Chủ Nhật, 10 tháng 7, 2022

TÔI YÊU VIỆT NAM, ĐẤT NƯỚC ANH HÙNG!


Cuộc đời mỗi con người bao giờ cũng gắn liền với một quê hương, xứ sở, một đất nước. Có thể nào sống giữa xứ sở, quê hương đó mà không hề gắn bó, yêu thương? Ngày bé thơ, chúng ta còn ngây ngô chưa hiểu:
"Quê hương là gì hả mẹ
Mà cô giáo dạy phải yêu?
Quê hương là gì hả mẹ
Ai đi xa cũng nhớ nhiều?"
Nhưng khi đã lớn khôn, có lẽ ai cũng có thể cảm nhận một cách sâu sắc về tình yêu đất nước trong mình.
Đất Nước - hai tiếng ấy gợi nhắc chúng ta biết bao điều thiêng liêng, ấm áp. Tổ tiên, nguồn cội chúng ta ở đâu? Chúng ta sinh ra, lớn lên, già yếu và chết đi ở đâu? Nơi nào cho ta cuộc sống của chính bản thân mình?
Đó chính là Đất Nước. Yêu nước, yêu Tổ quốc là tình cảm quý báu luôn thường trực trong mỗi trái tim người Việt Nam. Tự nó đã đan dệt thành lịch sử, và có thể nói, lịch sử dân tộc Việt cũng chính là lịch sử của lòng yêu nước. Tình yêu đất nước là tình cảm gắn bó sâu nặng giữa con người với quê hương, dân tộc. Nó không chỉ là sự cố kết giữa con người với nơi “chôn nhau cắt rốn", với mảnh đất mình sinh ra, lớn lên mà nó còn là sự giao kết giữa tâm hồn mỗi người dân với linh hồn dân tộc.
Nếu đột nhiên có ai đó hỏi bạn có yêu nước không? Hãy tự tin trả lời bằng một câu khẳng định, ĐẤT NƯỚC LÀ MÁU THỊT CỦA TÔI, bởi lẽ yêu nước không nhất thiết là cầm súng, gươm tranh đấu với kẻ thù. Thời bình người ta thể hiện lòng yêu nước khác với thời chiến.
Thời phong kiến yêu nước là phải gắn liền với “trung quân”, “tề gia trị quốc” thì ngày nay yêu nước lại gắn liền với yêu lý tưởng Xã Hội Chủ Nghĩa. Tình yêu đất nước như một viên đá ngũ sắc, mỗi cạnh mỗi mặt của nó có một màu lung linh khác nhau. Mỗi thời đại sẽ làm cho viên đá đó mang những màu sắc khác biệt.
Khi bạn say mê trước một thắng cảnh của đất nước, khi bạn tích cực bình chọn để Vịnh Hạ Long trở thành một trong bảy kỳ quan thiên nhiên của thế giới hiện đại hay khi bạn biết và trăn trở trước vấn đề biển Đông - một trong những vấn đề đang từng ngày, từng giờ nóng dần trên các diễn đàn, trang mạng hay báo chí và cầm bút để viết lên những dòng cảm xúc của mình để gửi đến Trường Sa thân yêu, hay phản bác trước những luận điệu xuyên tạc của kẻ xấu về đất nước… thì chính lúc đó tình yêu đất nước trong bạn đang hiện rõ. Khi Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, khi các nhà Thơ mới viết những câu thơ, bài thơ thật hay ngợi ca vẻ đẹp quê hương Việt Nam, đó cũng đúng là lúc cảm hứng nghệ thuật của các nghệ sĩ đang thăng hoa trong tình yêu đất nước. Không yêu, không gắn bó với mùa thu đồng bằng Bắc Bộ, làm sao cụ Tam Nguyên có thế viết chùm thơ thu tuyệt bút, phác nên khung cảnh tuyệt đẹp của miền quê Việt Nam:
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước ngõ khẽ đưa vèo
Tầng mây lơ lững trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
(Thu điếu)
Nếu chỉ thuần tuý là tài năng, liệu rằng nữ sĩ Anh Thơ có thể phác được bức hoạ thiên nhiên bằng ngôn từ đẹp thế này:
Ngoài bờ đê cỏ non tràn biếc cỏ
Bầy sáo đen xà xuống mổ vu vơ
Mấy cánh bướm rập rờn trôi trước gió
Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa.
(Chiều xuân)
Yêu thiên nhiên chính là biểu hiện của lòng yêu nước - một biểu hiện không cầu kì, ồn ào mà hết sức giản dị, tự nhiên.
Nhưng tình yêu đất nước không chỉ được đan dệt bằng tình yêu thiên nhiên. Yêu nước còn được biểu hiện bằng niềm tự hào dân tộc. Người Việt Nam có rất nhiều điều đáng để tự hào về quê hương, đất nước mình.
Chúng ta vẫn nhắc lại cho nhau nghe những chiến công oanh liệt trong công cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước. Bằng chứng là chúng ta có rất nhiều câu chuyện, nhiều áng văn thơ ngợi ca tinh thần đấu tranh ngoan cường của nhân dân, dân tộc. Bằng chứng là chúng ta có rất nhiều bảo tàng lưu giữ những kỉ vật khắc ghi chiến công của các anh hùng, nghĩa sĩ, chiến sĩ đã đấu tranh vì độc lập tự do cho dân tộc... Niềm tự hào không chỉ in dấu trong các chiến công oanh liệt mà còn in đậm ở truyền thống văn hoá. Đọc Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, người đọc bắt gặp rất nhiều di tích văn hoá – lịch sử lâu đời của dân tộc: những ngôi chùa, mái đình, những làng nghề cổ truyền... Gắn với mỗi di tích ấy là bao truyền thuyết lịch sử, lễ hội đầu xuân, lời ca điệu hát truyền lại từ đời này sang đời khác... Mạch thơ tuôn trào không đứt cùng với niềm tự hào khôn tả:
Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp.
Càng yêu mến, càng tự hào về quê hương giàu đẹp, trù phú bao nhiêu, người Việt Nam càng căm thù bè lũ cướp nước, bán nước bấy nhiêu. Đất nước bốn nghìn tuổi cũng là đất nước bốn nghìn năm kiên cường đấu tranh dựng nước và giữ nước:
Khi có giặc người con trai ra trận
Người con gái trở về nuôi cái cùng con
Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh.
(Đất Nước- Nguyền Khoa Điềm)
Bốn nghìn năm đó biết bao người đã ngã xuống "Để Đất Nước này là đất Nước của nhân dân". Hi sinh cả tính mạng của mình để bảo vệ từng gốc lúa, bờ tre cho Tổ quốc, ý chí chiến đấu đó đã đưa mỗi người con đất Việt đi tới chiến thắng trước mọi bè lù xâm lăng hung hãn nhất.
