấn mà viện IDS đưa ra đã có tính phi khoa học.

- Ngay sau khi có tư cách pháp nhân, viện IDS đã làm việc với nhóm tác giả của nghiên cứu “Lựa chọn thành công: Bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai của Việt Nam” của trường John F. Kennedy School of Government, Đại học Harvard, Mỹ. Làm sao một tổ chức dân sự mới thành lập, không danh tiếng, thậm chí chưa làm ra một sản phẩm nào cho đời lại có thể liên kết với đại học Havard, trừ phi tổ chức đó được thành lập để làm vỏ bọc cho một kế hoạch chuyển đổi chính trị chung mà các thành viên viện và giới chức Mỹ đã thống nhất với nhau từ trước?

- Trong các hội thảo và phát ngôn trước truyền thông, viện IDS chưa bao giờ cảnh báo những nguy cơ mà kinh tế, văn hóa và xã hội Việt Nam phải đối mặt khi mở cửa. Thay vào đó, họ chỉ ca ngợi những phép màu của “kinh tế tự do”, và thúc giục người Việt gia nhập trật tự Mỹ mà không cần cân nhắc. Các thành viên của viện này, đặc biệt là Nguyễn Quang A, Phạm Chi Lan, Lê Đăng Doanh và Phạm Nguyên Trường, giống những tay chào hàng của trật tự Mỹ hơn là những người nghiên cứu khoa học có trách nhiệm và những nhân viên tư vấn công tâm.

- Ngày 14/09/2009, hội đồng viện IDS đã quyết định giải tán Viện để phản đối quyết định số 97/2009/QĐ-TTg, theo đó các tổ chức nghiên cứu khoa học có phản biện ngược với chính sách của Chính phủ thì không được công bố công khai. Để lý giải cho cuộc quyên sinh gây sóng gió của mình, họ tuyên bố rằng quyết định nêu trên của chính quyền khiến viện “không thể hoạt động theo đúng sứ mệnh”. Tuy nhiên, chính lời lý giải bất hợp lý này đã làm lộ rõ bản chất chính trị của viện. Vì nếu IDS thật sự là một tổ chức nghiên cứu và tư vấn khoa học như tuyên bố, họ hoàn toàn có thể tiếp tục cung cấp dịch vụ nêu trên cho những khách hàng của mình, và không công khai thành quả nghiên cứu với công chúng. Nếu hội đồng viện IDS cảm thấy viện bị “bức tử” vì quyết định này, thì phải khẳng định rằng viện được lập ra không phải để nghiên cứu và tư vấn, mà là để làm chính trị bằng cách dắt mũi truyền thông.

Ngoài ra, với cách thức hoạt động của mình, viện IDS hoàn toàn có thể giữ vai trò của một trung tâm mua bán thông tin nội bộ và vỏ bọc che giấu gián điệp kinh tế. Cũng cần lưu ý rằng viện IDS chỉ là một trong những vỏ bọc mà một nhóm lợi ích sử dụng để thao túng quá trình chuyển đổi kinh tế – chính trị thông qua dư luận và cộng đồng học thuật. Ngay cả khi viện này đã tự giải thể, những quân cờ của nhóm lợi ích đó vẫn tiếp tục hoạt động dưới những vỏ bọc mới mẻ hơn, hoặc chính thống hơn. Chẳng hạn, nhìn nhân sự liên quan, có thể liên tưởng ngay đến những tổ chức như Quỹ Phan Chu Trinh, Văn đoàn Độc lập và Diễn đàn Xã hội Dân sự.

Câu hỏi đặt ra là: vì sao sau quyết định số 97/2009/QĐ-TTg, chỉ có viện IDS tuyên bố tự giải thể để ăn vạ ầm ĩ với dư luận, còn không ít NGO khác vẫn tiếp tục được thành lập, hoạt động nghiên cứu – tư vấn và làm ra sản phẩm thực cho xã hội từ đó đến nay? IDS không hề bị bức tử, nó chỉ giả chết để che giấu bản chất.

Qua những chiêu trò nhân danh, đánh bóng và ăn vạ để mua chuộc lòng người của tổ chức này, chúng ta có thể hiểu hơn về cách làm chính trị, mục đích và dự định của các cựu thành viên viện IDS.