Đất nước hoà bình, "súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa” viên ngũ sắc yêu nước lại mang sắc màu lung linh khác. Ý thức về vận mệnh dân tộc vẫn được giương cao nhưng mỗi người tự khắc nhận thức được vai trò của minh đối với sự nghiệp canh tân đất nước. Học sinh thi đua học tốt, giáo viên thi đua dạy tốt, nông dân thi đua canh tác vụ mùa bội thu, công nhân thi đua lao động sản xuất, các chiến sĩ nơi biên thùy vẫn chắc tay súng... Ai ai cũng cố gắng hết sức để góp phần nhỏ bé trong công cuộc dựng xây đất nước. Những tấm huy chương từ các cuộc thi Olympic Vật lí, Toán học quốc tế, từ các đại hội thể thao khu vực, những thành tựu trên các mặt trận kinh tế, văn hoá, khoa học kĩ thuật... các năm gần đây chẳng phải được xây dựng nên từ lòng yêu nước, từ ý chí, tinh thần chiến đấu, lao động vì màu cờ sắc áo của dân tộc đó sao? Đất nước bốn nghìn năm tuổi nhưng ngày càng trẻ ra, ngày càng hiện đại, văn minh hơn. Đó là nhờ bàn tay, trí óc của con dân nước Việt yêu tổ quốc mình không ngừng chung sức đắp xây đất nước. Sự nỗ lực của mỗi cá nhân đã góp phần vinh danh cho dân tộc, góp phần đưa Việt Nam vững bước trên con đường hội nhập quốc tế.
Như vậy, có thể hiểu một cách nôm na, yêu đất nước là yêu tất cả những gì đẹp đẽ thuộc về xứ sở quê hương, là không ngừng giữ gìn, xây đắp cho tổ quốc thêm giàu mạnh, là không ngừng chiến đấu chống lại cái xấu, cái ác có nguy cơ xâm hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc...
Tình yêu đất nước là tình yêu muôn màu. Nó thường trực trong mỗi con người và không nhất thiết phải được bộc lộ, biểu hiện như nhau. Tình yêu đất nước tiềm chứa trong nó sức mạnh cực kì to lớn. Nó là bệ đỡ tinh thần cho mỗi người trong cuộc sống này. Tại sao “đất nước” vẫn là chủ đề bất tận để các nhạc sĩ, hoạ sĩ, các nhà thơ, nhà văn mọi thời đại, mọi thế hệ nối tiếp nhau sáng tạo ra những tác phẩm nghệ thuật? Tại sao kiều bào Việt Nam định cư ở nước ngoài luôn hướng về đất nước? Tại sao những người con xa Tổ quốc đó, lúc về già luôn ao ước được yên nghỉ tại quê hương bản quán? Chính tình yêu đất nước đã nuôi dưỡng tâm hồn họ, dẫn bước cho họ vững vàng trong hành trình sống.
Không chỉ nâng đỡ tinh thần con người, lòng yêu nước còn là đòn bẩy khiến mỗi chúng ta sống có trách nhiệm hơn với cộng đồng, với quê hương, dân tộc và với chính bản thân mình. Thực ra, ở mỗi người, khát vọng vinh danh cho quê hương đất nước không khi nào tách rời khát vọng vinh danh cho chính bản thân cá nhân. Chúng ta say mê học tập, lao động vì chính mình nhưng những thành quả mà ta đạt được sẽ điểm tô cho non sông đất nước. Học thức, tài năng của những sứ thần như Mạc Đỉnh Chi chẳng phải đã khiến vua quan Trung Quốc phải kinh ngạc, nể phục đó sao? Mỗi tấm bia khắc tên tuổi các vị trạng nguyên trong Văn Miếu Quốc Tử Giám đâu chỉ có ý nghĩa tôn vinh tài học của họ? Nguyên khí quốc gia là ở đó, Lòng yêu nước đã thôi thúc họ say mê học tập, thôi thúc họ làm rạng danh cho đất nước. Lòng yêu nước của người dân Việt Nam đã khiến các nước đế quốc phải chùn nhụt khi tiến hành hay có ý đồ xâm lược. Nó là yếu tố cốt lõi nhất mang lại sự trường tồn vĩnh cửu cho giang sơn, tổ quốc này. Sức mạnh của tình yêu đất nước là vô tận, tuyệt đỉnh, là bất khả xâm phạm. Nhận thức được điều đó, chúng ta càng phải gìn giữ, vun đắp để tình yêu đất nước mãi cháy sáng trong ta, để sức mạnh này càng nhân lên gấp bội trong cộng đồng dân tộc.
Nhận thức được sức mạnh của tình yêu đất nước, mỗi chúng ta sẽ dễ dàng hơn trong việc xác định cho mình ý thức bồi dưỡng tình cảm đó. Với nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn, anh “tự nguyện” dâng hiến cuộc đời mình: "Nếu là chim, tôi sẽ là loài bồ câu trắng. Nếu là hoa, tôi sẽ là một đoá hướng dương. Nếu là mây, tôi sẽ là một vầng mây ấm. Là người tôi sẽ chết cho quê hương. Tất nhiên, chết cho quê hương là cách nói hình ảnh, thể hiện sự cống hiến trọn vẹn cho đất nước, cho dân tộc. Thế hệ trẻ chúng ta có muôn vàn cách để chứng tỏ tình yêu quê hương, tổ quốc trong mình. Vũ khí trong tay chúng ta là sức mạnh tuổi trẻ, nhiệt huyết thanh xuân, là tri thức vững vàng, là nhân cách đạo đức trong sáng. Không có lý do gì để chúng ta không noi gương tinh thần yêu nước của cha anh. Không có lý do gì để chúng ta không hoàn thành tốt vai trò, nhiệm vụ học tập, công tác của mình. Không có lý do gì để chúng ta không làm giàu cho quê hương, đất nước bằng sức lao động chân chính. Và càng không có lý do gì để chúng ta không thể đối diện chiến đấu với những tệ nạn đang tồn tại, phát sinh trong cuộc sống hôm nay.
Chắc chắn mỗi người dân Việt Nam ai cũng mang trong mình tình yêu đất nước. Nhưng làm thế nào để tình yêu đó ngày càng nồng nàn, tha thiết, ngày càng mãnh liệt hơn - đó là điều ai cũng cần tự giác nhận thức và tìm cho ra câu trả lời. "Đừng hỏi tổ quốc đã làm gì cho ta mà hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay" - lời ca ấy cũng chính là thông điệp nhắc nhở chúng ta nên quên đi “cái tôi” ích kỉ của mình để sum vầy cùng dựng xây đất nước.
12
5 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ

TẠ ĐÌNH ĐỀ: NGƯỜI CẬN VỆ HUYỀN THOẠI CỦA BÁC HỒ!


Xung quanh Tạ Đình Đề có rất nhiều mẩu chuyện vừa giai thoại, vừa mang tính huyền thoại. Xin được dẫn một số chuyện vẫn được lưu truyền trong dân gian và bạn bè ông.
Người ta kể rằng, Tạ Đình Đề là tình báo địch, từng nhận nhiệm vụ theo dõi bác Hồ. Vào một bữa trưa, Bác Hồ nói với cần vụ lấy thêm bát đũa rồi nói to: "Xin mời anh Tạ Đình Đề vào ăn cơm trưa với tôi".
Biết đã bị lộ, một thanh niên nhảy vọt ra đứng ngay trước mặt Bác Hồ. Không hiểu hai người nói chuyện gì mà Tạ Đình Đề thay đổi mục đích chuyến "viếng thăm" này và nói "Vậy tôi quyết định chấm dứt nhiệm vụ của địch giao cho, và xin đặt mình dưới quyền sử dụng của Bác". Từ đó Tạ Đình Đề trở thành cận vệ thân tín của Bác Hồ. Và nhiều lần ông đã chứng tỏ tài năng xuất chúng của mình.
Nhà văn Mai Ngữ trong "Lãng đãng chiều sương" kể một câu chuyện đặc biệt ly kỳ: “Tôi nhớ lại hồi Hà Nội xử vụ án Tạ Đình Đề, thiên hạ hiếu kỳ cả người lớn cả trẻ em đến ngồi đầy trong sân toà án. Tôi nghe trong đám trẻ chừng mười bốn, mười lăm tuổi đang ngồi xúm quanh một đứa lớn hơn đang liến láu kể chuyện, mắt mũi trợn trạo: "Thế này nhé, hồi Bác Hồ sang Trung Quốc, có người mời Bác hút thuốc lá.
Bác vừa ngậm điếu thuốc trên môi thì ông Tạ Đình Đề đứng bảo vệ Bác rút lục "bùm chíu" một phát trúng điếu thuốc rơi xuống, ghê không? Chẳng là người ta đã tẩm thuốc vào mà... Lũ trẻ ngồi ngẩn mặt nghe"...
• Tài "bùm chíu" như trong phim:
Dân gian cũng nói nhiều đến tài nghệ "bùm chíu" "bách phát bách trúng" của Tạ Đình Đề. Ông Vi Hải, nguyên là Thành đội trưởng Hà Nội, thời kỳ ông Đề làm đội trưởng biệt động Hà Nội kể với các nhà báo: Tạ Đình Đề chuyên dùng Broning, hai khẩu hai tay, cứ vẩy một cái là trúng. Có lần trước mặt bá quan và hoa khôi ở Hà Đông, viên sỹ quan Tàu tuyên bố dân Việt Nam không ai biết bắn súng.
Ông Đề nóng mặt nhưng vẫn nhỏ nhẹ: Nếu ông thích thì tôi xin hầu, có gì ông dạy bảo. Viên sỹ quan Tàu lớn giọng: Ai thua thì phải đãi chư vị đây một chầu trong nhà hàng ASIA (như khách sạn 5 sao hiện nay).
Dù trong túi không có một cắc nhưng ông Đề vẫn nhận lời thách đấu. Viên sỹ quan Tàu hăm hở cầm ngắm cẩn thận, "bùm chíu" 5 viên, chỉ trúng 3. Ông Đề lặng lẽ cầm, vẩy tay 5 cái, trúng cả 5. Thế là tất cả mọi người được ăn một chầu ở ASIA.
Một giai thoại khác không kém phần "gay cấn" là vụ "bùm chíu" ngay tại sân khấu khiến cho khán trường ngơ ngác. Số là có lần đi dự một buổi trình diễn sân khấu, khi ca sỹ chưa kịp nói lời chào khán giả thì Tạ Đình Đề đứng dậy, rút ra "bùm chíu" diễn viên "hẹo" ngay. Khi khám xét, người ta phát hiện ra một cục thạch anh và một khẩu nhỏ xíu được cất giấu trong người. Hoá ra, đó là một nữ điệp viên muốn nhân cơ hội "tiêu diệt" lãnh tụ...
Người ta cũng kể lại rằng, hồi những năm 1976, người dân Hà Nội thấy một người đàn ông oai vệ cưỡi một chiếc xe máy diễu trên đường phố. Đó là Tạ Đình Đề. Một hôm, ông đang chạy trên đường thì gặp tai nạn với một chiếc ô tô.
Tiếng va quệt mạnh, cộng thêm tiếng sắt thép, kính vỡ khiến cho người đi đường tá hoả nghĩ ông Đề "đi là cái chắc". Khi lại gần, chẳng ai thấy ông Đề đâu. Một lát sau, có một người đàn ông từ trên cành cây xuống và... cười, không mảy may bị làm sao cả.
Đại tá Quách Hải Lượng người từng gặp ông Tạ Đình Đề ở chiến khu Việt Bắc thì kể rằng: Tôi hỏi "Người ta nói anh "bùm chíu" giỏi lắm phải không?", anh Đề nói luôn: "Chúng mày chẳng biết gì về tình báo cả, thằng tình báo nào mà chẳng "bùm chíu" trúng, khi cần "bùm chíu" người ta thì nó... dí vào người ta mà bóp cò, làm gì mà chả trúng. Chúng mày đừng nghĩ như tiểu thuyết và xi-nê".
Còn nhà báo Lê Xuân Kỳ kể: khi hỏi Tạ Đình Đề về những giai thoại trên, ông cười ngặt nghẽo và nói: Làm gì có chuyện đó. Chuyện về tớ cũng như chuyện về Bút Tre.
ST từ : baotanglichsu
Có thể là hình ảnh về 1 người


NGHỆ THUẬT "1 DIỆT 4 CẮT" TRONG TRẬN NÔNG SƠN - TRUNG PHƯỚC

 Trận tiến công quân địch ở Nông Sơn-Trung Phước trong đợt 1 Chiến dịch Nông Sơn-Thượng Đức năm 1974 là trận then chốt mở đầu, để lại nhiều kinh nghiệm về nghệ thuật quân sự.

Trong đó, nổi bật là Bộ tư lệnh chiến dịch đã xác định đúng khu vực, mục tiêu tiến công và vận dụng cách đánh linh hoạt.
Nông Sơn-Trung Phước (huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam) là cụm cứ điểm tiền tiêu của địch, gồm 10 vị trí trải trên địa bàn rộng 3km, dài 4km. Trong cụm cứ điểm này Nông Sơn là cứ điểm then chốt được xây dựng trên một mỏm đồi cao gần 300m, do Tiểu đoàn 78 biệt động quân, 1 đại đội bảo an, 10 trung đội dân vệ đóng giữ. Tại đây, địch bố trí 3 tầng hỏa lực với công sự kiên cố, xung quanh có 8 lớp rào kẽm gai xen kẽ mìn chống tăng và bộ binh. Nông Sơn-Trung Phước là cụm cứ điểm rất kiên cố, nhưng ở vùng giáp ranh, nằm sâu trong vùng giải phóng của ta, dễ bị bao vây, cô lập, nếu chúng tới ứng cứu thì chỉ có một đường vào, do đó, ta có khả năng tiêu diệt từng cứ điểm và kéo địch đến giải tỏa ở khu vực ta đã lựa chọn để tiêu diệt chúng.
Thực hiện đánh trận then chốt này, Bộ tư lệnh chiến dịch sử dụng Sư đoàn Bộ binh 2 (Quân khu 5) được tăng cường Trung đoàn Bộ binh 36 (thiếu Tiểu đoàn Bộ binh 3), cùng một số đơn vị hỏa lực. Với binh lực và hỏa lực hơn hẳn địch, ta thực hiện phương châm “1 diệt 4 cắt” (diệt sở chỉ huy đầu não và sinh lực địch; cắt bộ binh với bộ binh, bộ binh với pháo binh, bộ binh với thiết giáp, cắt bộ binh với không quân của địch).
Rút kinh nghiệm một số trận tiến công trước, trận này ta vận dụng chiến thuật tiến công địch phòng ngự trong công sự vững chắc bằng chiến đấu hiệp đồng binh chủng qua hai bước: Bước 1, sử dụng một số đơn vị bất ngờ tập kích tiêu diệt các cứ điểm đại đội, trung đội địch ở vòng ngoài, hình thành thế bao vây chặt cứ điểm Nông Sơn, ngăn không cho địch từ An Hòa, Đức Dục đến ứng cứu; đồng thời đưa lực lượng vào xây dựng trận địa vây lấn tiến công Nông Sơn. Bước 2, thực hiện vây lấn, tiến công cứ điểm Nông Sơn bằng hiệp đồng binh chủng để tiêu diệt địch.
Theo kế hoạch tác chiến, 20 giờ ngày 17-7-1974, Đại đội Công binh 2 (Tiểu đoàn 15) tập kích chốt địch ở Cà Tang, mở màn trận đánh. Tiếp đó, các đơn vị đồng loạt tập kích vào các mục tiêu vòng ngoài theo kế hoạch. Đòn tiến công bất ngờ của ta đã làm cho địch bối rối. Chúng ở các cứ điểm đều bị ta tiến công không thể chi viện được cho nhau. Với cách đánh đã được xác định và vận dụng tác chiến linh hoạt, ta nhanh chóng tổ chức tập kích, lần lượt tiêu diệt các vị trí địch ở Quế Sơn, ngã ba Trung Phước, Khương Nam, Khương Bình, đồi Tranh, Sơn Phúc, Sơn Thọ.
Đến 13 giờ ngày 18-7, về cơ bản ta giải quyết xong các vị trí địch xung quanh Nông Sơn; đồng thời đánh chiếm Ninh Hòa làm bàn đạp tiến công Nông Sơn. Từ 16 giờ ngày 18-7, các trận địa pháo của ta bắn dồn dập vào cứ điểm Nông Sơn, lần lượt phá hủy 38 trong số 41 lô cốt và ụ súng của địch ở ngoại vi. Với phương châm “đưa pháo lên cao, vào gần, bắn thẳng”, pháo binh ta bất ngờ xuất hiện, phát huy tối đa tác dụng, nhất là pháo bắn thẳng, cùng lực lượng phòng không chi viện cho bộ binh vây lấn, đánh phản kích và xung phong tiêu diệt các mục tiêu còn lại. Đến 17 giờ 5 phút ngày 18-7, bộ đội ta làm chủ hoàn toàn khu vực Nông Sơn-Trung Phước.