 *LỜI KẾT: Đừng để họ đánh lừa bạn bằng vỏ bọc đáng thương hại. Dối gian vẫn là dối gian, dù nhân danh tiến bộ hay nấp dưới vỏ bọc trí thức. Dối gian giả danh trí thức thì càng phải lật tẩy./.
Yêu nước ST.

 VẠCH TRẦN LUẬN ĐIỆU LỪA BỊP “QUÂN ĐỘI PHẢI TRUNG LẬP VỀ CHÍNH TRỊ”


Đấu tranh vạch trần sự lừa bịp của luận điểm “Quân đội phải trung lập về chính trị” và tăng cường các biện pháp xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị là hai nhiệm vụ gắn bó chặt chẽ với nhau trong quá trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.


LUẬN ĐIỆU CŨ RÍCH


“Quân đội phải trung lập về chính trị” là luận điểm đã có từ lâu, mà các đảng chính trị đối lập ở những nước đi theo chế độ đa đảng thường sử dụng để hạn chế quân đội “can dự” vào những tranh giành chính trị của các đảng phái. Ngay từ năm 1905, V.I.Lênin đã chỉ rõ: “... những câu nói của bọn tôi tớ của nền chuyên chế về tính trung lập của quân đội, về sự cần thiết phải giữ cho quân đội đứng ngoài chính trị v.v. là giả dối, rằng những lời nói đó không thể mong được binh lính đồng tình một chút nào”(1).

 

Trong những thập niên cuối của thế kỷ XX, khi thấy rằng phương thức chống phá chủ nghĩa xã hội bằng biện pháp gây chiến tranh xâm lược không hiệu quả, chủ nghĩa đế quốc đã đẩy mạnh chống phá bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”. Một trong các thủ đoạn mà họ sử dụng là đưa khẩu hiệu “quân đội phải duy trì tính trung lập về chính trị” vào các nước xã hội chủ nghĩa, nơi chỉ có một đảng (Đảng Cộng sản) lãnh đạo, nhằm thực hiện “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang cách mạng, mà thực chất là nhằm tách quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, vô hiệu hóa vai trò của quân đội là công cụ bạo lực của Đảng, của Nhà nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Thủ đoạn này đã được họ áp dụng thành công ở Liên Xô trước đây; khi những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội Liên Xô tự rời bỏ nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, mắc những sai lầm rất nghiêm trọng, như: tự xóa bỏ cơ chế lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội, làm cho Quân đội Liên Xô bị “phi chính trị hóa” và bị vô hiệu hóa. 

 

Đối với nước ta, từ nhận định rằng, hiện nay Đảng Cộng sản Việt Nam còn nắm chắc quân đội, chưa thể xóa bỏ được vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, chưa thể xóa bỏ được chế độ xã hội chủ nghĩa, nên các thế lực thù địch với cách mạng nước ta ráo riết thực hiện chiêu bài “quân đội phải duy trì tính trung lập về chính trị”. Họ hy vọng rằng, một khi quân đội đã bị mê hoặc bởi khẩu hiệu đó, đội ngũ cán bộ quân đội đã dao động, mất phương hướng chính trị, họ sẽ ra tay lật đổ Đảng Cộng sản Việt Nam và thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam theo đúng kịch bản “không đánh mà thắng”(!). 


Năm 2013, lợi dụng việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức xin ý kiến nhân dân vào bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, các thế lực chống phá con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội xem đây là thời cơ để công khai đòi “phi chính trị hóa” quân đội. Họ đưa ra nhiều luận điểm, như: “quân đội phải duy trì tính trung lập về chính trị”, “quân đội phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không cần trung thành với bất kỳ tổ chức nào”, mà áp dụng cụ thể vào Việt Nam là “không phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam”, v.v.. Đáng tiếc là, không ít người đã vào hùa với chúng, mà không tỉnh táo tự vấn mình rằng: tại sao những đề xuất về “quân đội phải trung lập về chính trị” lại được VOA, BBC, RFA, RFI... cùng những kẻ phản bội Tổ quốc, những người có thâm thù với cách mạng ở hải ngoại tung hô, cổ vũ nhiệt thành đến vậy (?). Khi bị chỉ trích những đề xuất đó là biểu hiện của sự “suy thoái về tư tưởng chính trị”, những người cổ xúy cho tư tưởng này vội “lấp liếm” rằng: “chúng tôi chỉ yêu cầu quân đội trung lập về chính trị, chứ đâu có đòi phi chính trị hóa quân đội”(?). 