TƯỚNG LÊ TRỌNG TẤN VÀ TRẬN ĐÁNH KHIẾN THÁI LAN KHIẾP SỢ.

 Sau chiến thắng Đường 9 – Nam Lào, mùa khô năm 1971 – 1972, Tổng hành dinh Quân Giải phóng Miền Nam và Bộ chỉ huy Quân đội giải phóng nhân dân Lào quyết định mở chiến dịch lớn ở chiến trường Cánh đồng Chum-Xiêng Khoảng, Lào, có mật danh là chiến dịch “Z” với mục đích, là tiêu diệt gọn một bộ phận sinh lực địch đang lấn chiếm Cánh đồng Chum; phá vỡ tuyến phòng thủ của địch, giành và giữ dân, giải phóng Cánh đồng Chum.

Tháng 7/1971, lợi dụng mùa mưa, Mỹ và chính phủ Lào thân Mỹ mở cuộc hành quân lấn chiếm Cánh đồng Chum. Mưu đồ của Mỹ và đồng minh vẫn là muốn chiếm đóng lâu dài địa bàn chiến lược này, dự định đánh chiếm lại sân bay, từ đó bung ra chiếm lại Cánh đồng Chum, rồi tiến theo đường 7 đánh ra biên giới Việt – Lào. Khác với lần trước, lần này Mỹ tăng cường thêm lực lượng quân đội đánh thuê Thái Lan.
Lực lượng địch gồm: 30 tiểu đoàn bộ binh (18 tiểu đoàn Vàng Pao, 4 tiểu đoàn quân đội Hoàng gia Lào, 8 tiểu đoàn Thái Lan), 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 đại đội máy bay T-28, 1 trung đội xe bọc thép… dưới sự chi viện tối đa của không quân Mỹ, kể cả B-52 và F-111.
Tại chỉ huy sở chiến dịch, ngoài các cán bộ chủ chốt BTL 959 (Đại tá Vũ Lập làm Tư lệnh, Đại tá Huỳnh Đắc Hương làm Chính ủy), Bộ Quốc phòng tăng cường một Đại tá xuất sắc của quân đội là đồng chí Nguyễn Hữu An làm Phó Tư lệnh. Chiến dịch sắp mở màn, Bộ cử Thiếu tướng Tổng tham mưu phó Lê Trọng Tấn sang làm phái viên trực tiếp chỉ đạo chiến dịch (vị Tướng này được cấp dưới đặt cho biệt danh “Tướng Chiến Thắng” hay “Giucốp Việt Nam”, thường chỉ huy các chiến dịch lớn). Ông có đặc điểm là rất nghiêm khắc, nóng tính và quyết đoán. Về trận chiến trên Cánh đồng Chum năm 1971, báo Bangkok sau này đưa tin: “Tướng Tấn đột ngột xuất hiện trực tiếp chỉ huy chiến dịch sau những loạt đại pháo 130 ly khiếp đảm cùng những “con báo khạc lửa” (xe tăng) thẳng tiến như không có gì cản trở”.
Lực lượng Quân Giải phóng: Trước chiến dịch “Z”, địa bàn Cánh đồng Chum-Xiêng Khoảng có các đơn vị quân tình nguyện: f316, e866 và d42, d25, d26 …Vào chiến dịch, trên tăng cường thêm f312, Lữ 335, một tiểu đoàn pháo mặt đất, một tiểu đoàn pháo cao xạ, một tiểu đoàn tank-thiết giáp, 2 tiểu đoàn đặc công và một số đơn vị kỹ thuật. Lực lượng vũ trang Cách mạng Lào có 9 tiểu đoàn bộ binh, 1 đại đội pháo binh và 3 đại đội vũ trang địa phương. Chiến dịch được ấn định vào giáp tết năm Nhâm Tý (1972). Sau khi nghe báo cáo tình hình địch – ta, Tướng Lê Trọng Tấn phán một câu xanh rờn: “Đánh trận này, ba đời sau Thái Lan còn sợ!”.
Quả nhiên, sự thật diễn ra đúng như ông Lê Trọng Tấn nói. Đúng giờ G, các trận địa pháo lớn đồng loạt gầm vang, hỏa tiễn H72, cối 82, 120 ly, pháo 130 ly sau đó là ĐKZ, B40, B41 diệt hỏa điểm còn lại rồi ĐH10 mở cửa, xe tăng gầm rú, dẫn bộ binh tràn lên. Nhưng quá trình chiến dịch, không phải mọi chuyện đều suôn sẻ. Sự cố ở Phu Tôn xảy ra ngay lúc quân ta tấn công, mới thấy vị tướng Tổng tham mưu phó không hổ danh “Tướng Chiến thắng”…
Trung đoàn 165 (f312) do trung tá Nguyễn Chuông chỉ huy dứt điểm Phu Thanêng (Phu Tâng) do một tiểu đoàn quân Thái Lan đóng giữ. Trung đoàn 141 đánh trung tâm chỉ huy của quân Thái Lan ở Phu Tôn. Ông Trung tá trung đoàn trưởng bị địch lừa, nằng nặc đòi xe tăng trong lúc xe đang bị sa lầy. Trên trời, OV-10 thả đèn và bắn trọng liên như mưa quanh điểm cao. Hỏa lực địch trong căn cứ vẫn bắn ra….nhưng trước sức tấn công dũng mãnh, quả cảm của Quân Giải phóng chỉ sau 5 ngày giao chiến, quân Thái, quân Mẹo bị các lực lượng của ta đánh cho tơi tả, chạy dài!
Khi đó ở hang chỉ huy Phu Nhu, không khí cực kỳ căng thẳng. Bộ Tư lệnh, cán bộ các cục, các trưởng phòng của Mặt trận 959 và phái viên của Bộ đều có mặt, chăm chú nhìn vị Tướng. Ông Lê Trọng Tấn mặt đỏ phừng phừng, đi quanh bàn, khi thì chăm chú nhìn vào tấm bản đồ treo trên vách đá, lúc quay qua chăm chú ngó sa bàn, rồi nhìn ai đó trong số “bá quan văn võ”. Bất chợt, ông dừng lại, chộp tổ hợp máy điện thoại gọi xuống e141 rồi nói như quát:
– Tài đâu, lệnh cho bộ đội xung phong ngay. Địch chạy hết rồi. Hình như ông Tài nói gì đó làm vị Tướng phật ý. Ông Tấn quát tiếp:
– Mày không lên, tao cách cổ bây giờ!
Bộ đội xông lên. Đúng là chỉ còn mấy thằng bắn súng máy nghi binh!
Nhưng địch chạy đường nào về hang ổ Long Chẹng? Nghe dưới báo cáo, đường phía Bắc vào khu vực Cửa Rừng có nhiều đèn pháo sáng, còn đường phía Nam chỉ có lưa thưa. Tư lệnh Vũ Lập, các Phó tư lệnh: Nam Hà, Hà Thế Hùng, Tham mưu trưởng Dũng Mã, Trưởng phòng tác chiến Huỳnh Lê…đều phân vân. Đa số phán đoán địch chạy hướng Bắc, có người đề nghị chia đôi pháo, bắn đạn chụp cho chắc ăn. Ông Lê Trọng Tấn lừ lừ nhìn mọi người… Bỗng nhiên ra lệnh: Tập trung hỏa lực chần dọc theo con đường phía Nam (nơi ít đèn dù hơn). Không ai dám nói ra nhưng nửa tin nửa ngờ, vì nếu phán đoán sai thì phần lớn quân địch ở Phu Tôn và Cánh đồng Chum sẽ chạy thoát và như vậy không thực hiện được mục tiêu “đánh tiêu diệt” của chiến dịch.
Ngay hôm sau, ông Lê Trọng Tấn cho người đi kiểm tra. Đúng như ông Thiếu tướng dự đoán, dọc con đường phía Nam, quân Thái chết như rạ, người toàn đổ về phía Tây. Bấy giờ tôi mới hiểu vì sao bộ đội ta đặt cho ông nhiều mỹ từ nổi bật như thế. Một lần nữa, câu nói của cổ nhân lại vang lên bên tai tôi: “Nhất tướng công thành vạn cốt khô”!
Sau này Đại úy Tư Đương, phóng viên báo Quân đội Nhân dân và tôi, Thiếu úy, phóng viên báo CSMT đã phỏng vấn một tù binh, nguyên tiểu đoàn trưởng quê ở A-dút-thai-da, Thái Lan (chỉ huy lá chắn thép Phu Thanêng). Tôi hỏi hắn: “Anh thấy đối thủ của anh thế nào?”. Hắn rùng mình, mắt thất thần, nói lí nhí câu tiếng Lào: “Thạ hản Việt sulốp kềng thi xút!” (Bộ đội Việt đánh quá giỏi!")


Chủ động nghiên cứu, linh hoạt điều hành, hoàn thành tốt công tác hậu cần quân đội

 

Trong thời gian qua, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Cuộc xung đột quân sự giữa Nga-Ukraine gây đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu khiến giá xăng dầu, nguyên vật liệu và một số mặt hàng thiết yếu tăng cao.

Biến đổi khí hậu gây thiên tai, dịch bệnh; dịch Covid-19 tuy đã được kiểm soát song còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ; quân đội tiếp tục điều chỉnh tổ chức lực lượng đến năm 2025 cơ bản tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Những đặc điểm trên có tác động trực tiếp đến công tác hậu cần quân đội.

Mặc dù có những khó khăn nhất định nhưng với quyết tâm cao, Tổng cục Hậu cần (TCHC) và ngành hậu cần quân đội đã quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, luôn chủ động nghiên cứu, tham mưu kịp thời, đúng, trúng với trên các định hướng trong công tác hậu cần, phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng triển khai đồng bộ các giải pháp, với nhiều khâu đột phá, phát huy sức mạnh tổng hợp trong tổ chức thực hiện, linh hoạt, sáng tạo trong điều hành, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, trong đó có nhiều nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc, nổi bật như:

Chủ động nghiên cứu, linh hoạt điều hành, hoàn thành tốt công tác hậu cần quân đội
Đại tướng Phan Văn Giang và các đại biểu tham quan các sản phẩm mới do doanh nghiệp hậu cần sản xuất. Ảnh: VĂN CHIỂN 

Chỉ đạo duy trì nghiêm vật chất, trang bị hậu cần dự trữ ở các cấp đủ về số lượng, tốt về chất lượng và đúng theo chủng loại. Cơ quan hậu cần và đội ngũ cán bộ, nhân viên hậu cần luôn theo dõi, nắm chắc tình hình mọi mặt, tham mưu đúng, trúng, kịp thời với lãnh đạo, chỉ huy đơn vị chỉ đạo duy trì nền nếp chế độ quy định, bảo đảm đầy đủ, kịp thời hậu cần cho nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và đột xuất; tập trung cho các đơn vị làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo, biên giới, ở địa bàn trọng điểm và các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, quân đội.

Hệ thống văn kiện hậu cần tác chiến của các đơn vị được rà soát, bổ sung kịp thời. Cơ quan chức năng của TCHC luôn sâu sát kiểm tra, hướng dẫn, chỉ đạo, theo dõi, đôn đốc các đơn vị xây dựng, bổ sung, hoàn chỉnh. Công tác xây dựng tiềm lực, thế trận hậu cần trong khu vực phòng thủ gắn với phòng thủ dân sự được hậu cần bộ CHQS và hậu cần bộ chỉ huy bộ đội biên phòng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phối hợp tham mưu hiệu quả với cấp ủy, chính quyền địa phương. Lực lượng, phương tiện, vật chất hậu cần sẵn sàng tham gia phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn ở các cấp được chuẩn bị chu đáo, kịp thời, hiệu quả.

Với chủ đề “Chủ động thích ứng với dịch bệnh, biến đổi khí hậu, nâng cao năng lực, bảo đảm tốt hậu cần đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống”, TCHC và ngành hậu cần toàn quân đã thực hiện hiệu quả công tác hậu cần thường xuyên với nhiều giải pháp đồng bộ, ở tất cả các ngành với những giải pháp đột phá, sáng tạo.

Theo đó, các đơn vị đã nghiên cứu, nắm chắc biến động của thị trường, chủ động khai thác, tạo nguồn lương thực, thực phẩm, quản lý chặt chẽ tiêu chuẩn, bảo đảm đúng, đủ định lượng ăn cho các đối tượng. Cùng với bảo đảm đồng bộ, thống nhất, chất lượng trang bị, dụng cụ cấp dưỡng nhà ăn, nhà bếp, cơ quan quân nhu đã chú trọng tạo nguồn, tiếp nhận, cấp phát đúng, đủ, kịp thời, bảo đảm chất lượng tiêu chuẩn quân trang cho các đối tượng.

Toàn quân phát huy hiệu quả các mô hình tăng gia sản xuất (TGSX); thực hiện tốt các biện pháp phòng, chống dịch bệnh ở gia súc, gia cầm. TCHC đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện chương trình hỗ trợ, giúp các đơn vị quân đội phát triển TGSX, ứng dụng khoa học kỹ thuật, bảo vệ môi trường; xây dựng phương án sử dụng vốn vay để phát triển chăn nuôi và trồng trọt.

Do đó, 6 tháng đầu năm 2022, kết quả TGSX chế biến cơ bản hoàn thành tốt theo chỉ lệnh hậu cần. Giá trị lãi bình quân đạt hơn 724.000 đồng/người (đạt 55,7% kế hoạch năm), giá sản phẩm TGSX đưa vào bếp ăn thấp hơn giá thị trường cùng thời điểm từ 6,7% đến 25,1%, góp phần giữ vững ổn định đời sống bộ đội.

Với các giải pháp quyết liệt, đồng bộ, trong lĩnh vực quân y, công tác phòng, chống dịch Covid-19 tiếp tục được quan tâm, chú trọng; đồng thời thường xuyên cảnh giác phòng, chống các loại dịch bệnh khác (viêm não mô cầu, sốt xuất huyết...), phòng, chống say nắng, say nóng, phòng, chống bệnh nghề nghiệp và tai nạn lao động. Công tác quản lý, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe bộ đội được thực hiện tốt.

Việc khám sức khỏe định kỳ cho các đối tượng được thực hiện nền nếp; thu dung, cấp cứu, điều trị các tuyến bảo đảm an toàn; duy trì tỷ lệ quân số khỏe đạt 98,9%; kiểm tra sau 1 tháng huấn luyện, tỷ lệ sức khỏe loại 1 và loại 2 của chiến sĩ mới tăng hơn 9% so với kết quả khám phúc tra khi về đơn vị. Chương trình kết hợp quân-dân y trong khám, chữa bệnh; phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ, chăm sóc sức khỏe bộ đội và nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo đạt hiệu quả thiết thực.

Các đơn vị đã quan tâm chỉ đạo thực hiện tốt công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch tổng mặt bằng doanh trại với 100% quy hoạch tổng mặt bằng doanh trại được phê duyệt trước khi trình phê duyệt dự án. Đầu tư xây dựng công trình doanh trại, công trình bảo đảm nước sạch sinh hoạt theo đúng danh mục trong kế hoạch Bộ Quốc phòng giao, nhất là các dự án, công trình trọng điểm. Công tác quản lý chất lượng xây dựng công trình theo đúng quy định của Nhà nước và Bộ Quốc phòng. Các cơ quan, đơn vị tích cực củng cố, sửa chữa doanh trại, doanh cụ, cảnh quan, môi trường ngày càng xanh, sạch, đẹp; xây dựng bổ sung, sửa chữa nâng cấp công trình phục vụ bộ đội đầy đủ theo tiêu chuẩn quy định; đẩy nhanh tiến độ hoàn chỉnh phương án sắp xếp lại, xử lý nhà, đất và bàn giao các khu gia đình quân đội ra địa phương quản lý.