Sự ngụy biện đó không đánh lừa được công luận; bởi xét về bản chất, yêu cầu “quân đội phải trung lập về chính trị” chỉ là một phiên bản của quan điểm đòi “phi chính trị hóa quân đội”. Nói đến “trung lập về chính trị”, nghĩa là “đứng giữa các lực lượng chính trị”, “đứng ngoài chính trị”, “không can dự vào chính trị”...; trong khi đó, Quân đội nhân dân Việt Nam đang được xây dựng theo phương hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở, nền tảng để xây dựng vững mạnh toàn diện. Hơn nữa, bản thân Quân đội nhân dân Việt Nam đang là lực lượng chính trị, đặt dưới sự lãnh đạo “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” của Đảng Cộng sản Việt Nam, tức là đang “không đứng ngoài chính trị”; thì đòi hỏi “quân đội phải trung lập về chính trị” thực chất là đòi “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam.

 

Để thực hiện mưu đồ đòi “quân đội phải trung lập về chính trị”, các thế lực thù địch sử dụng mọi biện pháp, cả về lý luận, tư tưởng lẫn hành động thực tiễn.

 

Trên lĩnh vực lý luận, tư tưởng, họ thường lập luận rằng: quân đội là của nhà nước, nên chỉ phục tùng nhà nước, chứ không phục tùng và chịu sự lãnh đạo của bất cứ chính đảng nào; hoặc: hoạt động của quân đội chỉ để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và phục vụ nhân dân, nên chỉ phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức nào, v.v. Nghe thoáng qua, không ít người ngộ nhận sự có lý của lập luận này, mà không hiểu rằng: đây là thủ đoạn lừa bịp, nhằm chuyển lập trường chính trị của quân đội cách mạng sang lập trường của bọn cơ hội chính trị, của giai cấp tư sản. 

 

Trong hành động thực tiễn, những người cổ xúy cho tư tưởng “quân đội phải trung lập về chính trị” yêu cầu một khi có biến động chính trị, thì quân đội hãy án binh, bất động, không đứng về phe nào. Đối với những nước đi theo chế độ xã hội chủ nghĩa, chỉ có một Đảng Cộng sản lãnh đạo như nước ta, họ đòi xóa bỏ nguyên tắc “Đảng Cộng sản lãnh đạo quân đội”; hạ thấp, đi đến đòi xóa bỏ hoạt động công tác đảng, công tác chính trị cùng hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị  (nhất là chế độ chính ủy, chính trị viên) trong quân đội - một trong những yếu tố riêng có của quân đội các nước xã hội chủ nghĩa, nhằm đảm bảo cho Đảng Cộng sản giữ vững sự lãnh đạo đối với quân đội. Họ xuyên tạc các sự kiện chính trị trong lịch sử có quân đội tham gia; thổi phồng khuyết điểm của một vài đơn vị quân đội và một bộ phận quân nhân trong quá trình làm nhiệm vụ; bôi nhọ đời tư của các tướng lĩnh, anh hùng lực lượng vũ trang... hòng qua đây, làm cho quân đội mất uy tín trong nhân dân, hạ thấp vị thế của quân đội trong xã hội..., từ đó mà vô hiệu hóa vai trò của quân đội trong cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng.

 

Đối với Việt Nam, để thực hiện mục tiêu nhất quán là xóa bỏ thành quả cách mạng và lái con đường phát triển của đất nước sang quỹ đạo tư bản chủ nghĩa, trong nhiều năm qua, các thế lực thù địch đẩy mạnh các chiến dịch vận động đòi thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập và lôgic tất yếu của tiến trình đó, nếu được thực hiện, sẽ là xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Họ công khai đòi bỏ quy định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội; bỏ quy định “lực lượng vũ trang nhân dân phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam” đã được ghi trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Lợi dụng tình cảm của nhân dân ta với Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, họ cố tình lờ đi hoàn cảnh lịch sử của sự kiện ngày 26/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng Trường Võ bị Lục quân Trần Quốc Tuấn (nay là Trường Sĩ quan Lục quân 1) lá cờ “Trung với nước, hiếu với dân”, để xuyên tạc tư tưởng nhất quán của Người về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, bằng lý lẽ: “Cụ Hồ không yêu cầu quân đội phải trung thành với Đảng” (!). Đáng tiếc rằng, một bộ phận nhân dân, kể cả một số cán bộ, đảng viên ta đã dao động trước những lý lẽ này.