Từ đầu năm đến nay, do tác động của nhiều yếu tố, nhất là xung đột quân sự giữa Nga và Ukraine đã khiến giá xăng dầu thị trường tăng gấp đôi so với thời điểm cuối năm 2021. Chủ động đánh giá đúng tình hình và dự báo được những tác động này, ngay từ đầu năm, TCHC đã tham mưu với Quân ủy Trung ương, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng và chỉ đạo các cấp về công tác xăng dầu, bảo đảm kịp thời cho các nhiệm vụ thường xuyên, đột xuất; chủ động xây dựng kế hoạch mua sắm tạo nguồn từ rất sớm; triển khai phương án mua xăng dầu đặc chủng trong nước thay thế xăng dầu đặc chủng nhập khẩu; đầu tư xây dựng, nâng cấp, sửa chữa hệ thống kho, bể, tuyến ống, tăng cường nghiên cứu ứng dụng công nghệ, bảo đảm chất lượng, an toàn tiết kiệm trong sử dụng.

Công tác vận tải được tổ chức chỉ huy, điều hành chặt chẽ, khai thác, sử dụng hiệu quả phương tiện vận tải hiện có, kết hợp với thuê phương tiện hợp lý của các doanh nghiệp vận tải uy tín ngoài quân đội; hoàn thành các kế hoạch vận chuyển quân, chiến sĩ mới, vũ khí đạn, binh khí kỹ thuật, vật chất, xăng dầu, trang thiết bị, vật tư y tế, vaccine trong phòng, chống dịch Covid-19.

Công tác bảo quản, sửa chữa, duy trì hệ số kỹ thuật phương tiện được thực hiện nền nếp; tăng cường việc kiểm tra, kiểm soát tàu thuyền quân sự, phương tiện vận tải, chấp hành tốt các quy định khi tham gia giao thông, bảo đảm an toàn trong quá trình vận chuyển. Đã triển khai khảo sát, mua sắm tạo nguồn trang bị, phương tiện vận tải; theo dõi, chỉ đạo đóng mới các phương tiện vận tải thủy bảo đảm tiến độ, chất lượng; hoàn chỉnh, báo cáo Bộ Quốc phòng phê duyệt và triển khai thực hiện đề án đổi mới phương tiện vận tải thủy quân sự đúng kế hoạch.

Có được kết quả đó, một trong những động lực thúc đẩy công tác hậu cần toàn quân đó là TCHC và ngành hậu cần các cấp luôn quan tâm đúng mức đến công tác xây dựng ngành; xây dựng, triển khai kế hoạch chuyển đổi số; tổ chức nghiên cứu, triển khai thực hiện hiệu quả các đề án, kế hoạch hậu cần và văn bản quy phạm pháp luật các chuyên ngành hậu cần. Triển khai đồng bộ các giải pháp huấn luyện, chú trọng nâng cao chất lượng lớp tập huấn, các hội thi, hội thao; tăng cường kiểm tra, phúc tra, kết hợp chặt chẽ với đẩy mạnh Phong trào thi đua "Ngành hậu cần quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy" gắn với Phong trào Thi đua Quyết thắng, hướng vào mục tiêu hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị và toàn ngành hậu cần.

Với tinh thần “đi trước, về sau”, để hoàn thành nhiệm vụ năm 2022 và những năm tiếp theo, TCHC sẽ tổng kết, đánh giá, rút ra những bài học kinh nghiệm, rà soát, hoàn chỉnh kế hoạch công tác hậu cần năm 2022, chủ động nghiên cứu đánh giá đúng tình hình, tập trung chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, bảo đảm tốt công tác hậu cần cho nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, các nhiệm vụ thường xuyên cũng như đột xuất, hoàn thành các chỉ tiêu, kế hoạch đã xác định; chú trọng đẩy mạnh xây dựng và hoạt động hậu cần khu vực phòng thủ ở các cấp, đồng thời bảo đảm tốt hậu cần cho lực lượng quân đội tham gia xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh trên các địa bàn chiến lược. Chủ động lực lượng, phương tiện, vật chất hậu cần, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, cứu hộ-cứu nạn, chú trọng thực hiện tốt nhiệm vụ Chính phủ, Bộ Quốc phòng giao trong phòng, chống dịch Covid-19.

Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện kế hoạch chuyển đổi số công tác hậu cần. Các cơ quan, đơn vị phát huy tốt nội lực, các nguồn lực, tiếp tục thực hiện hiệu quả chủ đề công tác hậu cần năm 2022. Tổ chức mua sắm, tạo nguồn vật chất hậu cần theo phân cấp, đúng quy định của pháp luật, quản lý, giám sát, kiểm soát chặt chẽ tiêu chuẩn kỹ thuật, số lượng, chất lượng, bảo đảm đầy đủ, kịp thời chế độ, tiêu chuẩn hậu cần cho các đối tượng, giữ ổn định và nâng cao đời sống bộ đội; duy trì, thực hiện nghiêm nền nếp, chế độ công tác ngành; chú trọng mở rộng hợp tác hậu cần với quân đội các nước ASEAN và các nước có quan hệ hữu nghị truyền thống. Cùng với đó tập trung phát huy hiệu quả phong trào thi đua ngành hậu cần gắn với Phong trào Thi đua Quyết thắng và các cuộc vận động, các phong trào thi đua của các cấp, ngành, xây dựng TCHC và các cơ quan, đơn vị hậu cần vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Nguồn: QĐND.

Hạt nhân gắn kết các phong trào cộng đồng Việt Nam ở nước ngoài

 

Ngày đất nước hòa bình, thống nhất, những người lính trở về đoàn tụ với gia đình, quê hương và bước sang một “chương mới” của cuộc đời. Trong số đó có nhiều người sang nước ngoài học tập, lao động, lập nghiệp theo đúng xu thế hội nhập.

Nhưng dù ở đâu, những người lính năm xưa vẫn luôn tự hào khi được gọi là Bộ đội Cụ Hồ hay những cựu chiến binh (CCB) trong thời bình.

Tiến sĩ Nguyễn Quang Vinh, từng là chiến sĩ của Trung đoàn 48 anh hùng, sinh sống tại Cộng hòa Liên bang (CHLB) Đức từ năm 1988. Kể từ khi sang Đức, ông chăm chỉ, chịu khó học hỏi và trở thành giảng viên, nghiên cứu viên ngành hóa sinh tại Đại học Bochum, trước khi chuyển sang làm y sĩ châm cứu và giảng dạy chuyên ngành châm cứu tại Trung tâm Đông y Münster. Dù chính thức nghỉ hưu từ năm 2020 nhưng ông không nghỉ việc. Bằng tâm huyết và trách nhiệm của một người CCB Bộ đội Cụ Hồ, một lương y, ông đã truyền lại kiến thức về châm cứu cho các đồng nghiệp người Đức. Việc làm của ông có ý nghĩa thiết thực, vun đắp tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt-Đức.

Hạt nhân gắn kết các phong trào cộng đồng Việt Nam ở nước ngoài
Hội Cựu chiến binh Việt Nam tại Ukraine. Ảnh: TTXVN. 

CCB Nguyễn Huy Thắng sinh sống và làm việc tại CHLB Đức từ năm 1988. Ông nguyên là chiến sĩ Đại đội 2, Tiểu đoàn 107, từng tham gia chiến đấu ở Mặt trận Quảng Ngãi từ năm 1972 đến khi chiến tranh kết thúc. Rời quân ngũ với tỷ lệ thương tật 61%, ông trở thành phóng viên của Báo Quảng Ninh, sau đó là Báo Hà Tây. 34 năm sinh sống và làm việc ở một quốc gia châu Âu nhưng ông Thắng vẫn giữ phong cách của một người lính, dám nghĩ, dám nói, dám làm và luôn có tinh thần đổi mới, sáng tạo. Từ vị trí đội trưởng đội sản xuất đồ gỗ đi xuất khẩu lao động sang Đức, giờ đây CCB Nguyễn Huy Thắng là một doanh nhân thành đạt, một nhà thơ và là nhân vật có nhiều đóng góp cho cộng đồng người Việt ở Đức. Năm nay đã ngoài 70 tuổi nhưng CCB Nguyễn Huy Thắng vẫn vẹn nguyên bầu nhiệt huyết, mang đậm chất lính khi tham gia các hoạt động tập thể vì cộng đồng và hướng về quê hương. Ông tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, vận động các hội viên tham gia phong trào thiện nguyện, thăm hỏi và tặng quà các gia đình thương binh, liệt sĩ...