KHÔNG CÓ QUÂN ĐỘI CỦA QUỐC GIA NÀO “TRUNG LẬP VỀ CHÍNH TRỊ” HAY “ĐỨNG NGOÀI CHÍNH TRỊ”

Cần khẳng định ngay rằng, mục tiêu hướng tới của những thủ đoạn nói trên là thúc đẩy sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Quân đội, làm cho Quân đội nhân dân Việt Nam xa rời mục tiêu, lý tưởng cách mạng và sự lãnh đạo của Đảng; biến chất về chính trị, tiến tới vô hiệu hóa vai trò của Quân đội là chỗ dựa vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những thủ đoạn đó thật tinh vi và thâm hiểm, nhưng sai cả về lý luận và thực tiễn.

 

Từ góc độ lý luận, trước hết, cần bắt đầu từ luận điểm “Chiến tranh là sự kế tục của chính trị”, mà quân đội xuất hiện để đáp ứng nhu cầu của chiến tranh (tiến công hoặc phòng ngự). Đây là luận điểm được Clau-dơ-vit (1780-1831) - nhà lý luận quân sự tư sản nổi tiếng của nước Phổ đã khái quát. Luận điểm này được thừa nhận rộng rãi trong cả khoa học quân sự tư sản lẫn khoa học quân sự vô sản, nên không thể bác bỏ. Chính V.I.Lênin cũng đánh giá cao luận điểm này. Một khi đã thừa nhận “chiến tranh là sự kế tục của chính trị”, thì tất yếu phải thừa nhận: không bao giờ và không ở đâu có thứ quân đội “trung lập về chính trị”, hoặc “không dính đến chính trị”, bởi bất cứ cuộc chiến tranh nào cũng có mục tiêu chính trị, phản ảnh lập trường chính trị của các bên tham chiến; và quân đội của các bên tham chiến đều được lực lượng chính trị cầm quyền tổ chức, giáo dục để thực hiện mục tiêu chính trị đó của cuộc chiến tranh.


Thứ hai, quân đội bao giờ cũng mang bản chất giai cấp của nhà nước đã tổ chức và nuôi dưỡng nó; bởi quân đội là một thành phần của nhà nước, là công cụ bạo lực vũ trang của nhà nước để bảo vệ thành quả mà lực lượng chính trị cầm quyền có được qua các cuộc đấu tranh giành quyền lực. 


Lịch sử xuất hiện quân đội gắn liền với sự ra đời của nhà nước; mà nhà nước là sản phẩm tất yếu của cuộc đấu tranh giai cấp, nên bất cứ nhà nước nào cũng có tính chất giai cấp. Ngày nay, ở các nước theo thể chế chính trị tư bản, với chế độ đa đảng, mặc dù có hiện tượng các đảng phái thay nhau cầm quyền, nhưng thực chất họ vẫn duy trì sự nhất nguyên về chính trị. Đó là thứ chính trị của giai cấp tư sản, bởi đảng chính trị nào cầm quyền cũng chỉ là sự đại diện cho các nhóm và tầng lớp khác nhau của giai cấp tư sản; nên chính phủ do các đảng chính trị cầm quyền chi phối vẫn đều phục tùng quyền lợi và bảo vệ lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản là chủ yếu, mặc dù vẫn phải thực thi chức năng công quyền - một trong hai chức năng cơ bản (chức năng giai cấp và chức năng công quyền) của bất cứ nhà nước nào. Theo đó, với tư cách là các cơ quan chức năng của nhà nước, quân đội được lập ra để bảo vệ thể chế chính trị của giai cấp cầm quyền, không thể không mang bản chất giai cấp của nhà nước đã tổ chức, quản lý và nuôi dưỡng nó. Những người cổ súy cho quan điểm “quân đội phải trung lập về chính trị” đã không hiểu, hay cố tình không hiểu rằng: nói đến “chính trị” của một tổ chức, một lực lượng, là nói đến tính giai cấp mà tổ chức, lực lượng đó quán triệt và thực hiện trong thực tiễn xây dựng về mặt tư tưởng, tổ chức và thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình. 


Với tư cách là một bộ phận của nhà nước, quân đội của bất cứ xã hội nào cũng đều phụ thuộc vào đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền; đồng thời, các lực lượng chính trị cầm quyền bao giờ cũng tìm mọi cách để nắm chắc quân đội thông qua nhiều biện pháp về chính trị, tư tưởng, tổ chức và chính sách. Do vậy, ngay từ khi xuất hiện, quân đội đã “thấm đẫm” thứ chính trị của nhà nước và giai cấp nắm giữ quyền lực trong xã hội; không có và không thể có thứ quân đội “trung lập về chính trị”, hay “đứng ngoài chính trị” như giai cấp tư sản thường tuyên truyền, nhằm che giấu bản chất giai cấp của quân đội các nước tư bản. 


Phê phán sự che giấu bản chất giai cấp của quân đội tư sản. V.I.Lênin đã thẳng thừng vạch rõ: “Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản và của chế độ Nga hoàng, bọn này trong thực tế bao giờ cũng đã lôi kéo quân đội vào chính trị phản động”(2). Công khai bản chất giai cấp công nhân của lực lượng vũ trang cách mạng, V.I.Lênin đề ra nguyên tắc xây dựng Hồng quân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. 


Vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, ngay từ năm 1930, trong Chánh cương vắn tắt của Đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh - đã yêu cầu phải “Tổ chức ra quân đội công nông”(3) và trong suốt quá trình tổ chức xây dựng, lãnh đạo, giáo dục Quân đội ta, Người luôn nhắc nhở: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”(4); do đó, “Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội. Phải tăng cường giáo dục chính trị để nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho toàn quân”(5).

 

Từ góc độ thực tiễn của thế giới cũng cho thấy, từ trước đến nay không có quân đội của quốc gia nào “trung lập về chính trị” hay “đứng ngoài chính trị”; bởi đây là công cụ bạo lực vũ trang bảo vệ thể chế chính trị của lực lượng chính trị thắng thế cầm quyền duy trì. Không khó để nhận thấy sự tham chính của quân đội nhiều nước, khi người ta vẫn chứng kiến các vụ đảo chính quân sự ở nước này, nước khác, nhất là ở châu Á, châu Phi trong những năm gần đây. Ở các nước Mỹ, Anh, Pháp... quân đội không chỉ được dùng vào nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, dân tộc, mà còn được dùng vào các hoạt động xâm lược, lật đổ, can thiệp quân sự vào các quốc gia có chủ quyền khác, nhằm mục tiêu chính trị là dựng lên ở đây các chính phủ thân phương Tây; thực chất là để phục vụ đường lối đối nội và đối ngoại của các đảng chính trị cầm quyền, mà suy cho cùng là phục vụ lợi ích của các thế lực tư bản độc quyền đứng đằng sau các chính phủ đương nhiệm. Chỉ tính từ năm 1990 đến nay, quân đội Mỹ đã liên tục can dự vào đời sống chính trị của các nước và các khu vực, kể cả tiến hành chiến tranh, như: ở vùng Vịnh Pec-xích năm 1991, Nam Tư năm 1999, Áp-ga-ni-xtan năm 2001, I-rắc năm 2003, Li Bi năm 2011, v.v. 

Nhìn vào thực tiễn lịch sử cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta chống lại ách nô dịch của thực dân Pháp, phát xít Nhật và đế quốc Mỹ cũng thấy rất rõ quân đội các nước này không bao giờ “trung lập về chính trị”, nhất là khi các quân nhân của họ được giáo dục “sứ mệnh” đến Việt Nam để “ngăn chặn làn sóng chủ nghĩa cộng sản lan ra toàn khu vực Đông Nam Á” (!).