Cũng như ông Thắng, ông Vinh, nhiều CCB sinh hoạt trong các câu lạc bộ, hội CCB Việt Nam ở nước ngoài đã từng bước qua lửa đạn chiến tranh, từ cõi chết trở về. Họ đã phấn đấu học tập, nghiên cứu, kinh doanh, trở thành trí thức, doanh nhân thành đạt. Dù sống xa Tổ quốc nhưng trách nhiệm và nỗi trăn trở với quê hương chưa bao giờ vơi trong họ. Phát huy truyền thống và phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, bằng trí tuệ, tâm sức của mình, nhiều CCB kiều bào đã xây dựng sự nghiệp, có chỗ đứng vững chắc ở nước sở tại và luôn hướng về quê hương, cội nguồn.

Theo thống kê của Trung ương Hội CCB Việt Nam, hiện nay có hàng nghìn CCB đang sinh sống ở nước ngoài như: LB Nga, CHLB Đức, Séc, Ba Lan, Ukraine... trong đó đông nhất vẫn là Hội CCB Việt Nam tại LB Nga với khoảng 3.000 hội viên. Theo ông Đỗ Văn Tiếu, Phó chủ tịch Hội CCB Việt Nam tại LB Nga, hội được thành lập ngày 22-12-2015, ra mắt lần đầu tiên ngày 30-4-2016. Trải qua 6 năm hoạt động, hội luôn là trung tâm đoàn kết các hội viên. Ngoài Moscow, hội đã mở rộng ra các thành phố: Yekaterinburg, Pyatigorsk, Novosibirsk, Omsk và Ulyanovsk. Trong khi đó, Câu lạc bộ CCB Việt Nam tại Ba Lan hoạt động từ năm 2000 và duy trì đến nay. Năm 2014, Hội CCB Việt Nam tại Cộng hòa Séc được thành lập và hiện có gần 600 hội viên, trong đó có rất nhiều người đã trực tiếp tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Các câu lạc bộ, hội CCB Việt Nam ở nước ngoài hoạt động dưới sự chỉ đạo của đại sứ quán Việt Nam ở nước sở tại. Nhiệm vụ chính của các hội là tập hợp cán bộ, chiến sĩ từng tham gia quân đội qua các thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ biên giới, làm nghĩa vụ quốc tế và các quân nhân xuất ngũ sau này nhằm động viên, giúp nhau làm kinh tế khi ở xa Tổ quốc.

Phát huy những phẩm chất cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ, trong những năm qua, các câu lạc bộ, hội CCB Việt Nam ở nước ngoài hoạt động khá đều, có nền nếp và tham gia tích cực vào các hoạt động, phong trào đầy ắp nghĩa tình đồng đội, đồng bào do đại sứ quán và hội đoàn người Việt Nam ở nước ngoài tổ chức, được Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, lãnh đạo đại sứ quán Việt Nam đánh giá cao. Có thể kể đến các phong trào, hoạt động như: “Góp đá xây Trường Sa”, mua xuồng chủ quyền tặng quân và dân huyện đảo Trường Sa, ủng hộ nạn nhân chất độc da cam/dioxin, ủng hộ đồng bào bị bão lụt hay quyên góp tiền, vật tư y tế hỗ trợ bà con ở trong nước phòng, chống dịch Covid-19... Bên cạnh đó, hằng năm, các hội CCB Việt Nam ở nước ngoài còn tổ chức các ngày kỷ niệm lớn của đất nước như: Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4), Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27-7), Ngày Quốc khánh (2-9), Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12).

Khi Tổ quốc bị xâm lăng, những người lính Cụ Hồ luôn có mặt ở tuyến đầu, sẵn sàng vượt qua khó khăn, gian khổ, hy sinh, nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Sau chiến tranh, những người lính trở về đời thường, tiếp tục cống hiến để xây dựng và phát triển đất nước. Dù sống xa Tổ quốc nhưng những CCB kiều bào, vốn được tôi luyện qua các cuộc kháng chiến năm xưa, vẫn phát huy bản chất tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ, là hạt nhân gắn kết các phong trào cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, trở thành điểm tựa cho thế hệ trẻ hội nhập sâu hơn vào xã hội sở tại.

Nguồn: QĐND.

 

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN VỊ THẾ, VAI TRÒ CỦA VIỆT NAM

 Ngày 7/6, Đại hội đồng Liên hợp quốc đồng thuận bầu Việt Nam trở thành một trong những Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77 đại diện cho khu vực châu Á-Thái Bình Dương với nhiệm kỳ một năm. Điều này tiếp tục khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của Việt Nam trên trường quốc tế.

Một trong những yếu tố quan trọng làm nên vị thế quốc gia của Việt Nam chính là sự phát triển ổn định của nền kinh tế. Ngày 26/5/2022, Tổ chức xếp hạng tín nhiệm S&P Global Ratings (một trong ba cơ quan xếp hạng tín dụng lớn và uy tín nhất thế giới) đã nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia dài hạn của Việt Nam lên mức BB+ với triển vọng “ổn định”. Trong bảng đánh giá mới nhất của tổ chức này, Việt Nam là nước duy nhất trong khối ASEAN được nâng hạng trong năm 2022. 

Trước đó, hai tổ chức quốc tế hàng đầu về xếp hạng tín nhiệm khác là Fitch Ratings và Moodys cũng đưa ra những đánh giá tương đồng. Cần nhấn mạnh rằng, để được nâng hạng tín nhiệm và triển vọng, các quốc gia và tổ chức tài chính phải trải qua những đợt khảo sát, đánh giá gắt gao dựa trên các tiêu chí quan trọng như: thu nhập bình quân đầu người, sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô, thành tựu công bằng xã hội, tài chính công,… Đổi lại, những xếp hạng của ba tổ chức này là chứng nhận cho “sức mạnh” của một nền kinh tế, là số liệu tin cậy để các nhà đầu tư, kinh doanh tham khảo. 

Thành tích nêu trên thực sự đáng khích lệ, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đã và tiếp tục phải đối mặt với ảnh hưởng tiêu cực kéo dài của đại dịch COVID-19. Như thời điểm năm 2021, không ít địa phương phải thực hiện giãn cách xã hội dẫn đến hệ quả là hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại trong nước bị đình đốn. Theo số liệu của Cục Đăng ký kinh doanh, có đến gần 120.000 doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động trong năm 2021, tăng 17,8% so với năm 2020. Kéo theo đó là số người lao động thiếu việc làm cũng tăng cao, đặc biệt là tại khu vực thành thị. Sau nhiều năm liên tục phát triển với tốc độ ổn định, nền kinh tế Việt Nam phải nhận mức tăng trưởng âm vào quý III/2021.  

Lợi dụng tình hình kinh tế trong nước có dấu hiệu khủng hoảng tạm thời, thế lực thù địch cùng các cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí đã vội vã tung ra hàng loạt luận điệu xuyên tạc như: “người lao động chịu hậu quả của chính sách, giai cấp công nhân rơi vào cảnh khốn cùng, niềm tin của người dân vào nhà cầm quyền đã không còn”… Ngay lập tức, vài tờ báo chống cộng cũng vào hùa khi đăng tải các bài viết “tường trình” từ Việt Nam mà thực chất chỉ là “phỏng vấn” một vài gương mặt cũ của các phong trào chống phá trong nước, qua đó cố gắng tô vẽ, bôi đen về bức tranh kinh tế - xã hội Việt Nam. Mặc dù vậy, ngay tại thời điểm đó, các chuyên gia hàng đầu từ nhiều tổ chức uy tín quốc tế đã bác bỏ các nội dung sai sự thật này.  