 

Cũng cần thấy rằng, ở các nền chính trị có cấu trúc đa đảng đối lập, bất cứ đảng chính trị nào khi cầm quyền cũng tìm mọi cách để nắm quân đội; bởi khi nắm được quân đội, thì việc duy trì quyền lực của đảng đó sẽ thuận lợi hơn. Tuy vậy, khi mà sự tranh giành quyền lực giữa các đảng chính trị diễn ra gay gắt, dẫn đến khủng hoảng chính trị, thì thường xuất hiện lời kêu gọi “quân đội trung lập về chính trị”, nhưng trong thực tế, các đảng đều tìm sự hậu thuẫn từ quân đội. 

Thực tiễn lịch sử của cách mạng Việt Nam cũng chứng minh: Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời từ các phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, được Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo và giáo dục để giành và giữ chính quyền cách mạng; nên bản thân nó đã là một lực lượng chính trị. 


78 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam đã chứng minh rõ một thực tiễn lịch sử: Quân đội ta luôn là lực lượng chính trị trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Điều đó được thể hiện trước hết ở sự thống nhất về mục tiêu chiến đấu của Quân đội với mục tiêu chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Vì thế, trái với sự hô hào “quân đội phải trung lập về chính trị”, Đảng và Nhà nước ta luôn chăm lo xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu, thực hiện chiến đấu thắng lợi. Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh sự cần thiết phải chăm lo xây dựng Quân đội vững về chính trị. Người căn dặn: “Một quân đội văn hay võ giỏi, là một quân đội vô địch”(6) và “Muốn cho quân đội ta quyết chiến quyết thắng hơn nữa thì phải săn sóc đời sống vật chất của họ, nâng cao trình độ chiến thuật và kỹ thuật của họ, nhất là giáo dục chính trị, làm cho có lập trường vững chắc, lập trường quân đội của nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo”(7). Trong lần về thăm Trường Chính trị trung cấp quân đội (nay là Học viện Chính trị) ngày 25/10/1951, Người nhắc nhở các học viên: “Phải cố gắng học tập về mọi mặt chính trị, quân sự. Phải học tập chính trị: Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”(8).

 

Xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, mà cốt lõi là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, chăm lo xây dựng bản chất giai cấp công nhân gắn liền với xây dựng tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội ta là một bài học thành công của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Lãnh tụ Hồ Chí Minh trong việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản ở một nước có nền kinh tế chậm phát triển. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã kiểm nghiệm và khẳng định tính đúng đắn của bài học đó. Ngay từ ngày đầu thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã được tổ chức theo mô hình có chi bộ Đảng lãnh đạo; bên cạnh người đội trưởng, có một cán bộ chính trị chuyên làm công tác chính trị theo đường lối của Đảng.


Nhờ chăm lo xây dựng vững mạnh về chính trị, mà trước hết là giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình trong mọi giai đoạn cách mạng, xứng đáng với lời tuyên dương (năm 1964) của Bác: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”(9).

 

Đấu tranh vạch trần sự lừa bịp của luận điểm “Quân đội phải trung lập về chính trị” và tăng cường các biện pháp xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị là hai nhiệm vụ gắn bó chặt chẽ với nhau trong quá trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đó là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, trước hết là sự nỗ lực của bản thân cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta./. 


Trung tướng, PGS. TS NGUYỄN NGỌC HỒI

 …………………………………….

(1) (2) V.I.Lênin toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.136, 136

(3)  Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 3, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.1.

(4) (9) Hồ Chí Minh toàn tập,Tập 14, Sđd,tr.435, 435

(5) Hồ Chí Minh toàn tập,Tập 11,Sđd, tr.365.

(6) Hồ Chí Minh toàn tập,Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.470.

(7) Hồ Chí Minh toàn tập,Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 397-398, 217

XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ, NỘI DUNG CỐT LÕI TRONG CUỐN SÁCH CỦA TỔNG BÍ THƯ

        Nội dung về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với gần một nửa số bài viết. Vị trí quan trọng này phản ánh vai trò, vị trí có ý nghĩa quyết định của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị đối với sự nghiệp cách mạng nói chung và công cuộc đổi mới nói riêng, cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Nội dung các vấn đề về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị bao quát một cách toàn diện, từ cơ sở lý luận chung đến những vấn đề cụ thể về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức, cán bộ, kiểm tra, dân vận, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể nhân dân. Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo “Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta”, đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Công tác xây dựng Đảng luôn luôn là nhiệm vụ then chốt của Đảng, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng nước ta”. Vì thế, “phải tiến hành xây dựng, chỉnh đốn Đảng với tinh thần tích cực và kiên quyết, mạnh mẽ, nhằm tạo ra một bước chuyển biến rõ rệt hơn nữa trên các mặt”. Mục đích hướng tới của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là xây dựng “Một đảng cách mạng chân chính có đường lối đúng, có tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, gương mẫu, tận tụy, gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân ủng hộ, thì đảng đó có sức mạnh vô địch, không thế lực nào ngăn cản nổi trên con đường dẫn dắt dân tộc đi lên”.