Ngày 7/11/2021, đánh giá về Nghị quyết 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 ban hành quy định tạm thời “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19”, ông Marko Wald, Trưởng đại diện Phòng Công nghiệp và Thương mại Đức tại Việt Nam thẳng thắn nhận định: Những gì nêu trong Nghị quyết 128 là rất tiến bộ, cho thấy sự thích ứng nhanh chóng của Chính phủ trong bối cảnh mới. Cùng nhận định này, ngày 5/12/2021, ông Francois Painchaud, trưởng đại diện Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) tại Việt Nam cho rằng: Mặc dù đại dịch COVID-19 đã ảnh hưởng lớn đến việc làm Việt Nam vẫn có thể đạt được những chỉ tiêu kinh tế nhưng đòi hỏi những cải cách quyết liệt hơn.

Nhìn vào bức tranh tổng thể của nền kinh tế Việt Nam từ cuối năm 2021 đến nay, có thể thấy được sự khởi sắc trong nhiều lĩnh vực, ngành, nghề. GDP quý II/2022 của Việt Nam tăng trưởng 7,72%, cao nhất trong hơn một thập kỷ. Hiệu ứng này được đánh giá là xuất phát từ Nghị quyết 43/2022/QH15 (11/1/2022) về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội được Quốc hội thông qua với gói hỗ trợ có tổng giá trị lên đến 350.000 tỷ đồng.

Bên cạnh đó là nhiều sáng kiến, giải pháp ngắn hạn và dài hạn được đưa ra nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người lao động. Nhưng quan trọng hơn cả, vẫn là sự nhất quán trong đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam khi luôn đặt con người vừa là trung tâm, vừa là mục tiêu của sự phát triển. Trong mọi tình huống, Đảng và Nhà nước ta luôn bảo đảm các chính sách, cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp; an sinh xã hội và đời sống của người dân, nhất là người lao động, người nghèo, người yếu thế, đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, xã hội.

Tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XV, các đại biểu Quốc hội dành nhiều thời gian để thảo luận về những vấn đề kinh tế - xã hội; xem xét, thông qua nhiều bộ luật, nghị quyết, chương trình với mục tiêu khẩn trương đưa nhiều chính sách phù hợp đáp ứng nguyện vọng của nhân dân. Đó là lý do để giới chuyên gia cũng như các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước có thể tin tưởng vào viễn cảnh tươi sáng của Việt Nam.

Cùng với bước tiến về kinh tế, chúng ta cũng gặt hái nhiều thành tựu trên các lĩnh vực văn hóa, xã hội. Dù chịu ảnh hưởng từ đại dịch COVID-19, Việt Nam vẫn đạt vị trí thứ 40 (tăng 3 bậc so với năm 2020) trong bảng xếp hạng các quốc gia tốt nhất thế giới theo công bố của US News (công ty của Mỹ chuyên về lĩnh vực xuất bản tin tức, tư vấn tiêu dùng, bảng xếp hạng và phân tích).

Tuy nằm trong nhóm quốc gia có thu nhập trung bình thấp, Việt Nam vẫn đạt được nhiều thành tích về bảo đảm và phát huy quyền con người. Chúng ta nằm trong số những nước có chỉ số bình đẳng giới cao nhất thế giới, kiểm soát được bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, đạt nhiều bước tiến trong thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, cải thiện chất lượng giáo dục. Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011-2020 đã thu được nhiều kỳ tích: tỷ lệ suy dinh dưỡng và thiếu chất giảm, chiều cao và thể trạng được cải thiện. Sự phát triển về mặt thể chất chính là chìa khóa nâng cao chất lượng lao động, chất lượng cuộc sống của người Việt Nam. 

Những năm gần đây, Việt Nam là một trong số ít quốc gia vẫn duy trì được tăng trưởng kinh tế dương bất chấp những tác động từ đại dịch và sự bất ổn của kinh tế thế giới. Chất lượng cuộc sống của người Việt Nam được cải thiện và nâng cao rõ rệt cả về vật chất và tinh thần, trong đó có nhiều tiêu chí gây ấn tượng, ngang với những nước phát triển. Môi trường ổn định, yên bình cùng người dân thân thiện đã thuyết phục rất nhiều người nước ngoài lựa chọn sinh sống và làm việc tại Việt Nam. 

Trên trường quốc tế, Liên hợp quốc luôn đánh giá cao Việt Nam trong hoạt động gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế, có nhiều đóng góp tích cực tại Cộng hòa Trung Phi, Nam Sudan; đề ra những sáng kiến quan trọng về bảo vệ rừng, chuyển đổi sang năng lượng tái tạo, hỗ trợ thích ứng cho các cộng đồng địa phương và giảm thiểu khí methane; viện trợ, hỗ trợ cho nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới... Thực tế này khiến nhiều cá nhân, tổ chức dù thiếu thiện chí với Đảng, Nhà nước Việt Nam cũng không thể không thừa nhận.

Chẳng hạn, một bài viết trên trang VOA gần đây nhận định: “Tỷ lệ nợ quốc gia so với GDP của Việt Nam thuộc hạng rất thấp so với đa số các nước khác (…). Hiện nay nhà nước Việt Nam đang tập trung vào phát triển kinh tế, ổn định xã hội, và có lẽ chủ trương dần dần chuyển đổi chính trị một cách tiệm tiến theo quy trình và chủ động của họ”. Bày tỏ quan điểm trên trang BBC, một vị tiến sĩ cũng có chung nhận xét: “Phải công bình để nói rằng về phương diện quốc gia, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thành công, trên mặt tích cực, xây dựng một quốc gia vững mạnh về cấu trúc và ổn định xã hội”. 
 
Có thể nói, những thành tựu đạt được về mọi mặt của đời sống đã góp phần củng cố vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Dấu ấn, tầm ảnh hưởng của Việt Nam tại các diễn đàn đa phương, khu vực và quốc tế được đánh giá cao, nhiều sáng kiến của Việt Nam được bạn bè đồng tình, ủng hộ. Trong đó có thể kể đến sáng kiến và cam kết của Việt Nam tại Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc năm 2021 (COP26).

Ngày 16/5/2022, trong chuyến thăm và làm việc tại Trụ sở Liên hợp quốc ở thành phố New York (Mỹ), Thủ tướng Phạm Minh Chính có cuộc gặp với bà Anmina Mohammed - Phó Tổng Thư ký Liên hợp quốc, cùng nhiều quan chức cấp cao của tổ chức này. Khi đánh giá về Việt Nam, bà Anmina Mohammed khẳng định: Việt Nam là đối tác quan trọng và là người bạn của Liên hợp quốc, mong muốn hai bên tiếp tục phát triển quan hệ một cách toàn diện, hiệu quả hơn nữa.

Đến ngày 7/6/2022, Đại Hội đồng Liên hợp quốc đã bầu Việt Nam là một trong những Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77 đại diện cho khu vực châu Á-Thái Bình Dương với nhiệm kỳ một năm. Trong quá trình ứng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 tới đây, Việt Nam cũng vinh dự được các nước ASEAN đồng thuận đề cử là ứng cử viên của ASEAN. 

Hiện nay, tình hình thế giới còn diễn biến phức tạp. Dịch COVID-19 đã căn bản được kiểm soát nhưng vẫn có nguy cơ bùng phát tại một số quốc gia, vùng lãnh thổ. Các quốc gia trên toàn cầu tiếp tục phải đối mặt với các vấn đề biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, an ninh năng lượng… Những khó khăn này đều trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển của các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Đây cũng là thử thách để đất nước ta chứng tỏ bản lĩnh, tiềm lực của mình, tiếp tục vươn lên trên các lĩnh vực, thể hiện uy tín, vị thế trên trường quốc tế. Từ đó sẽ tạo nền móng vững chắc góp phần củng cố, nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới trong chặng đường phía trước./.

Nguồn: TG