Để đạt được mục đích ấy, “phải hết sức coi trọng xây dựng Đảng về tư tưởng. Kiên định, vững vàng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam”. Trong đó, “Lý luận phải vươn lên dẫn đường và đồng hành với thực tiễn”, “phải có tầm nhìn vượt trước”, phải tạo được những bước đột phá về lý luận phát triển, khai thông những điểm nghẽn về tư duy, nhận thức, quan điểm phục vụ cho việc hoàn thiện thể chế, xây dựng đường lối, chủ trương...”. Cần phải tiếp tục đổi mới hoàn thiện tổ chức, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; tăng cường xây dựng, giáo dục, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên, nhất là “đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, là tinh hoa của Đảng, đòi hỏi phải thật sự vững vàng, có đủ bản lĩnh, phẩm chất, trí tuệ và có uy tín cao để giải quyết những công việc ở tầm chiến lược”. Đối với công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh, đó là “một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng”, “là một chức năng lãnh đạo của Đảng”, “Mọi tổ chức đảng và đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng và đều phải chịu sự kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Đảng”. Kiểm tra, giám sát là “thanh bảo kiếm để chữa lành các vết thương”…

Đối với Quốc hội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng với tính chất là “cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của đất nước trong giai đoạn mới, Quốc hội cần “tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động”, thực hiện thật tốt các chức năng: xây dựng pháp luật, tạo lập khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động của đất nước, phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại; đại biểu cho quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước “theo hướng ngày càng chính xác, thực chất hơn”; “đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát”;“Đẩy mạnh hoạt động đối ngoạichủ động, tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế”.

Về công tác tổ chức và hoạt động của Chính phủ, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ vai trò, trách nhiệm của Chính phủ là “cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; là cơ quan trực tiếp tổ chức, quản lý, triển khai thực hiện có hiệu quả mọi chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, biến đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước thành hiện thực sinh động, mang lại ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, làm vẻ vang cho dân tộc, cho giống nòi”. Để hoàn thành trách nhiệm đó, Chính phủ cần phải “tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tổ chức và phương thức hoạt động”, đặc biệt quan tâm đến công tác “xây dựng tổ chức, bộ máy và công tác cán bộ”; “đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc phân cấp, phân quyền, phân công, phối hợp”; “siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính”; kiên trì, kiên quyết “đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực”; “đóng góp to lớn hơn nữa vào công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội”.

Trong cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và các đoàn thể nhân dân giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Đây cũng là vấn đề được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề cập ở nhiều bài viết, bài phát biểu, trong đó tập trung nhất là bài phát biểu tại Hội nghị toàn quốc triển khai Chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Đồng chí Tổng Bí thư nhắc lại và nhấn mạnh các quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”, “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”. Cũng từ quan điểm này, đồng chí Tổng Bí thư đã khái quát thành luận điểm rất sâu sắc, quan trọng trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, được cán bộ, đảng viên và nhân dân rất đồng tình, ủng hộ: “Ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”. Nhằm củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí, quyết tâm và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên cần “năng động, sáng tạo, đổi mới mạnh mẽ hơn nữa; thiết thực, hiệu quả cao hơn nữa, góp phần tập hợp ngày càng đông đảo các tầng lớp nhân dân trong khối đại đoàn kết dân tộc; tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Nhân dân với Đảng và chính quyền, tạo thành sức mạnh to lớn, vô địch để xây dựng Tổ quốc ta ngày càng cường thịnh, Nhân dân ta ngày càng hạnh phúc; Đất nước ta ngày càng phát triển, phồn vinh”.

 PHAO